Wednesday, July 28, 2010

LÊ XUÂN NHUẬN

http://en.wikipedia.org/wiki/Le_Xuan_Nhuan

Giới-Thiệu Tác-Phẩm

*Tôi là Giám-Đốc Công-An VC Liên-Khu V
*NHA-TRANG, THỦ-PHỦ VÙNG II
*Thiếu-Tướng Phạm Văn Phú
*Lực-Lượng Hòa-Hợp Hòa-Giải Dân-Tộc
*Bác-Sĩ Hà Thúc Nhơn
*Phi-Luật-Tân Mua Lậu Vũ-Khí Từ Việt-Nam

*Thiếu-Tướng Nguyễn Ngọc Loan
*Tỉnh Quảng-Đức
*Một Cuộc Cách-Mạng 1-11-63 Bỏ Túi
*Cuộc Nổi Loạn Của Fulro tại Sarpa

*Tôi Là Trưởng Ty Toàn Quốc

*Tỉnh Darlac và Thị Buôn Ma-Thuột

*Đạo-Đức Của Ngô Tổng-Thống Đã Cứu Mạng Tôi

*Chiến-Thuật dàn quân của "Fulro"
*Buôn Ma-Thuột, Tết Mậu-Thân
*Tỉnh Pleiku

*Tôi Phá Vỡ Một Âm-Mưu Đảo-Chính Thiệu

*Pleiku, Tết Mậu-Thân

*Dự-Án "Edap Enăng"

*Thị-Xã Cam-Ranh

*Một Kế-Hoạch "Tình-Báo Nhân-Dân"

*Một Trưởng-Ty CSQG Lịch-Thiệp

*Tỉnh Ninh-Thuận

*Một Trưởng-Ty CSQG Lễ-Phép

*Một Trưởng-Ty CSQG Quân-Lai

*Tỉnh Bình-Thuận

*Một Viên-Chức CSQG Trẻ-Trung Và Trí-Thức

*Các Tỉnh Tuyên-Đức và Lâm-Đồng

*Tôi Là Người "Phân-Thân"

*Quân-Khu II

*Đại-Hội Bình-Định & Phát-Triển Liên Quân-Khu

*Tỉnh Phú-Yên

*Chuẩn-Tướng Trần Văn Hai

*Một Cuộc Bạo-Động Chống CSQG

*Trung-Tướng Trần Thanh Phong

*Tỉnh Bình-Định

*Sư-Đoàn 101 Không-Kỵ Hoa-Kỳ

*"Liệt-Sĩ" Huỳnh Thị Hiền

*Tỉnh Quảng-Ngãi

*VC Hoạt-Động Kinh-Tài Bằng Đô-La Mỹ

*Tỉnh Quảng-Tín

*Một Vụ Thủ-Tiêu VC Nằm Vùng

*Tỉnh Quảng-Nam

*Hai Nhà-Báo Mỹ Vào Vùng VC

*Một Số Thành-Viên VNQDĐ Thanh-Toán Nhau

*Một Khẩu K-59 Tước Được Của Việt-Cộng

*Đà-Nẵng, Thủ-Phủ Vùng I

*Đại-Tá Hoàng Đắc Mua

*Trung-Tá Hoàng La Hạnh

*Đại-Tá Dương Quang Tiếp

*Tập-Trung "Cải-Tạo"

*Dân-Biểu Phan Xuân Huy

*Hai Cựu Trung-Úy CA VC

*Hai Nhà-Báo Mỹ Phỏng-Vấn Chủ-Tịch Phụ-Nữ VC

*Hai Cựu Thiếu-Tá CA VC

*Bụi Đất Và Hư-Vô

*Kỹ-Sư Nguyễn Văn Bảy & Ký-Giả Nguyễn An Dân

*Phi-Trường Đà-Nẵng Và Sân Bay Gia-Lâm

*Thac-Sĩ Vũ Văn Mẫu

*Hai HSQ Không-Quân Làm Nội-Tuyến Cho VC

*Chuẩn-Tướng Nguyễn Hữu Hạnh

*Sân bay Gia-Lâm

*An-Ninh Cảnh-Lực

*Tôi Đã Đánh Đổ Hệ-Thống XHCN Ba-Lan & Đông-Âu

*Tôi Cài Điệp-Viên vào Ba-Lan & Hung-Gia-Lợi

*Ủy-Hội Quốc-Tế

*Biệt-Đội "Thiên-Nga"

*Đại-Tá Ba-Lan Konelsko

*Đại-Tá Hung-Gia-Lợi Guy Nagy

*Trung-Úy Ba-Lan Teleski

*Đại-Úy Ba-Lan Signalia

*Trung-Úy Hung-Gia-Lợi Benjenc Grosz

*Trung-Úy Hung-Gia-Lợi Benez Kadar

*Trung-Tá CSQG Nguyễn Văn Long

*Lý Tống, Em Tôi
*Kế-Hoạch "Cảnh-Sát-Hóa"

*Kế-Hoạch "Phung-Hoàng"

*John Paul Vann

*Cảnh-Sát (QG) Đã Mất, Nhưng Cảnh-Sát (Quốc-Tế) Vẫn Còn

Một Số Nhân-Vật Có Tên Trong Sách Này

*Ngoại tập:

*Tạ Ðình Ðề

*"Tổng-Thống" Lê Quang Bá

*Thư cuả Lê Xuân Nhuận gửi Giám Đốc CIA

THƯ CUẢ LỀ XUÂN NHUẬN gửi ông GIÁM- ĐỐC CƠ-QUAN CIA

Ngày 3 tháng 11 năm 2004, Lê Xuân Nhuận đã gửi đến ông Giám-Đốc Cơ-Quan CIA (Central Intelligence Agency= Cơ-Quan Tình-Báo Trung-Ương) Hoa-Kỳ, lúc đó là ông Porter J. Goss, một bức thư (bản sao dưới đây), đại-ý xin một văn-kiện chứng-minh cụ-thể, tỷ như một thứ bằng khen, về sự đóng-góp cuả Nhuận vào các nỗ-lực khuynh-đảo cuả CIA trong công-cuộc lật đổ các chế-độ cộng-sản Đông-Âu, từ Ba Lan và Hung Gia Lợi trở đi.

Tác-giả biết rõ rằng đây là một yêu-cầu không thể được thoả-mãn dễ-dàng, vì truyền-thống cuả CIA là giữ kín mọi hồ-sơ vết-tích về hoạt-động bí-mật cuả họ, nhất là sau khi ông Frank Snepp (cựu Trưởng Phòng Phân-Tích Chiến-Lược cuả Chi-Nhánh CIA tại thủ-đô Saigon) đã gặp trở-ngại trong việc xuất-bản cuốn hồi-ký "Decent Interval" (Khoảng Cách Vừa Phải) trong đó ông có tiết-lộ việc làm cuả CIA vào những ngày cuối-cùng cuả Việt-Nam Cộng-Hoà, và bà Yung Krall (người Việt-Nam) cũng đã gặp khó-khăn trong việc xuất-bản cuốn hồi-ký "A Thousand Tears Falling" (Ngàn Giọt Lệ Rơi) kể lại các hoạt-động cuả bà làm điệp-viên cho CIA chống lại CSVN.

Thế nhưng Lê Xuân Nhuận vẫn gửi bức thư này đi, vì nhận thấy Đức Giáo-Hoàng John Paul II đã sắp từ-trần, mà dư-luận chung thì chỉ cho rằng Ngài là người chủ chốt trong việc lật đổ cộng-sản Ba Lan (lan ra Đông Âu), chứ không biết đến vai trò cuả CIA vốn vẫn đứng khuất đằng sau để đạo-diễn các biến-cố lớn-lao, với một kỹ-năng tiến-hành chuyên-nghiệp hơn và ở một vị-thế liên-kết rộng-lớn hơn, trên khắp hoàn-cầu. Mà riêng trong vụ Ba Lan và Hung Gia Lợi thì lại chính Lê Xuân Nhuận đã móc nối tuyển-dụng giùm cho CIA, một cách dễ-dàng và nhanh-chóng, nhiều mật-viên thượng-hạng -- kể cả đại-tá trong quân-đội, tức là đảng-viên cấp cao, nằm ngay Bộ Tư-Lệnh Minh-Ước Vác-Xô-Vi là lực-lượng quân-sự mạnh nhất cuả Khối Xô-Viết đối đầu với Khối Minh-Ước Bắc Đại-Tây-Dương (NATO) của Thế-Giới Tự-Do, mà lại tham-gia Ủy-Hội Quốc-Tế ra hoạt-động chung với các nước địch ở nước ngoài tức cũng đồng-thời là cán-bộ tình-báo ưu-tú -- để dùng họ làm nội-tuyến cho CIA. Khi Đức Giáo-Hoàng John Paul II mất đi, thì cái phần Sự Thật liên-quan này cũng có thể mất theo. Cho nên vấn-đề nói trên nếu được nêu lên khi Ngài còn sống thì có giá-trị cao hơn.

Thư này được gửi vào ngày 3/11/2004 tức là nhiều ngày trước ngày Đức Giáo-Hoàng John Paul II từ-trần (2 tháng 4 năm 2005).

Dù cho Cơ-Quan CIA không chịu cấp phát một chứng-từ nào, nhưng chính bức thư tự nó cũng đã là một bằng-chứng nói lên Sự Thật, vì việc gửi một bức thư như thế không phải là một chuyện đùa, và hẳn là nó đã được xếp vào trong kho hồ-sơ lưu-trữ của Cơ-Quan Tình-Báo Trung-Ương Hoa-Kỳ.

http://lexuannhuan.tripod.com/CanhSat.html
http://lexuannhuan.tripod.com/NgoDinhDiem.html

ÔNG NGÔ ĐÌNH DIỆM CÓ MỘT NỮ TÌNH-NHÂN

I. Trung tướng CIA Edward Geary Lansdale

. Edward Geary Lansdale (1908-1987) đã thực sự trở thành một huyền thoại ngay trong sinh thời của mình.

Sau thời gian phục vụ xuất sắc tại Âu Châu trong Đệ Nhị Thế Chiến, trung tá Lansdale được phái đến Phi Luật Tân, làm Trưởng Khối Tình Báo, với nhiệm vụ chính là tái lập các cơ quan an ninh cho nước này. Năm 1950, Lansdale đã giúp Phi Luật Tân đánh dẹp được phong trào Huk do cộng sản cầm đầu, và tiếp theo là giúp cho ứng cử viên Ramon Magsaysay đắc cử, trở thành vị tổng thống được xem là được dân nhân Phi Luật Tân ngưỡng mộ nhất từ trước đến nay. Năm 1954, đại tá Lansdale được phái qua Việt Nam để giúp Thủ Tướng Ngô Đình Diệm ổn định tình hình và củng cố chính quyền, trong chiều hướng tái diễn chương trình chống cộng sản khuynh đảo, tích cực giúp Thủ Tướng Diệm trong cuộc “trưng cầu dân ý” để trở thành Tổng Thống, rồi phát huy các thành tựu của chính phủ của Tổng Thống Diệm, tương tự như việc làm mà ông đã thành công mỹ mãn ở Phi Luật Tân.

Trong cuốn “Những Biến Cố Lớn trong 30 Năm Chiến Tranh tại Việt Nam 1945-1975” (trang 23), tiến sĩ Nguyễn Đình Tuyến viết:

“Ngày 1 tháng 6 năm 1954 (25 ngày trước ngày ông Ngô Đình Diệm về nước nhậm chức Thủ Tướng), đại tá Lansdale đến Saigon đảm nhận chức vụ quân sự “Phụ Tá Tùy Viên Không Lực của Tòa Đại Sứ Mỹ” nhưng sự thực là Giám Đốc Cơ Quan Tình Báo CIA ở Việt Nam, có nhiệm vụ tổ chức các cơ sở bí mật về chính trị và tâm lý để đánh đổ Cộng Sản.

Sau Hiệp Định Genève, Lansdale là người góp phần chịu trách nhiệm về hiện tình Việt Nam. Từ 1954 đến 1956, Lansdale là cố vấn của Tổng Thống Diệm, giúp ông Diệm củng cố quyền hành.”

Vào những ngày cuối cùng, trung tướng (Major General) Lansdale vẫn chống lại ý đồ lật đổ Tổng Thống Diệm.

Lansdale được tiểu thuyết hóa trong các tác phẩm nổi tiếng quốc tế “The Quiet American (Người Mỹ Thầm Lặng)” của Graham Greene, “The Ugly American (Người Mỹ Xấu Xí)” của William Lederer và Eugene Burdick, và “Le Mal Jaune (Cái Họa Da Vàng) (?)” của Jean Lartéguy.

Thiếu tướng Lansdale về hưu năm 1968, viết xong cuốn sách kể chuyện đời mình vào năm 1971 và giao cho nhà Harper & Row ở San Francisco xuất bản vào năm 1972 tác phẩm duy nhất của ông “In the Midst of Wars (Giữa Lòng các Cuộc Chiến), An American’s Mission to Southeast Asia (Sứ Mạng của một Người Mỹ tại Đông Nam Á)” với lời phi lộ nồng nàn của William E. Colby, Giám Đốc Cục Tình Báo Trung Ương (CIA) Hoa Kỳ, và lời giới thiệu nhiệt tình của Cecil B. Currey, giáo sư sử học tại trường Đại Học South Florida.

Trong bài giới thiệu cuốn “In the Midst of Wars” của Lansdale (các trang xi-xii), giáo sư Cécil B. Currey viết: “CIA phái Lansdale qua Việt Nam vào năm 1954 để thực hiện hai điều: dùng bất cứ phương tiện nào có được để làm suy yếu chính phủ mới thành lập của Hồ Chí Minh ở Miền Bắc, và gia tăng sức mạnh của chính phủ Ngô Đình Diệm ở Miền Nam... Chỉ sau ba tuần tiếp xúc với nhau, Thủ Tướng Diệm đã ngỏ ý mời Lansdale vào ở hẳn trong Dinh Độc Lập với mình (nhưng Lansdale không chịu)... Lansdale nhanh chóng qua Hoa Thịnh Đốn đánh trống thổi kèn xin yểm trợ thêm cho chính phủ còn non trẻ của Diệm... (Tổng Thống Eisenhower đã dành cho Tổng Thống Diệm một cuộc tiếp đón vô cùng long trọng). Lansdale giúp Diệm khai triển một quốc gia gần như thành công trong việc trở thành một xứ sở ổn định...”

Tóm tắt các lời phê bình:

“Tác giả Lansdale đã rất thành thật khi viết cuốn sách này, một tác phẩm cần phải đọc để biết về những gì đã xảy ra tại Việt Nam trong thời gian từ 1954 đền 1960. Trong đó có những điều xác thực và tích cực về Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Cuốn sách này kể lại sự thật về Ngô Đình Diệm, do một người biết rõ ông Diệm nhất, vì Lansdale đã giữ vai trò cố vấn chính trị đồng thời là người bạn thân nhất của ông Diệm. Cuốn sách này là bản báo cáo trực tiếp (một cuốn hồi ký) của một người thật sự có mặt tại chỗ, và chứng kiền mỗi một thử thách đã xảy ra. Đó là một cuốn sách giá trị, vì Lansdale đã viết lại đoạn lịch sử mà chính mình đã kinh qua...”

II

Ông Ngô Đình Diệm có một nữ tình nhân

Ông Võ Văn Sáu, chủ nhiệm kiêm chủ bút tạp chí “Góp Gió” xuất bản tại Kent, Washington, có gửi cho tôi bản chụp sao của:

*trang bìa trước của một cuốn sách nhan đề “Tôi Làm Quân Sư cho Tổng Thống Ngô Đình Diệm”, hồi ký, của Tướng E.G. Lansdale, bản dịch sang Việt ngữ của L.T., với “một tấm hình lịch sử: TT Diệm và Tướng Dương Văn Minh vừa chiến thắng Bình Xuyên trở về (ngày 6-1-1955)”;

*một trang sau trong ruột cuốn sách ấy, ghi “Tác Phẩm Tôi Làm Quân Sư cho T. Thống Ngô Đình Diệm được dịch sang Việt ngữ xong ngày 25-12-1972 tại Saigon Việt Nam”;

*trang 252 (trang chẵn) với header (tên sách ở trên đầu trang) là “E.G.Lansdale” và trang 253 (trang lẻ) với header “Một Phù Thủy...” (tức là cuốn sách ấy, hoặc chương sách ấy, có một tên phụ là “Một Phù Thủy... E.G.Lansdale”);

*ở trang 252 có một đoạn như sau:

“Ngoài Dalat, một nơi nghỉ ngơi khác của ông Diệm là tại nhà ông ở Huế nơi bà cụ thân sinh và người em út đang sống. Nhưng sau những lần ra thăm Huế trở về Saigon ông Diệm cũng mệt mỏi như ở Dalat. Tôi đoán rằng những chuyện gia đình và vấn đề chính trị địa phương đã chiếm hết thì giờ nghỉ ngơi của ông. Một lần, tôi đã xúi ông Tổng Thống độc thân này tìm gặp người yêu ngày xưa của ông lúc đó vẫn chưa lấy chồng, và theo tục địa phương đưa bà ta đi dạo sông Hương rồi đánh đàn cho bà ta nghe – ông Diệm cho biết từ hồi niên thiếu đến nay ông không chơi đàn. Khi ở Huế trở về, vị Tổng Thống hay xấu hổ này đã thú nhận với tôi rằng đến phút chót ông không đủ can đảm làm việc ấy, chắc chắn tại vì ông chỉ là một chàng Lothario hạng xoàng. (Lothario là vai một chàng hay tán gái trong vở kịch The Fair Benitent của Nicholas Rowe năm 1703).”

III

Tôi Đi Tìm Sự Thật

Với sự dè dặt thường lệ, tôi nghĩ biết đâu có kẻ “phịa” ra chuyện này để “bôi bẩn” hình ảnh độc thân (chỉ lo đại sự cho quốc dân, nên không nghĩ đến tình cảm và hạnh phúc riêng tư của bản-thân mình) của cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm, nên tôi đã tìm trong các thư viện và các nhà phát hành sách của Mỹ, nhưng không tìm thấy cuốn nào có tên tương đương với nghĩa tiếng Việt “Tôi Làm Quân Sư cho Tổng Thống Ngô Đình Diệm”, và đã tìm ra được cuốn sách duy nhất của ông Edward Geary Lansdale, như đã nói đến ở Phần I trên kia.

Cuốn sách này được Trường Đại Học Fordham ở New York tái bản vào năm 1991.

Trong ấn bản lần thứ hai này, tôi đọc thấy:

*Ở các trang 361-62, thuộc Chương 19 – “Last Days in Vietnam (Những Ngày Cuối Cùng ở Việt Nam)”:

“Aside from Dalat, his other vacation place was at the family home in Hué, where his mother and youngest brother lived; but he returned to Saigon from visits in Hué in much the same fatigued state as from Dalat. I gathered that family affairs and local politics consumed the moments when he should have been resting. I once urged the bachelor Diem to call upon the still unmarried sweetheart of his youth in Hué and follow the local custom of taking her for a boat ride on the Perfume River while he serenaded her with his mandolin – which he admitted to me that he hadn’t played since boyhood. A blushing Diem confessed to me upon his return from Hué that he had lost his nerve at the last moment, certain that he would have made a poor Lothario.”

Tôi hiểu đại ý: “Ngoài Đà Lạt ra thì có một chốn nghỉ ngơi khác của ông Diệm là nhà của gia đình ông ở Huế, nơi bà cụ thân sinh và người em út của ông đang ở. Nhưng sau những lần ra thăm Huế trở về Sài Gòn, ông Diệm cũng mệt mỏi như khi từ Đà Lạt trở về. Tôi suy ra rằng các chuyện gia đình và các sự tranh chấp quyền lực tại địa phương đã chiếm hết thì giờ đáng lẽ dành để nghỉ ngơi của ông. Có một lần tôi đã thuyết phục ông Tổng Thống độc thân ấy hãy tìm gặp lại người yêu vào thời thanh xuân của ông mà lúc đó vẫn chưa lấy chồng, và theo thói quen địa phương mà đưa bà ta đi dạo thuyền trên sông Hương rồi dùng măng cầm mà dạo dạ khúc để làm vui lòng bà ta − về điểm này ông Diệm thú thật với tôi là từ hồi niên thiếu đến giờ ông không hề chơi đàn. Khi từ Huế trở về, ông Diệm đỏ mặt thú nhận với tôi rằng vào phút chót ông không đủ can đảm (làm theo lời tôi) vì ông chắc là mình sẽ trở thành một gã Lothario tầm thường mà thôi.”

(Theo từ điển bách khoa liên mạng Wikipedia thì Lothario là vai nam trong vở kịch “The Fair Penitent (Người Thật Lòng Hối Lỗi)” của kịch tác gia người Anh Nicholas Rowe diễn năm 1703, trong đó Lothario dụ dỗ rồi phản bội người tình của mình. Từ đó, tiếng lóng Lothario được dùng để chỉ những chàng sở khanh).

IV

Linh mục An Tôn Trần Văn Kiệm:

một nhân chứng nữa của lịch sử

Linh mục An Tôn Trần Văn Kiệm vừa cho phồ biến một bài viết nhan đề “Có Phải Hoa Thịnh Đốn đã đưa ông Diệm về làm Tổng Thống Đệ Nhất Cộng Hòa Việt Nam?” trong đó có các đoạn sau đây:

“tôi từng có dịp sống thân mật bên cạnh Tổng thống Ngô đình Diệm từ năm 1951 (lúc mới đến Mỹ vận động chính trị) cho đến khi ông chết thảm vào năm 1963.”

“mình biết về ông Ngô đình Diệm trải qua 12 năm kể từ năm 1951 cho tới năm 1963.”

“ông bạn vong niên: Tổng thống Ngô đình Diệm.”

“bằng hữu vong niên, khách quan theo rõi các hoạt động của Tổng thống Diệm sau năm 1954.”

“(1945-46) hai ông (Trần Văn) Chương và (Ngô Đình) Nhu thì sống với chúng tôi ở trường Thần học Thượng kiệm. Cho tới nay trí nhớ của tôi còn ghi rõ hình ảnh ông Nhu, ăn vận như tất cả các sinh viên khác trong trường, một mình đứng trầm ngâm dưới bóng một cây nhãn, mắt coi cá bơi lượn dưới mương: cá lặng lẽ, người lặng lẽ…”

“tôi và ông Diệm cùng chung một người bảo trợ là Đức Hồng y (Francis Spellman), cho nên hai chúng tôi sẽ có nhiều cơ hội sống bên nhau.”

“mỗi lần ông (Diệm) tới Manhattan (New York) tiếp chính khách tại khách sạn, thì ông thường cậy tôi đưa đón. Có khi tôi còn tình nguyện bỏ tiền riêng thuê khách sạn, vì biết ông cụ rất thanh bạch. Dần dần không có vườn đào để đọc lời thề kết nghĩa, mà hai “Việt kiều” niên canh cách nhau hai con giáp, đã trở nên bằng hữu vong niên chí thiết.”

“Khi Nguyễn đinh Hoà làm đám cưới, ông Cụ đòi tôi đưa đi mua quà tặng đôi tân hôn.”

“cả những tư tưởng giấu kín trong đầu tôi cũng đem ra ra thảo luận với ông Diệm. Phần ông, ông cũng làm như thế đối với người bạn vong niên là tôi.”

“(Lời Diệm:) Sang Âu châu, gặp nhà vua rồi, nhìn thấy tiền đồ sáng tỏ hơn, tôi sẽ từ bên đó đánh điện tín cho Cha theo rõi, để cha thông báo cho các anh em chị em bên này yên lòng”.

khi vừa nghe tin ông Ngô đình Diệm được hoàng đế Bảo đại mời về chấp chình lần thứ hai vào giữa năm 1954, tôi quyết định bỏ học theo ông cụ trở về Việt Nam.”

“Trước khi ông Diệm đặt chân trở lại Việt Nam, tôi có tiếp được một bức thư ông Nhu gọi tôi về giúp chính phủ.”

“Được tin người bạn vong niên trở về, ông nhờ Bác sĩ Tuyến tới trường chủng viện Phát diệm ở Phú nhuận mời tôi vào dinh độc lập. Bác sĩ nói: “Cha sẽ vào lối cửa tiền”. Tôi hỏi “Sao phải vào lối cửa tiền?” Bác sĩ đáp: “Vì ý tổng thống muốn như vậy.”...”

“cửa mở cả hai cánh, một số người mặc đồng phục Việt Nam (không phải quân nhân) xếp hàng đứng chào, rồi họ dẫn tôi lên lầu tới một phòng ở đầu cánh trái dinh Độc lập, có Tổng thống Ngô đình Diệm trong bộ quốc phục ngồi đợi... Hai người uống trà do đám gia thuộc cũng vận khăn áo Việt nam phục thị.”

Thế mà...

Ở đoạn dưới, linh mục Trần Văn Kiệm viết như sau:

“Tôi tự hỏi: tại sao có lễ nghi rườm rà tiếp đón tôi vào dinh độc lập như kể trên? Tôi tin rằng đó là sáng kiền riêng của Tổng thống Ngô đình Diệm, và hình như không được ông Nhu tán thành cho lắm, khiến cho từ đó về sau trong nhiều dịp gặp gỡ, ông Nhu nếu không nguội lạnh, thì cũng không bao giờ tỏ ý thịnh tình với tôi. Hồi ông Diệm còn ở Nữu ước, một hôm chúng tôi tản bộ ở gần nhà anh Chị Bùi công Văn – thì anh Bùi công Văn xin chụp hình ông Cụ và tôi, vai sánh vai chung trong một tấm hình. Ông Ngô đình Diệm cho phép ngay, và cách đây chừng 20 năm, tìm đến Virginia thăm ông bà họ Bùi lần sau cùng, tôi còn thấy Album gia đình vẫn giữ tấm hình này, nhưng tấm thứ hai tôi đưa về Sài gòn đầu năm 1955 đã bị ông Nhu sai người tới tận nhà thu hồi để huỷ đi (vì sợ tôi không xứng đáng đứng sánh vai với Tổng thống?). Sự cố xảy ra vào quãng năm 1961.”

V

Vô Đề

Linh mục Trần Văn Kiệm là một vị lãnh đạo tinh thần của Ky Tô Giáo là tôn giáo của chính hai ông Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu, là một nhà trí thức, là một người bạn thân của Tổng Thống Diệm, lại là người không xa lạ gì với Cố Vấn Nhu, thế mà vì sợ linh mục Kiệm “không xứng đáng đứng sánh vai với Tổng Thống Diệm” (dù chỉ trong một tấm hình lưu giữ trong vài gia-đình) mà Cố Vấn Nhu đã cho thu hủy tấm hình ấy đi.

Một người đàn-bà con-gái nào đó, tự xưng hoặc được biết đến như là người yêu, người tình của Tổng-Thống Ngô Đình Diệm, trong lúc Tổng-Thống Diệm cần được tôn-sùng như là người chỉ “vì sông núi quên thân mình”, chẳng hề nghĩ đến tình-cảm nam nữ của bản-thân mình, thì người phụ-nữ kia hẳn là lại càng “không xứng đáng” bội phần khi nàng là mối đe-dọa thường-trực sẽ “đứng sánh vai với Tổng Thống Diệm”, dù chỉ là trên cửa miệng, nhưng là cửa miệng của cả toàn-dân.

LÊ XUÂN NHUẬN

ÔNG NGÔ ĐÌNH DIỆM CÓ MỘT ĐỨA CON TRAI

Câu chuyện được đăng trên báo

Phản-ứng của ông Tú Gàn

Phản-ứng của ông Nguyễn Vi Khanh

"Trích từ Tạp chí 'Ánh Sáng Dân Tộc' số 1 tháng 5 năm 1989, xuất bản tại Fresno, CA, USA.

L.T.S. Đoạn văn dưới đây rút ra từ cuốn hồi ký 'Việt Nam Nhân Chứng' (của cựu tướng Trần Văn Đôn).

Dư luận đồn đãi cuốn Việt Nam Nhân Chứng cũng sẽ là một quả bom nguyên tử làm nổ tung nhiều bí ẩn lịch sử động trời, nhất là những bí ẩn nói về gia đình họ Ngô, và vụ nhà Ngô âm mưu bắt tay với cộng sản Hà Nội....

Sáng ngày 3-11-1963, tôi sai ông Lê Soạn cho lính vào dọn dẹp và góp nhặt tất cả giấy tờ, tài liệu trong dinh Gia Long vì ông Võ văn Hải, Chánh văn phòng đặc biệt của ông Diệm cho biết trong dinh Gia Long có nhiều tài liệu mật, đại sự không nên để lọt vào tay ai . Dương Văn Minh ký giấy ra lịnh cho Đại úy Đặng văn Hoa đến dinh Gia Long gặp ông Võ văn Hải và ông Quách Tòng Đức, cựu Đổng lý văn phòng ông Diệm để nhận hồ sơ và tài liệu .

Chính trong số tài liệu này mà tôi được biết ông Ngô Đình Diệm có một đứa con trai .

Hầu hết mọi người đều nghĩ rằng Ngô Đình Diệm không biết đến đàn bà, nhưng đâu mấy ai biết được Ngô Đình Diệm có đứa con trai . Sau đảo chánh 1 tháng 11 nắm 1963, Võ văn Hải, Chánh Văn phòng Đặc Biệt điện thoại cho tôi ngỏ ý muốn giao cho tôi một số hồ sơ mật về đại sự quốc gia . Võ Văn Hải nói:

– Tôi muốn giao cho Trung tướng để Trung tướng giữ cho kỹ!

Tôi cho đem về để trong văn phòng tôi ở bộ Tổng tham mưu. Hằng ngày, sĩ quan văn phòng tôi trình tôi một số hồ sơ chọn lọc. Một hôm tôi được xấp hồ sơ, trong đó có một lá thư và một tấm hình chụp một người đàn bà đứng bên một đứa con trai khoảng 13, 14 tuổi . Trong lá thư vắn tắt cho biết đứa con trai trong hình là con trai của Ngô Đình Diệm. Nếu không phải là con của Ngô Đình Diệm thì không một người đàn bà nào có gan vu khống như vậy được. Và nếu không phải là con thì Ngô Đình Diệm đâu cất giữ thư từ hình ảnh trong tủ tài liệu quan trọng?

Năm năm sau, tôi được cô T.N. cho tôi biết Ngô Đình Diệm có một đứa con trai, làm tôi sực nhớ đến lá thư và tấm hình. Hỏi ra thì mới biết là thư và tấm hình kia là thân nhân của cô T.N., đem chuyển vào tận tay cho Ngô Đình Diệm năm 1958. Chồng dì thứ bảy của cô T.N. là bạn học của Ngô Đình Diệm, vì vậy khi Ngô Đình Diệm bổ vào làm Tuần Vũ ở Phan Thiết, giao du rất thân thiện với gia đình này . Người bạn học của Ngô Đình Diệm là Hoàng Tỷ làm Giám đốc trường Trung học ở Sài Gòn. Giám học của trường này là Antoine Lê Cang Đảm. Thỉnh thoảng Hoàng Tỷ lái xe về quê chơi và ưa chở Ngô Đình Diệm về nhà mình ở Sài Gòn. Hai người rất thân nhau, có lần Hoàng Tỷ lục bóp thấy Ngô Đình Diệm ít tiền nên biểu vợ lén bỏ tiền vào bóp cho Ngô Đình Diệm tiêu . Ngô Đình Diệm biết cho nên khi lên Tổng Thống, lần nào ra kinh lý Phan Thiết, Ngô Đình Diệm đều đến mộ Hoàng Tỷ cúi đầu tưởng niệm, và năm nào đến 28, 29 Tết cũng điện ra cho Trung tá Tỉnh Trưởng Bình Thuận, lúc ấy là Nguyễn Quốc Hoàng, cho người mang tiền đến để bà Hoàng Tỷ cúng chồng.

Năm 1958, cô T.N. có tiếp một người đàn ông quen biết với các anh chị cô, cho cô biết Ngô Đình Diệm có đứa con trai 14 tuổi . T.N. hỏi:

– Đứa nhỏ đang ở đâu ?

– Má nó đã dắt nó ra đây rồi và chúng tôi định nhờ dì cô là bà Đốc Tỷ chuyển tin này vào cho Tổng thống biết rằng ông đang có đứa con trai.

– Lấy nhau từ lúc nào ? Tại sao ông Diệm lại không biết mình có một đứa con?

– Họ lén lút lấy nhau trong lúc ông Diệm bôn đào trốn Pháp. Rồi ông Diệm trốn ra Huế trong khi đất nước loạn ly nào giặc Nhật, chiến tranh Pháp-Việt, ông Diệm đi luôn ra ngoại quốc...

– Bà ấy quê ở đâu ?

– Hậu giang, con gái của một gia đình trí thức.

– Ông Diệm đi đâu xuống đó?

– Cô không biết Giám mục Ngô Đình Thục ở Vĩnh Long à?

– A! Nhưng tại sao để đến bây giờ mới cho biết?

– Lúc đầu để ông Diệm ổn định tình thế, khi ông Diệm lấy tron được quyền hành thì cố vấn Ngô Đình Nhu và Ngô Đình Cẩn có quyền hành nhiều quá, nếu gởi thơ thẳng cho ông Diệm chưa tới tay ông mà có thể đứa nhỏ bị các anh em ông Diệm thủ tiêu để giữ tròn danh tiếng cho Tổng thống. Vì vậy mà bà ấy không dám tiết lộ với ai . Biết dì của cô là chỗ thân tình với Tổng thống nên tôi đưa mẹ con bà ấy ra đây để nhờ bà Đốc mang giùm thư và hình vào dinh trao tận tay cho Tổng thống.

Nhưng bà Hoàng Tỷ không muốn đi . Em gái của bà Hoàng Tỷ đem thư và hình vô đưa cho con trai của bà Antoine Lê Cang Đảm là Francois Lê Cang Đảm. Ông Diệm lặng lẽ xuất dinh lên xe cua Francois Lê Cang Đảm chở ra nhìn mặt thật sự của Sài gon-Chợ Lớn về đêm.

Trước khi đem thơ và hình đứa con trai vào cho Ngô Đình Diệm, em bà Hoàng Tỷ có nói cho Tỉnh trưởng Bình Thuận lúc đó là Lưu Bá Châm, và ông Trưởng ty Cảnh sát chuyện đứa con trai Ngô Đình Diệm. Nhưng ai ai cũng không dám can dự vào vì sợ chết lây .

Lá thư đó đến tay Ngô Đình Diệm gần một tuần lễ rồi mà không thấy tin gì. Nên bà mẹ đành dắt đứa con trai về Hậu giang sống âm thầm với kỷ niệm đau thương. Bà nhớ lại lúc mình đã có thai thì tin tức Ngô Đình Diệm vắng bặt, gia đình bà cảm thấy nhục nhã vì đứa con gái chửa hoang nên đuổi ra khỏi nhà. Bà sống cơ cực, thiếu thốn mọi thứ. Bây giờ cha của đứa con bà đang làm Tổng thống, nhưng vì danh dự mà bỏ rơi hẳn giọt máu duy nhất của mình. Năm 1965, T.N. gặp lại người đàn ông, hỏi thăm tin tức cậu con trai của Ngô Đình Diệm thì được biết cậu ta đã trở thành một chiến sĩ tầm thường trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa .”

*

* *

Trên đây là bài trích từ bộ sách “Tài Liệu Soi Sáng Sự Thật – ấn-bản Ất Dậu 2005” của ông Lê Hữu Dản ở Fremont, Bang California, USA (trang 291-92).

*

* *

Cũng trích từ tạp-chí "Ánh Sáng Dân Tộc", báo "Góp Gió" của ông Võ Văn Sáu ở Bang Washington, USA, số 149 ra ngày January 03-2006 (trang 20-21), đã đăng lại tòan đoạn "Lời Tòa Soạn" của tạp-chí "Ánh Sáng Dân Tộc" như sau:

"ÔNG NGÔ ĐÌNH DIỆM CÓ MỘT ĐỨA CON TRAI.

Trích từ : Tạp chí Ánh Sáng Dân Tộc số 1 tháng 5-1989, Fresno.

LTS : Đoạn văn dưới đây rút từ cuốn hồi ký 'Việt Nam Nhân Chứng' của cựu Tướng Trần Văn Đôn. Tờ Ngày Nay ở Texas, tờ Thằng Mõ ở San Josemột số báo chí khác ở Nam Cali đã đăng tải. Có báo không đăng hoặc đã đăng đoạn nói về cuộc đảo chánh 1-11-1963 mà thôi như tờ Hồn Việt chẳng hạn.

Dư luận đồn đãi cuốn Việt Nam Nhân Chứng cũng sẽ là một quả bom nguyên tử làm nổ tung nhiều bí ẩn lịch sử động trời nhất là những bí ẩn nói về gia đình họ Ngô, và vụ nhà Ngô âm mưu bắt tay với Cộng Sản Hà Nội. Điều lạ lùng là khi gặp gỡ báo chí tại Santa Ana, Tướng Đôn tuyên bố sách của ông sẽ ra mắt độc giả vào tháng 11 năm 1988, nhưng mãi đến nay (tháng 5-1989) vẫn chưa thấy sách xuất hiện. trong lúc đó có tin một nhóm người có giây mơ rễ má với nhóm Cần Lao thời Diệm vận động với Tướng Đôn đục bỏ đoạn nói về việc ông Diệm có một đứa con trai. Đồng thời báo chí thuộc phe ông Diệm mở chiến dịch bôi nhọ và hăm doạ Tướng Đôn và một số cựu Tướng lãnh khác. Họ dùng chiến thuật “tiên hạ thủ vi cường”, đánh phủ đầu để làm nhụt khuệ khí tác giả cuốn “Việt Nam Nhân Chứng”. Truớc cuộc tấn công hung hãn đó có người đoán rằng có thể Tướng Đôn sẽ đình chỉ vĩnh viễn việc cho phát hành cuốn hồi ký, có thể giảm thiểu sự thật khủng khiếp của nhiều biến cố, nhiều sự kiện, nhiều bí ẩn dưới triều Ngô Đình Diệm sẽ làm choáng váng và nhức nhối cho một số người nào đó.

Chúng ta hãy chờ xem !

Ánh Sáng Dân Tộc"

(nội dung bài chính, giống nhau)

Báo "Góp Gió" chú thêm:

"Góp Gió cho đăng 2 bài trên đây nhằm mục đích TRẢ LẠI SỰ THẬT CHO LỊCH SỬ. Cũng không quên nhấn mạnh, người TÌNH NHÂN của Tổng thống Diệm được Tướng Lansdale nhắc đến trong hồi ký của ông là một phụ nữ ở Huế, với bà mẹ có đứa con trai trên đây ở Hậu Giang, là 2 người hoàn toàn khác nhau.

THIẾU-TƯỚNG NGUYỄN KHẮC BÌNH

Một ngày vào dịp Quốc-Khánh 1-11-1974, tôi lại nhận được lệnh khẩn vào gặp chuẩn-tướng Huỳnh Thới Tây, Tư-Lệnh Đặc-Cảnh Trung-Ương, mà không được biết lý-do hay mục-đích gì, y như lần vào trình-diện vào cuối tháng 9 năm 1973 - để đưa tôi ra Miền Trung.

Tôi vừa bước vào văn-phòng là chuẩn-tướng Tây dẫn tôi đi ngay với ông, lên xe, qua bên tòa lầu của thiếu-tướng Nguyễn Khắc Bình, Tư-Lệnh Cảnh-Lực Quốc-Gia. Lên tầng trên rồi, ông mới nói nhỏ với tôi:

- Thiếu-tướng Tư-Lệnh muốn gặp riêng anh.

Tướng Tây đưa tôi vào gặp tướng Bình. Trong cuộc gặp này, tướng Tây chỉ đóng vai trò dự-thính và quan-sát-viên, từ đầu đến cuối không hề nói một tiếng nào.

Sau khi bắt tay, mời ngồi, hỏi qua về sức khỏe và gia-đình, thiếu-tướng Bình nói chuyện với tôi:

- Tôi định đưa anh ra làm Chỉ-Huy-Trưởng Cảnh-Lực Tỉnh Thừa-Thiên & Thị-Xã Huế, anh nghĩ sao?

Tôi không nghĩ sao hết. Trong một thời-buổi mà giấc mơ của không biết bao nhiêu sĩ-quan cấp tá, dù là đã được biệt-phái từ Quân-Lực qua Cảnh-Lực rồi, hay là vẫn còn ở bên quân-ngũ, là được cử làm Chỉ-Huy-Trưởng Cảnh-Lực một Tỉnh, một Thị-Xã, hoặc một Quận ở Thủ-Đô Sài-Gòn, thì tôi đã thấy chán ngấy từ lâu cái chức-vụ mà giá-trị công-chính của nó đã bị nhiều người dẹp bỏ, để chỉ mong đợi cái hệ-quả tư-tà của nó mà thôi. Có thể nói đó là một cương-vị để làm tiền; trừ một số ít chỉ tự bằng lòng với những lợi-lộc vừa-phải tự-nhiên-mà-có, còn thì đua nhau đổi trắng thay đen vơ-vét cho đầy túi tham, mà điều tệ-hại hơn hết là do đó mà dung-dưỡng tệ-nạn xã-hội, làm suy-yếu đội-ngũ Quốc-Gia, tạo kẽ hở cho đối-phương xông lên. Tôi nghĩ đến bản-thân tôi, mà gia-đình còn ở Nha-Trang: nếu làm việc ở Đà-Nẵng như hiện nay thì tôi còn có thể ít nhất mỗi tháng một lần về Trung-Ương và nhân đó ghé thăm gia-đình, chứ đi làm việc ở các Tỉnh khác thì khó mà về Nha-Trang vì trái ngả đường; còn nếu đưa vợ+con theo thì cứ mỗi lần dời-đổi chỗ ở là một lần hao-tốn, mà đã chắc gì ở được tại một Tỉnh nào lâu đâu. Riêng đối với Huế, sau mười lăm năm dâu-bể - kể từ ngày tôi bị đày đi khỏi nó vào năm 1960 - bộ mặt đã khác hẳn rồi, tấm lòng cũng chẳng còn nguyên; bây giờ nếu tôi vẫn ở xa Huế mà giúp-đỡ Huế thì dễ, chứ ở ngay Huế thì e tôi sẽ khó lòng mà tự giúp-đỡ được ngay chính mình.

Tôi thấy rõ là các cấp chỉ-huy của tôi hiện nay, thiếu-tướng Bình và chuẩn-tướng Tây, đã dành cho tôi một lòng ưu-ái đặc-biệt, cả một đặc-ân lớn-lao. Đáng lẽ tôi nên nói một câu gì khéo-léo, để vừa chối-từ vừa tỏ lòng cám ơn. Biết bao nhiêu lần tôi đã nghe rõ các người xung quanh, dù là ở cấp Xã Ấp, ở cấp Toán Tổ, nói đến “cất-nhắc”, nói đến “chức-phận”, nào là “tri-ân”, nào là “trung-thành”. Nhưng tôi không thể sử-dụng miệng lưỡi mình trong trường-hợp này, mặc dù biết rằng một lời nói ngọt sẽ gây được nhiều thiện-cảm nơi người nghe hơn. Tôi đáp:

- Xin thiếu-tướng cho tôi ở lại Đà-Nẵng.

Cả tướng Bình lẫn tướng Tây đều giữ vẻ mặt điềm-nhiên, nhưng tôi nghĩ là họ hẳn không khỏi ngạc-nhiên. Tướng Bình hỏi tôi:

- Tại sao anh không thích ra Huế?

- Vì tôi bị đổi đi xa, nay được trở về; gặp lại những kẻ đáng bị trừng-trị mà dung-tha họ thì không được rồi, nhưng nếu ra tay thì sẽ bị họ xem là trả thù hay trở mặt, e không trọn tiếng với đời.

Tướng Bình hỏi tiếp:

- Anh thấy nếu ở nơi khác thì dễ làm việc hơn ở Huế sao?

Tôi sợ là ông hiểu lầm rằng tôi tránh né những nơi khó-khăn. Tôi không tránh né khó-khăn mà tôi chỉ muốn tránh né những nơi mà mình có thể bị dùng làm vật hy-sinh. Tự-nhiên tôi thấy muốn nói, công-khai và trực-diện, vì đây quả là cơ-hội hiếm có, rằng: “Các ông đừng đánh giá tôi ngang hàng với đa-số cùng mang cấp-bậc và cùng giữ chức-vụ như tôi!” - ý tôi định nói là vì tôi không gặp thời, chứ thực ra thì... Tôi bỗng kịp tự kiềm-chế, và chỉ trình-bày một cách mà tôi cho là khiêm-tốn:

- Tôi có khả-năng làm Chỉ-Huy-Trưởng Cảnh-Lực tại bất-cứ một Tỉnh nào trên toàn-quốc, mà không thua kém bất-cứ một người nào...

Tướng Bình gật đầu. Hẳn ông hiểu rõ là tôi nói thật. Nhưng có lẽ ông tưởng tôi muốn xin đi làm Chỉ-Huy-Trưởng Cảnh-Lực tại một Tỉnh nào không có người cũ quen tôi, để dễ trừng-trị những kẻ phạm-pháp hơn chăng, nên ông hỏi tôi:

- Anh nghĩ thế nào về Tỉnh Quảng-Nam?

Thừa-Thiên là quê mẹ tôi; tôi đã lớn lên ở đó, tôi có ở đó rất nhiều kỷ-niệm trọn đời không quên, thế mà tôi đã chối-từ, huống gì Quảng-Nam. Tôi thấy thật khó nói lên ý-kiến của mình. Tuy thế, nhìn thấy nét mặt của tôi là ông biết ngay tôi không nhận lời. Ông liền nói tiếp:

- Tôi cho anh chọn Tỉnh nào anh thích.

Đến tận nước này thì thật quá lắm. Một vị Tư-Lệnh Lực-Lượng Cảnh-Sát Toàn-Việt, đồng-thời cũng là Trưởng Phủ Đặc-Ủy Tình-Báo Trung-Ương, thứ-bậc gấp đôi Bộ-Trưởng, hiện có đầy-đủ quyền-hành cũng như dư-thừa thuộc-viên thân-tín để chọn bổ-nhiệm vào các chức-vụ chỉ-huy, từ ở Trung-Ương xuống đến Xã Phường, mà lại chấp-nhận cho tôi tự chọn địa-phương công-tác theo ý muốn riêng của mình! Tôi thật xúc-động trước thái-độ đó, cùng lúc cảm thấy thỏa-mãn, vì tự-ái được vuốt-ve.

Phải chăng Cấp Trên cần tôi tập-trung nỗ-lực đảm-trách an-ninh trật-tự riêng cho một Tỉnh quan-trọng, như Tỉnh Thừa-Thiên, mà tỉnh-lỵ là Thị-Xã Huế, nơi xuất-phát liên-tục của những phong-trào chống-đối Chính-Quyền Trung-Ương, và hiện nay vẫn là nơi sôi-sục chính-tình, nên cần có tôi có mặt thường-trực tại chỗ để chuyên-chú lo ổn-định nội-an; hoặc Tỉnh Quảng-Nam, là nơi bám trụ của các cơ-quan đầu-não của cả Đảng-Ủy Liên-Khu V lẫn Bộ Tư-Lệnh Quân-Khu V của đối-phương, cũng là hậu-cứ tiếp-nhận lực-lượng cộng-sản từ Bắc-Việt xâm-nhập vào, bàn-đạp để chúng vừa cầm chân Quân-Đoàn I của ta, vừa tiến sâu hơn vào các tỉnh ở phía Nam, kể từ vùng đất địa-đầu chiến-lược này bên trong phòng-tuyến A-Sau và Đèo Hải-Vân, nên cần có tôi chú-tâm bảo-vệ số đông đồng-bào bị kẹt tại các Xã Ấp thuộc vùng tranh-chấp ở giữa hai bên? Nếu thế thì tại sao ông lại bảo tôi chọn Tỉnh nào khác hơn? Hay là ông định đưa người nào khác đến thay-thế tôi ở chức-vụ và hoạt-hạt hiện-thời? Trong trường-hợp đó, tôi nên chọn một Tỉnh nào tiện đường cho tôi để dễ đi+về chăm-sóc gia-đình hiện ở Nha-Trang. Tôi bèn hỏi lại:

- Thưa thiếu-tướng, bất-cứ ở Vùng nào?

Tướng Bình mỉm cười, nhận thấy tôi đã lợi-dụng câu nói của ông, trả lời:

- Cứ tạm chọn ở Vùng I trước đã!

Quảng-Trị, Quảng-Tín, Quảng-Ngãi, đều càng bất-tiện hơn Thừa-Thiên và Quảng-Nam. Tôi suy-nghĩ nhanh trong đầu: nếu lại từ-chối thì có thể làm cấp trên bực mình, nên tôi dựa theo câu nói của ông mà trả lời ông, vì tôi biết chắc là sẽ bị từ-chối ngay:

- Nếu thiếu-tướng cho tôi đảm-trách Thị-Xã Đà-Nẵng...

Và, để mở một lối thoát cho cả ông lẫn tôi, hầu chấm dứt vụ cử-nhiệm này, tôi nói thêm:

- Tôi có thể kiêm-nhiệm cả Đặc-Cảnh Vùng I lẫn Cảnh-Lực Thị-Xã Đà-Nẵng, để nâng phía Sắc-Phục ở đó lên...

*

Thiếu-tướng Bình im-lặng một lát rồi chuyển câu chuyện qua đề-tài khác. Ông hỏi tôi:

- Anh có tham-gia đảng-phái nào không?

Tôi đáp:

- Tôi là người không đảng-phái.

Có lẽ ông muốn hỏi xem, ngoài các đảng-phái chính-trị ra, còn có hội-đoàn, phe-nhóm hoặc nhân-vật hữu-danh hữu-quyền nào khác đỡ đầu cho tôi hay không, nên ông khéo-léo:

- Hồi đó, ai giới-thiệu anh qua Phủ Đặc-Ủy?

Sự-việc thật là đơn-giản, nhưng ông không nghĩ đơn-giản, và tôi cũng khó trình-bày đơn-giản. Cả một quá-trình chuyển-biến của Ngành Cảnh-Sát Công-An Quốc-Gia qua suốt gần ba thập-niên hiện lên trong đầu-óc tôi; nhưng các viên-chức dù cao-cấp nhất, dù lớn chức nhất, và già nghề nhất, cũng có mấy ai nắm vững vấn-đề? Tôi đành trả lời ngắn gọn:

- Tôi được chỉ-định dự thi khả-năng chuyên-môn, trắc-nghiệm bằng máy dò-sự-nói-dối, học Khóa đầu tiên Tình-Báo Đặc-Biệt Cao-Cấp của Mỹ, rồi được biệt-phái qua Phủ Đặc-Ủy..., chứ không do sự giới-thiệu của một nhân-vật hay đoàn-thể nào.

Tướng Bình lại đổi đề-tài. Ông hỏi tôi:

- Anh với Lê Văn Hảo liên-hệ thế nào?

À, thì ra họ vẫn chưa biết rõ sự liên-hệ ấy. Tôi đáp:

- Lê Văn Hảo là em khác mẹ của vợ tôi.

Ông hỏi thêm:

- Sau vụ cộng-sản tổng-tấn-công Tết Mậu-Thân 1968 thì sao?

Tôi trình-bày:

- Hảo theo Việt-Cộng; tôi có báo-cáo lên đại-tá Nguyễn Mâu, hồi đó là Tư-Lệnh Đặc-Cảnh Trung-Ương; đại-tá Mâu nói rằng: “Trong một gia-đình, có thể có người này bên này, kẻ kia bên kia; nếu anh không dính-dáng gì với y thì thôi!” Thực-tế, tôi, và vợ tôi, không hề liên-lạc với anh-ta.

Tôi rất ngạc-nhiên tại sao mãi đến giờ này thiếu-tướng Tư-Lệnh Cảnh-Lực mới nêu vấn-đề đó ra với tôi. Phải chăng Trung-Ương không biết chuyện đó trước khi cử tôi ra Miền Trung? Còn nếu có biết và có nghi tôi thì đâu có bổ-nhiệm tôi? Ngược lại, tuy biết mà vẫn tin tôi thì còn nhắc lại làm gì? Hay là mãi đến gần đây mới biết?

Tôi nhớ, trước đó không lâu, trong một buổi họp tại phòng-giấy của thiếu-tướng Hoàng Lạc, Phó Tư-Lệnh Quân-Khu I, nhân khi đại-tá Lê Quang Nhơn, Chánh-Sở I Quân-An, thuyết-trình về công-tác theo-dõi các quân-nhân có liên-hệ gia-đình với Việt-Cộng – các quân-nhân này có tên trong một loại hồ-sơ đặc-biệt gọi là “Hồ-Sơ Z”; cách phân-loại này về sau cũng được áp-dụng đối với cảnh-nhân - đại-tá Nhơn đã nói: “Ngay trong năm anh+em chúng tôi ngồi họp ở đây, cũng có người có hồ-sơ Z”. Năm người hiện-diện là Nguyễn Xuân Lộc, Tư-Lệnh Cảnh-Lực Vùng I; Phạm Văn Phô, Trưởng Phòng 2 Quân-Đoàn và Quân-Khu I; Phạm Xuân Bách, Phụ-Tá Trung-Tâm-Trưởng Phụng-Hoàng Vùng I; đại-tá Nhơn, và tôi. Họ có ám-chỉ gì tôi hay không?

Hay là Trung-Ương mới biết, nhưng vì kết-quả điều-tra của phía Việt-Nam, chắc cũng giống như kết-quả đoán mò của các thuộc-viên của tôi, khác với kết-quả của phía Hoa-Kỳ, mà chính tôi đã đính-chính, nên tướng Bình mới đích-thân hỏi tôi để ông trực-tiếp quan-sát phản-ứng của tôi ra sao?

Bỗng tôi giật mình. Phải chăng Cấp Trên không chỉ nghi tôi vì tôi có thân-nhân là Việt-Cộng, mà lại nghi tôi vì tôi “lý-tưởng” quá chừng: không cần phe-phái, không màng cấp-chức, không thèm lợi-lộc, mà vẫn phục-vụ tận-tụy và hữu-hiệu hơn người? Tôi đã có nghe trung-tá Nguyễn Hữu Hải, Giám-Đốc Ngành Đặc-Cảnh Vùng II, kể lại, rằng chuẩn-tướng Tây đã từng khen-ngợi tôi không tiếc lời, đồng-thời lại đặt câu hỏi: “Quái! Sao thằng Nhuận nó tài thế này!”

*

Ngưng một lát, thiếu-tướng Bình chuyển sang vấn-đề khác:

- Anh nói tóm-tắt tình-hình ở Huế hiện nay ra sao?

Tình-hình ở Huế nói riêng, và những nơi khác liên-quan đến Huế nói chung, thì tôi đã có báo-cáo lên đầy-đủ rồi. Tôi chỉ nhấn mạnh vài điểm nổi bật mà thôi:

- Về phần cộng-sản thì quả trước đây chúng đã nắm được đa-số các tay “lãnh-tụ” tập-thể sinh-viên, nhất là qua vụ vu-khống “chính-quyền bắt cóc sinh-viên” vừa rồi, chúng đã tạo được ảnh-hưởng trong giới phụ-huynh sinh-viên & học-sinh, giáo-chức, và cả quần-chúng nói chung. Nhưng tôi đã lập kế-hoạch, đích-thân chỉ-đạo và yểm-trợ cho Sở Đặc-Cảnh Tỉnh Thừa-Thiên sử-dụng một số biện-pháp tình-báo chuyên-môn để lật ngược lại thế cờ, làm chủ tình-hình. Hiện nay, chúng ta đã chiếm được thế thượng-phong đối với cộng-sản nội-thành rồi.

- Về phần nội-chính?

- Tuy không có những tổ-chức nhỏ và nhiều như từ Đà-Nẵng trở vào, nhưng hai tổ-chức lớn thì rất đáng được Chính-Quyền quan-tâm: đó là “Lực-Lượng Hòa-Hợp Hòa-Giải Dân-Tộc” và “Phong-Trào Chống Tham-Nhũng và Kiến-Tạo Hòa-Bình”, mà cấp-thiết nhất là “Phong-Trào” này.

- Anh nói về Lực-Lượng Hòa-Hợp Hòa-Giải Dân-Tộc trước.

- “Lực-Lượng” ấy quy-tụ được hầu hết Phật-Tử là thành-phần đại-đa-số trong dân-chúng, kể cả công-chức và quân-nhân. Ngoài Khối Ấn-Quang xuất-phát từ Miền Trung và kiểm-soát hầu hết Phật-Giáo-Đồ khắp nơi, đại-tướng Dương Văn Minh đã thu-phục được hầu hết giới tín-đồ Phật-Giáo gốc Miền Nam, và thạc-sĩ Vũ Văn Mẫu đã lôi-cuốn được hầu hết khối tín-đồ Phật-Giáo gốc Miền Bắc di-cư. Đối với quốc-tế thì đó là thành-phần thứ ba; đối với quốc-nội thì đó là tập-hợp dân-sự lớn mạnh nhất, bao gồm nhiều chính-đảng nhất; các cấp lãnh-đạo lại là nhân-vật dân-cử có quyền bất-khả xâm-phạm. Điều đáng nói là cộng-sản đã len-lỏi vào, và chính-quyền địa-phương thì không dám dòm-ngó đến, phó mặc cho Trung-Ương lo. Tuy thế, tôi đã có người bên trong, cho nên biết trước chương-trình & nội-dung sinh-hoạt của họ, khắp Vùng.

- Anh chắc-chắn không có gì đáng lo?

- Vâng, nếu họ vẫn cứ tổ-chức mít-tinh tại các sân chùa, chứ không xuống đường gây xáo-trộn trật-tự chung, và nếu họ không xúi-giục quân-đội gây binh-biến gì, mà chỉ chờ-đợi đến ngày bầu-cử Tổng-Thống, vào cuối năm tới. Tính đến hôm nay, và riêng Miền Trung thì thế; còn về tương-lai, và các nơi khác thì tôi không dám đoán trước...

- Còn về “Phong-Trào Chống Tham-Nhũng”?

Tôi tin là thiếu-tướng Bình, tuy là tín-đồ Đạo Chúa, nhưng ông sống đời công-chính theo lời Chúa dạy, sẽ rất công-bình chứ không thiên-vị Đạo nào, không bao che cho người nào, nên tôi nói thẳng cảm+nghĩ của tôi:

- Chủ-đề chống tham-nhũng thì hấp-dẫn đối với mọi người, kể cả một số người mà bản-thân cũng không trong-sạch; nhưng tham-gia vào “Phong-Trào” thì hầu như là chỉ có tín-đồ Ky-Tô-Giáo; còn xuống đường thì là những phần-tử mà quyền-lợi vật-chất hoặc tinh-thần đã quá gắn liền với cố Tổng-Thống Ngô Đình Diệm và gia-đình. Dù sao, cuộc biểu-tình của họ mà bị Cảnh-Sát đàn-áp vừa rồi cũng đã gây được một tiếng vang, có lợi cho “Phong-Trào”, tức là có hại cho Chính-Quyền. Đó là một bước dò đường. Tin-tức mới nhất cho biết là “Phong-Trào” sẽ tổ-chức xuống đường khắp nước; từ Huế, Quảng-Trị vào các Tỉnh Vùng II thì do linh-mục Nguyễn Kim Bính, cha xứ Phú Cam, khởi-xướng; tại thủ-đô Sài-Gòn và các Tỉnh Vùng III, Vùng IV thì do linh-mục Trần Hữu Thanh phát-động. Khi đó thì tình-hình khắp nước sẽ rối beng; Chính-Quyền khó kiểm-soát được dân-chúng, ngay cả các ban tổ-chức biểu-tình cũng khôn nắm vững thành-phần tham-gia, và không ai đối-phó nổi với phản-ứng của các thành-phần chống lại họ, trong khi các phương-tiện truyền-thông trong và ngoài nước tha-hồ đổ thêm dầu vào. Tóm lại, “Phong-Trào” không chờ đến ngày bầu-cử sang năm; họ muốn Tổng-Thống Nguyễn Văn Thiệu phải từ-chức ngay; họ muốn có một Tổng-Thống là tín-đồ Đạo Ky-Tô...

- Tổng-Thống (Nguyễn Văn Thiệu) cũng là...

- Nhưng có một số phần-tử phân-biệt đạo dòng với đạo theo. Vả lại, vấn-đề không ngừng ở đó, mà là nhắm vào vai trò giáo-dân của người lãnh-đạo quốc-gia. Họ muốn có một Tổng-Thống rập khuôn cố Tổng-Thống Ngô Đỉnh Diệm. Tống-Thống hiện nay không hề đối-xử phân-biệt với các tín-đồ đạo khác, không chịu lợi-dụng Chính-Quyền để tạo ưu-thế cho Đạo Ky-Tô, nên họ bất-mãn. Họ đồn miệng rằng Đức Tổng-Giám-Mục Nguyễn Văn Bình đã “cảnh-cáo” Tổng-Thống về khoản này. Nổi bật nhất là nội-dung những lời thuyết-giáo của linh-mục Nguyễn Kim Bính tại nhà thờ Phú Cam, Huế, mà tôi đã cho thu băng gửi về Trung-Ương, trong đó đã có hai đoạn tiêu-biểu cho hai phương-diện của một vấn-đề: một đoạn linh-mục Bính hằn-học khích-động đồng-đạo, đại-ý “người ta đã ám-hại một tổng-thống anh-minh...”, và một đoạn ông cay-đắng phân-bua, đại-ý “như tôi là một Cha Xứ ở Phú Cam này, có ai mà không biết tôi; thế mà cái ngài đại-tá Tôn Thất Khiên ấy, cái đấng tỉnh-trưởng Tôn Thất Khiên ấy, đến nhậm-chức ở đây đã bao lâu rồi, mà vẫn chưa hề đến thăm hỏi tôi một lần...”

Thiếu-tướng Nguyễn Khắc Bình gật đầu:

- Tôi đã có nghe cuốn băng ấy rồi.

Ông hỏi tiếp tôi:

- Theo anh thì những việc gì cụ-thể có thể xảy ra trong tương-lai gần, hậu-quả thế nào?

- Cộng-sản Bắc-Việt ồ-ạt chuyển quân và chiến-cụ vào. Quân-Lực của ta thì bị bó tay vì bản Hiệp-Định Paris; nếu có đụng-độ quân-sự thì điều đó thuộc thẩm-quyền của cấp Trung-Ương. Riêng về phương-diện chính-trị nội-bộ thì tình-hình chung ngày càng xấu thêm: các cấp Chính-Quyền địa-phương không biết thu-phục dân-tâm; nhất là ở vùng ngoại-ô, nói chi ở vùng tranh-chấp. Đồng-bào chán ghét tham-nhũng, mà lại khao-khát hòa-bình. Tổ-chức của nhóm linh-mục Trần Hữu Thanh và Nguyễn Kim Bính là “Phong-Trào Chống Tham-Nhũng và Kiến-Tạo Hòa-Bình”. Một số tín-đồ Ky-Tô-Giáo sẽ đồng-loạt xuống đường khắp nơi. Nếu không ngăn-chận thì có thể có bạo-động. Giả-dụ một số quá-khích (Việt-Cộng xúi-giục) tấn-công những người họ cho là đã tham-gia tích-cực vào cuộc Cách-Mạng 1-11-1963 lật đổ chế-độ Đệ-Nhất Cộng-Hòa, mà những người này thì nằm bên phía “Lực-Lượng”, và tất-nhiên là những phần-tử này sẽ phải tự-vệ, biến thành xung-đột tôn-giáo, ít nhất cũng như biến-cố Thanh-Bồ Đức-Lợi tại Đà-Nẵng trước đây. “Phong-Trào” mà “làm mạnh” được thì phía “Lực-Lượng” hẳn cũng sẽ không chịu thua. Ngăn-chận thì bị gán cho là đàn-áp tôn-giáo; giả-dụ có kẻ bắt chước nữ-Dân-Biểu Kiều-Mộng-Thu, nằm lăn giữa đường để cho phóng-viên chụp ảnh, quay phim, dùng làm bằng-chứng là ả đã bị cảnh-sát bạo-hành, xong kéo đồng-bọn vào nhà-hàng lớn ăn khao, trong lúc phản-ứng của dư-luận chung, cả trong nước lẫn ngoài nước, nhất là tại Hoa-Kỳ, thì rất bất-lợi cho ta. Hơn nữa, làm sao có đủ lực-lượng để giúp vãn-hồi an-ninh: kinh-nghiệm các vụ lộn-xộn ở Quận Hoài-Nhơn của Tỉnh Bình-Định, Thị-Xã Tuy-Hòa của Tỉnh Phú-Yên, cho thấy là Chính-Quyền Tỉnh bất-lực khi chính Cảnh-Sát của địa-phương mình bị đám lộng-hành bao vây, tấn-công. Trung-Ương cũng khó tiếp tay: chỉ nội một vụ ở Chủa Linh-Sơn, Đà-Lạt, mà phải cần có phi-cơ quân-sự di-chuyển Cảnh-Sát Dã-Chiến từ Sài-Gòn ra; nếu có biến-động nhiều nơi một lần thì làm sao mà giải-nguy? Quan-trọng hơn hết là bọn Việt-Cộng đã xâm-nhập vào “Phong-Trào Chống Tham-Nhũng và Kiến-Tạo Hòa-Bình”. Chúng đã hiểu rõ là tổ-chức này thù-hận chế-độ hiện-thời hơn hết, nên chúng lợi-dụng để có thêm những đồng-minh chung sức chống phá Việt-Nam Cộng-Hòa. Chúng đã bắt đầu lôi kéo thêm các tổ-chức khác nữa, từ bên ngoài Ky-Tô-Giáo, để cùng hưởng-ứng “Phong-Trào”, vì “Phong-Trào” là hình-thức đối-lập hợp-pháp, nấp được vào đó là hoạt-động dễ vô cùng. Chúng sẽ có thể chiếm giữ công-sở, đột-nhập đồn bót, khủng-bố, phá-hoại, ít nhất là cũng thành-công về mặt chính-trị, thông-tin tuyên-truyền...

- Theo anh thì Chính-Quyền nên đối-phó cách nào?

- Tôi xin đề-nghị Trung-Ương tạm-thời nhượng-bộ “Phong-Trào” một bước đầu tiên, để tiện cấp-thời vô-hiệu-hóa mọi kế-hoạch hoạt-động của họ hiện nay, bằng cách cử hai tín-đồ Ky-Tô-Giáo, gốc-gác Đệ-Nhất Cộng-Hòa và thân-cận với giới cựu Cần-Lao, ra làm Tỉnh-Trưởng và Chỉ-Huy-Trưởng Cảnh-Sát Quốc-Gia tại Tỉnh Thừa-Thiên...

Thiếu-tướng Bình và chuẩn-tướng Tây nhìn nhau.

Tôi nói tiếp liền:

- Như thế là chỉ mới giải-quyết được bước đầu, chứ chưa xong trọn vấn-đề. Tuy nhiên, nếu tôi còn ở Vùng I thì tôi, chính tôi, sẽ ngăn-chận được mọi sự xáo-trộn tiếp theo, cho Vùng I, và do đó, cho toàn Miền Nam...

*Thiếu-tướng Nguyễn Khắc Bình, Tư-Lệnh Lực-Lượng Cảnh-Sát Quốc-Gia Việt-Nam Cộng-Hòa, đứng dậy, đưa tay bắt tay cám ơn tôi, và kết-thúc cuộc tiếp-xúc bằng lời khuyến-khích tôi và hứa-hẹn sẽ thăng cấp cho tôi vào Ngày Cảnh-Lực 1-6-1975.

Tôi cùng chuẩn-tướng Hùynh Thới Tây trở về văn-phòng Bộ Tư-Lệnh Đặc-Cảnh Trung-Ương, lần này thì cùng đi bộ. Tôi muốn nói lên một lời cám ơn ông đã đề-bạt tôi, đã dành cho tôi rất nhiều đặc-quyền, đặc-ân, mà các cấp+chức khác, ngang tôi, kể cả cao hơn tôi, cũng không có được – đương-nhiên là trong công-vụ mà thôi. Ít nhất thì ông cũng đã bắt cả các cấp Giám-Đốc phụ-tá của ông tại Trung-Ương phải đích-thân đáp-ứng ngay mọi đề-nghị của tôi; và, thay vì, như với nhiều giới-chức khác - cấp dưới dâng nạp quà cáp lên cho cấp trên – thì ông ngược lại đã cho riêng tôi mỗi tháng 20,000 đồng, tương-đương gần nửa tháng lương của tôi, để thuê nhà ở vì tôi phải rời gia-đình mà ra Miền Trung - tất-nhiên với sự đồng-ý của thiếu-tướng Nguyễn Khắc Bình. Nhưng tôi không nói ra được lời cám ơn đó, vì nó có vẻ nịnh-hót thế nào ấy - một việc mà tôi không bao giờ làm, cho nên đã bị thiệt-thòi từ hai mươi bảy năm nay.

Chúng tôi lặng-lẽ bước bên cạnh nhau, trước những cặp mắt ngạc-nhiên của nhiều sĩ-quan gặp trên đường đi. Cuối cùng, như để đánh tan bầu không-khí lạt-lẽo ấy, và lấy lại thế chủ-động, thiếu-tướng Tây nói với tôi, mà tôi nghe như nói lên tâm-tư của một số đông viên-chức chỉ-huy Ngành Đặc-Cảnh thời bấy giờ:

- Qua Sắc-Phục thì có tiền...

Sau đó, ông không quên trao tiền cho tôi, và nhắc tôi cần gì thì giải-quyết gấp với các Giám-Đốc hữu-quan, để còn rời Sài-Gòn sớm mà ghé thăm gia-đình hiện ở Nha-Trang.

*

Ngay hôm sau, tôi vừa về đến Nha-Trang thì nhận được tin Trung-Ương đã cử hai nhân-vật khác đến thay đại-tá Tôn Thất Khiên và thiếu-tá Liên Thành trong chức-vụ Tỉnh-Trưởng và Chỉ-Huy-Trưởng Cảnh-Lực Tỉnh Thừa-Thiên & Thị-Xã Huế.

Tân Tỉnh-Trưởng là đại-tá Nguyễn Hữu Duệ.

Đại-tá Nguyễn Xuân Lộc, Tư-Lệnh Cảnh-Lực Vùng I, nhắn tôi ra Đà-Nẵng gấp, để cùng ông ra Huế chủ-tọa lễ giao-nhận chức-vụ Chỉ-Huy-Trưởng Cảnh-Lực Tỉnh Thừa-Thiên & Thị-Xã Huế, giữa thiếu-tá Liên-Thành và trung-tá Hoàng Thế Khanh.LÊ XUÂN NHUẬN

Từ PHI-TRƯỜNG ÐÀ-NẴNG

Ra SÂN BAY GIA-LÂM

PHI-TRƯỜNG Ðà-Nẵng là sân-bay lớn nhất, sau Tân-Sơn-Nhất của Thủ-Ðô Sài-Gòn.

Hôm ấy, tôi có việc vào trụ-sở của hãng hàng-không "Air America" của Hoa-Kỳ thì thấy Ông Vũ Hồng Khanh, là một lão-lãnh-tụ của Việt-Nam Quốc Dân Ðảng, đáp phi-cơ "Air America" từ Sài-Gòn ra. Có nhiều nhân-vật cao-cấp của chính-đảng ấy tại các Tỉnh+Thị ngoài này đến đón ông; họ dùng xe hơi mà trên xe nào cũng có gắn đảng-kỳ. Ông ra Miền Trung với một mục đích: hòa-giải để thống-nhất các hệ-phái vẫn chống-phá nhau lâu nay. Việc ấy tôi đã biết trước; nhưng tôi không định đến xem mà chỉ tình-cờ thấy thôi.

Sau đó, tôi về văn-phòng thì được Sở Ðặc-Cảnh Thị-Xã Ðà-Nẵng báo-cáo là Ông Vũ Hồng Khanh đã đáp phi-cơ "Air Vietnam" ra đến nơi rồi.

Một trong các lý-do báo-cáo sai-lầm là vì không có nhân-viên Cảnh-Sát gác tại cổng phi-trường. Nhân-viên phụ-trách bên trong thì là Sắc-Phục, không làm công-việc tình-báo, vào ra theo xe chở khách của "Air Vietnam", ở luôn trong đó cho đến hết ngày.

HÃNG hàng-không dân-sự "Air Vietnam" dùng chung phi-trường Ðà-Nẵng với các phi-cơ quân-sự của Sư Ðoàn I Không-Quân; nhưng tại cổng vào phi-trường thì chỉ có một nhân-viên Quân-Cảnh canh gác. Nhân-viên này không kiểm-soát thường dân, và thường không cho thường-dân lẻ-loi đi bộ hay đi xe đạp, xe gắn máy vào phi-trường. Xe "Air Vietnam" chở hành-khách và hành-lý, cùng các loại xe-hơi khác, vào đến nhà-ga thì hành-khách lẫn-lộn với những người đi đưa, đi đón, cũng như các người vào ra buôn bán tại đây; và hành-lý thì lẫn-lộn với đồ-đạc, vật-dụng của câu-lạc-bộ sân bay; nên khó phát-hiện, ngăn-ngừa kẻ gian, việc gian.

Chỉ riêng một việc, cứ mỗi buổi chiều cuối tuần, khoảng bốn/năm giờ, là có hằng chục cô-gái có vẻ là con nhà-lành, nữ-sinh, chực sẵn ở cổng để các phi-công ra đón nhận vào, ở lại suốt đêm bên trong cư-xá sĩ-quan, cũng đã là một sơ-hở đối với an-ninh nội-vi phi-trường rồi.

Tôi đã nêu vấn-đề này ra, và phải can-thiệp với các giới-chức an-ninh quân-sự liên-hệ, nên Bộ Chỉ-Huy Cảnh-Lực Thị-Xã Ðà-Nẵng mới cắt nhân-viên Cảnh-Sát dân-sự đến gác ở cổng, cũng như bên trong nhà-ga, cho phép và kiểm-soát thường-dân vào ra phi-trường quốc-tế quan-trọng này của Việt-Nam Cộng-Hòa.

THẠC-SĨ VŨ VĂN MẪU

& LỰC-LƯỢNG HÒA-HỢP HÒA-GIẢI DÂN-TỘC

HÔM đó, tôi đến phi-trường Ðà-Nẵng để xem phái-đoàn Hòa-Hợp Hòa-Giải Dân-Tộc từ Sài-Gòn ra, đồng-thời quan-sát hoạt-động của toán CSQG mới được nâng lên thành Cuộc tại phi-trường này, sau khi xảy ra hai vụ không-tặc nổ phi-cơ "Air Vietnam" - vụ trước kết-thúc ở Phú-Bài ngoài Huế, và vụ sau chấm dứt ở Phan-Rang nhưng xuất-phát từ Ðà-Nẵng này.

Thiếu-tá Tôn Thất Lộc - hồi còn ở Huế, là một giáo-sư tại Trường "Quốc-Gia Âm-Nhạc" nay làm Trưởng-Cuộc ở đây, với tôi là chỗ bạn thân từ xưa.

Anh đùa hỏi tôi: tại sao gọi là Trưởng-Cuộc, mà không là Cuộc-Trưởng - chữ "Trưởng" đứng sau, như trong "Tiểu-Khu-Trưởng", "Chi-Khu-Trưởng", "Xã-Trưởng", v.v...

Tôi có biết một lý do, nhưng tránh trả lời.

Chỉ vì "Trung-Ương" đã khoái nên chọn chữ "Cuộc" thay vì "Trạm", "Bót", "Ðồn", "Phân-Chi", để gọi cấp Xã của Ngành/Nghề mình. Nhưng "Cuộc" chỉ là biến-âm của "Cục", nếu gọi "Cuộc-Trưởng" thì nó đồng-nghĩa với "Cục-Trưởng"; mà "Cục-Trưởng" thì là chức danh của các đại-tá, có thể là tướng, đứng đầu các Cục tại Bộ Tổng-Tham-Mưu. Gọi cấp thấp nhất của mình là Cuộc-Trưởng có thể bị hiểu ngầm là xem các Cục-Trưởng khá cao bên quân-ngũ ngang hàng với các Cục/Cuộc-Trưởng dưới chót của mình. Vì thế nên phải đảo thành "Trưởng-Cuộc" Cảnh-Sát Quốc-Gia.

LÁT sau thì các loại xe chở hành-khách và người đi đón/đi đưa tấp-nập vào.

Ðại-Tá Ðàm Trung Mộc, luật-gia, một cấp chỉ-huy và giảng-sư kỳ-cựu của CSQG, hôm nay lên đường rời Vùng I sau mấy ngày thanh-tra ngoài này. Tôi đến nói chuyện với ông.

Một lát thì có Ðại-Tá Lê Ðạt Công, Trưởng Phòng 2 Quân Ðoàn III & Quân-Khu III - ra đây xử-lý thường-vụ trong lúc Ðại-Tá Phạm Văn Phô, Trưởng Phòng 2 Quân-Ðoàn I & Quân-Khu I đi công-tác tại Hoa-Kỳ - cũng đến phi-trường để vào Biên-Hòa. Tôi giới-thiệu hai người với nhau. Ðại-Tá Công tưởng Ðại-Tá Mộc cũng ở trong ngành Ðặc-Cảnh như tôi, nên vỗ vai tôi mà nói với Ðại-Tá Mộc: "Cứ như tay này chúng tôi mới thật nể-vì. Tình-báo phải thế; tự-tin, tự-lực, chứ không che dù như mấy người khác!"

Một số đại-tá khác cũng đến. Tôi giới-thiệu Ðại-Tá Dương Công Liêm với các Ðại-Tá Mộc, Công, và Lê Bá Khiếu. Ðại-Tá Khiếu là Tỉnh-Trưởng Tỉnh Quảng-Ngãi. Ðại-Tá Liêm là Liên Ðoàn-Trưởng Công-Binh Quân Ðoàn II đóng ở Quy-Nhơn; anh cũng làm thơ như tôi từ thuở đôi mươi. Ðại-Tá Ðỗ Tung là Trưởng Phái Ðoàn VNCH trong Ban Liên-Hợp Quân-Sự 2-Bên tại Khu-Vực II ở đây.

PHI-CƠ đáp xuống.

Ban lãnh-đạo trung-ương của "Lực-Lượng Hòa-Hợp Hòa-Giải Dân-Tộc" - hậu-thuẫn cho Ðại-Tướng Dương Văn Minh - tiến vào.

Thạc-Sĩ Vũ Văn Mẫu, Chủ-Tịch, cùng với Giáo-Sư Võ Ðình Cường, Dân-Biểu Phan Xuân Huy, v.v...

Các đại-diện của LLHHHGDT Ðà-Nẵng ra đón. Có một số đồng-bào cũng đến chào họ. Tôi thấy Bác-Sĩ Phạm Văn Lương, chủ-nhân bảo-sanh-viện ngay trước nhà tôi, trên đường Lê Lợi, nói gì với Giáo-Sư Võ Ðình Cường mà mắt nhìn về phía tôi.

Trước hôm tôi ra Vùng I này, trong một bữa tiệc do một số bác-sĩ (trong đó có Bác-Sĩ Phạm Văn Lương mà sau này ra Ðà-Nẵng rồi, gặp mặt lại, tôi mới biết), khoản-đãi Ðại-Tá Lê Trọng Ðàm, Tư-Lệnh Cảnh-Lực Vùng II, Ðại-Tá Ðàm đã giới-thiệu tôi là tân-"Giám Ðốc Công-An Miền Trung".

Chức-vụ Giám-Ðốc-một-Nha-nhiều-Sở của tôi đã được quy-định bằng một Sắc-Lệnh của chính-phủ, nhưng văn-kiện ấy chỉ được phổ-biến hạn-chế, để bảo-mật tổ-chức của Ngành. Cảnh-Sát Ðặc-Biệt là danh-xưng mới của ngành Công-An.

Khi đến chỗ tôi, giáo-sư Võ Ðình Cường, sau mười mấy năm, vẫn nhận ra tôi. Anh ngạc-nhiên hỏi tôi:

- Bây giờ Thanh-Thanh làm gì, ở đây?

- Tôi hiện nay là "Giám Ðốc Công-An Miền Trung"!

Cái tước-hiệu ấy đã có một thời tác-động mạnh lên tâm-trí người dân Miền Trung. Tôi cố ý nhắc đến mấy tiếng ấy với Giáo-Sư Cường, là người hồi xưa đã hơn một lần bị thẩm-vấn tại cơ-quan nói trên.

Giáo-Sư Cường quay lại giới-thiệu tôi với Giáo-Sư Mẫu:

- Ðây là thi-sĩ Thanh-Thanh, một người anh-em từ xưa.

Thượng-Nghị-Sĩ Vũ Văn Mẫu chào, bắt tay tôi, và nói:

- Rất hân-hạnh được biết đại-tá.

Các người kia cũng chào và bắt tay tôi. Tôi cười nhấn mạnh với Dân-Biểu Phan Xuân Huy:

- Ông dân-biểu ở ngoài này thì tôi đã có biết rồi. Trong vùng trách-nhiệm của tôi mà!

Nguyên Ông Huy là thành-viên giảng-huấn của Viện Ðại-Học Huế; nhưng ông bí-mật hoạt động cho Việt-Cộng, Ðặc-Cảnh chúng tôi đã có đầy-đủ hồ-sơ. Cũng như Dân-Biểu Nguyễn Công Hoan của Tỉnh Phú-Yên, mà tôi biết được hồi tôi nắm Ngành Ðặc-Cảnh Vùng II. Và nhiều người khác, vân vân.

Họ là nhân-vật dân-cử, được quyền bất-khả xâm-phạm, nên gây khó-khăn cho Ngành An-Ninh.

Cường thân-Cộng, Huy thờ-Cộng, đều là quân-sư của Mẫu, khích động đại-khối quần-chúng ở ngay trong vòng đùm-bọc của Chính-Quyền Quốc-Gia.

Lực-Lượng Hòa-Hợp Hòa-Giải Dân-Tộc tổ-chức mít-tinh khắp nơi, công-khai đòi-hỏi Việt-Nam Cộng-Hòa đơn-phương ngưng bắn, tiến tới bắt tay với kẻ thù. Ðiều lạ là không thấy có cấp+chức nào trong chính-quyền, từ trung-ương đến địa-phương, ra mặt đối-đáp gì. Tôi bèn đề-nghị, và được Thiếu-Tướng Nguyễn Khắc Bình (Tư-Lệnh Cảnh-Lực Quốc-Gia) và Chuẩn-Tướng Huỳnh Thới Tây (Tư-Lệnh Ðặc-Cảnh Trung-Ương) cho phép, đứng ra tiếp-xúc với họ để tìm hiểu, trao đổi những vấn-đề cần.

Lần này ra đây, họ sẽ đi đâu và làm những gì, chúng tôi đã biết rõ rồi; một phần là nhờ Ðặc-Cảnh các Tỉnh liên-hệ, một phần là do mật-viên của tôi nằm ngay bên trong Chùa Tỉnh-Giáo-Hội Ðà-Nẵng ở đường Ông Ích Khiêm - là trạm đầu-tiên cũng như cuối-cùng của họ trên mỗi chuyến đi các tỉnh Miền Trung. Nhưng tôi giả-vờ như chưa biết gì, vừa để thăm dò thái-độ của họ, vừa để bảo-mật đường dây của mình:

- Quý vị dự-định làm gì, nhất là tập-trung đông người, vui lòng thông-báo cho chính-quyền địa-phương, để xin nhân-viên đến giữ an-ninh. Ðừng để xảy ra sự-việc đáng tiếc như vụ vừa rồi trong Nam. Quý vị thừa biết là Việt-Cộng sẵn-sàng trà-trộn vào đám đông.

Thạc-Sĩ Mẫu đáp ngay:

- Vâng. Chúng tôi rất tiếc về vụ lộn-xộn vừa rồi trong đó, bởi vì đồng-bào đến dự quá đông, như cả biển người sùng-sục, ra ngoài dự-liệu của chúng tôi. Nhưng chúng tôi đã chấn-chỉnh lại mọi sự rồi. Xin đại-tá yên tâm...

VÀ rồi từ đầu đến cuối, dù cho đồng-bào tham-dự các cuộc mít-tinh do Lực-Lượng Hòa-Hợp Hòa-Giải Dân-Tộc tổ-chức có đông đến đâu, trên khắp Vùng I vẫn không có gì đáng tiếc xảy ra .

HAI HẠ-SĨ-QUAN KHÔNG-QUÂN VNCH
LÀM NỘI-TUYẾN CHO VIỆT-CỘNG

THIẾU-TÁ Ngô Phi Ðạm, Chánh Sở Tác-Vụ, sau khi phối-kiểm, đã trình lên tôi kết-quả của một công-tác là đã phát-hiện được một tổ-chức nội-tuyến của Việt-Cộng bên trong Sư-Ðoàn I Không-Quân QL/VNCH đóng trong phi-trường Ðà-Nẵng.

Nghiên-cứu tin-tức từ nhiều đường dây khác nhau, chúng tôi tìm ra một số mục-tiêu, trong đó có hai trung-sĩ Không-Quân, một người thợ sửa chữa xe đạp/xe-gắn-máy, và một nữ-giáo-viên.

Hai hạ-sĩ-quan Không-Quân, tên Hạ và Ðông, thì tùng-sự tại bộ-phận Kỹ-Thuật, bên trong phi-trường. Người thợ sửa chữa xe, tên Xuân, thì dựng một cái quán cóc, làm nơi hành-nghề và cư-trú, ở Quận Nhì. Cô giáo, tên Thu, thì dạy và ngụ ở Quận Ba, bên kia sông Hàn.

Theo dõi các mục-tiêu này thì thấy hai viên trung-sĩ thường-xuyên đem xe ra chữa ở quán của Xuân; cô giáo, từ bên Quận Ba, cũng thường qua đây, đóng vai tình-nhân của Xuân. Nhưng Thu thì đẹp, có học, còn Xuân thì chỉ là một người thợ thô quê, trong lúc cả Hạ lẫn Ðông thì bảnh trai hơn. Thế mà Thu chỉ đến gặp Hạ/Ðông tại quán của Xuân, không hẹn nơi khác, không có bạn trai nào khác, và cũng không ở nán lại lâu hơn với Xuân khi chỉ còn lại "một cặp tình-nhân" với nhau. Ðó là sơ-hở trong việc chọn dùng ngụy-thức/ngụy-tích của bốn tên này.

Cuối cùng, nội-tuyến của ta xác-nhận:

-- Ðịch sẽ phá-hoại bên trong phi-trường.

Ðọc lại báo-cáo của các điệp-viên, tin chắc ở độ trung-thực của các nguồn tin, tôi liền thảo-luận với Ðại-Tá Lê Quang Nhơn, Chánh Sở I An-Ninh Quân-Ðội, để có biện-pháp ngăn-ngừa kịp thời .

Biện-pháp mà tôi đề-nghị là giao hai hạ-sĩ-quan liên-can cho tôi, vì bên Quân-An chưa biết gì về hành-tung của kẻ khả-nghi, và tôi thì phải bảo-mật mật-viên của mình.

Ðại-Tá Nhơn trình lên Bộ Tư-Lệnh Quân Ðoàn I và bàn-bạc với Bộ Tư-Lệnh Sư Ðoàn I Không-Quân, xong liền đồng-ý để tôi câu-lưu cặp Hạ+Ðông để điều-tra.

Tôi giao hai hạ-sĩ-quan Không-Quân nói trên cho Ðạm và Văn, cầm chân chúng tại một "nhà an-toàn", suốt trong hai tuần.

ÐÂY là lần đầu, Cảnh-Sát Ðặc-Biệt, dân-sự, bắt giam & thẩm-vấn quân-nhân, trong khi chưa có bằng-chứng quả-tang.

Như thế tức là chúng tôi phải phá tổ-chức Ðặc-Công nội-tuyến này của Việt-Cộng; do đó, chúng tôi phải bắt cả cô giáo Thu lẫn anh thợ Xuân. Nhưng không hiểu sao tên thợ chữa xe đã biến mất tăm.

Rốt cuộc, Ðặc-Cảnh lấy được lời cung của giáo-viên Thu. Ả chỉ là liên-lạc-viên, trung-gian nhận+chuyển chỉ-thị & báo-cáo giữa một cán-bộ Việt-Cộng Liên-Khu & Quân-Khu V với tên Xuân, và với Hạ+Ðông qua tên Xuân; tên này là một tổ-trưởng nằm vùng, đặc-trách đường dây Không-Quân trong phi-trường quân-sự này.

Những lời khai này của ả phù-hợp với tin tình-báo nội-tuyến của chúng tôi.

Ả khai là ả không biết nội-dung chỉ-thị & báo-cáo; tuy nhiên, ả có thoáng nghe Xuân và Hạ+Ðông nói ra những tiếng như "họa-đồ", "chất nổ", "kho bom", "thoát-ly".

Hai tên Hạ & Ðông thì chối quanh-co. Ðưa cho chúng xem các tấm ảnh chụp được lúc chúng đến tiếp-xúc với Xuân & Thu tại quán của Xuân thì chúng xác-nhận có đến, nhưng chỉ đến để chữa xe, và chỉ tình-cờ gặp Thu, thấy Thu dễ mến nên có chuyện-trò vu-vơ mà thôi.

Chúng tôi trả lại cho Quân-An và Không-Quân hai hạ-sĩ-quan liên-can, tóm-tắt kết-quả hỏi cung, ghi rõ nội-dung tin-tức Ðặc-Cảnh nhận được, đề-nghị canh phòng cẩn-mật kho bom và các phi-cơ, điều-chuẩn an-ninh các phần-tử khác, nhất là theo dõi sít-sao hai trung-sĩ này, nếu cần thì thuyên-chuyển chúng đi nơi xa hơn.

MỘT tuần trước ngày Ðà-Nẵng thất-thủ (29-3-1975), vào một buổi sáng đẹp trời, bỗng-nhiên có hai tiếng nổ khủng-khiếp vang lên, làm rung-chuyển cả thành-phố lẫn vùng tiếp-giáp ở phía ngoại-ô. Lúc đó tôi đang trên đường từ Quận phía biển qua cầu Trịnh Minh Thế để về cơ-quan, nhìn thấy ở hướng phi-trường một vầng lửa khói bốc cao như một cây nấm nguyên-tử trong phim Hiroshima và Nagasaki của Nhật bị Mỹ ném bom vào năm 1945.

Hai kho dự-trữ bom lớn, kể cả hỏa-tiễn/napalm, của Sư Ðoàn I Không-Quân, dùng để oanh-tạc Việt-Cộng trên khắp Quân-Khu I, đã bị phá-hoại, nổ tung.

An-Ninh Quân Ðội Sở I, An-Ninh Quân Ðội Ðà-Nẵng, An-Ninh Phi-Trường của Không-Quân, v.v... tức-tốc nỗ-lực điều-tra.

Chúng tôi cũng cùng điều-tra bên ngoài, nhưng dò tìm xem thì không gặp được hai tên Hạ & Ðông.

(Sau khi tôi bị bắt từ Nha-Trang giải ra Ðà-Nẵng, ở đây tôi đã dò hỏi các đồng-bào Ðà-Nẵng bị bắt về tội "phản-động hiện-hành" thì họ cho biết có thấy tên Hạ mang lon thượng úy, làm việc ở trụ sở Công An Phường Thạc Gián, còn tên Ðông thì không biết giữ chức vụ gì mà mặc dân phục, làm việc ở Ủy Ban Nhân Dân Phường Thanh Bình).

CHUẨN-TƯỚNG NGUYỄN HỮU HẠNH

HÔM ấy tôi đi Sài-Gòn.

Ðến giờ ra sân để lên phi-cơ, đại diện của Trạm "Air Vietnam" mời tôi ra trước, nghĩa là đi qua hàng-rào dò tìm vũ-khí đựng trong hành-lý xách tay và mang trong người. Nhân-viên hữu-trách của "Air Vietnam" tươi cười đưa tay mời tôi đi qua, không rà soát gì. Họ đã biết tôi là ai, và biết là tôi hẳn có mang theo ít nhất là một súng lục phòng-thân.

Trên sân đã có độ mươi sĩ-quan, đa-số là đại-tá trưởng-phòng tại Bộ Tư-Lệnh Quân Ðoàn I. Họ đứng một hàng, trong lúc một đại-tá khác thì đứng trước mặt Chuẩn-Tướng Nguyễn Hữu Hạnh. Tôi đoán là viên đại-diện ngỏ lời tiễn-đưa, và Tướng Hạnh đáp lời giã-từ.

HÔM qua, tôi đã gặp Tướng Hạnh trong phòng-giấy của Ðại-Tá Hoàng Mạnh Ðáng, Tham-Mưu-Trưởng Quân-Ðoàn. Ðại-Tá Ðáng đại-diện Trung-Tướng Ngô Quang Trưởng, Tư-Lệnh Quân Ðoàn I & Quân-Khu I, triệu-tập chúng tôi đến họp bàn về tình-hình Việt-Cộng và hoạt-động phối-hợp tình-báo giữa các cơ-quan. Cùng có mặt lúc đó là các Ðại-Tá, Nguyễn Xuân Lộc của Cảnh-Lực Vùng I, Phạm Văn Phô của Phòng 2 Quân Ðoàn I, Lê Quang Nhơn của Sở I Quân-An.

Chúng tôi đang họp thì Chuẩn-Tướng Nguyễn Hữu Hạnh vào. Tướng Hạnh là Thanh-Tra-Trưởng của Quân-Ðoàn này. Các sĩ-quan kia thì đã gặp Tướng Hạnh nhiều lần, lúc không có tôi, nên họ tưởng tôi mới gặp lần đầu; do đó, Ðại-tá Lộc giới-thiệu tôi.

Nhưng Tướng Hạnh đã tươi cười bắt tay tôi:

- Chúng tôi đã quen nhau từ trong Quân-Khu II.

TRONG đó, cơ-quan cầm đầu quân-sự cấp Vùng chia ra làm hai:

Bộ Tư-Lệnh Quân Ðoàn II thì đóng ở Pleiku, và Bộ Tư-Lệnh Quân-Khu II thì đóng ở Nha-Trang.

NHƯNG Quân Ðoàn II & Quân-Khu II hầu như không dung các phó tướng-quân.

Trước hết là Chuẩn-Tướng Lam-Sơn.

Ông tên thật là Phan Ðình Thứ, nổi tiếng nhờ đa-tài. Nhưng, chữ tài liền với chữ tai một vần. Trong một buổi lễ, ông mặc lễ-phục, cùng với cố-vấn Mỹ đi kiểm-soát các hàng quân. Viên Cố-Vấn Hoa-Kỳ thọc khăn tay vào trong nòng súng của một quân-nhân, thì thấy khăn dính dầu dơ: lính không chùi sạch khẩu súng của mình. Ðể nêu bằng-chứng tắc-trách của lính dưới quyền của ông, viên sĩ-quan đồng-minh quệt vết dầu dơ từ chiếc khăn tay của anh-ta vào áo của ông. Ðáp lại sự xúc-phạm ấy, ông đã giáng vào má anh-ta một cái tát tai. Vì thế, ông bị trù-dập liên-hồi. Khi Chuẩn-Tướng Lam-Sơn làm Phó Tư-Lệnh Quân Ðoàn II, ở Pleiku, một hôm có một quân-nhân vô-kỷ-luật xách súng đến tư-dinh tư-lệnh định làm liều. Ông có mặt ở đó, ra lệnh cho y buông súng; nhưng y bất-tuân nên ông bấm cò. Vì thế, ông bị câu-lưu, truy-tố ra tòa.

RỒI đến Chuẩn-Tướng Nguyễn Hữu Hạnh. Tướng Hạnh được cử làm Tư-Lệnh-Phó Quân-Khu II, ở Nha-Trang.

Tôi không liên-quan gì đến ông, nhưng vì thói quen nghề-nghiệp tôi cũng tìm biết sơ-sơ đôi điều về ông. Khi Chuẩn-Tướng Huỳnh Thới Tây (Tư-Lệnh Ðặc-Cảnh Trung-Ương) ra Vùng II, ngỏ ý muốn ghé thăm Tướng Hạnh, là tôi đưa Tướng Tây đến trụ-sở Quân-Khu, vào thẳng phòng-giấy của Tướng Hạnh, khiến ông ngạc-nhiên sao tôi biết ông ngồi ở chỗ này.

Tướng Hạnh không được viên tướng Tư-Lệnh Vùng II ưa; nên ông ra Quân Ðoàn I & Quân-Khu I, làm Tổng-Thanh-Tra.

Là một trong số mấy tướng bị cho giải-ngũ, vào đầu tháng 3-1974, Tướng Hạnh đến phòng-giấy Tham-Mưu-Trưởng để chào từ-biệt Ðại-tá Hoàng Mạnh Ðáng; nhân gặp chúng tôi, ông cũng luôn thể ngỏ lời chia tay với chúng tôi.

Tuy ông giữ vẻ tự-nhiên nhưng tôi cảm thấy giọng nói vẳng lên đôi chút bất-mãn từ trong lòng ông.

Khi Tướng Hạnh đã ra khỏi phòng, Ðại-Tá Ðáng nói với chúng tôi:

- Ông ta là tướng-mặt-trận thật-sự, chứ không phải là tướng-văn-phòng đâu.

Nhưng Ðại-Tá Ðáng nói thêm:

- Mấy tay đó có cần gì đồng lương quân-đội, giải-ngũ thì thôi, đâu thiếu gì tiền.

SẴN trớn, Ðại-Tá Ðáng nói qua chuyện buôn lậu của một tư-lệnh của một đơn-vị cũng đóng ở Ðà-Nẵng này:

- Một hôm, có một đàn-em của hắn từ trong Sài-Gòn gọi điện-thoại ra, nhân-viên tổng-đài nghe không rõ tên, tưởng là gọi tôi nên chuyển đường dây đến tôi. Tôi mới "a-lô!" là y nói liền: "Em đã gửi hàng ra rồi, chuyến này khá lắm; đại-tá cho người ra đón; phi-cơ X; cất cánh lúc Y giờ; thằng Z mang đi."

NGỒI ở phòng-giấy của Ðại-Tá Ðáng, chúng tôi có dịp nghe+thấy thêm được đôi điều. Tỷ như có lần, đầu năm 1975, nghe điện-thoại xong, ông bảo bên kia chờ máy, để ông vào trình trung-tướng. Ông qua phòng-giấy Tướng Ngô Quang Trưởng, trình xong, về trả lời người bên kia:

- Trung-tướng chỉ-thị anh em Không-Quân, khi thấy xe tăng, xe tải, bộ-đội của chúng di-chuyển trên đường-mòn Hồ Chí Minh, dù ở trong tầm oanh-kích của ta thì cũng đừng hành-động gì, cứ để cho chúng tiếp-tục chuyển quân vào Nam...

SAU tôi là ban lãnh-đạo trung-ương Lực-Lượng Hòa-Hợp Hòa-Giải Dân-Tộc ra sân. Họ về Sài-Gòn cùng chuyến với tôi. Tôi nghe Dân-Biểu Phan Xuân Huy nói với Thượng-Nghị-Sĩ Vũ Văn Mẫu và các bạn cùng phe:

- Tao có mang súng mà nó có rà ra đâu!

Giáo-Sư Mẫu nói:

- Máy-móc gì rồi cũng thua con-người mà thôi!

Tôi nghĩ rằng các nhân-viên kiểm-soát thừa biết là các nhân-vật dân-cử được cấp vũ-khí tuỳ-thân.

Chuẩn-Tướng Nguyễn Hữu Hạnh cùng các sĩ-quan đi đưa, và Thạc-sĩ Vũ Văn Mẫu cùng nhóm đồng-hành, đã đến cầu thang phi-cơ, nhưng bị nhân-viên hàng-không chận lại chưa cho lên.

Viên đại-diện Trạm "Air Vietnam" mời tôi lên trước, đợi tôi ngồi xong mới để cho các hành-khách khác lên.

NGƯỜI HÀNH-KHÁCH ÐẶC-BIỆT

HƠN bảy năm sau, ngày 15-7-1981, cũng tại chỗ này, viên Trưởng Công-An Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam trong sân-bay Ðà-Nẵng cũng chận các hành-khách lại, đợi tôi lên xong, ngồi yên vào chỗ, rồi mới cho các người khác bước lên.

SỐ là tôi bị hỏi cung nhiều lần, kể cả bởi một phái-đoàn mà họ giới-thiệu là của Bộ Nội-Vụ Hung-Ga-Ri; nhưng không khai-báo những gì đáp-ứng nhu-cầu của nhóm điều-tra, nên Bộ Nội-Vụ Cộng-Sản Việt-Nam phái hai cán-bộ cao-cấp vào Ðà-Nẵng nhận và giải tôi ra Hà-Nội để "làm việc" trực-tiếp với Công-An trung-ương.

Họ nói:

- Anh là số một đấy nhé. Tù "Ngụy" mà được cho đi máy bay!

Sở Công-An CSVN Tỉnh Quảng-Nam Ðà-Nẵng có 3 chiếc xe-hơi sang nhất, hiệu Peugeot đời mới, mỗi chiếc một màu, tịch-thu của các nhà giàu địa-phương. Họ dùng loại xe ấy để chở tôi đi+về giữa các trại giam, trụ-sở Ty, các nơi cần đưa tôi đến, và sân bay. Tôi đã dùng qua cả 3 chiếc xe nói trên.

Sáng nay họ đưa tôi vào phi-trường.

Ở chỗ trước kia chỉ là cái chòi với cây chận đường để nhân-viên CSQG và Quân-Cảnh xét giấy người vào, nay là một trụ-sở đồn kiểm-soát của Công-An đường-hoàng. Tất cả xe-cộ đều phải đậu lại sát bên lề đường. Hành-khách, tài-xế, và mọi người khác, đều phải vào trụ-sở, mang theo hành-lý xách tay -- hành-lý gửi riêng thì đã được soát tại trụ-sở Chi-Nhánh Hàng-Không Dân Dụng "Vietnam Airlines" và được chất riêng trên xe của hãng, có nhân-viên Công-An đi theo canh chừng.

Trong trụ-sở, mọi người đều bị xét lại giấy-tờ, soát lại đồ-đạc và rờ khắp người. Xong rồi, mọi người đều được hướng-dẫn đi bộ ra đường, vượt qua một khoảng đường có vỉ sắt lát ngang, rồi lên đứng đợi ở chỗ xe sẽ đến đón phía trong.

Sau đó, mỗi xe được một nhân-viên Công-An lên ngồi cầm lái, chạy qua từ-từ trên tấm vỉ sắt nói trên. Có một hệ-thống điện-tử rà-soát dò-xét phía dưới đáy xe. Xong rồi xe mới được đem đến chỗ đón người, giao cho tài-xế rước khách lái đi.

Thủ-tục kể trên không được miễn-trừ cho ai; xe tôi, là xe của Sở Công-An, với hai cán-bộ của Bộ và một tài-xế của Sở, cũng phải tuân theo. Và dù đây cũng là một sân bay quân-sự, nhưng không hề có "Kiểm-Soát Quân-Sự" (tên gọi tương-đương "Quân-Cảnh" của ta). Thẩm-quyền an-ninh hoàn-toàn trong tay Công-An - dân-sự - mà thôi .

RIÊNG tôi, họ chở vào quá nhà-ga, đến một trụ-sở gọi là "Công An Sân Bay Ðà Nẵng", hình như ở chỗ trước kia là Trạm Hàng-Không "Air America".

Tại đây, họ lại tái-diễn lục-soát mấy xách đồ dùng và rà khắp người của tôi, xong bảo tôi ngồi chờ ở phòng-khách, rồi kéo nhau vào phòng trong, chắc là phòng-ăn.

Tôi nghe một tên từ Hà-Nội vào nói với tên làm Trưởng ở đây là phải chở tôi đi bằng máy-bay vì sợ nếu đi đường bộ thì có thể có "Mỹ+Ngụy" giải-cứu dọc đường.

Tôi nhìn lên tường thì thấy, ngoài các khẩu-hiệu thông-thường, có một hàng chữ:

"WELCOME COME TO VIETNAM!" (dư một chữ "come")

ÐẾN giờ phi-cơ cất cánh, tôi được chở đến nhà-ga, và cũng lại bị khám-soát, song không phải là sờ tay hoặc rà bằng cái dùi-cui chạy pin nghe kêu tè-tè như xưa, mà là đi ngang qua một hệ-thống màn ảnh mới được CSVN thiết-lập sau này, văn-minh như ở các nước Tự-Do.

Máy-bay là một phương-tiện di-chuyển đang còn hiếm-quý; hành-khách đa-số là cán-bộ CSVN cấp cao, cùng với một số Cố-Vấn Liên-Xô hoặc các nước khác mà họ gọi là chuyên-gia.

Tất cả đều bị viên Trưởng Công-An phi-trường chận lại, để hai cán-bộ của Bộ Nội-Vụ đưa tôi lên trước, như đã kể trên.

SÂN BAY GIA-LÂM

KHI máy-bay đáp xuống sân bay Gia-Lâm, Hà-Nội, tất cả hành-khách đều vẫn ngồi yên. Hai viên Công-An giải tôi nói gì với ả tiếp-viên, ả này la to:

- Uả, các cô+bác xuống tàu đi chứ!

Khi đó họ mới đứng lên. Có tiếng một người trả lời:

- Tưởng là chờ "Ðoàn" xuống trước đã chứ!

Thì ra họ tưởng tôi và hai hộ-tống-viên là một Phái-Ðoàn (CSVN gọi tắt là Ðoàn) ở cấp rất cao.

(Chi-tiết chuyến bay này đã được kể lại qua bài thơ "Hà Nội" trong tập thơ "Cơn Ác-Mộng" của Thanh-Thanh, do Xây Dựng xuất-bản, 1998).

Trong phòng khách chờ tại nhà-ga sân bay Hà-Nội, tôi thấy có ghi một hàng chữ lớn:

WAI TING ROOM (chữ waiting viết rời thành hai chữ).

Tôi xin đi tiểu thì được dẫn đến phòng vệ-sinh nam. Trên cửa phòng này có ghi:

MAN

Tôi nhìn về phía phòng vệ-sinh nữ thì thấy có ghi:

WOMAN

MỘT hôm, có dịp được cho đóng vai thường-dân đi xem "Thủ Ðô", tình-cờ gặp một đại-sứ CSVN từ Phi-Luật-Tân trở về công-tác tại Bộ Ngoại-Giao, tôi đã nhắc đến mấy bảng chữ Anh ghi trên và giải-thích thêm cách dùng.

ÐẾN ngày 20-4-1982, tôi rời khỏi Trại "Thanh-Liệt", thuộc Bộ Nội-Vụ CSVN, để về Ðà-Nẵng, cũng bằng máy-bay, tôi để ý thấy các bảng tiếng Anh tại phi-trường Gia-Lâm đã được chỉnh lại, theo lời gợi ý của tôi, như sau:

WAITING ROOM (waiting viết liền thành một chữ)

GENTLEMEN thay cho MAN

LADIES thay cho WOMAN

Vào đến phi trường Ðà-Nẵng tôi không được đưa trở lại trụ-sở Công-An Sân Bay nên không biết rõ chữ COME viết thừa đã được bỏ bớt hay chưa, hay vẫn còn là:

WELCOME COME TO VIETNAM!

TÔI LÀ GIÁM-ÐỐC CÔNG-AN VC1

LIÊN-KHU V

______

1 Cộng-Sản Việt-Nam (gọi chung Cộng-Sản Bắc-Việt Xâm-Lược và Cộng-Tặc Miền Nam).

TỐI ngày 17-4-1975, tôi đang nằm nghe tin-tức thì ông Tôn Thất Ðệ vào báo có “Cách Mạng” đến tìm gặp tôi.

Tôi ra phòng-khách thì thấy có giáo-sư Ưng Trung và bác-sĩ Nguyễn Thạch, là Chủ-Tịch và Phó Chủ-Tịch của “Lực-Lượng Hòa-Hợp Hòa-Giải Dân-Tộc Tỉnh Khánh-Hòa”, đang đứng xớ-rớ một bên; chính giữa là một nam-cán-bộ Việt-Cộng, được nhiều nam+nữ phần-tử, cũng vũ-trang và đeo băng “Mặt Trận Dân-Tộc Giải-Phóng Miền Nam” như y, đứng yểm-trợ phía sau, ngoài hiên, và dưới sân.

Viên chỉ-huy cúi đầu chào tôi, nở một nụ cười khá tươi, nói lớn, giọng Bắc:

- Chúng cháu mời chú đến cơ quan để chúng cháu làm việc với chú!

Họ mà “làm việc” với tôi? mà làm việc gì?

Tôi hỏi:

- Quý vị thuộc cơ-quan nào?

- Công An Liên Khu V.

Y đến choàng tay ra sau vai tôi, điệu-bộ thân-mật, nhưng bấm cứng mấy ngón tay dìu lái tôi đi.

Xuống sân, tôi thấy có mấy cô con-gái của tôi và mấy người-nhà của ông Ðệ đang đứng ngơ-ngác nhìn tôi sau các cánh tay chắn lại của một số Việt-Cộng khác. Ra cổng, trên đường Trần Hưng-Ðạo, Nha-Trang, tôi được cẩn-thận đưa lên một chiếc xe-hơi phía trước có cắm một lá cờ “Mặt Trận” khá lớn, trước mắt ngỡ-ngàng của nhiều người hàng-xóm tò-mò xúm xem.

TÔI đã sẵn-sàng chờ-đợi giờ phút này, là lúc bị bắt dẫn đi; nhưng nó xảy ra không giống những điều tưởng-tượng của tôi.

Chúng chở tôi đến biệt-thự của một y-sư đã bỏ chạy rồi, ở số 22 đường Bá-Ða-Lộc, Nha-Trang, đối-diện với khu cư-xá của các viên-chức Tòa Tổng-Lĩnh-Sứ Hoa-Kỳ tại Vùng II.

Viên chỉ-huy tự giới-thiệu là Hồng Kỳ, Trưởng Mũi Công Tác, Phân Khu Nam, Liên Khu V.

Thì ra y là một trong các đối-tượng điệp-báo của chúng tôi, mà các Sở Ðặc-Cảnh Tỉnh Bình-Ðịnh, Phú-Yên, và Khánh-Hòa đã nắm vững lý-lịch & hoạt-động và báo-cáo lên tôi; nay tôi mới thấy mặt y.

Y đưa tôi đi xem qua các phòng trong biệt-thự; rồi dẫn tôi vào buồng-ngủ chính, bảo tôi ở đó; trong lúc một số nam+nữ phần-tử khác: kẻ thì bưng cơm, bưng nước vào; kẻ thì giăng mùng, mở quạt-máy cho tôi.

Xong, y đem vào một máy thu-thanh, bảo tôi mở nghe bất-cứ Ðài nào; rồi y tự tay mở Ðài Sài-Gòn bảo tôi cứ nghe tự-nhiên.

Cuối cùng, y nói:

- Sáng mai sẽ làm việc. Chúc chú nghỉ khỏe. Và xin lỗi chú, vì nguyên tắc, chúng cháu phải khóa các cửa từ phía bên ngoài; cần gì thì chú cứ gọi, có các du kích trực suốt ngày đêm.

TIẾP-TỤC nghe toàn tin-tức bất-lợi, như tôi đã nghe ở nhà từ mấy tuần nay, làm sao mà tôi “nghỉ khỏe” cho được, khi đã thực-sự bị bắt, không biết số-phận của mình rồi sẽ ra sao...

Hy-vọng duy-nhất của tôi là được Trung & Thạch “Hòa-Hợp Hòa-Giải Dân-Tộc” xin giùm cho tôi “đền tội” ở gần đâu đây, để vợ+con tôi nhận xác, dứt-khoát biết chắc việc gì đã xảy ra rồi, khỏi phải lặn-lội đi tìm - mà chắc chi đã tìm ra, nhận ra - trong các mồ chôn tập-thể như các nạn-nhân vụ Tết Mậu-Thân2 ngoài Huế năm xưa.

______

2 Việt-Cộng thảm-sát & chôn sống tập-thể hơn 5 ngàn đồng-bào không vũ-khí, tại Huế, trong vụ “tổng-tấn-công” Tết Mậu-Thân, 1968.

TÔI càng nghĩ đến cái chết thì niềm uất-hận trong tôi càng tăng.

Căm-thù Cộng-Sản là chuyện đã đành; xót-thương vợ+con là việc đương-nhiên.

Nhưng, oán-trách “Quốc-Gia” thì mới là niềm bi-phẫn gặm nhấm tim+gan tôi, ám chiếm tâm-hồn tôi, đến nỗi mỗi lần nhớ đến những anh-hùng dân-tộc, những thắng-lợi vẻ-vang, dẫy đầy trong lịch-sử kháng-Cộng cứu-quốc mấy mươi năm qua, tôi lại thấy hiển-hiện lên trong đầu óc mình những việc làm xấu/ác hay dở/sai, những ý nghĩ thấp/hèn hay nông/non của một số ít nhân-vật mà vì thế-đứng của họ có ảnh-hưởng sâu rộng nên đã gây nhiều tai-hại cho vận-mệnh của mọi người...

*

SÁNG ngày hôm sau, 18-4-1975, Hồng Kỳ chờ tôi ăn điểm-tâm xong mới bảo tôi ra phòng-khách “làm việc” với y.

Không đợi y nói, tôi đã nói trước:

- Thưa ông, tôi đã sẵn-sàng chấp-nhận cái chết. Tôi nghĩ đó là hình-phạt tối-đa, dù ông có dùng những biện-pháp gì. Xin ông đừng tra-tấn tôi, mất công.

Y tỏ ra rất ngỡ-ngàng, lặng yên một lát, rồi trả lời tôi:

- Cháu hiểu tâm trạng của chú.

Chuyện đó, hôm nào chú sẽ nói thẳng với Ban Lãnh Ðạo Công An Liên Khu. Riêng cháu thì phải thi hành lệnh trên, chỉ yêu cầu chú cho biết một số tình hình để phục vụ cho nhu cầu tiến quân của Giải Phóng vào các Tỉnh phía trong, và cho công tác thanh lọc của Cách Mạng tại các vùng mới giải phóng xong.

Tôi liền thoái-thác:

- Ông đọc tờ khai lý-lịch của tôi nạp tại văn-phòng trình-diện, hẳn ông đã biết là tôi đi khỏi Vùng II từ cuối 1973. Tình-hình thay đổi hằng ngày, hằng giờ; những điều tôi biết hồi đó đâu còn có giá-trị gì đối với thực-trạng hôm nay. Tôi nghĩ ông nên hỏi các chứng-nhân làm việc ở đây vào những giây phút cuối-cùng thì tin-tức mới cập-nhật hơn.

Hồng Kỳ im-lặng nhìn tôi; tôi cũng nhìn thẳng vào y. Cuối cùng, y bảo tôi:

- Thôi, chú báo cáo về tổ chức và hoạt động của Cảnh Sát Ðặc Biệt nói riêng, và "Ngụy" nói chung, từ trước đến nay tại Vùng này, để cháu bổ túc tài liệu có được từ các nguồn khác, và của các Ty, để cháu dùng cho Phân Khu Nam của cháu trong này.

Y trao cho tôi một xấp giấy trắng và một cây bút bi xanh, rồi ra cửa sau.

SAU đó có mấy dãy nhà, và nhà bên cạnh là nơi y đặt văn-phòng.

Nhiều người mặc dân-phục, nhưng lưng có mang súng lục, dùng xe Honda-2-bánh chạy vào, chạy ra liên-miên, hẳn để báo-cáo và nhận công-tác. Còn người bị bắt thì chúng giải vào trong cư-xá cũ của Tòa Tổng-Lĩnh-Sứ Hoa-Kỳ ở bên kia đường.

Thời-gian tôi chưa bị bắt, tôi nghe anh+em ở đây nói là Việt-Cộng có hai cơ-quan Công-An, một phụ-trách Tỉnh Khánh-Hòa và một coi nhiều Tỉnh hơn. Công-An của Tỉnh thì đã chiếm-dụng trụ-sở cũ của Bộ Chỉ-Huy Cảnh-Lực và Sở Ðặc-Cảnh Tỉnh Khánh-Hòa rồi, còn Phân-Khu Nam của Liên-Khu V thì đóng ở đây.

Hôm tôi đến khai ở phòng trình-diện Nha-Trang, cán-bộ ở đó nói là, xét về chức-vụ của tôi, tôi sẽ “làm việc” với cấp cao hơn.

BỘ-ÐỘI Cộng-Sản Bắc-Việt lúc đó đã tiến vào quá Cam-Ranh, đang đụng quân ta trên đất Phan-Rang.

Hôm nay thì chúng đã vào sâu hơn...

GẦN trưa, Hồng-Ký tạt lui, thấy tôi chưa viết được gì, y bèn mở máy thu-thanh cho tôi nghe tin.

Phòng-tuyến Phan-Rang đã vỡ; và địch đã bắt sống được trung-tướng Nguyễn Vĩnh Nghi, là Tư-Lệnh Tiền-Phương của Quân-Ðoàn III/Quân-Khu III, chuẩn-tướng Phạm Ngọc Sang, là Tư-Lệnh Sư-Ðoàn 6 Không-Quân, đại-tá Nguyễn Thu Lương, là Lữ-Ðoàn-Trưởng Lữ-Ðoàn 2 Nhảy Dù, v.v... của Việt-Nam Cộng-Hòa.

RỒI hôm sau nữa, đến phiên của Tỉnh Bình-Thuận, vùng đất cuối cùng của Quân-Khu II...

ÐẦU óc quay cuồng, tôi nhắm mắt lại, và chỉ toàn thấy quanh mình thất-bại ê-chề, mất-mát tức-tưởi, tù-đày nhục-nhã, chết-chóc đau-thương...


http://nguoithathoc1959.multiply.com/journal/item/7321

No comments:

Post a Comment