Thursday, September 29, 2011

Tổng Thống Ngô Ðình Diệm

http://batkhuat.net/images/tt-ngodinhdiem-time.jpgNgô Đình Diệm vẫn là một người VN được nhiều người nhắc đến nhiều trong lịch sử VN hiện đại sau Hồ Chí Minh. Khen ông cũng nhiều, chê/ chửi/ chống ông cũng không ít. Người này coi ông như "lãnh tụ anh minh", "người có tinh thần dân tộc", người nọ coi ông như "độc tài","gia đình trị". Sách báo quốc tế cũng nói khá nhiều về người VN này. Lịch sử sẽ phán xét.
Tiểu sử: Ngô Đình Diệm(Hán tự:吳廷琰) sinh ngày 3-1-1901 tại Huế, tên thánh của ông là Jean Baptiste (Gioan Baotixita).

Tổng Thống Ngô Ðình Diệm, là con trai thứ 3 của một gia đình gồm 6 trai 2 gái. Hai người anh của Cụ là Ông Ngô Ðình Khôi bị Việt-Minh hạ sát năm 1945 đang khi làm Tổng Ðốc tỉnh Quảng Nam và ÐTGM Ngô Ðình Thục. Ba người em là các ông Ngô Ðình Nhu, Ngô Ðình Luyện và Ngô Ðình Cẩn; 2 người em gái là bà Ấm và bà cả Lễ.

Thân sinh TT Diệm là cụ cố Ngô Ðình Khả, nguyên quán làng Ðại Phong, quận Lệ Thủy Tỉnh Quảng Bình. Cụ cố là vị khoa bảng nổi danh, đã từng làm Thượng Thư, thầy dậy và cố vấn của vua Thành Thái.

Vì được rèn luyện trong một gia đình Nho Giáo, dưới sự hướng dẫn của cụ cố thân sinh và người đỡ đầu là Thượng Thư Bộ Lại Nguyễn Hữu Bài; trong tinh thần Thiên Chúa Giáo hợp với triết thuyết Khổng Mạnh, nên cụ Diệm đã hấp thụ được những cá tính đặc biệt: cương nghị, thanh liêm, dũng cảm, chính trực, quảng đại, bất khuất, hy sinh quên mình vì dân vì nươc, sống cho đồng bào và chết cho tổ quốc.

Vừa trên 20 tuổi, đối với đại đa số quần chúng là năm vừa chập chững bước chân vào đời, thì cũng vào tuổi đó, Cụ đã được triều đình bổ nhiệm làm Tri phủ Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị.

Năm 30 tuổi, cụ đã được thăng nhiệm làm Tổng Ðốc các tỉnh Phan-Rang rồi Phan Thiết. Nổi danh như cồn vì đã biết sử dụng uy quyền của mình để bênh vực quyền lợi của dân chúng nhất là những người nghèo khổ, đã can đảm có những hành động chống lại việc sưu thuế bóc lột của thực dân Pháp.

Năm 32 tuổi, Cụ lại được triều đình mời giữ chức vụ Thượng Thư Bộ Lai kiêm thư ký Ủy Ban Hỗn Hợp Việt Pháp gồm các Bộ Trưởng và các viên chức cao cấp người Pháp. Ủy Ban này có nhiệm vụ nghiên cứu và thi hành các hiệp ước giúp cải thiện đời sống dân chúng.

Nhưng sau 4 tháng, Cụ từ nhiệm vì nhận thấy dã tâm của thực dân không bao giờ muốn thi hành đúng đắn hiệp ước lại còn trắng trợn bác bỏ các đề nghị hữu lý của Cụ và còn tăng gia những hành động đàn áp các tổ chức có khuynh hướng mới.

Gia đình: Cha của ông là Ngô Đình Khả, quê quán ở Quảng Bình làm Thượng thưThành Thái và mẹ là bà Phạm Thị Thân. Ông là con thứ ba trong gia đình với hai người anh đầu là Ngô Đình KhôiNgô Đình Thục. Ngô Đình Khôi là cựu Tổng đốc Quảng Nam, bị tiếng tham nhũng, chết năm 1945. Trong Cách mạng tháng Tám, Ngô Đình Khôi bị Việt Minh bắt giữ và xử tử. Cùng bị bắt giữ đợt này là Phạm Quỳnh và Ngô Đình Huân, con trai Ngô Đình Khôi và là cựu Thanh tra Lao động trong chính phủ bảo hộ của Pháp. Sau khi bị xử tử, xác của Ngô Đình Khôi và Phạm Quỳnh được chôn chung trong một hố. Ông còn năm người em là Ngô Đình Nhu, Ngô Đình Cẩn, Ngô Đình Luyện, Ngô Thị Hiệp và Ngô Thị Giáo - mẹ của Hồng y Nguyễn Văn Thuận. triều đình Huế kiêm Phụ Đạo Đại Thần và cũng là cố vấn của vua

Trong cuộc đời chính khách của mình, ông là người không lập gia đình, không cưới vợ và sinh con

http://farm3.static.flickr.com/2562/3807647726_cf15ee2875.jpgThời trẻ

  • Từ lúc còn nhỏ, ông được Nguyễn Hữu Bài - quan phụ chính trong triều dạy dỗ và coi như con đẻ, từ năm 15 tuổi ông vào học trường dòng với dự định sau này làm tu sĩ, nhưng không chịu nỗi kỷ luật khắt khe trong trường dòng, ông đã bỏ trường dòng ra xin học vào trường quốc học Huế
  • Từ năm 1919 ông ra Hà Nội học trường Hậu Bổ (trường hành chính) và tốt nghiệp 2 năm sau đó năm 1921
Giai đoạn làm quan triều Nguyễn
  • Năm 1923, ông được bổ nhiệm làm Tri huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên, rồi Tri phủ Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị.
  • Năm 1929, ông được bổ nhiệm làm Tuần vũ tỉnh Bình Thuận.
  • Năm 1932, ông được bổ nhiệm Thượng thư Bộ Lại trong triều đình vua Bảo Đại. Trong thời gian này ông được bầu làm Tổng thư ký uỷ ban cải cách, ông đề xướng hai điều với chính quyền bảo bộ Pháp: một là thống nhất TrungBắc Kỳ theo Hòa ước Giáp Thân 1884 và hai là cho Viện Nhân dân Đại biểu Trung Kỳ được quyền tự do thảo luận các vấn đề. Việc thống nhất cốt sẽ buộc chính quyền Bảo hộ Pháp bãi bỏ khâm sứ Trung Kỳ và thống sứ Bắc Kỳ và thu về thành một viên tổng trú sứ (résident général) ở Huế mà thôi. Việc thứ hai là để canh tân lối cai trị cũ. Vì không thấy được chấp nhận, ông từ chức ngày 12.07.1933
Hoạt động chính trị chống Pháp
  • Năm 1933, ông vào Sài Gòn cùng với Nguyễn Phan Long, Lê Văn Kim,...tổ chức phong trào của trí thức Nam và Trung Kỳ vận động chính giới Pháp tại Paris để đòi truất phế quan Toàn Quyền Đông Dương Pierre Pasquier. Việc không thành, ông bị Pasquier trục xuất khỏi Huế và chỉ định cư trú tại Quảng Bình. Tuy nhiên, sau cái chết của Pasquier năm 1934, viên toàn quyền mới Eugene René Robin đã phục hồi tước vị hàm cho ông và ông về dạy tại trường Thiên Hựu do anh trai Ngô Đình Thục làm Giám học[4]
  • Thời kỳ 1934-1944, Ngô Đình Diệm tham gia thành lập và lãnh đạo đảng Đại Việt Phục Hưng chống Pháp với thành phần đảng viên nòng cốt là quan lại, linh mục, cảnh sát, và lính khố xanh bản xứ tại Trung Kỳ. Tháng 7 năm 1944, mật thám Pháp phá vỡ tổ chức này, Ngô Đình Diệm trốn vào Sài Gòn với sự giúp đỡ của hiến binh Nhật.[5]
  • Tại Sài Gòn, ông đã tham gia thành lập Uỷ Ban Kiến Quốc với mục tiêu phò tá hoàng thân Cường Để, tuy nhiên Nhật không cho Cường Để về nước để lập làm vua mà vẫn tiếp tục sử dụng Bảo Đại để lập nên một chính quyền thân Nhật với quốc hiệu mới là đế quốc Việt Nam. Bảo Đại đã từng mời ông làm thủ tướng trong chính quyền mới nhưng không thành mà thay vào đó là Trần Trọng Kim
Trong thời kỳ Chiến tranh Đông Dương

http://baovecovang.files.wordpress.com/2009/09/ngo_ongcan.jpg

Sau khi Bảo Đại thoái vị, Việt Minh dành chính quyền, ông cùng với một số người thân trong gia đình bị Việt Minh bắt ở Tuy Hoà - Phú Yên, chỉ có hai người em Ngô Đình Nhu và Ngô Đình Cẩn chạy thoát. Người anh Ngô Đình Khôi bị chính quyền Việt Minh bắt và xử tử, còn ông bị bắt đem ra Bắc và giam giữ tại tỉnh miền núi Tuyên Quang nhưng được trả tự do vào năm 1946[7].

Năm 1948, khi cựu hoàng Bảo Đại đang sống lưu vong ở Hồng Kông đang điều đình với Pháp để ký hiệp định Pháp-Việt, ông đã sang Hồng Kông thuyết phục Bảo Đại kiên định trong vấn đề độc lập dân tộc nhưng sau đó thấy Bảo Đại ký hiệp định với Pháp ở Hạ Long cho Việt Nam một sự độc lập giả hiệu ông đã thất vọng và quay về Huế sống với người em Ngô Đình Cẩn

Năm 1950, ông theo người anh trai là giám mục Ngô Đình Thục đi Vatican, sau đó sang Nhật gặp hoàng thân Cường Để đang sống ở đây, và sau đó ông sang Mỹ sống tại đây trong hai năm, phần lớn thời gian lưu trú tại các trường dòng Lakewood ở New Jersey và trường dòng Ossining ở New York, đây cũng là thời kỳ ông gặp hồng y Spellman, người đã đóng một vai trò rất quan trọng trong việc tạo nên sự nghiệp chính trị của ông sau này

Thủ tướng dưới quyền Bảo Đại

http://perspective.usherbrooke.ca/bilan/contributions/112bca120071025154542542.jpgSau hiệp định Genève, Việt Nam tạm thời phân chia làm hai miền, tại miền Nam do lực lượng Quốc gia Việt NamLiên hiệp Pháp kiểm soát, ông chính thức được quốc trưởng Bảo Đại bổ nhiệm làm thủ tướng vào ngày 16 tháng 6 năm 1954.

Trong thời kỳ đầu làm thủ tướng quốc gia Việt Nam, thực tế ông không có quyền lực đối với các lực lượng quân đội, cảnh sát với những người đứng đầu là Nguyễn Văn HinhLê Văn Viễn. Hai lực lượng này liên minh với nhau nhằm chống lại ông, ông cũng không kiểm soát được bộ máy quan chức dân sự vì các viên chức Pháp đang còn nhiều, nắm giữ các vị trí then chốt. Nền tài chính vẫn do ngân hàng Đông Dương mà phía sau là chính phủ Pháp quản lý. Thực tế trong gia đoạn đầu cầm quyền thủ tướng ông không có quyền hành.

Sự kiện quan trọng trong giai đoạn này là việc tổng thống Hoa Kỳ - Eisenhower gửi công hàm chính thức cho thủ tướng Ngô Đình Diệm cho biết từ đây chính phủ Việt Nam nhận viện trợ trực tiếp của chính phủ Hoa Kỳ chứ không qua nhà đương cục Pháp như trước.

Ngô Đình Diệm cho rằng cơ hội duy nhất cho quốc gia Việt Nam đứng vững được là phải giành được độc lập thực sự, và ông nhất định thực hiện mục tiêu đó một cách dũng cảm và kiên trì hiếm có. Chỉ sau vài tháng nắm quyền thủ tướng, tháng 12 năm 1954 ông bãi bỏ quyền phát hành giấy bạc của ngân hàng Đông Dương, từ nay giấy bạc lưu hành trên lãnh thổ miền Nam sẽ do ngân hàng Việt Nam mới thành lập phát hành và cục hối đoái giao cho chính phủ Việt Nam quản lý, tiếp đó ông yêu cầu chính phủ Pháp giao lại cho Việt Nam trong thời hạn năm tháng việc kiểm soát quân đội quốc gia lâu nay vẫn thuộc bộ chỉ huy Pháp.

Tổng thống Việt Nam Cộng Hoà

Tại miền Nam, từ 1954-1955, với cương vị thủ tướng, ông đã dẹp yên và thu phục các lực lượng Bình Xuyên, Hoà Hảo, Cao Đài vốn là các tổ chức do Pháp đứng sau hỗ trợ nhằm chống lại ông, tiếp đó là cuộc trưng cầu dân ý miền Nam Việt Nam, 1955 đã chấm dứt chính thể quốc gia Việt Nam - quốc trưởng Bảo Đại bị phế truất. Chính thể mới Việt Nam Cộng Hoà được thành lập vào ngày 26 tháng 10 năm 1955 và ông được bầu làm Tổng thống vào ngày 23 tháng 10 năm 1955. Hai năm sau, 1957 ông có chuyến viếng thăm chính thức Hoa Kỳ lần đầu tiên với cương vị tổng thống của Việt Nam Cộng Hoà.

Sau khi lên làm tổng thống, ông giữ mọi quyền cai quản đất nước với người em Ngô Đình Nhu làm cố vấn và cả hai người đều phỏng theo các phương pháp cộng sản để chống lại chính quyền cộng sản ở miền Bắc. Trong khi chế độ cộng sản miền Bắc được xây dựng trên học thuyết cộng sản thì hai anh em xây dựng chủ nghĩa nhân vị như là một học thuyết nhà nước ở nam Việt Nam với chính đảng Cần lao Nhân vị, loại trừ triệt để sự đối lập chính trị ở miền Nam bằng những chiến dịch tố cáo cộng sản nằm vùng. Hoa Kỳ không phản đối việc này với lý do trong một xã hội chia rẽ Nam Việt Nam đứng trước nguy cơ lật đổ của cộng sản nên Diệm phải có chính đảng riêng của mình, có chính phủ mạnh để đối phó với tình hình và Hoa Kỳ đã ủng hộ Ngô Đình Diệm thiết lập một chế độ cực quyền.

http://hitchcock.itc.virginia.edu/ViewingAmerica/roundtables/roundtable8/images/diem.jpgChính sách ủng hộ này của Hoa Kỳ tạo mầm mống cho hậu quả nghiêm trọng trong nền chính trị miền Nam. Tướng Edward Lansdale - phụ trách chiến tranh tâm lý ở miền Nam lúc này đã nhìn thấy nguy cơ trong chính sách của Ngô Đình Diệm, ông tìm cách thuyết phục đại sứ Hoa Kỳ Frederick Nolting ngăn cản Diệm - Nhu và không nên xây dựng một nhà nước cực quyền ở Nam Việt Nam vì chính sách của Diệm sẽ đưa đến tình trạng chia rẽ những người có tinh thần dân tộc. Với việc loại trừ các đối thủ chính trị đã tạo nên một khoảng trống chính trị ở Nam Việt Nam khiến Hoa Kỳ không có sự lựa chọn nào khác ngoài chính quyền hiện hữu.

Sự kiện Phật Đản, 1963 xảy ra là một trong những nguyên nhân chính dẫn tới chính phủ Kennedy bỏ rơi Ngô Đình Diệm và khuyến khích đảo chính để lật đổ chế độ độc tài đã đưa miền Nam đến tình trạng hỗn loạn. Cuộc đảo chính diễn ra vào lúc 11h30 ngày 01 tháng 11 năm 1963, lực lượng đảo chính đã chiếm dinh tổng thống, ông và Ngô Đình Nhu trốn ra khỏi dinh và về lánh nạn tại nhà thờ Cha Tam - Chợ Lớn.

Cái chết và mai táng

Thi thể Ngô Đình Diệm sau chiếc APC M-113, đã bị bắn chết trên đường đến tổng hình dinh quân đội.

Sau khi bị lật đổ bởi các tướng lĩnh dưới quyền ngày 1 tháng 11 năm 1963, ông cùng em trai - cố vấn Ngô Đình Nhu lánh nạn tại nhà thờ Cha Tam, sáng ngày hôm sau ông cùng với ông Nhu gọi điện và ra hàng lượng đảo chính. Trên đường bị chở về Bộ Tổng tham mưu, ông và Ngô Đình Nhu bị một sĩ quan trong lực lượng đảo chính (Có nhiều tài liệu cho rằng Đại úy Nguyễn Văn Nhung theo lệnh của Tướng Dương Văn Minh) sát hại và đến nay nguyên nhân vụ ám sát này vẫn chưa rõ là do tư thù hay do lệnh của Hoa Kỳ).

Hai ông được chôn ở nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi (vị trí ở đường Điện Biên Phủ cắt với đường Hai Bà Trưng, ngày nay là Công viên Lê Văn Tám). Áo quan của Ngô Đình Diệm hình hộp, áo quan của Ngô Đình Nhu có nắp tròn. Một nhân chứng thời kỳ này giải thích vì người thân của hai ông đi mua vội quan tài nên chỉ mua được một chiếc hạng tốt dành cho ông Diệm, còn chiếc hạng vừa dành cho ông Nhu. Trong khoảng thập niên 1980, do nhu cầu phát triển đô thị trong nội đô Sài Gòn, nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi được di dời về nghĩa trang Lái Thiêu (nghĩa trang nhân dân số 6B) ngày nay. Mộ hai ông nằm hai bên mộ thân mẫu, bà Phạm Thị Thân, ngoài ra, mộ ông Ngô Đình Cẩn cũng được dời về gần đó. Mộ hai ông ban đầu không có tên mà chỉ ghi tên thánh và "Huynh" (chỉ ông Diệm) hoặc "Đệ" (ông Nhu), sau đó, theo đề nghị của một số người, mộ đã được đề đích danh.

http://l0ng3ta.files.wordpress.com/2007/03/bango_4.JPGCâu nói

Đánh giá

Tướng Cao Văn Viên, trong một cuộc phỏng vấn lúc cuối đời, đã có một số nhận xét về Nguyễn Văn Thiệu cũng như so sánh giữa Nguyễn Văn Thiệu và Ngô Đình Diệm, sau đây lược trích đoạn nhận xét về Ngô Đình Diệm:"...ông Ngô Đình Diệm chỉ là một symbol, một biểu tượng mà thôi, ông không thể làm gì nếu không có cố vấn Nhu bên cạnh... Ông Nhu chống Mỹ hơn chống Pháp. TT Diệm thì trái lại. Rốt cuộc, ông Diệm trở thành nạn nhân của Mỹ. TT Diệm cai trị nước như một quan lại của thời quân chủ, ông bẩm sinh chống cộng, tự ban cho mình 'thiên mạng' cứu nước. TT Diệm tự hào về dân tộc, tự đại về gia đình, thích độc thoại, không chấp nhận dễ dàng sự chỉ trích. Ông chủ trương 'tiết trực tâm hư' nhưng bị ảnh hưởng nặng của gia đình. TT Diệm dễ tin người xu nịnh nên dễ bị phản trắc,...

Ngô Đình Diệm từng sống ở Hoa Kỳ một thời gian, có quan hệ với một số nhân vật trong chính giới Mỹ, được Hoa Kỳ ủng hộ về Việt Nam làm Thủ tướng trong chính phủ Bảo Đại (sau Hiệp định Genève) rồi Tổng thống Đệ nhất Cộng hòa Việt Nam. Người có ảnh hưởng rất lớn trong việc đưa ông Diệm về chấp chính là Hồng y: Spellman. John Cooney (1985) đã viết

"Tuy rằng không có mấy người biết điều này, Hồng y Spellman đã đóng một vai trò rất quan trọng trong việc tạo nên sự nghiệp chính trị của một người đã ở trong một Trường Dòng ở New York trước đây, vừa trở thành Thủ tướng của miền Nam Việt Nam: Ngô Đình Diệm. Ở Diệm, Spellman nhìn thấy những đặc điểm mà ông ta muốn có trong mọi người lãnh đạo: Công giáo nồng nhiệt và chống Cộng điên cuồng."

Một số người cho rằng Ngô Đình Diệm là người theo chủ nghĩa dân tộc. Song tác giả Dennis Bloodworth (1970) nhận xét rằng:

"Cho tới năm 1963 mật vụ của Diệm đã bắt giữ hoặc đẩy vào tay những kẻ thù hầu như mọi người quốc gia có tên tuổi đã chiến đấu cho tự do của đất nước trong 20 năm trước. Ông ta và gia đình mình đã đàn áp mọi đối lập, chất đầy nhà tù, bịt miệng báo chí, gian lận bầu cử, và bám vào quyền lực."

Có ý kiến cho rằng Ngô Đình Diệm đã bỏ lỡ cơ hội thống nhất đất nước khi từ chối hiệp thương, không tiến hành tổng tuyển cử và giết hại rất nhiều người thân cộng. Tuy nhiên theo Richard J. Barnet nhận xét:

Điều quan tâm chính của chính quyền Diệm là sự an toàn của chính quyền. Chính quyền Diệm sợ rằng cuộc bầu cử dự định tổ chức vào tháng 7, 1956 đưa đến sự thắng lợi của Hồ Chí Minh và chấm dứt quyền lực của những chính trị gia không Cộng sản

Ngô Đình Diệm chống lại sự can thiệp quân sự của Mỹ vào Việt Nam. Ông nói:

"Nếu quý vị mang Quân đội Mỹ vào Việt Nam, tôi phải giải thích thế nào đây với dân tộc tôi? Với người dân Việt, hình ảnh hãi hùng của Quân đội Viễn chinh Pháp còn hằn sâu trong tâm trí họ. Sự can thiệp của bất cứ quân đội ngoại quốc nào vào Việt Nam cũng đem lại sự bất lợi cho Việt Nam"

Có những nguồn tin rằng vào nửa cuối năm 1963, Ngô Đình Diệm bắt đầu xem xét khả năng bắt tay với Bắc Việt - Hồ Chí Minh đề xuất khả năng thành lập chính quyền liên bang(Theo wikipedia).

http://ngothelinh.150m.com/NgoFamily.jpgLÝ DO CUỘC ĐẢO CHÁNH NGÀY 1-11-1963.

Cuộc đảo chánh lật đổ chính phủ Ngô Đình Diệm ngày 1-11-1963 có thể bắt nguồn từ các lý do chính sau đây: tập trung quyền lực, vấn đề tôn giáo và sự can thiệp của Hoa Kỳ.

Soạn: AM 519797 gửi đến 996 để nhận ảnh này Ba ngôi mộ của gia đình họ Ngô nằm thẳng hàng. Mộ bà Phạm Thị Thân nằm giữa, mộ hai ông Diệm, Nhu hai bên.

1.- TẬP TRUNG QUYỀN LỰC

Sau khi cầm quyền ngày 7-7-1954, chính phủ của thủ tướng Diệm ổn định tình hình, đánh các đảng phái chính trị ở miền Trung, dẹp vụ Bình Xuyên, loại lực lượng võ trang các giáo phái ở miền Nam, tổ chức Trưng cầu dân ý ngày 23-10-1955, truất phế Bảo Đại, tự tuyên bố thành lập nền Cộng Hòa và tự tuyên bố trở thành tổng thống đầu tiên của Việt Nam Cộng Hòa.(1)

Tuy nền Cộng hòa được phân nhiệm rõ ràng, chính phủ trung ương gồm nhiều bộ trưởng điều hành việc nước, đồng thời tản quyền cho các tòa đại biểu tại các vùng (Trung nguyên Trung phần, Cao nguyên Trung phần, Miền Đông Nam phần, Miền Tây Nam phần), nhưng ngoài tổng thống Diệm, quyền hành nằm trong tay một số người là các ông bà Ngô Đình Nhu, Ngô Đình Cẩn, và một số ít người thân tín. Tổng giám mục Ngô Đình Thục không chính thức giữ một chức vụ hành chánh hay chính trị nào, nhưng ảnh hưởng rất lớn đến tổng thống Diệm, đến các bộ trưởng trong chính phủ và các viên chức địa phương. Lúc đó, dư luận cho rằng tổng thống Diệm chủ trương độc tài và gia đình trị.

Vì vậy, chính phủ Diệm càng ngày càng bị phản đối, nổi bật nhất là các vụ: 1) Ngày 26-4-1960, 18 chính khách tên tuổi trong Uỷ Ban Tiến Bộ Và Tự Do họp tại khách sạn Caravelle ở Sài Gòn, ra kháng thư công khai phản đối chế độ Ngô Đình Diệm độc tài. 2) Ngày 11-11-1960 của nhóm Nguyễn Chánh Thi, Vương Văn Đông đảo chánh hụt. 3) Ngày 27-2-1962, hai phi công Nguyễn Văn Cử và Phạm Phú Quốc ném bom dinh Độc Lập.

Về phía chính phủ, tổng thống Diệm càng ngày càng tập trung quyền lực, chỉ tin dùng những người trong gia đình và trong đảng Cần Lao, không mở rộng thành phần chính phủ. Chính phủ càng ngày càng trở nên cứng rắn với những thành phần không đồng chính kiến. Ngày 5-7-1963, Tòa án Quân sự đặc biệt nhóm họp tại Sài Gòn, bắt đầu xét xử 19 quân nhân và 34 nhân sĩ liên can đến cuộc đảo chánh ngày 11-11-1960. Kết quả, ngày 11-7-1963, tòa tuyên 20 án cấm cố và 14 trường hợp tha bổng. Hôm sau, ngày 12-7-1963 tòa xử các quân nhân và nhân sĩ vắng mặt. Trong số những người được tha bổng, có nhà văn Nhất Linh Nguyễn Tường Tam.

Tuy không bị bắt giam và chỉ bị gọi ra tòa xét xử, Nguyễn Tường Tam uống thuốc độc tự tử ngày 7-7-1963. Trước khi quyên sinh, Nhất Linh đã để lại những dòng tuyệt mệnh như sau: “Đời tôi để lịch sử xử, tôi không chịu để ai xử cả. Sự bắt bớ và xử tội tất cả các phần tử Đối lập Quốc Gia là một tội nặng sẽ làm cho nước mất về tay Cộng sản. Tôi chống đối sự đó và tự hủy mình cũng như Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu để cảnh cáo những người chà đạp mọi thứ tự do.”(1)

Vụ tự tử của Nguyễn Tường Tam và vụ tự thiêu của thượng tọa Thích Quảng Đức ngày 11-6-1963 (trình bày phía dưới), mở đầu một loạt tự thiêu của các tăng ni khác, là những phản kháng công khai mạnh mẽ nhất đối với chế độ của tổng thống Diệm.

http://files.myopera.com/suthatblog/blog/Thich-Quang-Duc-Colour.jpg2.- DỤ SỐ 10 VÀ VẤN ĐỀ TÔN GIÁO

Chính sách tôn giáo của chính phủ Diệm dựa trên Dụ số 10 do chính phủ Trần Văn Hữu ban hành ngày 6-8-1950 dưới thời quốc trưởng Bảo Đại. Dụ nầy ấn định quy chế các hiệp hội, gồm có 5 chương, 45 điều. Điều 1 của dụ nầy sắp các tôn giáo, trừ Ky-Tô giáo, vào loại hiệp hội thường (như hội thể thao, hội đua ngựa...); trong khi điều 45 của dụ nầy cho biết sẽ ấn định quy chế đặc biệt cho các hội truyền đạo Ky-Tô và các hội Hoa kiều.(2) Dụ nầy cũng quy định các tôn giáo và hội đoàn chỉ được treo cờ trong khuôn viên nơi thờ phượng, hoặc trụ sở hội đoàn mà thôi.

Dụ nầy rõ ràng không công bằng giữa các tôn giáo. Ngoài đạo Thờ cúng ông bà, người Việt theo các đạo chính: Phật giáo, Nho giáo, Lão giáo, Ky-Tô giáo, Cao Đài giáo và Phật giáo Hòa Hảo (PGHH). Trong các đạo trên đây, tổng số tín đồ Phật giáo, Nho giáo, Lão giáo, Cao Đài giáo và PGHH chiếm tỷ lệ rất lớn trên tổng dân số Việt Nam, có thể lên đến trên 80% dân số, thì bị xếp như các hiệp hội, trong khi Ky-Tô giáo với số lượng tín đồ ít, thì được hứa hẹn một quy chế đặc biệt. Dầu vậy, do sự uyển chuyển của các nhà cầm quyền thời quốc trưởng Bảo Đại, dụ nầy không được thi hành, nên chưa xảy ra cuộc chống đối mạnh mẽ nào.

Cần chú ý là sau dụ số 10 ngày 6-8-1950 cho đến đầu thập niên 60, tình hình tôn giáo Việt Nam thay đổi rất nhiều, nhưng dụ số 10 ngày 6-8-1950 vẫn không được điều chỉnh. Càng ngày hệ thống tổ chức tín đồ các đạo Phật giáo, Cao Đài giáo và PGHH càng có quy củ. Riêng Phật giáo, ngày 6-5-1951, các hội Phật học trên toàn cõi Việt Nam họp tại chùa Từ Đàm (Huế), thành lập Tổng Hội Phật giáo Việt Nam, thông qua bản điều lệ, nội quy, bầu ban quản trị và suy cử hòa thượng Thích Tịnh Khiết làm tổng hội chủ.

Trong thời gian đầu của chế độ VNCH, dụ nầy hầu như không được áp dụng. Ngày 6-5-1963, hai ngày trước lễ Phật đản, đổng lý văn phòng Phủ tổng thống gởi công điện yêu cầu các địa phương không được treo cờ ngoài khuôn viên của chùa,(3) theo đúng tinh thần dụ số 10 ngày 6-8-1950. Công điện nầy chẳng những làm cho giới Phật tử bất bình, mà còn làm cho dân chúng nói chung, dù không phải là tín đồ Phật giáo, cũng không bằng lòng, vì trước đó trong các dịp lễ Ky-Tô giáo, cờ Tòa thánh Vatican (màu vàng và trắng) được treo tự do mà không bị chính phủ cấm đoán.

Trong các đạo trên đây, trên lãnh thổ VNCH, Cao Đài giáo và PGHH phát triển mạnh ở các tỉnh miền Nam, thuộc đồng bằng sông Cửu Long; Phật giáo thịnh hành ở các tỉnh miền bắc VNCH, nhất là Huế, nơi có nhiều chùa được thành lập từ thế kỷ 17 trở đi.

Về phía Ky-Tô giáo, lúc bấy giờ tổng giám mục địa phận Huế là Ngô Đình Thục, anh của tổng thống Diệm. Ngô Đình Thục thụ phong giám mục tại Huế năm 1938, được cử làm giám mục đầu tiên địa phận Vĩnh Long. Năm 1961, Ngô Đình Thục được đổi ra làm tổng giám mục tổng giáo phận Huế. Tính đến năm 1963, ông Thục được thâm niên giám mục 25 năm.

Lúc đó dư luận cho rằng nhân dịp lễ ngân khánh (25 năm) của mình, tổng giám mục Thục vận động để được Tòa thánh La Mã phong chức hồng y.(4) Dư luận nầy còn thêm rằng ông Thục trình với Tòa thánh Vatican rằng số tín đồ trong tổng giáo phận Huế, lúc đó gồm hai tỉnh Thừa Thiên và Quảng Trị, do ông cai quản chiếm 80% dân số khu vực. Tháng 5-1963, Tòa thánh cử một phái đoàn điều tra đến Huế, thì dân chúng Phật tử đang treo cờ mừng Phật đản. Kết luận sơ khởi của phái đoàn là chỉ có 20% dân chúng địa phận Huế theo Ky-Tô giáo chứ không phải 80%.(5) Vào ngày 7-5-1963, sau khi thăm viếng nhà thờ La Vang (Quảng Trị) và trở về Huế, tổng giám mục Thục nhận thấy dọc đường dân chúng treo nhiều cờ Phật giáo để đón mừng Phật đản (8-5-1963). Tổng giám mục Thục cho mời viên đại biểu chính phủ tại Trung nguyên Trung phần là Hồ Đắc Khương đến Tòa tổng giám mục Huế khiển trách là tại sao tòa đại biểu chính phủ lại để tín đồ Phật giáo treo cờ ngoài đường, trái với quy định của chính phủ vì quy định nầy chỉ cho phép treo cờ trong khuôn viên của chùa mà thôi.

Hồ Đắc Khương gởi khẩn điện về Sài Gòn xin ý kiến. Điện văn trả lời của phủ tổng thống “xác nhận rằng nghị định cấm treo cờ tôn giáo hay đảng phái bên ngoài khuôn viên và trụ sở vẫn còn giá trị”. Dựa vào công điện nầy, Hồ Đắc Khương “ra lệnh cho chính quyền địa phương tại miền Trung phải triệt hạ cờ Phật giáo”.(CVL, sđd. tr 229.) Từ đó, bùng nổ cuộc phản đối.

Tối Phật đản 8-5-1963, khi dân chúng tụ tập ở Đài phát thanh Huế để theo dõi buổi tường thuật Lễ Phật đản ngày hôm đó, một tiếng nổ bùng lên, làm thiệt mạng 8 người và bị thương 15 người. Tin tức về vụ nổ được lan truyền nhanh chóng. Người ta không biết đích xác ai gây ra vụ nổ. Chính quyền đổ lỗi cho khủng bố Việt Cộng. Dân chúng đổ lỗi cho chính quyền Huế ném chất nổ để giải tán đồng bào Phật tử.(6) Dù ai gây ra vụ nổ, vụ nổ đã làm cho 8 người thiệt mạng. Tức thì, làn sóng phản đối chính quyền càng ngày càng dâng cao và càng trở nên bạo động.

Trước hết, ngày 9-5-1963, tại Sài Gòn, Ủy Ban Liên Phái bảo Vệ Phật Giáo được thành lập, do thượng thọa Thích Tâm Châu làm chủ tịch, Mai Thọ Truyền làm tổng thư ký, văn phòng đặt tại chùa Xá Lợi, trên đường Bà Huyện Thanh Quan. Ủy ban gồm 11 hội đoàn Phật giáo.

Sau lễ Phật đản, Hồ Đắc Khương, đại biểu chính phủ ở Trung nguyên Trung phần bị thay thế ngày 1-6-1963. Người được bổ nhiệm đến thay là Nguyễn Xuân Khương, nguyên tổng giám đốc Điền địa. Nguyễn Văn Đẳng tỉnh trưởng tỉnh Thừa Thiên, cùng thiếu tá Đặng Sĩ, phó tỉnh trưởng nội an tỉnh Thừa Thiên, bị triệu về đợi lệnh tại bộ Nội vụ ở Sài Gòn. (Đoàn Thêm, sđd. tr.349.) Một quan chức khác cũng bị thay thế là thiếu tướng Lê Văn Nghiêm, tư lệnh quân đoàn I, được thay ngày 16-9-1963 bằng một đại tá mới thăng thiếu tướng là Đỗ Cao Trí. Trong khi đó, Ngày 4-6-1963, tổng thống Diệm thành lập Ủy ban Liên bộ của chính phủ để nghiên cứu những yêu cầu của Phật giáo, do phó tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ đứng đầu.

Ngày 11-6-1963, tại thủ đô Sài Gòn, thượng tọa Thích Quảng Đức tự thiêu ở ngã tư đường Phan Đình Phùng và Lê Văn Duyệt, để phản đối chính phủ. Hình ảnh Thích Quảng Đức tự thiêu trong ngọn lửa bập bùng làm rúng động toàn thể dân chúng Việt Nam và dân chúng thế giới. Sau các cuộc họp giữa Uỷ ban Liên bộ của chính phủ và phái đoàn Uỷ ban Liên phái Phật giáo do thượng tọa Thích Thiện Minh cầm đầu từ 14-6 đến 16-6-1963 , chính phủ Diệm nhượng bộ, đồng ý để Phật tử tự do treo cờ và tạm ngưng áp dụng sắc dụ số 10 ngày 6-8-1950.

Ngày 9 và 29-7-1963, bộ Nội vụ liên tiếp ra hai nghị định công nhận cờ Phật giáo và việc treo cờ Phật giáo. Tuy nhiên, một mặt những cuộc tập họp về phía Phật giáo ở Sài Gòn và ở các địa phương chẳng những bị cản trở, mà một số tín đồ còn bị bắt, một mặt chính phủ tổ chức những hội đoàn thân chính phủ, lên tiếng phản đối Phật giáo. Vì vậy, mâu thuẫn giữa hai bên vẫn chưa được giải quyết. Chắc chắn mâu thuẫn nầy còn bị Việt Cộng lợi dụng nhằm đào sâu hố chia rẽ giữa chính quyền với dân chúng, và giữa các tôn giáo với nhau.
Ngày 1-8-1963, trả lời phỏng vấn của đài CBS (Columbia Broadcasting System, Hoa Kỳ), bà Ngô Đình Nhu tố cáo các lãnh tụ Phật giáo đang mưu toan lật đổ chính phủ và tự thiêu chỉ là việc “nướng thịt sư” (barbecue a bonze).(CĐ, nb I-C, sđd. tr. 312.) Tiếp theo đó, ngày 3-8-1963, khi phát biểu tại lễ mãn khóa huấn luyện bán quân sự của đoàn Thanh Nữ Cộng Hòa, bà Nhu lên án những vụ tranh đấu về tôn giáo. Lời lẽ của bà Nhu được thân phụ bà là Trần Văn Chương, đại sứ Việt Nam tại Hoa Kỳ, gọi là “thiếu lễ độ” đối với Phật giáo.(Đoàn Thêm, tr. 357.)

Những ý kiến như trên chẳng những làm cho mối liên lạc giữa chính phủ Diệm với tín đồ Phật giáo càng thêm xấu đi, mà còn làm cho cả những người dân bình thường cũng bất bình với chế độ. Sau ý kiến của bà Nhu, trong tháng 8-1963, liên tiếp xảy ra nhiều cuộc phản đối chính phủ, trong đó quan trọng nhất là các vụ tư thiêu của các tăng ni Phật giáo.

Ngày 4-8-1963, tại Phan Thiết (Bình Thuận), đại đức Thích Nguyên Hương, thế danh là Huỳnh Văn Lễ, tự thiêu trước dinh tỉnh trưởng. Khuya 12-8, tại chùa Xá Lợi ở Sài Gòn, nữ sinh Mai Tuyết An, 18 tuổi cầm dao chặt bàn tay trái để phản đối bà Ngô Đình Nhu; máu ra nhiều nhưng tay không đứt. Ngày 13-8-1963, đại đức Thích Thanh Tuệ, thế danh là Bùi Huy Chương, tự thiêu tại chùa Phước Duyên, Hương Trà, Thừa Thiên. Ngày 15-8-1963, ni sư Thích Nữ Diệu Quang, thế danh là Nguyễn Thị Thu, tự thiêu tại Ninh Hòa (Khánh Hòa). Ngày 16-8-1963, thượng tọa Thích Tiêu Diêu, thế danh Đoàn Mễ, tự thiêu ở chùa Từ Đàm, Huế.

Cũng trong ngày 16-8-1963, tại Huế, theo lệnh của tổng thống Diệm, linh mục Cao Văn Luận, viện trưởng viện Đại học Huế, bị giải nhiệm và giáo sư Trần Hữu Thế được cử lên thay.(CVL, tr. 261-263.) Sự thay đổi nầy khiến cho nhiều khoa trưởng và giáo sư đại học từ chức, và giới sinh viên phẫn nộ mạnh mẽ.

Dầu càng ngày dân chúng càng phản đối và tình hình xã hội càng ngày càng xáo trộn, chính phủ Diệm vẫn không nhượng bộ.(7) Ngày 18-8-1963, mười tướng lãnh cao cấp đề nghị với chính phủ là nên ban hành thiết quân luật, để tái lập trật tự. Dựa vào đề nghị đó, tổng thống Diệm liền quyết định thiết quân luật trên toàn quốc kể từ 0 giờ sáng 21-8-1963. Quyết định nầy do quyền tổng tham mưu trưởng Quân đội VNCH, trung tướng Trần Văn Đôn, ký tên.

Điều quan trọng trong vụ thiết quân luật nầy là khoảng nửa giờ sau khi được ban hành, nghĩa là qua sáng 21-8-1963, chính phủ ra lệnh cho ruồng bố chùa chiền trên toàn quốc, bắt hết các tăng ni lãnh tụ tranh đấu chống chính phủ. Riêng tại Sài Gòn, Lực Lượng Đặc Biệt tấn công chùa Xá Lợi trên đường Bà Huyện Thanh Quan. Các lãnh tụ Phật giáo đều bị bắt, trừ vài người trốn thoát. Thượng tọa Thích Trí Quang cũng bị bắt, nhưng sau đó ông trốn được vào Tòa đại sứ Hoa Kỳ ngày 23-8-1963.(8) Tân đại sứ Henry Cabot Lodge vừa đến Sài Gòn ngày 22-8-1963.

Sau vụ tấn công chùa, tình hình càng thêm rối loạn. Ngày 21-8-1963, Trần Văn Chương đại sứ Việt Nam tại Hoa Kỳ bị chính phủ Diệm bãi nhiệm và ngược lại Trần Văn Chương tuyên bố từ chức. Bà Trần Văn Chương tên thật là Thân Thị Nam Trân từ chức quan sát Việt Nam tại Liên Hiệp Quốc. Chiều ngày 22-8-1963, tại Sài Gòn, Vũ Văn Mẫu từ chức ngoại trưởng.

Lúc đó, bản tin đài Tiếng Nói Hoa Kỳ (VOA = Voice of America) loan báo rằng quân đội đã tấn công chùa, nên trung tướng Trần Văn Đôn cho mời trung tá Lucien Conein, nhân viên CIA, đến gặp. Lúc đó trên danh nghĩa chính thức, Lucien Conein là cố vấn bộ Nội vụ VNCH. Trong cuộc nói chuyện với Conein vào tối 23-8-1963 tại bộ TTM, tướng Đôn cho biết rằng quân đội không tham gia vào việc đánh phá các chùa mà chính là Cảnh sát đặc biệt của chính phủ. Khi Conein hỏi “Các tướng lãnh Việt Nam có ý định đảo chánh không?”, thì tướng Đôn dè dặt trả lời “sẽ nói chuyện sau”.(9) Từ đó, Conein thường liên lạc và dò hỏi các tướng lãnh Việt Nam.

Ngày 24-8-1963, tổng thống Diệm cử Trương Công Cừu làm bộ trưởng Ngoại giao thay Vũ Văn Mẫu và cũng trong ngày nầy, chính phủ ra lệnh đóng cửa các trường học ở Sài Gòn, nhưng sinh viên học sinh vẫn tiếp tục phản đối chính phủ. (Các trường học mở cửa lại ngày 4-9-1963.) Ngày 25-8-1963, khoảng 300 sinh viên học sinh biểu tình tại công trường Diên Hồng, trước chợ Bến Thành. Đoàn biểu tình bị đàn áp, một nữ sinh tên là Quách Thị Trang bị bắn chết. Quách Thi Trang, pháp danh Diệu Nghiêm, khoảng 15 tuổi, nữ sinh tư thục Trường Sơn (Sài Gòn).

Cũng trước chợ Bến Thành, ngày 5-10-1963, đại đức Thích Quảng Hương, thế danh Nguyễn Ngọc Kỳ, tự thiêu để phản đối chính sách kỳ thị tôn giáo của chính phủ Diệm, theo như huyết thư mà đại đức để lại. Sau Thích Quảng Hương, đại đức Thích Thiện Mỹ, thế danh Hoàng Miều (1940-1963), tự thiêu trước nhà thờ Đức Bà, Sài Gòn.

Trên thế giới, ngày 9-8-1963, Cambodia, Ceylon (sau đổi thành Sri Lanka), Nepal đưa vấn đề Phật giáo Việt Nam ra trước Liên Hiệp Quốc (LHQ). Đại hội đồng LHQ ngày 8-10-1963 quyết định gởi một phái đoàn điều tra đến Việt Nam. Phái đoàn LHQ đến Sài Gòn ngày 24-10-1963. Hôm sau, phái đoàn đến gặp tổng thống Diệm và tổ chức họp báo. (Đoàn Thêm, sđd. tr. 364) Phái đoàn chưa hoàn tất công việc điều tra, thì chính phủ Diệm sụp đổ ngày 1-11-1963.

Soạn: AM 519795 gửi đến 996 để nhận ảnh này Áo quan ông Ngô Đình Diệm bên phải, áo quan ông Ngô Đình Nhu bên trái trước khi được chôn tại nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi

3.- VAI TRÒ CỦA NGƯỜI HOA KỲ

Không riêng Hoa Kỳ, tất cả các nước bỏ tiền ra viện trợ, đều muốn công cuộc viện trợ đạt hiệu quả và nhất là muốn dựa trên viện trợ để can thiệp vào công việc nội bộ của nước nhận viện trợ; hướng dẫn hoặc điều khiển đường lối của nước đó theo chủ trương của nước viện trợ. Ngược lại, những nước nhận viện trợ luôn luôn muốn duy trì chủ quyền quốc gia đối với các nước viện trợ, chống lại sự can thiệp của nước chủ viện.

Tình trạng giữa Hoa Kỳ và VNCH cũng vậy. Hoa Kỳ viện trợ cho VNCH để chống cộng, nhưng không phải chống cộng theo đường lối VNCH, mà là chống cộng theo đường lối Hoa Kỳ. Hoa Kỳ là một cường quốc trên thế giới và Hoa Kỳ muốn giữ thăng bằng ngoại giao với tất cả các nước. Người Hoa Kỳ nổi tiếng thực dụng, nên chính phủ Hoa Kỳ cũng phải thực dụng theo quyền lợi của tư bản Hoa Kỳ, mới có thể được tái cử. Từ đó, giữa chính phủ Hoa Kỳ và chính phủ VNCH xảy ra những mâu thuẫn trong cách thức tiến hành viện trợ và chống cộng.

Một điểm cần chú ý là dầu Hoa Kỳ viện trợ cho VNCH, nhưngtrong nội bộ chính phủ Hoa Kỳ, không phải ai cũng đều ủng hộ tổng thống Diệm. Những người Mỹ ủng hộ ông Diệm cho rằng chính phủ Diệm chống cộng hữu hiệu, hoặc chưa tìm ra được một người khác có khả năng hơn ông Diệm để thay thế. Những người Mỹ chống ông Diệm cho rằng chính phủ Diệm tham nhũng, đàn áp đối lập, không chống cộng hữu hiệu. Một điều quan trọng hơn cả đối với người Mỹ, nhưng người Mỹ tránh nói công khai, là ông Diệm không dễ dàng tuân theo đường lối của Mỹ, và ông Diệm bảo vệ chủ quyền quốc gia khá cứng rắn, đến độ bảo thủ,.

Sau khi lên cầm quyền vào tháng 1-1961, tổng thống John F. Kennedy gởi phó tổng thống Lyndon Johnson sang Việt Nam ngày 11-5-1961. Trong cuộc hội kiến với phó tổng thống Mỹ, tổng thống Diệm tuyên bố không chấp nhận việc Mỹ gởi quân chiến đấu đến Việt Nam, mà chỉ yêu cầu Mỹ gởi cố vấn sang huấn luyện mà thôi. (Chính Đạo, sđd. I-C, tt. 223-224.) Sau đó, trong một cuộc tiếp kiến đại sứ Frederick Nolting (đại sứ từ 10-5-1961), khi Nolting đề nghị để cho Hoa Kỳ chia sẻ những quyết định về chính trị, quân sự và kinh tế, tổng thống Diệm trả lời rằng “chúng tôi không muốn trở thành một xứ bảo hộ của Hoa Kỳ ”.(10)

Có tài liệu cho rằng từ năm 1961, Hoa Kỳ muốn thành lập căn cứ không quân và hải quân tại Cam Ranh, nhưng tổng thống Diệm không chấp thuận.(11) Quả thật, cho đến năm 1964, sau khi tổng thống Diệm bị sát hại, thì Đệ thất hạm đội của Hoa Kỳ mới đưa được một vài đơn vị vào tiền thám tại đây, và từ 1965 Hoa Kỳ chính thức thành lập căn cứ Hải quân. Lúc đó, căn cứ nầy kiểm soát hoạt động toàn vùng biển Việt Nam và Đông Nam Á.

Tại Hoa Kỳ, khi còn tại chức, tổng thống Dwight Eisenhower chủ trương ủng hộ chính phủ hoàng gia Lào, đánh dẹp Pathet Lào, chận đứng các cuộc nổi dậy của cộng sản. Lên thay Eisenhower, Kennedy thay luôn chính sách về Lào. Kennedy giao cho Averell Harriman, mưu tìm một giải pháp chính trị để giải quyết chiến tranh ở Lào. Harriman là phụ tá ngoại trưởng đặc trách Viễn đông (Assistant Secretary of State for Far Eastern Affairs) từ tháng 1 đến tháng 11-1961, và trở thành thứ trưởng Ngoại giao đặc trách về chính trị (Under Secretary of State for Political Affairs). Harriman vận động triệu tập hội nghị quốc tế tại Genève nhằm trung lập hóa nước Lào.(12) Hội nghị bắt đầu từ 16-5-1961 đến 23-7-1962, đưa đến hiệp định công nhận Lào là một nước độc lập và trung lập, do hoàng thân Souvanna Phouma làm thủ tướng.

Hiệp định trung lập nước Lào bị chính phủ Diệm phản đối, vì chính phủ Diệm lo ngại rằng Lào sẽ không đủ khả năng tự bảo vệ biên giới chống lại sự xâm nhập của cộng sản Việt Nam, tạo cơ hội cho quân Bắc Việt vào đất Lào, để rồi theo đường Trường Sơn, xuống quấy phá Nam Việt. Lúc đầu, tổng thống Diệm không chịu ký vào bản hiệp định trung lập hóa nước Lào. Điều nầy làm cho Harriman tức giận và căm ghét tổng thống Diệm. Tổng thống Kennedy liền gởi thư cho tổng thống Diệm, bảo đảm rằng Hoa Kỳ sẽ không trung lập hóa Nam Việt, và Hoa Kỳ sẽ tiếp tục viện trợ cho Nam Việt, để chống cộng sản. Do áp lực từ phía Hoa Kỳ, tổng thống Diệm đành nhượng bộ, chấp nhận cho ngoại trưởng VNCH ký vào hiệp định nầy. (Mark Moyar, tt. 163-164.)

Bên cạnh đó, từ giữa năm 1962, chính phủ Hoa Kỳ khá bận tâm về các nguồn tin cho rằng chính phủ Diệm đang ngầm liên lạc với nhà nước cộng sản Hà Nội. Sự việc nầy bắt đầu vào mùa hè năm 1962, khi cố vấn Ngô Đình Nhu cầm đầu phái đoàn Việt Nam qua Maroc (Morocco), thăm xã giao nước nầy. Tại đây, ông Nhu gặp Antoine Pinay, lúc đó làm bộ trưởng Phủ tổng thống Pháp. Pinay đề nghị một cuộc gặp gỡ cấp cao giữa Hà Nội và Sài Gòn để bàn chuyện hiệp thương Nam Bắc. Về lại Việt Nam, Ngô Đình Nhu mượn cớ đi săn cọp, đã bí mật gặp tại Bình Tuy một nhân vật cao cấp của cộng sản là Phạm Hùng, ủy viên Bộ chính trị đảng Lao Đông.(13)

Từ tháng 8-1962, Joseph A. Mendenhall, cố vấn chính trị Tòa đại sứ Hoa Kỳ tại Sài Gòn, đã đề nghị loại bỏ tổng thống Diệm, vợ chồng Ngô Đình Nhu và những người trong gia đình ông Diệm, bằng một số nhân vật khác, vì các ông Diệm Nhu không chịu thay đổi lề lối làm việc dù bị Hoa Kỳ áp lực. (Chính Đạo, nb. I-C, sđd. tt. 256-257.) Lề lối làm việc ở đây có nghĩa là chủ trương chính sách của tổng thống VNCH. Như thế, có nghĩa là người Hoa Kỳ có ý định loại bỏ tổng thống Diệm trước khi xảy ra biến cố Phật giáo vào tháng 5-1963.

Vào dịp Tết quý mão (25-1-1963), chủ tịch Bắc Việt là Hồ Chí Minh gởi một cành đào tặng tổng thống Nam Việt là Ngô Đình Diệm. Cành đào nầy được trưng bày trong Phòng khánh tiết Dinh Độc Lập và trên cành đào có danh thiếp chúc Tết của Hồ Chí Minh.(14)

Sau khi được đề cử làm ngoại trưởng ngày 24-8-1963, Trương Công Cừu mở cuộc tiếp tân đầu tiên ngày 25-8-1963 nhằm ra mắt ngoại giao đoàn tại Sài Gòn, đồng thời đón tiếp tân đại sứ Hoa Kỳ Henry Cabot Lodge. Trong buổi tiếp tân nầy, cố vấn Ngô Đình Nhu lần thứ nhất gặp Mieczylslaw Maneli, trưởng đoàn Ba Lan (Poland) trong Ủy ban Quốc tế Kiểm soát Đình chiến. Ngô Đình Nhu còn gặp Maneli lần thứ hai tại dinh Gia Long ngày 2-9-1963 bàn việc liên lạc với Hà Nội. (Chính Đạo, sđd. tr. 325 và tr. 339.)

Chắc chắn tình báo Mỹ không bỏ sót chuyện Ngô Đình Nhu liên lạc với cộng sản và chuyện cành đào Hà Nội ở Dinh Độc Lập trong dịp Tết năm 1963. Để nắm vững tình hình, cuối tháng 9-1963, tổng thống Kennedy gởi bộ trưởng Quốc phòng Robert McNamara cùng tướng Maxwell Taylor qua Sài Gòn. Ngày 29-9-1963, hai ông gặp tổng thống Diệm. McNamara nói thẳng với tổng thống Diệm rằng việc đàn áp Phật tử gây trở ngại cho nỗ lực chống cộng và phàn nàn về những tuyên bố của bà Ngô Đình Nhu. Tổng thống Diệm tránh các vấn đề do McNamara đưa ra.

Trong khi đó, báo chí Hoa Kỳ liên tục chỉ trích chính phủ Diệm, nhất là từ sau biến cố Phật giáo ở Huế (tháng 5-1963) và sau vụ chính phủ Diệm ra lệnh tấn công các chùa (tháng 8-1963). Dư luận Hoa Kỳ cho rằng tổng thống Diệm chủ trương độc tài gia đình trị, càng ngày càng mất lòng dân, càng ngày càng kém hữu hiệu trong việc điều hành đất nước và chống lại du kích cộng sản.(Chính Đạo, nb. I-C, sđd. tt. 357-361.)

Năm 1963 là năm trước của năm bầu cử tổng thống Hoa Kỳ (1964). Dư luận báo chí Hoa Kỳ năm 1963 rất quan trọng, có thể ảnh hưởng đến kết quả bầu cử trong năm sau (1964). Tổng thống Kennedy lo ngại tình hình Việt Nam ảnh hưởng xấu đến cuộc tái tranh cử của ông vào năm 1964.

Vì tất cả những lý do trên, chính phủ Kennedy muốn tìm một giải pháp mới, nhằm thay đổi tình hình tại ViệtNam theo chiều hướng có lợi cho Hoa Kỳ, và có lợi cho sự tái tranh cử của Kennedy.

Soạn: AM 519809 gửi đến 996 để nhận ảnh này Nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi trước khi di dời. (Mộ ông Ngô Đình Diệm ngoài cùng, bên phải)

4.- MẬT ĐIỆN SỐ 243 NGÀY THỨ BẢY 24-8-1963

Theo Trần Văn Đôn, nhóm đảo chánh của các ông không cho người Mỹ biết về dự tính đảo chánh. (TVĐ, sđd. tr. 209.) Tuy nhiên, người Mỹ chẳng những biết việc nầy, mà còn yểm trợ việc nầy, vì cũng Trần Văn Đôn kể rằng nhóm các ông kết nạp được Trần Thiện Khiêm vào tổ chức đảo chánh là nhờ người Mỹ. (TVĐ, sđd. tr. 193.) Như thế nghĩa là người Hoa Kỳ giữ một vai trò quan trọng trong việc đứng làm trung gian liên kết nhân sự cho nhóm dự tính đảo chánh.

Thật ra, như đã trình bày ở trên, người Hoa Kỳ đã nghĩ đến việc thay đổi nhà lãnh đạo VNCH từ hơn một năm trước qua đề nghị của Joseph Mendenhall, cố vấn chính trị Tòa đại sứ Hoa Kỳ tại Sài Gòn, trong phiếu trình đề ngày 16-8-1962.

Sau biến cố Phật giáo ngày 8-5-1963 ở Huế, người đứng đầu Nhóm nghiên cứu Việt Nam thuộc Tòa đại sứ Hoa Kỳ, Ben Wood, soạn một kế hoạch khẩn cấp ngày 23-5-1963 về các cách thay đổi chính phủ Diệm. Sau khi Thích Quảng Đức tự thiêu tại ngày 11-6-1963, bộ Ngoại giao Hoa Kỳ chỉ thị ngày 14-6-1963 cho Tòa đại sứ Sài Gòn xúc tiến kế hoạch thay tổng thống Diệm.

Ngày 27- 6-1963, tổng thống Kennedy công bố quyết định thay đổi đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam. Thay đổi đại sứ trong lúc tình hình căng thẳng là dấu hiệu thay đổi chính sách, nhưng để yên lòng chính phủ Việt Nam, bộ Ngoại giao Hoa Kỳ yêu cầu tòa đại sứ tại Sài Gòn cho tổng thống Diệm biết rằng chính sách của Hoa Kỳ không thay đổi, tiếp tục ủng hộ chính phủ Việt Nam chống cộng sản. (Chính Đạo, nb. I-C, sđd. tr. 302.) Tiếp tục ủng hộ công cuộc chống cộng của Việt Nam, không có nghĩa là ủng hộ cá nhân người điều hành chính phủ.

Ngày 22-8-1963, tân đại sứ Henry Cabot Lodge đến Sài Gòn và trình uỷ nhiệm thư ngày 26-8-1963. Trước đó hai ngày, 24-8-1963, Lodge gởi về Washington DC một điện văn báo cáo rằng ông Nhu là người ra lệnh tấn công chùa và nói về dự tính đảo chánh của một số tướng lãnh.

Ngày 24-8-1963 là thứ Bảy, tổng thống Kennedy, bộ trưởng Ngoại giao Dean Rusk, bộ trưởng Quốc phòng MacNamara, giám đốc CIA McCone đều đi nghỉ cuối tuần. Thứ trưởng Ngoại giao George Ball, xử lý thường vụ ngoại trưởng, cùng Harriman (thứ trưởng Ngoại giao), Hilsman (phụ tá ngoại trưởng), Forrestal (phụ tá tổng thống) đồng soạn và ký tên mật điện 243 gởi cho Tòa đại sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn cùng trong ngày 24-8-1963, rồi chuyển cho tổng thống Kennedy và ngoại trưởng Rusk. Hai ông nầy đồng ý cho gởi đi. Nội dung đoạn cuối điện văn rất quan trọng, được dịch như sau:

“Chính phủ Hoa kỳ không thể dung dưỡng tình trạng mà quyền hành lại nằm trong tay ông Nhu. Ông Diệm phải loại bỏ ông Nhu và các thuộc hạ của ông để thay vào đó bằng quân đội tinh nhuệ và các chính trị gia có tư cách.

“ Nếu ông [tức đại sứ Lodge] cố gắng hết sức, nhưng ông Diệm vẫn ngoan cố và từ chối thì chúng ta phải đối đầu với một điều có thể xảy ra, là ngay cả bản thân ông Diệm cũng không thể tồn tại được.”(15)

Bức mật điện số 243 ngày 24-8-1963 trên đây của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ chỉ thị cho tân đại sứ Cabot Lodge yêu cầu tổng thống Diệm phải loại bỏ cố vấn Nhu. (Đây là điều mà người Mỹ biết ông Diệm không bao giờ chịu làm.) Nếu ông Diệm không chấp thuận, thì loại bỏ luôn ông Diệm. Nói cách khác, bức mật điện nầy ngầm cho phép đại sứ Lodge, nếu cần, có thể tiến hành đảo chánh, lật đổ tổng thống Diệm. Cần chú ý: Averell Harriman, người chủ trương trung lập hóa Lào, bị tổng thống Diệm phản đối, là một trong bốn người soạn bản mật điện 243. Hariman rất căm ghét tổng thống Diệm. Phải chăng đây là dịp Harriman kiếm cách trả thù, vì bản mật điện nầy có thể xem là tờ khai tử chế độ tổng thống Ngô Đình Diệm?

KẾT LUẬN

Trong công cuộc cai trị, về đối nội, chính phủ Diệm chủ trương tập trung quyền lực, bị lên án là độc tài gia đình trị. Chính phủ Diệm lại áp dụng một cách cứng rắn luật số 10 năm 1950 từ thời chính phủ Trần Văn Hữu, không công bằng giữa các tôn giáo. Trong di chúc để lại cho con là vua Minh Mạng năm 1819, vua Gia Long đã dặn: “Không được ngược đãi tôn giáo, vì đó là nguyên nhân gây rối loạn và đôi khi làm mất nước.”(16)

Dầu chế độ Ngô ĐìnhDiệm chưa đến mức ngược đãi tôn giáo, nhưng việc thi hành một cách cứng rắn dụ số 10 đã làm bùng lên cuộc đấu tranh của giới Phật giáo, là thành phần chiếm đại đa số dân chúng Việt Nam. Lúc đó, chắc chắn có nhiều thành phần từ nhiều phía lợi dụng cuộc phản đối của Phật giáo để phá rối chính phủ Diệm và phá rối VNCH. Trong khi đó, dù tổng thống Diệm và chính phủ tỏ thiện chí để giải quyết khủng hoảng, thì vẫn có một số người trong chính quyền thiếu sáng suốt, gây thêm nhiều chia rẽ giữa chính phủ và dân chúng, như những lời tuyên bố của bà Ngô Đình Nhu. Cứ thế mâu thuẫn giữa hai bên càng ngày càng gay gắt thêm.

Về đối ngoại, chính phủ Diệm chủ trương độc lập với người Mỹ, trong khi người Mỹ muốn kiểm soát chính phủ VNCH. Hai ông Diệm và Nhu lại có sáng kiến ngoại giao trực tiếp với Bắc Việt để giải quyết chiến tranh giữa hai miền Nam Bắc với nhau, chẳng những làm cho dư luận Việt hoang mang, mà còn làm cho chính phủ Mỹ nghi ngờ và bất bình, vì người Mỹ bị hai ông đặt ra ngoài cuộc thương thuyết.

Người Mỹ không quan tâm đến quyền lợi của người Việt mà chỉ lo lắng cho quyền lợi của Mỹ. Vấn đề Phật giáo và đối lập chính trị tại Việt Nam chỉ quan trọng đối vớingười Việt, chứkhôngquan trọng đối vớingười Mỹ. Người Mỹ dựa vào những vấn đề nầy, xúi giục và yểm trợ các tướng lãnh đảo chánh lật đổ ông Diệm, vì quyền lợi của Mỹ và vì việc tái tranh cử của Kennedy mà thôi. Sự tiếp tay của Tòa đại sứ Mỹ và của đại sứ Henry Cabot Lodge đã góp phần quyết định trong sự thành công của cuộc đảo chánh ngày 1-11-1963. (Trích: Việt sử đại cương tập 6.)
TRẦN GIA PHỤNG
(phungtrangia@yahoo.com)
CHÚ THÍCH
Hai câu của cuộc trưng cầu dân ý chỉ hỏi truất phế hay không truất phế Bảo Đại và chấp thuận hay không chấp thuận Ngô Đình Diệm làm quốc trưởng để đặt nền móng dân chủ, chứ không nói đến việc thành lập nền Cộng hòa và nhất là không nói đến việc chọn Ngô Đình Diệm làm tổng thống.
Nhiều tác giả, Nhất Linh, Người nghệ sĩ - Người chiến sĩ, California: Nxb. Thế Kỷ, 2004, tr. 125.
Đoàn Thêm, Hai mươi năm qua: Việc từng ngày (1945-1964), Sài Gòn 1966, Xuân Thu California, tái bản không đề năm, tr. 75.(Viết tắt: Đoàn Thêm, sđd. tr.)
Chính Đạo, Việt Nam niên biểu 1939-1975 (Tập I-C: 1955-1963), Nxb. Văn Hoá, Houston, 2000, tr. 278. (Viết tắt: Chính Đạo, I-C, sđd. tr.)
Linh mục Cao Văn Luận, Bên giòng lịch sử Việt Nam, 1940-1975, Sacramento: TANTU Research, 1983, tr. 224, tr. 229. Cần chú ý các điểm: Cao Văn Luận là người đồng đạo với Ngô Đình Thục và Ngô Đình Diệm. Lúc đó LM Cao Văn Luận đang làm viện trưởng Viện Đại học Huế. Vì là linh mục và là viện trưởng Viện Đại học, nên LM Cao Văn Luận có điều kiện để tiếp cận các viên chức hành chánh và biết rõ các tin tức về biến cố nầy. (Viết tắt: CVL, sđd. tr.)
Chính Đạo, Tôn giáo & chính trị, Phật giáo, 1963-1967, Houston: Nxb. Văn Hóa, 1997, tr. 25.
Có 4 dư luận khác nhau: 1) Dư luận thứ nhất cho rằng thiếu tá Đặng Sĩ, phó tỉnh trưởng nội an, ra lệnh cho lực lượng dưới quyền ném chất nổ để giải tán đồng bào và gây thương vong. 2) Dư luật thứ hai cho rằng Việt cộng lợi dụng sự bất bình của dân chúng, cho nổ lựu đạn gây chết người rồi đổ lỗi cho chính quyền, nhằm đẩy cao lòng bất mãn của dân chúng đối với chính quyền. 3) Một ý kiến khác lúc đó cho rằng cả phía chính quyền Việt Nam Cộng Hòa lẫn phía du kích cộng sản cũng đều chưa có loại võ khí gây nổ nầy, nhưng người ta không biết là của ai? 4) Ý kiến cuối cùng cho rằng người Mỹ liên hệ đến vụ nổ nầy. (dư luận cuối cùng nầy, theo Hoàng Ngọc Thành & Thân Thị Nhân Đức, Những ngày cuối cùng của tổng thống Diệm, San Jose: Nxb. Quang Vinh & Kim Loan & Quang Hiếu, in lần thứ hai, 2003, tt. 221-222.)
Theo lời linh mục Cao Văn Luận, sau khi bị giải nhiệm chức viện trưởng Viện Đại học Huế, linh mục vào Sài Gòn và đến gặp giám mục khâm sứ Tòa thánh La Mã tại Việt Nam. Ông được giám mục khâm sứ Tòa thánh La Mã cho biết có lúc ông Diệm theo lời khuyên của Đức giáo hoàng, dự tính bãi bỏ những biện pháp cứng rắn đối với Phật giáo. “Nhưng sau một phiên họp Hội đồng gia tộc thu hẹp không có bà Nhu, ông Cẩn, chỉ có ba người là ông Diệm, ông Nhu và Đức cha Thục, tổng Thống quyết định dùng biện pháp cứng rắn như đã ban hành ngày 21-8-1963.” (trích nguyên văn, L.M. Cao Văn Luận, sđd. tr. 271.)
Theo lời thượng tọa Thích Trí Quang, khi chùa Xá Lợi bị tấn công, ông bị bắt cùng với một số tăng ni và bị đưa về đồn Rạch Cát. (Trước 1975, Rạch Cát thuộc quận Bình Chánh, nay thuộc quận Bình Tân, TpHCM.) Khi các tu sĩ Nam tông được thả ra, Thích Trí Quang thay áo một tu sĩ Nam tông, đến chùa Pháp Quang (chùa Nam tông) và thừa cơ hội trốn vào tòa đại sứ Hoa Kỳ lúc đó còn ở trên đường Hàm Nghi. (Theo Thích Trí Quang, “Từ Rạch Cát tới tòa đại sứ”. . (Trích 1-2-2009.)
Trần Văn Đôn, Việt Nam nhân chứng, California: Nxb. Xuân Thu, 1989, tr. 173.(TVĐ, sđd. tr.)
Hoàng Ngọc Thành & Thân Thị Nhân Đức, sđd. tr. 532. Tác giả Hoàng Ngọc Thành trích dẫn Richard Reeves, President Kennedy, Profile of Power, New York: Simon & Schuster, 1993, tr. 651.
Nguyễn Trân, Công và tội, những sự thật lịch sử, California: Nxb. Xuân Thu, 1992, tr. 478.
Mark Moyar, Triumph Forsaken, the Vietnam War, 1954-1965, Cambridge: Cambridge University Press, 2006, tr. 128. (Viết tắt: Mark Moyar, sđd. tr.)
Theo lời kể của ông Cao Xuân Vỹ, hiện đang sinh sống tại California với ông Minh Võ. (Minh Võ, “Ba giờ nghe một nhân chứng”, Đàn Chim Việt, ngày 18-07-2007.) Lúc đó, ông Cao Xuân Vỹ là tổng giám đốc Thanh Niên, và là phó tổng thủ lãnh Thanh Niên Cộng Hòa. Ngô Đình Nhu là tổng thủ lãnh. Ngoài ra, theo Trần Văn Đôn, sđd. tt.183-184, đầu tháng 2-1963, trung tá Lê Văn Bường, tỉnh trưởng Bình Tuy dùng xe Dodge 4x4 chở Ngô Đình Nhu đến quận Tánh Linh, tỉnh Bình Tuy. Tới điểm hẹn, ông Nhu một mình gặp Phạm Hùng.
Minh Võ, “Hoa đào và máu đào”, điện báo Đàn Chim Việt, ngày 31-10-2007. Trong bài nầy, Minh Võ dẫn chứng tài liệu của Francis X. Winter, The Year of the Hare [Năm con thỏ], Athens: University Georgia Press, 1997, tr. 12.[ Năm Con Thỏ theo người Trung Hoa, tức Năm Con Mèo, ở đây là năm Quý Mão (1963).] Minh Võ còn cho biết thêm hai nhân chứng: 1) Ông Lê Châu Lộc, tùy viên của tổng thống Diệm, hiện sinh sống ở California, kể lại rằng tự tay ông Lộc đã nhận cành đào đó từ trụ sở Uỷ Hội Quốc tế Kiểm Soát Đình Chiến (ICC). 2) Ông Quách Tòng Đức, đổng lý văn phòng Phủ tổng thống đã xác nhận việc cành đào trong cuộc phỏng vấn của ông Lâm Lễ Trinh, đăng nhiều báo ở Mỹ.
Xin xem bản dịch điện văn phía dưới.
Adrien Launay, Histoire de la Mission de Cochinchine 1658-1823, Documents historiques, volume III, Paris: Librairie Orientale et Américaine, Maisonneuve Frères, Éditeurs, 1925, tr. 436.
BẢN DỊCH ĐIỆN VĂN SỐ 243 NGÀY 24-8-1963
"Bộ Ngoại Giao gởi Tòa Đại Sứ Mỹ tại Sài Gòn để thi hành ngay lập tức.
Tối Mật. Không được phép phổ biến.
Chỉ đích thân Đại Sứ Lodge mới được phép đọc mà thôi. Đối với CINPAC/POLAD thì chỉ Đô Đốc Felt được phép đọc mà thôi.
Theo CAS Sài Gòn 0265 báo cáo về quan điểm của Tướng Đôn; Saigon 320, Saigon 316, Saigon 329. [Các con số là những ký hiệu mật mã.]
Bây giờ thì rõ là hoặc quân đội đề nghị lệnh thiết quân luật hoặc ông Nhu đã lừa họ. Ông Nhu đã lợi dụng tình trạng đó để tấn công chùa chiền bằng cảnh sát và Lực Lượng Đặc Biệt của Đại Tá Tung trung thành với ông ta, làm cho nhân dân Việt Nam và thế giới ngỡ lầm rằng quân đội làm. Hơn nữa, cũng thật quá rõ là ông Nhu đã âm mưu sắp đặt ông ta vào vị trí chỉ huy.

Chính phủ Hoa Kỳ không thể dung dưỡng tình trạng mà quyền hành lại nằm trong tay ông Nhu. Ông Diệm phải loại bỏ ông Nhu và các thuộc hạ của ông để thay vào đó bằng quân đội tinh nhuệ và các chính trị gia có tư cách.

Nếu ông [tức Đại Sứ Lodge] cố gắng hết sức, nhưng ông Diệm vẫn ngoan cố và từ chối thì chúng ta phải đối đầu với một điều có thể xảy ra, là ngay cả bản thân ông Diệm cũng không thể tồn tại được.

Ký tên: Hilsman, Forrestal, Ball, W.Everell Hariman ".
(Trích Internet:"Khui hồ sơ bí mật”, Ngô Kỷ tổng hợp và chuyển ngữ.)

http://encycl.opentopia.com/enimages/thumb/81/80092/200px-NgoDinhNhu.JPGVề cái chết của Tổng Thống Ngô Đình Diệm

Bài1: Trịnh Bá Lộc

Hồi tháng 10 năm 2008, ký giả Hồng Phúc của Đài Phát Thanh Việt Nam Hải Ngoại tại VVashington D.C có phỏng vấn Ông Trịnh Bá Lộc, nguyên sỉ quan Tùy Viên của Cố Đại Tướng Dương Văn Minh. Dưới đây là một câu hỏi và câu trả lời :

Ký giả Hồng Phúc:

.Cuộc đảo chánh 1963 đã đưa đến cái chết của hai anh em ông Ngô Ðình Diệm và Ngô Ðình Nhu, có dư luận cho rằng chính ÐT Minh là người đã ra lệnh cho người cận vệ của mình là Thiếu tá Nguyễn văn Nhung hạ sát hai anh em ông Diệm. Theo Ông, chuyện này hư thực như thế nào ?

Trả lời:

Nếu đưa ra một bằng chứng cụ thể về việc ai ra lệnh này thì chắc chắn là không ai có thể làm được. Vì vậy tôi xin được kể lại những sự kiện mà tôi tận mắt chứng kiến và đưa ra những phân tích nhận xét của cá nhân tôi để chúng ta cùng đi đến một kết luận khả dĩ.

Thứ nhất: Đại Tướng Minh một trong hai người hết lòng ủng hộ TT Ngô Đình Diệm trong bước đầu thành lập và cũng cố nền đệ nhất cộng hòa. Tôi xin chứng minh điều này bằng cách trích dẫn Cuốn Việt Nam Máu Lữa Quê Hương Tôi” của TT Đỗ Mậu, trang 140, ông viết:

“…Thật ra từ trước tại Sài

Gòn, chỉ có hai Sỹ quan cao cấp và có vị trí then chốt

thật sự ủng hộ Ông Diệm mà thôi, đó là Đại Tá Dương

Văn Minh và Trung Tá Phạm Xuân Chiểu.

Đại Tá Dương Văn Minh gi chức Chỉ Huy Trưởng Phân Khu kiêm Quân Trấn Trưởng Sài Gòn Chợ Lớn ….Ông Dương Văn Minh tuy xuất thân t trường Vỏ Bị Pháp Tông Bắc Việt ( điểm nầy sai,tại Thủ Dầu Mt-Ghi chú của người viết bài nâỳ) , tuy phục vụ trong Quân Đi Pháp nhưng Ông vẩn gi bản chất và phong độ cuả mt ngươì Việt Nam thun túy, vẩn nặng tình t vi dân tộc và quê hương.

Một chi tiết khác chứng minh điều này đó là việc Trung Tướng D.V. Minh quyết liệt từ chối tham gia cuộc đảo chánh TT N.Đ Diệm vào ngày 11 tháng 11 năm 1960. Sự kiện này do chính mắt tôi chứng kiến như sau:

Sáng sớm hôm đó khi biết được có cuộc đảo chánh, tôi đến ngay dinh Hoa Lan của Trung Tướng Dương Văn Minh ở đường Hồng Thập Tự gần dinh Độc Lập. Lúc đó ông đang là Tư Lệnh Bộ Tư Lệnh Hành Quân, nhưng không có quyền chỉ huy.

Khi biết đang có cuộc đảo chánh, ông chỉ lắt đâù. Rồi lần lượt Đại Úy Nguyễn Văn Nhung, Thiếu Tá Đổ Kiến Nhiểu, Chánh Văn Phòng và Thiếu Tá Nhan Minh Trang, cháu cuả Phó Tổng Thống Nguyễn Ngọc Thơ, dù lúc đó không là thuộc cấp, cũng đến.

Lối 9 hay 10 giờ sáng, Đaị Tá Nguyển Chánh Thi, Trung Tá Vương Văn Đông, Thiêú Tá Phạm Văn Liểu, Thiêú Tá Huỳnh Văn Tồn và Đaị Úy Dư Quốc Đống đến xin gập T Tướng Dương Văn Minh. Đây là những người đang tham gia cuộc đảo chánh. Đaị Tá Nguyễn Chánh Thi nói trước mục đích cuộc đaỏ chánh là đễ “… dẹp tan một chế độ thối nát gia đình trị”… và mi Trung Tướng Minh tham gia. Trung Tá Vương Văn Đông củng báo tin Trung Tá Nguyễn Triệu Hồng đà hy sinh khi tấn công vào thành Cộng Hoà. Trung Tướng Minh nhỏ nhẹ t chối tham gia. Không thuyết phục được Trung Tướng Minh, nhóm sĩ quan nầy xin phép cáo t. Nhưng độ hơn gi sau Đại Tá Nguyễn Chánh Thi tr cùng với Giáo Sư Vỏ Văn Hải, Chánh Văn Phòng Đặc Biệt cuả Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Đaị Tá Nguyễn Chánh Thi lại cố gắng thuyết phục Trung Tướng Minh nhưng Ông vẩn t chi. Giaó Sư Hải liền ln giọng bằng tiếng pháp đại ý: “Nếu Ông không theo, Ông bị xem là tù nhân cuã chúng tôi”. Trung Tướng Minh cũng ln tiếng đáp bằng tiếng Việt: “Mấy anh có thể bắt tôi nhưng không thể uy hiếp tôi”. Cùng lúc đó, vi phản ng t nhiên, Đại Úy Nhung liền chụp tay vào khẩu colt 45 (12 ly) nhưng Trung Tướng Minh và Thiếu Tá Nhiểu đng bên cạnh, đưa tay chận lại. Điêù tôi biết chắc chắn là, khẩu súng Đaị Úy Nhung mang bên mình luôn có viên đạn nằm sẳng trong nòng. Đại Tá Thi liền lể phép xin lôỉ Trung Tướng Minh và cả hai cáo t đi ra. Chng kiến s việc nầy, hiện chỉ có hai người còn sống là cu Đại Tá, Dân biêủ Nhan Minh Trang một đảng viên cao cấp của một đảng phái quốc gia và tôi. Thiếu Tá Nhiểu và Thiếu Tá Nhan Minh Trang đề nghị Trung Tướng Minh và gia đình nên đến nhà Phó Tng Thống Nguyển Ngọc Thơ để lánh mặt. PTT Nguyễn Ngọc Thơ là bạn thân với TT,DV Minh từ năm 1945 khi cã hai bị quân đội Nhựt bắt làm tù binh và giam chung một chổ.

Thứ hai: ĐT Minh lúc nào cũng tôn trọng vị Tổng Tư Lệnh Tối Cao của mình cho đến đầu năm 1963, đó là một sự thật hiển nhiên không cần phải bàn cải. Tuy nhiên tôi cũng muốn nhắc lại một sự kiện mà tôi cho rằng nó bộc lộ rõ rệt nhất suy nghĩ của ĐT Minh về TT N.Đ Diệm:

Trong thi gian khoảng một tháng trước ngày 1-11-1963, hàng tuần, các Vị Tướng Lảnh có mặt tại Sài Gòn đều phải đến Câu Lạc Bộ Sĩ Quan Trại Trần Hưng Đạo đễ nghe Ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu nói chuyện. Một hôm, trên đường tr về tư dinh, Trung Tướng Minh nói vi tôi đang ngôì bên cạnh: “phải chi Ông nầy không còn ở đây na thì êm chuyện”. Tôi biết Trung Tướng Minh muốn ám chỉ ai. Và rõ ràng qua lời nói chúng ta có thể thấy được vị trí của Tổng Thống trong ý nghỉ của ĐT Minh.

Sau năm 1963, mỗi khi có việc gì liên quan đến TT Diệm thì ĐT Minh luôn nói đến với một giọng chân tình, một thái độ khẳng khái mà không hề có chút không thoái mái nào cả. Ví dụ như lúc ông gần mất, khoảng cuối năm 2000 có lần ông nói chuyện qua điện thoại với vợ chông cháu gái là TS Dương Thanh Binh, khi TS Bình cho ông biết là cô đã dọn về ở Canberra thi ông nói ngay:

Ờ.. Bác đã tới Canberra rồi. Hồi đó Bác đi với Ông Diệm. Chánh phủ Úc đã mời Ông Diêm sang và Bác và Bác có tham dự trong phái đoàn chánh thức”.

Khi thuật lại chuyên nầy Cô Bình đã nói với tôi:

Nếu Bác có làm một điều gì có thể trách đối với Ông Diệm thì chắc Bác đã không nhắc tới ông, hơn nữa lại nhắc với một giọng khẳng khái và không mặc cảm như vậy.”

Cuối cùng tôi xin thuật lại những gì chính tôi chứng kiến trong kỳ đảo chánh ngày ngày 1-11 –1963 mà Trung Tướng Minh là người lảnh đạo, còn tôi thì lúc nào cũng theo sát TrungTướng D.V. Minh.

Sáng ngày 2 tháng 11, 1963, dinh Gia Long và thành Cộng Hoà ngưng bắn, cuộc đảo chánh đã thành công. Quân đội không tìm thấy hai anh em Tồng Thống Ngô Đình Diệm. Nhưng không bao lâu sau, Đaị Tá Đổ Mậu nhận được điện thoại của Đaị Úy Đổ Thọ, Tuỳ Viên Tổng Thống và cũng là cháu Ông Đồ Mậu, Ông Mậu trao điện thoại lại Thiếu Tướng Trần Thiện Khiêm. Đại Úy Thọ cho biết hai Ông Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu đang tại Nhà th Cha Tam. Trung Tướng Minh hỏi ai biết chồ nầy đâu, Trung Tá Phạm Ngọc Thaỏ tình nguyện đi đón. Nhiêù vị có mặt lúc đó lên tiếng phải một Ông Tướng đi mi được. Thiêú Tướng Mai Hu Xuân, Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung, tình nguyện và được chấp thuận ngay vì Ông rất rành đường vùng Ch Ln và trước khi trở thành một sĩ quan cấp Tướng , Ông Mai Hửu Xuân là một nhân viên ngành Cảnh Sát Công An chuyên nghiệp , đã giử chức vụ Tỗng Giám Đốc Công An Quốc Gia từ thời Quốc Trưởng Bảo Đại. Thiếu Tướng M.H Xuân chỉ định Đại Tá Dương Ngọc Lắm, Thiếu Tá Dương Hiếu Nghiả đi cùng, còn Đaị Tá Nguyễn Văn Quan thì tình nguyện đi theo cùng một số sĩ quan khác. Ông Quan đến bên cạnh và nói nhỏ vi Trung Tướng Minh: “Toi” cho thằng Nhung đi theo “moi”. Là bạn thân, Đại Tá Nguyễn văn Quan luôn xưng hô với Trung Tướng Dương Văn Minh là “toi” và “moi”. Tôi cũng xin mở thêm một dấu ngoăc: Dù là bạn thân và rất tín nhiệm, nhưng mải đến sau tháng 4 năm 1975, Đại Tướng Dương Văn Minh mới biết người bạn thân của mình là một thành viên cao cấp, của một đảng phái quốc gia. Điều nầy trùng hợp với nhận định của TS Lâm Lể Trinh: . . .” Tác giả bài nầy có dịp tiếp xúc với một số nhân vật khả tín và được biết cố Thiếu Tướng Nguyễn Văn Quang

-thay thế Đổ Mậu năm giữ Tổng Nha An Ninh Quân Đội sau 1-11-63, thuộc khuynh hướng Đại Việt …(Về Nguồn trang 64”

Trung Tứơng Minh gật đầu, Đại Tá Quan ngoắc Đại Úy Nhung đang đng xa lối năm bước đi theo Ông.

Phó Tổng Thng Nguyễn Ngọc Thơ, được mi gi chc vụ Thủ Tướng do Thiếu Tá Nhan Minh Trang mi ch đến, nói cho nhiều ngươì đang có mặt nghe: ” Các Anh làm gì thằng cha kia thì làm, riêng Ông Cụ thì cho “moi” xin”.

Trước khi đoàn xe ra đi đã có một cuộc thảo luận

nhỏ mà tôi được nghe tương tợ như Thiêú Tướng Đổ Mậu đã thuật lại trong quyền sách cuả Ông. Tôi xin chép lại nguyên văn đoạn ông Đổ Mậu viết:..” …”Thấy không khí có vẻ nghiêm trọng, tôi vội hỏi ngay:” Các anh làm gì mà đng đây có vẻ bí mật như thế”.

Tướng Trần Văn Minh (Minh nhỏ) đng gần đấy trả lơì rất nhỏ:” Anh em đang bàn định cách đối x vi Ông Diệm, nên giết hay nên cho ông ta xuất ngoại. Tôi vội nói to cho mọi người nghe:”Tôi không đồng ý việc giết Ông Diệm, lúc còn đang trong vòng bí mật, tôi đã nói vi Trung Tướng Đôn là phải đễ cho Ông Diệm ra đi, Trung Tướng Đôn đả đng ý rôì. Tôi va nói xong thì tướng Nguyễn Ngọc Lễ, một vị tướng vốn nổi tiếng khoan hoà quay về phía tôi và cũng nói to lên:” Xin Anh em đng nghe lơì Anh Mậu, đã nhổ cỏ, thì phải nh cho tận rể”. Tôi cht nh trong đêm trước đó, có người đã kễ cho tôi nghe rằng tướng Phạm Xuân Chiểu cũng đã nói câu như vậy. Thấy không ai phản đi tướng Lễ mà có vẻ im lặng đng ý…”

(đoạn này được viết ở, trang789). Với những sự kiện đã xảy ra, chúng ta thấy đa số các vị lảnh đạo cuộc đảo chánh lật đổ chánh phủ TT NĐ.Diệm đã có quyết định cách đối xử đối với Ông Ngô Đình Nhu. Riêng về số phận vị cựu Tổng Tư Lệnh Quân Đội, cho đến sáng ngày 2/11/1963, vẩn chưa có chủ định dứt khoát, ngoại trừ một số đã phát biểu như trên

Một chi tiết quan trọng mà tôi nhớ rất rõ là khi đoàn xe vừa ra đi thì Trung Tướng Dương Văn Minh cho binh sĩ cuả Đại Đội Tồng Hành Dinh vào văn phòng của Trung Tá Đinh Văn Đệ, Chánh Văn Phòng cuả Đại Tướng Lê Văn Tỵ đặt giừơng sắt có lót nệm, và thu dọn trống các vật dụng không cần thiết khác kể cả tháo g các đường dây điện thoại đễ chuẫn bị đón ngươì khách bất ng.

Còn chuyện xảy ra trên đường đưa anh em TT Diệm về TTM thì tôi không trực tiếp chứng kiến, nhưng cũng xin được trích dẫn một đoạn rất khả tín trong quyển Sách Hảy trả lai sự thật cho Lich Sử( Quang Phục Vỏ Văn Sáu) nói về sự việc này:

Khi đoàn xe ch hai anh em Tổng Thống Diệm và Ông Nhu về đến trước trước Bảo Sanh Viện T Dủ đường Hồng Thập Tự thì phải ngng lại vì xe lưả đang chạy ngang qua. Phần ln các Sĩ Quan đi xe Jeep cùa mình đều xuống xe, kễ cả Đại Úy Nhung. Bổng có tiếng nói ln:

- Nhung! Ông Tướng hỏi xong chưa?

- Chưa.

Người kia tiếp tục nói

- Làm đi! và đưa hai ngón tay lên.

Sau đó, có nhng loạt súng nổ.

Khi đoàn xe về đến Bô TTM, cả hai anh em Tổng Thống Ngô Đình Diệm đều đã chết.

Qua s kiện vưà kễ, chúng ta thấy rất rỏ ràng :

- Đại Úy Nguyễn Văn Nhung có mặt trong đoàn xe đi Nhà Th Cha Tam là theo lơì yêu câù cuã Đaị Tá Nguyễn Văn Quan còn Trung Tướng D.V Minh hoàn toàn không có chủ định trước.

- Tôi luôn ở bên cạnh nhưng không hề nghe Trung Tướng Minh nói li gì vi Đại Úy Nhung khi đi theo Đaị Tá Quan, và cũng không hể nghe thấy Trung

Tướng Minh gọi điện đàm hoặc chỉ thị cho ai về việc này. Như vậy “Ông Tướng” được nói đến ở trên chắc chắn không phải là TrungTướng Minh.

- Hơn nữa một trùng hp bất ng mà không ai d đóan ni là đoàn xe bị chận lại trên đường Hồng Thập Tự đễ nhường cho xe lưả đi qua. Sự cố này đã tạo điều kiện để “Ông Tướng” ra chỉ thị và tiếp theo là những phát súng nổ.

Tôi muốn nói rằng, nếu ông Nhung nhận được lệnh của TT Minh trước khi rời Bộ TTM thì chắc chắn không chờ đến lúc đoàn xe bất ngờ bị dừng lại mới thi hành. Hơn nữa, nếu đặt giả thiết ngược lại là không có chuyến xe lữa chạy ngang, đoàn xe vẫn tiếp tục đi thì chắc chắn là anh em Tổng Thống Diệm sẽ an toàn tánh mạng khi đến TTM. Cộng với việc TT Minh cho xếp đặt chổ ở cho TT N.Đ Diệm ta càng tin chắc hơn đó không hề là chủ định của ông.

- đến gi nầy, sau gần 45 năm,chưa ai t nhận mình là nhân chng đã thấy tận mắt ai đã thật s bắn hai anh em Ông Diệm và Ông Nhu. Ngay cả người trưởng xa và tài xế của đoàn xe nay cũng không hề lên tiếng. Cá nhân tôi cũng vậy, không thể biết được sự thật 100% ai là người đã nổ những phát súng đó vì tôi không có mặt tại hiện trường.

Còn những luận cứ cho rằng chính Trung Tướng D.V. Minh ra lệnh giết anh em TT Diệm thì tôi nghĩ rằng họ đã dựa vào 3 sự kiện:

Một là vì TT Minh là người lãnh đạo cuộc cách mạng 1/11/63.

Hai là vì họ cho rằng ông Nhung là người nổ súng, mà ông Nhung thì lại là thuộc cấp của TT D.V Minh.

Ba là vi câu “Ông Tướng hỏi xong chưa”. Câu này được rất nhiều người viết lại và phổ biến rộng rãi trong bao nhiêu năm qua. Nhưng nếu khách quan một chúc chúng ta thấy những luận cứ nầy rất gượng ép.

Tôi xin đưa thêm một sự kiện nữa cho thấy khó lòng mà gán ép cho Trung Tướng D.V Minh là người đã ra lệnh nầy.

Giáo Sư Vỏ Văn Hải, ngươì tng uy hiếp Đại Tướng Dương Văn Minh tại dinh Hoa lan trong cuộc chính biến ngày 11-11-60 là người rất tôn sùng TT Diệm. Ông có nói rõ sở dĩ ông tham gia cuộc chinh biến nay là chỉ nhầm đẩy vợ chồng Ông Cố vấn Ngô Đinh Nhu đi ra nước ngoài. Khi ông ra ng c dân biểu Quốc Hội năm 1967, GS Vỏ Văn Hải , lấy chiêu bài “Tinh Thần Ngô Đình Diệm” đễ chứng tỏ ông vẫn hoài vọng về Ngô Tổng Thống. Lần đó Ông thất cử. Thế mà ông đã t ý hp tác vi Đại Tướng Dương Văn Minh t năm 1971 cho đến ngày 30-4-1975. Nếu thật sự ĐT Minh đã chỉ thị quyết đinh giết ông Diệm thì một người như G.S. Vỏ Văn Hải có thể hợp tác được với Đai Tướng Minh như vậy không? (Xin xem “Về Nguồn” của T.S. Lâm Lể Trinh – trang 81)

Còn thái độ của Đại Tướng Minh về vấn đề này như thế nào? Tôi xin được lập lại nguyên văn lời nói của ông trong một phiên họp tại nhà Ông. Đại Tướng Minh đả chánh thc tuyên bố trước đông người:

“Tôi là người chỉ huy cuộc Cách Mạng 1-11-1963, tôi hoàn toàn chiụ trách nhiệm tất cã việc đả xảy ra”.

Sau này trong một dịp khác khi ông còn ở Pháp Đại Tướng Dương Văn Minh đã tiếp em họ mình và chồng bà này là Ông Nguyễn Văn Hay, một nhân vật cao cấp hàng th hai tại Nha Tổng Giám Đc Cảnh Sát Công An Quốc Gia thời chánh phủ Ngô Đình Diệm. Ông Hay nguyên Trưởng Ty CSCA Phan Rang, đã được Ông Ngô Đình Cẩn gi vào Sài Gòn gi chc vụ đầy quyền thế tại cơ quan nầy t thơì Trung Tướng Nguyễn Ngọc Lể.

Với tư cách anh em trong nhà Ông Hay đã thẵng thắn hỏi người anh họ của vợ mình: Câu hỏi này chắc chắn nếu chỉ là quen biết hoặc cộng sự thì không dám đặt ra vì lý do tế nhị:

-Thưa Anh Hai, thc s Anh có ra lệnh cho Đại Úy Nhung giết Ông Diệm hay không?”

Và cũng với tư cách là người trong nhà ĐT D.V.Minh đã trả lời:

-Chuyện đó đã quá lâu rồi, tôi không muốn nói ra làm gì nữa. Tuy nhiên dù ai giết hay ai ra lệnh thì tôi là cấp chỉ huy, là người lảnh đạo cuộc cách mạng 1-11-63, tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm”.

Chuyện trên là do Ông Bà Hay kể lại với vợ chồng Tiến Sĩ Dương Thanh Bình. Sau khi Ông và Bà Nguyễn Văn Hay tr về Australia Ông Hay lúc nào cũng ấm ưc vì DT Minh vẫn không chịu nói tên người ra lệnh đó nên đã kể lại nhiều lần vợ chồng TS Bình. Ông Hay đã qua đi, Bà Hay và các con hiện vẩn sống ở Australia.

Nghe những giai thoại này thì rất nhiều người cũng như Ông Hay, rất thắc mắc và có phần khó chịu tại sao ĐT Minh nhất định không chịu nói ra một sự thật lịch sử quan trọng như vây. Nhưng với tư cách là người kề cận ĐT Minh trong rất nhiều năm, tôi hiểu được phần nào về tinh thần trách nhiêm của ĐT Minh. Là cấp chỉ huy cao nhất, chẳng những ông chịu trách nhiệm với việc mình làm, mà những việc do thuộc hạ của ông làm khi đang phục ông thì ông cũng đều coi là trách nhiệm của mình.

Ngoài ra tôi nghĩ rằng, người thuộc hạ hay cộng sự nào đó của của ông nếu đã làm một việc ảnh hưởng nặng nề đến đại chúng mà không thể tự mình nói ra thì với tư cách là người chỉ huy, Đại Tướng Dương Văn Minh cũng không bao giờ tự mình nói.

Trịnh Bá Lộc

http://www.vietvungvinh.com/BinhLuan/images/NgoDinhDiem13.jpg

Bài 2:TRƯỚC KHI VÀO ĐỀ (Dương Hiếu Nghĩa)

Bản thân cá nhân tôi đã một lần được diện kiến Tổng Thống Ngô đình Diệm, cũng trong những ngày đầu tháng 11 năm 1960. Tôi được gọi từ Vĩnh Long về Sài Gòn trình diện Tổng Thống, để được "coi giò coi cẳng" trước khi bổ nhiệm tôi vào chức vụ quận trưởng quận Bình Minh, theo đề nghị của trung tá Lê văn Phước, tỉnh trưởng tỉnh Vĩnh Long lúc bấy giờ.

Theo đúng thông lệ, tôi về Sài Gòn trước đó một ngày để gặp trung tá Giám Đốc Nha An ninh Quân đội (lúc đó là trung tá Đỗ Mậu), để được ông dặn dò và chỉ bảo về lễ nghi khi vào gặp Tổng Thống. Đại để như phải xưng là "con", phải gọi Tổng Thống là "Cụ", không được ngồi dù có được cho phép, phải lựa cách trả lời những câu hỏi thế nào để chẳng những không làm phật lòng mà còn phải làm vui lòng Tổng Thống, dù có lúc phải nói trái với sự thật. Phải giữ thái độ nghiêm trang lúc trò chuyện với Tổng Thống, lựa lời nói nhỏ nhẹ, thưa trình nghiêm túc, không được cười đùa, và cuối cùng là khi ra về không được xây lưng về phía Tổng Thống: Chào xong, bước lùi ra cửa, ra khỏi cửa mới được quay lưng lại mà đi về.

Bước ra khỏi Nha An Ninh Quân Đội, tôi nhận thấy những lời dặn dò của trung tá Giám Đốc gần như là một hàng rào cố tình ngăn cách người lãnh đạo quốc gia và các cấp quân dân cán chính, cố tình bưng bít, không muốn cho Tổng Thống thấy và biết chính xác sự thật của mọi sự việc đang xảy ra bên ngoài rào của dinh Độc Lập.

Người sĩ quan tùy viên đưa tôi vào văn phòng của Tổng Thống. Tôi đứng nghiêm, chào Tổng Thống, xưng tên họ cấp bậc xong mới bỏ tay xuống. Tổng Thống từ ghế ngồi đứng dậy, vui vẻ đưa tay cho tôi bắt, và bảo tôi ngồi xuống ghế trước bàn viết của ông. Tôi buộc miệng nói: "Xin phép Tổng Thống", và ngồi xuống hết sức tự nhiên.

Sau một vài câu hỏi sơ qua về gia cảnh và đơn vị đã phục vụ trước kia (tôi chắc chắn là hồ sơ cá nhân của tôi đang nằm trước mặt Tổng Thống, trên bàn), Tổng Thống đi thẳng vào đề tài Khu Trù Mật bằng một câu hỏi:

- "Sao, Đại úy thấy thế nào về "Khu Trù Mật"?

- "Xin Tổng Thống cho phép tôi trình bày hết những nhận xét của tôi". Tôi dè dặt lễ phép hỏi.

- "Đại úy cứ nói hết cho tôi nghe, tôi muốn nghe và muốn biết sự thật." Tổng Thống vừa cười vừa nói.

Thấy không khí cởi mở và thật lòng muốn biết về thành quả của "chiến lược Khu Trù Mật" mà Tổng Thống đang cho tiến hành, tôi quyết định phải lợi dụng cơ hội duy nhất và hiếm có nầy để thẳng thắn và vắn tắt trình bày những nhận xét của cá nhân tôi về mặt chánh trị, kinh tế, và những điểm bất lợi cho cả chánh phủ lẫn nông dân ở địa phương, đang tạo hậu quả tai hại là sự thất nhơn tâm, vì người dân gặp quá nhiều phiền phức, mất niềm tin vào chánh quyền. Tôi nói:

-"Thưa Tổng Thống, các Khu Trù Mật thật sự không có "trù mật" chút nào. Về phương diện vật chất, người nông dân bị mất đất mất ruộng, đôi khi còn mất cả mùa màng vì phải phá đi sạch sẽ kể cả mồ mả của tổ tiên cho công tác xây cất Khu Trù Mật, mà không bao giờ được bồi thường thiệt hại. Người dân địa phương còn phải đóng góp công sức và thì giờ vào công tác, mà không bao giờ được trả thù lao (coi như làm xâu). Có trù mật thiệt, nhưng chỉ có trù mật một buổi, vào ngày Tổng Thống xuống khánh thành mà thôi. Trước đó, cả ngàn người dân quê từ các nơi trong tỉnh được huy động về để biến khu đất hoang thành Khu Trù Mật, bằng cách bứng đủ mọi loại cây ăn trái đem về trồng, trang trí, để Tổng Thống và phái đoàn thưởng thức. Có nhiều cây dừa, cau, mới trồng chỉ có một ngày mà đã lên cao hơn 10 thước, đầy trái.... Có nhiều cây bưởi "năm roi" của miền Tây mới trồng có một ngày mà có đầy những trái bưởi ngọt "Biên Hòa" vàng ánh, không phải ghép cành mà là ghép trái! Cũng vậy, cam quít trái

mùa nhờ kỹ thuật cao "gắn trái ngoài chợ vào", nên vẫn có trái đỏ cây, đầy vườn, đầy khu... Khu phố chợ vừa mới xây cất xong mấy hôm trưóc, hôm qua còn tạm dùng làm chỗ ngủ cho dân công mà hôm nay có đầy đủ các hiệu chạp phô, tiệm thuốc tây, tiệm thuốc bắc, quán cơm, tiệm cà phê, phòng mạch bác sĩ v.v... từ quận tỉnh mới "bị" dọn vào. Ngoài nhà lồng chợ, thì cảnh buôn bán tấp nập. Nhà bảo sanh mới hôm qua còn là phòng họp của ban điều hành buổi lễ khánh thành, mà hôm nay đã có vài người mẹ nằm sanh (không biết từ đâu được đưa đến), giường nệm trắng tinh, tươm tất...

Mới nhìn qua thì thật là trù mật, nhưng khi Tổng Thống và phái đoàn ra về rồi, thì dân và hàng hóa đâu lại về đó. Vài ngày sau, hoang tàn trở lại với hoang tàn. Cây không trái, lá lìa cành, ...cả một màu vàng héo, không còn thấy có một sinh khí nào ở cái khu mà vừa mấy ngày trước đây Tổng Thống và phái đoàn chánh phủ, ngoại giao đoàn... thấy là quá trù mật... Nếu Tổng Thống thật sự muốn thấy cảnh hoang vu vắng vẻ nầy, thì xin Tổng Thống bất thần đi viếng thử bất cứ Khu Trù Mật nào mà Tổng Thống vừa đến khánh thành một hai ngày trước đó".

Tôi cũng trình bày luôn với Tổng Thống vấn đề an ninh của Khu Trù Mật. Từ ngày khởi công thành lập cho tới ngày khánh thành (và sau đó về lâu về dài an ninh cho một khu đất bỏ hoang) là cả một gánh nặng phí phạm cho lực lượng địa phương. Chính phủ không tranh thủ được nhân tâm của người dân, mà còn phải bị thất nhân tâm hoàn toàn. Người dân quê càng ngày càng xa chánh quyền, như thế thật là không có lợi cho nỗ lực chống cộng....

(Tôi không dám trình với Tổng Thống là thiếu tá Phạm ngọc Thảo, sĩ quan đồng hóa, ủy viên công cán đặc biệt của Phủ Tổng Thống, phụ trách về công tác xây dựng Khu Trù Mật, là cựu chính ủy trung đoàn Cửu Long ở khu 8, là em ruột của Phạm ngọc Thuần, em rể của Phạm Thiều, hai đảng viên cao cấp trong chánh phủ Hà Nội lúc bấy giờ. Sau 1975, Thảo được Hà Nội truy phong thiếu tướng).

Tổng Thống ngồi nghe tôi trình bày hơn nửa giờ, chăm chú và rất trầm tĩnh, lại còn có vẻ thích thú nữa. Thỉnh thoảng, ông hỏi tôi vài câu để hiểu rõ thêm vấn đề, nên tôi có dịp nói cho Tổng Thống nghe hết những gì mà tôi nghe và thấy về Khu Trù Mật.

Lúc tôi sắp ra về, Tổng Thống rất vui vẻ và lịch sự, đứng dậy, bắt tay khen tôi và cho tôi biết là sẽ có lệnh bổ nhiệm tôi làm quận trưởng quận Bình Minh, không quên bảo tôi cố gắng, và chúc tôi thành công trong nhiệm vụ mới. Khi được lệnh ra về, tôi chỉ theo đúng lễ nghi quân cách: Đứng nghiêm, chào tay, xong quay nửa vòng đánh gót cẩn thận thật kêu, rồi đi ra cửa, (không đi thụt lùi như đã được dặn).

Một tuần sau tôi được lệnh bổ nhiệm, kèm theo quyết định thăng cấp thiếu tá. Điều nầy chứng tỏ là Tổng Thống không vì những lời nói thật, bài bác "quốc sách Khu Trù Mật", mà coi nhẹ người đối thoại, lại còn khuyến khích nữa là khác, chỉ vì Tổng Thống thích muốn nghe và muốn biết sự thật. (Tôi nhận quận Bình Minh ngày 10/11/1960, trước ngày đảo chánh 11/11/1960 vỏn vẹn chỉ có một ngày).

Qua mẩu chuyện nhỏ nầy, cá nhân tôi thấy Tổng Thống Ngô đình Diệm có chịu khó nghe và tìm hiểu tình hình, nhưng lúc nào Tổng Thống cũng có vẻ như bị bưng bít, (nghe thì không nghe được sự thật, thấy thì chỉ thấy toàn là những cảnh được thuộc cấp dàn dựng) lại còn được những người ở chung quanh Tổng Thống cố tình sơn phết cho ông một lớp sơn phong kiến và quan liêu (mà ở bản thân Tổng Thống tôi không thấy có), rất là tai hại cho người lãnh đạo lúc bấy giờ. Dĩ nhiên, cũng rất có hại cho đất nước nữa. Và tôi nghĩ đó cũng là một trong nhiều nguyên nhân gây ra cái chết cho Tổng Thống vào ngày 2 tháng 11 năm 1963.

vietnam_immolation

Vào khoảng đầu tháng 7 năm 1995, nhân dịp đến Houston (Texas), tôi được một người bạn tặng cho quyển "Đôi Dòng Ghi Nhớ" của anh Phạm bá Hoa, một cựu đại tá Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Không như "Lời Trần Tình" quá khiêm nhường của anh, quyển sách này tuy chính thức không phải là một sử liệu, nhưng nó đóng góp rất nhiều cho các sử gia, vì anh được ở vào một vị trí rất quan trọng trong guồng máy quân sự và hành chánh lúc bấy giờ, trong một giai đoạn lịch sử sôi động từ năm 1960 đến 1968. Những sự việc mà anh đã "ghi" lại thật là trung thực, rất đầy đủ từng chi tiết, cũng như anh đã phân tách sự việc rất vô tư, khách quan.

Trong quyển sách, anh cũng có nói không ít về "cái chết của Tổng Thống Ngô đình Diệm"

Về sự việc lịch sử nầy, đã có rất nhiều người hỏi tôi ngay từ sau ngày 2/11/1963 cho tới giờ nầy (kể cả người Mỹ). Ai cũng muốn biết rõ chi tiết của sự việc đã xảy ra trên một chiếc thiết vận xa trong đoàn xe mà cá nhân tôi có trách nhiệm an ninh hộ tống hôm đó. Tác giả quyển "Đôi Dòng Ghi Nhớ" chỉ nêu lên một số dữ kiện, một số suy luận, một số giả thuyết và nghi vấn chung quanh sự việc nói trên mà không hề có ý xác quyết "ai là người đã ra lệnh" và "ai là người đã thi hành lệnh" giết Tổng Thống Ngô đình Diệm và ông cố vấn Ngô đình Nhu. Đây là một điểm hoàn toàn khác biệt với một vài thiên hồi ký khác đã được xuất bản từ trước mà tôi đã có dịp được đọc qua.

Liên quan đến "sự việc" nầy, tôi cũng muốn nói đến một vài quyển hồi ký mà tác giả (kể cả đồng tác giả) đã có nhận xét thiếu chính xác, có khi còn sai lạc hẳn (người ngoại quốc thì không nói đến làm gì); sự việc không được phân tách cho đúng lý đúng tình, có phần chủ quan, đã không đứng đắn lại có dụng ý xấu (như "Nam Việt Nam 1954-1975 Những Sự Thật Chưa Hề Nhắc Tới" của Hoàng Lạc và Hà Mai Việt) hoặc chỉ được góp nhặt từ một số tài liệu qua báo chí thì làm sao cho đứng đắn được? Hơn nữa, khi viết về cái chết của Tổng Thống Ngô Đình Diệm, có tác giả chỉ kể lại sự việc mà chính mắt tác giả không mục kích được, tai cũng chỉ được nghe thuật lại lõm bõm diễn tiến, mà người thuật lại không phải là người trong cuộc, cũng không được mắt thấy tai nghe, hoặc là viết theo một số dữ kiện do quá nhiều người thuật lại theo "cái nghe được", hay theo "luận điệu một chìu" của họ,v.v... Thêm vào đó yếu tố chủ quan muốn làm nổi bật cái "ta" của mình, hoặc vì một mục đích chánh trị, hay kinh tế nào đó, nên các quyển hồi ký đó không có cùng một tiếng nói cho cùng một sự việc, có khi còn "chỏi" lại với nhau nữa. Chưa nói đến một vài tác giả (hoặc đồng tác giả) hám danh, thích chạy theo "dịch viết hồi ký", kể lại "sự việc nói trên" với cái nhìn quá cục bộ và cái biết quá hạn hẹp của mình, để nhờ người khác viết hộ hồi ký cho mình. Người viết hộ tha hồ muốn "xào nấu" gì tùy theo nhu cầu kinh tế hay mục đích chánh trị của họ, có khi họ còn bị một quyền lực vô hình nào đó lèo lái mà chính "tác giả hờ" không hề thấy biết được nữa là khác...Tôi nghĩ là các tác giả nói trên không ai đích thân mục kích được sự việc này, chỉ hoặc hỏi dò, hoặc nghe sai, hoặc đoán chừng và suy luận rộng ra, rồi "phong" bừa cho người nầy là sát thủ, người kia là phụ sát thủ,v.v... nên lời văn mập mờ ai muốn hiểu sao thì hiểu. Đặc biệt có trung tướng Nguyễn chánh Thi trong "Việt Nam: Một Trời Tâm Sự’ của mình, ông đã dựa trên nguyên văn lời khai của Đại úy Nguyễn văn Nhung mà ông đã đọc được sau ngày 30/1/64, nên về sự việc nầy ông đã viết rất chính xác, nói rất rõ ai là người đã thi hành lệnh giết Tổng Thống và giết bằng cách nào. Ngay như báo chí lúc đó cũng vậy (ở VN cũng như ở Hoa Kỳ sau 1/11/63), khi nói về cái chết của Tổng Thống Ngô đình Diệm và của ông cố vấn Ngô đình Nhu, các bài tường thuật đều rất mập mờ không được chính xác. Vì qua cuộc họp báo của Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng thì đây là "một tai nạn đáng tiếc, không cố ý, vì rủi ro... do hai ông Diệm và Nhu chống cự lại". Tuy tin chỉ được loan lướt sơ qua thôi, không một chi tiết nào rõ ràng cả, không một câu hỏi nào liên quan đến tai nạn rủi ro đáng tiếc nầy được trả lời, nhưng báo chí cũng đoán được sự thật phần nào qua vẻ mặt hơi bối rối và thái độ hơi lúng túng của phát ngôn viên. Nhưng chỉ "đoán" thôi thì làm sao tường thuật cho đúng được.

Do vậy mà sau cuộc đảo chánh 1/11/1963, ngay cả những thân nhân trong gia đình tôi, cũng như thời gian sau nầy từ sau 1975, các bạn bè tôi ai cũng đều muốn tôi kể lại diễn tiến của sự việc lịch sử nầy, hay nói trắng ra là xác định "ai là người đã ra lệnh" và " "ai là người đã thi hành lệnh", đã xuống tay hạ sát cả Tổng Thống Ngô đình Diệm và ông cố vấn Ngô đình Nhu? Ai cũng cho tôi là một trong những nhân chứng của sự việc (tôi cũng tự hỏi không biết thật sự tôi có phải là một nhân chứng hay không nữa!), và muốn biết rõ hơn xem ba chữ tắt "TT.N." mà báo chí VN thường dùng trước kia là "Trung Tá Nghĩa" hay là "Thiếu Tá Nhung"? (đại úy Nhung mới được thăng cấp thiếu tá sau khi đảo chánh thành công). Tôi cũng xin nói cho rõ thêm là vì tò mò và hiếu kỳ mà ai cũng muốn biết diễn tiến của sự việc, chớ không có ai vì một mục đích xấu nào khác, như bọn cộng sản lúc bấy giờ và bọn cán bộ cộng sản nằm vùng ở hải ngoại gần đây, chỉ cố tình lợi dụng sự việc nầy để gây chia rẽ hàng ngũ các đảng phái, đoàn thể quốc gia chống cộng và cố tình đào sâu hố chia rẽ giữa hai tôn giáo lớn của Việt Nam là Thiên Chúa Giáo và Phật Giáo.

Do đó hôm nay tôi xin kể lại một đoạn của sự việc lịch sử nầy, nói rõ thêm một vài vài điều mà chính mắt tôi thấy, chính tai tôi nghe, và chính tôi đã biết được, chung quanh cái chết của Tổng Thống Ngô đình Diệm và ông cố vấn Ngô đình Nhu.

Sở dĩ cho đến ngày hôm nay tôi vẫn im hơi lặng tiếng, là vì sự việc nầy không có trực tiếp liên can đến cá nhân tôi, từ việc ra lệnh cho đến việc thi hành lệnh, mà nếu cho là có liên quan thì họa chăng chỉ vì cá nhân tôi là một thành viên của Hội Đồng Quân Nhân và vì "cái chết của hai ông nầy đã xảy ra trong một chiếc thiết vận xa của trung đội Thiết Giáp" trong đoàn xe mà tôi là trưởng đoàn. Đã không có trực tiếp liên can gì đến mình thì đâu có gì gọi là cần thiết phải lên tiếng? Hơn nữa, vì trước 1975 những người có liên đới trách nhiệm về cái chết nầy hầu hết vẫn còn tại thế, vẫn trực tiếp hay gián tiếp còn trong guồng máy quân sự và chánh trị của VNCH trong giai đoạn chống cộng quyết liệt, nên tôi nghĩ là không có lợi gì khi nói lên những điều mà Hội Đồng Quân Nhân không muốn tiết lộ lúc đó. Ngoài ra, tôi cũng không muốn nhắc tới thiếu tá Nhung, vì sau ngày 30/1/1964, anh đã trả xong cái nghiệp đã vay, đã an giấc nghìn thu rồi, tôi muốn để anh yên nghỉ và gia đình anh được yên ổn không bị quấy rầy, ít nhất về mặt tinh thần. Đó là một vài lý do chính mà cho tới ngày hôm nay tôi không trả lời cho bất cứ một ai về bất cứ điều gì mà tôi biết, có liên quan đến việc nầy, ngay cả cho vợ con tôi, họ hàng thân thuộc hay bạn bè thân thích của tôi cũng vậy, cho dù cá nhân tôi vì sự im lặng nầy mà có bị một số hiểu lầm và tai tiếng không hay. (Cũng vậy, vào năm 1971, tôi đã thẳng thừng từ khước không nói một điều gì với một toán Quân Sử thuộc Ngũ Giác Đài Hoa Kỳ, khi họ đến Vĩnh Long (lúc bấy giờ tôi là tỉnh trưởng Vĩnh Long), chánh thức yêu cầu tôi kể cho họ biết rõ sự việc nầy để họ cho ghi vào quân sử. Tôi đã dứt khoát trả lời: "Xin lỗi quý vị, lịch sử Việt Nam của chúng tôi xin quý vị hãy để cho người Việt Nam chúng tôi tự viết lấy". Điều nầy tất cả công chức và sĩ quan các cấp thuộc Tỉnh/BCH Tiểu Khu Vĩnh Long đều biết rõ).

DIỄN TIẾN CỦA SỰ VIỆC

A. TẠI BỘ TỔNG THAM MƯU.-

Đúng như trung tướng Trần văn Đôn đã viết trong quyển "Việt Nam Nhân Chứng" của ông, sáng ngày 2/1/63 trung tướng Dương văn Minh chỉ định thiếu tướng Mai hữu Xuân, đại Tá Dương ngọc Lắm đi vào Nhà Thờ Cha Tam trong Chợ Lớn (đại tá Nguyễn văn Quan không có đi) để "đón họ đưa về đây" (nguyên văn, không dùng chữ "bắt" như trong Việt Nam Nhân Chứng, trang 230), tức là về bộ Tổng Tham Mưu. Tôi có mặt tại chỗ, vì tôi cùng trung đội thiết vận xa vừa từ dinh Gia Long về tới, đang trình với trung tướng Minh là "Tồng Thống và ông cố vấn không còn thấy có mặt ở dinh Gia Long nữa". (Nếu tôi đưa được hai ông về Bộ Tổng Tham Mưu lúc bấy giờ thì tình hình có thể sẽ thay đổi khác đi. Âu cũng là định mệnh!). Do đó tôi lại nhận được lệnh của trung tướng Dương văn Minh: "Tiếp tục cho đoàn xe Thiết Giáp hộ tống thiếu tướng Mai hữu Xuân và đại tá Dương ngọc Lắm đi vào nhà thờ Cha Tam ở Chợ Lớn, đón hai ông ấy và đưa về đây". (nguyên văn).

Như vậy tôi được biết là thiếu tướng Mai hữu Xuân đã có nhận lệnh trực tiếp từ trung tướng Dương văn Minh, nhưng tôi không biết thiếu tướng Mai hữu Xuân có nhận thêm "mật lệnh" gì khác của trung tướng Dương văn Minh hay không. Cũng ngay lúc đó tôi được đại tá Nguyễn văn Quan nói cho tôi biết là: "Trong lúc tôi dẫn đoàn xe xuống dinh Gia Long để đón Tổng Thống vào khoảng từ 2 giờ sáng ngày 2/11, thì Tổng Thống và ông cố vấn Ngô đình Nhu đã bí mật rời khỏi dinh Gia Long đi vào Chợ Lớn rồi, hiện đang có mặt tại nhà thờ Cha Tam. Từ nhà thờ nầy, hai ông đã có liên lạc bằng điện thoại với các tướng lãnh. Ngay sau đó, qua một hồi thảo luận, Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng đã có quyết định dứt khoát, ít nhất là về số phận của cố vấn Ngô đình Nhu rồi: "bằng mọi cách phải diệt trừ mầm móng hậu hoạn".

Thiếu tướng Mai hữu Xuân, đại tá Nguyễn văn Quan, đại tá Dương ngọc Lắm, đại tá Đỗ Mậu..v.v.. đều có mặt trong cuộc thảo luận để lấy quyết định lịch sử nói trên cùng với trung tướng Dương văn Minh, thiếu Tướng Trần thiện Khiêm, tướng Lê văn Kim, Phạm xuân Chiểu, v.v..."

Tôi cũng được đại tá Quan cho biết thêm là "Trung tướng Dương văn Minh, người chỉ huy cuộc đảo chánh, đã nhanh chóng đưa ra đề nghị rất dứt khoát để Hội Đồng lấy quyết định. Các vị hiện diện trong lúc đó, ai cũng không góp thêm ý kiến gì. Lúc đó im lặng được xem là đương nhiên chấp thuận đề nghị của trung tướng Dương văn Minh". (Đại tá Nguyễn văn Quan là một trong những thành viên đầu tiên của "nhóm đảo chánh", luôn có mặt tại Bộ Tham Mưu Hành Quân Đảo Chánh, được thăng cấp thiếu tướng sau đó mấy ngày và giữ chức vụ giám đốc Nha An Ninh Quân Đội, thay thế đại tá Đỗ Mậu).

Thật ra từ 11 giờ đêm ngày 1/11/1963, trong lúc tình hình chưa được ngả ngũ hẳn, thì các tướng lãnh đã có bàn bạc riêng với nhau trước về số phận của ông cố vấn Ngô đình Nhu rồi, riêng đối với Tổng Thống Ngô đình Diệm thì hầu hết đều tán thành cho Người đi ra ngoại quốc, không thấy có vị nào công khai phát biểu khác hơn. Do đó khi thiếu tướng Mai hữu Xuân nhận lệnh đi đón Tổng Thống là ông đã biết mình sẽ phải làm gì rồi, ít nhất đối với ông cố vấn Ngô đình Nhu. Còn đối với Tổng Thống thì lúc bấy giờ tôi hoàn toàn không biết là thiếu tướng Xuân có nhận được "mật lệnh" gì thêm từ trung tướng Dương văn Minh hay không.

Đoàn xe khởi hành từ bộ Tổng Tham Mưu vào khoảng hơn 6 giờ sáng, hai xe quân cảnh dẫn đầu, xe Jeep của tôi và đại úy Phan hòa Hiệp (sau nầy là chuẩn tướng) đi kế đó, rồi đến xe Jeep của thiếu tướng Mai hữu Xuân và xe của đại tá Dương ngọc Lắm, tiếp theo sau là đoàn xe an ninh hộ tống gồm trung đội thiết vận xa 5 chiếc, 4 chiếc đi trước với một xe bộ binh tùng thiết, 1 chiếc đi cuối đoàn xe, đó là thiết vận xa của trung đội trưởng an ninh hộ tống.

Cho tới đây có một vài chi tiết tôi muốn nói rõ thêm để cho sự việc được phần sáng tỏ hơn:

1.Vì không thấy thiếu tướng Xuân dự trù chiếc xe nào cho Tổng Thống và ông cố vấn Ngô đình Nhu nên tôi có đến hỏi riêng thiếu tướng Xuân trước khi khởi hành, thì ông chỉ nói nhanh "Không cần", cộc lốc. Tôi nghĩ chắc chắn là Ông đã có phương cách rồi, nên không muốn chúng tôi quấy rầy làm mất luồng suy tính của ông, lúc ông đang có một "mission" quá đặc biệt, có lẽ đặc biệt hơn bao giờ hết trong cả cuộc đời cảnh sát công an của ông!

2.Trước khi khởi hành tôi và đại úy Phan hòa Hiệp (sau nầy là chuẩn tướng) đều nhìn thấy đại úy Nhung ngồi trên một trong bốn thiết vận xa sau xe Jeep của chúng tôi. Đại úy Hiệp có hỏi tôi về sự hiện diện của vị sĩ quan bộ binh lạ mặt nầy trên xe Thiết Giáp của chúng tôi. Tôi có giải thích sơ qua đó là đại úy Nhung , sĩ quan tùy viên tín cẩn của Trung Tướng Dương văn Minh, và có xác nhận với đại úy Hiệp rằng:

- "Đại úy Nhung có hỏi tôi để được cùng đi với trung đội thiết vận xa. Tôi nghĩ có lẽ đại úy Nhung có nhiệm vụ gì đó do Trung Tướng Minh đích thân giao cho, nên tôi không tiện hỏi, vì không liên quan gì đến nhiệm vụ an ninh hộ tống của chúng mình".

Tôi không muốn nói rõ hơn cho đại úy Hiệp, nhưng cá nhơn tôi, tôi đã biết là đại úy Nhung được trung tướng Dương văn Minh "sai" đi theo đoàn xe để thi hành quyết định của Hội Đồng, quyết định có liên quan đến ông cố vấn Ngô đình Nhu. Quyết định nầy đã được chuyển thành "lệnh" và được trung tướng Dương văn Minh "mật trao cho đại úy Nhung thi hành". Vì chắc chắn trung tướng Dương văn Minh không còn thấy có ai hơn ngoài người sĩ quan cận vệ thân tín nầy để thi hành một công tác đặc biệt, khó khăn và quan trọng nói trên. Tôi dùng danh từ "mật" là vì nếu trung tướng Minh có dặn dò điều gì với đại úy Nhung thì không một ai trong Hội Đồng nghe thấy được, và nếu có ra lệnh cho đại úy Nhung thi hành quyết định công khai của Hội Đồng về một mình ông cố vấn Ngô đình Nhu hay cho cả hai ông thì cũng không một ai trong Hội Đồng được nghe thấy, nhưng tôi khẳng định là Trung tướng Minh đã có "sai đại úy Nhung" tức là "đã có ra lệnh cho đại úy Nhung", và lệnh nầy được đưa ra thể theo quyết định chung của Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng, ít nhất liên quan đến ông cố vấn Ngô đình Nhu, tôi xin nói rõ lại một lần nữa là "chỉ liên quan đến một mình ông cố vấn Ngô đình Nhu". Vì nếu trung tướng Dương văn Minh không ra lệnh thì còn ai là người trong Hội Đồng có đủ thẩm quyền để ra lệnh đặc biệt nầy? cũng như nếu không "sai đại úy Nhung" thì tại sao đại úy Nhung lại phải nói với tôi cho anh được ngồi trên thiết vận xa để được cùng đi vào Chợ Lớn? (được biết là trong tư thế của một sĩ quan cận vệ, đại úy Nhung luôn luôn phải sát cạnh mà không được rời xa trung tướng Minh, nhất là trong lúc tình hình còn tranh tối tranh sáng như thế nầy, và khẳng định là không có một ai ra bất cứ một lệnh gì cho anh được, trừ trung tướng Minh).

Nhưng tôi cũng xác định là dù có "sai đại úy Nhung" hay "ra lệnh cho đại úy Nhung" trung tướng Minh cũng là "sai mật" hay dặn dò mật" mà thôi. Như vậy là đến đây chúng ta không còn thắc mắc gì về "người nào đã ra lệnh" và lệnh đó xuất phát từ đâu, từ cá nhơn hay từ tập thể Hội Đồng?

3. Đại tá Dương ngọc Lắm, chắc chắn phải biết rõ mật lệnh mà Trung Tướng Dương văn Minh đã giao cho Thiếu tướng Mai hữu Xuân. Vì nếu không thì tại sao đích thân ông đã có đến gặp tôi để dặn dò tôi trước khi đoàn xe khởi hành:

- "Nè! mấy người đừng có nói gì bậy bạ nghe!"

- "Dạ vâng! Thưa đại tá." Tôi đáp.

(Đại Tá Lắm là Thầy của Khóa 5 Trường Võ Bị Đà Lạt chúng tôi, là sĩ quan Thiết Giáp bậc đàn anh đáng kính của chúng tôi, là sĩ quan Việt Nam đầu tiên tiếp nhận Phòng Thanh tra Thiết Giáp Kỵ Binh từ Quân Đội Pháp (Inspection de l’A.B.C.), tiền thân của Bộ Chỉ Huy Thiết Giáp Kỵ Binh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Cho nên, không bao giờ chúng tôi dám dùng hai chữ "toa, moa" một cách xấc láo với ông cả. Hơn nữa, thiếu tá mà dùng hai chữ nầy với một đại tá là quá vô lễ (Trần văn Đôn, "Việt Nam Nhân Chứng", trang 236), và sĩ quan Thiết Giáp kỵ binh chúng tôi không bao giờ không biết hai chữ "mấy người" (trống không như vậy) mà ông thường dùng khi chuyện trò thân mật, cũng như khi ra lệnh cho anh em sĩ quan kỵ binh chúng tôi).

4.Tôi được biết chắc chắn ngay từ lúc bàn thảo kế hoạch sơ khởi trước tháng 11/63, là các tướng tá trong nhóm lãnh đạo cuộc đảo chánh đã có dự trù một giải pháp dứt khoát đối với ông cố vấn Ngô đình Nhu rồi. Sự dự trù nầy đã trở thành quyết định từ sau 1 giờ trưa ngày 1/11/63. Đó là:

"Truy tố ra tòa, xử tội trong nước, không cho đi ra ngoại quốc".

Tôi xin lặp lại, sơ khởi là như vậy. Nhưng theo lời đại tá Quan nói với tôi thì đến khuya rạng sáng ngày 2/11/63, lúc chưa được tin Tổng Thống và ông cố vấn Nhu đã bí mật rời khỏi dinh Gia Long, thì đa số trong Hội Đồng không còn có ý đưa ông Cố Vấn ra tòa nữa, mà nhứt quyết "bằng mọi cách phải trừ mầm móng hậu hoạn". Rõ ràng là như vậy, vì tình hình thắng thua chưa ngả ngũ, dinh Gia Long chưa chiếm được, Liên Binh Phòng Vệ trong thành Cộng Hòa chưa chịu buông súng đầu hàng... và cũng vì chính cá nhơn ông Cố Vấn được quy trách cho mọi sự xáo trộn chánh trị trong nước, làm mất lòng quân dân cán chính, v.v..... Riêng đối với Tổng Thống Ngô đình Diệm thì tuy chưa có quyết định gì dứt khoát, nhưng qua trao đổi ý kiến ngoài hành lang thì đa số đều có ý tán thành một giải pháp ôn hòa. Đó là:

"Để cho Ông đi ra ngoại quốc, một mình, như một người dân thường, không được hưởng lễ nghi quân cách của một TổngThống".

Biện pháp nầy coi như là một ân huệ đối với Tổng Thống Ngô đình Diệm. Tuy nhiên theo lời đại tá Nguyễn văn Quan xác nhận lại với tôi thì trung tướng Minh vẫn còn im lặng chưa hề để lộ ra một ý kiến gì.

Đến khi được biết Tổng Thống và ông cố vấn Ngô đình Nhu đã bí mật rời được khỏi dinh Gia Long rồi, thì tình hình thật sự có thay đổi trong chiều hướng rất bất lợi cho hai ông.

Khi còn chưa rõ hai ông hiện đang ở đâu thì Hội Đồng có phần lo âu: dù đảo chánh có thành công mà hai ông này chạy thoát được thì tình hình chánh trị quân sự sẽ ra sao đây? Chẳng những sẽ không thể có một sự ổn định trong tương lai, mà sẽ có một sự chia rẽ có thể dẫn tới tranh chấp quyền lực, nếu không muốn nói là nội chiến, ngay tại Miền Nam Việt Nam, nỗ lực chống cộng sẽ bị ảnh hưởng nặng nề.

[Nhất là đến giờ nầy, tướng Huỳnh văn Cao ở Vùng 4 Chiến Thuật chưa chịu tuyên bố chánh thức trên đài phát thanh đứng về phía Hội Đồng, mặc dù có được yêu cầu nhiều lần, và dù việc đó rất dễ làm, chỉ cần điện thoại cho Ba Xuyên, thâu băng rồi cho phát thanh trên đài Ba Xuyên là đủ. (Vùng 4 lúc bấy giờ có 3 sư đoàn bộ binh còn được kềm giữ trong thế án binh bất động, nhờ công của thiếu tá Nhan minh Trang, thiếu tá Huỳnh văn Tồn và đại tá Nguyễn hữu Có). Tướng Nguyễn Khánh ở Vùng 2 và tướng Đỗ cao Trí ở Vùng 1 tuy có ủng hộ phe đảo chánh nhưng có phần hơi chậm. Cũng xin nhắc lại là tướng Nguyễn Khánh là người đã cố ý tìm mọi cách vào dinh Độc Lập để đích thân chỉ huy chống lại các đơn vị đảo chánh ngày 11/11 năm 1960, cứu ông Ngô đình Diệm, sau đó được thăng thiếu tướng].

Do đó từ quyết định hơi ôn hòa trước đó, đã có một số không ít thành viên trong Hội Đồng bắt đầu tỏ thái độ cứng rắn và quyết liệt hơn, nhất là Trung Tướng Dương văn Minh, linh hồn của cuộc đảo chánh. Ông không muốn thấy ngày 11/11/60 tái diễn lần thứ hai. Chúng ta phải thấy được trách nhiệm nặng nề của người chỉ huy cuộc hành quân đảo chánh lúc bấy giờ, thì mới biết được mức độ lo âu, nóng ruột của trung tướng Dương văn Minh ra thế nào. Trách nhiệm đối với đất nước, trách nhiệm đối với các đơn vị hành quân đảo chánh, nhất là đối với sinh mạng sĩ quan tướng tá nằm trong "nhóm đảo chánh" mà từ sau 13 giờ ngày 1/11 được tạm gọi là Hội Đồng Quân nhân Cách Mạng, trách nhiệm phải ổn định về chánh trị, hành chánh, quân sự, xã hội,v.v... để lèo lái con tàu Miền Nam Việt Nam sau khi đảo chánh thành công, hoặc phải có đường lối hành động thích ứng trong trường hợp cuộc hành quân không suông sẻ hay thất bại v.v....(thật tình chúng tôi không biết rõ ý đồ thầm kín của ông lúc bấy giờ)

Từ đó mới thấy được thái độ của trung tướng Dương văn Minh qua đề nghị cứng rắn của Trung tướng, để hội đồng lấy quyết định về trường hợp của cá nhơn ông cố vấn Ngô đình Nhu, dứt khoát không thể do dự hay yếu mềm được. Và đến đây, tôi được biết rõ ràng là Trung Tướng Dương văn Minh, với tư cách là người chỉ huy toàn bộ cuộc hành quân đảo chánh, là người duy nhất lúc bấy giờ có trách nhiệm thi hành quyết định của Hội Đồng về trường hợp ông cố vấn Ngô đình Nhu: "Bằng mọi cách, phải trừ mầm móng hậu hoạn".

Và Ông đã ra lệnh.

Nhưng tôi hoàn toàn không được biết là trung tướng có ra lệnh gì thêm cho đại úy Nhung về trường hợp của Tổng Thống Ngô đình Diệm hay không?

Có người nói là trước khi đoàn xe khởi hành, trung tướng Dương văn Minh đứng trên lầu tòa nhà chánh Bộ Tổng Tham Mưu, có hướng về thiếu tướng Mai hữu Xuân hay đại úy Nhung đưa ra hai ngón tay (ý nói là cả 2 người). Nhưng, tôi xác nhận là hoàn toàn không trông thấy. Tôi biết rõ tính trầm tĩnh và suy tính chính chắn của trung tướng Minh, nên tôi chắc chắn là ông không bao giờ có hành động "vào phút chót và quá lộ liễu" như vậy. Nếu có ra lệnh, thì chắc chắn ông đã có đắn đo suy tính kỹ càng trước rồi, và ông đã phải dặn dò ngay đại úy Nhung rồi, chớ không bao giờ ông lại ra lệnh để cho người ta thấy dễ dàng như vậy.

Như tôi đã có trình bày ở trên, bốn điểm mà tôi vừa nêu lên là những điều mà chính tai tôi nghe, chính mắt tôi thấy và chính tôi được biết, trước khi chúng tôi đi vào nhà thờ Cha Tam trong Chợ Lớn.

(Tôi xin phép được mở thêm một dấu ngoặc ở đây: Trước khi khởi hành, tôi có ghé ngang qua Bộ Chỉ Huy Thiết Giáp/Hành quân đặt trên một bán xích xa đậu ngay dưới tòa nhà chánh của Bộ Tổng Tham Mưu để báo cho trung tá Nguyễn văn Thiện biết về hướng đi và nhiệm vụ an ninh hộ tống của chúng tôi. Tôi tuyệt đối không nói thêm một điều nào mà tôi đã nghe, đã thấy và đã biết được về các thảo luận và quyết định của Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng, vì trung tá Thiện không phải là thành viên của "nhóm đảo chánh" như chúng tôi. Ông vẫn chưa biết gì về việc Tổng Thống và ông cố vấn Ngô đình Nhu đang ở Chợ Lớn, không biết tý gì về những diễn tiến trên tòa nhà chánh của Bộ Tổng Tham Mưu mà tôi vừa nói ở trên. Trên hệ thống Truyền Tin/ Thiết Giáp, các đơn vị của chúng tôi chỉ biết là Tổng Thống không có mặt tại dinh Gia Long mà thôi. Không ai biết là hai ông đã có đàm thoại với các tướng lãnh từ nhà thờ cha Tam, Chợ Lớn. Dù sao đề phòng vẫn hơn!

Trung tá Thiện, người Huế, vốn là người tín cẩn của Tổng Thống Ngô đình Diệm, cán bộ nồng cốt Cần Lao, được Tổng Thống đưa từ Nha Nhân Viên/Bộ Quốc Phòng về Bộ Tổng Tham Mưu thay thế trung tá Hoàng xuân Lãm, giữ chức vụ Chỉ huy Trưởng Bộ Chỉ Huy Thiết Giáp Binh. Do đó, sáng ngày 1/11/63, ông được gọi lên họp ở văn phòng thiếu tướng Khiêm và bị giữ luôn ở phòng họp số 1 (được tạm gọi là "phòng tạm giữ"), để bảo đảm an toàn cho kế hoạch đảo chánh.

Khi tôi lên họp với Hội Đồng Quân Nhân trước giờ G, thì tôi mới biết là trung tá Thiện đang bị nhốt ở phòng bên cạnh, tôi mới vào xin với trung tướng Dương văn Minh cho tôi được bảo lãnh trung tá Thiện ra, và được phép sử dụng ông, để ông điều hành Bộ Chỉ Huy Hành Quân/Thiết Giáp, theo dõi và điều động các đơn vị Thiết Giáp đang hành quân, nếu cần. Bộ Chỉ Huy Hành Quân/Thiết Giáp được đặt ngay dưới tòa nhà chánh của Bộ Tổng Tham Mưu. Dĩ nhiên, tôi phải hoàn toàn chịu trách nhiệm và bảo đảm về hành động của trung tá Thiện kể từ giờ nầy vì tôi vẫn có hệ thống chỉ huy trực tiếp, song song, trên xe Jeep chỉ huy của tôi, nên không thấy có gì bất trắc có thể xảy ra. Sau đó, khi đảo chánh thành công, anh em sĩ quan Thiết Giáp trong tinh thần đoàn kết của binh chủng, cũng đều đồng ý với đề nghị của tôi trình lên Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng, và được hội đồng thăng thưởng chấp thuận cho trung tá Thiện được thăng cấp đại tá và được tiếp tục giữ chức vụ Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy Thiết Giáp Binh).

http://www.sicp-online.org/fakes/images/svn/fdc_diem_signature.jpgB. TẠI NHÀ THỜ CHA TAM. (CHỢLỚN)-

Đoàn xe vào đến nhà thờ cha Tam. Đại úy Hiệp giúp tôi bố trí an ninh trung đội thiết vận xa trước nhà thờ. Tôi đi lại gặp thiếu tướng Xuân và đại tá Lắm để nhận lệnh tiếp. Tôi không thấy đại úy Nhung lúc nầy.

Thiếu tướng Xuân và đại tá Lắm không ai chịu vào nhà thờ để gặp Tổng Thống (không nói rõ lý do tại sao), dù đó là nhiệm vụ của hai ông, và bảo tôi đại diện Hội Đồng vào mời Tổng Thống và ông cố vấn ra xe là được rồi.

Tôi vào nhà thờ, qua cổng nhỏ, phía bên mặt cổng chính. Nhưng khi bước vào khỏi cổng khoảng 10 thước, thì tôi sực nhớ là mình vào một cơ sở tôn giáo, không nên mang theo vũ khí. Tôi vội bước lui, trở ra cổng và cởi súng lục ra, trao cho tài xế của tôi (xe đậu gần cổng chánh). Lúc nầy dân chúng đã thấy có việc lạ và tò mò đứng lố nhố đầy cả ngã ba, trước rào sắt của nhà thờ. Binh sĩ cũng không gắt gao lắm và chắc chắn bây giờ dân ở đây đã biết được là Tổng Thống Diệm và ông cố vấn Nhu đang ở trong nhà thờ nầy.

Tôi lại bước vào nhà thờ lần thứ hai, không súng, và vẫn một mình. Tôi không dòm lại phía sau nhưng nghĩ bụng là anh em Thiết Giáp ở ngoài rào sắt chắc cũng đã bố trí để theo dõi và an ninh cho tôi, vì tất cả đều biết rằng tôi vào đây không một tấc sắt trong tay. Tôi mạnh dạn bước tới, rẽ về hướng tay mặt, đi khoảng 20 thước thì thấy từ phía dãy nhà bên hông phải của nhà thờ bốn người đang đi ra, về hướng của tôi. Đó là Tổng Thống, (tay có cầm gậy), ông cố vấn Nhu, và hai người nữa mặc thường phục. Tôi nghĩ bụng: Một trong hai người nầy phải là đại úy Đỗ Thọ, tùy viên của Tổng Thống, (vì tay có xách một chiếc cặp da). Người thứ tư tôi không biết (sau nầy tôi mới biết đó là đại úy An, sĩ quan cận vệ của Tổng Thống). Tôi nghĩ, chắc là Tổng Thống đã được Hội Đồng Quân Nhân báo trước rồi, nên khi nghe thấy xe tới nhà thờ là Tổng Thống đi ra.

Tôi đứng lại, chờ... Nhưng, vẫn không để ý xem hai sĩ quan nầy có võ trang hay không... Và khi Tổng Thống đến còn cách tôi khoảng 3 thước, tôi đứng nghiêm lại, đưa tay lên mũ, chào, đúng lễ nghi quân cách, và giữ nguyên tư thế nghiêm đó, tôi nói:

- "Thưa Tổng Thống, chúng tôi được lệnh của Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng đến đây mời Tổng Thống và ông Cố vấn về Bộ Tổng Tham Mưu. Có Thiếu tướng Mai hữu Xuân đại diện cho Hội Đồng đang đứng trước cổng chờ Tổng Thống."

Tổng Thống đứng lại, nghe tôi trình bày, và có nói một câu ngắn mà tôi không nghe rõ lắm. Sau đó, đại úy Đỗ Thọ bảo tôi đi trước, Tổng Thống sẽ theo sau. Nhưng tôi đứng nép qua một bên, mời Tổng Thống đi trước, ra hướng cổng nhỏ bên phải, cả bốn người qua hết rồi, tôi mới lững thững bước theo sau... cách xa 3 thước. Dù sao, trong cương vị sĩ quan (nhất là sĩ quan cấp tá) tôi vẫn bắt buộc phải giữ lễ đối với Tổng Thống, dù là trong hoàn cảnh nào. Và đi sau cũng có thể là một hành động phản ứng đề phòng tự nhiên của tôi, chớ hoàn toàn không có ý nghĩ gì khác. Tôi đinh ninh rằng Thiếu tướng Xuân đã phải có mặt trước cổng để hướng dẫn Tổng Thống lên xe về Tổng Tham Mưu, vì đó là nhiệm vụ của ông.

Đến cổng rào, vì là cổng nhỏ bên hông nên bốn người phải tuần tự bước qua cổng, Tổng Thống bước ra trước, đến đại úy Đỗ Thọ rồi mới đến ông cố vấn, đại úy An. Tôi là người thứ năm bước ra khỏi cổng sau cùng.

Ngay lúc bấy giờ, tôi mới chợt nhận thấy có một xe thiết vận xa đậu sẳn ngay cổng nhỏ nầy, cánh cửa sau xe mở rộng, gát nằm xuống sát trên lề đường (lề đường rộng khoảng 3 thước dành cho người đi bộ, cao khỏi mặt lộ khoảng hơn 2 tấc). Tôi thấy thiếu tướng Xuân và đại úy Nhung đã có mặt tại chỗ, không có đại tá Lắm. Thiếu tướng Mai hữu Xuân chỉ có bảo đại úy Đỗ Thọ trao cho ông chiếc cặp da của Tổng Thống mà đại úy đang xách. Sau đó, ông Xuân xách chiếc cặp đi ngay, không nói thêm một lời nào khác ngoài việc khoát tay ra lệnh cho đại úy Thọ và đại úy An đi theo ông.

Đại úy Nhung hướng về phía Tổng Thống và ông cố vấn Ngô đình Nhu nói như ra lệnh:

- "Mời hai ông lên xe".

Vừa nói, đại úy vừa chỉ vào cửa thiết vận xa đang đậu trước cổng nhỏ.

Lúc nầy Tổng Thống và ông cố vấn Nhu đang đứng cách cửa thiết vận xa khoảng 1 thước. Tổng Thống không nói một lời nào, chưa có một phản ứng nào về thái độ kém nhã nhặn của người sĩ quan mà ông chưa hề biết mặt. Tổng thống còn đang đứng tần ngần, sững sờ, thì ông cố vấn Ngô đình Nhu đã lên tiếng, lộ hẳn vẻ mặt bất bình của người bề trên:

"Tại sao lại phải lên xe nầy? Không còn xe nào khác hay sao?"

-"Không có! Vì lý do an ninh! Tình hình đang hỗn loạn. Dân chúng đang muốn tìm giết hai ông đó! Hai ông phải lên xe nầy thôi, để được bảo vệ an ninh."

Đại úy Nhung có vẻ bực bội vì câu hỏi giọng kẻ cả, nên vừa trả lời vừa đưa tay ra dấu, như có ý đẩy hai người vào thiết vận xa.

Nhìn qua, nhìn lại không thấy thiếu tướng Mai hữu Xuân đâu cả, đại úy Đỗ Thọ và người sĩ quan cận vệ cũng không thấy có mặt, Tổng Thống có hỏi:

-"Thiếu tướng Mai hữu Xuân đâu? Gọi thiếu tướng Xuân đến gặp tôi đã."

-"Thiếu tướng Xuân đã lên xe đi trước rồi". Đại úy Nhung vừa trả lời vừa giục hai ông vào xe.

Sau một phút ngập ngừng hai ông phải bước lên xe (không còn cách nào khác hơn)

Tôi vẫn còn đứng cách đó vài bước, bên cạnh cổng nhỏ nhà thờ, còn nhìn thấy được cảnh thiếu tướng Xuân đầu trần, không nhìn thẳng Tổng Thống (không dám hay không muốn, khó mà nhận rõ được). Thiếu tướng đã đưa tay nhận lấy chiếc cặp da từ tay đại úy Đỗ Thọ, xong bước đi luôn về hướng xe của ông, không quên ra lệnh cho đại úy Đỗ Thọ cùng người sĩ quan cận vệ theo ông, để mặc cho đại úy Nhung đối đáp với Tổng Thống ra sao tùy ý.

Tôi cũng nhìn thấy được gương mặt thẩn thờ, ngạc nhiên của Tổng Thống, vẻ bất bình cau có của ông cố vấn Nhu, và thái độ nóng nảy của đại úy Nhung.

Tôi theo dõi được những câu trao đổi ngắn ngủii nhưng mất bình tĩnh của Tổng Thống và ông cố vấn với đại úy Nhung, cũng như sự im lặng cố chịu đựng của Tổng Thống Ngô đình Diệm.

Tôi còn chứng kiến được cảnh hai người lặng lẽ bước vào xe, còn nghe đại úy Nhung bảo họ "cúi đầu xuống" (vì cửa xe thấp, phải khom lưng xuống mới vào được).

Đợi cho hai người vào xong, đại úy Nhung mới bước vào sau cùng. Và, cửa xe từ từ dựng đứng lên, đóng kín lại...

Ngay lúc bấy giờ, tôi mới kịp nhận ra là trong thiết vận xa không còn có một binh sĩ Thiết Giáp nào (trừ tài xế và phụ tài xế phía trước không kể). Lúc đại úy Nhung là người sau cùng bước vào xe, thì rõ ràng tôi chỉ thấy có 3 người trong xe. Đó là: Tổng Thống, ông Cố vấn, và đại úy Nhung. Sau nầy hỏi ra tôi mới biết là trưởng xa, xạ thủ đều được đại úy Nhung yêu cầu tạm đi qua xe khác.

Tôi bước xuống lòng đường, đi bộ lại gặp thiếu tướng Mai hữu Xuân (xe ông đậu trước thiết vận xa nầy, trên con đường dọc). Tôi báo cáo tình hình sau cùng, và đề nghị với thiếu tướng cho đoàn xe khởi hành về Bộ Tổng Tham Mưu.

C.TRÊN ĐƯỜNG về Bộ TỔNG THAM MƯU.

http://www.executedtoday.com/images/Diem_time.jpgTôi bước về xe Jeep của tôi, ra lệnh cho đoàn xe nổ máy và chuẩn bị lên đường. Thứ tự các xe như cũ: xe Jeep chỉ huy của tôi và đại úy Hiệp đi đầu như thường lệ, ngay sau hai xe quân cảnh dẫn đường, kế đó là xe thiếu tướng Mai hữu Xuân, xe của đại tá Dương ngọc Lắm. Theo sau, vẫn là bốn thiết vận xa liền nhau, thiết vận xa thứ ba chở Tổng Thống Ngô đinh Diệm và ông cố vấn Ngô đình Nhu, tiếp theo là xe bộ binh tùng thiết, và cuối cùng là thiết vận xa của trung đội trưởng Thiết Giáp. Xe nầy thường trực liên lạc truyền tin với tôi, để báo cáo tình

hình di chuyển và tình hình an ninh của đoàn xe.

Tôi vẫn lái xe Jeep chỉ huy của tôi, đại úy Hiệp ngồi bên ca.nh. Đoàn xe đi với tốc độ bình thường, không nhanh lắm.

Đoàn xe đang đi trên đường Hồng Thập Tự, qua khỏi nhà bảo sanh Từ Dũ thì phải dừng lại tại cổng xe lửa, vì có xe lửa sắp chạy qua, cổng đã gát ngang đường. Thời gian đoàn xe ngừng tại đây là khoảng trên dưới 10 phút.

Chợt tôi nghe có mấy tiếng súng nổ phía sau, vào khoảng giữa đoàn xe. Tôi quay đầu xe Jeep lại, chạy dọc theo đoàn xe để xem việc gì đã xảy ra. Đến ngang thiết vận xa có chở Tổng Thống và ông Cố vấn, thì tôi thấy đại úy Nhung ngồi trên nóc xe (ngay vị trí của trưởng xa) và hướng về phía chúng tôi đưa một ngón tay cái lên làm hiệu (được hiểu là mọi việc đều tốt).

Tôi vội hỏi:

- "Tiếng súng nổ ở đâu đó?

Đại úy Nhung đưa tay chỉ vào trong xe mà không nói gì.

Tôi quay đầu xe lại, tiếp tục trở lên đầu đoàn xe. Lúc đó xe lửa vừa chạy qua xong, cổng đã mở, đoàn xe chúng tôi tiếp tục chạy, hướng về bộ Tổng Tham Mưu. Để được biết rõ ràng hơn, tôi có hỏi Trung đội trưởng Thiết Giáp việc gì đã xảy ra mà có tiếng súng nổ trên thiết vận xa thứ ba? Tôi được cho biết như sau:"Phụ tài xế xe nầy có báo cáo cho tôi biết là tiếng súng đó là do ông đại úy bộ binh ngồi trong xe bắn chết Tổng Thống và ông cố vấn".

Cả tôi và đại úy Hiệp đều nghe biết sự việc nầy qua hệ thống truyền tin Thiết Giáp trên xe Jeep chỉ huy của chúng tôi. Nhưng tôi vẫn chưa có báo cáo gì về Bộ Tổng Tham Mưu, vào lúc đó, cả với Bộ Chỉ Huy/Hành Quân Thiết Giáp cũng vậy (tần số chỉ huy khác tần số an ninh hộ tống). Riêng tôi, tôi không biết tại sao cả hai ông đều bị bắn chết? Vì cho tới giờ nầy, cũng như các tướng tá thành viên khác của Hội Đồng, tôi vẫn biết là Hội Đồng dù chưa có quyết định nào dứt khoát cho trường hợp của Tổng Thống Ngô đình Diệm, nhưng gần như đã có một sự hiểu ngầm qua trao đổi ý kiến ngoài hành lang, bán chánh thức, giữa các thành viên của

Hội Đồng, là sẽ đề nghị ("sẽ" mà thôi) dành cho Tổng Thống một ân huệ: sẽ cho Tổng Thống đi ra ngoại quốc, một mình, và duy nhất chỉ không được hưởng lễ nghi quân cách dành cho một vị nguyên thủ quốc gia mà thôi. Và hình như Hội Đồng cũng có dự trù xin Tòa Đại Sứ

Hoa Kỳ một chiếc máy bay đặc biệt để đưa Tổng Thống ra khỏi Saigon.

Tôi cũng xin lặp lại là riêng trung tướng Dương văn Minh vẫn còn im lặng, chưa có chánh thức phát biểu một ý kiến gì cả về trường hợp nầy. Dù sao tôi vẫn còn thắc mắc không biết đây có phải là tự ý đại úy Nhung hay không? Là một hành động cố ý hay lỡ tay? Hay là do chỉ thị mật của trung tướng Minh mà phải làm như vậy?

Đoàn xe đến bộ Tổng Tham Mưu vào lúc hơn 8 giờ sáng. Một tiểu đội Quân Cảnh đã thấy có mặt tại cổng và hướng dản chiếc thiết vận xa có chở Tổng Thống và ông Cố vấn đến đậu ở bãi cỏ bên cạnh tòa nhà chánh và gát luôn tại chỗ, chờ lê.nh. Đại úy Nhung đã xuống xe lúc nào tôi không thấy được.

Tôi bước theo thiếu tướng Xuân lên tòa nhà chánh. Vừa vào đến tầng dưới, thì tôi đã thấy có trung tướng Dương văn Minh và một số tướng tá khác từ trên lầu vừa xuống tới đó. Thiếu tướng Trần thiện Khiêm đi sau cùng.

Thiếu tướng Mai hữu Xuân vui vẻ bước tới báo cáo thẳng với trung tướng Dương văn Minh, bằng tiếng Pháp, ai cũng nghe thấy:

- "Mission accomplie."

Trầm ngâm và đăm chiêu, trung tướng Minh chưa nói một lời nào, sau báo cáo của thiếu tướng Xuân, thì thiếu tướng Khiêm ngay sau đó hỏi nhỏ:

- "Việc gì đã xảy ra?"

Trung tướng Minh quay lại nói một câu ngắn gọn:

- "Hai ổng đã chết rồi"

Ngay lúc nầy tôi cũng có mặt tại chỗ. Tôi chợt hiểu. Thì ra câu "nhiệm vụ đã hoàn tất" cũng còn có nghĩa là "hai ổng đã chết rồi". Rất là rõ ràng. Trung tướng Minh nói xong, tất cả đều không có một câu hỏi nào khác nữa và cùng nhau trở lên văn phòng, không đi ra chỗ thiết vận xa đậu nữa. Tôi cũng đi theo.

Bước vào đây, tôi mới thấy là đại úy Nhung đã có mặt ở văn phòng của Tham Mưu Trưởng rồi, cũng tức là văn phòng mà trung tướng Dương văn Minh và các tướng tá trong Hội Đồng Quân Nhân đang tạm sử du.ng. Lúc bấy giờ, tôi mới biết thêm là đại úy Nhung đã lên đây trước rồi, đã báo cáo với trung tướng Minh trước khi có người lên đây trình là "xe đón Tổng Thống đã về đến bộ Tổng Tham Mưu, đang đậu ở sân vận động, và đã có Quân Cảnh canh gát cẩn thận".

Đại úy Nhung chỉ báo cáo riêng cho trung tướng Minh mà thôi, và chắc chắn vẫn là "kín", là "mật"... nên các tướng tá trong Hội Đồng, kể cả thiếu tướng Khiêm cũng chưa hay biết được việc gì đã xảy ra. Do đó, khi trung tướng Minh cùng các tướng tá trong Hội Đồng cùng đi xuống sân vận động dự trù để gặp Tổng Thống và ông Cố vấn thì chưa ai biết được việc gì

đã xảy ra cho Tổng Thống cả. Vừa đến tầng dưới thì gặp ngay thiếu tướng Xuân từ ngoài sân bước vào, hớn hở báo cáo (công khai) với trung tướng Minh là "nhiệm vụ đã hoàn thành" (Mission accomplie, tiếng Pháp).

Để trả lời câu hỏi: "Việc gì đã xảy ra?" của thiếu tướng Khiêm, trung tướng Minh mới buông gọn một câu: "Hai ổng đã chết rồi"

Tôi đã kín đáo nhận xét thái độ của các thành viên trong Hội Đồng ngay tại hành lang tầng dưới của tòa nhà chánh Bộ Tổng Tham Mưu, ngay sau khi thiếu tướng Mai hữu Xuân báo cáo, và sau đó khi trung tướng Minh trả lời ngắn gọn cho thiếu tướng Khiêm. Thoạt đầu, tất cả đều có vẻ vui (có lẽ khi biết là đã đón được Tổng Thống và ông cố vấn về đây rồi, hay "bắt" được cũng vậy), vì ai cũng nghĩ rằng phe đảo chánh ta đã nắm chắc phần thắng 100% mà không còn sợ hậu quả gì nữa, vì hai ông không chạy vuột ra khỏi thủ đô được để còn mưu tính chuyện gì khác nữa. Và câu "Mission accomplie" cũng được các tướng tá trong Hội Đồng hiểu là đã "bắt" được hai ông về rồi.

Đến lúc nghe trung tướng Minh trả lời cho thiếu tướng Khiêm là cả hai đều đã chết hết rồi thì phần đông đều có vẻ sửng sốt, ngạc nhiên đến độ không nói được một lời nào. Vì cứ y theo quyết định thì cùng lắm cũng chỉ có một mình ông cố vấn Ngô đình Nhu mà thôi, tại sao lại hai người? Ai cũng nghĩ là Tổng Thống sẽ được Hội Đồng cho đi ra ngoại quốc, bây giờ tại sao lại như vậy? Phải giải thích thế nào đây?

Riêng trung tướng Minh thì rất là trầm tĩnh, không nói một lời nào với thiếu tướng Xuân, không có một lời khen hỏi ủy lạo, và cũng không một lời giải thích với các thành viên của Hội Đồng sau câu trả lời ngắn gọn cho thiếu tướng Khiêm.

Sau đó vài hôm, tôi có dịp gặp lại thiếu tá Nhung (đã được thăng cấp sau khi đảo chánh hoàn toàn thành công). Để hết thắc mắc, tôi có gặng hỏi lại sự việc đã xảy ra như thế nào trên thiết vận xa, thì thiếu tá Nhung vừa cười vừa trả lời cho tôi một cách gọn gàng như đã không có chuyện gì xảy ra:

- "Một người cũng vậy mà hai người cũng vậy thôi. Hai người cũng không khó lắm nhưng chắc ăn hơn".

- "Nhưng làm gì có lệnh cho hai người đâu?" Tôi gợi ý hỏi thêm.

- "Vì ông Diệm chống cự lại sau khi ông Nhu bị tôi đâm chết nên tôi phải thanh toán luôn, có lệnh cũng được mà không có lệnh cũng vậy thôi. Cho nó chắc ăn. Lúc đó đâu có đợi lệnh được anh?"

Thiếu tá Nhung cũng cho tôi biết là anh đã sử dụng dao găm cá nhơn của anh, và sau đó anh bồi thêm cho mỗi người một viên đạn "ân huệ".

Tôi còn nhớ mãi những câu đối đáp nầy mồn một, không bao giờ quên. Nhưng, không bao giờ tôi dám hé môi nửa lời... Bí mật quốc gia chăng? Cũng có thể là như vậy, vì Hội Đồng họp báo có tiết lộ điều gì rõ ràng đâu? Cũng không có giải thích điều gì và cũng không có trả lời bất cứ câu hỏi nào có liên quan đến sự việc nầy.

Ba tháng sau, ngày 30/1/64 xảy ra biến cố chỉnh lý do tướng Nguyễn Khánh cầm đầu. Thiếu tá Nhung bị lực lượng của tướng Khánh bắt cùng với năm vị tướng lãnh là tướng Trần văn Đôn, Lê văn Kim, Mai hữu Xuân, Tôn thất Đính và Nguyễn văn Vỹ. Trong 5 vị tướng nầy, hết 4 ông đã cùng với trung tướng Dương văn Minh là đầu não tiên khởi đề xướng đảo chánh và hình thành kế hoạch đảo chánh ngày 1/11/1963 (trừ tướng Vỹ). Thiếu tá Nhung được giao qua cho lữ đoàn Nhảy Dù ngay sáng ngày hôm đó. Và ngày hôm sau, thi hài thiếu tá Nhung được giao trả về cho gia đình với vỏn vẹn một câu khám nghiệm "chết vì treo cổ tự tử" của một bác sĩ quân y Lữ Đoàn Dù...

KẾT LUẬN

Để thay lời kết, tôi xin tạm mượn một câu, trích nguyên văn của Trung tướng Trần văn Đôn trong quyển "Việt Nam Nhân Chứng": "Tuy lúc đó tôi không nghĩ đến chuyện giết hai ông Diệm Nhu, sau nầy nhìn lại các sự kiện, tôi cho rằng "người nào đó" ra lệnh giết nầy quả là một người thấy xa, ông ta không phải ngu dại khi làm chuyện đó". Nhưng theo tôi, xét cho cùng, "người nào đó" dù có thấy xa, có ngu dại... hay có khôn ngoan gì thì cũng không phải là người thực sự có quyền chủ động, và không thể chủ động gì được trong sự việc nầy. Lý do rất đơn giản và rất dễ hiểu là: Lúc nào cũng có một bàn tay lông lá của người phù thủy với chiếc đũa thần, luôn luôn có mặt bên cạnh... đứng trong bóng tối...

Viết xong tại tiểu bang Washington,một ngày đầu năm Bính Tý - Dương hiếu Nghĩa

Bài 3: Aladin Nguyen

DS  Henry Cabot Lodge - TT Ngo Dinh Diem.

DS Henry Cabot Lodge - TT Ngo Dinh Diem.

Hôì 4:30 trưa thứ sáu, mùng 1/11/1963, nghĩa là khoảng 3 giờ sau khi tiếng súng đảo chánh bắt đầu nổ, TT Diệm gọi điện thoại cho đại sứ Lodge.

Và đây là nôị dung cuộc nói chuyện lần cuôí cùng giữa vị Tổng Thống Đệ Nhất Cộng Hòa Việt Nam vơí viên đại sứ Mỹ.
Tổng thống Diệm: Tôi nghĩ rằng tôi không được thông báo đầy đủ tin tức để có thể trả lời câu hỏi của ngài. Tôi có nghe thấy những tiếng súng nổ, nhưng không biết rõ thực hư. Vả lại bây giờ là 4:30 sáng tại Hoa Thịnh Đốn và chính quyền Mỹ có lẽ không thể đưa ra một ý kiến về vấn đề này.
Tổng thống Diệm: Nhưng chắc chắn ngài cũng có những ý niệm đại khái về vấn đề này. Dù sao, tôi cũng là một vị quốc trưởng. Tôi đã cố gắng làm bổn phận trên tất cả.
Đaị sứ Lodge: Dĩ nhiên ngài đã làm bổn phận của ngài. Như tôi đã nói với ngài lần đầu tiên sáng hôm nay, tôi khâm phục sự can đảm của ngài và khâm phục sự đóng góp to lớn của ngài đối với quê hương của ngài. Không ai có thể lấy đi cái công của ngài đối với tất cả những gì ngài đã làm. Nhưng bây giờ tôi lo ngại cho sự an toàn bản thân của ngài. Tôi được báo cáo rằng những kẻ đảm trách những việc đang xảy ra đề nghị để cho ngài và em ngài bình yên đi ra ngoại quốc nếu ngài từ chức. Ngài có nghe thấy nói điều đó không?
Tổng thống Diệm: Không (ngừng một lúc, TT Diệm nói tiếp) ngài có số điện thoại của tôi.
Đaị sứ Lodge: Vâng. Nếu tôi có thể làm được điều gì cho sự an toàn bản thân của ngài, thì xin ngài cứ gọi tôi.
Tổng thống Diệm: Tôi đang tìm cách lập lại trật tự.
Về cuộc nói chuyện nói trên giữa TT Diệm và đại sứ Lodge chúng ta chỉ cần ghi nhận ba điểm sau đây:
Thứ nhất: cái bất lương của đại sứ Lodgẹ Ông đã dối trá khi nói với TT Diệm: “Tôi nghĩ rằng tôi không được thông báo đầy đủ tin tức để có thể trả lời câu hỏi của ngài. Tôi có nghe thấy tiếng súng nổ, nhưng không rõ thực hư”.
Thứ hai: cái ngu dấu đầu hở đuôi của nhà ngoại giao được coi là thượng thặng của Mỹ. Thật vậy, ở câu trên, đại sứ Lodge vừa nói với TT Diệm rằng ông chỉ nghe thấy tiếng súng nổ, mà không rõ thực hư. Thì ngay câu dưới ông lại nói với TT Diệm rằng: “Tôi được báo cáo rằng những kẻ đảm trách những việc đang xảy ra đề nghị để cho ngài và em ngài đi ra ngoại quốc nếu ngài từ chức”.
Thứ ba: cái khí phách của TT Diệm. Đến phút chót, và trong cơn nguy khốn, trước mặt ngoại bang, ông vẫn giữ được thể thống của một người lãnh đạo quốc gia, và tư cách của vị tổng thống một quốc gia có chủ quyền. Ông không hạ mình xuống xin ân huệ của ngoại bang. Như tổng thống Marcos của Phi Luật Tân đã hạ mình xuống xin ân huệ của Mỹ, ngày 25/2/1986.
Hồi 5:30 chiều 1/11, tức là khoảng một giờ sau cuộc điện đàm giữa TT Diệm và đại sứ Lodge, trung tướng Dung văn Minh gọi điện thoại cho ông Diệm và đòi ông Diệm phải đầu hàng. Ông Diệm từ chối không muốn nói chuyện với tướng Minh.
Hai giờ sau, tức là khoảng 7:30, tướng Minh lại gọi cho ông Diệm, ông Diệm lại từ chối không nói chuyện. Tướng Minh rất tức giận về thái độ khinh bỉ của ông Diệm.
Khoảng 8 giờ chiều, tướng Minh ra lệnh tấn công vào dinh Gia Long. Người được chọn để thi hành cuộc tấn công là đại tá Nguyễn văn Thiệu, một sĩ quan công giáo, lúc đó chỉ huy sư đoàn 5 bộ binh.
Một điều mà nhóm đảo chánh đã không ngờ đến, là khoảng 8 giờ chiều hôm đó, anh em ông Diệm đã lên một chiếc xe hơi màu đen do ông Cao Xuân Vỹ lái, bí mật ra khoải dinh Gia Long và đến tạm trú tại nhà Hoa kiều Mã Tuyên.
Vào lúc 3 giờ sáng ngày 2/11, đại tá Thiệu mở nhiều đợt tấn công với thiết giáp và pháo binh vào dinh Gia Long. Nhưng các cuộc tấn công ấy đã bị đẩy lui. Những quân nhân trung thành với ông Diệm đã chiến đấu vô cùng dũng cảm, mặc dù thua sút về quân số, vũ khí, mặc dù không được tiếp tế và mặc dù ở trong tình thế tuyệt vọng. Cuối cùng, nhóm đảo chánh đã phải cầu cứu trung tá Nguyễn cao Kỳ cho phi cơ phóng pháo lên bắn phá thành Cộng Hòa để hỗ trợ quân đảo chánh và áp đảo tinh thần những binh sĩ phòng thủ dinh Gia Long.
Hồi 5 giờ sáng ngày 2/11, binh sĩ trong dinh Gia Long kéo cờ trắng đầu hàng, sau khi được lệnh bằng điện thoại của ông Diệm.
Hồi 6:45, ông Diệm lại gọi điện thoại. Người nghe điện thoại là thiếu tướng Trần Thiện Khiêm. Ông Diệm cho tướng Khiêm biết ông và ông Nhu hiện đang ẩn náu tại nhà thờ cha Tam, Chợ Lớn, và yêu cầu đem xe đến đưa về bộ Tổng Tham Mưu gặp các tướng lãnh. Tướng Dương văn Minh bèn cử thiếu tướng Mai hữu Xuân, đại tá Nguyễn văn Quang, đại tá Dương ngọc Lắm, thiếu tá Dương hiếu Nghĩa và đại úy Nguyễn văn Nhung đem xe thiết giáp đi rước những kẻ đầu hàng về bộ tổng tham mưu.

Đoàn xe rời bộ tổng tham mưu hồi 7:30. Tướng Đôn cho sửa soạn một căn phòng cho anh em ông Diệm, và mời bác sỉ Đinh Xuân Minh đến “săn sóc cho Cụ”.
Những gì xảy ra sau đó, đã được sách vở báo chí cũng như lịch sử ghi chép đầy đủ. (xin qúy vị đọc bài “Bọn Ác Ôn Côn Đồ” của Tú Gàn vừa post lên Net để biết rõ chi tiết diễn tiến ….bọn côn đồ phản loạn kia đã làm gì đối vởi anh em TT Diệm trên đường về từ nhà thờ cha Tam trở về tổng tham mưu?)
Khoảng 8:30, chiếc xe thiết giáp về đổ tại sân tổng tham mưu với hai xác chết trên sàn xe. TT Diệm đã bị bắn đàng sau ót, ông Nhu bị bắn ở lưng và bị đâm nhiều nhát dao trên ngực. Hai tay các nạn nhận đều bị trói quặt ra đàng sau lưng.
Cuộc đảo chánh 1963 đã kết thúc bằng cái chết của ông Diệm và em ông, Nhu.
CHÁNH NGHĨA DÂN TỘC

Người ta đã suy nghĩ và đã viết nhiều về cái chết đó.
Có người cho là quả báo nhãn tiền: ông Diệm đã phạm tội ác đối với quốc gia dân tộc, ông Diệm phải đền tội. Đó là cái nhìn của những kẻ ghét ông Diệm.
Có người lại nghiêm khắc phê phán nhóm tướng lãnh đảo chánh là mọi rợ, Ông Diệm đã ra đầu hàng, với sự thỏa thuận của các tướng lãnh. Ông Diệm phải được đối xử như một kẻ đã đầu hàng. Nếu nhóm tướng lãnh đảo chánh không coi ông Diệm là một tổng thống đầu hàng, thì ít nhất cũng nên có cái mã thượng và phẩm cách của người quân nhân “thắng trận” để đối xử với một hàng binh. Cùng lắm, họ có thể đưa ông Diệm ra trước tòa án để công lý tùy nghi định tội. Tại sao lại phải giết một cách lén lút và hèn hạ như vậy? Đó là cái nhìn của số đông, cái số đông gồm những kẻ thương mến ông Diệm, cũng như những kẻ không thương mến nhưng không thù ghét ông Diệm.
Nhưng, lịch sử có cái nhìn riêng của nó. Cái chết của ông Diệm là một sự cần thiết. Nó mang ý nghĩa trọn vẹn của một phủ định và một xác định. Nó phủ nhận và thẳng tay xóa bỏ gía trị lịch sử và gía trị dân tộc của biến cố 1963, đồng thời xác định bản chất đích thực của biến cố ấy, trước dân tộc và lịch sử.

Thật vậy:
Biến cố ngày 1/11/1963 đã từng được tôn vinh là một cuộc vùng lên của nhân dân miền Nam và của cái gọi là “đại bộ phận của dân tộc VN”. Vùng lên để lật đổ một bạo quyền.
Nhân dân vùng lên, vì anh em ông Diệm là “những kẻ đại tội làm hư uế chánh nghĩa dân tộc và làm suy nhược sức mạnh của miền Nam”.
Nhân dân vùng lên, vì Ngô Đình Diệm “phong kiến như vua, độc tài như cộng sản”.
Nhân dân vùng lên, vì chế độ Ngô Đình Diệm là “một chế độ dùng bạo lực thay chính trị, dùng khủng bố thay vì giáo dục”.
Nhân dân vùng lên, vì Ngô Đình Diệm “độc tài dộc tôn độc đảng”, và vì “suốt chín năm nhà Ngô và đảng Cần Lao ngự trị tại miền Nam, ngoại trừ một thiểu số thống trị với tất cả đặt quyền đặc lợi, còn thì nhân dân phải sống khổ nhục sợ hãi không khác gì nhân dân miền Bắc đã sống dưới chế độ Tần Thủy Hoàng của Hồ Chí Minh và đảng cộng sản”.
Nhân dân vùng lên, vì “chín năm cai trị là chín năm bạo trị, 15 triệu đồng bào là gần 15 triệu nạn nhân, quân đội và phong trào đấu tranh của Phật giáo chỉ là những lực lượng có duyên và phương tiện để thi hành bản án mà gần 15 triệu đã tuyên án từ 9 năm qua”.
Nhân dân vùng lên, vì bạo quyền Ngô Đình Diệm “đã tiến hành những chính sách tai hại không phải cho một người mà cho cả một dân tộc”, đã “dùng bạo lực để hủy diệt một tôn giáo chỉ biết có tình thương” và “đã dùng gian trá để đem nữa phần đất còn lại của dân tộc bán đứng cho CS miền Bắc”…
Trên đây là những nét chính, tổng qúat hóa tội ác của họ Ngô và được liệt kê trong quyển VNMLQHT (trang 279, 232, 303, 305, 317, 330, 791, 793…) Vì những tội ác ấy, nhân dân đã phải vùng lên.
Đó không phải là luận điệu của riêng ông Đỗ Mậu, mà còn là luận điệu của cả cái tập đoàn đứng sau lưng ông ĐM, cũng là cái tập đoàn từng mệnh danh là “đại bộ phận của dân tộc”.
Trong những tháng ngày sau đảo chánh, luận điệu trên dã trở thành chân lý của những kẻ làm đảo chánh, cũng như của những kẻ hoan hô đảo chánh.

Các tướng Tôn Thất Đính, Dương văn Minh, Trần Thiện Khiêm, Đặng văn Quang, Lê văn Kim, Mai hữu Xuân, Trần văn Đôn, Đỗ Mậu ….vv… đã “anh dũng” đưa ra những lời tuyên bố lịch sử: “quân đội lãnh sứ mạng của nhân dân, đứng lên lật đổ Ngô Đình Diệm, vì chế độ Ngô Đình Diệm độc tài phản dân hại nước, và vì anh em họ Ngô bắt tay với Hà Nội để dâng hiến miền Nam cho cộng sản”.
Bản tuyên cáo chính thức của hội đồng quân nhân cách mạng đọc ngày 2/11 cũng đã mở đầu bằng câu: “cuộc cách mạng của toàn dân, thành công trong vinh quang, đã chấm dứt một chế độ độc tài, tàn bạo, bất lực….. Đứng trước sự thối nát của chính quyền Ngô đình Diệm, quân đội đã nhận thức sự cần thiết phải giải thóat đồng bào để tiến tới một chế độ dân chủ thực sự, nên quân đội, dưới sự lãnh đạo của hội đồng quân nhân cách mạng, đã cương quyết vùng lên….
Bản tuyên cáo của chánh phủ lâm thời VNCH cũng cùng một luận điệu đó. Và bản hiến ước tạm thời của chính quyền “cách mạng” cũng đã mở đầu bằng lời ca tụng “cuộc cách mạng chống độc tài đã hoàn toàn thành công với truyền thống hy sinh phục vụ tổ quốc của quân đội VNCH để dành lại cho dân tộc nền dân chủ tự do…
Nói tóm lại, Ngô Đình Diệm là một tên trọng tội, một tên đại gian đại ác, một tên phản dân hại nước, một kẻ Toan bán đứng miền Nam cho CS… Quyền lợi của quốc gia VN, và sự sống còn của dân tộc VN đòi hỏi rằng tên đại gian đại ác ấy phải bị lật đổ và đền tội trước quốc dân.
Đó là chính nghĩa được khoác lên vai biến cố ngày 1/11/1963.
Câu hỏi được đặt ra:" đã có chính nghĩa dân tộc sáng ngời như vậy tại sao “cách mạng” 1963 lại phải lén lút và hèn hạ cho người ám sát tổng thống Diệm trên chiếc xe thiết giáp di chuyển từ nhà thờ cha Tam về bộ tổng tham mưu? Tại sao không đường đường chính chính đem tên tội đồ Ngô Đình Diệm ra trước tòa, dù là tòa án nhân dân – để xét xử và sau khi tòa tuyên án, hành quyết tên tội đồ trước khi mặt trời mọc? Tại sao lại phải hành động lén lút và đê tiện nhưng những kẻ đâm thuê chém mướn?
Chánh nghĩa dân tộc của cách mạng để đâu? Liêm sỉ của cách mạng để đâu?
Khí phách của các tướng lãnh để đâu?
"
LIÊM SỈ CÁCH MẠNG

Hồi 8:30 ngày 2/11/63, chiếc xe thiết giáp từ nhà thờ cha Tam trở về đỗ tại sân bộ tổng tham mưu.
Khi nhìn thấy hai xác chết bê bết máu của anh em ông Diệm, các tướng đảo chánh đã hoảng hốt cực độ. Trong cơn hốt hoảng đó, họ đã tuyên bố với báo chí rằng anh em ông Diệm đã tự sát. Nhưng ngay sau đó, Lucien Conein nhắc cho họ biết rằng anh em ông Diệm là người công giáo, vì vậy lời giải thích “anh em ông Diệm tự sát” sẽ chẳng được ai tin và chỉ càng gieo thêm nghi ngờ. Các tướng lãnh bèn đổi giọng và tuyên bố với báo chí rằng “đó là một cuộc tự sát vì rủi ro”.

Luận điện này đã trở thành lập trường chính thức của hội đồng quân nhân cách mạng và của chính quyền cách mạng.
Hiển nhiên, các tướng đảo chánh đã nói dối. Nhưng vấn đề đặt ra: tại sao họ phải nói dối? Tại sao họ phải cúi mặt không dám nhìn sự thật và phải che dấu sự thật?
Tướng Dương văn Minh là kẻ đã ra lệnh cho đàn em giết ông Diệm để trừ hậu họa. Nhưng sau khi ông Diệm chết, tướng Minh không dám nhìn nhận sự thật. Tướng Minh không phải là kẻ chiến bại, mà là kẻ chiến thắng ông Diệm, đồng thời là chủ tịch hội đồng quân nhân cách mạng và người hùng của cách mạng. Tại sao tướng Minh lại phải nói dối? Tại sao lại phải hèn hạ?
Chưa hết. Tướng Dương văn Minh chẳng những không dám nhìn nhận hành động của mình, mà còn tìm cách chối tội và đổ lỗi cho người khác.
Trong cuốn Les Guerres du Viet am và Our Endless Wars, trung tướng Trần văn Đôn đã viết như sau: “Big Minh không bao giờ nhận trách nhiệm về vụ cố sát anh em ông Diệm. Mỗi khi vấn đề được nêu ra, ông ta lại tìm cách lôi kéo tôi vàọ Trong thời gian bị lưu đày tại Vọng Các, big Minh đã thanh minh với một linh mục công giáo rằng ông không có trách nhiệm gì về vụ giết ông Diệm, big Minh còn khuyên linh mục, nếu muốn biết rõ câu chuyện, thì nên đến hỏi tôi” (Our Endless Wars, trang 113).
Tướng Dương văn Minh, lãnh tụ cuôc vùng dậy của nhân dân VN và của cái gọi là đại bộ phận dân tộc VN, đã phạm hai cái hèn.
Ông Diệm đã ra đầu hàng, đã được các tướng lãnh chấp nhận cho đầu hàng, và đã được các tướng lãnh cử người đưa xe đến chở về đại bản doanh của cuôc đảo chánh. Nhưng tướng Minh đã lén lút cho bộ hạ giết anh em ông Diệm trên xe thiết giáp. Đó là cái hèn thứ nhất.
Sau khi đã cho người ám sát ông Diệm, tướng Minh đã không dám nhìn nhận hành động của mình. Đó la cái hèn thứ hai.
Cái hèn của tướng Minh cũng là cái hèn của nhóm tướng lãnh ngày 1/11/63, những kẻ không có chánh nghĩa hoặc biết rằng mình không có chánh nghĩa, hoặc nghi ngờ về chánh nghĩa của mình. Bởi vì: nếu họ có chánh nghĩa, nếu qủa thật họ đã vì dân vì nước tự động đứng lên để diệt trừ một đai họa cho dân tộc, nếu qủa thât họ đã quân đội và cái “đại bộ phận của dân tộc” đã vùng lên lật đổ một bạo quyền để cứu lấy tổ quốc VN, thì việc giết ông Diệm phải được coi là một hành vi chánh đáng hợp tình hợp lý hợp lòng dân và hợp lịch sử. Và những kẻ đã ra tay giết ông Diệm có quyền tự hào về hành vi đó.
Còn gì chánh đáng hơn là thay mặt nhân dân diệt trừ một tên phản quốc, và diệt trừ mọi mầm mống phản loạn sau này? Diệt trừ bằng thủ đoạn giết lén tuy không đường đường chính chính như diệt trừ bằng một bản án tử hình của tòa án, nhưng xét cho kỹ, cũng không có gì đáng hổ thẹn. Cách mạng nào mà không đổ máu? Cách mạng nào mà không giết? Mà giết thì đã sao? Nhất là giết một tên “đại gian đại ác, tội đồ của dân tộc”.
Thế thì tại sao lại phải nói dối, tại sao phải chối tội và tìm cách đổ tội cho người khác?
Câu trả lời là: những kẻ đó không có chánh nghĩa. Vì vậy phải hèn hạ, phải giết lén, phải nói dối, phải chối tội và đổ tội lẫn cho nhau.
KHÍ PHÁCH TƯỚNG LÃNH
Tại sao các tướng lãnh không có được cái khí phách tối thiểu và tinh thần liên đới trách nhiệm để tuyên bố rằng: ông Diệm có tội với dân tộc, cách mạng đã giết ông để trừ hậu họa. Nếu không được cái khí phách tối thiểu đó, thì ít nhất cũng phải có được cái liêm sĩ tối thiểu để nói sự thật với quốc dân. Nói rằng: ông Diệm đã bị giết ngoài ý muốn và ngoài dự liệu của các tướng đảo chánh.
Tại sao lại lừa bịp quốc dân và sống sượng nói dối rằng người chết đã tự sát?
Là vì: họ không có chánh nghĩa, không kết hợp và hành động vì chánh nghĩa, vì vậy đã phải nói dối, nói quanh, chối tội và đổ tội lẫn cho nhau. Thật là mỉa mai: người sống sợ người chết, và kẻ thắng trận sợ kẻ bại trận. Đúng là một lũ đầy tớ giết chủ như trung tướng Nguyễn chánh Thi đã nhận định một cách sâu sắc. Và giết chủ rồi, lũ đầy tớ nhìn nhau, lo sợ.
Vẫn chưa hết. Trong cuốn Our Endless War và Les Guerres du Vietnam, tướng Trần văn Đôn còn viết rằng: “trưa mùng 2/11, xác hai anh em ông Diệm được di chuyển về bệnh viện Saint Paul. Sáng hôm sau, ông Minh và tôi đến viếng thăm ông bà Trần Trung Dung tại nhà. Bà Dung là cháu ruột ông Diệm. Ông Minh nói với bà Dung: chúng tôi đến đây không phải chia buồn. Chúng tôi hy vọng bà hiểu cho rằng cái chết của ông Diệm và ông Nhu đã xảy ra như là một sự ngẫu nhiên đáng tiếc lúc cuộc đảo chánh đang tiến hành. Chúng tôi rất buồn, nhưng bây giờ sự viêc đã xảy ra, chúng tôi không thể làm gì được nữạ Chúng tôi mong bà thu xếp lo viêc chôn cất” (Our Endless War, trang 111).
Một lân nữa, tướng Dương văn Minh lại nói dối, lại chối tội. Lúc này ông không còn là trung tướng Dương văn Minh nữa, mà là đại tướng Dương văn Minh, chủ tịch hội đồng quân nhân cách mạng, quốc trưởng của nước VN, và “người hùng” của dân tộc. Ông không chối tội trước quốc dân, trước báo chí, hoặc trước đám đông, mà chối tội trước người cháu gái cua ông Diệm.
Tướng Minh nói rằng cái chết của anh em ông Diệm đã xảy ra như một sự tình cờ ngẫu nhiên. Sự dối trá thật là trắng trợn. Cái chết của anh em ông Diệm đã không xảy ra như một sự tình cờ, mà đã xảy ra theo kế hoạch của tướng Minh và với mệnh lệnh của tướng Minh.
Tướng Minh còn nói răng “cái chết ấy đã xảy ra trong lúc cuộc đảo chánh đang tiến hành”. Tướng Minh lại nói dối. Anh em ông Diệm đã bị giết trên chiếc xe thiết giáp do chính các tướng lãnh đảo chánh gửi đến để đón ông về bộ tổng tham mưu. Lúc đó, cuộc đảo chánh đã chấm dứt. Chấm dứt từ lâụ Lúc đó các tưởng đảo chánh đã bắt đầu ăn mừng “cách mạng thành công” và bắt đầu chia tiền.
THẰNG HÈN VÀ THẰNG NÓI LÁO
Năm 1971 là năm bầu cử tổng thống nhiệm kỳ hai. Đại tướng Dương văn Minh nạp đơn ứng cử. Vấn đề giết ông Diệm lại được đặt ra. Một quyển sách mang tên “Làm Thế Nào Để Giết Một Tổng Thống” xuất hiện. Báo chí lai khơi đống tro của lịch sử, và những người trong cuộc đã có dịp lên tiếng về cái chết của ông Diệm.
Ứng cử viên tổng thống Dương văn Minh, trong nhiều cuộc phỏng vấn, tuyên bố rằng ông Thiệu phải chịu trách nhiệm về cái chết của anh em ông Diệm trong cuộc đảo chánh 1963. Ứng cử viên Dương văn Minh nói: “Thiệu, lúc đó một đại tá tham gia cuộc đảo chánh, đã không đem quân vào dinh tổng thống đúng thời điểm để ngăn chặn Ngô Đình Diệm trốn thoát”. Theo ông Minh, nếu anh em ông Diệm bị bắt giữ ngay trong dinh Gia Long, họ đã không bị giết. (Tài liệu ngày 20/7/71 về VN tại thư viện quốc hội Mỹ ghi như sau: “Minh said Thieu, then a colonel who had participated in the coup, had failed to bring his trơps to the presidential palace in time to prevent Diem trom escaping. Minh held that if Diem and his brother had been taken into custody at the palace they would not have been murdered”).
Ứng cử viên đương kim tổng thống Nguyễn văn Thiệu, khi thấy tướng Minh liên can mình vào vụ ám sát ông Diệm, đã chửi tướng Minh là thằng hèn và thằng nói láo.
Ông Thiệu nói: lúc đó ông được tướng Trần thiện Khiêm, bây giờ là thủ tướng cho biết Dương văn Minh đã nói với ông ta (tức Trần thiện Khiêm) rằng: đảo chánh phiền phức và khó khăn quá, chi bằng áp dụng phương thức dễ nhất, là ám sát Diệm. (tài liệu ngày 20/7/71 ghi như sau: Thieu called Minh a coward and a liar when linking him to the Diem assassination… Thieu said at the time he had been informed by gen. Tran thien Khiem, now premier, that Minh had told him the coup was so complicated and difficult that the easiest way is to assassinate Diem).
Hồ sơ lưu trữ tại thư viện quốc hội Hoa Kỳ ngày 20 và 21/7/71 có ghi rõ những lời nói trên của đại tứơng Dương văn Minh, kèm theo lời của đương kim tổng thống VN Nguyễn văn Thiệu gọi cựu quốc trưởng VN Dương văn Minh, chủ tịch hội đồng quân nhân cách mạng, là “thằng hèn và thằng nói láo“.
Tướng Nguyễn văn Thiệu chửi tướng Dương văn Minh là thằng hèn và thằng nói láo. Lời chửi sâu sắc và xác đáng này cũng có thể dùng để nói về toàn thể hội đồng quân nhân cách mạng 1963, trong đó có tướng Thiệu, trong vụ ám sát ông Diệm va giải thích cái chết của ông Diệm.
Quả thật ông Diệm đã được phục thù trước lịch sử. Bởi chính cái gian dối hèn hạ của những kẻ đã lật đổ và giết ông. Kẻ thắng trận phải run phải sợ cúi mặt trước kẻ bại trận. Và đổ tội lẫn cho nhau, nguyền rủa lẫn nhau.Ông Diệm đã được phục thù trước lịch sử. Chính cái gian dối hèn hạ của những kẻ giết ông đã phơi bày thực chất của nhóm người làm đảo chánh và phơi bày cái ý nghĩa đích thực của biến cố 1963. Một nhóm người không có chính nghĩa. Một cuộc tạo phản do ngoại bang chủ xướng và để phục vụ mưu đồ của ngoại bang. Một “lũ đầy tớ giết chủ” như lời nhận định của tướng Nguyễn Chánh Thi Một vụ “giết mướn, như lời phê phán của nhà văn quân đội Nguyễn Đạt Thịnh.
BA TRIỆU ĐỒNG (VN) CỦA CIA
Như đã trình bày ở chương 6 về cuộc đảo chánh, ngày 30/10/1963 tức là hai ngày trước khi cuộc đảo chánh bùng nổ, đại sứ Lodge đã gửi về tòa Bạch Ốc một công điện gồm 13 điểm. Điểm 11, đại sứ Lodge đề cập đến lời yêu cầu của các tướng đảo chánh muốn có một số tiền để “mua chuộc phe chống đối”.
Theo các tài liệu còn lưu trữ tại thư viện quốc hội Mỹ, thì hôm đảo chánh Lucien Conein đã đến bộ ổng tham mưu trao một gói bạc ba triệu bạc VN ($3,000,000 đồng) cho tướng Trần văn Đôn, gọi là để “mua chuộc phe chống đối nếu cần”.
Lucien_Conein Trong quyển VNMLQHT, ông Đỗ Mậu cũng viết: “Conein bèn mặc quân phục mang theo một khẩu 375 Magnum và một gói tiền độ 3 triệu đồng bạc rồi đến bộ tổng tham mưu”. Nhưng ông ĐM không biết rõ mục đích và số phận của số tiền đó. Vì vậy, ông viết tiếp: “cũng cần nói rõ rằng số tiền ba triệu đồng VN do Conein mang đến đã không được một tướng lãnh nào hay biết trừ tướng Đôn. Tướng Đôn không bao giờ trình bày cho hội đồng tướng lãnh biết có nhận số tiền đó của Conein hay không, và nếu có thì đã xử dụng vào việc gì”. (trang 816).
Trong quyển Việt Nam Nhân Chứng, tứơng Đôn nhình nhận có đươc Conein trao cho số bạc ba triệu, và ông đã “tặng cho các bạn”, chứ không bỏ vào túi. Ông viết: “Đúng 1:30 trưa, ông Conein vào có mang theo một máy truyền tin đặc biệt để liên lạc vơi đại sứ Mỹ và một bao tiền ba triệu bạc VN. Đảo chánh vừa thành công, trong không khí rộn ràng đó, tôi có tặng cho các bạn một số tiền ủy lạo binh sĩ đơn vị mà không đòi làm biên nhận đầy đủ. Đến năm 1971, tôi ra lệnh cho thiếu tá Đặng văn Hoa tìm lục lai các biên nhận về việc ghi số tiền ba triệu bạc của Conein, thì th/tá Đặng văn Hoa làm tờ trình và một số các biên nhận. Tôi xin đính kèm theo đây để chứng minh. Tôi không tổ chức đảo chánh để kiếm số bạc như vậỵ Vì lúc đó mấy triệu bạc VN đối với tôi không phải là số tiền mà tôi khao khát” (VN Nhân Chứng, TVD, trang 211).
Viết như vậy, tướng Đôn đã muốn thanh minh cho sự trong sạch của ông. Nhưng ông đã làm một công việc thừa thãị Bởi lẽ: không ai kết tội tướng Đôn nhận tiền của Mỹ để bỏ vào túi riêng. Người ta kết tội các tướng đảo chánh đã làm như nhuốc cuộc đảo chánh, và làm nhơ nhuốc Quân Lực VNCH. Người ta kết tội các tướng lãnh đã xử sự như những tay sai của Mỹ, trong vụ lật đổ ông Diệm năm 1963.
Chúng ta hãy đọc kỹ phiếu đệ trình của th/tá Hoa, được tướng Đôn công bố và đính kèm trong phần phụ lục của quyển VN Nhân Chứng của ông, để có một ý niệm.
Phiếu đệ trình,

ngày 14 tháng 8 năm 1971

Trích yếu: Về số bạc ba triệu đồng của ông Conein cho mượn để thù lao các đơn vị trong ngày Cách mạng 1/11/63.
Kính thưa trung tướng,
Số bạc 3 triệu đồng của ông Conein cho mượn thì đã được trung tướng chỉ thị cấp cho những người sau đây:
Ngày 1/11/63, T/T/TMT Trần thiện Khiêm nhận ………………………..500,000 $
(do đạI tá Đặng văn Quang làm biên nhận)
Ngày 1/11/63, T/T Tôn Thất Đính tư lệnh quân đoàn 3 nhận ……………500,000 $
(do đại úy Phạm viết Hùng nhận)
Ngày 10/11/63, TT Tôn thất Đính có nhân thêm …………………………100,000 $
Ngày 4/11/63, tặng sư đoàn 5 …………………………………………….50,000 $
(do đại tá Nguyễn văn Thiệu nhận)
Ngày 5/11/63, tặng liên đoàn thủy quân lục chiến của đại tá Lê nguyên Khang ..100,00$ (do đại úy Quế nhận)
Ngày 5/11/63, đại tá Trần ngọc Huyến thị trưởng Đàlạt nhận……………100,000 $
Ngày 9/11/63, thiếu tá Phan hòa Hiệp trường thiết giáp nhận ……………100,000$
Ngày 19/11/63, đại úy Đào ngọc Diệp câu lạc bộ tổng tham mưu nhận…100,000$
Tổng cộng…………………………………………………………………1,550,000$
Tất cả số tiền 1,550,000 $ trên đây đều có biên nhận (đính kèm).

Như vậy còn lại 1,450,000 $, trung tướng cũng tặng cho anh em nhưng không có chữ ký biên nhận.

Nếu tôi nhớ không lầm thì trung tướng đã tặng cho các ông sau đây:
Trung tướng Dương Văn Minh
Trung tướng Trần Thiện Khiêm

Trung tướng Lê Văn Kim
Trung tướng Tôn Thất Đính
Thiếu tướng Nguyễn Hữu Có
Thiếu tướng Trần Ngọc Tám

Thiếu tướng Mai Hữu Xuân
Trung tướng Nguyễn Khánh
Trung tướng Đỗ Cao Trí

Đại tá Đỗ Mậu
Ngày 14 tháng 8 năm 1971
Ký tên
Hoa
Đọc phiếu trình trên đây, người ta thấy rõ số tiền ba triệu đã được tuớng Đôn chia ra làm haị Một nửa “tặng” cho các đơn vị đảo chánh gọi là tiền ủy lạọ Một nữa “tặng” cho các bạn !
Trong những ngườI nhận tiền “ủy lạo”, tướng Trần thiện Khiêm, tham mưu trưởng QLVNCH, nhận 500,000$.

Tướng Tôn thất Đính, tư lệnh quân đoàn 3 kiêm tổng trấn Saigon-Gia Định, nhận 600,000$.

Số còn lại chia cho sư đoàn 5, liên đoàn thủy quân lục chiến, trường thiết giáp, câu lạc bộ tổng tham mưu và đại tá thị trưởng Dalat, Trần ngoc Huyến.
Trong những người được “tặng” tiền, có các tướng Dương văn Minh, Lê văn Kim, Tôn Thất Đính, Nguyễn hữu Có, Trần văn Tám, Nguyễn Khánh, Đỗ cao Trí

(riêng tướng Dương văn Minh còn được hưởng số bạc 6 ngàn Mỹ kim lấy được trong chiếc cặp của TT Diệm).
Nói tóm lại: tất cả tướng tá có quân hoặc có công tham dự và cuộc đảo chánh, đều được “ủy lạo” hoặc “tặng tiền”. Nói cách khác: cuộc đảo chánh năm 1963 đã được ủy lạo và tưởng thưởng (tặng).

Và đây là điều quan trọng: cuộc đảo chánh năm 1963 đã được ủy lạo và tưởng thưởng bằng tiền của CIA, do đích thân CIA đưa đến.
Vấn dề đặt ra: các tướng đảo chánh đã xin tiền, hay chính người Mỹ đã tự động đem đến?
Theo như công điện ngày 30/10/63 của của đ/s Lodge gửi cho cố vấn an ninh tòa Bạch Ốc thì các tướng đảo chánh đã “yêu cầu” được có một số tiền để dùng vào việc mua chuộc phe chống đối, nếu cần. Điểm 11 của công điện viết như sau: “As to requests from the Generals, they may well have need of funds at the last movnent with which to buy off potential opposition”. Tạm hiểu như sau: Theo lời yêu cầu của các tướng lãnh, họ có thể cần một số tiền vào phút chót để mua chuộc (những kẻ) chống đối có thể xuất hiện.
Tức là: các tướng lãnh đảo chánh đã xin tiền. Và xin tiền với danh nghĩa để mua chuộc phe chống đối (các sĩ quan còn trung thành với ông Diệm).
Theo những cuốn hồi ký của tướng Đôn (Our Endless War, Les Guerres du Vietnam, và Nhân Chứng VN), thì cuộc đảo chánh năm 1963 là một “vấn đề hoàn toàn nội bộ của VN”. Tướng Đôn đã vô tình hay hữu ý không biết đến nội dung bức công điện của đại sứ Lodge về vấn đề các tướng đảo chánh đã xin tiền. Ông mô tả Lucien Conein như một bà phước tự động đem tiền đến cho các tướng xử du.ng. Trong cả hai trường hợp (các tướng xin tiền, hoặc Conein tự động đem tiền đến), việc cung cấp số bạc ba triệu đã được chính quyền Mỹ sắp đặt và quyết định trước. Rất có thể các tướng đảo chánh đã xin, cũng rất có thể các tướng lãnh đã không xin. Nhưng trong cả hai trường hợp, họ đã ngửa tay ra nhận !
Hành động ngửa tay nhận tiền của các tướng đảo chánh đã làm nhơ nhuốc cuộc đảo chánh. Họ đã làm nhục chính họ, điều đó không quan hê.. Họ đã sỉ nhục Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa ..!!
Phiếu đệ trình phát tiền do tướng Đôn công bố có nhiều điều làm cho người ta phải thắc mắc.
1/ Trích yếu của phiếu trình có ghi: “về số bạc ba triệu bạc của ông Conein cho mượn để thù lao các đơn vị trong ngày cách mạng 1/11/63.
Trước hết, số bạc ba triệu đồng (VN) đã do chính quyền Mỹ cung cấp, chứ không phải tiền ông Conein cho mượn. Điều này không cần phải chứng minh, nó đã đi vào lãnh vực hiểu biết công cộng, cũng như đã được các tài liệu của Mỹ xác nhận. Thâm tâm các tướng Đôn, Minh, Đính, Kim Khiêm cũng biết điều đó. Vậy thì, tại sao trong phiếu trình lại ghi là tiền ông Conein cho mượn? Và nếu là tiền ông Conein cho mượn thì các tướng đảo chánh đã trả lại cho ông Conein chưa? Nếu trả rồi, chắc chắn tướng Đôn sẽ thấy có bổn phận phải xuất trình bằng chứng, cũng như ông đã thấy có bổn phận phải xuất trình bằng chứng về sự chi tiêu số bạc.
Thứ đến, phiếu trình ghi rằng số tiền ấy dùng để thù lao các đơn vị trong ngày cách mạng 1/11/63. Thù lao là trả công. Tại sao lại ghi như vậy? Người ta lại nghĩ rằng tướng Đôn đã không đọc kỷ phiếu trình, trước khi công bố.
Những chi tiết nói trên không nên có trong phiếu trình. Dư luận đã từng cười ra nước mắt, nay một lân nữa lại phải cười ra nước mắt, và thương hại cho cái gọi là cuộc cách mạng 1963.
2/ Phiếu trình của thiếu tá Hoa đề ngày 14/8/1971, tức là gần 8 năm sau cuộc đảo chánh. Traong quyển VN Nhân Chứng, tướng Đôn cũng đã viết rõ: năm 1963, ông tặng tiền mà không làm biên nhận, đến năm 1971, ông mới ra lệnh cho thiếu tá Hoa tìm lại các biên nhận và lập phiếu trình.
Cau hỏi được đặt ra: lý do nào đã thúc đẩy tướng Đôn năm 1971 phải cho lập phiếu trình về số bạc đã chi tiêu năm 1963?
Như chúng ta đã biết: năm 1971 là năm bầu cử tổng thống nhiệm kỳ 2. Năm đó, tướng Dương văn Minh ra ứng cử: vấn đề ông Diệm và cuộc đảo chánh 1963 lại được đặt ra trước công luận. Và như trên đã trình bày, ngày 20 và 21 tháng 7 năm đó, hai ông Nguyễn văn Thiệu và Dương văn Minh chửi lộn nhau về cái chết của ông Diệm.
Năm 1971 cũng là năm bầu cử Hạ Nghị viện khóa 2. Ngày bỏ phiếu là 30/8/1971. Tướng Trần văn Đôn ra tranh cử dân biểu tại đơn vị Quảng Ngãị Và ông đắc cử. Những sự việc nói trên có thể trả lời cho câu hỏi: lý do nào đã thúc đẩy tướng Đôn năm 1971 phải cho lập phiếu trình về số bạc ba triệu đã chi tiêu năm 1963,
Tôi muốn nói với các tướng đảo chánh và những kẻ vẫn lớn tiếng ca ngợi biến cố 1963 và cuộc vùng dậy của đại bộ phận dân tộc rằng: hãy có can đảm nhìn vào sự thật.

Biến cố ngày 1/11/1963 chỉ là một cuộc tạo phản do ngoại bang chủ mưu và nhằm phục vụ quyền lợi của ngoại bang. Cuộc tạo phản ấy đã được thi hành bởi những tay sai bản xứ. Những kẻ này đã ngửa tay nhận tiền của ngoại bang. Và: đảo chánh xong rồi, họ đã chia nhau số tiền ấy, mặc dù chẳng được bao nhiêu.
Thật là nhục ! Nhục cho những tướng lãnh đảo chánh. Nhục cho cuộc đảo chánh. Và nhục lây cho cả Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà. (Việt Nam Chính Sử, Nguyễn Văn Chức, trang 86-95) - Aladin Nguyen

Bài 4: Phạm thắng Vũ

Nhà thờ Cha Tam

Nhà thờ Cha Tam

Hàng năm, cứ đến ngày 1 tháng 11 thì người dân Việt miền Nam VN đều nhớ lại ngày này trong năm 1963 mà ngày hôm sau, dẫn đến cái chết của Tổng Thống Đệ Nhất Cộng Hòa Ngô Đình Diệm và người em ruột là Cố Vấn Ngô Đình Nhu.

Có quá nhiều bài viết, tài liệu và sách báo đã nói về cái chết của hai người nầy. Ai là kẻ thủ ác và tại sao?

- Tôi đã 80 tuổi mà vẫn chưa biết thực sự ai là người ra lệnh giết chết 2 anh em cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm-Ngô Đình Nhu, lời một cụ già đã nói với người viết bài nầy cách đây vài năm.

Ai giết 2 người nầy?

1/. Đã có người nói chính Tướng Dương Văn Minh, Chủ Tịch HĐQNCM ra lệnh cho cận vệ là Đại úy Nguyễn Văn Nhung giết chết (trong thiết vận xa M 113 ).

2/.Có bài báo cho là chính Đại Tá Nguyễn Văn Thiệu, Tư Lệnh Sư Đoàn 5 BB giết chết 2 anh em cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm-Ngô Đình Nhu (sau khi tra khảo tiền bạc, của cải) trên đường giải giao họ về Bộ TTM QLVNCH từ nhà thờ Thánh Phanxico Xavie (còn gọi là nhà thờ cha Tam). Chiếc thiết vận xa M 113 chở 2 anh em ông Diệm-Nhu đi sau cùng đã tách khỏi lộ trình để rẽ vào Tổng Nha Cảnh Sát Quốc Gia (khi đó đã do Sư Đoàn 5 BB chiếm đóng) rồi sau đó mới quay trở ra nhập trở lại vào đoàn xe.

3/. Hai anh em cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm-Ngô Đình Nhu tự sát. Lời của Dương Văn Minh và Trần Văn Đôn, 2 viên tướng đảo chánh tuyên bố với báo chí. Tấm hình chụp Tổng Thống Ngô Đình Diệm và Cố Vấn Ngô Đình Nhu nằm trong vũng máu với hai tay bị trói quặt ra sau trong lòng thiết vận xa M 113. Báo New Yorks Times khi đăng tấm hình nầy có ghi lời chú: Tự sát mà không có tay. Tổng Thống Ngô Đình Diệm là một tín đồ đạo Thiên Chúa. Tín lý của tôn giáo nầy không cho phép tín đồ được tự sát.

Tại sao giết?

1/. Do tư thù cá nhân giữa tướng Dương Văn Minh và Tổng Thống Ngô Đình Diệm: Tướng Dương Văn Minh khi dẹp tổ chức võ trang Bình Xuyên đã tịch thu được 2 phi vàng 24 (1 loại thùng toneau bằng sắt rộng hơn vòng tay ôm và cao hơn 1 m) và tiền giấy từ lời khai của Lê Paul (con trai của Bẩy Viễn, trùm Bình Xuyên) rồi giữ lấy. Chính quyền đã ra lệnh cho điều tra vụ nầy.

2/. Do 2 anh em cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm-Ngô Đình Nhu đã âm thầm thương thảo với CS Bắc việt. Ông Ngô Đình Nhu đã bí mật gặp gỡ với đại diện CS Bắc Việt là Phạm Hùng khi đó là Xứ Ủy Nam Bộ tại vùng rừng Tánh Linh trong tháng 2-1963. Chính Cố Vấn Ngô Đình Nhu còn ra lệnh cho Hải Quân VNCH tha Lê Duẩn (bị hải quân VNCH bắt trong trận U Minh giữa năm 1963). Trước đó, năm 1958 ông Bộ Trưởng Nội Vụ Lâm Lễ Trinh đã nhận lệnh từ ông Ngô Đình Nhu ra một chỉ thị yêu cầu các tỉnh trưởng miền Nam VNCH phải thi hành các việc như: Ngưng bắt các cán bộ CS và thu hồi các vũ khí như súng trung liên Bar, tiểu liên Carbin, Thompson đã cấp cho Bảo An, Dân Vệ và thay thế bằng các dao găm và súng mousqueton cổ lỗ.

3/. Chính quyền Hoa Kỳ bất mãn vì anh em cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm-Ngô Đình Nhu không chấp thuận để cho họ đổ quân vào miền Nam VN. Người Mỹ biết cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm là một công cụ của CS Bắc Việt (trang báo Newsweek ngày 24-12-2001 in hình cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm với hàng chữ: 1963 The Kennedy administration begins to see South Vietnamese President Ngo Dinh Diem as a communist tool and decides that Diem must go. The CIA engineers coup attempts that eventually lead to his assassination in November). Hoặc chính phủ Mỹ lật đổ Tổng Thống Đệ Nhất Cộng Hoà Ngô Đình Diệm vì đã đàn áp Phật Giáo…

Tìm hiểu để biết rõ lý do thực sự dẫn đến cái chết của cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm và bào đệ Ngô Đình Nhu cùng người trực tiếp thủ ác là một điều thật khó.

Bây giờ, nếu người nào mà chịu khó vào các thư viện xem lại các sách báo của 2 miền Nam-Bắc VN trong thập niên 1950-1960-1970 thì đều thấy tại miền Bắc có cả một chiến dịch tuyên truyền bôi xấu các nhà lãnh đạo miền Nam VNCH. Do vậy bản thân anh em Tổng Thống Ngô Đình Diệm và cả dòng họ nhà Ngô đình (tại miền Nam) khi đó cũng là các đề tài của bọn văn nô bồi bút viết về các cá nhân những người này để…dâng lên đảng CS. Lê Vĩnh Hòa (một văn nô tập kết miền Nam) đã từng viết câu thơ: Áo dài, khăn đóng, mặt bầu/Anh chồng mà đ…em dâu mới tài (xin lỗi các bạn đọc trong diễn đàn TVVN nầy) để nói về cái quan hệ…dâm loàn giữa ông Ngô Đình Diệm và người em dâu (bà Ngô Đình Nhu) nhưng sự thực là chuyện không có. Chính Bùi Tín, khi y còn là một phóng viên CS Bắc Việt cũng đã từng tin như vậy. Cũng vậy, cái gọi là Uỷ Ban Liên Lạc Miền Nam khi đó (cầm đầu bởi viên Tướng CS Nguyễn Văn Vịnh) chuyên môn sáng tác các loại văn thơ, thư từ (mà chúng nói là của người dân miền Nam gửi ra, khi 2 miền còn trao đổi thư từ nhưng thực sự là do chúng sáng tác) kể về sự hủ hoá, tàn ác của bè lũ Diệm, Nhu, Cẩn cũng như các hành động của chính quyền, cán bộ tại các địa phương miền Nam VNCH đối với người dân (mà chúng nói là trong vùng tạm chiếm). Ông Ngô Đình Nhu thì được mô tả là một đệ tử của trường phái Phi Yến Thu Lâm (nghiện thuốc Phiện môi tái xịt, da xám). Ông Ngô Đình Cẩn ngu dốt, độc ác lại còn có riêng cả một vườn Cam mà mỗi gốc cây là xác của một người dân yêu nước (ám chỉ Việt Cộng). Miền Trung thì có địa danh Chín Hầm (nhốt tù nhân của Ông Ngô Đình Cẩn). Miền Nam thì có P42 (một căn phòng ở Thảo Cầm Viên trong nội thành Sài Gòn), được bọn này mô tả là ở đây ngoài các dụng cụ để tra tấn người khi hỏi cung lại còn có cả hầm chứa Acid (nước cường toan) để sau khi tra khảo tù nhân mà lỡ làm họ chết rồi thì sẽ thủ tiêu bằng cách vất xác người xấu số đó xuống cái hồ này hoặc quăng cho thú dữ (đang nuôi trong chuồng) ăn thịt.

Báo chí miền Nam VNCH thì mô tả về cái ghế khoái lạc của bà Ngô Đình Nhu sau ngày 2-11-1963 tại dinh Gia Long. Thực sự đó chỉ là cái ghế ngồi tương tự trong các tiệm Nail, Uốn tóc. Cũng có người nói ông Ngô Đình Nhu nghiện ngập (Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi, sách của Đỗ Mậu). Ông Ngô Đình Diệm thích cái gì thì giữ cái đấy làm của riêng (chiếm đoạt nghiên mực cổ Tức Mặc Hầu của Dực Tông Hoàng Đế Tự Đức, bài viết của Vương Hồng Sển)…

MmeNhu

Hình bà Ngô Đình Nhu (khuê danh Trần Lệ Xuân).

Cả một cái guồng máy thông tin CS (và thêm một số người thuộc miền Nam VNCH phụ hoạ theo) đua nhau dựng chuyện như vậy nên chẳng trách nhiều người dân Việt tại miền Bắc Xã hội Chủ nghĩa (và cả miền Nam VNCH) đã tin những điều tuyên truyền đó là… Chuyện Có Thật. Người miền Nam đi tập kết ra miền Bắc theo CS (theo Hiệp Định Geneva 1954) khi đó chỉ mong chóng nhà nước và đảng CS Bắc Việt sắp xếp cho nhanh một chuyến hồi kết để quay về miền Nam chiến đấu giải phóng thân nhân miền Nam khỏi sự kềm kẹp ghê khiếp của chế độ gia đình trị Ngô đình. Chỉ đến khi họ có dịp tiếp cận với xã hội miền Nam VNCH hoàn toàn (tất nhiên là sau ngày 30-4-1975) rồi thì mới biết tất cả luận điệu về của anh em Tổng Thống Ngô đình Diệm-Ngô Đình Nhu đều là sự xảo trá của nhà nước CS Bắc Việt hoặc là những nguồn tin chưa thể kiểm chứng được. Những năm gần đây, thấy không thể nói xấu về cá nhân con người Tổng Thống Ngô Đình Diêm được nữa thì bọn văn nô CS trong nước lại có cái màn…đồng hóa hình ảnh Hồ Chí Minh với Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Cho là hai người này giống nhau từ tư cách (chống sự can thiệp vào Việt Nam của chính quyền USA), đời tư (độc thân không vợ con), xuất thân từ gia đình quan lại. Nhưng đó chỉ là cái bề mặt thôi, bề trong thì đám này vẫn cho in lại các quyển sách, các bài viết nói xa nói gần (tất nhiên là nói xấu, bôi bẩn) về thời Đệ Nhất VNCH và các cá nhân trong guồng máy chính quyền miền Nam VNCH (quyển Đệ Nhất Phu Nhân của Hoàng Trọng Miên, Tâm Sự Tướng Lưu Vong của tướng Đỗ Mậu (từ quyển Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi)). Cách đây không lâu, người viết bài này nhân trong một dịp đến viếng phần mộ của cụ Gioan Baotixita Huynh (Tổng Thống Ngô Đình Diệm) tại vùng Lái Thiêu gần thành phố Sàigon thì được các người dân sống gần đó cho biết: Vài hôm trước đó, có một Việt kiều mang nguyên cả một tấm bia mới toanh với đầy đủ tên tuổi, hình, chức vụ của Tổng Thống Ngô Đình Diệm để thay thế cho tấm bia cũ nhưng người này đã bị các tên công an CS (thường xuyên túc trực tại đó) tịch thu tấm bia và còn đả thương người khách du này nữa. Thật tội nghiệp cho ông khách Việt kiều này và thật bỉ ổi cho hành động của các tay công an CS khi chỉ vì muốn tỏ chút lòng riêng với một người đã quá cố khá lâu mà phải chuốc họa vào thân.

MoGiaDinhHoNgo

Hình phần mộ hai anh em Tổng Thống Ngô Đình Diệm-Ngô Đình Nhu tại vùng Lái Thiêu.

Một người cũng vì một chút tình cảm riêng với cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm mà cũng phải chuốc hoạ vào thân đó là ông Mã Tuyên, một thương gia Việt gốc Hoa Triều Châu. Ông chuốc hoạ là vì đã…chứa chấp anh em cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm-Ngô Đình Nhu trong cái đêm 1-11-1963. Khi đó ông Mã Tuyên tuổi độ trên 50, là tổng bang trưởng của 10 bang người Hoa tại vùng Chợ Lớn (thuộc quận 5 nội thành Sài Gòn). Ông Mã Tuyên đã kể lại giờ phút Rồng Đến Nhà Tôm như sau:

- Khi đó độ 5 giờ chiều, tôi và gia đình đang nghe tin tức radio tại nhà thì chuông điện thoại reo. Tôi bắt máy, đầu giây xưng là ông Đô Trưởng Sài Gòn-Chợ Lớn ngỏ ý muốn gặp tôi gấp tại trụ sở Thanh Niên Cộng Hòa quận 5 (khu Đại Thế Giới cũ). Tôi bảo tài xế đánh xe chạy đến đó, chờ đến 6 giờ 30 thì ông Đô trưởng mới đến và ông ta nói với tôi là: Tổng Thống muốn đến nhà Nị lánh nạn. Tôi nhận lời và đi về nhà chuẩn bị. Khoảng 7 giờ 30, hai xe Citroen chạy đến nhà tôi (số 34 đường Đốc Phủ Thoại) với tổng cộng 8 người gồm Tổng Thống Ngô Đình Diệm, Cố Vấn Ngô Đình Nhu cùng các ông Đỗ Thọ, ông Đô Trưởng và 4 nhân viên bảo vệ.

Ông Mã Tuyên cho biết là nghỉ ngơi tại nhà ông cho đến sau nửa đêm thì Tổng Thống Ngô Đình Diệm đưa cho ông một số giấy tờ và nhờ ông đốt đi. Tổng Thống nhờ ông canh chừng máy điện thoại dưới nhà và liên tục sử dụng điện thoại trên lầu để gọi đi nhiều nơi và cả các nơi khác gọi đến cho Tổng Thống nữa (nhà ông mã Tuyên nầy nguyên là 3 căn phố liền nhau gồm một tầng trệt và 2 tầng lầu. Ông gắn điện thoại trong các tầng lầu). Chuông điện thoại reo liên tiếp từ nửa đêm cho đến sáng. Sau đó Tổng thống xuống tầng trệt, trời đã sáng. Tiếng súng chỉ còn nổ thưa thớt trong đô thành. Sắc diện của Tổng Thống cho thấy tình thế trở nên tuyệt vọng.

Mã Tuyên (tháng 11 năm 1963)

Mã Tuyên (tháng 11 năm 1963)

Tổng Thống cho biết Lữ Đoàn Phòng Vệ (bảo vệ Dinh Gia Long) đã ngưng tiếng súng. Ông Mã Tuyên cho biết cả hai ông Tổng Thống và Cố Vấn ngồi cầu nguyện rồi dùng điểm tâm món Bánh Bao, Xíu Mại và Cà Phê chung với ông rồi Tổng Thống hỏi về nhà thớ lớn nhất vùng Chợ Lớn ở gần đấy là nhà thờ Phanxico (mà người ta gọi là nhà thờ cha Tam) và nói với ông là họ sẽ đến nhà thờ đó. Tổng Thống và ông Cố Vấn thay y phục khác. Tổng Thống Diệm bảo ông Mã Tuyên đừng lái xe và cũng đừng đi theo bất tiên. Ông Mã Tuyên đã gọi người tài xế của mình, lái chiếc xe Traction mầu đen (thường đưa đón các con ông đi học) chở Tổng Thống và ông Cố Vấn cùng người tùy viên Đỗ Thọ đến nhà thờ cha Tam.

5 ngày sau đó, ông Mã Tuyên bị HĐQNHCM bắt giam trong 3 năm. Tài sản bị tịch thu và đem bán đấu giá nhưng đồng bào Việt gốc Hoa mua lại được (trong cuộc đấu giá) và trả lại cho gia đình ông.

Nhiều nguồn tin đã nói là tư gia của ông Mã Tuyên là một hang ổ của CS và đây cũng là lý do dẫn đến cái chết của Tổng Thống Ngô Đình Diệm và Cố Vấn Ngô Đình Nhu. (…hai ông Diệm-Nhu lại phạm vào một lỗi lầm ngoại giao to lớn là khước từ sự giúp đỡ về an ninh của Đại sứ Mỹ Cabot Lodge, chạy vào nhà Mã Tuyên là Trung Tâm Liên Lạc xưa nay của ông Nhu với MTGPMN (Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam). Không phải cuộc binh biến 1-11-63 đã đưa đến cuộc thảm sát hai ông, mà chính quyết định liều lĩnh nầy, đã làm cho hai ông gánh lấy thảm hoạ! Sao lại đi đến một trung tâm liên lạc với CS mà Mỹ đã biết từ lâu rồi ! Hồi ký của tướng Tôn Thất Đính).

Việc Tổng thống Ngô Đình Diệm và Cố Vấn Ngô Đình Nhu đến nhà ông Mã Tuyên có người đã đặt nghi vấn là hai anh em ông Diệm-Nhu định nhờ ông nầy bắt liên lạc với MTGPMN để họ đưa vào mật khu như kiểu họ suy diễn từ trường hợp Trung Tá Vương Văn Đông sau cuộc đảo chánh bất thành ngày 11-11-1960 đã nói ông ta nhờ MTGPMN giúp đưa qua Cam Bốt.

Nếu cho là nhà ông Mã Tuyên là một cơ sở của CS thì tại sao CS lại bắt ông ngay sau khi chúng vừa chiếm được miền Nam VNCH. Lần đầu là 4 tháng rồi thả và bắt lại sau một thời gian ngắn. Lần bắt sau nầy, chúng đã giam ông tới 4 năm tù.

Chỉ vì cho Tổng Thống Ngô Đình Diệm và Cố Vấn Ngô Đình Nhu tá túc qua một đêm tại nhà mà ông Mã Tuyên đã bị giam tù trong 3 lần tổng cộng trên 7 năm. Cả hai chính quyền (sau ngày 1-11-1963 và 30-4-1975) đều tra hỏi ông Mã Tuyên về…Cái Đêm Hôm Ấy…tại nhà ông. Tại sao họ lại đến nhà ông mà không phải nhà người khác? Có bí mật gì bên trong?

CS cũng tịch thu cả 3 căn nhà của ông Mã Tuyên (ông Mã Tuyên có tới… 3 vợ và 13 người con theo lời kể của con gái ông là Mã Huệ Phương).

Các căn nhà của ông Mã Tuyên.

Các căn nhà của ông Mã Tuyên.

Người ta nói là ông Mã Tuyên đã không than van một lời nào về những tai ương đổ xuống gia đình và bản thân ông sau cái đêm định mệnh đó. Năm 1983, ông Mã Tuyên và gia đình chính thức rời Việt Nam đi định cư tại Đài Bắc-Taiwan rồi đến tháng 2 năm 1992 thì ông Mã Tuyên cùng một phần gia đình đã về lại Việt Nam (vùng Chợ Lớn) và qua đời trong tháng 9-1994.

Tại sao đã định cư tại Taiwan rồi mà ông còn chọn trở về lại Việt Nam và khi chết chôn tại Nhị Tỳ Triều Châu ở vùng Biên Hoà? Ông là người Việt gốc Hoa nhưng đã chọn cho mình cung cách…Khóc cười theo vận nước Việt nổi trôi ! Chắc là vậy.

ông Mã Tuyên chụp sau 30 năm kể từ 1963

ông Mã Tuyên chụp sau 30 năm kể từ 1963

Ngày 1-11 khi biết có đảo chánh thật rồi và ngay cả vào buổi sáng hôm sau (ngày 2-11) trước lúc Tổng thống Ngô Đình Diệm và Cố Vấn Ngô Đình Nhu rời nhà ông Mã Tuyên nếu Lữ Đoàn Phòng Vệ (do Thiếu Tá Nguyễn Hữu Duệ chỉ huy) được sự chấp thuận của Tổng Thống Ngô Đình Diệm thì với binh lực khi đó (có cả thiết vận xa M 113 và sau có thêm Tiểu Đoàn 41 Biệt Động Quân tham gia cùng Lữ Đoàn Phòng Vệ) thì sẽ dồn lực lượng, kéo quân tấn công thẳng vào Bộ Tổng Tham Mưu nơi HĐQNCM đang trú đóng thì sẽ dẹp tan cuộc đảo chánh nhưng Tổng Thống Ngô Đình Diệm không đồng ý và ra lệnh cho Thiếu Tá Duệ án binh chờ, để ông liên lạc với các tướng lãnh cố tránh đổ máu. Nếu có lệnh đồng ý cho Lữ Đoàn Phòng Vệ hành quân thì chắc chắn Lữ Đoàn nầy sẽ chiếm được Bộ Tổng Tham Mưu cách chóng vánh, bắt giữ các tướng lãnh đảo chánh và kết cục sẽ đổi khác ( Nhớ lại những ngày ở cạnh Tổng Thống Ngô Đình Diệm, sách của ông Nguyễn Hữu Duệ).

Giận Cá chém Thớt. Đập bỏ tượng Hai Bà Trưng vì cho là giống khuôn mặt bà Ngô Đình Nhu và con gái Ngô Đình Lệ Thủy.

Khi thiết vận xa M 113 chở hai anh em Tổng Thống Diệm-Nhu tách đoàn chạy vào Bộ Tư Lệnh CSQG (khoảng 20 phút) rồi chạy ra để sau đó nhập vào đoàn xe và đoàn xe nầy dừng lại (tại đường rầy gần ngã tư đường Cao Thắng-Hồng Thập Tự vì có đoàn xe lửa đang chạy đến) và chính lúc nầy, hai anh em Tổng Thống đã bị Đại Úy Nguyễn Văn Nhung bắn chết. Thực ra Đại Úy Nguyễn Văn Nhung đã bắn vào hai xác người đã chết rồi (nằm trong thùng xe, hai tay bị trói với các vết dao đâm khi tra tấn và giết trước đó). Theo lời kể của người hạ sĩ xạ thủ trên chiếc thiết vận xa M 113 khi đó (trong bài viết Tâm Sự Người Lính Già trên báo Văn Nghệ Tiền Phong số 355). Nhưng người xạ thủ nầy tên là gì? Ông hiện còn sống hay đã chết? Tại sao cả hàng mấy chục năm trời người ta mới được nghe ông tiết lộ về người thực sự giết chết hai anh em Tổng Thống Ngô Đình Diệm-Ngô Đình Nhu? Xác của ông Diệm có những dấu vết chứng tỏ đã bị đánh đập trước khi bị giết. Xác ông Nhu bị đâm nhiều nhát dao , áo rách đầy máu. Cả hai ông đều bị bắn từ ót sau đầu ra phía trước và đều bị trói ké hai tay quặt ra phía sau lưng (Trung Úy Y Sĩ Huỳnh Văn Hưỡn, chỉ huy bệnh xá Bộ Tổng Tham Mưu, người đã khám nghiệm 2 thi hài).

Tại sao Tổng Thống Ngô Đình Diệm không chạy vào Toà Đại Sứ Mỹ hay Pháp để xin tỵ nạn? Hai người cũng không chạy vào nhà một người Việt nào mà lại chọn vào tá túc nhà ông Mã Tuyên, Tổng Bang Trưởng 10 bang người Việt gốc Hoa?

Lập luận anh em Tổng Thống Ngô Đình Diệm-Ngô Đình Nhu tìm cách thương thảo với CS là họ đã trở thành kẻ phản quốc nên trước sau gì cũng phải có một người lính miền Nam VNCH nào đó giết hai ông. Chúng ta biết là người anh ruột của Tổng Thống Diệm là Ngô Đình Khôi đã bị CS bắt giết chung với con trai (tháng 8-1945 tại làng Hiền Sĩ, Phong Điền-Thừa Thiên) thì làm sao ông Ngô Đình Diệm có thể thoả hiệp với CS được. Vụ thương thảo với Phạm Hùng có thể là một đòn chiến lược riêng trong toan tính của anh em Tổng Thống Diệm đối với chính quyền Mỹ. Không lẽ hai anh em Tổng Thống Ngô Đình Diệm-Ngô Đình Nhu…ngây thơ đến mức có thể tin được chuyện hoà hợp với CS? Mới chỉ có một vụ gặp gỡ với đại diện CS thì cũng khó có thể kết luận là trước sau gì Tổng Thống Ngô Đình Diệm cũng thoả hiệp với bọn CS và như vậy, miền Nam VNCH sẽ không thể tồn tại đến ngày 30-4-1975 nếu như không có vụ đảo chánh ngày 1-11-1963. Cho là quân đội đứng lên đáp lời sông núi lật đổ Tổng Thống Ngô Đình Điệm là vì ông ta đã thông đồng với CS (vụ ngày 1-11-1963 nếu không thành thì sẽ có các vụ đảo chánh khác nữa) làm suy yếu tinh thần chiến đấu chống làn sóng Đỏ. Tại sao ngay sau khi lật đổ Tổng Thống Ngô Đình Diệm thì lại có vụ phá bỏ các Ấp Chiến Lược, một mô hình làng chiến đấu trong thời Đệ Nhất Cộng Hòa gây nhiều tổn thất cho hoạt động quấy phá của cán bộ CS?

Những người liên can đến cái chết của hai anh em Tổng Thống Ngô Đình Diệm-Ngô Đình Nhu thì đều đã chết và khi còn sống, họ lại không tiết lộ sự thật. Sẽ còn những uẩn khúc về cái ngày 1-11-1963.

Phạm thắng Vũ - Oct 27, 2008.

Bài 5:Ông Diệm và ông Nhu đã bị giết như thế nào ?
Sau cuộc "chỉnh lý" ngày 30.1.1964, trước khi ra lệnh giết Đại Úy Nhung để phi tang một nhân chứng quan trọng (có lẽ theo lệnh của CIA), Tướng Nguyễn Chánh Thi đã đích thân lấy lời khai của Nhung và còn bắt Nhung ngồi viết lời khai về vụ này. Ông có cho tôi nhìn qua tờ khai này năm 1968 khi đang ở Washington D.C. Nhưng rất tiếc, khi xuất bản cuốn "Việt Nam: Một trời tâm sự", ông đã không cho in nguyên văn tờ khai này, mà tự ý sửa đổi và cắt bớt đi.
Tướng Mai Hữu Xuân được đổi thành Tướng Thu, mặc dầu trong Quân Lực VNCH lúc đó không có tướng nào tên là Tướng Thu cả. Theo tờ khai mà Tướng Thi công bố trong cuốn sách nói trên, Đại Úy Nhung đã khai như sau:

Khi xe M113 chở ông Diệm và ông Nhu chạy được chừng 500 thước, Thiếu Tướng Thu (tức Mai Hữu Xuân) chạy xe ngược chiều trở lại và đưa lên một ngón tay trỏ. Đang còn ú ớ chưa biết giết ai, ông Diệm hay ông Nhu, họ định chạy qua để hỏi lại cho rõ thì dân chúng ùa ra xem rất đông, không chạy qua được. Bổng Thiếu Tướng Thu đưa hai ngón tay, họ hiểu rằng ông ra lệnh bắn cả hai người. Thiếu tá Nhung liền rút súng Colt 12 bắn mỗi người 5 phát, và sau đó bắn ông Nhu thêm ba phát vào ngực nữa.

Tướng Lê Minh Đảo, lúc đó là Đại Úy tùy viên của Tướng Lê Văn Kim, đã cho biết như sau: Sau khi ông Diệm và ông Nhu bị hạ sát ít lâu, Nguyễn Văn Nhung có kể lại chuyện này cho ông nghe.
Nhung nói rằng khi được lệnh giết cả hai ông, Nhung đã bắn ông Nhu trước. Ông Diệm thấy thế đã nhắm mắt lại. Nhung liền bắn ông Diệm 5 phát. Sau đó quay qua bắn ông Nhu thêm 3 phát nữa. Điều này phù hợp với lời khai mà Tướng Nguyễn Chánh Thi đã công bố. Tuy nhiên, sự thật không phải chỉ có thế.
Xác ông Diệm và ông Nhu đã được đưa vào bệnh xá của Bộ Tổng Tham Mưu để khám nghiệm. Bác sĩ HuỳnhVăn Hưỡn
(hiện nay ở New York), giám đốc bệnh xá này lúc đó, đã khám nghiệm và chứng nhận rằng cả ông Diệm lẫn ông Nhu đã bị bắn từ sau ót ra trước. Xác ông Diệm có nhiều vết bầm, chứng tỏ đã bị đánh đập trước khi bắn. Xác ông Nhu bị đâm nhiều nhát, áo rách nát và đầy máu. Vậy ông Diệm và ông Nhu đã bị trói, đánh đập và đâm lúc nào?
Một nhân chứng rất quan trọng hiện đang ở Melbourne, Úc Châu, cho biết ông là người đi trên chiết M113 chở ông Diệm và ông Nhu từ nhà thờ cha Tam về Bộ Tổng Tham Mưu, nên đã chứng kiến những sự việc xẩy ra. Câu chuyện ông kể lại có vẽ hợp lý hơn cả. Theo nhân chứng này, vào trưa 1.11.1963, chi đoàn thiết giáp của ông được lệnh vào Sài Gòn để tăng cường bảo vệ thủ đô. Khi đến Sài Gòn, chi đội này được chia làm hai toán, một toán hợp lực với quân bạn bao vây Dinh Gia Long, một toán làm vòng đai an ninh cho Bộ Tổng Tham Mưu. Nhân chứng ở trong toán đóng tại Bộ Tổng Tham Mưu.
Sáng 2.11.1963, khoảng 6 giờ 15 phút, toán ông được lệnh di chuyển ra khỏi Bộ Tổng Tham Mưu. Khi vừa ra khỏi cổng chính thì thấy có 3 chiếc xe Jeep đang chờ. Chiếc thứ nhất có Tướng Mai Hữu Xuân và 3 cận vệ. Chiếc thứ hai chở Đại Tá Dương Ngọc Lắm, Đại Úy Nguyễn Văn Nhung và Đại Úy Dương Hiếu Nghĩa. Chiếc thứ ba chở 4 người, trong đó có Đại Úy Phan Hòa Hiệp. Sau đó là hai chiếc M113. Nhân chứng ngồi ở chiếc thứ nhì. Cuối cùng là 2 chiếc GMC chở đầy lính có vũ trang đầy đủ.
Khi đến Chợ Lớn, gần một nhà thờ, xe chạy chậm lại, các binh sĩ trên hai chiếc GMC được lệnh nhảy xuống, một số bố trí xung quanh nhà thờ, số còn lại bố trí ở vòng ngoài. Xe Tướng Xuân chạy một vòng rồi đậu lại bên kia đường. Sau cái phất tay của Đại Tá Dương Ngọc Lắm, ba đại úy Nhung, Nghĩa và Hiệp nhảy xuống xe. Đại Tá Lắm ngoắc chiếc M113 có nhân chứng ngồi trên đó đi theo. Nhân chứng cũng nhảy xuống xe. Khi cách Đại Tá Lắm khoảng 2 thước, nhân chứng thấy có 4 người từ trong nhà thờ đi ra.
Người đi đầu là Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Người đi tiếp theo là ông Ngô Đình Nhu. Sau cùng là hai tùy viên
(Đại Úy Đỗ Thọ và ông Nguyễn Đắc Khá). Đại Tá Lắm đến chào ông Diệm:
- Thừa lệnh Trung Tướng Chủ Tịch Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng, chúng tôi đến đón cụ và ông cố vấn.
Ông Diệm:
- Ông Đôn và ông Minh đâu hè?
Đại Tá Lắm:
- Thưa cụ, hai ông còn đang bận việc ở Tổng Tham Mưu.
- Thôi được. Thế tôi và ông cố vấn đi cùng xe kia với ông.

Đại Tá Lắm quay người lại chỉ vào chiếc M113 và nói:
- Thưa cụ, xin cụ lên xe này cho.
Ông Nhu khẻ nhíu mày lên tiếng:
- Không thể đón Tổng Thống bằng một chiếc xe như vậy. Để tôi liên lạc với ông Đôn, ông Đính coi xem.
Đại Tá Lắm khẽ nhún vai:
- Tôi không biết. Đây là lệnh của TrungTướng Chủ Tịch.
Đại Úy Nhung liền oang oang:
- Xin mời hai ông lên xe ngay cho đi.
Mặt ông Nhu đỏ bừng, giọng rất quyết liệt:
- Không được. Để tôi hỏi lại ông Minh,ông Đôn. Tôi đi xe nào cũng dược, nhưng còn Tổng Thống...
Đại Úy Nhung:
- Ở đây không còn Tổng Thống nào cả.
Ngay lập tức, Nhung bảo hai quân nhân chạy đến đẩy hai ông lên xe và kéo cửa lên... Xe đi hết đường Nguyễn Trải, vào đường Võ Tánh đến trước Tổng Nha Cảnh Sát Quốc Gia thì ngừng lại. Tổng Nha này đã bị chiếm từ ngày hôm trước nên không còn một cảnh sát nào lui tới.
Chung quanh, các binh sĩ thuộc Sư Đoàn 5 của Đại Tá Ngưyễn Văn Thiệu canh gác rất cẩn mật.
Một Đại Tá từ trên xe Jeep nhảy xuống, bảo các binh sĩ trên xe M113 chở ông Diệm và ông Nhu xuống xe hết. Bảy người trên xe nhảy xuống, nhưng tài xế và anh hạ sĩ xạ thủ được ra lệnh ở lại. Xe được lệnh đi vào Tổng Nha.
Khoảng 20 phút sau, chiếc M113 lại từ Tổng Nha chay ra. Các binh sĩ lúc nảy được lệnh leo lên xe lại. Xe chạy ngược đường Võ Tánh trở lại đường Cộng Hòa. Nhân chứng hỏi hạ sĩ xạ thủ:
- Ông Diệm và ông Nhu đâu?
- Ở dưới.
- Sao rồi?
- Ông Nhu bị tra tấn khủng khiếp rồi bị xiết cổ chết bằng dây điện.

Người ta hỏi ông ta nhiều lần: Vàng, bạc, tiền của cất đâu? Ai giữ? Cơ sở kinh tài gồm những cơ sở nào? Ông Nhu trả lời không biết.
- Còn ông Diệm?
- Ông Diệm bị đè cổ ra trói thúc ké rồi ném vào hầm xe.
- Chết hay sống?
- Không biết.

Xe qua khỏi trường Petrus Ký rồi quẹo phải vào đường Hồng Thập Tự thì gặp lại 2 xe Jeep và hai xe chở binh sĩ lúc xuất hành buổi sáng. Xe Đại Tá Dương Ngọc Lắm đi đầu, xe thứ hai có Đại Úy Nhung. Khi đến đuờng Cao Thắng, bên hông bệnh viện Từ Dũ, xe ngừng lại vì bên kia đang có xe của Tướng Xuân chạy ngược trở lại. Dân chúng ra xem rất đông. Tướng Xuân nhìn Đại Úy Nhung và đưa hai ngón tay trái lên hai lần. Sau đó, ông đưa ngón tay trỏ lên khỏi đầu và co vào duỗi ra đến 4 lần
(gióng như bóp cò). Đại Úy Nhung gật đầu rồi đưa tay lên chào. Khi xe đến gần đường rầy xe lửa thì dừng lại trước cổng xe đã được đóng lại vì đang có đoàn xe lửa đi qua.
Đại Úy Nhung từ chiếc xe Jeep nhảy qua chiến M113 có chở ông Diệm và ông Nhu và la lớn:
"Xuống! Xuống!" Các binh sĩ trên xe M113 nhảy xuống hết. Nhân chứng vừa nhảy xuống đất thì nghe nhiều tiếng súng nổ...
Những lời tiết lộ của nhân chứng này cho chúng ta thêm những yếu tố mới, nhất là đoạn hai ông bị đưa vàoTổng Nha Cảnh Sát để tra tấn và khảo của. Trò khảo của này là một "sở trường" của Tướng Mai Hữu Xuân. Sự tiết lộ này đã giúp giải thích tại sao hai ông bị trói tay ra phía sau lưng, trên mặt ông Diệm có nhiều vết bầm và trên người ông Nhu có nhiều lát dao đâm. Nguyễn Văn Nhung chỉ leo lên xe M113 trong một thời gian ngắn, không thể gây ra tất cả những thứ đó được. Sau khi thi hành xong lệnh của chủ và lãnh tiền công, "bọn ác ôn côn đồ đáng nguyền rủa" cấu xé nhau về chức quyền và tiền bạc, đưa tới mất mất chủ quyền quốc gia, rồi đến mất nước.
Bây giờ ở nơi các địa tầng "naraca", Dương Văn Minh, Trần Văn Đôn, Mai Hữu Xuân, Lê Văn Kim, Đỗ Mậu, Nguyễn Văn Thiệu, Dương Ngọc Lắm, NguyễnVăn Quan, Nguyễn Văn Nhung... đang cùng với hai "ông thầy" Henry Cabot Lodge, Lucien Emile Conein nghiền ngẫm về lời nguyền rủa của Tổng Thống Johnson.
Nghe nói trong những năm cuối cùng, Mai Hữu Xuân đã phát điên, thỉnh thoảng quỳ quay vào tường, chấp tay van lạy:
"Xin cụ tha cho con!".

Chín Năm Bên Cạnh Tổng Thống Ngô Đình Diệm

Mn đàm vi cu Đng Lý Quách Tòng Đc

Tuy là bạn tâm giao với người viết từ lâu, ông Quách Tòng Đức luôn luôn tỏ ra dè dặt và thận trọng khi nhắc đến những năm dài làm Đổng Lý Văn Phòng cho Tổng Thống Ngô Đình Diệm, vị lãnh tụ khai sáng nền Đệ Nhứt Cộng Hoà Việt Nam. Sau chính biến 01/11/1963, ông Đức trở lại ngành Tư Pháp và được thăng trật Chủ Tịch Tham Chính Viện năm 1969. Tháng 04/1975, Sài Gòn thất thủ, ông và gia đình xin tỵ nạn chánh trị tại Paris. Chánh phủ Pháp tuyển dụng ông vào Phòng Tố Tụng Tổng Quát của thị xã Paris, thời thị trưởng Jacques Chirac. Ông về hưu đầu năm 1984. Nay 89 tuổi, trí tuệ còn minh mẩn tuy sức khoẻ không tốt như trước. Gần đây, trong những lần gặp nhau lại ở Pháp cũng như qua nhiều cuộc điện đàm có ghi âm, ông Đức đã chịu thố lộ với người viết nhiều điều liên hệ đến giai đoạn 9 năm phục vụ vị nguyên thủ quốc gia bị sát hại năm 1963.
L
n đu gp Chí Sĩ Ngô Đình Dim

Ông Quách Tòng Đức (Quách Tòng Đức) sanh tại An Xuyên năm 1917, thuộc một gia đình trung lưu, đậu cử nhân và Cao học Luật Đông Dương năm 1941, Đại học Hà Nội, sau khi lấy bằng tú tài tại trường Pétrus Ký, Sài Gòn. Ông thuộc toán cử nhân đầu tiên gồm có Nguyễn Thành Cung và Lê Văn Mỹ thi đậu năm 1942 vào ngạch huyện, phủ tại Miền Nam Việt Nam mà cấp bậc cao nhứt là Đốc Phủ Sứ thượng hạng ngoại hạng tương đương với chức Tổng Đốc đứng đầu tỉnh ở ngoài Trung và Bắc. Khi vua Bảo Đại chỉ định Trần Văn Hữu lập Chánh phủ, Thủ Hiến Nam Việt Thái Lập Thành (xuất thân là một Đốc Phủ Sứ như các ông Nguyễn Ngọc Thơ, Lê Tấn Nẩm, Dương Tấn Tài, Lê Quang Hộ … ) bổ nhiệm ông Quách Tòng Đức năm 1951 làm Chánh Văn Phòng và Thiếu Tá Dương Văn Minh, Chánh Võ Phòng. Năm 1953, thủ hiến Thành và Thiếu Tướng Chanson bị nhóm Cao Đài kháng chiến của Trình Minh Thế ám sát tại Sadec trong một cuộc kinh lý.

49 ngày sau Điện Biên Phủ thất thủ, tức là 26/06/1954, Bảo Đại giao cho cựu Thượng Thơ Ngô Đình Diệm lập chánh phủ, thay thế hoàng thân Bửu Lộc. Trước đây, ông Diệm đã 3 lần từ chối lời mời của Bảo Đại : năm 1937, 1945 và 1948. Ông giao thiệp thân tình với nhà cách mạng Phan Bội Châu lúc sanh tiền, có ghé Nhựt năm 1950 để hội kiến với Kỳ Ngoại Hầu Cường Để và, theo một số sử liệu, từng lãnh đạo Việt Nam Phục Quốc Đồng Minh Hội trong nước. Có lúc ông bị Việt Minh bắt giữ và – khác với Bảo Đại – đã cương quyết bác bỏ lời mời của Hồ Chí Minh làm Cố vấn cho Chánh phủ do Hồ dựng ra.

Hiệp định Genève, ký ngày 20/07/1954, chia đôi Việt Nam nơi vĩ tuyến 17. Trong đám đông quần chúng đón tiếp nồng nhiệt Thủ Tướng Diệm tại phi trường Tân Sơn Nhứt có ông Nguyễn Ngọc Thơ, nguyên bí thơ của Toàn quyền Decoux, cùng đi với ông Quách Tòng Đức. Thủ Tướng Diệm – kiêm luôn Quốc phòng và Nội Vụ – mời ông Thơ tham gia Nội các với tư cách Bộ trưởng Nội vụ. Ông Thơ chọn ông Đức làm Đổng Lý Văn phòng năm 1954. Ngày 23/10/1955, một cuộc trưng cầu dân ý truất phế Bảo Đại. Ngày 26/10/1956, từ Thủ Tướng trở thành Tổng Thống, ông Diệm thiết lập nền Đệ Nhứt Cộng Hoà Việt Nam . Quân đội tổ chức một cuộc diễn binh huy hoàng tại đại lộ Trần Hưng Đạo Sài Gòn dưới quyền điều khiển của Dương Văn Minh, vừa vinh thăng Thiếu Tướng sau khi tảo thanh xong Bình Xuyên tại Rừng Sát. Ông Quách Tòng Đức thay thế Đổng Lý Tôn Thất Trạch cuối năm 1954 và giữ chức vụ này cho đến ngày quân đội đảo chánh năm 1963.


Nh
n xét v mi liên h ca TT Dim vi gia đình

Theo ông Quách Tòng Đức, năm 1954 chánh phủ Pháp trả trước dinh Gia Long ở đường Gia Long, và sau khi quân đội Pháp rút khỏi Việt Nam, nhà cầm quyền Đệ Nhứt Cộng Hoà mới thu hồi Dinh Toàn Quyền Norodom, đổi tên thành Dinh Độc Lập, trên đại lộ Thống nhứt. Dinh này đươc kiến trúc sư Ngô Viết Thụ, khôi nguyên La Mã, xây cất lại hoàn toàn sau ngày 27/02/1962 vì Dinh bị hai phi công Phạm Phú Quốc và Nguyễn Văn Cử dội bom hư hại khá nặng.


Dinh Đ
c Lp chia làm 2 tng : tầng dưới có hai phòng khánh tiết tráng lệ và các văn phòng của Cố vấn Ngô Đình Nhu, Bộ Trưởng Phủ Tổng Thống, Đổng Lý Văn Phòng, TổngThơ Ký Phủ Tổng Thống và nhân viên. Tầng trên chia làm ba phần : phía trái dành làm văn phòng và phòng ngủ của Tổng Thống, phòng sĩ quan tuỳ viên ; ở giữa có hai phòng tiếp tân khang trang ; phiá phải là nơi cư ngụ của gia đình ông bà Nhu gồm có hai trai, hai gái. Tổng Thống Diệm thích làm việc trong phòng ngủ, trang trí sơ sài với một cái giường nhỏ bằng gổ, một bàn tròn và ba ghế da. Nơi đây, Tổng Thống thường dùng cơm và tiếp các bộ trưởng và tướng lãnh.

Gia đình Tổng Thống rất trọng Nho giáo. Hằng năm vào Tết Nguyên đán, luôn luôn tụ họp đông đủ ở Phủ Cam, Huế, để chúc thọ bà cụ Ngô Đình Khả giao cho người con áp út Ngô Đình Cẩn săn sóc ngày đêm. Ông bà Ngô Đình Khả có chín người con : 6 trai, 3 gái. Trưởng nam, Tổng đốc Ngô Đình Khôi và con trai là Ngô Đình Huân bị CS giết năm 1945. Ba người con gái là bà Ngô Đình Thị Giao tức bà Thưà Tùng, bà Ngô Đình Thị Hiệp tức bà Cả Ấm, thân mẫu của Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận và bà Ngô Đình Thị Hoàng tức bà Cả Lễ, mẹ vợ của Nghị Sĩ Trần Trung Dung. TT Diệm là người con trai thứ ba trong gia đình nhà Ngô, sanh năm 1901 tại Huế, được vua Bảo Đại bổ nhiệm năm 1933 Thượng Thơ đầu triều lúc 33 tuổi nhưng ông Diệm sớm rủ áo từ quan vì thực dân Pháp không chấp nhận chương trình cải tổ rộng lớn của ông.

Sau ngày ông Khôi qua đời, Tổng Giám Mục Ngô Đình Thục, trở nên người anh cả “quyền huynh thế phụ.” Đức Cha được kính nể và có nhiều ảnh hưởng đối với TT Diệm. Ông Quách Tòng Đức cho biết, lúc còn ở Vĩnh Long, Giám Mục Thục vài tuần có về Sài Gòn ngụ trong Dinh. Ông Ngô Đình Luyện, con út trong gia đình, đại sứ ở Luân Đôn, năm khi mười hoạ mới về nước nghỉ phép hay để dự các phiên họp của Hội đồng Tối cao Tiền tệ mà ông là một thành viên … Ông Đức không nhớ có lần nào gặp ông Cẩn trong Dinh Độc Lập.


Văn phòng Đ
ng Lý không làm vic thng vi C Vn Nhu. Ông Nhu có nhân viên riêng trong Sở Nghiên cứu Chánh trị Phủ Tổng Thống mà người giám đốc đầu tiên là Đốc Phủ Sứ Vũ Tiến Huân, Tham lý Nội An Bộ Nội vụ, về sau thay thế bởi bác sĩ Trần Kim Tuyến. Văn phòng của Sở Nghiên Cứu sử dụng một ngôi nhà riêng trong hàng rào Dinh Độc Lập. Vài tháng trước vụ binh biến 01/11/1963, Tuyến bị thất sủng, trung tá Phạm Thư Đường thay thế. Tuyến được bổ nhiệm làm Tổng lãnh sự (hụt) tại Le Caire, trở lại Việt Nam và liên hệ đến một nhóm âm mưu đảo chánh. Đảo chánh thành công, bs Tuyến bị Hội Đồng Cách Mạng đày ra Côn Đảo (tỉnh trưởng là trung tá Tăng Tư) trên một năm cùng với lối 200 nhân vật chế độ củ gồm có Ngô Trọng Hiếu, Cao Xuân Vỹ, đại tá Nguyễn Văn Y, Hà Như Chi, Dương Văn Hiếu … Ông Quách Tòng Đức không thể xác nhận tin nói rằng trước ngày 01/11/1963, ông Nhu đã giao cho người em vợ là Trần Văn Khiêm điều khiển cơ quan mật vụ. Khiêm bị nhiều tai tiếng, từng cộng tác với văn phòng của luật sư Trương Đình Dzu, ứng cử viên Tổng Thống thời Thiệu-Kỳ. Vụ Khiêm giết cha mẹ là ông bà cựu đại sứ Trần Văn Chương tại Hoa Kỳ sau 1975 làm dư luận xôn xao. Toà án Mỹ tha Khiêm với lý do Khiêm bị bịnh tâm thần và trục xuất Khiêm khỏi Hoa Kỳ. Khiêm hiện sống bình thường ở Pháp. Có sự điều đình chánh trị gì bên trong vụ án này ?

Khi được hi cách cư x ca TT Dim vi bà Nhu (nhủ danh Trần Lệ Xuân), ông Đức cho biết « ông Cụ có vẻ nể và ủng hộ bà Nhu » trong vụ tổ chức Phong trào Phụ nữ Liên đới và vận động Quốc Hội ban hành Bộ Luật Gia Đình cấm ly dị. Tổng Thống cho rằng bà Nhu hành động như vậy là giúp cải tổ xã hội. Tuy nhiên, những kẻ xấu miệng lại cho rằng Bộ Luật Gia đình nhằm mục tiêu riêng : ngăn luật sư Nguyễn Hữu Châu ly dị với vợ là Trần Lệ Chi, chị của bà Nhu. Ngoài chức vụ dân biểu Quốc Hội, bà Nhu còn là chủ tịch Phong trào Phụ nữ Liên đới. Khi tiếp quốc khách, bà Nhu đóng vai trò đệ nhứt Phu nhân vì Tổng Thống độc thân. Tuy bất bình về những lời tuyên bố châm dầu vào lửa của người em dâu trong vụ Thích Quảng đức tự thiêu ngày 11/06/1963 (đặc biệt với câu « monks’ barbecue »), ông Diệm không công khai phủ nhận vì ngại đụng chạm đến ông Nhu vào một giai đoạn rối như tơ vò. Chính ông Nhu, với tánh hay nhường nhịn cho yên nhà yên cửa, cũng không kiểm soát nổi lối phát ngôn của vợ. Bà Nhu hiện có một cuộc sống kín đáo, đơn sô, nặng về tôn giáo, qua lại giữa Paris và Rome, tất cả con cái đều thành tài. Trưởng nữ Ngô Đình Lệ Thuỷ chết trong một tai nạn lưu thông sau 1975. Sự bất hạnh không ngớt đeo đuổi gia đình nhà Ngô. Thời gian gần đây, bà Nhu thay bà Luyện để tổ chức hằng năm tại Paris một lễ cầu hồn cho TT Diệm và ông Nhu. Trong số ít người còn lui tới với bà Nhu, có vợ chồng cựu bộ trưởng Lao Động Huỳnh Hữu Nghiã. Ông Nghĩa qua đời năm vừa rồi.

V tin đn Đc Cha Thc làm kinh tài (khai thác lâm sản, mua thương xá Tax, làm chủ nhà sách Albert Portail … & …), ông Đức cho rằng TT Diệm tin TGM Thục không làm điều gì quấy, ngài phải kiếm tiền nuôi sống trường Đại học Đà Lạt do Ngài thành lập. Trải qua một cuộc đời sóng gió và gặp nhiều hiểu lầm với Toà Thánh Vatican sau 1975, TGM Ngô Đình Thục được Giáo Hoàng phục hồi chức tước, về hưu ở Hoa Kỳ và đã ra đi bình yên tại một Viện dưỡng lão công giáo thuộc tiểu bang Missouri.

Ông Quách Tòng Đức xác nhận ông Ngô Đình Nhu chẳng những là lý thuyết gia mà còn là bộ óc của Đệ Nhứt Cộng Hoà, « l’homme indispensable, nhân vật cần thiết ». Ông xuất thân từ École des Chartes Paris, trầm tỉnh, ít nóí, lạnh nhạt bên ngoài, thích nghiên cứu lịch sử, có nhiều sách hơn đồng chí. Trong lối ba năm chót của chế độ, dù giữ quyền quyết định cuối cùng trong mọi việc, TT Diệm thường phê chuyễn các hồ sơ chánh trị quan trọng qua cho ông Nhu để lấy ý kiến, không kể những cuộc gặp mặt thảo luận riêng hằng ngày. Ông Nhu làm việc âm thầm, cần mẩn, hút thuốc liên hồi (mỗi lần nửa điếu, do sự can ngăn của bà Nhu) trong một văn phòng không rộng, đầy ngập sách vở, ánh sáng mờ mờ, ở tầng dưới Dinh Độc Lập, có gắn máy lạnh và interphone với bên ngoài. Ông thường phê vào các công văn với một cây bút chì mỡ màu xanh lá cây. Ông là cha đẻ của Đảng Cần Lao, dựa vào thuyết Nhân Vị, Personnalisme, đúc kết hai xu hướng của triết gia công giáo Emmanuel Mounier (1905-1950) và Jacques Maritain (1882-1973). Ông phát động và thực hiện kế hoạch quốc phòng Ấp Chiến Lược từng gây khiếp đảm cho CS Bắc Việt. Quốc sách này được thành lập bởi Nghị định số 11-TTP của Tổng Thống và ông Nhu là Chủ tịch Uỷ Ban Liên bộ đặc trách Ấp Chiến Lược. Ông Nhu cũng cho thành lập Phong trào Thanh niên và Thanh nữ Cộng hoà giao cho Cao Xuân Vỹ phụ trách. Ông đẩy mạnh tổ chức Lao động ở Việt nam và nâng đở Trần Quốc Bửu. Đại tá CIA Lansdale (người đã ủng hộ Magsaysay trở thành Tổng Thống Phi Luật Tân năm 1952) giúp ông móc nối với Lực Lượng Kháng Chiến Cao Đài để đưa tướng Trình Minh Thế về với Quốc gia. Ngồi chức Tổng Bí Thư đảng Cần Lao (tổ chức theo mô hình đảng Cộng Sản, với một Quân uỷ trong Quân đội), có một lúc ông Nhu là dân biểu Quốc Hội. Ông không bao giờ tháp tùng Tổng Thống trong các cuộc kinh lý. Săn bắn là thú tiêu khiển yêu chuộng của ông và đồng thời là cơ hội tìm nơi yên tịnh để suy nghĩ.


Ông Đ
i S Luyn, gc k sư, tánh tình ci m, thích giao du với bạn bè mỗi khi về Việt Nam nhưng không có nhiều ảnh hưởng vì không xen vào vấn đề nội trị. Ông là bạn học của cựu hoàng Bảo Đại, sống tại Luân đôn và đại diện Việt Nam Cộng Hoà ở nhiều xứ u châu và Phi châu. Sau khi vợ trước qua đời, ông Luyện tục huyền với em vợ và có rất đông con. Bà Luyện sống ở ngoại quốc nhiều hơn và ít khi xuất hiện. Sau 1963, ông Luyện dạy toán tại một trường tư thục Paris, sau đó sang Phi Châu làm việc một thời gian, tình trạng khá chật vật khi về hưu. Ông có qua Hoa Kỳ vài lần để thăm Đức TGM Thục, không còn liên lạc với bà Nhu và ông đã quá vãng ở Pháp.


Cho đ
ến cui năm 1961, vai trò ca ông Ngô Đình Cn, Cố vấn lãnh đạo Miền Trung, trái lại, rất hệ trọng về mặt an ninh và đoàn thể. Ông Cẩn không ăn học cao nhưng nắm vững tình hình địa phương, có óc tổ chức, luôn luôn trang phục theo lối Việt, áo dài, khăn đống, ăn trầu, (từ đó biệt danh « Ông Cố Trầu »), độc thân, thích hút thuốc Cẩm Lệ, đan rổ, làm vườn, nuôi thú, nuôi chim. Ảnh hưởng của ông lan vào Miền Nam với những điệp vụ mang danh nghĩa chiêu hồi của Đoàn Công tác Đặc biệt do Dương Văn Hiếu quán xuyến, sự hiện diện của Nguyễn Văn Hay trong cương vị phó TGĐ tại Tổng nha Cảnh sát Công An Sài Gòn và các hoạt động của cánh Cần Lao do nha sĩ thân tín Phan Ngọc Các điều khiển. Sau 01/11/1963, viên lãnh sự Mỹ Helble tại Huế không cho Cẩn và thân mẫu được tỵ nạn chánh trị tại Toà lãnh sự trong khi trước đó, cơ quan USAID Sài Gòn chứa chấp Trí Quang nhiều ngày. Lúc vừa bị bắt, ông Cẩn có chỉ cho tướng Đổ Cao Trí tịch thu tại nhà ông ở Phú Cam, dưới gầm giường, « một bao bố và một va-li đựng quý kim » (đọc hồi ký Dòng họ Ngô Đình của Nguyễn Văn Minh, bí thơ của N Đ Cẩn, trang 307). Ông Cẩn bị Hội Đồng Nhân Dân Cách Mạng, thời Nguyễn Khánh, xử tử vào lúc 6 giờ 30 chiều ngày 9.5.1964 tại sân sau khám Chí hoà, Sài Gòn. Luật sư bào chửa là Võ Văn Quan. Cố vấn Cẩn tỏ ra bình tỉnh tại pháp trường, tuyên bố tha thứ cho các người tuyên án ông và xin đừng bị bịt mắt nhưng không được chấp nhận. Nếu gia đình thoả thuận lấy của đổi mạng, ông Cẩn có thể đã thoát chết. Vụ tống tiền này đã được cố Nghị Sĩ Trần Trung Dung và cố Trung Tướng Lâm Văn Phát xác nhận với người viết sau 1975.


Đ
ược hi v tin đn có s cnh tranh nh hưởng chánh tr gia Nhu và Cn, ông Quách Tòng Đức nói chỉ nghe nói phong thanh. Vào tháng 10/1963, ông Cẩn nhận được lệnh của TT Diệm ngưng mọi hoạt động về đoàn thể và đóng cửa Văn phòng Cố vấn chỉ đạo ở ngoài Trung gồm có Hồ Đắc Trọng và Đại Úy Nguyễn Văn Minh. Hình như sự hiện diện của TGM Ngô Đình Thục tại Huế đã bó tay ông Cẩn phần nào. Ông Cẩn không dám phê bình chị dâu tuy không ưa bà Nhu. Trong phạm vi cá nhân, ông Cẩn giữ liên lạc tốt với Thượng Toạ Trí Quang nhưng điều này không giúp giải quyết cuộc khủng hoảng Phật Giáo. Hoa Kỳ và Cộng Sản đã nhúng tay quá sâu.

Người viết có yêu cầu ông Quách Tòng Đức cho biết trong gia đình họ Ngô, ai là người gây tiếng tăm bất lợi cho chế độ. Suy nghĩ một phút, ông Đức đáp : TGM Thục và bà Nhu. Đặc biệt trong giai đoạn Phật Giáo. Đức Cha ảnh hưởng quá nặng ngoài lãnh vực tôn giáo. Bà Nhu xen quá sâu vào chính trị, điều ít thấy trong giới phụ nữ Việt Nam. Ngó từ bên ngoài, năm anh em Ngô Đình rất khắn khít, mỗi người giúp tay tích cực xây dựng chế độ trong một lãnh vực. Sự đoàn kết ấy được diễn tả trong huy hiệu Đệ Nhứt Cộng Hoà : năm cành trúc kết thành một bó, dưới khẩu hiệu « Tiết Trực Tâm Hư ». Tuy nhiên, mỗi nhân vật có cá tánh riêng, nhận định không luôn luôn nhất thống, đôi khi còn mâu thuẩn. Đó là hậu quả khó thể tránh trong một chế độ dựa vào gia tộc để lãnh đạo. Phe chống đối cũng như Hoa Kỳ và Cộng Sản đều khai thác triệt để và dễ dàng nhược điểm này.


D
ư lun cho rng trong năm chót ca chế đ, trước cuộc binh biến 01/11/1963, ông Nhu – trên thực tế – là một « Tổng Thống không ngôi » vì có nhiều quyền lực, làm lu mờ vai trò của ông Diệm nhưng quyền bính hiến định vẫn ở trong tay ông Diệm bị tấn công tứ phiá, bên trong lẫn ngoài nước. Không có một văn kiện chánh thức nào bổ nhiệm ông Nhu lẫn ông Cẩn làm Cố vấn Chánh phủ. Chính các đoàn thể chánh trị ở Miền Trung mời ông Cẩn làm “Cố vấn Chỉ đạo” và dành cho ông danh xưng này. Có lúc dư luận cảm thấy ông Diệm cần ông Nhu hơn là ông Nhu cần ông Diệm. TT Diệm không thể tách rời khỏi ông Nhu đóng vai trò « l’âme damnée, linh hồn đày đoạ ». Đó là đầu mối thảm trạng xảy ra cho hai người vào giờ phút chót.

TT Diệm tưởng lầm có thể dùng uy tín cá nhân để bảo vệ sanh mạng của bào đệ. TT Diệm cũng tưởng lầm khối tướng lãnh chấp nhận điều đình với ông. Phần đông tướng lãnh kính nể TT Diệm nhưng tất cả ngán sợ ông Nhu vì ông Nhu lắm mưu mô, nhiều bản lãnh. Sự ngán sợ đã trấn áp lòng nể trọng và dẫn đến quyết định hy sinh vị nguyên thủ quốc gia. 3 giờ trưa ngày 01/11, lúc tiếng súng đang nổ lớn, TT Diệm điện thoại cho đại sứ Lodge : Một cuộc điện đàm ngắn ngủi, đầy phẩn nộ trong khuôn khổ ngoại giao. Khi hay hai ông Diệm, Nhu thoát khỏi Dinh Gia Long đêm 01/11/1963, nhóm phản loạn « run en phát rét » và một tướng cầm đầu định “trở cờ,” theo sự tiết lộ của Tổng Thống Thiệu trước khi qua đời với người viết. Conein thúc phe phản loạn phải bắt sống cho kỳ được hai ông Diệm, Nhu. Conein nói suồng sã : « On ne fait pas l’omelette sans casser les oeufs, Không thể rán trứng mà không đập bể trứng ! » theo Trần Văn Đôn kể lại trong Hồi ký.

TT Diệm không chiụ ra lệnh cho một số đơn vị võ trang trung thành phản công quân đảo chánh vì muốn tránh cảnh nồi da xáo thịt, làm suy giảm tiềm năng kháng Cộng. 4 giờ sáng ngày 02/11/1963, hai tư lệnh Quân khu thân tín ở Vùng I và II là tướng Đổ Cao Trí và Nguyễn Khánh tuyên bố ủng hộ Hội đồng Cách Mạng. Hy vọng cuối cùng tan biến. Hai giờ sau, Tổng Thống cho phép Đại Úy Đổ Thọ, sĩ quan tuỳ viên, điện thoại cho chú y là đại tá Đổ Mậu yêu cầu cho xe đến đón tại Nhà thờ Cha Tam Chợ lớn. Lúc 6 giờ và 6 giơ 45 sáng ngày 02/11/1963, TT Diệm đích thân điện thoại cho các tướng Minh, Đôn và Khiêm để tìm giải pháp cho cuộc khủng hoảng. Dương Văn Minh chỉ định Mai Hữu Xuân, Nguyễn Văn Quang, Dương Ngọc Lắm, Dương Hiếu Nghĩa và Nguyễn Văn Nhung (tên vệ sĩ đã từng thủ tiêu xác của Ba Cụt) đi đón, với chỉ thị riêng thanh toán hai ông Diệm, Nhu, trước khi về tới Bộ Tổng tham mưu. Thái thú Cabot Lodge nhắm mắt trước vụ mưu sát bỉ ổi này mà ông có dư quyền chận lại nếu muốn. Đây là một vết nhơ không bao giờ rửa sạch trong lịch sử đại cường Hoa Kỳ. Tổng Thống Kennedy (lãnh tụ đảng Dân Cchủ) quá yếu đuối, để cho thuộc hạ lật đổ ông Diệm một cách vô trách nhiệm, với sự a tùng của viên đại sứ đồ tể Cabot Lodge (thuộc đảng Cộng Hoà). Mai Hữu Xuân (đồ đệ của tên Cò khát máu Pháp Bazin) sống cô đơn, qua đời tại vùng Bắc Californie vì bịnh tim, nhiều hôm sau lối xóm mới khám phá được, báo cho cảnh sát. Đại tá Quang (gốc Đại Việt và cấp trên của Dương Văn Minh trong Quân đội Pháp) thăng Thiếu Tướng, một thời gian ngắn thì chết vì bịnh lao phổi.

Ông Nhu có thiện cảm với Pháp hơn với Mỹ, yếu tố văn hoá/ giáo dục ảnh hưởng nặng. Ông Diệm lại e dè với Pháp (qua kinh nghiệm thất vọng thời làm quan dưới triều thực dân) nhưng rốt cuộc, oái oăm thay, ông trở thành nạn nhân của Mỹ mà ông nghĩ là văn minh và nhân đạo hơn !


Con ng
ười ca Chí Sĩ Ngô Đình Dim

Nhiều sách vở và tài liệu đã nóí về cuộc đời chánh trị và riêng tư của TT Ngô Đình Diệm- một lãnh tụ cương trực, khí khái, chống cộng cố hữu (anti-communiste invétéré) cũng như bướng bỉnh với đế quốc, bất luận Pháp, Tàu hay Mỹ. Theo ông Quách Tòng Đức, TT Diệm có cái uy nghiêm riêng phát xuất từ một gương mặt phúc hậu, một tác phong cương nghị, một giọng Huế ấm áp, một lối nhìn thẳng vào người đối thoại. Một nốt ruồi đen thấy rỏ trên gò má dưới mắt trái của Tổng Thống được các nhà tử vi xem như báo hiệu một số mạng nhiều buồn phiền và tang tóc. Ông không nặng lời hay gắt gỏng với cấp thừa hành, khi không vừa ý.

Phong cách của TT Diệm làm cho những người tiếp xúc với ông phải kính nể. Sau cái bề ngoài trầm tỉnh, TT Diệm là một con người cuồng nhiệt, một hoả diệm sơn, kiên trì trong mục đích, không nhân nhượng trên những đức tin căn bản. Trong chín năm làm việc tại Dinh, ông Đức cũng có dịp chứng kiến một ít trường hợp – vì lý do đặc biệt – Tổng Thống thịnh nộ, quát tháo, đập bàn … Những “trận bão” này, tuy nhiên, qua mau, Tổng Thống tự kềm chế cấp thời vì bản tánh của ông bộc trực, không cố chấp, không thâm độc như Hồ Chí Minh. Ông có thể độc thoại hàng giờ khi nói đến những đề tài mà ông nghiền ngẫm như chủ thuyết Cộng Sản, ấp chiến lược, khu trù mật, dinh điền, cải tổ hành chánh, hay văn hoá Khổng Mạnh. Mái tóc đen nhánh, dáng người thấp, chân đi hai hàng lạch bạch nhưng mau lẹ. Rất sùng đạo, xem lễ mỗi buổi sáng tại hoặc một phòng riêng trong Dinh, hoặc nhà nguyện Dòng Chúa Cứu thế. Trang phục màu trắng, cà vạt đen quanh năm, không thay đổi. Làm việc bất chấp giờ giấc, với nhịp độ làm các người thân cận mệt nhoài. Khi có vấn đề khẩn, ông cho mời nhân viên hữu trách vào Dinh để đàm đạo thâu đêm. Bằng không, ông đọc phúc trình, hồ sơ đến khuya, uống trà, hút thuốc nhưng không bao giờ hút hết phân nửa điếu thuốc.

TT Diệm kinh lý không biết mệt, có khi mỗi tuần đi suốt hai ba ngày, đến các tiền đồn hẻo lánh, làng Thượng xa xôi, sử dụng mọi phương tiện chuyên chở : máy bay, ghe, tàu, xe jeep, trực thăng … Ông không hùng hồn trước đám đông nhưng rất thoải mái và thân mật ở giữa những nhóm nhỏ, không quan cách, không mị dân

Khi nhóm Hội Đồng Nội Các, Tổng Thống Diệm thường ra ngoài chương trình ấn định, nếu tình cờ gặp một đề tài gây chú ý. Ông nói say mê, không đầu không đuôi, lắm khi không kết luận. Với tư cách thơ ký phiên họp, ông Quách Tòng Đức ghi mệt tay. Lúc bế mạc, các bộ trưởng thường phải nhờ ông Đức tóm tắt vì suốt chín năm trời làm việc bên cạnh Tổng Thống, ông Đức đã quen và rút kinh nghiệm, tuy đôi lúc cũng đoán lầm.

TT Diệm sống rất nặng về lý tưởng. Con người Khổng Giáo nghiêm khắc và Công Giáo khổ hạnh nơi ông có những nhận xét lắm khi không sát thực tế. Ông thường nhắc rằng người cán bộ trung thành luôn luôn hy sinh vì đại cuộc mà không cần đến cơm áo, danh vọng và chức tước, một lời khen của lãnh tụ đủ gây mãn nguyện. Khổ nổi, không phải cán bộ nào cũng thánh thiện như thế. Cuộc nổi loạn năm 1963 là một sự cải chính xót xa. Sánh với Hồ Chí Minh, ông Diêm là một lãnh tụ đức độ thiếu mưu lược, ghét xảo quyệt.


Thú tiêu khi
n ca TT Dim không nhiu vì thiếu gi rnh.

Ông thích cỡi ngựa ở Đà Lạt hay trong vòng rào của Dinh Độc Lập trong những năm yên ổn. Ông sưu tập máy ảnh, thích chụp hình và rất vui khi nhận được một máy loại mới. Chủ tiệm chụp hình Hà Di thường được gọi vào Dinh về vấn đề chuyên môn. Tổng Thống ăn uống thanh đạm, thường bữa dùng tại ngay phòng ngủ, do ông già Ẩn và Đại Úy Nguyễn Bằng phục dịch, thực đơn ít khi thay đổi gồm có cơm vắt, muối mè, cá kho và rau. Tổng Thống ít khi đau, lâu lâu cảm cúm, có bác sĩ Bùi Kiện Tín chăm sóc. Phòng nội dịch không đông nhân viên, do ông Tôn Thất Thiết phụ trách. Vấn đề tiền bạc riêng của Tổng Thống thì giao trọn cho Chánh văn phòng đặc biệt Võ Văn Hải, ông Diệm không có nhu cầu lớn. Ông Hải, học trò cũ của GM Ngô Đình Thục, tốt nghiệp Trường Khoa học Chính trị Paris, cử nhân Hán học, rể của cựu Thượng thơ Nguyễn Khoa Toàn, theo sát Tổng Thống Diệm từ lúc còn bôn ba ở Hải Ngoại và được ông Diệm thương như con. Ông Hải chính là người được TT Diệm chỉ định ngày11.11.1960 ra trước cổng Dinh Độc Lập tiếp xúc với các sĩ quan phản loạn Nguyễn Chánh Thi – Vương Văn Đông để tìm hiểu yêu sách của họ. Hải chống ông bà Nhu và bác sĩ Tuyến, giám đốc Sở Mật vụ và cũng không thích ông Cẩn.

Ông Đức còn thêm : Vài hôm sau 01/11/1963, ông có chứng kiến vụ Hải lập biên bản trao cho Đại Úy Đặng Văn Hoa, chánh văn phòng của tướng Trần Văn Đôn số tiền của TT Diệm giao cho Hải cất giữ. Ông Đức không biết số tiền này được bao nhiêu và lọt vào túi của ai. Nôi hai trang cuối cùng của hồi ký Việt Nam Nhân Chứng, Trần Văn Đôn có ghi rỏ Hải đã trao hai số bạc mặt 2,39 T đồng và 6297 Mỹ kim, Dương Văn Minh lấy 6000 đô và chia cho Trần Thiện Khiêm 297 đô. Số bạc Việt Nam được phân phát cho Tôn Thất Đính, Lê Văn Kim, Dương Văn Minh, Nguyễn Khánh, Nguyễn Hữu Có, Nguyễn Văn Thiệu, Phạm Ngọc Thảo, Trần ngọc Tám và Trần Thiện Khiêm, riêng Đôn có nhận 24500 đồng.

Khi phe quân nhân lên cầm quyền, Võ Văn Hải có can đảm tổ chức nhóm « Tinh thần Ngô Đình Diệm » và ra ứng cử dân biểu tại Sài Gòn nhưng thất cử. Năm 1974, không hiểu vì sao Hải lại xoay qua, cùng với Tôn Thất Thiện, ủng hộ nhiệt tình tướng Dương Văn Minh là người ra lệnh hạ sát hai ông Diệm, Nhu. Hải qua đời trong một trại giam Bắc Việt sau 1975, đem theo nhiều điều bí mật chưa hề tiết lộ.

Về câu hỏi TT Diệm liên hệ ra sao với đảng Cần Lao, ông Quách Tòng Đức cho biết ông Diệm chỉ để ý theo dõi hoạt động của Phong Trào Cách Mạng Quốc gia (tổ chức nồng cốt của chế độ từ lúc đầu) và Liên Đoàn Công Chức Cách Mạng, một tổ chức ngoại vi của Chánh phủ. Về chuyện thành lập và sinh hoạt của đảng Cần Lao, TT Diệm giao hết cho hai ông Nhu và Cẩn. Trong các năm chót của chế độ, kế hoạch Ấp Chiến Lược cũng do ông Nhu hoàn toàn phụ trách, Tổng Thống không lưu ý đến như đã từng lưu ý đến kế hoạch Dinh Điền hay Khu Trù Mật. Các gương mặt nổi trong hoạt động Cần Lao gồm có các ông Huỳnh Văn Lang, Trần Kim Tuyến, Lê Văn Đồng, Huỳnh Hữu Nghĩa, Lê Quang Tung, Đổ Mậu, Nguyễn Văn Châu, Đổ Kế Mai, Nguyễn Trân … Bs Tuyến làm việc với ông Nhu, ít khi gặp Tổng Thống, trừ trường hợp đặc biệt. Quyết định đưa Cần Lao vào Quân đội – tức là chính trị hoá Quân đội – làm yếu Quân đội vì phá vỡ hệ thống quân giai và làm nản lòng các sĩ quan chuyên nghiệp. Quân đội chỉ biết có Tổ Quốc. Và phục vụ tổ quốc mà thôi.


V
công đin s 9159 cm treo c Pht giáo và s tr mt ca các sĩ quan thân tín.

Trong quyển hồi ký “Dòng Họ Ngô Đình,” xuất bản năm 2003 tại Californie, tác giả Nguyễn Văn Minh, nguyên bí thơ (1956-1963) của cố vấn Ngô Đình Cẩn, ghi nơi trang 164-165 : Lối 10 hôm sau vụ nổ lựu đạn giết 7 em bé và một số Phật tử tại đài phát thanh Huế nhân ngày lễ Phật Đản 1963, Dương Văn Hiếu, trưởng đoàn công tác đặc biệt Miền Trung, vào Dinh để phúc trình với TT Diệm, ông Diệm nói với Hiếu như sau về vụ treo cờ Phật giáo : “Sau đó tôi mới bảo Quách Tòng Đức gởi công văn nhắc các Tỉnh, chứ tôi có cấm chi mô ! Không hiểu tại răng hắn để tới ngày chót mới gởi công điện. Khi xảy chuyện, tôi kêu vô hỏi, hắn xin thôi. Công chuyện đổ bể như ri rồi, xin thôi thì ích chi ?” Nguyễn Văn Minh còn viết thêm ý kiến của Tôn Thất Đính : « Ông Đức đã gởi đi một công điện mà không tham khảo ý kiến ông Cố vấn Ngô Đình Nhu … Lẽ nào lại tự tiện đánh đi một công điện như vậy nếu không được tình báo Mỹ tổ chức ? ».

Được hỏi nghĩ sao về những đoạn trích dẫn trên đây, ông Quách Tòng Đức tỏ vẻ rất ngạc nhiên. Ông xác quyết không bao giờ có nhận được lệnh của ông Diệm thảo và gởi cho các Tỉnh trưởng công điện số 9159 đề ngày 6.5.1963 do ông Nguyễn Văn Minh nêu ra, với nội dung « chỉ thị cho các cơ quan phụng tự (nhà thờ, chùa chiền …) chỉ treo cờ Quốc gia mà thôi » (nguyên văn). Trước đó, việc treo cờ được giải quyết bởi hai nghị định số 78 và 189 của Bộ Nội vụ (năm 1957 và 1958) và một sắc lệnh đầu năm 1962 của Phủ Tổng Thống nhắc nhở quần chúng tôn trọng Quốc kỳ.

Ông Đức kể lại : Tháng 04/1963, sau một cuộc thị sát vào mùa lễ Phục Sinh, TT Diệm có chỉ thị cho ông Đức gởi thông tư lưu ý các giới chức Tỉnh về thể thức treo quốc kỳ Việt Nam trong các ngày lễ đạo, không phân biệt tôn giáo nào : treo trước cổng giáo đường, ở chính giữa và phiá trên, đúng kích thước, còn các cờ đạo và cờ đoàn thể thì ở vị trí thấp hơn. Thông tư nhấn mạnh : phiá trong các giáo đường, chùa chiền và những nơi thờ phượng, giáo kỳ được treo tự do, không giới hạn. Lệnh của Tổng Thống được phổ biến ngay ngày hôm sau.

Theo ông Quách Tòng Đức, đầu tháng 05/1963, tại Huế, xảy ra một điều đáng tiếc : Để lấy điểm trong lễ Ngân khánh 25 năm thụ phong Giám Mục của Đức Cha Ngô Đình Thục, nhà chức trách hành chánh địa phương đã cho treo cờ Vatican “loạn xạ,” bất chấp thông tư nói trên. Một tuần sau – ngày 08/05/1983 – vào lễ Phật Đản, các Phật tử cũng tự tiện treo cờ Phật giáo như thế. Hôm sau, Tỉnh trưởng Thừa Thiên trở lại thi hành thể thức treo cờ trong thông tư của Phủ Tổng Thống nên gây sự phẩn nộ của Phật tử vì họ cho rằng đây là một biện pháp bất công, kỳ thị. Tại Miền Nam, theo ông Đức, với 4800 chùa Phật, không có xảy ra vấn đề như ở Huế.

Ông Đức còn nhớ rất rành mạch rằng, sau thảm kịch tại Đài Phát thanh Huế chiều ngày 08/05/1963, Tổng Thống có đòi ông vào văn phòng để đưa cho ông xem, với một gương mặt “mệt nhọc, buồn rầu và chán nãn,” công điện ngày 06/05/1963 nói trên và hỏi “một cách sơ sài” ai đã gởi đi chỉ thị ấy. Ông Đức trả lời không biết vì trong sổ công văn gởi đi không có dấu vết của tài liệu vưà kể. Theo ông Quách Tòng Đức, trong hoàn cảnh chánh trị dồn dập sôi động lúc đó (Thích Quảng Đức tự thiêu, Quách Thị Trang bị bắn chết tại chợ Bến Thành, lựu đạn nổ ở Huế, tướng lãnh lập kiến nghị đòi cải tổ, việc kiểm soát chùa …), TT Diệm rối trí, không còn màng đến việc ra lệnh điều tra. Ông có lẽ dư biết việc giả tạo công điện 9159 là một đòn phép mới của phe chống Chánh phủ (Phật giáo Ấn quang ? Tình báo Hoa Kỳ ? Đảng phái đối lập ? hay Cộng Sản ?). Vậy việc ông Đức xin từ chức là một điều thất thiệt. Nghi « tình báo Mỹ tổ chức » ông Đức – như tướng Đính ởm ờ xuyên tạc – là một chuyện tưởng tượng rẻ tiền.

Để tỏ thiện chí dàn xếp, Chánh phủ đồng ý cho hai Uỷ Ban Liên bộ và Liên phái công bố một thông cáo chung ngày 16/06/1963 xác định những điểm đã thoả hiệp về việc treo cờ Phật giáo và Quốc kỳ, hứa xét lại Dụ số 10 trước Quốc Hội vào cuối 1963, tạm ngưng áp dụng Nghị định của Phủ Tổng Thống số 116/TTP/TTK ngày 23/09/1960 ấn định thể thức mua bán bất động sản và đất đai của Phật giáo, hứa sẽ trừng trị nhân viên có lỗi và bồi thường các gia đình nạn nhân. Tuy nhiên, mọi việc đã quá trể đối với Hoa Kỳ và Bắc Việt.

Trong hồi ký Ngô Đình Diệm, Nổ Lực Hoà Bình Dang Dở », (nxb Xuân Thu Californie 1989), nơi trang 189-190, Nguyễn Văn Châu, nguyên giám đốc Nha Chiến tranh Tâm lý Quân đội Việt Nam CH, trở thành đối lập với Chánh phủ trước cuộc binh biến 01/11/1963, có ghi lại : Sau 1975, một cựu Đại Úy Hoa Kỳ tên James Scott, liên hệ với CIA và từng làm cố vấn cho Tiểu đoàn 1/3 thuộc Sư đoàn 1 Bộ binh, thú nhận trong một lá thơ đăng trên một tuần báo Mỹ rằng chính y đã gài một trái bom nổ chậm chiều 08/05/1963 tại Huế. Sự kiện này cũng được Trần Kim Tuyến, dưới bút hiệu Lương Khải Minh, ghi lại trong hồi ký « Làm thế nào giết một Tổng Thống ? » (tập 2, trang 366-370). Theo Trung Tướng Trần Thiện Khiêm xác nhận với Marguerite Higgins, tác giả quyển sách Vietnam, Our Nightmare, chương VI, Nguyễn Khánh (nắm quyền sau cuộc chỉnh lý 30/01/1964) đã hy sinh Thiếu Tá Đặng Sỹ, phó Tỉnh trưởng Nội an Thừa Thiên, để Thich Trí Quang trì hoãn chống đối. Toà án Mặt trận xử Sỹ khổ sai chung thân.

Tình trạng giữa TT Diệm và Mỹ căng thẳng kể từ muà hè 1962, nổ lớn tại Huế với vụ Phật giáo 08/05/1963. Qua tháng 07, tin đồn đảo chánh lan rộng. Ngày 21/08/1963, đại sứ Lodge trình uỷ nhiệm thơ và bắt đầu móc nối với tướng lãnh. Sau ngày Lực Lượng Đặc Biệt của Đại Tá Lê Quang Tung lục soát chùa chiền, các tướng tin cẩn của TT Diệm đều đổi lòng, theo phe phản loạn, trừ ông Cao Văn Viên trước sau như một. Ông Đức cảm động khi được biết đại tứớng Viên (hiện ở Hoa Thịnh Đốn) đã xác nhận với người viết rằng sau ngày 30/01/1964 Nguyễn Khánh chỉnh lý ê-kíp Dương Văn Minh, Nguyễn văn Nhung, kẻ giết hai ông Diệm-Nhu, – từ Đại Úy thăng Thiếu Tá – bị An ninh Quân đội bắt vào giao cho Lực lượng Nhãy Dù của Tư lệnh Cao Văn Viên canh giữ, Nhung « đã tự treo cổ bằng một sợi giây giày trong khám đường », theo lời tướng Viên.

Được hi : trong các tướng thường vô ra Dinh Đc Lp, ai là người được sng ái nht, ông Quách Tòng Đức đáp không do dự : « Tôn Thất Đính và Trần Thiện Khiêm, mà Tổng Thống xem như người nhà ! ». Điều này không ngăn Đính và Khiêm đóng vai trò chính yếu trong cuộc đảo chánh 01/11/1963, hệ trọng hơn cả Dương Văn Minh được chọn làm bình phong. Chính Trần Văn Đôn, với tư cách người móc nối, đã tiết lộ trong hồi ký « Việt Nam Nhân Chứng », rằng Đôn có dò xét tâm ý của Đính và đến gặp Khiêm bốn lần, lần đầu vào tháng 09/1963, và Khiêm có cho Đôn biết “ông ta cũng có một kế hoạch riêng do Mỹ chủ trương.” Đôn viết (nguyên văn) : « Tôi khuyên ông ta không nên bàn với Mỹ một việc quan trọng như vậy, nên bỏ kế hoạch ấy đi ! » (trang 193). Trong những biến cố quân sự liên tiếp làm hỗn loạn Miền Nam từ 01/11/1963 cho đến ngày Tổng Thống Thiệu cầm quyền, tướng Trần Thiện Khiêm đứng sau màn giựt giây chiếu theo lời xác nhận của một số nhân chứng hàng đầu khả tin. Tới nay, ông Khiêm không đính chánh mà cũng không tiết loả gì cả. Liệu tướng Khiêm sẽ ra đi như tướng Thiệu, mang xuống tuyền đài những bí ẩn đau thương của Đệ Nhị Cộng Hoà Miền Nam ?

Theo Quách Tòng Đức, Dương Văn Minh không sâu sắc về chánh trị tuy thời cuộc đưa lên ghế Quốc Trưởng hai lần : sau 01/11/1963 (nhờ Mỹ giúp) và tháng tư 1975 (với sự đồng ý của Bắc Việt). Lần đầu, Minh tại chức ba tháng ; lần sau, được 40 giờ, rồi đầu hàng địch vô điều kiện. Với tư cách Bộ Truởng Nội Vụ, tác giả bài này được chỉ thị đích thân điều tra mật về trường hợp tẩu tán kho vàng Bảy Viễn chứa trong một thùng kẻm lớn, theo phúc trình của đại tá Nguyễn Văn Y, Tỉnh Trưởng Chợ Lớn, phụ tá hành quân cho ông Minh trong cuộc tảo thanh Rừng Sát.

Người viết có mời tướng Minh đến giải thích. Vì lý do chánh trị, hồ sơ tạm xếp. Bộ Tư lệnh Hành Quân bị giải tán, tướng Minh được cử làm Cố vấn Quân sự Phủ Tổng Thống, một chức vụ tượng trưng. Từ đó, ông cảm thấy không yên tâm với “chiếc gươm Damoclès treo trên đầu,” ông hận chế độ – đặc biệt cố vấn Nhu – vô ơn sau khi ông đã chống Nguyễn Văn Hinh, ủng hộ Thủ Tướng Diệm, giúp dẹp Bình Xuyên và bắt nạp Ba Cụt. Một lý do khác gây nghi ngờ đối với tướng Minh là cơ quan tình báo quốc gia bắt đủ bằng chứng về mối liên hệ thầm lén giữa ông Minh và người em CS là Thiếu Tá Dương Văn Nhựt. bí danh Mười Ty. Một người em khác của tướng Minh là Trung tá quân đội Việt Nam Cộng Hoà Dương Văn Sơn cũng đã chứa chấp vợ chồng Nhựt và đóng vai trò liên lạc ở trong và ngoài xứ. Cục trưởng Trung ương Tình báo và Tổng giám đốc Cảnh sát Công an Nguyễn Văn Y, hiện ở Virginia, đã xác nhận với người viết có đích thân trình hồ sơ Dương Văn Minh cho TT Diệm xem. Tổng Thống liền ra lệnh huỷ hồ sơ này “trước mắt ông” vì không muốn cho Hoa Kỳ biết, « xấu hổ » (sic).

Hoa Kỳ và Cabot Lodge đã khai thác mối thù riêng của tướng Minh đối với cá nhân hai ông Diệm, Nhu để lật đổ Đệ Nhứt Cộng Hoà và thay ngựa giữa giòng. Hoa Kỳ cũng dư biết Minh có liên hệ với Bắc Việt nên áp lực Trần Văn Hương trao quyền gấp lại cho D V Minh – trái với Hiến Ppháp – hầu tạo lý do cho Mỹ chuồn sớm khỏi Việt Nam . Nguyên đại tá Nguyễn Linh Chiêu, hiện ở Huntington Beach, Californie, kể lại với tác giả bài này : Năm 1983, ông có gặp tướng Minh tại Paris, hỏi vì sao Thủ Tướng Vũ Văn Mẫu cuối tháng 04/1975 lại hấp tấp ra thông cáo buộc quân Mỹ phải rút trong vòng 24 giờ ? Tướng Minh đáp – trước mặt nhân chứng Trần Văn Đôn – đã làm “theo lời yêu cầu của đại sứ Mỹ Graham Martin.” Các sự kiện trên đây cho thấy tướng Dương Văn Minh chỉ là một con rối trong tay Hoa Kỳ, Pháp và Bắc Việt. Minh đã giúp Hoa Kỳ tràn vào Việt Nam bằng cách tuân lệnh đảo chánh ông Diệm. Mười hai năm sau, cũng chính Minh giúp Quân đội Mỹ tháo chạy. Nguyên Tổng Thống Trần Văn Hương đã thẳng thắn phát biểu : “Minh không phải là con người thích hợp với cảnh dầu sôi lửa bỏng của đất nước !”.

Năm 1988, đại tướng Minh được Hoa Kỳ cho phép rời Paris qua Pasadena, Californie, sống với người con gái. Phải chăng đây là một cách trả ơn ? Ông Minh quá vãng ngày 6.8.2001, thọ 86 tuổi. Trước đó, Võ Văn Kiệt cũng có đến thăm ông tại Pháp, theo Lý Quý Chung tiết lộ trong quyển “Hồi Ký Không Tên” vưà xuất bản tại Sài Gòn. Với vài người thân tín, tướng Minh nói ông không tiếc hối đã đóng vai trò của một Pétain Việt Nam !

Nguyễn Khánh là một sĩ quan thân tín có công “cứu Chúa” trong vụ binh biến 11.11.1960 khi giữ chức Tham Mưu Trưởng Bộ Tổng Tham Mưu. Ông nuôi cao vọng thay thế Tổng Tham Mưu Trưởng Lê Văn Tỵ. Sau khi thăng Thiếu Tướng tạm thời tại mặt trận, ông được đưa lên cao nguyên hẻo lánh để trấn Quân khu 2 và Vùng 2 chiến thuật. Ông Khánh sanh bất mãn, vì thế tuyên bố trên đài phát thanh lúc bốn giờ sáng ngày 2.11.1963 ủng hộ phe đảo chánh. Theo tướng Khánh kể lại với người viết : đêm 01/11/1963, ông Diệm và ông Nhu có điện thoại từ Chợ Lớn lên Pleiku cố thuyết phục ông Khánh cầm quân về Sài Gòn giải cứu nhưng ông Khánh trả lời “Quá trể và ở quá xa..” Câu hỏi đặt ra : Nếu tướng Khánh nhận về “cứu giá,” nếu TT Diệm trì hưởn xuất hiện sáng 02/1/.1963 và nếu sự cứu giá thành công, thì thời cuộc liệu thay đổi ra sao ? Mọi việc tuỳ thuộc biết bao nhiêu chữ “nếu” ! Sau hết, với người viết, tướng Khánh còn than phiền TT Diệm không giữ lời hứa (viết tay) trao quyền lại cho quân đội sau cuộc binh biến 11/11/1960. Đây là một sự kiện khác mà tướng Khánh hẳn không quên. Trong một buổi lễ long trọng truy điệu cố TT Ngô Đình Diệm tại thủ phủ Little Sài Gòn, Californie, tướng Nguyễn Khánh không tiếc lời ca tụng TT Diệm như một anh hùng dân tộc mà ông ngưỡng mộ và quyết chí noi gương.

TT Diệm nể trọng Đại Tướng Lê Văn Tỵ, người duy nhứt trong quân đội được kêu bằng Ngài. Phía dân sự, cách xưng hô này chỉ áp dụng đối với Phó TT Nguyễn Ngọc Thơ và Bộ trưởng Ngoại giao Vũ Văn Mẫu, nhân vật cạo đầu năm 1963 để phản đối trong vụ Phật giáo.


Tướng nào gii đóng tung và chuyên “tr c ? Tuy không thân cận với giới tướng lãnh, ông Đức có thể trả lời theo một nhận định chung : Trần Văn Đôn (em út của “Tây con” Nguyễn Văn Hinh và là người từng công khai đốt lon sĩ quan Pháp để tỏ lòng trung thành với TT Diệm) và Tôn Thất Đính (con cưng của chế độ trở giáo đâm sau lưng chế độ. Một Brutus hay một Juda ?). Ai thâm độc nhứt ? Đổ Mậu. Ông Mậu – một cột trụ Cần Lao – thú nhận đã mọp lạy trước ông Đính (cũng là Cần Lao gộc) để van xin Đính theo quân nổi loạn. “Đại tá muôn năm” Đổ Mậu hận vì TT Diệm cho rằng ông không đủ văn hoá để tiến cao hơn. Người viết có dịp hỏi nguyên Thủ Tướng Nguyễn Khánh nghĩ sao khi chọn Mậu lãnh đạo Bộ Văn Hoá không thích hợp chút nào với trình độ của y thì tướng Khánh nheo mắt cười, trả lời : Mậu tự ti mặc cảm nhưng đầy cao vọng và được một số Phật tử ủng hộ lúc đó. Việc bổ nhiệm này khuyến khích Mậu cộng tác sốt sắng và đồng thời biến Mậu thành trò cười của quần chúng ! Đây là một “đòn chánh trị” quen thuộc của Nguyễn Khánh, kịch sĩ từng đả đảo Hiến Chương Vũng Tàu do chính ông cho thảo ra. Một đòn khác của tướng Khánh : móc nối với Huỳnh Tấn Phát, lãnh tụ Mặt trận Giải phóng Miền Nam, với chủ đích – theo lời tuyên bố của Khánh – kéo Phát về phiá Quốc gia. Điều này bị Nguyễn Thị Bình phủ nhận hoàn toàn trong hồi ký Chung Một Bóng Cờ, (nxb Chính trị Quốc gia, Hànội 1993). Chẳng những thế, trang 453-454 của hồi ký còn tiết lộ Nguyễn Khánh đã vận động Hoa Kỳ cúp viện trợ và bỏ rơi TT Thiệu, Khánh công khai đi đêm với Mặt Trận trong giai đoạn chót của Hiệp định Paris.

“TT Dim có thích được nnh hót hay không ?” Ý kiến của Ông Đức : Tại Bắc Việt, Cộng Sản đã thần tượng hoá Hồ Chí Minh. Trong Nam, cũng có khuynh hướng ấy đối với ông Diệm, dưới nhiều hình thức, đặc biệt trong Phong trào Cách mạng Quốc gia với số đoàn viên tăng từ 10,000 năm 1955 lên đến 2 triệu năm 1963, tổ chức đến tận xã, phường. Bộ trưởng Thông tin Trần Chánh Thành bỏ hàng ngũ kháng chiến về cộng tác với ông Diệm từ lúc đầu như Trần Hữu Phương, Trần Lê Quang … Ông có công xây dựng Phong trào CMQG, tổ chức chiến dịch tố Cộng và đề xướng “Suy tôn Ngô Tổng Thống.” Bất thuận với Trần Kim Tuyến, Thành rời Nội các cuối năm 1959. Ba bộ trưởng khác ra đi cùng một lúc vì, với ông Thành, lập hồ sơ truy tố một số cán bộ Cần Lao dân sự và quân sự lộng quyền : Trần Trung Dung (Quốc phòng), Nguyễn Văn Sĩ (Tư pháp) và người viết (Nội Vụ). Bộ Thông Tin bị đổi thành Nha Tổng Giám Đốc Thông Ttin do bác sỉ (Cần Lao) Trần Văn Thọ phụ trách. Ngày 30/04/1975, ông Thành (Nghị Sĩ và Ngoại Trưởng thời Nguyễn Văn Thiệu) tự tử bằng thuốc độc tại nhà để tránh sa vào tay CS còn bs Tuyến thì được nhà báo điệp viên Việt Cộng nằm vùng Phạm Xuân Ẩn lấy xe chở đến một địa điểm dùng trực thăng Mỹ thoát khỏi Việt Nam . Tuyến định cư tại Anh quốc nhờ bà Tuyến làm việc cho Toà Đại sứ Anh ở Sài Gòn. Tuyến làm chủ một nhà trọ bed and breakfast gần Cambridge và qua đời cách đây vài năm, sau khi phát hành với Cao Vĩ Hoàng quyển hồi ký « Làm Thế Nào Giết Một Tổng Thống ? ».

Theo ông QTD, TT Diệm cởi mở, bình dân trong những năm đầu chấp chánh nhưng về sau, trở nên khó tánh và khép kín hơn. Ảnh hưởng của quyền lực ? hoàn cảnh ? giới cận thần a dua ? Qua 3 giai đoạn Quốc Hội Lập Hiến, Quốc Hội Lập Pháp kỳ 1 và Quốc Hội Lập Pháp kỳ 2, nền Đệ Nhứt Cộng Hoà đi lần vào bế tắc. Trong gia đình, ông bà Trần Văn Chương, nhạc gia của ông Nhu, – chồng, đại sứ Việt Nam CH tại Hoa Thịnh Đốn và vợ, quan sát viên tại Liên Hiệp Quốc – lợi dụng chức vụ để phản tuyên truyền và đả kích kịch liệt Chánh phủ Sàigịn và luôn cả vợ chồng ông Nhu. Bác sĩ Trần Văn Đổ, chú vợ của cố vấn Nhu, và luật sư Nguyễn Hữu Châu, nguyên bộ trưởng Phủ Tổng Thống kiêm Bộ trưởng Nội vụ, anh em bạn cột chèo với ông Nhu, cũng không còn ủng hộ ông Diệm. Ls Châu đào thoát qua Paris ngang con đường Nam Vang nhờ sự giúp đở của bạn học cũ là Quốc vương Sihanouk. Ông đã trình luận án Thạc sĩ Luật chỉ trích chương trình viện trợ Hoa Kỳ ở Việt Nam và sau đó, dạy Luật tại Đại học Paris. LS Châu như khoa học gia Bửu Hội, năm 1972, cũng ngã theo ủng hộ Mặt trận Giải phóng Miền Nam. Trần Văn Đôn – người chủ trương đảo chánh – nhìn nhận một cách thương hại : Tội nghiệp, mọi người đều bỏ TT Diệm !

Ông Quách Tòng Đức tỏ ra dè dặt đối với dư luận cho rằng TT Diệm kỳ thị Phật giáo. Ông cho biết TT Diệm thường tiếp xúc với các vị tu hành thuộc mọi tôn giáo, đặc biệt Phật giáo ; không bỏ qua dịp viếng thăm một số chùa như chùa Sư Nữ của Sư Bà Diệu Huệ (mẹ giáo sư Bữu Hội) ở Phú Lâm, chùa Diệu Đế ở Huế … Chính ông Đức đã nhiều lần chuyển đến tay ông Mai Thọ Truyền, chủ chùa Xá lợi và Hội trưởng Hội Phật giáo Nam Việt những số tiền giúp đở. Một chuyện mà ít người biết là TT Diệm đã hiến cho Đức Đạt Lai Lạt Ma trọn số tiền 15000 mỹ kim, giải thưởng Leadership Magsaysay tặng cho Tổng Thống. Vì lý do chánh trị, quyết định này không được công bố.

Uỷ Ban Tôn Giáo Liên Hiệp Quốc được Chánh phủ Saigòn mời đến điều tra năm 1963 cũng đã phúc trình – sau ngày hai ông Diệm, Nhu bị giết – rằng Đệ Nhứt Cộng Hoà không kỳ thị tôn giáo. Mặt khác, TT Diệm đã từng thẳng thắn bác bỏ những yêu sách quá đáng của các giáo phẩm di cư, bởi thế nên có sự bất mãn ngấm ngầm. Hai Giám Mục Phát Diệm, Bùi Chu Lê Hữu Từ và Phạm Ngọc Chi chống đối ra mặt.

Cho đến ngày TT Diệm qua đời, phần đông các người phục vụ sát cạnh bên Tổng Thống hàng ngày đều thuộc thành phần Phật giáo : Đổng Lý (Quách Tòng Đức), Tổng thơ ký Nguyễn Thành Cung, Chánh văn phòng Võ Văn Hải, bí thơ Trần Sử, nội dịch Tôn Thất Thiết, cận vệ Nguyễn Bằng …


V
n đ th tiêu các người đi lp và vic tiếp xúc ca ông Nhu vi đi phương Cng S
n.

Sau chánh biến 01/11/1963, Hội Đồng Nhân Dân Cách Mạng tố cáo chánh quyền Diệm đã thủ tiêu một số ngưới đối lập như Nguyễn Bảo Toàn, Tạ Chí Diệp, Vũ Tam Anh, Hồ Hán Sơn … Quách Tòng Đức tuyên bố không biết gì về những chuyện này thuộc thẩm quyền các cơ quan công an, tình báo. Tuy nhiên, ông tin chắc rằng ông Diệm không bao giờ đích thân chủ trương như vậy vì Tổng Thống là một tín đồ Công Giáo thuần thành, phân biệt tội phước, không khát máu như Cộng Sản mà ông tích cực chống đối. Có thể một số nhân viên an ninh cuồng tín đã hành động để lấy điểm (excès de zèle) hay giải thích sai lầm chỉ thị cấp trên. Một bằng chứng cụ thể là TT Diệm chỉ ra lệnh giam chớ không cho xữ tử Hà Minh Trí, một cán bộ Cao Đài, mưu sát hụt ông tại Ban Mê Thuột và gây thương tích cho Bộ trưởng Đổ Văn Công. Hà Minh Trí được Hội đồng Cách Mạng trả tự do khi họ đã giết TT Diệm. Câu hỏi nêu ra là cuối cùng, TT Diệm có hay biết các vụ thanh toán toán đối lập hay không và phản ứng thế nào ? Dù sao, lịch sử vẫn đặt vấn đề trách nhiệm tinh thần đối với ông.

Trong giai đoạn chót của chế độ, có tin đồn trong quần chúng và báo giới Mỹ rằng cố vấn Ngô Đình Nhu đi đêm với CS kháng chiến để tìm ra giải pháp giữa Nam, Bắc. Chính ông Nhu có đề cập đến chuyện này trong vài phiên nhóm với tướng lãnh tại Bộ Quốc phòng và ngày 23.7.1963 tại suối Lồ Ồ- khi nóí chuyện với các cán bộ xây dựng Ấp Chiến Lược khoá 13. Một nguồn tin khác cho biết ông Nhu sử dụng trung gian cuả bốn Đại Sứ Roger Lalouette (Pháp), d’Orlandi (Ý), Goburdhun (Ấn Độ) và Manelli (Ba Lan), (hai ông sau là thành viên của Uỷ Ban Quốc tế kiểm soát đình chiến) cũng như Tổng Lãnh Sự Pháp ở Bắc Việt Jacques de Buzon để liên lạc với Hà Nội.

Ông Quách Tòng Đức nói có nghe dư luận này nhưng không biết rỏ chi tiết. Ông cũng có nghe xầm xì rằng ông Nhu đã gặp một đại diện Văn phòng Chính trị CS (Phạm Hùng ?) trong lần đi săn tại Quận Tánh Linh, Bình Tuy. Ông Đức nghĩ đây chỉ là một đòn chiến thuật của ông Nhu để dằn mặt Hoa Kỳ, Tổng Thống Diệm không bao giờ chấp nhận giải pháp điều đình với Hồ Chí Minh. Hơn nữa, Hiến pháp Việt Nam CH có ghi rỏ chủ trương của Miền Nam Việt Nam chống chủ nghĩa vô thần. Ông Đức còn xác nhận : một Tết Nguyên Đán trước 1963, một cành đào đỏ lộng lẩy được trưng bày nơi phòng khánh tiết Dinh Độc Lập với tấm thiệp in tặng của « Chủ tich Nhà nước Cộng hoà Xã hội Miền Bắc ».


Nh
ng ngày chót ca Tng Thng Dim. Các cn thn cui cùng

42 năm trôi qua, mọi công dân Việt Nam, ủng hộ hay chống đối ông Diệm, đều cảm thấy nhục nhã khi đọc lại những lời thú nhận sống sượng của tướng Trần Văn Đôn, đầu não trong chánh biến 01/11/1963 và tác giả của quyển hồi ký “Việt Nam Nhân Chứng” (nxb Xuân Thu, Californie, 1989) về vai trò Hoa Kỳ chỉ huy vụ lật đổ và sát hại một lãnh tụ đồng minh. Đôn viết : « Đúng 1 giờ 30 trưa, (trùm Xịa) Conein vào bộ Tổng Tham mưu, (nơi đặt văn phòng của Đôn) mang theo một máy truyền tin đặc biệt để liên lạc với Toà Đại sứ Mỹ và một bao tiền là ba triệu bạc Việt Nam » (trang 211). Đôn còn tuyên bố khi y thậm thọt gặp riêng Thái thú Cabot Lodge để thỉnh thị : “Chúng tôi (nhóm đảo chính) không bao giờ có tham vọng cá nhân, chỉ muốn cứu nước !” (trang 210)

Trong hồi ký « Việt Nam Nhân Chứng », đoạn chót, Trần Văn Đôn cho biết ba triệu bạc -cái giá rẻ mạt để thay đổi một thế cờ ! – đã chia cho Dương Văn Minh, Lê Văn Kim, Tôn Thất Đính, Nguyễn Hữu Có, Đổ Cao Trí, Nguyễn Khánh, Trần Ngọc Tám và Lê Nguyên Khang.

Ông Đức tỏ ra ngán ngẩm khi được hỏi nghĩ gì về sự tự thú trên đây. Theo ông, trong những ngày chót của một cuộc đời đấu tranh gian khổ, TT Diệm là con người cô đơn nhứt trên thế gian : dân tộc bỏ rơi, đồng minh phản bội, gia đình chia cách, kẻ thù Cộng Sản reo hò chiến thắng, sự nghiệp chính trị ra tro, uất hận ngất trời vì tương lai mù mịt của Đất Nước, một quốc gia bị sức mạnh chèn ép. Với ông Nhu quỳ bên cạnh cầu nguyện trong Nhà thờ Cha Tam Chợ Lớn sáng ngày 01/11/1963. không chắc TT Diệm đồng một tâm tư với người em.

Ông Đức bùi ngùi nhắc lại : Tối 01/11/1963, khi tiếng súng nổ rền khắp nơi, ông và gia đình rời khỏi nhà riêng ở số 8 đường Lê Văn Thạnh, Sài Gòn, ngủ đêm tại Chợ Lớn, không xa căn phố lầu của Mã Tuyên, nơi Tổng Thống và ông Nhu tạm ngụ. Sáng hôm sau 2 tháng 11, trở lại nhà thì được hay Tổng Thống có điện thoại tối hôm trước nhưng người giữ nhà trả lời không biết ông Đức ở đâu. Vài giờ sau, ra-dô báo tin hai ông Diệm, Nhu “tự tử,” điều mà Đức khơng tin chút nào. Đến nay, ông đức vẫn ân hận vì không được tiếp xúc lần chót với Tổng Thống.

Hỏi : Trong Nội các, ai được Tổng Thống Diệm tin cậy nhứt những ngày, tháng cuối cùng ? Quách Tòng Đức đáp : Nguyễn Đình Thuần và Trương Công Cừu. Thuần kiêm ba trọng trách : Bộ trưởng tại Phủ Tổng Thống, Bộ trưởng phụ tá Quốc phòng, và Bộ trưởng Đặc nhiệm Phối hợp An ninh. Cừu là Bộ trưởng Đặc nhiệm Phối hợp Văn hoá Xã hội. Ngoài ra, còn có Ngô Trọng Hiếu, Bộ trưởng Công dân vụ, từng là đại sứ Việt Nam CH ở Nam Vang, bị Chánh phủ Cam bốt trục xuất vì giúp cho tướng Đap Chuon đảo chánh (hụt) Quốc vương Sihanouk. Tên ông Hiếu nằm trong bản danh sách của Cabot Lodge ghi các nhân vật cần thanh toán, theo hồi ký nêu trên của trung tá Nguyễn Văn Châu

Ông Đức không ngạc nhiên cho lắm khi được người viết cho biết một số tài liệu giải mật tại Hoa Kỳ tiết lộ Thuần là tay trong thân tín của CIA, theo dõi để phúc trình từng phản ứng của hai anh em Diệm-Nhu. Thuần từng được Mỹ chấm như một “Thủ Tướng có triển vọng” nếu TT Diệm chịu sửa Hiến pháp để đặt thêm chức vụ này (đọc The Storm has many eyes, A personal narrative của Henri Cabot Lodge, NY 1973, trang 62 và Lodge in Vietnam, A Patriot abroad của Ann Blair, nxb Yale University Press, New Haven 1995, trang 92). Một số nhân vật rất gần Dinh Độc Lập cho biết Thuần dùng đủ mưu chước để thu hút cảm tình của TT Diệm và từ đó, tìm cách ly gián ông Diệm và ông Nhu trong giai đoạn chót của chế độ. Ông Quách Tòng Đức ngạc nhiên khi hay chính Đệ Nhị Phòng Pháp đã giúp Thuần trốn khỏi Việt Nam . Cố Ứng Thi, chủ của Khách sạn Rex và bạn thân của Thuần, xác nhận với người viết điểm vừa nói. Thuần hiện sống thong dong tại Paris.

Tác giả bài này thắc mắc : không lẽ một ngưởi tinh vi như ông Nhu mà không nhận ra mặt trái của Nguyễn Đình Thuần ? Ông Đức trả lời : Có thể ông Nhu không mù quáng nhưng ở vào thế kẹt lúc đó, không còn ai liên lạc để dò xét âm mưu đen tối của Hoa Kỳ, ông Nhu phải “tương kế, tựu kế.” sử dụng Thuần. Ông Nhu cũng đã áp dụng chiến thuật này (kế hoạch chống đảo chánh Bravo) để tìm cách chi phối nhóm tướng bị Mỹ mua chuộc.

Ông Đức cho biết thêm : Linh Mục Cao Văn Luận cũng là một cố vấn thân tín của Tổng Thống được giao phó ra nước ngoài xin tài trợ về giáo dục, tìm kiếm trí thức Việt đưa về nước và tổ chức Viện Đại học Huế mà ông là Viện trưởng đầu tiên . Trong giai đoạn khủng hoảng Phật giáo, dư luận cho rằng cha Luận đã trở mặt, ngã theo phe chống chánh quyền. Chẳng những thế, ông còn viết hồi ký « Trong giòng lịch sử » để nói xấu TT Diệm và đề cao Hồ Chí Minh. Tình đời rõ đen bạc !

Ông Quách Tòng Đức quả quyết không bao giờ gặp Vũ Ngọc Nhạ (mà CS tuyên bố phịa trong quyển sách và bộ phim giả tưởng Ông Cố Vấn gài được vào Dinh Độc Lập !) Trả lời về các cán bộ gốc Cộng Sản cộng tác với chế độ, ông Đức cho biết Kiều Công Cung – nguyên tư lệnh một sư đoàn Việt cộng – đã tỏ ra xứng đáng đến cùng trong chức vụ Đặc uỷ chiêu hồi. Phạm Ngọc Thảo – mà Tổng Nha Công an có hồ sơ – được bổ nhiệm Đại Úy Bảo An, sau đó Tỉnh trưởng Kiến Hoà và thanh tra dinh điển. Hai chuyên viên Mỹ về Giáo dục và Dinh điền thường lui tới Dinh và ăn sáng với Tổng Thống là giáo sư Wesley Fishel thuộc Đại học Michigan và Ladejinsky mà Tổng Thống quen từ lúc bôn ba ở Hoa Kỳ. Về sau, được hay hai chuyên viên này làm việc cho CIA. Đặc biệt, Fishel đã ra mặt chống phá ông Diệm tại Hoa Thịnh Đốn trước ngày đảo chánh.

Trần Văn Đôn ghi nơi trang 182 của hồi ký « Việt Nam Nhân Chứng » : Trong một buổi học tập chính trị tại bộ Tổng Tham Mưu trước chính biến 01/11/1963, ông Nhu nóí, sau khi nghe các tướng lãnh trình bày thỉnh nguyện : « Mấy anh muốn cải tổ chánh phủ mà xin như vậy đâu có nhiều. Muốn làm cách mạng thật sự, tôi tưởng các anh phải xin nhiều hơn. Ông Diệm bị kẹt với một số Bộ trưởng thối nát bất tài. Trong lúc này Quân đội phải nhận rỏ vai trò của mình để cứu nước, nên đảo chánh một đêm bắt mấy ông Bộ trưởng đó rồi hôm sau trao quyền lãnh đạo lại cho Tổng Thống. Nếu có vị tướng nào muốn đảo chánh thì quân đội phải chống lại, phải bắt người đó mà treo cổ trên đường Công Lý ».

Đâu là sự thật ? Nếu đúng, thì đây có phải là ván bài tố xả láng của ông Nhu để dò xét và sập bẩy nhóm tướng tạo phản ? Hay một nhìn nhận chua chát chế độ đang tuột dốc thê thảm, đưa dân tộc vào một trận đại hồng thuỷ ? Tổng Thống Ngô Đình Diệm có thể đã phạm một số sai lầm nguy hãi khi cầm quyền – điều này sẽ được sử sách phê phán công và tội – nhưng không một ai – từ đồng minh Hoa Kỳ cho đến Hồ Chí Minh – chối cãi rằng ông là một lãnh tụ yêu nước, trong sạch, có khí phách và không làm dân tộc Việt Nam hổ thẹn vì ông đã cố bảo vệ đến cùng thể diện và quyền uy quốc gia. Không một gia đình Việt Nam nào mà lại hy sinh nặng như thế cho Đất Nước, mất một lần bốn người con ưu tú, một vì tay Cộng Sản và ba vì tay quốc gia. Ông Diệm ra đi, Hồ Chí Minh không còn đối thủ, Mỹ rảnh tay Việt nam hoá chiến tranh, Miền Nam sụp đổ mau lẹ.

Hay tin TT Diệm bị sát hại, Mao Trạch Đông phản ứng bằng nhận xét : « Chính quyền Kennedy hạ ông Ngô Đình Diệm là một thất sách, một sai lầm rỏ rệt ! ». Và Hồ Chí Minh tuyên bố : « Ông Diệm là một nhà yêu nước, theo lối của ông ấy ! ». Trong hồi ký The Real War, chương V, Richard Nixon viết : Tổng Thống Pakistan Ayub Khan nóí với tác giả vài ngày sau vụ đảo chánh 01/11/1963 : « Việc Tổng Thống Diệm bị giết có ba ý nghĩa đối với nhiều người Á Đông : trở thành bạn Hoa Kỳ là một nguy hiểm, trung lập có giá hơn và đôi khi tốt hơn là kẻ thù ». Riêng về De Gaulle thì ông nhận định : ’Sau Diệm, không phải là một khoảng trống mà là một sự quá đầy ! ». De Gaulle muốn nói : Miền Nam lạm phát lãnh tụ, trở thành một giỏ cua và một hí trường tranh dành địa vị, ngôi thứ.

Đối với thế hệ lãnh đạo mai sau, sự thất bại của TT Diệm – mà đồng minh Hoa Kỳ lẫn kẻ thù Cộng Sản đều xem như một mối đe doạ cần triệt hạ – là một bài học quý báu về kinh nghiệm chống Đế quốc, về Nhân Tình Thế Thái và thân phận của một nước nhược tiểu. Học giả Úc Denis Warner đã tặng cho ông biệt danh xứng đáng “The Last Confucian, Người hiền triết Khổng giáo cuối cùng.” TT Diệm là một thầy tu lạc lõng giữa chính trường gió tanh mưa máu, gánh trên vai thánh giá của Quê Hương đau khổ.

Sau tháng 04/1975, hai ngôi mộ của TT Diệm và Cố vấn Nhu được cải táng từ nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi, Sài Gòn, về quận Lái thiêu, tỉnh Bình Dương. Mộ bia của TT Diệm có khắc chữ Huynh. Mộ bia của Cố vấn Nhu khắc chữ Đệ. Hai nắm mồ khiêm nhường, quạnh hiu, thiếu người chăm sóc, kết thúc một cuộc đời đấu tranh khắc nghiệt, đầy oan trái nhưng chắc chắn không phải là một hy sinh vô bổ trên bàn thờ Tổ Quốc.


K
ết lun

Ông bạn Quách Tòng Đức chấm dứt buổi nói chuyện thân tình bằng một lời than chua xót : Dĩ vãng buồn nhiều hơn vui, phá hoại nhiều hơn xây dựng, hận thù thay vì đoàn kết. Đến nay, Đất Nước chưa thấy lối thoát, những bài toán của Xứ Sở chưa tìm ra đáp số. Ngày nào Cộng Sản vẫn bám víu vào quyền lực thì quốc nhục chậm tiến còn kéo dài. Thế cuộc xoay vần. Lý thuyết chánh trị, chế độ, lãnh tụ … rồi cũng phải trở về với cát bụi. Vanitas vanitatum, omnia vanitas, Hư Danh, tất cả đều là Hư Danh ! Cuối cùng chỉ còn lại Dân Tộc, Dân Tộc trường tồn, Dân Tộc bất diệt.

Lưu đày, dù trên mãnh đất dân chủ, chưa phải là Tự Do, Người Việt tha hương, vào tuổi gần đất xa trời, vừa đau buồn hướng về Đất Mẹ, vừa thao thức tự vấn như Thôi Hiệu trong bài thơ Đường Hoàng Hạc Lâu :

Chiều xuống, Quê Nhà đâu đó tá ?
Bên sông khói toả, não lòng ai.
(Chi Điền dịch)

Lâm Lễ Trinh
Ngày Quốc Khánh Hoa Kỳ 2005
Thuỷ Hoa Trang California

No comments:

Post a Comment