Monday, March 8, 2010

Nguyễn Cần/ Lữ Giang/ Tú Gàn

Tác giả: Nguyễn Cần/ Lữ Giang/ Tú Gàn

Tú Gàn là một cây bút sắc bén, dám nói thật, nói thẳng của tuần báo Sài Gòn Nhỏ do bà Hoàng Dược Thảo chủ trương. Ông từng là một chánh án của miền Nam Việt Nam trước kia, ông thích viết về các đề tài chính trị chống Cộng. Lý luận bắt bẻ của ông khó ai cãi được. Có nhiều người thích Tú Gàn, có nhiều ghét Tú Gàn, có nhiều người “tức ói máu” Tú Gàn... nhưng ai ai cũng tìm đọc Tú Gàn vì những bài viết mạnh tay hay gây tranh cãi của ông ta. Tú Gàn như một kiếm sĩ, dửng dưng một mình một ngựa trong không gian “gió tanh mưa máu” của xứ Bônsa. Trên tờ Saigon Nhỏ với bút hiệu Tú Gàn, ông thường có nhiều bài bình luận sâu sắc, súc tích và bao quát về những đề tài mà ông thường quan tâm, đôi khi ông còn là một nhân chứng rõ tường sự việc hơn nhiều người, đã làm xốn xang nhức nhối cho nhiều người.

*"Thiếu Think Tank"

Nghe đài phát thanh “Tiếng Nuớc Tôi” và đọc trang nhà viettan.org của đảng Việt Tân, chúng ta có cảm tưởng như đây chỉ là những cơ quan truyền thông nhai lại những gì mà đa số các cơ quan truyền thông khác đã đọc hay đăng. Nội dung cũng chỉ để diễn tả lại một quan điểm phổ thông từ 34 năm qua: Việt Cộng gian ác, Việt Cộng độc tài, Việt Cộng ngu dốt, Việt Cộng bán nước, Việt Cộng thất bại..., thế nào chúng nó cũng sụp đổ và chúng nó sắp sụp đổ tới nơi rồi!
Lối tuyên truyền này cho thấy các nhà lãnh đạo Việt Tân không tìm ra được những chủ trương, những đường lối, những kế hoạch... riêng có thể làm thay đổi đất nước, mà chỉ huà theo đám đông. Nói cách khác, mặc đầu là một tổ chức đấu tranh có tầm vóc lớn nhất ở hải ngoại, Việt Tân thiếu “THINK TANKS”, tức thiếu những “BỘ ÓC” có thể tạo cho mình một thế đứng riêng và một đường lối riêng để đưa cuộc đấu tranh tiến tới.
BỊ ÁP LỰC QUẦN CHÚNG
Tôi đã từng kể lại, sau duộc đảo chánh lật đổ chế độ Ngô Đình ngày 1.11.1963, tin tức báo chí cũng như tin đồn ngoài phố đều nói rằng ông Diệm và ông Nhu đã rời dinh Gia Long bằng một đường hầm bí mật. Nhưng chúng tôi đã lục lọi khắp nơi mà không thấy đường hầm đâu cả. Nhiều ký giả đã vây quanh các tướng lãnh đảo chánh và yêu cầu cho đi xem đường hầm bí mật. Cuối cùng các tướng lãnh cũng cho một sĩ quan Thủy Quân Lục Chiến dẫn chúng tôi đi. Sĩ quan này đã cho chúng tôi quan sát khắp nơi trong dinh Gia Long, nhưng không thấy đường hầm đâu cả. Chúng tôi liền hỏi viên sĩ quan này: “Ông Diệm và ông Nhu đã ra khỏi dinh Gia Long bằng cách nào?” Sỉ quan này nói hai ông đã ra bằng cửa hông bên đường Pasteur bằng một chiếc xe Citroen. Vì không thể đi ngược đường Pasteur để xuống đường Lê Lợi được vì đường Pasteur là đường một chiều, tài xế đã phải lái xe đâm ngang qua dường Pasteur để vào cổng sau của Toà Đô Chánh rồi ra cổng đường Lê Thánh Tôn, quẹo trái trước rạp Rex để ra đường Lê Lợi và đi vào Chợ Lớn...
Nhưng khi tôi tường thuật lại đúng những gì mắt thấy tai nghe, xác định trong dinh Gia Long không có đường hầm bí mật nào cả, và đưa cho ông chủ bút để đăng báo. Nhưng khi đọc xong bài tường thuật của tôi, ông ôn tồn nói: “Tôi biết anh viết đúng sự thật 100%, nhưng nếu đăng lên, chúng nó (nhóm Phật Giáo đấu tranh) sẽ đến đốt toà báo! Thôi hãy tạm gác lại và chờ dịp khác.”
Quả thật nhiều khi người làm báo cũng phải đầu hàng trước áp lực của một đám đông đang “xác tín” về một tin dối trá đã được loan truyền!
Các nhà lãnh đạo Mặt Trận Hoàng Cơ Minh và đảng Việt Tân chắc chắn hiểu rõ hơn chúng tôi về những áp lực quần chúng đã đè nặng lên họ ngay từ đầu, khi lãnh sứ mạng đi “giải phóng Việt Nam.”
Với một số tiền đóng góp được dư luận cho là khoảng trên dưới 10 triệu USD và một buổi lễ ra mắt đầy khí thế với những tiếng gào thét “quyết thắng” từ những con tim nồng cháy đòi phải giải phóng quê hương, Phó Đề Đốc Hoàng Cơ Minh đã ra đi như một người cỡi lên lưng cọp. Ông thấy rõ trước mắt những khó khăn, nhưng đã phóng lao thì phải theo lao!
Đảng CSVN được thành lập năm 1930 với sự trợ giúp tích cực của Đệ Tam Quốc Tế để cộng sản hoá Đông Dương, nhưng phải 15 năm sau mới cướp được chính quyền. Đồng Minh và VNCH với võ khí tối tân, đã chiến đấu với Cộng Sản trong suốt 20 năm, cuối cùng Hoa Kỳ đành trao miền Nam cho Trung Quốc. Mặt Trận Hoàng Cơ Minh với khoảng 200 quân tình nguyện được trang bị bằng những võ khí thô sơ, nhưng lại bị áp lực của tập thể chống cộng đòi hỏi phải “giải phóng Việt Nam” ngay!
Chủ Tịch Hoàng Cơ Minh đã cho lập trên đất Thái một Khu Chiến gióng như một chiến khu ở Việt Nam để tập cho các chiến sĩ cách chiến đấu và thu phục quần chúng theo kháng chiến. Nhưng sau cuộc Đông Chiến 1 thất bại, ông thấy con đường xâm nhập vào Việt Nam là con đường vô vọng vì địch đã phong tỏa hết rồi, nhưng ông không thể rút lui được mà phải tiến tới vì áp lực của quần chúng đàng sau. Nếu quay trở về, ông sẽ bị lên án là “kháng chiến cuội” và bị đòi lại tiền đã đóng góp. Nhưng nếu tiến tới sẽ bỏ mạng. Cuối cùng, ông đã chọn con đường chết trong cuộc Đông Tiến 2. Đây là một sự lựa chọn can đảm. Những nhà lãnh đạo Mặt Trận còn lại, cũng thấy không thể hoàn thành sứ mạng đã lãnh nhận nên đã cho tiến hành cuộc Đông Tiến 3 để xoá sổ kháng chiến!
Có thể kết luận rằng áp lực của quần chúng đàng sau đã đưa lực lượng kháng chiến của Mặt Trận đến chỗ bị tiêu diệt.
HÙA THEO ĐÁM ĐÔNG GÀO THÉT
Sau khi tổ chức kháng chiến của Mặt Trận bị xoá sổ vì áp lực của công luận, Mặt Trận quay trở lại hoạt động đấu tranh chính trị. Nhưng từ năm 1990 đến nay, người ta chưa thấy Mặt Trận đưa ra được một đường lối nào đặc biệt ngoài việc hùa theo đám đông gào thét. Chúng tôi xin nêu lên hai vụ cụ thể là vụ Ải Nam Quan và vụ Tam Sa.
Vụ biên giới: Ngày 30.12.1999 Bắc Kinh và Hà Nội đã ký kết một hiệp ước ấn định lại biên giới trên bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc. Sau đó, trong đại hội đảng toàn quân từ ngày 3 đến 11.1.2001, Lê Đức Anh đã tố Lê Khả Phiêu 10 tội, trong đó có tội “Bán đất, bán biển cho Trung Quốc”. Đám đàn em của Lê Đức Anh liền thổi lớn vụ này.
Với một tổ chức có Think Tank, công việc đầu tiên là xem lại Công Ước Thiên Tân ký kết giữa Pháp và Trung Hoa về biên giới Việt – Trung để xem biên giới đó đã được ấn định như thế nào. Sau đó, so sánh hiệp ước mới với công ước cũ xem có sự sai biệt như thế nào, có thực hiện đúng với Quốc Tế Công Pháp hay không... để tìm ra sự thật. Đâu có tin Lê Đức Anh được. Nếu thấy quả thật có “dâng đất dâng biển” sẽ tố cáo trước công luận và Việt Cộng hết cãi.
Tuy nhiên Mặt Trận đã không làm như thế! Mặt Trận tưởng “thời cơ đã đến, đã đến” và phải “chớp thời cơ”, nên đã tổ chức “Hội Nghị Diên Hồng Hải Ngoại Bảo Toàn Đất Tổ” vào hai ngày 28 và 29.12.2002 tại Weat Coast Anaheim Hotel, thành phố Anaheim, California, để thảo luận “Quan điểm của Hội Nghị trước vấn đề Hiệp Ước Biên Giới” và tìm cách “bảo toàn đất tổ”. Hội nghị đã diễn ra không khác gì Hội Nghị Trung Ương Đảng của đảng CSVN. Các đại biểu chỉ được triệu tập tới để biểu quyết một nghị quyết đã được soạn sẵn, trong đó không đưa ra được sự kiện mới nào và sau những lời lẻ dao to búa lớn, Mặt Trận chỉ “bảo toàn đất tổ” bằng tuyên ngôn, tuyên cáo và kháng thư! Thành ra đầu voi đuôi chuột.
Vụ Tam Sa: Ngày 3.12.2007 Quốc Vụ Viện Trung Quốc phê chuẩn việc thành lập thành phố hành chính cấp huyện Tam Sa thuộc tỉnh Hải Nam để trực tiếp quản lý ba quần đảo Hoàng Sa, Trung Sa và Trường Sa. Các nhà ngoại giao Trung Quốc đã nhắc đến Công hàm ngày 14.9.1959 của Thủ Tướng Phạm Văn Đồng như một văn kiện nhìn nhận chủ quyền của Trung Quốc về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Căn cứ vào Công hàm nói trên, nhiều tổ chức đã lên án Việt Cộng dâng đất dâng biển cho Trung Quốc. Mặt Trận cũng hùa theo và la rất lớn!
Vì không có Think Tank, Mặt Trận không hiểu rằng la như thế rất tai hại vì nếu cho rằng Công hàm nói trên có giá trị chuyển nhượng đất và biển, chúng ta coi như đã mất Hoàng Sa và Trường Sa. Nhưng sự thật không phải như vậy. Theo Hiệp Định Genève năm 1954, Hoàng Sa và Trường Sa đều thuộc chủ quyền của VNCH vì nằm ở phía nam vĩ tuyến 17. Một nguyên tắc căn bản của luật pháp là “Nemo dat quod non habet”, tức không ai có thể cho cái mình không có. Như vậy Phạm Văn Đồng lấy tư cách gì để dâng hai quần đảo nói trên của VNCH cho Trung Quốc? Nếu Phạm Văn Đồng bán được như thế, Mặt Trận cũng có thể bán Toà Bạch Ốc cho Trung Quốc lấy khoảng 500 triệu USD, khỏi phải đi bán phở nữa.
Trong trường hợp này, thay vì tố cáo đảng CSVN dâng đất dâng biển cho Trung Quốc, chúng ta phải tố cáo trò đàng điếm của Hà Nội và xác định với Trung Quốc và dư luận quốc tế rằng Công hàm nói trên của Phạm Văn Đồng vô giá trị, và Hoàng Sa và Trường Sa vẫn là của Việt Nam.
Mặt Trận có thấy thiếu Think Tank và cứ hùa theo đám đông la hét nó tai hại như thế nào chưa?
Nhìn chung, mỗi khi có biến cố gì xẩy ra, vì thiếu Think Tank, Mặt Trận không thể xác định được quan điểm, lập trường, đường lối và kế hoạch riêng của mình mà chỉ chạy theo tiếng la ngoài phố và “chớp thời cơ”. Từ vụ Thái Bình - Xuân Lộc, vụ Trần Trường, vụ Cha Lý, vụ biên giớí... đến vụ dân oan, Mặt Trận không chủ động được gì hết mà chỉ ăn theo!
Một tổ chức không có Think Tank thì chỉ múa rối chứ không thể đấu tranh thắng lợi được.
KHÁI LƯỢC VỀ KHU CHIẾN
Câu chuyện hôm nay chúng tôi muốn nói với Mặt Trận và đảng Việt Tân là cái chết không bình thường của Trung Tá Lê Hồng, bí danh là Đặng Quốc Hiền, Tư Lịnh Lực Lượng Võ Trang Kháng Chiến. Tuy nhiên, để độc giả dễ theo dõi, trước hết chúng tôi xin nói qua về Khu Chiến của Mặt Trận ở biên giới Thái – Lào.
Để “giải phóng Việt Nam”. Mặt Trận đã cho thiết lập ở một vùng rừng núi trên đất Thái, sát với biên giới Lào và ngang với hai tỉnh Kontum và Pheiku của Việt Nam một Khu Chiến gồm 4 căn cứ, được đặt tên là căn cứ 81, căn cứ 82, căn cứ 83 và căn cứ 84 để làm nơi huấn luyện quân sĩ và làm bàn đạp tiến vào Việt Nam.
Lực Lượng Võ Trang Kháng Chiến được chia từ thấp đến cao như sau:
Toàn.
Dân Đoàn.
Quyết Đoàn.
Tâm Đoàn.
Kháng Đoàn.
Chiến Đoàn.
Đây là những tên lấy từ khẩu hiệu do Mặt Trận đặt ra là TOÀN DÂN QUYẾT TÂM KHÁNG CHIẾN.
Vì số quân tuyển mộ được quá ít oi, chưa đến 200 người, nên Mặt Trận lấy Quyết Đoàn làm đơn vị căn bản. Mỗi Quyết Đoàn có khoảng 40 chiến sĩ và được chia ra làm 3 Dân Đoàn. Như vậy có thể coi Quyết Đoàn như một Trung Đội. Mặc dầu đã cố gắng rất nhiều, Mặt Trận cũng chỉ thành lập được 4 Quyết Đoàn mà thôi.
Theo kháng chiến quân Phạm Hoàng Tùng, võ khí được cấp cho mỗi Quyết Đoàn chỉ là những loại vũ khí nhẹ và thô sơ như những khẩu AK.47 cũ kỹ của Trung Quốc hay Tiệp Khắc, thêm vào 3 đến 4 hỏa tiễn cầm tay loại B.40 và B.41, vài khẩu M. 72 và một số mìn claymore.
Ở Cấp Tâm Đoàn chỉ có vài đơn vị căn bản, một số đơn vị chỉ có vài cán bộ nồng cốt. Cấp Kháng Đoàn số cán bộ còn ít hơn: Lúc nào người ta cũng thấy chỉ có hai người là anh Nguyễn Huy (tên thật là Nguyễn Trọng Hùng) và anh Lê Phú Sơn. Không thấy sự hiện diện của cấp Chiến Đoàn.
Trung Tá Lê Hồng, có bí danh là Đặng Quốc Hiền, vốn là Lữ Đoàn Phó Lữ Đoàn Dù của VNCH từ Hoa Kỳ đến và được Tướng Hoàng Cơ Minh phong lên cấp tướng và giao cho làm Tư Lệnh Lực Lượng Võ Trang Kháng Chiến. Thiếu tá Dương Văn Tư được cử làm Tư Lịnh Phó.
Các lực lượng chính của Lực Lượng Võ Trang Kháng Chiến đều được đóng ở căn cứ 81. Căn cứ này là một căn cứ quan trọng nhất được thiết lập trên một đỉnh núi cao nhất của Khu Chiến để án ngử mặt Đông, nơi du kích Lào và bộ đội Việt Cộng có thể vượt qua biên giới Lào – Thái để quấy phá.
Căn cứ 81 được bao bọc chung quanh bằng 4 tiền đồn ở bốn hướng Đông, Tây, Nam, Bắc theo chiến thuật liên hoàn để có thể hỗ trợ nhau về mặt quân sự. Bốn tiền đồn đó được đặt tên là Hải Vân, Tây Đô, Hồng Lĩnh và Bạch Mã. Tiền đồn Bạch Mã nằm ngay hướng chính Đông của căn cứ 81, tức hướng từ biên giới Lào đi lên. Đây là tiền đồn quan trọng nhất.
Kháng chiến quân Phạm Hoàng Tùng kể lại: “Thời gian sống tại căn cứ 81, tôi thấy có vài đơn vị kháng chiến Lào đến đây sinh hoạt chung với anh em kháng chiến Việt Nam. Như kháng chiến quân Lào Tự Do, đi tuần chung với kháng chiến Việt Nam. Chiều đến các anh em lại đến bãi tắm ở con suối 81 để giặt giũ, tắm rửa. Thời gian đó, ở hướng Nam căn cứ 81, cách xa tiền đồn Hồng Lĩnh, có một căn cứ của kháng chiến Lào. Một lần tôi cùng đi công tác phát gạo và quần áo cho dân Lào đang sống trong căn cứ. Đoàn công tác do chiến hữu Hải dẫn đầu. Sau này, khi rời căn cứ 81 để nhận công tác khác, khi trở lại thăm 81, tôi không còn thấy anh em kháng chiến quân Lào đâu nữa. Chắc họ đã di chuyển đến những địa điểm khác trên miền biên giới Thái - Lào, hoặc rút hơi sâu vào trong đất Thái.”
Từ căn cứ 81, theo hướng tây, đi chừng 20 phút đường núi hẹp, quanh co, ẩn kín giữa các cánh rừng già âm u, đoàn quân đi tải vượt vòng quanh căn cứ 83 để đến căn cứ 84 theo một đường được chỉ định, vì căn cứ 83 là một căn cứ hoàn toàn bí mật, chỉ những người có nhiệm vụ mới được vào. Căn cứ 84, còn có tên là Bình Thủy, nằm gần một làng Thái nên rất tiện cho việc tải hàng đến và lưu trử tại đó.
Từ 1985 đến 1990, Mặt Trận đã phát động tất cả ba chiến dịch đưa quân xâm nhập vào trong nước để lập chiến khu chống lại Việt Cộng. Các chiến dịch này đều mang tên là Đông Tiến.
Chiến dịch Đông Tiến I đã được phát động trong hai năm 1985 và 1986, nhưng tất cả các chiến sĩ vượt biên đều bị tử trận hay bị sa lưới. Chiến dịch Đông Tiến II được phát động vào tháng 7 và tháng 8 năm 1987, do chính Tướng Hoàng Cơ Minh đích thân chỉ huy, nhưng sau 49 ngày chiến đấu với bộ đội Việt Cộng trên đất Lào, rất nhiều chiến sĩ bị tử trận, một số bị bắt đưa về Việt Nam, còn Tướng Hoàng Cơ Minh đã bị tử trận. Chiến dịch Đông Tiến III được phát động vào năm 1990, sau khi Tướng Hoàng Cơ Minh mất, nhưng các chiến sĩ đi trong chuyến này cũng đều bị giết hay bị bắt.
CÁI CHẾT CỦA TRUNG TÁ HỒNG
Bây giờ chúng tôi xin nói đến trường hợp cái chết của Trung Tá Lê Hồng, bí danh là Đặng Quốc Hiền, Tư Lịnh Lực Lượng Võ Trang Kháng Chiến, vì đây là cái chết đã gây nhiều thắc mắc trong anh em kháng chiến quân. Kháng chiến quân Phạm Hoàng Tùng kể lại:
“Khóa học Quân Chính II khai diễn được non một tuần thì xảy ra một sự kiện khiến cho chúng tôi phải tạm ngưng học hành vài ngày và di chuyển lớp học xuống căn cứ 83. Cũng từ sự kiện đặc biệt này, anh em trong khóa chúng tôi không còn thấy anh Đặng Quốc Hiền, tức Chiến Hữu Lê Hồng, Tư Lịnh Lực Lượng Võ Trang đến lớp giảng dạy nữa...
“Buổi sáng nọ, anh em trong khóa vẫn tề tựu đúng giờ (trước 7 giờ sáng), ngồi trong hội trường chờ anh Hiền đến giảng như thường lệ. Tuy nhiên sau đó vài mươi phút, chiến hữu trực ban tại căn cứ vào lớp báo cho anh em chúng tôi biết anh Hiền không đến giảng bài được, do vì anh đang lên cơn sốt. Việc sốt hành là việc xảy ra như cơm bữa trong khu chiến, chúng tôi không thắc mắc gì và an tâm chờ đợi cũng như rất mong muốn anh Hiền mau khỏi bịnh để đến lớp giảng bài cho anh em học vào buổi chiều.
“Thế nhưng bữa chiều đó, chúng tôi lại nhận tin anh Hiền bịnh nặng hơn và không thể tiếp tục đảm nhiệm công tác giảng dạy. Cạnh đó, nhiều chiến hữu tại căn cứ 81 đang túc trực chờ lịnh, khiêng võng đưa anh Hiền ra căn cứ tiền trạm 84 để chữa bịnh!
“Tôi rất bất ngờ khi nghe tin này và không tin sự kiện xảy ra mau chóng như thế. Vì mới hôm qua, xuất hiện trên bục giảng, đứng sát trước mặt tôi, do tôi ngồi bàn đầu, chỉ cách anh Hiền có chừng non hai thước, chính mắt tôi trông thấy anh Hiền còn rất khoẻ mạnh, giọng nói mạnh mẽ, hùng hồn, rất cuốn hút người nghe. Nếu cơn sốt bất chợt đến với anh do không khí rừng núi thâm độc, cũng không thể quật ngã anh một cách lẹ làng như vậy. Đây là kinh nghiệm của từng anh em trong khu chiến, vì ai cũng đều trải qua những cơn sốt hành ghê gớm.
“Và chuyện dùng võng khiêng anh Hiền ra căn cứ 84 trị bịnh lại càng làm cho tôi cũng như những anh em khác trong khóa học đặt nghi vấn. Tuy nhiên không ai dám nói vì qui định bảo mật cùng biện pháp kỷ luật rất nghiêm, có thể bị hạ tầng công tác, bị cấp chỉ huy nhận xét là không an tâm công tác, hay nếu cố tình soi mói tìm hiểu nội bộ lãnh đạo và muốn chuyện được phơi bày công khai trước ánh sáng công luận như trong một xã hội tự do với báo chí là một đệ tứ quyền, có thể... mất mạng trong rừng già đìu hiu, quạnh quẽ, chứ không thể đùa giỡn với tử thần thỉnh thoảng lảng vảng trong khu chiến.
“Sau này chúng tôi được biết thêm, khi mang anh Hiền ra đến căn cứ 84, anh Hiền lâm trọng bịnh và qua đời. Nghi vấn tiếp tục theo theo đuổi tôi cho đến tận giờ phút viết những dòng chữ này. Anh Hiền mất trong âm thầm, bí mật của khu chiến. Không thấy lãnh đạo MT thông báo cử hành tang lễ, dù rất đơn giản, cho một vị Tư Lịnh Lực Lượng Võ Trang đã có công thành lập MT và khu chiến từ những ngày đầu khó khăn, cô thế.
“Tôi cũng không biết lãnh đạo MT chôn cất anh Hiền ở đâu trong một dãy căn cứ của khu chiến, theo thông lệ của những người sống trong khu chiến và mất tại khu chiến. Tôi từng viếng thăm mộ anh hùng Đông Tiến Phùng Tấn Hiệp tại căn cứ 81 (một người ở Nhật về, không rõ tên thật, thuộc hàng ngũ những chiến hữu tiên phương trong việc xây dựng khu chiến). Tôi cũng từng mang nhang đến thắp tại ngôi mộ của anh Quân (không biết anh mang họ gì, người dân tộc Khmer Nam Bộ) bị chết trong cuộc đột kích của đặc công Việt Cộng tại tiền đồn Hải Vân cuối năm 1984.
“Nếu anh Hiền được chôn cất trong lãnh thổ khu chiến thời đó, thì anh em đã được biết rõ và đến viếng thăm người cựu Tư Lịnh của mình. Nhưng điều này suốt những năm tháng sau đó, tôi không nghe anh em kháng chiến quân nói đến ngôi mộ của anh Hiền ở đâu, ra sao? Hoặc MT đã chôn cất ở nơi nào đó mà chỉ ít người trong khu chiến biết được?
“Tôi không biết những kháng chiến quân nào đã nằm trong toán khiêng võng anh Hiền ra căn cứ 84. Tuy nhiên, người chịu trách nhiệm cao nhất tại căn cứ 84 vào lúc đó, hay còn được gọi là Bình Thủy, là chiến hữu Lộc hay còn có một tên khác là Trương Tấn Lạc, một cựu sĩ quan Hải Quân và cũng là chiến hữu giữ trách nhiệm tiếp vận cho toàn thể khu chiến, anh còn là ủy viên Trung Ương MT hay Việt Tân.
“Và một nhân vật còn sống nữa là ông Nguyễn Kim, lúc đó anh Kim phụ trách Tổng Vụ Hải Ngoại và thường xuyên về Đông Nam Á. Tất nhiên hai người này có thể biết các thông tin liên quan đến cái chết của anh Hiền hay nơi chôn cất anh Hiền. Cả hai nhân vật này đang có mặt tại Hoa Kỳ trong thời điểm tác giả viết những dòng chữ này.
“Trong trường hợp chiến hữu Tư Lịnh Lực Lượng Võ Trang Kháng Chiến Đặng Quốc Hiền tức Lê Hồng được chôn cất tại căn cứ 84 hay ở vùng đất Thái gần đó, thì hai ông Lạc và Kim phải biết rõ. Trách nhiệm còn lại của hai người này là giúp cho gia đình thân nhân của chiến hữu Lê Hồng tìm ra được ngôi mộ, và tùy theo ý kiến riêng của thân nhân người quá cố, di cốt sẽ được mang về Mỹ chôn cất hay để tại chỗ với lễ nghi mai táng tươm tất, sơn phết mồ mả, hương khói đều đặn cho ấm hồn người quá cố, hoặc di cốt về địa phương nơi sinh ra ông tại Việt Nam. Những người lãnh đạo MT hay Việt Tân còn lại, đang sống và hoạt động tại Hoa Kỳ phải có trách nhiệm giúp đỡ gia đình chiến hữu Lê Hồng làm công việc này, cũng như giúp đỡ vật chất, thông tin, thăm hỏi thân tình... Đây là trách nhiệm đạo đức của người còn sống đối với người quá cố. Đây cũng còn là trách nhiệm của những chiến hữu còn hoạt động trong tổ chức đảng Việt Tân đối với chiến hữu đã hy sinh vì đại nghĩa của quốc gia, dân tộc.
“Sau cái chết của chiến hữu Lê Hồng, khóa Quân Chính II vẫn tiếp tục, nhưng thay đổi vị trí học hành. Khóa chúng tôi được MT cho di chuyển xuống căn cứ 83, nơi học là hội trường 83, nằm bên dưới khu vực trước đây đặt Đài Phát Thanh Việt Nam Kháng Chiến. Chính chiến hữu Chủ Tịch MT và chiến hữu Trần Khánh đứng ra giảng dạy khóa học quan trọng này.”
Đây là một thắc mắc chính đáng của kháng chiến quân cũng như đồng bào. Chúng tôi mong rằng Mặt Trận và đảng Việt Tân sẽ có những lời giải thích thoả đáng.
CON ĐƯỜNG ĐI TỚI
Sau khi trình bày qua về cái chết bất thường của Trung Tá Lê Hồng, chúng tôi xin trở lại tình trạng thiếu Think Tank của đảng Việt Tân. Chúng tôi đã chứng minh vì thiếu Think Tank, Mặt Trận và đảng Việt Tân như thuyền không lái, như ngựa không cuơng, không biết trôi dạt vào đâu.
Các nhà lãnh đạo Việt Tân cũng thừa biết, phong trào quần chúng gióng như những con sóng biển, có khi nó lên rất cao, nhưng rồi sẽ tan vỡ khi đổ vào bờ. Một vài thí dụ cụ thể:
Trước đây, đa số người Việt không biết nhiều về chính sách của Mỹ nên tin rằng đảng Cộng Hoà là đảng chống cộng và đua nhau gia nhập đảng này. Nay họ mới khám phá ra lộ trình bỏ cấm vận, thiết lập bang giao và quan hệ mậu địch với Hà Nội... đều do đảng Cộng Hoà soạn ra. Mới đây, Tổng Thống Bush còn hứa bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ cho Hà Nội... Họ mới thấy rằng niềm tin của họ sai. Một số đang bỏ đảng Cộng Hoà qua đảng Dân Chủ với những xác tín khác!
Năm 2003, khi Tổng Thống Bush mở cuộc tấn công vào Iraq, nhiều người Việt rất phấn khởi với sự tin tưởng rằng sau khi “đem dân chủ” cho Iraq, Anh Hai sẽ đem dân chủ cho Việt Nam. Một nhóm cựu quân nhân QLVNCH đã lập đoàn chí nguyện quân đi đánh Iraq, trong đó có Tướng Lý Tòng Bá. Một bác sĩ Việt Nam ở Houston viết bài cho rằng việc tấn công Iraq là sai lầm, kiếng xe của ông đã bị đập bể... Bây giờ đa số đã nhận ra sự thật, nhưng quá muộn!
Nếu các nhà lãnh đạo đảng Việt Tân không xây dựng được một hệ thống Think Tank có năng lực để tìm ra hướng đi thích hợp với giai đoạn mới, cứ tiếp tục để cho bị quần chúng đẩy đi hay cứ hùa theo những tiếng la hét ngoài đường phố và “chớp thời cơ” như từ trước đến nay, rồi cũng sẽ bị tan ra từng mãnh khi vào bờ gióng như các phong trào quần chúng ở hải ngoại đã nổi lên, sụp xuống từ 1975 đến nay. Điều quan trọng cần phải nhớ: Chúng ta làm việc vì quyền lợi của tổ quốc chứ không chạy theo những tiếng gào thét theo cảm tính.
Lữ Giang

*Đừng quên Anh Hai!
Trong Mùa Hè Đỏ Lửa 1972, Quân Lực VNCH đã phải chiến đấu một cách vất vả để bảo vệ từng tấc đất của miền Nam. Đặc biệt, Cộng quân đã chiếm cổ thành Quảng Trị từ 1.5.1972. Quân Lực VNCH đã huy động toàn lực để chiếm lại. Sau những ngày chiến đấu ác liệt và anh dũng, sáng 16.9.1972, Thủy Quân Lục Chiến mới dựng được lá cờ vàng ba sọc đỏ trên cổ thành. Nhân biến cố này, nhạc sĩ Lê Kim Hoa đã sáng tác bản nhạc “Cờ ta bay trên Quảng Trị thân yêu” với những câu mà nhiều người thường hát như tụng kinh mỗi ngày:
Cờ bay. Cờ bay oai hùng trên thành phố thân yêu,
Vừa chiếm lại đêm qua bằng máu.
Cờ bay. Cờ bay tung trời ta về với quê hương,
Từng ngóng đợi quân ta tiến về...

Trong khi chúng ta chiến đấu và hát vang bài ca chiến thắng như vậy, Tổng Thống Nixon đã sai Kissinger qua Trung Quốc bàn giao miền Nam cho Mao Trạch Đông. Vì chúng ta chiến đấu anh dũng nhưng không quan tâm đến Anh Hai Chống Cộng và địch đang làm gì nên miền Nam đã mất.
Trong những năm qua, người Việt chống cộng ở hải ngoại đã chiến đấu không mệt mỏi để lá cờ vàng ba sọc đỏ được tung bay khắp nơi, từ Westminster, Falls Church, Hooland, Saint Paul, Louisiana, Boston, Oklahoma, Tumwater, Doraville, ... đến Sydney. Đi đâu cũng nghe hát vang bài ca “Cờ bay. Cờ bay oai hùng trên thành phố thân yêu, Vừa chiếm lại đêm qua bằng máu...” Tuy nhiên, “say men chiến thắng”, chúng ta không thể quên bài học lịch sử đau thương năm 1972.
Ngày xưa, chúng ta có thể biện bác rằng vì Anh Hai Chống Cộng “đi đêm”, nên chúng ta không thể biết được Anh Hai làm gì. Ngày nay, Anh Hai “đi ngày”, tức đi công khai trước mặt chúng ta và mỗi đường lả lướt của Anh Hai đều được công bố cho toàn thế giới biết nên chúng ta không thể biện bác như ngày xưa là không thể biết được.
ANH HAI ĐANG LÀM GÌ?
Chúng tôi xin nhắc lại, bà Ngoại Trưởng Condoleezza Rice và Trợ lý Ngoại Trưởng Hoa Kỳ Christopher Hill đã từng lên tiếng thúc giục Bắc Hàn và Miến Diện theo gương Việt Nam (urged Burma and North Korea to follow the example set by Vietnam). “Gương” của CSVN là cái quái gì mà cả bà Rice lẫn ông Hill đòi Bắc Hàn và Miến Điện phải theo? Thưa nó được diễn tả bằng ba yếu tố chính: (1) Đoạn tuyệt với quá khứ, (2) ổn định tình hình và (3) phát triển kinh tế. Không thấy nói gì đến dân chủ và nhân quyền như người Việt chống cộng thường đòi hỏi.
Quan trọng hơn, trong tuyên bố chung giữa Hoa Kỳ và Việt Nam ngày 25.6,2008, Tổng Thống Bush đã khẳng định “sự ủng hộ của chính phủ Hoa Kỳ đối với chủ quyền quốc gia, an ninh, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam”!
Chỉ với những điểm căn bản nói trên chúng ta cũng có thể thấy Anh Hai Chống Cộng đang đánh giá CSVN như thế nào và muốn xử dụng CSVN vào việc gì. Các nhà phân tích cho rằng Hoa Kỳ đang uốn nắn để có thể đưa CSVN vào thay thế vị trí của VNCH ngày xưa!
Để thực hiện mục tiêu nói trên, Anh Hai Chống Cộng chủ trương đoạn tuyệt với quá khứ và dùng chiến thuật “diễn biến hoà bình” để uốn nắn CSVN. Đọc Website của Toà Đại Sứ Mỹ tại Việt Nam, chúng ta sẽ nhận ra ngay con đường Anh Hai đang tiến về Việt Nam.
HOẠT ĐỘNG NỔI BẬT CỦA SỨ QUÁN MỸ
Toà Đại Sứ Mỹ đã trình bày một cách tổng quát về các hoạt động nổi bật của Sứ quán Mỹ trong năm 2008 gồm những điểm chính sau đây:
1.- Chuyến thăm Việt Nam của Giám đốc USAID: Bà Henrietta H. Fore, Giám đốc Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) kiêm Giám đốc Cơ quan Trợ giúp Nước ngoài Hoa Kỳ, đã thăm Hà Nội và thành phố Sài Gòn từ 3 đến 5 tháng 7.
Trả lời các phóng viên hôm 4/7/2008 tại Hà Nội, bà Fore nhấn mạnh việc nâng cấp Văn phòng USAID tại Hà Nội thành lập Phái đoàn chính thức phản ánh tầm quan trọng ngày càng tăng của quan hệ ngoại giao và kinh tế Việt Nam - Hoa Kỳ, đồng thời phản ánh cam kết của USAID trong việc hỗ trợ cải cách kinh tế và mở rộng phạm vi trợ giúp ra các lĩnh vực khác tại Việt Nam.
Bà cho biết USAID sẽ tiếp tục giúp đỡ Việt Nam trong các lĩnh vực như y tế, giáo dục, bảo vệ môi trường, cải cách quản lý và hỗ trợ nhân đạo. Năm nay, USAID sẽ dành mức viện trợ 70 triệu đô-la cho Việt Nam, trong đó 45 triệu đô-la đã được phân bổ cho các chương trình phòng chống HIV/AIDS.
Như chúng ta đã biết, USAID là chữ viết tắt của “United States Agency for International Development” (Cơ quan của Hoa Kỳ về Phát Triển Quốc Tế). Đây là một tổ chức độc lập có trách nhiệm điều khiển viện trợ ngoại quốc và giúp đỡ về nhân đạo nhắm thăng tiến những lợi ích của Hoa Kỳ về kinh tế và chính trị.
Ai cũng biết trước năm 1975, USAID là cơ quan nắm hầu bao của VNCH. Nay cơ quan này đang đến thi hành sứ mạng tại Việt Nam.
2.- Chuyến thăm Hoa Kỳ của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng: Toà Đại Sứ Mỹ tại Hà Nội đã để cao thành quả chuyền viếng thăm Hoa Kỳ của Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng vào tháng 6 vừa qua, đặc biệt nhấn mạnh:
Tuyên bố chung Hoa Kỳ-Việt Nam.
Viện trợ của Hoa Kỳ dành cho Việt Nam.
Hợp tác về hạt nhân giữa Hoa Kỳ và Việt Nam.
Hợp tác về giáo dục giữa Hoa Kỳ với Việt Nam.
Hợp tác về biến đổi khí hậu của Hoa Kỳ với Việt Nam.
Hoa Kỳ và Việt Nam: Quan hệ đang rộng mở.
Hợp tác Hoa Kỳ-Việt Nam về Phát triển Kinh tế, Thương mại và Đầu tư.
3.- Trình bày cuộc sống sinh viên ở Mỹ: Ngày 23.7.2008, bà Jane Bocklage, Tùy viên chính trị của Sứ quán Mỹ đã nói chuyện với hơn 50 sinh viên có mong muốn đi học ở Mỹ. Bà đã giới thiệu về nhiều khía cạnh của cuộc sống trong các khu trường sở, bao gồm việc ăn ở, hoạt động thể thao, các câu lạc bộ và nhiều hoạt động khác nữa. Sinh viên tham dự cũng được cung cấp thêm những nguồn thông tin hữu ích khác. Tiếp theo phần trình bày, nhiều câu hỏi đã được nêu lên về cuộc sống nội trú của sinh viên, sinh viên Mỹ có thể làm gì để hòa nhập với xã hội, và có thể tham gia những sự kiện hay hoạt động nào...
Vài nét đặc biệt về quan hệ Việt - Mỹ được Toà Đại Sứ Mỹ tại Hà Nội đề cao cho thấy hướng đi tới của Hoa Kỳ.
TÍNH CHUYỆN ĐƯỜNG DÀI
Muốn thực hiện bất cứ chương trình hay kế hoạch gì, cần phải có cán bộ. Mỹ muốn trở lại Việt Nam cũng thế: Trước tiên phải đào tạo các bộ. Như chúng tôi đã nói, người Mỹ nhận thấy không thể xử dụng thế hệ của chiến tranh Việt Nam để thực hiện các kế hoạch mới được, mà phải đào tạo lớp cán bộ của thế hệ mới, vì lớp người cũ gần như không thể đoạn tuyệt với quá khứ. Họ sẽ mang quá khứ đó xuống thuyền đài chứ nhất định không chịu vứt bỏ. Do đó, nỗ lực chính của Mỹ tại Việt Nam là thực hiện công tác đào tạo thế hệ mới để xử dụng. Tài liệu của Toà Đại Sứ Mỹ cho thấy có rất nhiều phương pháp đào tạo khác nhau.
Chúng tôi nhớ lại năm 2000, William Joiner Center thuộc Viện Đại Học Massachusetts, Boston, đã tuyển hai nhà nghiên cứu Việt Nam từ Hà Nội đến Boston tham gia “Chương trình Rockefeller Nghiên cứu về Người Việt Hải ngoại”. Đề tài nghiên cứu là “Tái Cấu Trúc Đặc Trưng và Vị Trí trong Cộng Đồng Người Việt Tỵ Nạn”. Chi phí do Trustee Rockefeller Foundation đài thọ. Hai người được mời là Hoàng Văn Hiến và Nguyễn Huệ Chi. Hoàng Văn Hiến là Giám Đốc Học Viện Nguyễn Du ở Hà Nội và Nguyễn Huệ Chi là Trưởng Ban Lý Luận và Phê Bình Văn Học của Viện Văn Học Hà Nội.
Đây chẳng qua cũng chỉ là một phần trong chiến thuật “diễn biến hòa bình” của Hoa Kỳ, do một tổ chức tư nhân đài thọ và thực hiện. Mục tiêu chính là để giúp các học giả ở trong nước biết cách nghiên cứu theo phương pháp khoa học của Mỹ. Nhưng ông Nguyễn Hữu Luyện ở Boston và một số người cho rằng việc thuê mướn hai cán bộ Việt Cộng này nghiên cứu về cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ, “kết quả nghiên cứu có thể đưa tới một chính sách sai lầm đối với người Việt tỵ nạn tại Hoa Kỳ” nên cương quyết chống lại.
Như chúng ta biết, hàng năm ở Mỹ có hàng chục ngàn luận án do các sinh viên hay nghiên cứu sinh biên soạn, những không phải tất cả các nghiên cứu đó đều có thể đem ra áp dụng. Đa số các luận án đó chỉ để chứng minh học viên đã nắm vững phương pháp nghiên cứu khoa học mà thôi. Vã lại, các cơ quan thi hành của Mỹ đâu có ngu đến nổi đem các tài liệu nghiên cứu sai ra áp dụng? Nếu họ làm như thế, nước Mỹ đã sụp đổ từ lâu rồi.
Ấy thế mà lời tuyên bố của ông Luyện được nhiều người hưởng ứng. Thế là ông Luyện nhất quyết đi kiện để loại hai cán bộ nói trên. Muốn đi kiện phải có tố quyền (action). Nhưng trong luật Hoa Kỳ không có tố quyền nào cho phép đi kiện vì sợ rằng “kết quả nghiên cứu có thể đưa tới một chính sách sai lầm” nên luật sư hướng dẫn chọn một tố quyền khác để thay vào đó là “kỳ thị về việc làm”! Đây là cách lấy râu cha nọ chắp cằm mệ kia.
Chỉ cần đọc các nguyên nhân của tố quyền (causes of action) rất vớ vẩn được ghi trong đơn khởi tố, chúng tôi nói ngay rằng thua 100%, nhưng ông Luyện giận dữ và gần như không muốn ai động đến việc làm có “chính nghĩa chống cộng” của ông.
Thấy đồng bào chống cộng đóng góp tiền bạc khá dễ dàng, các luật sư Mỹ đâu có để cho ông Luyện thua ngay đâu! Họ áp dụng phương pháp “chảy máu xanh”, xúi ông Luyện cứ chống án hết cấp này đến cấp khác với sự tin tưởng “ta thắng địch thua” để rút cho hết tiền. Đến ngày 21.12.2007, luật sư mới tuyên bố thua vĩnh viễn!
Đọc các chương trình và kế hoạch do Toà Đại Sứ Mỹ ở Hà Nội công bố, chúng tôi tin chắc sẽ còn nhiều người như hai ông Hoàng Văn Hiến và Nguyễn Huệ Chi sẽ được đưa qua Mỹ để huấn luyện dưới hình thức đi nghiên cứu và sẽ không còn ai kiện cáo gì nữa.
Chúng tôi xin trình bày các chương trình mà Toà Đại Sứ Việt Nam tại Hà Nội đưa ra để người Việt chống cộng ở hải ngoại thấy rõ Anh Hai đang làm gì và liệu chúng ta có thể “đánh cho Mỹ cút Cộng nhào” được không.
CHƯƠNG TRÌNH FULBRIGHT VIỆT NAM
Chương trình đầu tiên được Toà Đại Sứ Mỹ quảng cáo là “Chương Trình Fulbright Việt Nam” được bắt đầu vào năm 1992 với mục đích nhằm gia tăng sự hiểu biết lẫn nhau giữa hai dân tộc Hoa Kỳ và Việt Nam. Chương trình Fulbright Việt Nam đến nay đã được mở rộng và bao gồm năm thành phần:
Chương trình trao đổi học giả Hoa Kỳ
Chương trình trao đổi học giả Việt Nam
Chương trình trao đổi sinh viên Hoa Kỳ
Chương trình trao đổi sinh viên Việt Nam
Chương trình giảng dạy kinh tế tại Sài Gòn.
Thay mặt cho Ủy ban Fulbright về Học bổng Nước ngoài và Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, Phòng Thông tin-Văn hóa Hoa Kỳ tại Hà Nội điều hành toàn bộ năm thành phần của chương trình nhằm đảm bảo sự phát triển song suốt và có tính hệ thống của Chương trình Fulbright Việt Nam.
CHƯƠNG TRÌNH THAM QUAN QUỐC TẾ
Toà Đại Sứ cho biết hàng năm, Đại sứ quán Hoa Kỳ có thể chọn lựa và đề cử các đối tượng tham gia vào các chương trình tham quan nghiên cứu theo chủ đề kéo dài bốn tuần tại Hoa Kỳ. Để tham gia vào chương trình này, các ứng cử viên phải đáp ứng đủ các điều kiện sau: tuổi từ 30 đến 45; có ít nhất năm năm làm việc chuyên môn; có trình độ chuyên môn và học thuật xuất sắc, đồng thời phải được cơ quan chủ quản cho phép tham gia vào một chương trình trao đổi do Chính phủ Hoa Kỳ tài trợ. Các nội dung thông thường của Chương trình Khách tham quan Quốc tế bao gồm: kinh tế, hành chính công, luật, giáo dục, bảo vệ môi trường, y tế công cộng, các vấn đề xã hội, sáng tác văn học, các vấn đề phụ nữ, các vấn đề quốc tế và an ninh quốc gia. Chương trình thường không yêu cầu khả năng tiếng Anh.
CHƯƠNG TRÌNH HUBERT H. HUMPHREY
Chương trình Hubert H. Humphrey là một chương trình học bổng nghiên cứu học tập, không cấp bằng, kéo dài một năm trong các lĩnh vực công. Hàng năm, tối đa bảy cán bộ cấp trung của Việt Nam có thể được đề cử cho chương trình này. Những người tham gia vào chương trình sẽ học tập một năm tại một trường đại học của Hoa Kỳ, trong đó có thể bao gồm một kì thực tập chuyên môn ngoài trường đại học. Những lĩnh vực được khuyến khích tham gia bao gồm: y tế công cộng, môi trường, giáo dục, luật, nhân quyền, chính sách công, chính sách và quản lý công nghệ, quy hoạch đô thị, báo chí, an ninh quốc gia, phòng chống, chữa trị và giáo dục về ma túy. Để được xem xét cấp học bổng, ứng cử viên tham gia chương trình phải đạt được tối thiểu 525 điểm thi TOEFL. Các ứng cử viên cũng phải thể hiện cam kết phục vụ vì lợi ích công.
Học bổng Humphrey niên học 2008-09 được ấn định như sau:
1.- Chương trình Chuyên gia Văn hóa/Học thuật: Chương trình này cung cấp một hoặc hai chuyên gia Hoa Kỳ có trình độ để làm việc tại một cơ quan của Việt Nam trong khoảng thời gian từ hai tuần đến sáu tháng. Chuyên gia sẽ tham gia tiến hành các cuộc hội thảo, trợ giúp xây dựng chương trình học, và/hoặc tư vấn trong các lĩnh vực như văn hóa và nghệ thuật, nghiên cứu Mỹ, khoa học giáo dục, dự thảo luật và giáo dục pháp luật, quản lý môi trường, thị trường vốn… Các cơ quan có quan tâm đến chương trình cần gửi một bản yêu cầu tới Phòng Thông tin-Văn hóa, Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Hà Nội trong đó có xác định rõ nhu cầu, phác thảo khung thời gian và các hoạt động của dự án, nêu rõ những yêu cầu đối với chuyên gia, đồng thời dự đoán kết quả của dự án. PAS sẽ chi trả mọi chi phí cho chuyên gia, trừ chỗ ở (do cơ quan chủ trì của Việt Nam chịu trách nhiệm).
2.- Chương trình Diễn giả Hoa Kỳ: Chương trình Diễn giả Hoa Kỳ mời và chi trả cho các chuyên gia và học giả Mỹ đến thuyết trình tại các cơ quan của Việt Nam có nhu cầu. Chương trình bao quát nhiều chủ để khác nhau như lịch sử, văn học, văn hóa, chính trị, kinh tế, chính sách đối ngoại, chiến lược an ninh quốc tế và khu vực của Hoa Kỳ. PAS cũng xem xét khả năng chi trả các chi phí tổ chức chương trình như thuê phiên dịch và dịch các tài liệu hỗ trợ. Các cơ quan của Việt Nam có nhu cầu có thể liên lạc với Phòng Thông tin-Văn hóa để trao đổi khả năng thực hiện chương trình.
3.- Học bổng Humphrey niên học 2009-2010
Phái đoàn Ngoại giao Hoa Kỳ thông báo về chương trình học bổng Hubert Humphrey niên học 2009-2010. Đây là chương trình học tập, nghiên cứu trong một năm, không cấp bằng, dành cho những cán bộ trẻ, cấp trung, có triển vọng thăng tiến trong nghề và có nguyện vọng phục vụ vì lợi ích công cộng. Người trúng tuyển sẽ theo học một năm tại một trong những trường đại học hàng đầu ở Hoa Kỳ, trong đó có thực tập chuyên môn, đi thực tế, tham gia hội nghị và hội thảo về lĩnh vực liên quan.
Các lĩnh vực ưu tiên:
Học bổng Hubert Humphrey 2009-2010 ưu tiên cho ứng viên thuộc các lĩnh vực sau:
- Phát triển Nông nghiệp/Kinh tế Nông nghiệp;
- Truyền thông & Báo chí;
- Lạm dụng ma túy: Giáo dục, Điều trị và Phòng chống - Ứng viên trong lĩnh vực này cũng sẽ được tuyển và xếp hạng như ứng viên các ngành học khác, nhưng phải hoàn thành thêm phần khai dành riêng cho lĩnh vực này trong hồ sơ dự tuyển;
- Phát triển Kinh tế/Tài chính và Ngân hàng;
- Quy hoạch và Quản lý Giáo dục;
- Chính sách và Phòng chống HIV/AIDS;
- Quản lý Nguồn nhân lực;
- Luật và quyền con người;
Quản lý Môi trường và Tài nguyên;
- Chính sách & Quản lí Y tế Công cộng;
- Hành chính công và Chính sách Công cộng;
- Giảng dạy tiếng Anh (đào tạo giáo viên hoặc xây dựng giáo trình);
- Chính sách và Quản lý Công nghệ;
- Mua bán Phụ nữ & Trẻ em: Chính sách & phòng chống;
- Quy hoạch Đô thị và khu vực.
Tiêu chuẩn dự tuyển
Để đủ điều kiện tham gia dự tuyển, ứng viên phải có: tuổi từ 28-45; ít nhất một bằng đại học chính quy hệ 4 năm hoặc lâu hơn; ít nhất 5 năm công tác, tính đến tháng 8/2009, v.v.
VẤN ĐỀ HỌC TẬP TẠI HOA KỲ
Phòng Thông Tin – Văn Hóa thuộc Đại sứ quán Hoa Kỳ cung cấp thông tin về học tập tại Mỹ và hệ thống giáo dục Mỹ. Tại Việt Nam, các dịch vụ này được thực hiện thông qua Viện Giáo Dục Quốc Tế (Institute of International Education – IIE) tại Hà Nội. Trụ sở của Viện Giáo Dục Quốc Tế đặt tại C9 Giảng Võ, Quận Ba Đình, Hà Nội. Hiện nay IIE cung cấp các dịch vụ sau:
1.- Cung cấp dịch vụ tư vấn miễn phí, toàn diện, và khách quan cho các cá nhân và tổ chức về hệ thống giáo dục của Mỹ.
IIE có một thư viện với các sách tham khảo tiêu chuẩn và thông tin về các trường Đại học tại Mỹ.
2.- Cung cấp thông tin, thông báo và tài liệu nghiên cứu về các kỳ thi tiêu chuẩn hóa bao gồm TOEFL, SAT, GRE và GMAT.
3.- Có nhiều băng video và đĩa CD về các lĩnh vực nghiên cứu, các trường đại học, về cuộc sống ở Mỹ và thông tin trước khi du học.
4.- Cung cấp thông tin về Hỗ trợ tài chính.
5.- Tạo cơ hội gặp gỡ đại diện của các trường Đại học Mỹ.
6.- Nếu bạn muốn học tập tại Mỹ: Trung tâm thông tin về giáo dục thuộc Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ phát hành 4 cuốn sách nhỏ về học tập tại Mỹ.
Cuốn 1: Chương trình đại học
Cuốn 2: Chương trình sau đại học, nghiên cứu sinh và học giả
Cuốn 3: Chương trình đào tạo ngắn hạn, đào tạo tiếng Anh, giáo dục và cấp chứng chỉ từ xa
CÁC CHƯƠNG TRÌNH MIỄN PHÍ
Tất cả các chương trình dưới đây đều được cung cấp miễn phí trong tháng 8/2008 cho các giảng viên tiếng Anh, sinh viên chuyên ngành tiếng Anh năm thứ 4
– Hướng dẫn: Luyện kỹ năng viết tiếng Anh qua các môn học. Đối tượng tham gia:
– Hướng dẫn: Phương pháp dạy học dựa trên dự án, nguồn tài liệu và các phương pháp dạy ngôn ngữ có sử dụng công nghệ
– Hướng dẫn: Bạn muốn học tiếng Anh? Hãy học lịch sử Mỹ
– Nói chuyện và thảo luận: Bầu cử Mỹ năm 2008.
LỊCH SỬ LẠI TÁI DIỄN?
Sau khi duyệt qua các chủ trương và đường lối Anh Hai Chống Cộng đang theo đuổi tại Việt Nam, chúng ta thấy nó hoàn toàn khác xa với chủ trương và đường lối của người Việt chống cộng ở hải ngoại. Đường lối chống cộng của người Việt ở hải ngoại hiện nay bao gồm 5 đặc tính chung sau đây:
Đặc tính thứ nhất là ôm chặt lấy quá khứ, nhất quyết tiếp tục đi theo con đường của chiến tranh lạnh, mặc dầu thế giới đã đổi thay.
Đặc tính thứ hai là “thích mì ăn liền” tức muốn mọi việc phải xong ngay trong ngày nay hay ngày mai. Năm 1981, cộng đồng người Việt hải ngoại chỉ góp chưa tới 10 triệu USD và với khoảng 200 quân tình nguyện, thế mà cứ nhất quyết đòi Mặt Trận Hoàng Cơ Minh phải “phải giải phóng Việt Nam” ngay, không làm được thì bị kết án là “kháng chiến cuội”!
Đặc tính thứ ba là tôn thờ chế độ “dân chủ đa nguyên nhất thống”, ai có sáng kiến hay quan điểm khác với sáng kiến hay quan điểm đương thời của tập thể chống cộng đều bị coi là thân cộng, tay sai cộng sản hay cộng sản nằm vùng, mặc dầu những sáng kiến hay quan điểm đó nhiều khi rất đúng.
Đặc tính thứ tư là coi “biểu dương khí thế” như là phương pháp tối ưu để chống cộng, và sau mỗi lần “biểu dương” xong đều hô to “quân ta hoàn toàn thắng lợi và địch hoàn toàn thất bại.” Nhưng trong thực tế chẳng có gì thay đổi.
Đặc tính thứ năm là luôn xác tín rằng Cộng Sản đang thất bại và sắp sụp đổ tới nơi rồi.
Vì đường lối chống cộng của người Việt hải ngoại hoàn toàn khác xa với đường lối “diễn biến hoà bình” của Anh Hai, nên muốn thắng trong cuộc chiến này, người Việt chống cộng phải cùng một lúc “đánh cho Mỹ cút Cộng nhào”! Đó là chuyện ít ai nghĩ tới.
Hiện nay, lịch sử lại đang tái diễn như năm 1972. Tiếng hát “Cờ bay. Cờ bay trên thành phố thân yêu...” vẫn vang lên ở Bolsa, ở Washington DC, ở Sydney... gióng như ở Quảng Trị ngày xưa, nhưng số phận đất nước chúng ta vẫn do Anh Hai quyết định. Anh Hai chẳng quan tâm gì đến “Cờ bay...” cả!
Trong cuộc nói chuyện tại Brookings Institution, Washington, DC ngày 28.7.2008 về đề tài “Chính sách của Hoa Kỳ ở Á Châu: sự gặp gỡ của cơ hội và thử thách”, ông John D. Negroponte, Thứ Trưởng Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ đã nói:
“Sự quan hệ của chúng ta với Việt Nam cũng đang đi vào một chương mới, được biểu tượng bằng cuộc viếng thăm Việt Nam của Tổng Thống Bush năm 2006 và cuộc viếng thăm của Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng tại Washington vào tháng 6. Bây giờ đất nước chúng ta đang có được những sự xiết chặt về kinh tế và mậu dịch có ý nghĩa và đang phát triển; một sự quan hệ về quân sự đang nổi bật lên (an emerging military-to-military relationship); sự hợp tác về các vấn đề y tế và phát triển đang tiến bộ; và sự liên kết về văn hoá và giáo dục đang tăng trưởng”.
Đây là những điều mà người Việt chống cộng phải quan tâm.
Lữ Giang
* Những chuyện bi thảm
Trong bài trước chúng tôi đã đưa một số tài liệu chứng minh Hà Nội đã quyết định chiếm Huế và giữ lâu dài, và diễn biến của các cuộc thảm sát theo chỉ thị của Hà Nội. Trong bài này chúng tôi xin ghi lại một số chuyện bi thảm đã xẩy ra trong Tết Mậu Thân và sau Tết Mậu Thân ở Huế do một số nhân chứng kể lại.
Có lẽ cuốn sách viết đầy đủ hơn cả về vụ thảm sát Tết Mậu Thân ở Huế là cuốn “The Vietcong Massacre at Hue” (Cuộc thảm sát của Việt Cộng ở Huế) xuất bản năm 1976 của Bác Sĩ Elje Vannema, người có mặt ở Huế khi biến cố xẩy ra. Mới đây, hai linh Mục Phan Văn Lợi và Nguyễn Hữu Giải có đưa ra lời khai của một nhân chứng dấu tên kể lại vụ thảm sát ở Khe Đá Mài. Đọc câu chuyện này chúng tôi thấy gióng hệt câu chuyện do một người có bí danh là Lương đã kể và được Bác Sĩ Elje Vannema ghi lại trong cuốn “The Vietcong Massacre at Hue”, chỉ thêm bớt một số chi tiết. Chúng tôi tin câu chuyện do Bác Sĩ Elje Vannema và Linh Mục Phan Văn Lợi ghi lại cùng do một một người kể. Đây là một câu chuyện rất bi thảm.
Lời tường thuật của các nhân chứng khác, Việt Nam cũng như ngoại quốc, cũng sẽ giúp chúng ta thấy rõ hơn sự dã man của các cuộc thàm sát.
CHUYỆN Ở GIA HỘI
Trong một bài tường thuật dười đầu đề “Mậu Thân: Nỗi Đau Không Dứt Của Huế”, cụ Lê Hàn Sinh, người chứng kiến các cuộc thảm sát ở Gia Hội, Huế, đã cho chúng ta thấy các cuộc thảm sát đó đã được tiến hành như thế nào. Cụ viết:
“Với người dân Huế, khi nhắc đến hai chữ Mậu Thân, gần như nó không còn gắn liền theo thứ tự của mười hai con giáp, mà là một tiếng gọi đặc biệt, tượng trưng cho một cuộc tàn sát man rợ.
Thủ tiêu, ám sát, chôn sống, giết người bằng mã tấu, bằng bọng cuốc phang vào sau đầu, trói bằng dây thép gai. Cụ thể là ở khu phố 4 Gia Hội (sau khi chiếm Huế Cộng Sản chia thành phố ra làm 4 khu) với tên thợ nề vô học tên Bé được giữ chức chủ tịch khu phố. Mọi sinh sát nằm trong tay y. Ước lượng nạn nhân của bọn này lên tới hàng trăm. Vì tư thù cá nhân, chúng giết cả những thường dân vô tội.
Cái chết của bà Trâm ở đường Mạc Đĩnh Chi (đường Ngự Viên) là một thí dụ. Bà bị thị Gái bắn bằng súng AK ngay tại nhà. Gái nguyên là Việt Cộng nằm vùng chuyên đi giúp việc quanh các nhà ở phường Phú Cát, Quận 2. Tuy là đi giúp việc nhưng lúc nào áo quần cũng bảnh bao, tóc búi kiểu Lào. Gái vì dây dưa với chồng bà Trâm nên bị bà này mắng chửi thậm tệ và hình như cũng có đánh đập gì đó nên giờ Gái trả thù món nợ tình ngày trước.
Cũng cần nói thêm về tên Bé thợ nề. Không ai biết xuất xứ của hắn. Y hành nghề một cách độc lập, rất lương tâm; làm từ 7 giờ sáng tới 6 giờ chiều, không nghỉ trưa, ăn uống thế nào cũng được, tiền công không đòi cao hơn kẻ khác. Do vậy, người này làm xong lại giới thiệu cho bạn bè. Cứ thế mà Bé âm thầm điều tra nắm rõ ai làm gì ở đâu, cơ quan nào... để báo cáo cho tổ chức. Nhờ thế, khi Việt Cộng vào là chúng đã có một danh sách khá đủ thành phần mà chúng cho là quan trọng để thanh toán ngay sáng mùng một Tết, không cần phải gọi ra trình diện tại trường Gia Hội.
Người đi bắt và bắn chết không ai khác hơn tên Linh (Diệu Linh), người Quảng Ngãi làm nghề thầy bói, khoác áo Việt Nam Quốc Dân Đảng Thừa Thiên. Thời gian bầu cử tổng thống lúc ông Vũ Hồng Khanh về Huế vận động, chính y là người ngồi cùng xe bên cạnh ông Khanh. Nghe đâu y cũng là cộng tác viên cho cảnh sát đặc biệt Thừa Thiên. Sáng mùng một, hắn bận complet màu đà (bộ hắn vẫn thường mặc) tới nhà tìm tôi nhưng không gặp.
Cho tới nay tôi vẫn không hiểu tại sao mà ông Rớt (có bà vợ bán bún bò ngon nhất Huế) ở trên đường Nguyễn Du lại bị bọn Linh bắn chết. (Người chung quanh nghi ông làm cộng tác viên cho cảnh sát và nghe đâu ông xin được chết gần gia đình nên chúng bắn ông tại nhà).
Mãi cho đến ngày 20 tháng giêng bọn chúng mới bắt đầu làm mạnh, nghĩa là ra lệnh trình diện lần hai rồi giữ lại thủ tiêu luôn.
Trên đường Gia Hội (tức đường Chi Lăng) bọn chúng bắt giết anh Lê Văn Cư, nguyên là Phó giám đốc cảnh sát quốc gia vùng một và anh Phú (em vợ anh Cư), Quận Trưởng Quận 2. Cả hai bị bắn cùng một lần. Cũng trên đường này anh Dự hình như đang làm trưởng ty cảnh sát Phan Rang về thăm nhà cũng bị bắt giết. Võ Nguyên Pha, nhà ở ngay sau lưng chùa Diệu Đế, nghe đâu đã trốn sang hữu ngạn rồi lại sốt ruột vì vợ con trở về để lãnh bản án tử hình.
Câu chuyện cái chết của anh Từ Tôn Kháng, Thiếu tá Tỉnh đoàn trưởng Xây Dựng Nông Thôn Thừa Thiên, không biết thực hư đến mức nào. Nghe đâu Cộng Sản bao vây nhà anh, tra khảo bắt chị Kháng chỉ chỗ ẩn của chồng nếu không thì phải chết. Anh Kháng nằm núp trên máng nước, đành phải xuống (có người bảo chị đã chỉ chỗ ẩn của chồng. Hoàn cảnh này dù có xảy ra thì tôi nghĩ cũng không nên buộc tội chị).
Ở đường Võ Tánh có anh Vĩnh sĩ quan cảnh sát bị bắn chết ngay nhà, mấy năm sau tôi vẫn thấy ngôi mộ đất vẫn còn nằm ngay trước cổng nhà. Nhà anh Vĩnh nằm ngay cạnh chùa Áo Vàng, nơi Cộng Sản làm trụ sở trình diện cho các công viên chức và sĩ quan quân đội cộng hòa, nên không trốn vào đâu được. Gần đó có anh Hồ Đắc Cam, làm công nhân nhà đèn Huế, bị bắn vì có tên trong Đại Việt Quốc Dân Đảng. Điều đáng buồn là anh Cam bị anh Kim Phát, cũng đảng viên Đại Việt, khai ra. Cộng Sản biết Kim Phát là người Đại Việt nên bắt anh phải khai những người trong tổ chức. Anh đến nhà tôi đầu tiên nhưng tôi không có ở nhà. Sau đó Kim Phát cũng chịu chung số phận như bạn bè.
Đường Bạch Đằng có anh Hiền, một lão tướng đá bóng trong hội S.E.P.H của Huế thời thập niên 40. Anh chẳng liên hệ gì tới chính quyền thế mà bị giết. Người ta đoán anh bị bắn vì trước đó đã tạt tai một thằng bé gần nhà. Tên này sau khi Cộng Sản vào tham gia thanh niên khu phố nên có dịp trả thù.
Không ít người chết vì không hiểu Cộng Sản, tưởng cộng tác với chúng là được tha. Điển hình là ông Soạn làm Chủ tịch phường Phú Cát, Quận 2 và hai anh em song sanh tên Lan (con ông Sâm cho mượn đồ đưa đám tang trên đường Chi Lăng); một trong hai người này làm cảnh sát.
Theo nằm vùng cộng sản nhận định, nhóm tiểu thương chợ Đông Ba là lực lượng yểm trợ mạnh nhất trong cuộc đấu tranh Phật giáo ở Huế vào các năm 1963 và 1966. Vì thế để lấy lòng nhóm này chúng lôi anh Phú ra giết. Anh Phú có phần hùn đấu thuế chợ Đông Ba nên vẫn hay ra thu thuế bạn hàng. Tưởng thế, nhưng cái chết của Phú chẳng gây phản ứng nào nơi nhóm tiểu thương...”Ở các khu khác, câu chuyện thảm sát cũng đã xẩy ra gióng hệt như thế.
TRÊN ĐƯỜNG ĐẾN KHE ĐÁ MÀI
Trong cuốn “The Vietcong Massacre at Hue” (Cuộc thảm sát của Việt Cộng ở Huế) Bác Sĩ Elje Vannema đã ghi lại câu chuyện các nạn nhân đã bị dẫn đi thảm sát trên đường từ chùa Từ Đàm đến Khe Đá Mài do một nhân chứng chạy thoát được kể lại. Đọc câu chuyện này, không ai không cảm thấy đau lòng và tự hỏi tại sao Cộng Sản đã hành động dã man như vậy. Vì bài báo có giới hạn, chúng tôi chỉ ghi lại những đoạn quan trọng:
"Bên trong nhà thờ chính tòa Phủ Cam, đàn ông và thiếu niên được lệnh sắp thành hàng rồi bước ra ngoài với cán bộ hộ tống. Từ nhà thờ họ băng qua các đường Phủ Cam lên Chùa Từ Đàm. Bị giữ ở đấy một ngày rồi lại tiếp tục đi về phía Nam, hướng Nam Giao. Đàn bà trẻ con nhao lên nhưng được trấn an rằng cha, chồng, con họ phải ra phục dịch bên ngoài thành. Một số bà đi theo xa xa, nhưng rồi bị chặn lại. Trong số người ra đi có anh lính trẻ Cộng Hòa và Lương (nhân vật kể lại câu chuyện này). Ngày kế tiếp, cuộc hành trình kéo dài suốt chiều tới tối, thoạt tiên rời Từ Đàm đi về hướng Nam rồi bẻ hướng Đông Nam. Sáu cây số đường đi mà Lương nghĩ là một cuộc trường chinh. Không ai nói với ai. Chỉ một lần yên lặng bị cắt đứt bởi một câu hỏi của ai đó: "Ta đi mô đây?". Có tiếng phụ họa: "Lên núi hay tới chỗ chết?".
Bộ đội Mặt Trận nói là họ được đưa đi học tập. Không ai biết mình đi đâu nhưng tự thâm tâm nhiều người tin rằng có lẽ đời mình sắp kết thúc. Ông già đi bên cạnh Lương bổng ngã quỵ. Cho tới lúc đó anh không biết có ông già đi bên mình. "Bắt gió cho ông ta", tiếng ai đó vang lên... Lương ôm lấy ông cho tới khi người canh gác tới.
Mắt ông già hé mở trong chiều xẩm tối. Tiếng nói lạc giọng thều thào: "Xin để tui ở lại đây. Tui không đi xa hơn được nữa!" Ông van xin, bàn tay xương xẩu níu lấy cánh tay người gác. Có lệnh: "Đứng dậy!".
Ông già gượng dậy, cố thẳng người thêm được vài bước rồi lại ngã. Người gác đoàn lúc này hết kiên nhẫn, đạp ông ra lề đường rồi bỏ đi. Vài phút sau, một phát súng xé không khí cùng với một tiếng kêu yếu ớt vang lên... Xác ông được dập vào một hố gần đó, hai tù nhân được lệnh lấp đất. Một tháng sau xác ông được đồng bào khám phá.
Vô vọng, đoàn người bước đi càng lúc càng chậm, câm lặng, uất nén. Người gác cứ hối thúc. Rồi có tiếng hô: "Dừng lại!". Lương thấy đám người phía trước được lệnh bỏ túi xách xuống và ngồi xuống. Họ đã tới đích!
Đám canh gác phía sau miệng là hét thúc những những người còn lại đi nhanh hơn, chân họ đá vào sườn những kẻ đi chậm... Sau này, Lương nhớ lại mình đã đi qua thôn Tu Tay.
Ít lâu sau, chừng 18 người đã bị kêu lên phía trước. Hợ bị tố cáo có tội ác với nhân dân. Các nạn nhân bị lôi đi ngay. Chả ai biết gì về số phận của họ vì chẳng bao giờ gặp lại họ nữa. Những người khác được lệnh đi về phía lăng Đồng Khánh.Sau một giờ đi, một nhóm nạn nhân được lệnh dừng lại và được chia thành hai nhóm nhỏ. Họ được lệnh đào hầm rãnh. Họ đào đã hai, ba tiếng, ai nấy im lặng gặm nhấm suy nghĩ của mình. Người gác nói: “Hố đào là để trú ẩn và làm mương dẫn nước.” Có lẽ họ đào mồ cho lớp người tới sau, chứ chính họ thì chỉ vài mạng phải nằm ở đây mà thôi!
Như một ác mộng kinh hoàng thăm viếng địa cầu, nhưng ác mộng không do quỷ ma mà do chính con người tạo ra. Thoạt tiên, Lương nghĩ chắc mình sẽ không qua khỏi. Dù vậy, trong một hoàn cảnh có thể nói là tuyệt vọng, anh và người lính trẻ vẫn cố tìm cách thoát thân. Hai người thất thần nhìn nhau, mắt mở lớn. Chung quanh Lương, đám người đói, lạnh, có kẻ bị bệnh... Không ai dám quay về nhìn thành phố thân yêu đổ nát đang chìm trong bóng tối sau lưng họ.
Một tiếng nổ kèm với tiếng la vang lên! Thần chết vây bủa không gian. Tại sao mình ở đây? Đa số họ là công giáo, chả ai quan tâm tới chính trị, một số do hoàn cảnh lịch sử phải vào lính như bao nhiều thanh niên Việt Nam và các thanh niên khác trên khắp thế giới đến tuổi như họ.
Sau khi đào xong một hố rãnh, đám đông được lệnh đi tới một đụn cát để nghỉ đêm. Vài người bị dẫn đi. Một số la thét lên vì sợ. Lương thấy người bạn ở cùng phố mà anh quen từ mấy năm nay bật khóc nức nở. Một người hoảng lên chạy quẩn để rồi bị bắt giữ lại. Lương hoảng hốt. Chân anh như điện giật. Anh nghĩ phải liều ngay. Chung quanh cán bộ gác đầy dẫy, nhưng nếu lao vào được bóng tối thì có cơ thoát.
Ác mộng tiếp tục. Người la. Kẻ bị đánh. Người rú lên cười kinh hoàng. Lương ở trong một đám khá đông đang bước đi. Đám người khập khễnh lê lết xuyên qua một đám cây rậm đi xuống đụn cát phía Nam. Khi họ xuống đồi, Lương lách người lao vào bóng tối. Một viên đạn rít bên tai. Anh phóng qua đám rừng, tai vẫn nghe tiếng đạn và tiếng la hét. Chỉ vài phút anh tới một con suối và chạy theo dòng nước hướng về phía Đông. Anh đi suốt đêm, thỉnh thoảng bị khuấy động bởi trái sáng thả từ máy bay và tiếng đại bác. Sáng ra, anh thấy mình băng qua một con đường sắt. Từ đó anh tiếp tục đi tới quốc lộ, lòng mong sớm thoát được vùng tử địa. Xế chiều anh tới con đường phía Nam cách Phú Bài mấy dặm. Mải tới ngày 16/2, Lương mới về lại được thành và kể cho chị Kim những gì đã xảy ra...
Người ta đoán rằng đám nạn nhân từ Phú Cam tiếp tục đi nhiều ngày nữa về hướng Nam, xuyên qua một vùng cây cối khó đi. Mải tới trung tuần tháng 9 năm 1969 người ta mới tìm thấy xác họ trong một con suối nhỏ, khe Đá Mài, con suối chảy ra khe Đại đổ vào sông Hương... Trong số 428 bộ cốt tìm được ở đó, rất ít được nhận diện. Vì không tìm thấy ở đâu khác, gia đình họ Nguyễn (thân nhân người lính trẻ) tin rằng con mình đã chấm dứt cuộc đời nơi khe suối này...
VỤ CÁC BÁC SĨ NGƯỜI ĐỨC
Trong số các nạn nhân bị thảm sát trong Tết Mậu thân, người ta thấy có cả những người ngoại quốc như bốn người Đức dạy ở Đại Học Y Khoa Huế: Bác sĩ và bà Hort Gunther Krainick, Bác Sĩ Raimund Discher, và Bác Sĩ Alois Alterkoster. Họ bị bắt ngày 5.2.1968 và về sau người ta tìm thấy xác họ ở gần chùa Tường Vân. Bác Sĩ Elje Vannema đã kể lại như sau:
Các bác sĩ đều là người Công Giáo và họ đã đến Việt Nam dưới thời ông Ngô Đình Diệm. Sau khi ông Diệm bị lật đổ họ được khuyên nên rời khỏi Việt Nam, nhưng đã được mời ở lại ngay sau khi tình hình lắng dịu...
Bác Sĩ Discher là người tới sau cùng, và hai vợ chống ông chẳng bao giờ nói tới chuyện chính trị. Ông vừa đưa vợ và con về Đức và mới trở lại Việt Nam trong tháng giêng 1968. Khi tới Hàng Không Việt Nam đặt vé đi ngày 24 tháng Giêng, người ta khuyên ông chớ nên ra Huế, vì tình hình không ổn. Nhưng ông nói ông phải có mặt với sinh viên, mặc dù lúc đó còn đang là mùa nghỉ Tết. Hàng Không Việt Nam không bay. ông liền sang đi nhờ máy bay Mỹ ra Huế.
Ông và ba giáo sư người Đức khác đã bị bắt sau khi Cộng quân chiếm Huế. Họ được đưa về Chùa Từ Đàm ở phía nam thành phố. Ngày hôm sau họ được chuyển tới Chùa Tăng Quang Tự, rồi đưa qua một chùa nhỏ có tên là Tường Vân. Chùa này được bao bọc bởi vài căn chòi, nằm cách Tăng Quang Tự độ một dặm. Cha Châu, một linh mục công giáo làm việc với tôi hồi còn ở trường Pellerin, ngày mồng 6 tháng 2 được yêu cầu chuẩn bị "thúc ăn Mỹ" cho các bác sĩ Đức. Ngày 7 tháng 2, một ký giả Đức theo chân các thành viên của Tổ Chức Cứu Trợ Công Giáo (ICC) cố vào tìm các bác sĩ tại căn nhà họ ở trước đây, nhưng bị lính Mỹ cản. Ngay cả vào để dọn đồ cũng không được phép. Tôi bước tới cách nhà độ 15 mét thì một anh lính Mỹ chĩa súng vào người và nói: "Ông kia... quay ra". Khi tôi bảo tôi có quyền vào nhận diện dấu vết những gì đã xây ra, anh lính này dí súng bảo tôi đi. Họ bận rộn khiêng vác bàn ghế, tranh ảnh và một tấm gương ra khỏi nhà. Mãi tới đầu tháng 4 thì một sinh viên y khoa tên Anh, được một vị sư có tên là Châu báo cho biết có một ngôi mộ trong miếng đất nằm giữa cây cối, cách Chùa Tường Vân nửa dặm về phía nam. Anh và hai sinh viên nữa đã tới đó vào chập tối. Vì quá trễ nên ngày hôm sau họ quay trở lại, đào xác các thầy mình lên và chuyền về Sài gòn để hai bác sĩ người Pháp nhận diện. Vê sau, Bác Sĩ Le Hir cho tôi hay có nhiều vết thương nơi đầu và thân mình, nhưng vết thương kết liễu là viên đạn xuyên qua đầu và ót Tháng năm, Toà Đại Đứ Đức ở Sài Gòn chính thức thông báo rằng các công dân của họ đã bị hành quyết...
Sau này, Sư Châu kể rằng một trong các chú tiểu của ông thấy người ta đào hố và nghe thấy tiếng súng. Ngày hôm sau chú đi ra xem thấy những nấm đất mới. Vì quá sợ nên mãi mấy tuần sau mới dám hé môi.
Riêng Bác Sĩ Erich Wulff, cũng đến dạy y khoa ở Đại Học Huế năm 1961 như ba bác sĩ Đức khác. Nhưng ông đã tích cực ủng hộ phong trào đấu tranh của Phật Giáo, do đó sau cuộc nổi loạn của Phật Giáo ở Huế và Đà Nẵng năm 1966 bị thất bại, ông đã rời Việt Nam năm 1967, nhờ vậy ông thoát chết. Bác Sĩ Discher đến thay ông nên gặp nạn.
NHẬN RA ĐƯỢC SỰ THẬT
Tạp chí Time, số ra ngày 5.4.1968 có đăng bài “An efficient massacre” (Một Cuộc Tàn Sát Có Hiệu Quả) của ký giả Stewart Harris. Tạp chí Time đã giới thiệu Harris như là một ký giả người Anh chống lại chính sách của Hoa Kỳ tại Việt Nam, Nhưng sau khi đến Huế để điều tra cuộc thảm sát của Việt Cộng trong Tết Mậu Thân, ông đã nhận ra được sự thật và ghi lại như sau:Vào buổi chiều nắng đẹp, tại một thung lũng xanh cỏ ở vùng Nam Hoà, cách phía nam Huế 10 dặm, tôi cùng chuẩn uý Ostara, một cố vấn quân sự của quân đội VNCH, đứng trên sườn đồi đầy những lỗ vừa mới đào. Dưới chân đồi là những tấm chiếu phủ trên bạt ni lông. Ostara lật chiếu lên, tôi thấy hai xác người, tay họ bị trói phía trên cùi chỏ, giật ngược về phía sau. Nạn nhân bị bắn từ phía sau đầu, đạn trổ ra đằng miệng. Khó mà nhận diện được nạn nhân. Ngày hôm trước, 27 người đàn bà trong làng đã vác cuốc chim đi đào xới kiếm xác chồng con họ ở một nơi cách làng 3 dặm, sau khi nghe nói có người nghe tiếng đào xới đất đá ở cạnh con đường mà Việt Cộng đã đi qua để đến Huế. Việt Cộng đã bắt đi 27 người, trong đó có vài người là viên chức trong làng và một số là thanh thiếu niên, để làm phu khuân vác, hay để xung vào bộ đội của chúng.
Bob Kelly, một cố vấn cao cấp của tỉnh Thừa Thiên cho biết, các nạn nhân chỉ đơn giản bị tòa án nhân dân kết án một cách vội vã rồi bị xử tử với tội danh: "Kẻ thù của nhân dân". Họ là những viên chức xã ấp, thường là ở cấp thấp. Một số người khác bị giết vì họ không còn hữu ích cho Việt Cộng, hoặc không cộng tác với chúng. Vài cộng tác viên của ông Bob Kelly bị phanh thây một cách thảm khốc. Ông Bob Kelly cho rằng những người này bị chặt ra thành từng khúc sau khi họ đã bị giết. Nạn nhân bi trói và bị bắn từ phía sau đầu. Ông Kelly đã giúp đào xới tìm xác một nạn nhân. Ông Bob Kelly đã nói với người viết bài này rằng một người Việt Nam mà ông hằng kính trọng cho biết, một số nạn nhân đã bị chôn sống.
Trung Uý Gregory Sharp, một cố vấn Hoa Kỳ của Tiểu Đoàn 21 Biệt Động Quân cho tôi biết, hôm 14 tháng 3, binh sĩ của ông ta đã tình cờ khám phá ra 25 ngôi mộ mới trong một nghĩa trang ở cách Huế 5 dặm về hướng đông. Trong số những ngôi mộ đó, có đến 6, 7 nạn nhân bị chôn ngập đến cổ, đầu nhô lên khỏi mặt đất. Theo Trung Uý Sharp thì hình hài nạn nhân chẳng còn nguyên vẹn, vì đã bị kên kên và chó tranh nhau xâu xé. Trung Úy Sharp cho biết, một số nạn nhân bị bắn vào đầu, một số khác không bị bắn, mà bị chôn sống. Cũng theo viên trung úy này thì ở một vài nơi ông ta đã thấy những vệt kéo trên mặt cát, như thể nạn nhân cố bám vào mặt đất khi bị kéo lê. Ở Khu Tả Ngạn, 3 sĩ quan Úc đã tìm thấy 7 thi hài trong 3 hố chôn. Những người này bị trói thúc ké và bị bắn từ phía sau đầu. Ngay sau khi đến Huế, tôi đã dùng xe jeep đi chung với 3 sĩ quan Việt Nam để xem xét một vài địa điểm đang khai quật tìm kiếm thi hài nạn nhân của vụ thảm sát. Đầu tiên chúng tôi đến Trường Trung Học Gia Hội ở Quận 2, phía đông Huế. Ở đó người ta đã tìm thấy 22 hố chôn mới. Mỗi hố có từ 3 đến 7 nạn nhân. Không khí kinh hoàng vẫn bao trùm khu vực này. Các sĩ quan cho tôi biết, các nạn nhân đều bị trói, bị bắn từ phía sau đầu, hoặc bị chôn sống như ở những nơi khác.
Điều gì đã xẩy ra đối với khoảng 40 ngàn dân Công Giáo ở Huế? Ba phần tư số giáo dân này sống ở vùng Phủ Cam, khu ngoại ô phía Nam thành phố Huế. Họ đã chống cự mãnh liệt khi Việt Cộng đến, một số bị giết chết. Bốn giáo sĩ Việt Nam bị bắt đem đi, ba giáo sĩ ngoại quốc bị giết. Hai giáo sĩ người Pháp được Việt Cộng cho phép trở lại Phủ Cam để giúp các bà sơ, nhưng họ đã bị giết trên đường về. Một giáo sĩ người Pháp bị hành quyết có lẽ vì ông ta là Tuyên Uý của Quân Đội Hoa Kỳ.
CUỘC TÌM XÁC VÀ CẢI TÁNG
Trong cuốn “Vietcong Stratregy of Terror” (Chiến Lược Khủng Bố Của Việt Cộng), Giáo Sư Douglas Pike đã mô tả cuộc tìm xác của các nạn nhân ở Khe Đá Mài như sau:
“Binh Đoàn 101 Không Vận HK thấy không thể dùng đường bộ đến khe Đá Mài. Đường không có lối ra và không đi qua được. Tầng lá cây dày đặc, ở VN người ta gọi đó là cái lọng đôi, nghĩa là có hai tầng lá, một ở gần mặt đất, gồm cây và bụi rậm, và một tầng lá cao, che phủ bên trên. Bên dưới chỉ có ánh sáng lờ mờ. Công Binh Quân đội Hoa Kỳ đã phải mất hai ngày để chọc thủng một cái lỗ xuyên qua cái lộng đôi bằng cách cho trực thăng bay lưng chừng bên trên rồi thòng chất nổ xuống qua khỏi các tầng lá cây và cho nổ để tạo lỗ trống cho những chiếc trực thăng hốt cốt có thể đáp xuống được. Rõ ràng đây là nơi xác chết có thể được giấu kín không cần chôn cất.
“Trên một đoạn khe dài hơn một trăm mét là sọ người chết, các bộ xương và các mãnh xương người. Xác chết được để trên mặt đất (theo thuyết vật linh, linh hồn của những người không được chôn cất sẽ đi lang thang mãi mãi trên trái đất), và trong vòng 20 tháng, nước suối chảy đã làm cho xương sạch trơn và trắng bạch.”
Trong bài “Mậu Thân 1968: Cải táng đồng bào bị thảm sát”, ông Võ Ngọc Tụng, quận trưởng Quận Phú Thứ ở Thừa Thiên, đã kể lại câu chuyện ông đi tìm các hố chôn tập thể và cải táng các nạn nhân như sau:
"Khi biến cố Tết Mậu Thân xảy ra, tôi là một sĩ quan thuộc Phòng 3 Bộ Tham Mưu Sư Đoàn I Bộ Binh đóng tại Mang Cá, Thành Nội Huế, nơi duy nhất không bị Cộng Sản chiếm trong đêm đầu, tức đêm mồng 1 Tết.
Sau đó, tôi được biệt phái qua Tiểu Khu Thừa Thiên đi làm Quận Trưởng kiêm Chi Khu Trưởng Phú Thứ - một trong ba quận có nhiều mồ chọn tập thể dân Huế. Đó là các quận Phú Vang, Phú Thứ và Nam Hoà tỉnh Thừa Thiên.
Vùng có nhiều hố chôn tập thể hơn cả là vùng cát gần các thôn Xuân Ô, Xuân Đợi, Ba Lăng, Quảng Xuyên, Lương Viện, Viễn Trình. Nạn nhân bị bắt được CS dẫn đi theo hai lộ trình chính: Một lên hướng Nam Hoà đi vào khe Đá Mài (nhiều trăm xác được tìm thấy tại đây). Hai qua ngã Chợ Cống hoặc Dạ Lê rồi đi về các vùng Đông Đổ, Ba Lăng, Lương Viện, Trường Hà, Mộc Tụ thuộc quận Phú Thứ.
Việc tìm kiếm các hố chôn tập thể có nhiều cách. Một trong những cách đó là dân theo hướng những tiếng rú hãi hùng trong đêm. Bởi khi bị dồn thành hàng dưới các hố rãnh, biết rằng mình sẽ bị hành hình nên các nạn nhân đã rú lên kinh hoàng. Dân các làng chung quanh tùy theo chiều gió đã nghe rất rõ những tiếng rú ấy trong đêm khuya.
Mỗi cuộc cải táng phải có sự phối hợp chu đáo giữa xã, quận và tỉnh.
Trước hết phải thành lập các toán nhận dạng nạn nhân. Họ là những người chuyên môn và tình nguyện, thường là một nhóm 6 người gồm 3 người đặc trách nhận dạng. Khi lấy xác lên, họ tìm kiếm giấy tờ nếu có, kiểu và màu sắc áo quần, giới tính, tóc, răng hay những điểm nổi bật khác.
Sau ba, bốn ngày hoặc ngắn hơn tùy theo số lượng xác tìm được vượt quá số từ 500 - 600, một lễ cải táng được tổ chức trang nghiêm để đưa lên nghĩa trang Ba Đồn, Ba Tầng gần Nam Giao. Rất nhiều xe GMC được trưng dụng, mỗi xe chở 10 "tiểu" có gắn biểu ngữ, cờ tang và có ban nhạc đi theo.
Lần tổ chức cải táng sau cùng ở Phú Thứ để dời lên nghĩa trang Ba Đồn và Ba Tầng, người ta đã tìm được 454 xác, trong đó có một hố với 4 xác chôn sống của 2 linh mục và 2 thầy đại chủng viện. Đó đó là xác linh mục Bửu Đồng và linh mục Đẳng, còn lại hai thầy tôi không nhớ tên. Vì có cảm tình riêng với linh mục Bửu Đồng, tôi đã dò theo dấu vết ngài từ họ Sư Lỡ qua các thôn ấp, gia đình ngài trú ngụ và cuối cùng dẫn ra chỗ chôn ngài. Trên người ngài còn đủ cả giấy tờ và hình ảnh với 1 lá thư do chính tay ngài viết gởi cho mẹ. Lần đào xác nầy có một số ký giả ngoại quốc đến Bộ Chỉ Huy tại Quận Phú Thứ. Tôi có ý định mời họ đến tận nơi quan sát nhưng vì mỗi lần tổ chức, CS tăng gia hoạt động để phá hoại an ninh và việc cải táng nên các ký giả không thể đến nơi để thấy tận mắt được...”
Ông Võ Văn Bằng, trưởng ban Truy Tìm và Cải Táng Nạn Nhân Cộng Sản Tết Mậu Thân, đã hồi tưởng: “Các hố cách khoảng nhau. Một hố vào khoảng 10 đến 20 người. Trong các hố, người thì đứng, nào là nằm, nào là ngồi, lộn xộn. Các thi hài khi đào lên, thịt xương đã rã ra. Trên thi hài còn thấy những dây lạt trói lại, cả dây điện thoại nữa, trói thành chùm với nhau. Có lẽ, họ bị xô vào hố thành từng chùm. Một số người đầu bị vỡ hoặc bị lủng. Lủng là do bắn, vỡ là do cuốc xẻng.” (RFA 31.1.2008).
RẬP KHUÔN THEO LÉNIN
Như chúng tôi đã trình bày, Đảng CSVN muốn tạo sự kinh hoàng trong quần chúng để mọi người hoảng sợ và tuân phục, nên đã ra lệnh thực hiện những cuộc tàn sát dã man như thế. Đây là chính sách mà Lénin đã áp dụng tại Liên Sô trước đây.Trong quyển "The Unknown Lenin", ông Richard Pipes, giáo sư Sử Học Nga thuộc Harvard University, ghi nhận rằng yếu tố lạnh người nhất là Lenin đã ra lệnh "tạo sự kinh hoàng" trong quần chúng trên toàn quốc. Hồi đầu tháng 9/1918, Lenin viết: "Cần thiết và khẩn cấp chuẩn bị cho sự kinh hoàng, một cách bí mật". Tháng 8/1919, Lenin chỉ thị cho bọn cầm quyền tỉnh Penza phải treo cổ ít nhất 100 người, một cách công khai. Lénin truyền lệnh: "Hãy thực hiện chuyện này bằng một phương cách mà người ta sẽ thấy, từ xa hàng trăm dặm, run sợ, biết đến, và gào thét. Họ bị treo cổ, và sẽ treo cổ đến chết bọn địa chủ hút máu".
Đảng CSVN cũng bắt chước đường lối này khi nghĩ rằng có thể chiếm giữ Huế lâu dài.
Người Cam-bốt có hai tác phẩm danh tiếng nói lên tội ác diệt chủng của Khmer Đỏ, đó là cuốn “Survival in the Killing Fields” (Sống Còn Trong Các Cánh Đồng Chết) của Haing Ngor, Roger Warner, và cuốn “When Broken Glass Floats – Growing up under the Khmer Rouge” (Khi Mảnh Chai Nổi Lên – Lớn Lên Dưới Chế Độ Khmer Đỏ) của Chanrithy Him. Cuốn “Survival in the Killing Fields” đã được đóng thành phim dưới cái tên "Killing Field". Hai tác phẩm này đã đánh động được lương tâm nhân loại, nên ngày nay các lãnh tụ Khmer Đỏ đang phải ra trước tòa án hình sự để bị trừng phạt về tội diệt chủng và tội ác chống nhân loại.
Người Việt “quốc gia chống Cộng” có trình độ văn hóa và cuộc sống cao hơn người Cam Bốt, nhưng ngoài những bài chửi Cộng Sản bằng dao to búa lớn, không có một tác phẩm nào nói về tội ác của CSVN trong Tết Mậu Thân có giá trị tư pháp hay sử liệu như hai tác phẩm nói trên, nên những kẻ phạm tội vẫn còn ung dung tại vị. Đó là một điều đáng buồn, rất đáng buồn!
Tú Gàn

* Về quyết định thảm sát
Tú Gàn
Khi bài này đến với độc giả, nhiều tổ chức trong cộng đồng người Việt hải ngoại đang tổ chức kỷ niệm 40 Tết Mậu Thân để tướng nhớ đến những người đã bị thảm sát trong biến cố đó. Nhưng một câu hỏi được đặt ra và chưa có câu trả lời: Tại sao Cộng quân đã hành động dã man như vậy?Sau trận Mậu Thân ở Huế, một ủy viên huyện ủy của quận Phú Vang ở Thừa Thiên là Hồ Ty, bí danh Sơn Lâm, đã bị bắt. Trong cuộc thẩm vấn, Hồ Ty đã khai rằng việc thủ tiêu tất cả những người bị bắt là thi hành lệnh Quân Ủy Trị-Thiên-Huế. Sở dĩ có lệnh này là vì khi rút lui, bị quân đội VNCH và Mỹ truy đuổi quá gắt, lo cho đơn vị không nổi làm sao làm lo được cho tù binh được. Số người bị bắt theo quá nhiều làm vướng bận không thể rút lui nhanh được, nên đã có lệnh giết tất cả tù binh.Tạp chí Time của Mỹ số ra ngày 31.10.1969, trong bài “The massacre of Hue” (Cuộc thảm sát ở Huế) đã đặt câu hỏi: “Điều gì đã khiến Cộng Sản tàn sát?” Rồi tạp chí này trả lời:“Nhiều người dân Huế tin rằng lệnh hành quyết được đưa thẳng từ Hồ Chí Minh xuống. Tuy nhiên, có lẽ chắc chắn hơn, đơn giản là Cộng Sản đã mất tinh thần. Họ đã bị nhồi sọ để tin tưởng rằng nhiều người dân miền Nam sẽ xuống đường tranh đấu cùng với họ trong cuộc tổng tấn công vào dịp Tết. Nhưng điều đó đã không xảy ra, và khi trận chiến ở Huế bắt đầu nghiêng về phía quân đồng minh, Cộng Sản đã hoảng sợ và giết sạch các tù nhân.”Mới đây, trong cuộc phỏng vấn của đài BBC ngày 24.1.2008, ông Bùi Tín cũng đã đưa ra luận điệu tương tự:''Khi quân Mỹ đổ bộ lại từ Phủ Bài trở ra để lấy lại Huế thì anh em họ trói, di chuyển đi hàng mấy trăm tới hàng nghìn người. Do vướng chân, mệt, rồi bị pháo bắn ở ngoài biển vào dữ dội cho nên do phần lớn do tự động các chỉ huy trung đội tới trung đoàn đồng lõa với nhau để thủ tiêu không cho cấp trên biết.''Có một điều người ta quên là cuộc thàm sát đã xẩy ra trong khoảng 10 ngày đầu khi Cộng quân mới chiếm Huế khi Quân Lực VNCH và đồng minh chưa phản công, và nhiều mộ tập thể đã được tìm thấy ngay trong thành phố Huế.KẾ HOẠCH CỦA HÀ NỘIĐọc cuốn “Chiền trường Trị-Thiên-Huế trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước toàn thắng” của Khu Ủy và Bộ Tư Lệnh Quân Khu Trị -Thiên-Huế do nhà xuất bản Thuận Hóa Huế ấn hành năm 1985, chúng ta biết được quyết định của Hà Nội về việc chiếm Huế làm căn cứ lâu dài của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam.1.- Thành lập Khu Ủy và Bộ Tư Lệnh Quân Khu Trị-Thiên-HuếNăm 1965 và năm 1966, khi phong trào Phật Giáo đấu tranh nổi lên ở Huế chủ trương đi theo đường lối của MTGPMN, đòi hòa bình, rút quân Mỹ ra khỏi miền Nam, đốt phòng thông tin và thư viện Mỹ ở Huế, v.v., Hà Nội nhận thấy rằng có thể chiếm Huế làm căn cứ địa lâu dài của MTGPMN vì hai lý do: Lý do thứ nhất là Huế có nhưng thành quách rất vững chắc, nếu chiếm giữ được, Quân Lực VNCH và đồng minh khó lấy lại được, trừ khi phá hủy thành phố. Lý do thứ hai là phong trào Phật ở Huế cho thấy các nhà lãnh đạo Phật Giáo ở đây ủng hội MTGPMN. Vì thế, Hà Nội đã lập một kế hoạch chiếm và giữ Huế rất kỹ càng.Trước 1966, Trị Thiên là Phân Khu Bắc trực thuộc Quân Khu 5. Tháng 4 năm 1966, Thường Trực Quân Ủy Trung Ương ra quyết định thành lập Khu Ủy và Bộ Tư Lệnh Quân Khu Trị-Thiên-Huế tách khỏi Khu 5, và đặt trực thuộc Trung Ương và Quân Ủy Trung Ương. Thiếu tướng Trần Văn Quang được cử làm Tư Lệnh Quân Khu Trị-Thiên-Huế và Đại Tá Lê Minh làm Phụ tá kiêm Trưởng Ban An Ninh Quân Khu. Lê Chưởng, Phó Bí Thư Khu Ủy Trị Thiên Huế, được cử làm làm Chính Ủy.Mới thành lập, Khu Ủy Trị Thiên Huế đã đứng ra lãnh đạo cuộc đấu tranh của Phật Giáo tại Huế, nhưng thất bại. Tài liệu ghi lại như sau:“Trong tháng 5-1966 cả thành phố Huế hầu như hổn loạn, ngụy quân, ngụy quyền bị tê liệt. Nhưng do tương quan lực lượng không cân xứng và sự lãnh đạo trực tiếp của ta chưa đủ mạnh, địch đưa quân đến đàn áp khốc liệt và dìm trong bể máu. Các đơn vị ly khai đầu hàng, lực lượng Phật Giáo tan rã, cơ sở của ta trong trào một bị bắt, một số rút vào bí mật. Phong trào kéo dài được 96 ngày.” (tr. 111).Báo cáo của Khu Ủy Trị Thiên Huế cho biết lúc đó tại Thừa Thiên có 398 chùa, 9 hòa thượng, 15 thượng tọa, 220 tăng ni sư sãi và 80.000 Phật tử. Báo cáo nói rằng “chính tinh thần dân tộc và ý thức giác ngộ chính trị của nhân dân đã đánh bại quân địch ngay trên lãnh vực tôn giáo mà chúng ta đã ra sức lợi dụng.”2.- Lệnh chiếm Huế
Tài liệu cho biết: “Ý đồ đánh vào thành phố Huế đã có từ lâu. Tháng 2-1967 Đồng Chí Đặng Kính và Thanh Quảng ra báo cáo, Bộ đã chỉ thị cho Trị – Thiên nghiên cứu đánh vào Huế và thị xã Quảng Trị. Tháng 5-1967, Thường Vụ Quân Ủy Trung Ương họp nhận định: “Tình hình phát triển của phong trào đã tạo ra khả năng đánh lớn vào thành phố Huế.” (tr. 136).Chỉ thị còn nói rõ hơn:“Phấn đấu trong 7 ngày đêm hoàn thành mọi mục tiêu cơ bản, tập trung chủ yếu vào 2 ngày 3 đêm đầu. Dự kiến tình huống khó khăn, thì có thể phải một tháng hoặc nếu kéo dài 2, 3 tháng cũng phải chiếm lĩnh bằng được thành phố Huế và giữ đến cùng (dự kiến này chỉ phổ biến bằng miệnh cho cán bộ cao cấp)...”“Nhanh chóng xây dựng lực lượng vũ trang, lực lượng chính trị, xây dựng chính quyền để phát triển thắng lợi...” (tr. 110).Những chỉ thị này cho thấy Hà Nội quyết định chiếm Huế và giữ Huế lâu dài rồi thiết lập một chính quyền tại đây. Ngoài Huế, không thành phố nào trên miền Nam được chỉ thị phải hành động như vậy.3.- Chuẩn bị tấn công HuếViệc tấn công Huế không phải dễ dàng vì mặt trận quá rộng lớn. Vì thế, để tấn công Huế, Quân Khu Trị Thiên Huế được lệnh phải chuẩn bị về lực lượng, tổ chức, tư tưởng, lương thực, phương tiện, nhất là phải chuẩn bị chiến trường.Về quân số, Quân Khu Trị Thiên Huế chỉ có 2 trung đoàn chủ lực là E6 và E9, 4 tiểu đoàn bộ binh của hai tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên, 4 tiểu đoàn đặc công và các lực lượng pháo binh, công binh. Lực lượng này quá nhỏ bé, không đủ để mở cuộc tấn công Huế. Do đó, vào cuối năm 1967, Trung Ương đã tăng cường cho Huế Trung Đoàn 9.Gần đến ngày nổ súng, Trung Ương đã tăng cường thêm: Trung Đoàn 2 của Sư Đoàn 324, Trung Đoàn 8 của Sư Đoàn 325. Sau đó tăng cường thêm Trung Đoàn 3/325 rồi Trung Đoàn 1/325. Sau khi chiếm được Huế, Bộ cho tăng cường thêm Trung Đoàn 141 để giữ Huế, nhưng quá muộn. Như vậy Trung Ương đã tăng cường cho Huế đến 5 Trung Đoàn. Với sự tăng cường này, Quân Khu Trị Thiên Huế đã có khoảng 7.500 quân.Về lương thực, Quân Khu đã thu gom được 2000 tấn ở đồng bằng và 1000 tấn ở miền núi.Về chính trị, an ninh và tuyên truyền, Quân Khu đã đưa khoảng 700 cán bộ từ thành phố Huế và đồng bằng lên chiến khu huấn luyện, phân công và ra lệnh phải hành động như thế nào sau khi đã chiếm được thành phố (tr. 141).CHẾM HUẾ VÀ LẬP CHÍNH QUYỀNNăm 1968, mồng một Tết Mậu Thân nằm vào ngày 30.1.1968 dương lịch. Lệnh tấn công được đưa ra vào luc 2 giờ 35 sáng 31.1.1968, tức sáng mồng 2 Tết. Cuộc tấn công được chia làm hai cánh: Cánh chính là cánh Bắc: Cộng quân tấn công vào Đồn Mang Cá, nơi có Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 1, sân bay Tây Lộc, khu cột cờ Đại Nội, khu Gia Hội, khu Chợ Đông Ba, v.v. Cánh thứ hai là cánh Nam: Cộng quân tấn công vào Tiểu khu Thừa Thiên, cơ sở cảnh sát, đài phát thanh Huế, cầu Kho Rèn, Tòa Đại Biểu Chính Phủ, Dinh Tỉnh Trưởng, nhà lao Thừa Phủ, nhà Ga, v.v.Công quân chia Huế thành ba mặt trận: Mặt trận Thành Nội do Đại Tá Lê Trọng Đấu chỉ huy; mặt trận Quận Nhì (tả ngạn sông Hương) do Chính Ủy Hoàng Lanh và mặt trận Quận Ba (hữu ngạn) do Nguyễn Mậu Hiên bí danh Bảy Lanh.Tuy nhiên, Quân Lực VNCH vẫn giữ được Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 1, cơ sở MACV, Tiểu khu Thừa Thiên, đài phát thanh Huế, Trường Kiểu Mẫu và cầu tàu Hải Quân.Phải đến ngày 8.2.1968, tức hơn 7 ngày sau, Quân Lực VNCH và đồng minh mới huy động được lực lượng và chính thức phản công lại. Cuộc chiến rất ác liệt. Quân Lực VNCH và đồng minh đã xử dụng hỏa lực tối đa và tiến vào từng khu phố để đánh bật Cộng quân ra. Ngày 15.2.1968 Hà Nội ra lệnh cho Cộng quân phải tử thủ ở Huế đồng thời tăng cường thêm cho mặt trận Huế Trung Đoàn 141 để bảo vệ những cứ điểm đã chiếm được. Nhưng hỏa lực của Quân Lực VNCH và đồng minh quá mạnh nên Cộng quân được lệnh rút.Sáng 25.2.1968 toàn thể khu Gia Hội được giải tỏa. Đại Đội Hắc Báo của Sư Đoàn 1/BB chiếm được Kỳ Đài, hạ cờ Cộng sản xuống và kéo cờ VNCH lên. Sau 25 ngày đêm giao tranh ác liệt, cuộc chiến ở Huế đã chấm dứt.Vì các trận đánh ở Huế đã được mô tả đấy đủ trong cuốn “Cuộc tổng công kích – tổng khởi nghĩa của Việt Cộng Mậu Thân 1968” của Quân Lực VNCH nên chúng tôi thấy không cần ghi lại ở đây. Chúng tôi chỉ tìm hiểu Việt Cộng đã làm gì sau khi chiếm được Huế và tại sao các cuộc thảm sát đã xẩy ra trong khắp thành phố rồi lan rộng ra các vùng phụ cận.HOẠT ĐỘNG SAU KHI CHIẾM HUẾ.Do sự chỉ đạo là huấn luyện từ trước, khi vào Huế, bộ đội lo chiếm các cơ sở quân sự và hành chánh quan trọng ở Huế, còn nhóm cán bộ chính trị, hành chánh và an ninh đã cùng với các thành phần nằm vùng tại địa phương thực hiện các công tác sau đây:VỀ CHÍNH TRỊ: Ngày mồng 3 Tết (tức 1.2.1968) Hà Nội tuyên bối thành lập “Liên Minh Dân Chủ Dân Tộc Hoà Bình tại Huế” do Tiến Sĩ Lê Văn Hảo làm chủ tịch. Liên Minh này là một bộ phận của Liên Minh do Trịnh Đình Thảo làm chủ tịch.Lê Văn Hảo gốc người Huế, sang Pháp học từ năm 1953, trở về Huế năm 1966 và dạy nhân chủng học đại học tại Huế và Sài gòn. Năm 1966, Hảo tham gia phong trào ly khai ở Huế và bị bắt sau đó được Đại Học Huế nhận ra. Giữa năm 1967, Hảo được Hoàng Phủ Ngọc Tường và Tôn Thất Dương Tiềm, một cán bộ cộng sản nằm vùng, móc nối vào Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Ngoài Lê Văn Hảo, Liên Minh còn có phó chủ tịch là bà Tuần Chi (tên thật là Đào Thị xuân Yến, chị vợ Nguyễn Cao Thăng) hiệu trưởng trường nữ trung học Đồng Khánh và Hoà Thượng Thích Đôn Hậu, đương kim Chánh Đại Diện Phật Giáo miền Vạn Hạnh. Các thành phần nồng cốt của Linh Minh còn có: Nguyễn Đóa (cựu giám thị trường Quốc Học), Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân, Phan Duy Nhân, Phạm Thị Xuân Quế, Tôn Thất Dương Tiềm, Tôn Thất Dương Kỵ, Tôn Thất Dương Hanh...VỀ HÀNH CHÁNH: Khu Ủy Trị Thiên quyết định thành lập Ũy Ban Nhân Dân Cách Mạng Thành Phố Huế và giao cho Tiến sĩ Lê Văn Hảo làm Chủ Tịch Ủy Ban, còn bà Tuần Chi (tức Đào Thị Xuân Yến) và Hoàng Phương Thảo, thường vụ Thành Ủy, làm Phó Chủ Tịch. Tuy nhiên, mọi quyết định đều năm trong tay Hoàng Phương Thảo.Khu Ủy giao cho Hoàng Kim Loan (một cán bộ nằm vùng trong nhà Nguyễn Đóa), Hoàng Lanh (Thường Vụ Thành Ủy Huế) và Phan Nam (tức Lương) thành lập các Ủy Ban Nhân Dân Cách Mạng tại mỗi quận trong thành phố.Hoàng Kim Loan phụ trách Thành Nội (Quận 1) đã đưa Nguyễn Hữu Vấn, Giáo Sư Trường Quốc Gia Âm Nhạc Huế lên làm Chủ Tịch. Phan Nam phụ trách Quận Tả Ngạn (Quận 2) đã giao chức chủ tịch cho Nguyễn Thiết (tức Hoàng Dung). Tại Quận Hữu Ngạn (Quận 3), Hoàng Lanh, vì phải dồn mọi nổ lực vào việc bắt các thành phần bị coi là Việt gian, ác ôn và phản động và đưa đi thủ tiêu, nên chưa kịp thành lập Ủy Ban Nhân DânVỀ AN NINH: Đi theo quân đội chủ lực là các đại đội đặc công, võ tranh tuyên truyền và các toán an ninh. Hoạt động về an ninh được đặt dười quyền chỉ huy của Đại Tá Lê Minh, Phụ tá Bộ Tư Lệnh Quân Khu kiêm Trưởng Ban An Ninh Quân Khu. Trụ sở chính của Ban An Ninh được đật tại Chùa Từ Đàm.Chỉ huy các toán an ninh là Tống Hoàng Nguyên và Nguyễn Đình Bảy (tực là Bảy Khiêm) thuộc Khu Ủy Trị Thiên.Ban An Ninh chia thành phố Huế thành 4 khu để phân chia trách nhiệm hành động:Khu 1 là Quận 1, tức Thành Nội.Khu 2 là Quận 2 thuộc vùng tả ngạn sông Hương, nhưng lấy cầu Gia Hội làm ranh giới rồi kéo dài về hướng Tây, qua khỏi cầu Bạch Thổ, xuống tận An Vân, tức bao gồm một phần của Quận Hương Trà.Khu 3 là Quận 3, tức khu vực hữu ngạn sông Hương, nhưng bao gồm luôn cả giáo xứ Phủ Cam thuộc Quận Hương Thủy ở phía Nam sông An Cựu.Khu 4 là phần lãnh thổ từ cầu Gia Hội đến Cổn Hến. Phần này vốn thuộc Quận 3.Tống Hoàng Nguyên phụ trách Khu 1 và Khu 2, Nguyễn Đình Bảy phụ trách Khu 3 và Nguyễn Đắc Xuân đặc trách Khu 4.THỰC HIỆN VIỆC THẢM SÁTTrước khi Cộng quân mở cuộc tấn công Huế, các thành phần ly khai bỏ đi theo Việt Cộng từ năm 1966 và các tên nằm vùng đã lập sẵn danh sách những người mà chúng cho rằng cần phải thanh toán. Vì thế, khi mới vào Huế, chúng đã mở cuộc lục xét khắp nơi để tìm những người này.Ngoài những người có tên trong “sổ đen”, các toán an ninh đi lùng bắt các thành phần bị coi là Việt gian, ác ôn hay phản động như công chức, binh sĩ VNCH, cảnh sát, nhân viên sở Mỹ, các thành phần đảng phái, người công giáo, v.v.1.- Tại Thành Nội (Quận 1) và một phần khu Tả Ngạn (Quận 2).Hoàng Nguyên giao việc thanh lọc và xét xử cho cho hai sinh viên là Nguyễn Đọc và Nguyễn Thị Đoan. Hầu hết những người bị lôi ra tòa chẳng biết lý do tại sao họ bị bắt. Nhưng tất cả đều bị kết án tử hình sau khi bị dọa, quy chụp và kết tội. Một số bị xử tử ngay tức khắc.Phiên tòa tại Thành Nội và khu Tả Ngạn chỉ kéo dài trong 2 ngày là xong, sau đó một chiến dịch khủng bố đã được phát động: Một người mở trộm radio nghe đã bị đưa ra bắn giữa đường phố để làm gương. Một anh sinh viên không tới dự lớp học tập cũng bị đưa ra bắn. Nguyễn Đọc đã bắn nhiều người trong đó có một bạn thân đồng lớp với anh ta, chỉ vì anh này không chịu hợp tác với y.2.- Tại khu Gia Hội: Hoàng Nguyên giao Nguyễn Đắc Xuân và Hoàng Phủ Ngọc Tường phụ trách.Hoàng Phủ Ngọc Tường tốt nghiệp Đại Học Huế, đi dạy học và là một trong các lãnh tụ sinh viên Phật Giáo đấu tranh chống chính quyền VNCH năm 1966, sau đó Tường đi theo MTGPMN.Chùa Theravada ở đường Võ Tánh được dùng làm trụ sở để các công chức và quân nhân VNCH đến trình diện, trường Trung Học Gia Hội của Dòng Mai Khôi (Phú Xuân) được dùng làm nơi giam giữ và xét xử các thành phần bị coi là Việt gian hay phản động. Theo Bác Sĩ Elje Vannema, các phiên tòa ở đây đểu do Hoàng Phủ Ngọc Tường chủ tọa.Người đi bắt và bắn chết các nạn nhân là tên Linh, người Quảng Ngãi, làm nghề thầy bói và khoác cái áo Việt Nam Quốc Dân Đảng.Cuộc tàn sát tại đây được thực hiện rất bừa bải và tàn bạo, chẳng hạn như hai anh Nguyễn Ngọc Lộ và Nguyễn Thiết bị hạ sát chỉ vì làm nghề nghề dạy võ Thất Sơn Thần Quyền, bị cho là một bộ phận của Đại Việt Quốc Dân Đảng. Hai anh đã bị chôn sống ngay trên con đường nhỏ rẽ vào Trường Trung Học Gia Hội sau khi bị đánh bằng cuốc vào đầu. Nghe nói vợ anh Lộ và ba cháu gồm hai gái một trai cũng bị giết tại nhà ở xã Phú Lưu.Trong số những người bị giết tại Gia Hội, người ta thấy có các nhân vật sau đây: Ông Lê Văn Cư, phó giám đốc cảnh sát quốc gia vùng một và ông Phú (em vợ anh Cư), Quận Trưởng Quận 2; ông Từ Tôn Kháng, thiếu tá Tỉnh Đoàn Trưởng Xây Dựng Nông Thôn Thừa Thiên; ông Hồ Đắc Cam và ông Kim Phát, Việt Nam Quốc Dân Đảng; ông Trần Văn Nớp, trưởng Phòng Hành Chánh Ty Cảnh Sát Thừa Thiên. v.v.Nguyễn Đắc Xuân là người tổ chức và lãnh đạo “Đoàn Phật Tử Quyết Tử" tại Huế năm 1966 để chống lại VNCH. Khi bị đánh bại, Xuân đãù trốn theo VC và trở lại cố đô vào Tết Mậu Thân, phụ trách đội "Công tác thanh niên" nhắm mục đích khuyến dụ các quân nhân VNCH và cảnh sát bị kẹt ở Huế ra trình diện.Với quân nhân VNCH, Xuân thành lập “Đoàn Quân Nhân Sư Đoàn 1 ly khai” và bắt Đại Úy Nguyễn Văn Lợi, Tiểu Đoàn Phó Thiểu Đoàn 4, Trung Đoàn 2, mới từ Đồng Hà trở về ăn Tết làm Trưởng Đoàn. Sau đó, Xuân lập “Đoàn Nghĩa Binh Cảnh Sát”, bắt ép Quận Trưởng Hữu Ngạn là Nguyễn Văn Cán ra chỉ huy.Tuy nhiên, chỉ một thời gian ngắn sau, Bộ Tư Lệnh Quân Khu ra lệnh giải tán hai tổ chức này. Đột nhiên, ngày 18.2.1968, toán an ninh ra lệnh cho các công chức và quân nhân phải ra trình diện lần hai tại Trường Gia Hội rồi giữ lại và đem đi thủ tiêu luôn.3.- Tại khu Hữu Ngạn (Quận 3)Toán an ninh ở khu Tả Ngạn không lập tòa án để xét xử các nạn nhân như ở khu Thành Nội và khu Gia Hội. Tại đây, các nạn nhân bị bắt đều bị đưa về giam ở chùa Từ Đàm, bắt làm tờ khai và được thanh lộc rồi đưa đi thủ tiêu. Số nạn nhân ở khu vực này đông nhất vì gồm những người đến ẩn nấp trong khu Dòng Chúa Cứu Thế và nhà thờ chính tòa Phủ Cam.Tại khu Dòng Chúa Cứu Thế: Khu Hữu Ngạn (tức Quận 3) do Nguyễn Mậu Hiên, bí danh Bảy Lanh đánh chiếm. Bảy Lanh là con nuôi của nhà thuốc bắc Thiên Tường tại chợ An Cựu. Hai con trai của nhà thuốc Thiên Tường là cán bộ Việt Cộng nằm vùng ở cơ quan Xây Dựng Nông Thôn, Vì thế, khi Bảy Lanh vừa làm chủ vùng An Cựu, ông Thiên Tướng và hai người con đã đi lùng bắt tất cả những công chức, quân nhân, cảnh sát, thành phần đảng phái... trong khu vực Dòng Chúa Cứu Thế.Tiếp theo, chúng lùa khoảng 150 người đang ẩn trú trong Dòng Chúa Cứu Thế ra sân để thanh lọc. Chúng xét hỏi giấy tờ của từng người. Những ai có căn cước ghi là quân nhân hay công chức đều được đưa ra khỏi hàng ngay, trong đó có Thượng nghị sĩ Trần Điền.Có khoảng 500 người trong khu vực này bị bắt đưa về chùa Từ Đàm. Về sau, cả ba cha con ông Thiên Tướng đều bị bắt.Tại nhà thờ Phủ Cam: Nhà thờ này lúc đó chỉ mới được xây xong phần cung thánh và hai cánh tả hữu, nhưng có tường rất dày và trần được đúc bằng bê-ton cốt sắt, nên có thể che chở phần nào bom đạn. Do đó, có trên 3.000 người đã đến ẩn nấp tại đây. Khoảng 1 giờ đêm 7.2.1968, du kích và các toán an ninh đã vào lục soát nhà thờ, sau đó chúng bắt những người từ 15 đến 50 tuổi đứng lên, không phân biệt thành phần. Có khoảng 500 người thuộc lớp tuổi này. Chúng tuyên bố: “Các anh được đưa đi học tập 3 ngày rồi trở về.” Sau đó chúng dẫn những người này đi về chùa Từ Đàm và bắt làm tờ khai. Thỉnh thoảng chúng đưa một người ra gốc cây bồ đề trước sân chùa và bắn chết rồi chôn ngay trong sân chùa. Về sau, người ta đếm được có 20 xác.Hai hôm sau, vào lúc trời tối, các toán an ninh gọi mọi người ra sân, lấy dây điện thoại trói ké lại, rồi dùng dây kẻm gai xâu 20 người lại một xâu, và dẫn đi về phía Nam Giao.Ở bệnh viện, trò tương tự cũng đã diễn ra. Dân quanh vùng, đặc biệt là vùng quanh căn cứ Mỹ, Cộng quân viện lý do chiến tranh sắp xẩy ra trong vùng nên ra lệnh cho dân chúng tập trung vào bệnh viện. Sau ba ngày, họ bảo đàn bà và trẻ con ngồi xuống, còn đàn ông đứng dậy. Sau đó, chúng đưa hai tên nằm vùng đến nhận diện. Hai tên này vừa mới được xổ tù khi Cộng quân chiếm thành phố. Một số người, trẻ có già có, được cấp thẻ và dẫn về nhà thờ chính tòa Phủ Cam và từ đó họ được đưa lên chùa Từ Đàm.Tất cả những người bị giam ở chùa Từ Đàm đểu được lần lượt dẫn đi về phía Tây Nam và hạ sát tại những nơi khác nhau, kể cả ở Khe Đá Mài, cách Huế khoảng 26 cây số. Theo tạp chí Time ngày 31.10.1969, trong số các nạn nhân bị giết tại đây có 398 người là giáo dân Phủ Cam. Cách giết người của Cộng quân cũng đặc biệt. Cộng quân ra lệnh cho những người bị bắt phải đào hố, nói là để làm hầm trú ẩn tránh bom đạn, hoặc để làm mương dẫn nước cho dân chúng cày cấy. Sau khi đào xong, Cộng quân trói thúc ké tay chân nạn nhân và quăng xuống hố rồi lấp đất lại. Có người cho rằng Cộng quân phải chôn sống như vậy vì sợ bắn sẽ gây tiếng động và để lộ mục tiêu.CON SỐ NẠN NHÂNTrong cuốn “Công và Tội”, ông Nguyễn Trân cho biết: "Về phía dân chúng, có 5.800 người chết, trong đó có 2.800 người bị Việt Cộng giết và chôn tập thể: 790 hội viên các Hội đồng tỉnh, thị xã và xã bị gán tội "cường hào ác bá", 1892 nhân viên hành chánh, 38 cảnh sát, hằng trăm thanh niên tuổi quân dịch, một linh mục Việt (Bửu Đồng), hai linh mục Pháp, một bác sĩ Đức và vợ, và một số người Phi Luật Tân."Trong “Encyclopedia of the Viet Nam War”, David T. Zabecki ghi nhận rằng số thi hài nạn nhân tìm được trong các mồ chôn tập thể ở Huế là 2.810 người và hàng ngàn người bị mất tích. Trong cuốn “The Vietcong Massacre at Hue” (Vintage Press, New York, 1976), Bác Sĩ Elje Vannema, người có mặt tại Huế trong biến cố Tết Mậu Thân, cho biết theo tài liệu kiểm kê được qua 22 mồ tập thể, số nạn nhân bị Cộng quân giết là 2.326 người, chia ra như sau:Trường Gia Hội: 203 người; Chùa Theravada [Gia Hội]: 43; Bãi Dâu [Gia Hội]: 26; Cồn Hến [Gia Hội]: 101; Tiểu Chủng Viện: 6; Quận Tả ngạn: 21; Phía đông Huế: 25; Lăng Tự Đức và Đồng Khánh: 203; Cầu An Ninh: 20; Cửa Đông Ba: 7; Trường An Ninh Hạ: 4; Trường Văn Chí: 8; Chợ Thông: 102; Lăng Gia Long: 200; Chùa Từ Quang: 4; Đồng Di: 110; Vinh Thái: 135; Phù Lương: 22; Phú Xuân: 587; Thượng Hòa: 11; Thủy Thanh - Vinh Hưng: 70; Khe Đá Mài: 428.Trong cuốn “Viet Cong Strategy of Terror” (tr. 23 đến 29) Giáo Sư Douglas Pike cho biết qua vụ Tết Mậu Thân ở Huế, có khoảng 7.600 nạn nhân của Cộng Sản, trong đó 1.946 người bị mất tích.TẠI SAO PHẢI TÀN SÁT?Những sự kiện cụ thể chúng tôi vừa trình bày trên cho thấy:(1) Việc chiếm Huế làm căn cứ địa cho MTGPMN là một quyết định được Hà Nội nghiên cứu kỹ càng và ra lệnh cho Khu Ủy và Bộ Tư Lệnh Quân Khu Trị Thiên Huế thi hành. Cán bộ thi hành cũng đã được huấn luyện trước. Do đó, không thể có chuyện các cấp chỉ huy địa phương quyết định tàn sát mà không có lệnh từ trung ương.(2) Đa số các cuộc thảm sát đã diễn ra trong thời gian từ 2 đến 12.2.1968, tức trong thời gian Cộng quân còn chiếm đóng Huế. Các nạn nhân thường được kiểm tra hay xét xử rồi mới giết. Rất nhiều mộ tập thể đã được tìm thấy ngay trong thành phớ Huế, nhất là tại khu Gia Hội. Điều này cho thấy không phải vì bị vướng chân khi rút quân nên Cộng Sản mới tàn sát tâp thể để có thể rút nhanh như một số người đã biện hộ cho Cộng Sản.(3) Đến tối 24.2.1968 Cộng quân mới ra lệnh rút quân toàn bộ khỏi Huế. Tài liệu của Bộ Tư Lệnh Quân Khu Trị Thiên Huế nói rằng có 23.702 tên quân địch, trong đó có 8.000 Mỹ, đã bị diệt, bắt sống và ra hàng (tr. 153). Như vậy số quân nhân Quân Lực VNCH và Mỹ đã bị tiêu diệt hoặc bắt sống lên đến khoảng 3 sư đoàn, trong khi đó số quân VNCH và Mỹ được dùng để tái chiếm Huế chưa đến 2 sư đoàn! Giả thiết tài liệu của Cộng quân là đúng và số người đã bị họ bắt đi theo đã bị giết tập thể để khỏi bị vướng chân..., vậy những người này đã được chôn ở đâu? Các cuộc tìm kiếm sau Tết Mậu Thân không cho thấy có các quân nhân VNCH và Mỹ được chôn trên đường rút quân của Cộng quân.Chỉ có một trường hợp bị bắn khi Cộng quân rút lui là trường hợp những thanh niên bị bắt gia nhập quân MTGPMN. Những thanh niên không chịu đi theo đều bị bắn tại chỗ. Tại Gia Hội, người ta khám phá ra xác của 18 thanh niên bị bắn chết vì không chịu đi theo. Có khoảng 600 thanh niên vì sợ bị bắn phải đi theo họ.Tóm lại, lập luận cho rằng các nạn nhân đã bị tàn sát vì làm vướng chân Cộng quân khi rút lui là hoàn toàn láo phét. Đảng CSVN đã duy trì kỷ cương rất chặt chẽ trong khi hành quân nên không thể có chuyện các cấp chỉ huy địa phương tự ý ra lệnh tàn sát tập thể như một số người đã biện minh cho Hà Nội. Phải có lệnh của trung ương, các cán bộ cấp dưới mới làm như vậy. Nhưng vấn đề được đặt ra là: Tại sao Đảng CSVN đã đưa ra quyết định tàn sát tâp thể như thế?Có tác giả cho rằng sở dĩ Hà Nội đã đưa ra quyết định tàn sát tập thể vì lý do an ninh. Hà Nội muốn chiếm Huế và giữ Huế lâu dài như là một căn cứ địa của MTGPMN. Do đó, để bảo vệ an ninh trong vùng chiếm đóng, Hà Nội đã ra lệnh thanh toán tất cả những thành phần bị coi là cho thể gây nguy hại cho an ninh như tuyên truyền chống đối, quấy rối, làm nội ứng, hình thành các nhóm võ trang chống lại lực lượng chiếm đóng, v.v.Ngoài những tiêu chuẩn thanh toán mà Hà Nội đã đưa ra, các nhóm Phật Giáo đấu tranh chống VNCH bỏ đi theo MTGPMN từ năm 1966, khi trở lại đã đi tìm và thanh toán những người trước đây không đồng ý hay chống lại chủ trương của họ, đặc biệt là những người Công Giáo.Nhưng Hà Nội đã có nhận định sai lầm về quyết tâm của Quân Lực VNCH và sự hưởng ứng của quần chúng Phật tử ở Huế. Quân Lực VNCH và đồng minh đã xử dụng hỏa lực tối đa, bất chấp những sự hư hại cho cố đô, để đánh bật Cộng quân ra khỏi thành phố, còn quần chúng Phật tử chỉ có một số nhỏ theo họ. Do đó, quyết định chiếm Huế làm căn cứ địa đã thất bại.

No comments:

Post a Comment