Thursday, September 29, 2011

Trần Lệ Xuân

Ngày 24/4, bà Trần Lệ Xuân, cựu đệ nhất phu nhân Việt Nam Cộng hòa, đã qua đời tại một bệnh viện ở Rome, Ý, hưởng thọ 87 tuổi. Bà là người phụ nữ VN nổi tiếng nhất trong lịch sử VN hiện đại.

Luật sư Trương Phú Thứ, người chấp bút cho cuốn hồi ký của bà Trần Lệ Xuân, cho biết bà qua đời khi các con và cháu nội ngoại quây quần bên giường bệnh.


Bà Trần Lệ Xuân (trái) và con gái Ngô Đình Lệ Thuỷ trên bìa
tạp chí Life số ra ngày 11/10/1963. Ảnh: TL internet

Bà Trần Lệ Xuân sinh năm 1924, là quả phụ ông Ngô Đình Nhu, em trai và cố vấn cựu Tổng thống Ngô Đình Diệm. Bà có bốn người con, hai trai, hai gái, trong đó trưởng nữ Ngô Đình Lệ Thủy đã thiệt mạng năm 1968 trong một tai nạn giao thông ở Paris.

Bà Trần Lệ Xuân có nguyện vọng cuốn hồi ký của mình chỉ được phát hành sau khi bà qua đời.

Trần Lệ Xuân năm 1961
Chức danh Đệ nhất phu nhân của đệ nhất Cộng hòa Việt Nam
Quốc tịch Việt Nam / Pháp
Nhiệm kỳ 26 tháng 10, 19552 tháng 11, 1963
Tiền nhiệm Nam Phương Hoàng Hậu
Kế nhiệm Đặng Thị Tuyết Mai
Ngày sinh: 15 tháng 4, 1924
Nơi sinh Hà Nội, Việt Nam
Tôn giáo Công giáo
Ngày mất 24 tháng 4, 2011 (87 tuổi)
Nơi mất Rôma, Ý
Chồng: Ngô Đình Nhu
Con cái Ngô Đình Lệ Thủy
Ngô Đình Trác
Ngô Đình Quỳnh
Ngô Đình Lệ Quyên
Đảng Đảng Cần lao Nhân vị
http://media.fresnobee.com/smedia/2011/04/28/00/171-CORRECTION_Vietnam_Obit_Madame_Nhu.sff.standalone.prod_affiliate.8.jpgTrần Lệ Xuân (1924- 24/04/2011), cũng thường được biết đến là bà Ngô Đình Nhu, là một gương mặt then chốt trong Chính quyền Ngô Đình Diệm của Việt Nam Cộng hòa cho đến khi anh em Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu bị lật đổ và ám sát năm 1963.

Đệ nhất Phu nhân của Việt Nam Cộng hòa

Trần Lệ Xuân sinh tại Hà Nội, cũng có tài liệu nói sinh tại Huế Mẹ là bà Thân Thị Nam Trân, là cháu ngoại của vua Đồng Khánh và em họ của vua Bảo Đại, cha của bà là luật sư Trần Văn Chương. Lúc nhỏ, bà học trường Albert Sarraut ở Hà Nội, tốt nghiệp tú tài Pháp. Năm 1943 bà kết hôn với Ngô Đình Nhu và cải đạo sang Công giáo, từ bỏ đạo Phật. Bà là dân biểu, chủ tịch Hội Phụ nữ Liên đới, thường được gọi là "Bà Cố vấn". Do tổng thống Ngô Đình Diệm không có vợ nên bà được coi là Đệ nhất Phu nhân (First Lady) của Việt Nam Cộng hòa từ năm 1955 đến năm 1963.

Dưới thời Đệ nhất Cộng hòa, dư luận cho rằng Trần Lệ Xuân là người lộng quyền. Việc tổng thống Ngô Đình Diệm để cho bà cũng như Ngô Đình Thục, Ngô Đình Nhu, Ngô Đình Luyện và người em út Ngô Đình Cẩn tham gia vào chính sự tạo nên hình ảnh gia đình trị độc đoán kiểu phong kiến.

Trong sự kiện Phật Đản năm 1963, ngày 3 tháng 8 năm 1963, trong cuộc nói chuyện với phụ nữ bán quân sự, Trần Lệ Xuân lên tiếng rằng "hoạt động của Phật giáo là một hình thức phản bội xấu xa...". Về sự tự thiêu của Hòa thượng Thích Quảng Đức, bà nhiều lần công khai phát biểu "Vỗ tay hoan nghênh các vụ tự thiêu, nếu ai có thiếu xăng dầu thì tôi sẽ cho" và gọi vụ tự thiêu là "nướng sư" (nguyên văn: I would clap hands at seeing another monk barbecue show).[3] Trả lời phỏng vấn của ký giả báo New York Times, Trần Lệ Xuân nói: "Tôi còn thách mấy ông sư thêm mười lần nữa. Phương pháp giải quyết vấn đề Phật giáo là phớt tỉnh, không cần biết tới". Các hành động, phát biểu thiếu cân nhắc và quá khích của bà góp phần đổ thêm dầu vào lửa dẫn đến cuộc đảo chính ngày 1 tháng 11 năm 1963, chấm dứt nền Đệ nhất Cộng hòa.

http://hieuminh.files.wordpress.com/2011/04/tre1baa7n-le1bb87-xuc3a2n.jpgTrần Lệ Xuân cũng là người khởi xướng kiểu áo dài cổ thuyền, khoét sâu (mà dân chúng vẫn gọi nôm na là "áo dài Trần Lệ Xuân") tạo ra một làn sóng thời trang áo dài hở cổ mới mà những người cổ học lên tiếng phê phán. Loại áo dài vẫn thịnh hành đến ngày hôm nay.

Bà còn cho xây dựng tượng Hai Bà Trưng, bị nhiều người cho rằng bà cố tình cho tạc tượng với gương mặt của Trưng Trắc giống với bà và Trưng Nhị giống với con gái của bà là Lệ Thuỷ. Ba năm sau ngày bà phải rời nước lưu vong, tượng đài này bị đập bỏ. Ngày nay, những cánh rừng do bà khởi xướng trồng trên đường từ Sài Gòn đến rừng Cát Tiên vẫn được nhân dân gọi là rừng Trần Lệ Xuân.

Bà Trần Lệ Xuân có nhiều hoạt động trên chính trường trong thời gian từ năm 1955 đến 1963, làm Chủ tịch một tổ chức phụ nữ; ủng hộ các luật liên quan đến hôn nhân gia đình; thúc đẩy việc thông qua các luật liên quan đến những vấn đề như nạo thai, ngoại tình, thi hoa hậu, đấm bốc... Bà cũng được cho là ủng hộ các luật nhằm đóng cửa các nhà chứa và ổ thuốc phiện.

Sống lưu vong

http://ongvove.files.wordpress.com/2009/10/lexuan-lethuy.jpg?w=400&h=314Trong tháng 10 năm 1963, Trần Lệ Xuân cùng con gái Ngô Đình Lệ Thủy đi Hoa KỳRoma với dự định sẽ vạch trần âm mưu lật đổ của Tổng thống KennedyCIA trước công chúng Mỹ.

Ngày 1 tháng 11 năm 1963 Trần Lệ Xuân và con gái đang trú ngụ tại khách sạn sang trọng Wilshire Hotel ở Beverly Hill, California thì cuộc đảo chính xảy ra, chồnganh chồng bà bị giết.

Ngày 15 tháng 11 năm 1963, Trần Lệ Xuân và Lệ Thủy rời khỏi Los Angeles để đi Roma sinh sống sau khi phát biểu: "Tôi không thể cư ngụ ở Mỹ, vì lý do đơn giản chính phủ của họ đã đâm sau lưng tôi."

Ngày 16 tháng 10 năm 1971, tờ New York Times đưa tin bà bị đánh cướp số nữ trang trị giá trên 32 ngàn đôla tại Roma.

Ngày 9 tháng 5 năm 1975 khi trả lời phỏng vấn đài truyền hình NBC Trần Lệ Xuân đã tố cáo chính quyền Kennedy can thiệp vào Nam Việt Nam là "nhằm tạo thanh thế và sự ủng hộ cho Đảng Dân chủ Hoa Kỳ".

Ngày 2 tháng 11 năm 1986, Trần Lệ Xuân tố cáo Mỹ chơi xấu với gia đình bà trong việc bắt giữ Trần Văn Khiêm (em trai bà) về tội giết cha mẹ là ông bà Trần Văn Chương tại nhà riêng ở Washington, D.C. hồi tháng 7 cùng năm.

Những năm đầu thập niên 1990, Trần Lệ Xuân sống tại vùng Riviera Pháp và thường chỉ trả lời phỏng vấn một lần duy nhất để lấy tiền và vé máy bay khứ hồi cho con gái út qua thăm ông bà ngoại ở Mỹ.

Trước khi qua đời, Trần Lệ Xuân đang sống một mình, viết hồi ký tại một trong 2 căn hộ thuộc quyền sở hữu của bà (căn thứ hai cho thuê) trên tầng 11 của một tòa nhà cao tầng gần tháp Eiffel tại Quận 15, thủ đô Paris (Pháp) và cắt đứt mọi quan hệ với các nhân vật chính trị. Hai căn hộ này theo bà là của một nữ bá tước tỷ phú người ÝCapici tặng mặc dù hai người chưa từng gặp nhau.

Bà qua đời lúc 2 giờ sáng ngày 24 tháng 4 năm 2011 tại một bệnh viện ở Rome,Ý, thọ 87 tuổi.

http://24hcm02.24hstatic.com/upload/2-2011/images/2011-04-26/1303790525-tran-le-xuan-6.jpgGia đình

  • Cha: Luật sư Trần Văn Chương, đại sứ Việt Nam Cộng hòa tại Hoa Kỳ
  • Mẹ: Thân Thị Nam Trân(cháu ngoại của vua Đồng Khánh, em họ của vua Bảo Đại)
  • Chồng: Ngô Đình Nhu, Cố vấn của Tổng thống

Các con:

  • Ngô Đình Trác, tốt nghiệp kỹ sư canh nông, 55 tuổi (2007), lấy vợ người Ý, có 4 con (3 trai, 1 gái)
  • Ngô Đình Quỳnh, tốt nghiệp ESSEC (Trường Kinh tế và Thương mại Pháp), hiện làm cho một công ty Mỹ tại Bruxelles, Bỉ
  • Ngô Đình Lệ Thủy, trưởng nữ, mất vì tai nạn giao thông tại Paris năm 1968
  • Ngô Đình Lệ Quyên, tiến sĩ Luật Đại học Roma, không nhập quốc tịch Ý tuy có chồng người Ý. Con trai 7 tuổi (2007) mang họ mẹ trên giấy tờ là: Ngô Đình Sơn.

http://vnthuquan.net/diendan/upfiles/2452/2BA632826304475E9FAEA61218B091CF.jpgCâu nói nổi tiếng

  • Whoever has the Americans as allies does not need enemies ("Ai đã có Hoa Kỳ là đồng minh thì chẳng cần phải có kẻ thù")

    Tran Le Xuan

  • Có Về Đâu Nữa Sài Gòn Ngàn Năm

    Bánh xe lãng tử muộn màng năm 1995 đưa tôi sang Kỳ Hoa, khoảng năm 2000 tôi, ở Rừng Phong, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Đất Trích, viết bài “Như Con Chuồn Chuồn” về bà Dân Biểu Trần Lệ Xuân. Hôm nay, một ngày đầu năm 2009, tôi trích vài đoạn trong bài viết ấy mời quí vị đọc: * Người sống sót trong tai họa ghê rợn của nhà Ngô Đình là bà Trần Lệ Xuân, bà vợ ông Ngô Đình Nhu. Trước ngày xảy ra cuộc đảo chính một tháng, với tư cách Dân Biểu Quốc Hội VNCH, bà Trần Lệ Xuân rời Sài Gòn đi Pháp, bà nói bà đi làm “cuộc giải độc dư luận các nước Tây phương về tình hình chính trị VN“; bà nói nhiều người Âu Mỹ hiểu sai tình trạng đang xẩy ra ở VNCH. Bà dự định sau thời gian ở Pháp bà sẽ sang Hoa Kỳ. Chín giờ tối một ngày cuối thu ở phòng khánh tiết phi trường Tân Sơn Nhất, trước khi lên phi cơ bay đi, bà Lệ Xuân nói câu cuối với các phóng viên báo chí đến đưa tiễn bà khi có người hỏi bà dự định sẽ ở lại bao lâu ở Pháp, bao lâu ở Mỹ:

    Tôi như con chuồn chuồn Khi vui thì đậu, khi buồn thì bay…

    Tran Le XuanBà đi, và như con chuồn chuồn bay đi, không bao giờ bà trở lại Sài Gòn, nơi một thời gian dài bà là Đệ Nhất Phu Nhân; theo tôi bà là vị Đệ Nhất Phu Nhân duy nhất của Việt Nam Gần bốn mươi năm qua — ( tôi viết bài này năm 2000 ) — tôi vẫn nhớ hình ảnh thanh tú, sắc xảo của bà Lệ Xuân trong những cuộc họp báo của bà. Tôi chỉ gặp bà, đúng hơn là tôi chỉ nhìn thấy bà, nghe bà nói, trong những lần bà mở cuộc hội báo. Tôi không một lần thấy bà ở nơi nào khác. Thời bà là Đệ Nhất Phu Nhân, tôi là phóng viên nhật báo Sàigònmới, bà Bút Trà Nguyễn Đức Nhuận, bà chủ báo của tôi, vì muốn lấy lòng bà Lệ Xuân nên rất chăm đi dự những cuộc hội báo của bà Lệ Xuân. Và tôi, là phóng viên báo Sàigònmới, tôi bắt buộc phải đến dự những cuộc họp báo của bà Trần Lệ Xuân để viết bài tường thuật. Trong những lần xuất hiện nơi công chúng bà Lệ Xuân thường mặc áo dài mầu trắng hoặc mầu hồng nhạt. Ngoài việc “lăng xê” mốt “áo dài hở cổ”, bà là người khởi đầu phong trào các bà mệnh phụ phu nhân Sài Gòn mang nữ trang bằng ngọc thạch. Các bà nhà giầu Sài Gòn trước đó vẫn mang nữ trang kim cang, bắt chước bà Lệ Xuân, các bà mới chơi nữ trang ngọc thạch. Trong một cuộc hội báo ở phòng khánh tiết Tòa Đô Chánh Sài Gòn, tôi thấy bà Lệ Xuân mang ở hai cổ tay mỗi cổ tay một chiếc vòng ngọc thạch. Thường thì các bà, các cô Việt Nam chỉ mang ở cổ tay trái một chiếc vòng ngọc. Tran Le XuanBà Lệ Xuân, với tư cách dân biểu quốc hội, là tác giả luật cấm phụ nữ Việt hành nghề mãi dâm và luật cấm đàn ông Việt có vợ bé, cấm ly dị. Bà là người phụ nữ Việt Nam bị người đời phỉ báng nặng nhất lịch sử. Người cùng thời kháo nhau rất nhiều chuyện không đẹp về đời tư của bà. Anh Đạo Văn Hoàng Trọng Miên viết cả một quyển truyện năm, bẩy trăm trang để mạ lỵ bà. Truyện Đệ Nhất Phu Nhân của anh ăn cắp văn Hoàng Trọng Miên được đăng trên nhật báo Quyết Tiến, Sài Gòn, được in thành sách, được tái bản ở Hoa Kỳ. Tôi thương bà Trần Lệ Xuân. Bà phải sống để chịu quá nhiều kỷ niệm đau thương và ghê rợn. Tối đầu thu, mưa gió trên Rừng Phong, tôi hoài tưởng một buổi tối năm xưa, năm 1963, cũng vào giờ này- 9 giờ tối – tôi lên phi trường Tân Sơn Nhất, không phải để “đưa” mà để “xem” người ta đưa tiễn bà Dân biểu Trần Lệ Xuân đi “giải độc dư luận các nước Âu Mỹ”. Tối ấy, trong phòng khánh tiết phi cảng, bà Lệ Xuân bận áo dài trắng hồng, ngồi trong cái ghế bành da nâu, phóng viên truyền thông bao quanh bà, những ánh đèn cực sáng được rọi vào bà để người ta quay phim bà. Một phóng viên hỏi bà dự định ở Pháp bao lâu, ở Mỹ bao lâu, bà trả lời bà chưa định, bà mỉm cười nói:

    Tôi như con chuồn chuồn. Khi vui thì đậu, khi buồn thì bay…

    Lúc ấy tôi đứng ngay bên cạnh ghế của bà, nhờ ánh đèn sáng của máy quay phim tôi nhìn rõ những nếp răn nơi đuôi mắt bà, tôi nhìn rõ hàm răng của bà. Có lẽ trên cõi đời này hôm nay chỉ còn tôi là người duy nhất còn nhớ tối năm xưa trước khi đi khỏi nước bà Trần Lệ Xuân nói câu phong dao Như Con Chuồn Chuồn đó. Buổi tối năm 1963 ấy cách buổi tối hôm nay gần bốn mươi năm. Năm ấy bà Trần Lệ Xuân ba mươi tám tuổi, tôi ba mươi tuổi. Ngưng trích Bài Xưa viết năm 2000, tôi viết những dòng mới: Như quí vị vừa đọc, trên giấy trắng, bằng mực đen, tôi kể :

    Lúc ấy tôi đứng ngay bên cạnh ghế của bà, nhờ ánh đèn sáng của máy quay phim tôi nhìn rõ những nếp răn nơi đuôi mắt bà, tôi nhìn rõ hàm răng của bà.

    Buổi tối ở phi cảng Tân Sơn Nhất ấy — Tháng 10, 1963 — cách hôm nay 45 năm. Nhiều người trong ảnh đã qua đời, bà Trần Lệ Xuận hiện sống trầm lặng ở Paris. Tháng 12 năm 2008, một trong những người từ nhiều năm thích đọc những bài tôi viết, người tôi xưng tụng là Nữ Hiệp Vương Ngọc Anh, cô em của Nữ Hiệp Vương Ngọc Yến, người đẹp Thiên Long biết tất cả những bí kíp võ công trong thiên hạ, gửi cho tôi khoảng 10 tấm ảnh ghi Cuộc Ra Đi Không Về của bà Dân Biểu Trần Lệ Xuân ở phi cảng Tân Sơn Nhất. Dưới tấm ảnh bà Trần Lệ Xuân trả lời phỏng vấn — đăng cùng bài này – Nữ Hiệp Vương Ngọc Anh ghi câu hỏi:

    Công Tử kể ông đứng ngay cạnh bà Lệ Xuân! Sao trong ảnh này không thấy ông đâu cả?

    Tôi — CTHĐ — hồi hộp xem kỹ bức ảnh trên màn hình computer. Xem đi, xem lại. Đúng là không có tôi đứng cạnh bà Trần Lệ Xuân — bên phải của bà — trong ảnh. Đau quá là đau. Tôi từng tiếc hận vài lần nhưng chưa bao giờ tôi tiếc hận vì chuyện tôi đã không bon chen len vào đứng bên ghế bà Lệ Xuân ngay từ phút đầu, khi phái viên Tạp Chí LIFE chụp bức ảnh này. Tôi có cái tật không giống ai là không thích bon chen. Khi người ta tranh nhau xúm lại quanh bà Trần Lệ Xuân, tôi đứng ở ngoài. Chỉ khi cuộc phỏng vấn đã gần xong, tôi mới đến đứng cạnh ghế bà Trần Lệ Xuân. 50 năm cuộc đời, hôm nay tôi mới biết việc đêm xưa ấy khi bà Trần Lệ Xuân sắp đứng lên đi ra phi cơ tôi đến đứng gần bà là việc tôi thầm lặng chào bà. Trong ảnh, ông bận veston đen, mang kính cận trắng, ngồi bên trái bà Trần Lệ Xuân là ông Trần Tấn Quốc, Chủ nhiệm-Chủ Bút Nhật Báo Tiếng Dội. Người thanh niên bận veston sám đứng sau, bên trái bà Trần Lệ Xuân, bên phải ông Trần Tấn Quốc, là Ký gỉa Phan Nghị, Nhật báo Ngôn Luận. Ký giả Phan Nghị, ông Chủ Báo Trần Tấn Quốc, đã ra người thiên cổ. Tôi, sống lưu đày ở Xứ Người, tôi tiếc hùi hụi, tôi tiếc ơi là tiếc: 45 năm xưa — trăm năm một thưở — tôi đã dzô dzang đến cái độ lởm khởm không chịu bon chen, nên không có tôi trong bức ảnh tôi cho là Ảnh Lịch Sử. Nếu ảnh có tôi, hôm nay tôi trưng ảnh lên trang báo này để khoe với quí vị — vinh váo chừng bao! Nhưng buổi tối 45 năm xưa làm sao tôi biết, làm sao tôi ngờ, 45 năm sau, trong những ngày cuối đời tôi, tôi tiếc ngẩn ngơ vì buổi tối 45 năm xưa tôi đã không chịu chen vào đứng bên ghế bà Trần Lệ Xuân! Tiếc ơi là tiếc. Cái Tiếc này không có Tiếc nào có thể Tiếc hơn. Tôi từng viết tôi chỉ thấy bà Trần Lệ Xuân bận áo dài Việt Nam, tôi không thấy, dù một lần, bà bận âu phục — robe đầm, jupe, sơ-mi, áo pull, quần jeans — Ấy là tại tôi không được thấy. Bà Trần Lệ Xuân khi bà bận âu phục, như trong ảnh bà đứng với ông Ngô Đình Nhu, ông chồng bà, ở Đàlạt năm xưa. Ảnh xưa gợi nhớ chuyện xưa, tôi đi một đường cảm khái:

    Ấy ai như con chuồn chuồn, Khi vui thì đậu, khi buồn thì bay? Đẹp người mà nết lại hay. Nhìn ai, ta nhớ những ngày vàng son. Thương ai biển cạn, non mòn, Có về đâu nữa Sài Gòn ngàn năm! Hoàng Hải Thuỷ

  • Bà NGÔ ĐÌNH NHU khuê danh TRẦN LỆ XUÂN


    Bà Trần Lệ Xuân sinh năm 1924, thường được gọi là bà Ngô Đình Nhu.

    Bà Ngô Đình Nhu là một gương mặt phụ nữ then chốt trong chính quyền Việt Nam Cộng Hòa, cho đến khi anh em Tổng Thống Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu bị thãm sát năm 1963, đến nay tên tuổi bà vẫn còn được nhắc đến.

    Bà Trần Lệ Xuân sinh tại Huế, nhưng cũng có tài liệu ghi là bà sinh tại Hà Nội. Bà là cháu gái vua Đồng Khánh và là ái nữ của luật sư Trần Văn Chương. Lúc nhỏ bà học trường Albert Sarraut ở Hà Nội, và đã tốt nghiệp tú tài Pháp.

    Năm 1943 bà kết hôn với ông Ngô Đình Nhu và theo đạo Thiên Chúa giáo.

    Bà là dân biểu, là chủ tịch Hội "Phụ nữ Liên Đới". Các hội viên thường gọi là bà Ngô Đình Nhu là bà Cố vấn và bà được coi như là Đệ nhất Phu nhân (First Lady) của Việt Nam Cộng Hòa, vì Tổng thống Ngô Đình Diệm không lập gia đình.

    Khi Quốc Vương và Hoàng Hậu Thái Lan qua thăm Việt Nam, thì bà Nhu đóng vai "tiếp viên của Quốc Gia" (Hotesse) để nghênh đón Hoàng Hậu Thái về Dinh Độc Lập viếng thăm Tổng Thống Việt Nam theo nghi lễ rồi trở về Dinh Gia Long nghỉ.

    Tổng Thống Việt Nam cũng đến Dinh Gia Long để đáp lễ, cùng đi theo có bà Ngô Đình Nhu. Lúc trở ra, bà Nhu đi ngay phía sau Tổng Thống, nên bị viên sĩ quan hầu cận cản lại và nói:
    - "Bà không được đi cùng. Xin lui bước lại, vì theo nghi lễ bà phải đi sau Tổng Thống 5 phút".

    Bà Nhu đã nổi giận phản đối. Nhưng viên sĩ quan hầu cận đã dẫn chứng theo "sách" và biện minh:
    - "Bà đâu có phải là vợ của Tổng Thống mà được phép trở về Dinh cùng một lúc. Tôi phải theo nghi lễ của ông Hoàng Thúc Đàm đề ra mà thi hành nhiệm vụ. Vậy bà hãy chờ Tổng Thống về Dinh trước, rồi năm phút sau bà mới được ra về". Bà Nhu nổi giận mà cũng đành phải chịu.

    Trong tháng 10 năm 1963, bà Ngô đình Nhu cùng con gái Ngô Đình Lệ Thủy đi Hoa Kỳ và Roma với dự định sẽ vạch trần âm mưu lật đổ Tổng Thống Ngô đình Diệm của chính phủ Mỹ, của Tổng thống Kennedy và CIA trước công chúng Mỹ.

    Ngày 1 tháng 11 năm 1963 bà Ngô Đình Nhu và con gái đang trú ngụ tại khách sạn sang trọng Wilshire Hotel ở Beverly Hill, California thì được tin cuộc đảo chính đã xảy ra: chồng và anh chồng bà bị giết chết.

    Ngày 15 tháng 11 năm 1963, bà và con gái Lệ Thủy rời khỏi Los Angeles để đi Roma sinh sống, sau khi phát biểu: "Tôi không thể cư ngụ ở Mỹ, vì lý do đơn giản chính phủ của họ đã đâm sau lưng tôi."

    Ngày 9 tháng 5 năm 1975 khi trả lời phỏng vấn đài truyền hình NBC, bà đã tố cáo chính quyền Kennedy can thiệp vào Nam Việt Nam là "nhằm tạo thanh thế và sự ủng hộ cho Đảng Dân chủ (Hoa Kỳ)".

    Những năm đầu thập niên 1990, bà Ngô Đình Nhu sống tại vùng Riviera Pháp và thường chỉ trả lời phỏng vấn nếu được trả tiền.

    Hiện nay, bà đang sống một mình và viết hồi ký tại 1 trong 2 căn hộ thuộc quyền sở hữu của bà, trên tầng 11 trong tòa nhà cao tầng gần tháp Eiffel, quận 15, thủ đô Paris - Pháp Quốc và cắt đứt mọi quan hệ với các nhân vật chính trị. Hai căn hộ này theo bà cho biết là của một nữ bá tước tỉ phú Capici người Ý trao tặng, mặc dù hai người chưa từng gặp nhau.

    Dù là phu nhân của Cố Vấn và là em dâu của Tổng Thống. Nhưng bà không ham vui hưỡng thụ, mà luôn luôn dùng thì giờ cống hiến, phục vụ công ích cho Quốc gia. dân tộc trên mọi lãnh vực.

    Bà là người ham hoạt động năng nổ, không màng đến chuyện tích lũy tiền bạc làm giàu có. Tôi nhớ có một lần tôi hỏi xin bà tiền để mua máy chụp hình bà trả lời:
    - " Tôi làm gì có tiền dư giả, khi cái máy chụp hình bị hư, tôi cũng phải đưa ra hiệu Hạ Long ở đường Pasteur để sửa, mà chưa có thanh toán đó".

    Xin nói thêm là ông Phạm văn Trước, chủ hiệu bán máy chụp hình Hạ Long rất thân với tôi, ông có bà con với hiệu chụp hình Long Biên.

    Vào khoảng tháng 10 năm 1954, lúc Thủ Tướng Ngô Đình Diệm gặp sự khó khăn với Pháp và bọn tay sai của Pháp, bà đã kín đáo giúp Thủ Tướng giải quyết những cuộc khủng hoảng.

    Bà ngấm ngầm tổ chức một cuộc biểu tình đả đảo Pháp và để ủng hộ Thủ Tướng Diệm. Đoàn biểu tình này đã bị công an Bình Xuyên chận lại tại Bùng Binh Sài Gòn (chợ Bến Thành).

    Năm 1956 bà ra ứng cử Dân Biểu Quốc Hội và trúng cử. Tại Hội trường Quốc Hội, bà kêu gọi và vận động các phu nhân của quí ông trong Liên Đoàn Công Chức Cách Mạng hãy tham gia Phong Trào Phụ Nữ Liên Đới do bà lãnh đạo, để góp phần vào công cuộc chống Cộng Sản, xây dựng quốc gia giàu manh, phồn vinh.

    Năm 1957, có một số phụ nữ tham gia ứng cử Quốc Hội, gồm các bà Ngô Đình Nhu, Hồ Thị Chi, Nguyễn thị Minh, Nguyễn Kim Anh, Phan thị Nguyệt Minh, Nguyễn thị Vinh, Ngô thị Hoa, Huỳnh ngọc Nữ, Nguyễn thị Xuân Lan.

    Bà Xuân Lan hiện cư trú tại Maryland, (bà là dì ruột vợ tôi), bà biết rất rõ con người và lề lối làm việc của bà Ngô Đình Nhu).

    Và trong khoảng thời gian này Bà đã tổ chức Thanh Nữ Cộng Hòa và Phụ nữ Bán Quân Sự. Hai tổ chức này được võ trang, huấn luyện quân sự nhằm mục đích bảo vệ xóm làng, nhất là các Ấp Chiến Lược ở nông thôn.

    Trong thời gian làm Dân Biểu, Bà đã soạn thảo hai Đạo luật và đưa ra Quốc Hội biểu quyết, đó là:
    1 - Luật Gia đình, nghĩa là gia đình chỉ một vợ một chồng, không chấp nhận ly dị.
    2 - Luật Bảo vệ Luân Lý và Thuần Phong Mỹ Tục, nhằm giáo dục thanh thiếu niên, chống hút sách, rượu chè, bài bạc, mãi dâm, trong sạch hóa xã hội.

    Kể từ tháng 12-1957, Quốc hội VNCH họp bàn sôi nổi về dự án của Luật Gia đình. Đối với tín đồ Thiên Chúa giáo thì đời sống lứa đôi chỉ có một vợ một chồng và không được ly dị, thì vấn đề đa thê không cần đặt ra.

    Nhưng xã hội Việt Nam không phải là xã hội phương Tây và dân chúng Việt Nam không phải tất cả đều là tín đồ Thiên Chúa giáo, cho nên Luật này trên lý thuyết thì hay song thực tế không phù hợp với bản chất và nếp sống của quảng đại quần chúng lúc bấy giờ. Hơn nữa giới âm thầm phản đối chính là giai cấp tướng tá và công chức cao cấp, cũng như những công kỹ nghệ gia giàu có, phần lớn các vị này đều bị kẹt nếu không có vợ bé thì cũng có lén lút giao du với bồ nhí.

    Bà Nhu đưa ra lý luận "Đã đến lúc người phụ nữ đứng lên, bình đẳng với người chồng ngay trong phạm vi gia đình, và chỉ chấp nhận một vợ một chồng thôi... những kẻ hư hỏng không ra gì mới lấy vợ nhỏ rồi bỏ phế gia đình". Bà Nhu vẫn tin là mình đi đúng đường lối với chủ trương cách mạng xã hội, giải phóng phụ nữ của thế giới.

    Trước hết "giải phóng" từ gia đình, để từ đó ra ngoài xã hội. Lý luận và chủ trương của bà nghe xuôi tai và hợp lý. Nhưng điều căn bản là cải tạo xã hội, không phải chỉ bằng một biện pháp ban hành ra một vài đạo luật.

    Bà Ngô Đình Nhu là người có tài thực, có thiện chí, song vì tính chủ quan cũng đã đủ làm cho bà trở thành đối tượng cho bao nhiêu điều phẩm bình, dị nghị đàm tiếu.

    Ngay cả thiện chí và lòng hăng say xây dựng những điều tốt đẹp trong luân lý, cũng đã bị "đồng viện" của bà Nhu trong Quốc hội ngấm ngầm phản đối và dân chúng thì thờ ơ.

    Bộ Luật Gia đình đã gây sôi nổi trong dư luận một thời. Thực tế thì Luật ấy cho đến khi ban hành và thực thi cũng không tạo được một tác dụng lớn lao nào trong tầng lớp dân chúng.

    Gia đình ông bà Ngô Đình Nhu

    Phản ứng của dân chúng đối với Luật gia đình không có gì đáng quan tâm, vì luật pháp hãy còn hết sức xa vời so với quảng đại quần chúng Nam Việt Nam.

    Dù có luật hay không luật, đời sống vợ chồng trong giới bình dân đều dựa trên căn bản tình cảm "yêu nhau giá thú bất luận tất".

    Nhưng đối với giới thượng lưu và nhất là giới tướng tá và công chức cao cấp tuy ngoài mặt hân hoan chào mừng Luật Gia đình, nhưng trong lòng đau đớn không ít và chính mấy giới này đã góp công không nhỏ trong việc tạo dựng "dư luận xấu" về bà Nhu.

    Một số quan tòa xuất thân từ hàng quan lại thuộc địa, trở thành nạn nhân thứ nhất của Luật gia đình. Có ông Tòa hai ba vợ... như vậy thì trách chi không oán ghét bà Nhu.

    Bà Nhu thường bàn luận với mấy cộng sự viên của ông Cố vấn chính trị như thế này "Kinh nghiệm trong gia đình nội ngoại của tôi, tôi biết quá rõ. Ai có vợ nhỏ thì đang trong sạch cũng trở thành tham nhũng, gia đình chia rẽ, rồi dòng con này, dòng con kia cứ lung tung lộn xộn".

    Khởi từ kinh nghiệm này, bà Nhu quyết thanh toán chế độ đa thê, mà bà nghĩ rằng nếu hoàn thành là bà đã giải phóng cho nữ giới cái thảm cảnh gia đình vợ nọ con kia (chém cha cái kiếp lấy chồng chung, kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng).

    Trước diễn đàn Quốc hội năm 1957, cũng đã có nhiều dân biểu mạnh dạn lên tiếng công kích dự án Luật này.

    Bà coi mấy ông dân biểu không đi đến đâu cả. Vì rằng bà cũng biết rõ chân tướng của các ông (Đời tư lẫn đời công cũng chẳng có gì đẹp đẽ).

    Trong một phiên họp vào khóa đầu năm 1959, bà Nhu công khai đả kích một số dân biểu ngay tại diễn đàn Quốc hội và cho rằng "Ai chống đối Luật Gia đình chỉ là những kẻ ích kỷ hèn nhát muốn lấy vợ lẽ".

    Cứ vô tư mà xét thì Bộ Luật Gia Đình là một Bộ Luật Văn Minh, đã cởi trói cho Phụ Nữ và đem lại sự bình đẳng giữa Nam và Nữ .

    Bộ Luật này ra đời chính là để Bảo Vệ Hạnh Phúc gia đình , xoá đi cái tục lệ hủ lậu "Trai Năm Thê Bảy Thiếp. Gái Chính Chuyên Một Chồng", ấy vậy mà thiên hạ cũng xuyên tạc đủ điều.

    Ngoài những việc trên bà Ngô Đình Nhu còn thành lập các Ký Nhi Viện, nhằm giúp đỡ các phụ nữ có nơi gửi con, yên tâm ra việc làm ngoài xã hội.

    Vì các Đạo luật do Bà đưa ra tuy rằng rất tốt đẹp, nhưng không "phù hợp" với một số người có chức quyền, thành thử dư luận đến với bà không được thuận lợi tốt đẹp, trái lại còn nhiều tiếng xấu đến với bà. Từ đó chúng ta phải công tâm nhìn nhận bà là người phụ nữ xuất chúng, can đảm khi hoạt động chỉ nghĩ đến quyền lợi quốc gia.

    Bằng chứng là trong lúc Phật giáo rầm rộ đấu tranh, ông bà Trần Văn Chương đã trách cứ con gái là thiếu lễ độ với Phật Giáo, bà đã thẳng thắn trả lời với cha mẹ. Sau đó ông bà Trần Văn Chương đã xin từ chức Quan Sát viên tại Liên Hiệp Quốc, bà đã lên tiếng phê bình Ông bà Trần Văn Chương và cho đó là hành động “đâm sau lưng chiến sĩ".

    Bà Trần Lệ Xuân là người rất trọng danh dự và đạo lý, luôn luôn tự hào là con gái của một gia đình trâm anh thế phiệt. Lúc ông cố vấn Ngô Đình Nhu bị thảm sát, bà mới 39 tuổi, còn rất xinh xắn trẻ đẹp. Vậy mà Bà đã thủ tiết nuôi con thờ chồng.

    Mặc dù đã trải qua hơn 40 năm sống ở trời Âu, nhưng bà vẫn giữ gìn được nền nếp giáo dục cao quý của người phụ nữ Việt Nam, nuôi dạy dỗ con cái lễ độ, biết vâng lời mẹ.

    Bà còn là con người thẳng thắn, không vì tình cảm gia đình mà thiên vị coi thường luật pháp.

    Tôi còn nhớ năm 1956 tôi khám phá ra một đường dây chuyển tiền cho Hà Nội do Bà Phan Lệ Quyên, vợ Nha Sĩ Trần Văn Thái, em ruột Đại Sứ Trần Văn Chương, là chú ruột bà Nhu.

    Tôi đã bắt hai vợ chồng ông Nha sĩ Thái và bà mẹ đem về giam cùng bà Công Xuân Bách. Ông Công Xuân Bách biết được bèn kêu điện thoại cho ông cố vấn Ngô đình Nhu, ông cố vấn kêu tướng Phạm Xuân Chiểu hỏi:
    - Ai bắt vụ này ?

    Tướng Chiểu nói là:
    - Ông Ngô Đình Châu.

    Sau đó, ông Cố vấn có hỏi tôi là tại sao không trình trước khi bắt ? Tôi đáp lúc đó ông Cố Vấn đang ở Đalat, trình lên vụ này e mất thời gian tính nên không kịp trình. Việc bắt giam gia đình người chú ruột của mình là do tôi, bà Nhu biết rất rõ. Nhưng khi gặp tôi, bà vẫn hỏi han như không có chuyện gì xảy ra.

    Dư luận còn nóí rằng Bà Nhu chỉ lo cho gia đình riêng mà không lo gì cho công việc chung của đất nưóc là sai. Vì có một lần khi tôi sang thăm cụ Phủ Thông, thì bà Nhu cũng tới thăm Cụ Phủ ( cụ Phủ là Bà Nội của Bà Nhu ). Trong lúc mọi người đang trò chuyện thì bà Đặng Trịnh Kỳ nhà ở kế bên cũng qua thăm, giả lả chào hỏi bà Nhu rồi bắt đầu nói với bà Nhu :
    - Chị làm ơn can thiệp dùm cho tôi lấy lại căn nhà mà nhà nước trưng dụng đã lâu quá rồi. Bà Nhu nghe xong bèn thẳng thắn trả lời:
    - Bây giờ thím đã có nhà ở rồi mà thím còn đòi có thêm nhà nữa. Nếu ai cũng như thím thì Chính Phủ lấy nhà đâu để làm việc ?Nói xong câu đó bà Nhu có vẻ giận, bèn vào chào Cụ Phủ Thông và ra xe về. Xem như vậy thì bà Nhu đâu có phải chỉ nghĩ đến gia đình mà không lo việc nước.

    Bà Nhu thì ngoài tính tình ngay thẳng, nóng nảy bà còn rất bạo miệng .Năm 1960 trong ngày lễ Kỷ Niệm Hai Bà Trưng, được tổ chức tại Vườn Tao Đàn, tôi được lệnh theo bảo vệ và chụp hình lưu niệm. Tôi còn nhớ trong bài diễn văn hôm ấy Bà đọc có câu:
    - "Chiếc áo không làm nên thày tu "
    Và sau buổi lễ đó có Cha vô mách với Tổng Thống cho rằng Bà Nhu đã xúc phạm tới các Cha.Tổng Thống bèn cho kêu Bà Nhu qua để giải thích và bắt Bà Nhu phải xin lỗi các Cha , song Bà Nhu cứng đầu không chịu xin lỗi mà còn đứng giải thích cho đó là câu nói từ ngàn xưa, vả lại không phải chỉ các Cha mới là thày tu mà các Thượng tọa, Đại đức cũng là thày tu mà họ đâu có phản ứng và bắt bẻ gì ?
    Tổng Thống bèn đuổi bà Nhu ra khỏi phòng, bà còn lỳ đứng nói với các Cha nữa, làm Tổng Thống giận lấy luôn chiếc gạt tàn thuốc lá liệng bà Nhu, may lúc đó có Trung úy Đức thuộc Binh chủng Thiết giáp, thường được gọi là Đức đen ( một trong những Tùy viên) giơ tay ra chộp được, lúc đó bà mới chịu lui ra khỏi phòng .

    Nói tóm lại, không riêng gì ông Ngô Đình Nhu đã bị làm cái đinh cho dư luận xuyên tạc, mà bà Ngô đình Nhu cũng không tránh khỏi chuyện đó.

    Vì chính trị có nhiều đòn phép dơ bẩn thâm độc, nên lắm lúc dân chúng cũng không chuẩn đoán được những tiếng đồn đãi xấu xa, được khởi xướng từ bọn Cộng Sản hay từ những chánh khách sa lông xôi thịt, đã tung ra hỏa mù dày đặc về những tiếng đồn không tốt cho chế độ Việt Nam Cộng Hòa. Hoàn toàn là những chuyện bịa đặt để đóng góp vào việc hạ bệ chế độ, mà số người tin là có thật không phải là ít, kể cả giới khoa bảng và đại khoa bảng trên toàn cõi cả nước.

    Sau đảo chánh 1 tháng 11 năm 1963, phải sống đời tha hương, bà góa phụ Ngô Đình Nhu đã đủ tư cách chứng minh cụ thể, cho những tin đồn vô đạo đức ấy, chẳng qua là để bôi bẩn gia đình bà, vì mưu đồ chính trị hoặc từ Cộng Sản mà ra.

    Như vậy là dư luận đã không nhìn thấy rõ những công việc tốt đẹp của Bà Nhu đã làm. Trái lại còn có ác ý khi tung ra nhiều tin tức nhằm giảm uy tín cùng bôi nhọ danh dự của bà.

    Những tin tức do những kẻ đố kỵ phao tin thất thiệt vu khống nhiều chừng nào thì càng làm tăng thêm sự mến phục của những người hiểu biết và bè bạn bà con về sự đứng đắn thanh cao, đã bảo vệ được danh dự bản thân và dòng họ Ngô Đình và thủ tiết thờ chồng, nuôi con cho thành tài ở nơi xứ người.

    Khi được hỏi cách cư xử của Tổng Thống đối với bà Ngô Đình Nhu, nhủ danh Trần Lệ Xuân, ông Quách Tòng Đức, làm Đổng lý Văn phòng cho Tổng thống Ngô Đình Diệm đã cho biết: "ông cụ có vẻ nể và ủng hộ bà Nhu" trong việc tổ chức Phong trào Phụ nữ Liên đới và vận động Quốc Hội ban hành Bộ Luật Gia Đình cấm ly dị và đa thê.

    Tổng thống cho rằng bà Nhu hành động như vậy là giúp cải tổ xã hội. Tuy nhiên có người lại cho rằng Bộ Luật Gia đình nhằm mục tiêu riêng là ngăn luật sư Nguyễn Hữu Châu ly dị với bà Trần Lệ Chi, chị ruột bà Nhu.

    Ngoài chức vụ dân biểu Quốc Hội, bà Nhu còn là chủ tịch Phong trào "Phụ nữ Liên đới”. Khi tiếp quốc khách, bà Nhu đóng vai trò Đệ nhứt Phu nhân vì Tổng thống độc thân.

    Tuy bất bình về những lời tuyên bố bốc đồng, châm dầu vào lửa của người em dâu trong vụ Thích Quảng Đức tự thiêu ngày 11.6.1963 (đặc biệt với câu “monks’ barbecue”), Tổng Thống không công khai phủ nhận, vì ngại đụng chạm đến ông Nhu trong một giai đoạn đang rối như tơ vò. Chính ông Ngô đình Nhu, với tánh hay nhường nhịn vợ cho yên nhà yên cửa, cũng không kiểm soát nổi lối phát ngôn bốc đồng, thiếu tính toán lợi hại trong phương diện chính trị của vợ mình.

    Bà Nhu hiện nay có một cuộc sống kín đáo, đơn sơ, chú tâm về tâm linh trong tinh thần tôn giáo. Bà thường qua lại giữa Paris và Rome và tất cả con cái đều thành đạt. Các con:
    Ngô Đình Trác, tốt nghiệp kỹ sư canh nông, 56 tuổi (2008), lấy vợ người Ý, có 4 con (3 trai, 1 gái).
    Ngô Đình Quỳnh, tốt nghiệp ESSEC (Trường Kinh tế và Thương mại Pháp), hiện làm cho một công ty Mỹ tại Bruxelles, Bỉ.
    Ngô Đình Lệ Thủy, trưởng nữ, mất vì tai nạn giao thông tại Paris năm 1968.
    Ngô Đình Lệ Quyên, tiến sĩ Luật Đại học Roma, không nhập quốc tịch Ý tuy có chồng người Ý. Con trai 7 tuổi (2007) mang họ mẹ trên giấy tờ là: Ngô Đình Sơn.

    Như vậy, thực tế đã cho thấy rõ ràng: những kẻ xuyên tạc, bôi bác bà Ngô Đình Nhu chỉ vì mục đích thù nghịch về chính trị, về tín ngưỡng mà thôi. Thực ra nếu vô tư mà xét thì phải dành một chỗ đứng xứng đáng trong lịch sử cho bà Ngô Đình Nhu, khuê danh Trần Lệ Xuân vì tinh thần chống Cộng Sản, chống thực dân Pháp và vì tinh thần tích cực phục vụ nhân dân trong lãnh vực chính trị cũng như xã hội.

    Trần Hữu Phái xin cảm ơn sự kiên nhẫn đọc của quý vị .
    Trân trọng kính chào

    Trần Hữu Phái

  • Bà Trần Lệ Xuân và Ông Ngô đình Nhu

    Bà Ngô Đình Nhu (Trần Lệ Xuân)

  • Tôi đến thăm Bà Ngô Đình Nhu vào lúc 2 giờ trưa ngày 16 tháng 3 năm 2002 tại kinh thành Paris của nước Pháp. Nắng êm dịu vừa lên sau buổi sáng ẩm ướt của những ngày đầu Xuân và Paris thì lúc nào cũng chật ních những người và xe. Thành phố có cả một kho tàng bảo vật và huyền thoại. Ở đây người đi bộ đầy đường với những tiệm ăn và quán cà phê nối tiếp chạy dài cả dẫy phố. Người Paris nhàn và ham muốn hưởng thụ, chậm chạp nhưng thon thẻ hơn người Seattle. Cuộc sống thư giãn chậm chạp của những ông Tây, bà Đầm là niềm ước mơ của những người luôn phải vội vã lập cập với tốc độ từ sáng sớm đến nửa đêm ở Cali hay Texas.

    Bà Nhu ở một mình trong một đơn vị gia cư (apartment) của một tòa nhà mới xây gần tháp Eiffel. Nói là mới, để phân biệt với những chung cư san sát ở Paris đã được xây cả đến vài ba thế kỷ với những đường nét hoa văn cổ kính. Chung cư Bà Nhu ở có những nét kiến trúc đương đại giống như một cái hộp khổng lồ bằng kính, có lẽ đã được tạo dựng từ 30 đến 40 năm. Bà Nhu là sở hữu chủ hai (02) đơn vị gia cư ở trên tầng lầu thứ 11 của tòa nhà cao tầng ở khu vực có địa thế rất đẹp và đắt tiền nhất thủ đô Paris, ngay giữa cái nôi của văn hóa và chính trị thế giới.

    Nơi đây , một tấc đất chẳng biết giá tới mấy chục hay mấy trăm tấc vàng. Cả vùng này hầu như là nơi cư ngụ của các nhân viên và phái đoàn ngoại giao trên đất Pháp. Bà Nhu ở một đơn vị và cái thứ hai cho thuê để lấy tiền sinh sống. Đó là lợi tức duy nhất của Bà, cũng tiện tặn đủ sống và không cần nhờ vả đến các con. Bà sống ẩn dật, đi về lẻ loi thầm lặng đến nỗi một khuôn mặt quen thuộc của cộng đồng người Việt quốc gia ở Paris là cựu Trung Tướng Trần Văn Trung vẫn nghĩ là Bà Nhu sống ở bên Ý.

    Trên đường đến thăm Bà Nhu, tôi vẽ ra trong đầu óc qua hình ảnh của những chung cư đắt tiền ở New York hay San Francisco đã xem trên những tạp chí chuyên về địa ốc ở Mỹ và nghĩ là nơi cư ngụ của Bà Nhu chắc phải sang trọng lắm. Những apartment của Jacqueline Kennedy hay John Lennon ở New York và của các tay tài phiệt ở San Francisco gợi cho tôi một náo nức mong chờ.

    Các cụ mình ngày xưa vẫn nói “ăn cơmTàu, ở nhà Tây” thì chắc là đã có một so sánh cẩn trọng. Tôi bước đi vội vàng với những lung linh nơi lãnh địa của giới thượng lưu. Những dòng họ quý tộc từ bao nhiêu đời cấu trúc nên vẻ hào nhoáng phong nhã của kinh thành Ánh Sáng và dân cư ngụ dù ở chân trời góc biển nào lưu lạc tới đây cũng được nhận lãnh ấn tích của người Paris.

    Bà Ngô Đình Nhu - Trần Lệ Xuân

    Chiếc thang máy nhỏ hẹp vừa đủ chỗ đứng cho một ông Mỹ quá khổ đưa tôi lên tầng 11 của tòa nhà cao tầng. Bà Nhu mở cửa đón khách trong chiếc áo kimono Nhật mầu xanh nước biển, khuôn mặt trang điểm kỹ lưỡng với giọng nói đặc Huế không vồn vã mà cũng chẳng quá lạnh nhạt. Bà Nhu sắp vào tuổi 80 nhưng rất khỏe mạnh. Bà đi đứng nhanh nhẹn, lưng thẳng, đôi mắt to và sáng. Có người nói từ năm 1963 đến nay, Bà chẳng già đi chút nào. Thật ra đó chỉ là một lối nói để diễn tả sức khoẻ sung mãn của một người tuy đã nhiều tuổi đời nhưng vẫn giữ được vóc dáng linh hoạt và nét mặt không có những nếp nhăn theo thời gian. Tuy nhiên “cái già” cũng vất vưởng đâu đó trên khoé mắt vành môi. Khi Bà cười thì khuôn mặt trông rất tươi trẻ phô bầy bộ răng trắng vẫn còn đầy đủ trong tình trạng hoàn hảo.

    Chỗ ở của Bà Nhu tuy không nghèo nàn nhưng chẳng có gì đáng nói, ngay cả không bằng cái apartment mà tôi thuê mướn ở ngoại ô thành phố Seattle vào mùa Đông năm 1975 khi vừa đến Mỹ. Đơn vị gia cư của Bà Nhu rất bình thường giống như những apartment rẻ tiền ở Mỹ với hai phòng ngủ và một diện tích nhỏ làm phòng khách. Phía tay trái lối đi từ cửa ra vào là nhà bếp. Trên tường phòng khách treo vài khung hình lớn có những tấm hình Tổng Thống Ngô Đình Diệm, Đức Cha Ngô Đình Thục, Ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu, cô trưởng nữ Ngô Đình Lệ Thủy và nhiều người thân tộc đã quá vãng.

    Khoảng trống phía bên tay phải là phòng khách có một bộ xa lông, bên cạnh kê bàn ăn với 6 cái ghế. Bộ bàn ghế này và vài cái tủ nhỏ kê ngoài phòng khách làm bằng gỗ gụ mầu đen với những nét chạm trổ VN quen thuộc. Bà Nhu cho biết trước kia thân sinh là Ông Bà Trần Văn Chương có một apartment ở Paris và những đồ đạc này được mang từ VN qua, lâu lắm rồi.

    Khi hai cụ thân sinh bán cái apartment đi thì cho Bà Nhu bộ bàn ăn và hai cái tủ nhỏ này. Tôi đã đọc mấy bài báo nói về khiếu thảm mỹ của Bà Nhu qua việc sắp xếp và trang hoàng Dinh Độc Lập. Giờ này được đứng ngay giữa cơ ngơi của riêng Bà mà chẳng thấy một “công trình” nào xem cho bắt mắt, có thể vì điều kiện tài chánh hay thời trưng diện của Bà đã qua.

    Đứng ở nhà bếp nhìn ra ngoài có cảm tưởng như tháp Effeil sát ngay bên cạnh khung cửa kính. Tôi tiếc thầm, phải như phòng khách mà được xếp đặt ở chỗ này thì đẹp biết bao. Ngồi đây nhâm nhi ly cà phê nhìn thiên hạ từ khắp nơi trên thế giới đổ xô đến chân tháp chờ lên thang máy nhìn cả kinh thành Paris. Ngày như đêm lúc nào cũng là hội hè đình đám. “Vui với cái vui của thiên hạ” chắc lòng mình cũng phần nào đỡ trống trảị.

    Có lẽ cũng vì vậy mà phòng ngủ bên cạnh nhà bếp có kê một bộ xa lông để bù đắp lại sự thiếu sót to lớn của người thiết kế khu chung cự. Phòng ngủ thứ hai là chỗ làm việc của Bà Nhu với đủ loại sách báọ. Cả đơn vị gia cư của một người sống lẻ loi một mình không có một cái giường nhỏ. Buổi tối Bà Nhu trải một cái chăn trên nền nhà, ở một chỗ nào đó trong căn hộ nhỏ hẹp để nghỉ qua đêm. Bà không ngủ trên giường nệm nên mặc dầu đã lớn tuổi mà vẫn giữ được lưng thẳng và đi đứng nhanh nhẹn mạnh dạn.

    Bà Nhu mời tôi ngồi trên một cái ghế ngay đầu bàn ăn cạnh khu phòng khách. Bà ngồi ghế đối diện, chân trái gác lên một chiếc ghế thấp hơn. Bà nói kỳ này khí hậu thay đổi bất thường nên cái chân hơi bị đau vì vết thương ngày trước. Bà Nhu bị gẫy chân trái trong vụ hai phi công Phạm Phú Quốc và Nguyễn Văn Cử ném bom Dinh Độc Lập vào ngày 27 tháng 2 năm 1962. Sau này bà đang đi bộ thì trượt chân ngã và cũng cái chân trái này bị gẫy lần thứ hai. Mặc đầu Bà không gặp khó khăn gì khi đi đứng nhưng đôi khi cũng thấy khó chịu.

    Đối với tôi đây chỉ là một cuộc thăm viếng thường tình giữa người đồng hương nơi xứ lạ. Tôi không có ý định phỏng vấn Bà Nhu và chắc chắn Bà sẽ không được tự nhiên, thoải mái khi phải đóng khung trong những câu hỏi của một cuộc phỏng vấn. Phần khác tôi cũng không muốn khơi lại những đau thương mà Bà phải gánh chịu trong cơn bão táp lịch sử và bể oan cừu cay nghiệt của cuộc đời. Tôi muốn cuộc thăm viếng không bị gò bó và trói buộc vào một chủ đề, đồng thời cũng không muốn tìm tòi những gì mà cá nhân tôi và rất nhiều người được nghe đủ loại chuyện tốt xấu về Bà mà chẳng biết hư thực ra sao, và từ những mù mờ đó đã có biết bao câu hỏi về một người đàn bà một thời xe ngựa thênh thang. Tôi muốn câu chuyện được tự nhiên và để Bà chủ động bất cứ những gì Bà muốn nói. Tôi có thể dùng những tiểu xảo của kỹ thuật phỏng vấn “gài” Bà vào những sơ hở để thỏa mãn những gì tôi muốn biết hoặc chỉ nghe đồn thổi.

    Tôi đã không làm như vậy vì lòng kính trọng đối vơi Bà và lương tâm ngay lành của tôi. Tôi mở đầu câu chuyện bằng mấy lời xã giao thông thường, kính chúc bà luôn được mạnh khỏe an vui. Bà bắt đầu nói về lai lịch nơi hiện cư ngụ. Rất nhiều người biết qua báo chí chuyện một người Pháp giầu có biếu Đức Tổng Giám Mục Ngô Đình Thục một món tiền lớn và Đức Cha Thục đã cho Bà Nhu để mua một đơn vị gia cư trong tòa nhà cao tầng này và sau đó Bà dành dụm mua thêm được một đơn vị nữa. Sự thật không phải như vậy. Bà Nhu trực tiếp nhận được một số tiền rất lớn từ một vị ân nhân ẩn danh.

    Có tiền trong tay, Bà đã nhờ một cựu bộ trưởng thời chính phủ De Gaulle giúp mua liền một lúc hai đơn vị gia cư này. Vào những năm mà người Việt vượt biển ra đi một cách rầm rộ gần như công khai, Bà Nhu cho mấy thanh niên mới bơ vơ đến Pháp tạm trú ở đơn vị gia cư thứ hai và không lấy tiền thuê mướn hay bất cứ chi phí điện nước nào cả. Một thời gian sau những thanh niên này tìm được thân nhân hay vì nhu cầu công việc ra đi tạo lập đời sống mới thì Bà Nhu cho một nhà ngoại giao Nhật Bản thuê mướn cho đến ngày nay. Vị ân nhân tặng Bà Nhu số tiền kếch xù đó là Bà Capaci, một cư dân thành Milan nước Ý và cũng là một trong bẩy người phụ nữ giầu nhất thế giới. Bà Nhu chưa được một lần gặp vị ân nhân này và mãi đến bốn năm sau khi Bà Capaci tạ thế, Bà Nhu mới được biết tên cũng như thanh thế và sự nghiệp của người đã gia ân cho mình.

    Biệt điện Trần Lệ Xuân - Đà Lạt

    Trên bức tường ngăn phòng khách và nhà bếp có treo tấm hình đen trắng ngôi nhà của Ông Bà Nhu ở Đàlạt, tôi kể cho Bà nghe chuyến đi về VN nhân dịp Tết Tân Tỵ, lần đầu tiên sau 26 năm vội vã ra đi lánh nạn. Tôi đã đi ĐàLạt, ghé lại thăm ngôi nhà xưa của thời trung học, bước qua đường đứng nhìn nhà Ông Bà Nhu một lúc lâu. Ngôi nhà của Ông Bà Nhu hiện không có người ở nhưng được bảo quản khá tốt, không thấy những đổ vở hoang tàn vì thời gian hay qua những biến động. Hiện nay Bà Nhu không có ý định về thăm VN mặc dầu Bà được nhà cầm quyền Hà Nội đánh tiếng cho biết là nếu Bà muốn về thì cũng chẳng có trở ngại gì.

    Những kỷ niệm về một nơi chốn thân thương xa xưa gợi lại miền ký ức dấu ái, Bà nói “Tôi gặp Ông Cố Vấn năm 16 tuổi, đến năm 18 tuổi thì làm đám cưới”. Bà có vẻ buồn khi nói đến ngôi nhà ở Đà Lạt. Một vùng trời mộng mơ với những kỷ niệm của ngày tháng êm đềm nơi sứ sương mù vẫn còn vương vất đâu đây. Khi nói về những người con thì Bà Nhu có vẻ bằng lòng với chút hãnh diện.

    Tôi cố tình không hỏi gì về trưởng nữ Ngô Đình Lệ Thủy đã bị chết thảm trong một tai nạn xe cộ trên xa lộ vòng đai của Paris. Rất có thể đây là một âm mưu quốc tế còn nhiều nghi vấn chưa được sáng tỏ và tôi cũng không muốn khơi lại những kỷ niệm đau buồn để rồi những giọt nước mắt của bà mẹ lại một lần nữa ướt đẫm trên khuôn mặt đã có quá nhiều khỗ đau.

    Ông con trai lớn Ngô Đình Trác tốt nghiệp kỹ sư canh nông, năm nay cũng đã 55 tuổi, lấy vợ người Ý và có bốn con, ba trai một gái. Bà Nhu nói về những đứa cháu nội, con trai của Ông Trác, trong niềm vui “cao một mét tám, to lớn và đẹp trai lắm”. Vợ ông Trác thuộc giòng dõi quý tộc rất giầu có. Ông Trác rất đam mê công việc trồng trọt chăn nuôi và đã chế tạo được nhiều dụng cụ nông cơ thích hợp cho việc canh tác những thửa đất nhỏ. Gia đình Ông Trác sỡ hữu một biệt thự to và rất đẹp trong nội thành La Mã. Ngôi biệt thự này có cách cấu trúc và đáng dấp như một tu viện. Bà Nhu đã ở đấy nhiều năm, nên rất nhiều người lầm tưởng rằng Bà đã tá túc ở một tu viện Công giáo trong khoảng thời gian dài.

    Người con trai thứ hai là Ngô Đình Quỳnh cũng đã trên 50 tuổi, tốt nghiệp trường E.S.E.C. (École Suprrieure de l’Econmie et du Commerce) chứ không phải trường H.E.C. (Hautes Etudes Commerciales) như rất nhiều báo chí và sách vở đã sai lầm. E.S.E.C. là trường tư đào tạo các chuyên gia kinh tế và tài chánh cao cấp, có học trình gay gắt và học phí rất cao. Sinh viên được nhận vào học trường này phải vượt qua những cuộc thi cử cam go và sau khi tốt nghiệp được các cơ quan kinh tế và tài chánh trên toàn thế giới trọng vọng . Khi Ngô Đình Quỳnh hoc trường này Bà Nhu đã không đủ khả năng trả học phí nên phải làm giấy xin nợ tiền học. Hiện ông Quỳnh làm đại diện thương mại cho một số công ty Hoa Kỳ ở Bruxelles, thủ đô nước Bỉ. Ông Quỳnh không lập gia đình.

    Bà Nhu cười nói “Ông Quỳnh giống Bác”, hàm ý sống độc thân như Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Đang lúc tôi nói chuyện với bà Nhu thì một thiếu nữ người Pháp gõ cửa bước vào với một xấp hình trên tay. Cô bé 17 tuổi này vừa trở về sau chuyến đi làm công việc thiện nguyện giúp các thanh nữ Phi Luật Tân bị bệnh AIDS. Tất cả chi phí cho chuyến đi của cô bé này do ông Ngô Đình Quỳnh đài thọ. Cô bé có những lọn tóc mầu hạt dẻ khoe những tấm hình chụp chung với các nạn nhân của căn bệnh thời đại và ước mong sẽ được trở lại thủ đô của nước Phi Luật Tân để tiếp tục công viêc bác ái. Bà Nhu nói ông Quỳnh sống đạm bạc và rất tích cực trong những hoạt động từ thiện, nên ước vọng của cô bé chẳng phải là một giấc mơ.

    Cô con gái út Ngô Đình Lệ Quyên có bằng tiến sĩ Luật từ trường đại học Roma. Lệ Quyên là một luật gia ngành Công Pháp rất nổi tiếng, nhưng chỉ được mời thỉnh giảng và tham luận ở phân hoa Luật của đại học Roma mà thôi. Lý do đơn giản là Lệ Quyên không chịu vào quốc tịch Ý. Luật lệ nước Ý không cho phép những người không có quốc tịch được quyền giảng dậy một cách chính thức trong học trình. Lệ Quyên thường xuyên được mời dự các hội nghị quốc tế và có nhiều bài tham luận xuất sắc làm sửng sốt các “cây đại thụ” của ngành công pháp thế giới. Lệ Quyên có chồng là người Ý, nhưng đứa con trai 7 tuổi lại chính thức mang họ mẹ trên giấy tờ hộ tịch. Bà Nhu hãnh diện nói tên cháu bé là Ngô Đình Sơn, một tự hào dòng họ hay là sự gìn giữ gốc rễ gia tộc.

    Mỗi buổi sáng sớm, bất kể thời tiết, Bà Nhu đều “xuống đường” đi bộ chừng độ 10 phút đến nhà thờ Saint Léon dâng thánh lễ hằng ngày. Cũng tại ngôi thánh đường này, lần đầu tiên vào tuần lễ đầu tháng 11 năm 2001, Bà Nhu tổ chức lễ tưởng niệm Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Thông thường sau thánh lễ Bà ở lại giúp dọn dẹp nhà thờ và xếp đặt trưng bày hoa nến. Ngày chủ nhật Bà phụ trách dậy lớp thánh kinh cho các trẻ nhỏ.

    Bà gia nhập đạo Công giáo khi lập gia đình, nhưng lúc thiếu thời được giáo dục trong các trường Công giáo, nên có thể nói là Bà đã lớn lên và trưởng thành trong tín lý của đạo Chúa. Trong câu chuyện, Bà Nhu nhiều lần biểu lộ Đức Tin tuyệt đối nơi sự an bài của Đấng Tối Cao. Khi nghe tôi nói có thân nhân đang bị bệnh và rất muốn trở về Mỹ sớm hơn, Bà Nhu đi vào phòng làm việc lấy cho tôi một tượng ảnh Đức Mẹ Maria đúc bằng kẽm to hơn đồng một xu Mỹ kim. Bà nói mang tượng ảnh về cho bệnh nhân thì Đức Mẹ sẽ cứu giúp và chữa khỏi. Tôi nghĩ là vì có Đức Tin mạnh mẽ như vậy nên Bà đã vượt qua được bao cơn sóng gió ba đào mà sống mạnh khỏe đến ngày nay.

    Trên đường từ nhà thờ về Bà Nhu cũng thỉnh thoảng ghé lại tiệm bán hoa và cây cảnh, mua vài bông hoa hay một chậu cảnh trang hoàng trong nhà. Ít khi Bà phải nấu nướng vì ăn rất ít và những bà bạn người Pháp thường mang đồ ăn đến cho, nên cũng chẳng bận rộn gì việc bếp núc. Trước kia tôi nghe có người nói Bà Nhu chỉ ăn qua loa, hai ba lần một tuần. Tôi nghĩ là nếu ăn uống như vậy thì làm sao mà… thở được. Bây giờ tôi nghe chính Bà Nhu nói “hai ngày nay tôi chưa ăn gì cả, vì tôi không ăn nên không có bệnh”. Các vị tu sĩ Ấn Độ giáo rất ít khi ăn uống nhưng người nào cũng mạnh khỏe và sống lâu trăm tuổi. Ở các nước Âu Mỹ đa phần người ta chết vì ăn chứ có ai chết vì đói.

    Bà Nhu hầu như không đi sắm sửa quần áo giầy dép. Mỗi năm một bà bạn người Nhật gởi qua cho vài cái áo kimono đủ mặc trong nhà, có việc đi đâu thì mặc mấy cái quần áo cũ cũng còn tạm được. Nói đến quần áo, Bà có vẻ đăm chiêu “ở Sàigòn nóng quá nên tôi mặc áo dài hở cổ, Tổng Thống không bằng lòng”. Chiếc áo dài hở cổ được đặt tên là”kiểu áo Bà Nhu” đã một thời là “mốt” của các thiếu nữ Sài Gòn và cũng là một đề tài xôn xao của những người vô công rồi nghề.

    Bà kể chuyện trước kia phải đại diện chính phủ tiếp đón phu nhân các vị quốc khách, mà chẳng có đến một món trang sức nên thấy thiếu sót. Nhân có bà vợ một ông bộ trưởng muốn bán mấy món đồ trang sức làm bằng đá đỏ (ruby), Bà Nhu có trình và xin Tổng Thống số tiền sáu ngàn đồng bạc VN để mua lại. Tổng Thống nghe lời giãi bầy cũng hợp lý nhưng yêu cầu người bán phải viết một tờ giấy biên nhận, với đầy đủ lai lịch của những món đồ trang sức này. Bà Nhu nói đó là lần duy nhất Tổng Thống cho tiền và cũng chẳng còn nhớ những đồ trang sức đó bây giờ thất lạc nơi đâu.

    Trong lúc nói chuyện, thỉnh thoảng Bà Nhu cũng đề cập đến những diễn biến chính trị, kinh tế và xã hội toàn cầu. Bà có những phân tích, lượng giá vấn đề một cách chi tiết và hợp lý đồng thời đưa ra những kết luận làm người nghe dễ dàng bị thuyết phục. Điều này chứng tỏ tuy sống khép mình trong một căn phòng nhỏ bé nhưng Bà vẫn theo dõi thời cuộc một cách cẩn thận. Bà vẫn còn giữ những liên lạc cần thiết với giới ngoại giao quốc tế trong một giới hạn cẩn trọng.

    Nhớ lại Phong Trào Phụ Nữ Liên Đới năm xưa, Bà nắm hai tay trước mắt nhìn lên trần nhà nói bằng tiếng Pháp “phụ nữ phải được giải phóng, phụ nữ phải được tôn trọng”. Giấc mơ của Bà là người phụ nữ phải có chỗ đứng và tiếng nói trong xã hội. Ước vọng của Bà là người phụ nữ phải có những cơ hội thuận tiện để thăng tiến trong mọi lãnh vực của đời sống. Tiếng nói của Bà rõ ràng, chắc nịch, lên xuống với những cảm xúc làm người nghe rất dễ bị lôi cuốn rồi nhiệt tình ủng hộ.

    Trong cả một buổi chiều, lúc nói chuyện này và đột nhiên nói sang chuyện khác nhưng Bà không hề đả động gì đến nước Mỹ mặc dầu Bà biết tôi đến từ một tiểu bang ở vùng Tây Bắc nước Mỹ. Nhiều người nói Bà Nhu căm thù Mỹ lắm, vì những sai lầm trong chính sách đối với VN và nhất là đối với Đệ Nhất Cộng Hòa VN. Vào những ngày tháng cuối năm 1963, cả thế giới đã kinh ngạc nghe và nhìn Bà Nhu mạt sát nước Mỹ và những nhà lãnh đạo của siêu cường này ở tại một địa điểm chỉ cách Tòa Bạch Ốc một quãng đường.

    Tôi nghĩ là Bà đã không còn mang những “hận thù” đó trong tim óc nữa và thực sự muốn quên hết để mọi chuyện nhẹ nhàng đi vào lịch sử. Bà kể chuyện vào mùa Xuân năm 1975, hệ thống truyền thanh NBC của Mỹ có xin phỏng vấn trong 30 phút. Lý do Bà chấp nhận lời yêu cầu của NBC và đòi mười ngàn (10,000) Mỹ kim thù lao cộng với hai vé máy bay khứ hồi hạng nhất Paris – Washington DC, vì lúc đó Lệ Quyên rất nhớ và muốn đi gặp ông bà ngoại. Bà Nhu không có tiền trang trải cho chuyến đi, nhưng vì thương con nên bằng lòng trả lời cuộc phỏng vấn để có tiền đưa con gái đi gặp Ông Bà Trần Văn Chương ở thủ đô của nước Mỹ.

    Đối với một tổ hợp truyền thông to lớn như NBC thì những điều kiện đó thật quá nhỏ bé và họ đã vội vàng thực hiện cuộc phỏng vấn. Đó là lần duy nhất Bà đi Mỹ và cũng là lần duy nhất Bà tiếp xúc với giới truyền thông quốc tế sau năm 1963. Ngoài ra, Bà chưa từng gặp gỡ hoặc tiếp xúc với báo giới Việt ngữ dưới bất cứ hình thức nào.

    Trong quá khứ, đã có vài tờ bào ở Đức quốc và California đăng tải bài phỏng vấn Bà Ngô Đình Nhu. Tất cả những bài “phỏng vấn” đó đều là những ngụy tạo mà độc giả rất dễ dàng nhận ra tính chất giả dối và bịa đặt của người viết.

    Bà Nhu cũng không nói gì về vụ phản loạn 1.11.1963 và những người được ngoại bang thuê mướn sát hại chồng Bà. Tôi có nói xa gần đến đám quân nhân phản loạn để dò xét phản ứng của Bà, nhưng không trông chờ ở một sự tức giận thường tình của một con người, vì thời gian đến gần 40 năm cũng đã làm nguôi ngoai cơn thịnh nộ. Bà có vẻ buồn, nhìn qua khung cửa sổ nói một cách nhỏ nhẹ bằng tiếng Anh “đó là một bọn ngu dốt”.

    Đồng hồ chỉ tám giờ rưỡi tối. Những ngọn đèn của Paris kết nối làm thành một biển ánh sáng và thành phố đã bắt đầu đi vào cuộc sống ban đêm. Hơn sáu giờ đồng hồ ngồi nói chuyện, tôi đã uống hết hai ly nước bưởi to nhưng tuyệt nhiên không thấy Bà Nhu uống một chút nước nào. Tôi sợ ngồi lâu quá Bà sẽ mệt mỏi, nhưng thực sự thì chính tôi là người đã thấm mệt. Bà Như không tỏ ra mệt mỏi, hay có một dấu hiệu nào biểu hiện sự rã rời sau một buổi chiều dài chuyện trò. Trước khi tôi xin cáo từ Bà Nhu có nói đến cuốn sách của Bà. Theo chỗ tôi được biết thì cuốn sách này sẽ được phát hành cùng một lúc tại nhiều nơi trên thế giới bằng bốn thứ ngôn ngữ: VN, Anh, Pháp và Ý. Bà viết bằng tiếng Pháp và tự dịch sang tiếng Anh và Ý. Bản dịch tiếng Việt đang trong giai đoạn nửa chừng.

    Cũng vì vậy mà tôi hạn chế bài viết này trong một kích thước vừa đủ, những gì độc giả muốn biết, hay những gì gọi là “bí mật lịch sử” sẽ rất có thể được nói đến hoặc phân giải trong cuốn sách mà rất nhiều người chờ đợi. Tôi chợt nghĩ đến “ông tướng phường chèo” Nguyễn Khánh. Ông này đi đến đâu cũng cầm cuốn vở học trò huyênh hoang có nhật ký của Bà Nhu trong tay.

    Tôi nghĩ rất có thể Ông này lượm được cuốn vở Bà Nhu ghi chép những chuyện vụn vặt của một người nội trợ trong gia đình như hôm nay đi chợ cần phải mua những món gì, đến bao giờ thì phải đóng tiền trường cho con… Ngoài ra chẳng có gì đáng nói tới hay có một giá trị gì cả. Tôi cũng không hiểu được lý do tại sao khi bị đuổi ra khỏi nước mà đương sự còn ôm theo “báu vật” đó để làm gì. Đặt trường hợp “báu vật” đó mang lại danh vọng và lợi lộc hoặc là một thứ vũ khí để để mạt sát nhục mạ Bà Nhu thì chắc chắn độc giả đã được đọc từ lâu rồi.

    Tôi bước ra chỗ thang máy để xuống phố lang thang với người Paris, mà trong lòng xôn xao niềm vui, vì không ngờ một “bà cụ” gần 80 tuổi đã vật vã với bao sóng gió phũ phàng của cuộc đời mà lại còn có một sức khoẻ thật sung mãn, trí óc minh mẫn đến như thế. Ở vào tuổi đời như vậy mà còn giữ được thể chất và tinh thần trong một tình trạng gần như lý tưởng thì thật là hiếm có.

    Bà Nhu đã thực sự lánh xa những tục lụy phù phiếm của trần gian. Bà sống trong hơi thở nhịp tim của đời sống tận hiến và phó dâng với niềm cậy trong tuyệt đối với sự quan phòng của Đấng Tạo Hóa.

    Tôi cầu chúc Bà luôn mạnh khỏe, an vui.

    Tác giả: Luật sư Trương Phú Thứ
  • Mấy anh chị em ruột nhà Ngô, nay đã về “nước Chúa”, chỉ còn lại bà quả phụ Ngô Đình Nhu, tức Trần Lệ Xuân.

    Sau năm 1963, Trần Lệ Xuân cùng các con chuyển về sinh sống tại La Mã, nơi giám mục Ngô Đình Thục đang cư trú. Ngày 13/12/1984, mấy mẹ con bà nhận được tin giám mục Thục từ trần tại Mỹ sau mấy năm bị khủng hoảng tinh thần. Lúc còn ở Việt Nam hay khi sống lưu vong ở nước ngoài, giám mục Ngô Đình Thục lúc nào cũng yêu thương mẹ con bà. Do vậy, ông không chỉ là người thân ruột thịt, mà còn là ân nhân nơi đất khách quê người của Trần Lệ Xuân. Người ta nói, nhà cửa của mẹ con bà ở La Mã đều do ông mua sắm và còn cung cấp cả tiền bạc cho con cái bà ăn học nữa.

    Khi được tin giám mục Ngô Đình Thục qua đời, mẹ con bà Nhu định sang Mỹ chịu tang. Nhưng chẳng biết vì sao, có lẽ do xích mích trong gia đình, ông Ngô Đình Luyện, em út trong gia đình họ Ngô đã cấm không cho mẹ con bà sang dự tang lễ.

    Gần hai năm sau, ngày 28/7/1986, bà Xuân nhận được điện thoại của em ruột là Trần Văn Khiêm, báo tin cha mẹ ruột là ông bà Trần Văn Chương qua đời, nhưng không rõ nguyên nhân. Sau đó, Khiêm bị cảnh sát FBI bắt, do có liên can đến cái chết của hai người này. Cha mẹ ruột qua đời, bà Nhu cũng không thể qua Mỹ chịu tang.

    Đến năm 1990, người em út của Ngô Đình Diệm là Ngô Đình Luyện qua đời tại Paris vì bệnh. Mẹ con bà Nhu cũng không thể đến dự tang, do trước đó có xích mích với nhau. Cuộc đời bà Trần Lệ Xuân, từng chứng kiến 10 đám tang, đều bất đắc kỳ tử của người thân, từng khóc hết nước mắt, nhưng không lần nào được tham dự tang lễ.

    Cho đến nay, người ta vẫn đồn đoán: bà Nhu đã lấy chồng, hoặc qua đời từ lâu rồi, vì không ai nghe tin tức. Tất cả đều vô căn cứ. Vào tháng 3/2002, luật sư Trương Phú Thứ có sang Paris chơi, và đã đến thăm bà quả phụ Ngô Đình Nhu, chụp được tấm ảnh của bà. Khi về đến Hoa Kỳ, ông Thứ có viết một bài khá dài về bà.

    Luật sư Trương Phú Thứ cho biết: bà Nhu sống một mình trong căn hộ của một tòa nhà mới xây gần tháp Eiffel. Bà có hai căn ở tầng thứ 11, tại một khu vực đẹp và đắt tiền nhất Paris. Bà ở một căn, căn còn lại cho thuê để sinh sống. Đó là nguồn thu nhập duy nhất, đủ để sống, không cần nhờ vả đến các con. Bà sống ẩn dật, âm thầm lẻ loi, đến mức cựu trung tướng quân đội Sài Gòn Trần Văn Trung, rất quen thuộc với cộng đồng người Việt tại Paris, cũng tưởng bà Nhu đang sống ở Italia.
    http://www.bigbiglands.com/images/Upload/2011/04/27/tran_le_xuan_va_ngo_dinh_nhu.jpg

    Trần Lệ Xuân và Ngô Đình Nhu (tháng 7/1962).

    Bà Nhu tuy đã ngoài 80, nhưng vẫn khỏe mạnh. Bà đi đứng nhanh nhẹn, lưng thẳng, đôi mắt to và sáng. Căn nhà bà Nhu khá tầm thường, với hai phòng ngủ và một phòng khách. Trên tường phòng khách còn treo vài bức ảnh lớn của Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Thục, Ngô Đình Nhu và con gái lớn Ngô Đình Lệ Thủy. Bà Nhu bác bỏ tin đồn chuyện một người Pháp giàu có biếu giám mục Thục số tiền lớn, sau đó ông cho bà để mua căn hộ này. Rồi bà dành dụm thêm để mua căn nữa. Sự thật không phải thế. Bà Nhu trực tiếp nhận được tiền từ một ân nhân ẩn danh. Sau đó bà nhờ một cựu bộ trưởng thời De Gaulle giúp mua cho hai căn hộ này.

    Trần Lệ Xuân nói: “Mấy thanh niên Việt Nam mới đến Pháp, bơ vơ, tôi cho tạm trú ở căn hộ này, không lấy tiền nhà và điện nước. Một thời gian sau, họ có thân nhân đón đi hay mua nhà riêng, tôi mới cho một nhà ngoại giao Nhật thuê. Bà còn tiết lộ vị ân nhân đó chính là bà Capici, một phụ nữ Italia từng nằm trong danh sách những người giàu nhất thế giới. Bà Nhu chưa từng gặp mặt vị ân nhân này, và mãi 4 năm sau khi bà này tạ thế, Trần Lệ Xuân mới biết rõ thân thế và sự nghiệp!

    Trên bức tường ngăn phòng khách và nhà bếp, có treo bức ảnh đen trắng “Biệt điện Trần Lệ Xuân” ở Đà Lạt. Bà không hề có ý định trở về thăm Việt Nam. Khi nói về con cái, bà Nhu có vẻ hãnh diện. Con trai lớn là Ngô Đình Trác, tốt nghiệp kỹ sư nông nghiệp, năm nay 57 tuổi, lấy vợ Italia, có 3 con trai, 1 gái. Bà Nhu khoe những đứa cháu nội, con trai ông Trác: Ai cũng cao 1,8 mét, to lớn và rất đẹp trai. Vợ ông Trác thuộc dòng dõi quý tộc, rất giàu có. Ông Trác chế tạo được nhiều nông cụ thích hợp cho canh tác những mảnh đất nhỏ. Gia đình ông có một biệt thự to và đẹp ở nội thành La Mã, có dáng dấp như một tu viện cổ. Bà Nhu từng ở đây nhiều năm, khiến có tin đồn đoán bà sống trong một tu viện Công giáo!

    Người con thứ nhì là Ngô Đình Quỳnh cũng đã ngoài 50 tuổi, tốt nghiệp Trường cao đẳng Kinh tế và Thương Mại - ESEC. Đây là trường tư thục cao cấp, mức học phí rất lớn. Sinh viên phải thi tuyển gắt gao, nhưng khi tốt nghiệp lại được nhiều cơ quan tài chính quốc tế trọng dụng. Khi Quỳnh học, bà Nhu không đủ tiền học phí để đóng, phải ký giấy xin khất nợ. Hiện ông Quỳnh làm đại diện thương mại cho một công ty Hoa Kỳ ở Bruxelles, thủ đô nước Bỉ. Ông ta không có vợ con, bà Nhu nói: “Nó giống ông bác ruột (Ngô Đình Diệm)”.

    Cô gái út, Ngô Đình Lệ Quyên có bằng tiến sĩ luật, Trường đại học Rome. Lệ Quyên là luật sư ngành công pháp quốc tế rất nổi tiếng, nhưng chỉ được mời thỉnh giảng tại Đại học Rome. Lý do: Cô không gia nhập quốc tịch Italia! Luật pháp xứ này không cho phép người không có quốc tịch làm giáo sư chính thức. Lệ Quyên được mời tham dự nhiều hội nghị quốc tế và đã công bố nhiều tham luận xuất sắc. Cô lấy chồng người Italia, nhưng đứa con trai lại lấy họ mẹ: Ngô Đình Sơn, khiến cho bà Nhu rất hãnh diện.

    Mỗi sáng sớm, bất kể thời tiết nóng lạnh, bà Nhu đều đi bộ chừng 10 phút đến nhà thờ Saint-Paul dự lễ. Sau thánh lễ, bà ở lại giúp dọn dẹp nhà thờ và xếp đặt trưng bày hoa, nến. Ngày Chủ nhật, bà còn dạy giáo lý cho trẻ con.

    Bà Nhu rất ít đi mua sắm. Nói đến áo quần, bà có vẻ đăm chiêu: “Ở Sài Gòn nóng quá, nên tôi mặc áo dài hở cổ, khiến Tổng thống không bằng lòng”. Chiếc áo dài hở cổ được đặt tên “kiểu áo bà Nhu” một thời là mốt thời thượng ở Sài Gòn. Bà nói: “Nhiều khi tôi phải đại diện chính phủ tiếp phu nhân các nước mà chẳng có đồ trang sức nào cả. Có một bà bộ trưởng muốn bán số đá rubi trang sức, tôi xin Tổng thống Diệm số tiền 6 ngàn đồng, để mua lại. Ông bằng lòng, nhưng buộc phải viết giấy biên nhận, ghi đầy đủ lai lịch từng món. Đó là lần duy nhất ông Diệm cho tôi tiền, và bây giờ cũng không còn nhớ chúng thất lạc ở mô!”.

    Bà Nhu kể lại: Dịp mùa xuân 1975, hệ thống Đài truyền thanh Mỹ, NBC có xin phỏng vấn 30 phút. Bà chấp nhận và đòi thù lao 10.000 USD và 2 vé máy bay khứ hồi hạng nhất Paris - Washington, để dẫn Lệ Quyên đi thăm ông bà ngoại, Trần Văn Chương. Đó là lần duy nhất bà đi Mỹ và cũng là lần duy nhất bà xuất hiện trên truyền thông quốc tế sau năm 1963. Ngoài ra, bà chưa từng gặp gỡ hoặc tiếp xúc với bất kỳ báo chí Việt ngữ dưới bất kỳ hình thức nào.

    Bà quả phụ Ngô Đình Nhu đang viết dở một quyển hồi ký bằng tiếng Pháp do chính bà dịch sang tiếng Italia, Anh và Việt Nam. Bà từng nói, chỉ sau khi qua đời sách mới được phát hành.
  • Vài bài học rút ra:
  1. Không nên độc tài, độc đoán, độc quyền, độc ác
  2. Không nên"gia đình trị"; nhất là tránh tuyệt đối chuyện vợ con tham gia chính trị.
  3. Không nên thủ tiêu những người bất đồng chính kiến hay tôn giáo với mình.
  4. Không nên cho rằng lãnh tụ là cha mẹ, và người dân không phải là con của mình; đất nước không phải là của riêng ai, đừng tự ý chia chác hay ban bố cho ai như 1 ông vua.
  5. Không nên cho phép bất kỳ tôn giáo nào can thiệp vào chính trị.
  6. Không nên ỷ lại hay quá tin vào "đồng minh" nào hết.
    Biệt điện Trần Lệ Xuân:

    Khu biệt điện nay là Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV. Vào thời cực thịnh nhất của gia đình họ Ngô (1954-1960), bà Trần Lệ Xuân đã chi tiền để xây các tòa biệt thự và mua sắm những thứ xa hoa nhất thời bấy giờ để trang trí cho nơi thư giãn của gia đình.

    Trong đó, bà Xuân xây hẳn một tòa biệt thự mang tên Hồng Ngọc để tặng cha là luật sư Trần Văn Chương, lúc đó là Đại sứ của Việt Nam Cộng hòa tại Mỹ. Tuy nhiên, ông Chương chưa một lần bước chân vào ngôi nhà sang trọng đó.

    Ngoài Hồng Ngọc, bà Trần Lệ Xuân còn cho xây biệt thự Bạch Ngọc là nơi giải trí của gia đình và các tướng lĩnh Việt Nam Cộng hòa. Trước biệt thự Bạch Ngọc là một bể bơi nước nóng tráng lệ, dung tích 300 m3, sâu 1,2-2,2 m. Đến nay nhiều người vẫn thắc mắc không hiểu Trần Lệ Xuân đã dùng loại năng lượng nào để hâm nóng một hồ nước tới 300 m3 giữa tiết trời Đà Lạt quanh năm sương mù.

    Biệt thự Lam Ngọc một và Lam Ngọc hai là nơi nghỉ ngơi cuối tuần của bà Trần Lệ Xuân được trang bị hiện đại bậc nhất thời bấy giờ, với phòng họp, phòng làm việc, phòng khiêu vũ, phòng trang điểm. Trong các phòng đều có lò sưởi kiểu Pháp.

    Biệt thự Lam Ngọc có đường hầm thoát hiểm nội bộ và hầm trú ẩn riêng của bà Trần Lệ Xuân, nắp hầm được làm bằng loại thép đặc biệt, đạn bắn không thủng. Các cửa kính của biệt thự Lam Ngọc cũng được thiết kế có khả năng chống đạn.

    Phía sau biệt thự Lam Ngọc có vườn hoa Nhật Bản vì bà Trần Lệ Xuân đã nhiều lần thuê các kỹ sư Nhật Bản thiết kế xây dựng và chỉnh sửa. Một hồ nước được thiết kế rất đặc biệt trong khu vườn, khi bơm nước đầy hồ sẽ hiện rõ hình bản đồ Việt Nam.

    Cụ ông Nguyễn Văn Thùy, năm nay 93 tuổi, đang sống ở Đà Lạt kể, thời đó ông là nhân viên làm trong tòa thị chính Đà Lạt. Mỗi lần vợ chồng Ngô Đình Nhu - Trần Lệ Xuân và các thành viên trong gia đình họ Ngô từ Sài Gòn lên Đà Lạt nghỉ, ông Thùy thường được huy động vào đoàn tháp tùng săn bắn.

    "Nhiều cuộc săn bắn chỉ đi trong ngày, nhưng họ huy động cả trăm người, với nhiều xe đặc chủng dành cho các nhân vật cao cấp, rất tốn kém", cụ Thùy nhớ lại..

    'Bà Nhu như tôi từng biết' (phần 1)

    Bà Trần Lệ Xuân

    Người được coi là như là cựu 'Đệ nhất Phu nhân' của nền Đệ nhất Cộng hòa ở miền Việt Nam, bà Trần Lệ Xuân, vừa qua đời ở tuổi 87.

    Bà là vợ của ông Ngô Đình Nhu, em trai Tổng thống Ngô Đình Diệm.

    Tin bà Trần Lệ Xuân qua đời được loan báo tới các phương tiện thông tin đại chúng từ luật sư Trương Phú Thứ, một trong số ít người có tiếp xúc, trò chuyện với bà trong những năm gần đây.

    Từ Seattle, Hoa Kỳ, ông Trương Phú Thứ cho BBC biết:

    LS Trương Phú Thứ: Tôi được biết bà Nhu nằm viện đâu chừng ba tuần lễ trước khi qua đời. Khi bà thấy mệt quá thì bác sỹ họ đưa vào trong nhà thương nằm trong tình trạng rất yếu, gần như không nói được nữa.

    Tới Chủ nhật vừa rồi thì tôi nhận được điện thoại của gia đình bà từ bên Rome, nói bà đã qua đời vào lúc 2 giờ sáng giờ địa phương. Tất cả ba con của bà đều có mặt lúc ấy.

    Trước khi mất khoảng ba năm, bà Nhu ở nhà với con trai cả là Ngô Đình Trác, tại Rome (Ý). Cô con gái út là Ngô Đình Lệ Quyên cũng ở nhà đó, trong tầng hầm. Cả gia đình ở với nhau rất vui vẻ hòa thuận. Vậy cho nên bà qua đời là cả gia đình có mặt.

    Con trai thứ của bà Nhu là Ngô Đình Quỳnh thì sống và làm việc bên Bỉ.

    BBC: Vậy thông tin nói bà Trần Lệ Xuân sống một mình trong biệt thự xa hoa lộng lẫy mà bạn của bà tặng thì là tin thất thiệt?

    LS Trương Phú Thứ: Tin đó cũng như tin mà một vị tự xưng là sử gia tung ra, rằng bà Nhu có tới 17 tỷ Mỹ kim từ những năm 1960-1961. Tôi chỉ hỏi liệu hồi đó mang cả Sài Gòn ra bán có thu được 17 tỷ Mỹ kim hay không!

    Thứ hai nữa, sau vụ đảo chánh 1963 bà Nhu phải ở trong một căn phòng studio chật chội, không có phòng ngủ, với bốn đứa con, chứ làm gì có lâu đài xa hoa như họ nói.

    Cũng như là thông tin bà bị mất trộm một số tiền lớn ở Rome, hay năm 1963 bà đi mua đồ trang sức trị giá 30.000 đôla ở New York mà quịt không trả... Toàn chuyện họ bày đặt ra, đâu có được.

    BBC: Thưa, lần cuối cùng ông có tiếp xúc với bà Trần Lệ Xuân là khi nào?

    Bà cố vấn Ngô Đình Nhu

    Sinh năm 1924 tại Hà Nội

    Tốt nghiệp tú tài trường Albert Sarraut

    Kết hôn với ông Ngô Đình Nhu năm 1943

    Sống lưu vong từ năm 1963 sau khi có đảo chính ở miền Nam Việt Nam

    LS Trương Phú Thứ: Lần cuối tôi nói chuyện với bà là chừng cách đây hơn hai tháng. Lần ấy bà còn khỏe lắm, tiếng nói khỏe và rất to, trong cuộc nói chuyện bà còn cười rất vui vẻ. Vậy mà tôi cũng không ngờ bà suy sụp mau lẹ như vậy.

    BBC: Và các cuộc nói chuyện của ông với bà Trần Lệ Xuân là để bàn thảo về cuốn sách của bà ấy phải không ạ?

    LS Trương Phú Thứ: Vâng, đúng là như vậy. Bà Nhu viết bằng tiếng Pháp vì tiếng Việt bà viết không được giỏi nhưng tiếng Pháp của bà thì anh bạn tôi là Nguyễn Kim Quý, tiến sỹ văn chương Pháp, phải công nhận là lối hành văn của người rất giỏi Pháp văn.

    Bà học trường Tây, có tú tài phần hai và cũng sống ở Pháp nhiều năm. Hồi tôi đi thăm bà lần đầu bên Paris năm 2002, bà sống một mình trong một căn hộ bên đó.

    Lại nói về điều kiện sinh sống thì căn hộ đó của bà trông cũng rất bình thường, không thể so được với nhiều căn hộ bên Mỹ, mà lại tận trên tầng lầu thứ 11. Người già mà có tiền ai người ta chịu sống như vậy chứ?

    Cuốn sách của bà Nhu thoạt ra dự tính sẽ phát hành vào tháng 9 năm nay, thế nhưng với cái chết đột ngột của bà thì chúng tôi phải tạm hoãn phát hành để truy cứu cho thật cẩn thận, không thể vội vàng được.

    Vậy cho nên cuốn sách chắc sẽ ra trễ hơn độ dăm ba tháng.

    BBC: Lần đầu tiên ông yết kiến bà Trần Lệ Xuân thì ấn tượng của ông như thế nào ạ. Ông có ngỡ ngàng vì người thực khác xa với tưởng tượng không?

    LS Trương Phú Thứ: Cái hình ảnh mà hồi xưa chúng ta hay xem trên báo chí là hình ảnh một phụ nữ 28-29 tuổi, trẻ và đẹp. Nhưng hình ảnh của bà Nhu khi tôi gặp bà lần đầu là hình ảnh một bà cụ, tất nhiên là có khác nhau.

    Tôi thì không ngỡ ngàng, vì biết ai cũng phải như thế, con người ta ai mà chẳng phải già đi. Tất nhiên vẻ đẹp bên ngoài thì không thể giống như hồi xưa.

    Bàn tay người Mỹ

    Bà Trần Lệ Xuân trước tượng Hai Bà Trưng - hình trên tạp chí LIFE

    Bà Trần Lệ Xuân khi còn ở Sài Gòn

    BBC: Thế nhưng còn sự quyền uy của người phụ nữ từng được cho là một thời khuynh đảo chính trường, ông có cảm thấy điều này không ạ?

    LS Trương Phú Thứ: Thực ra, bà Ngô Đình Nhu có quyền lực gì? Giống như một cô ca sỹ, hát một bài có người khen kẻ chê, thì bà Nhu cũng vậy.

    Bà là vợ của một ông cố vấn, thậm chí còn không có sự bổ nhiệm chính thức của chính phủ. Vì ông cố vấn là em của ông tổng thống nên ông giúp ông tổng thống mà thôi chứ đâu có giấy tờ gì.

    Nói vì bà Nhu khuynh đảo mà chế độ sụp đổ là điều sai lầm.

    Quyết định lật đổ chính quyền Đệ nhất Cộng hòa và thủ tiêu anh em ông Tổng thống Ngô Đình Diệm - Ngô Đình Nhu, không phải là quyết định của người Việt Nam, mà là của người Hoa Kỳ. Đó là quyết định của một nhóm siêu quyền lực đứng sau tòa Bạch ốc của Hoa Kỳ, vì lợi ích của nước Mỹ mà họ làm vậy.

    Ông Ngô Đình Diệm hay ai khác lúc đó làm tổng thống thì chắc đều chung số phận ấy cả.

    Mà chúng ta thấy, ông Tổng thống J.F. Kennedy, chỉ có trì hoãn hoặc từ chối thi hành đòi hỏi của nhóm quyền lực đó mà cũng bị ám sát chết dưới con mắt chứng kiến của hàng nghìn người. Tổng thống Mỹ còn như vậy, huống hồ là tổng thống của nước Việt Nam?

    BBC: Vâng nhưng thưa ông, chúng ta cũng không thể quên rằng bà Nhu được coi như Đệ nhất Phu nhân một thời vì ông Ngô Đình Diệm không lập gia đình, bà còn là dân biểu, Chủ tịch Hội phụ nữ. Và nhiều người cũng chưa quên những câu phát ngôn gây tranh cãi của bà, như trong chiến dịch đối với Phật giáo, vụ Hòa thượng Thích Quảng Đức...

    LS Trương Phú Thứ: Tôi thì thấy rằng đa số vụ, người ta muốn nhắm vào ông tổng thống, nhưng không biết làm cách nào. Ông Tổng thống Ngô Đình Diệm không phải thánh nhân, tất nhiên ông cũng có sai lầm.

    Nhưng họ không bới móc tấn công được gì ông ấy, nên họ quay ra tấn công bà Ngô Đình Nhu.

    Tuy nhiên, trong các cuộc nói chuyện của tôi với bà Nhu, chúng tôi không bao giờ nói chuyện chính trị cả, ngay cả những chuyện xảy ra với bản thân bà lúc đó.

    Chúng tôi nói những chuyện khác, những điều rồi sẽ nằm trong cuốn sách sẽ phát hành trong tương lai.

    (Còn tiếp)

    Dòng họ Ngô Đình: (hình năm 1963, từ trái sang) Cố vấn Ngô Đình Nhu, Tổng thống Ngô Đình Diệm, Tổng Giám mục Ngô Đình Thục, em gái tổng thống Diệm, bà mẹ (ngồi), bà Trần Lệ Xuân, ông Ngô Đình Cẩn. Hàng con cháu: Trác, Quỳnh, Lệ Quyên, Lệ Thủy

    Bà Trần Lệ Xuân và Ngô Đình Lệ Thủy

    Bà Trần Lệ Xuân và con gái đi xem hát

    BBC tiếp tục câu chuyện với luật sư Trương Phú Thứ, một trong số ít người có tiếp xúc, trò chuyện với bà Ngô Đình Nhu trong những năm gần đây.

    Bà Nhu, nhũ danh Maria Trần Lệ Xuân, vừa qua đời hôm Chủ nhật 24/04 tại Rome, Ý, ở tuổi 87.

    Ông Thứ, hiện sống tại Seattle, Hoa Kỳ, nói ông đang có trong tay tập bản thảo các bài viết của bà Trần Lệ Xuân, tập trung thành một cuốn sách sẽ được xuất bản vào cuối năm nay.

    BBC: Cuốn sách của bà Trần Lệ Xuân, theo như ông nói là không bàn chuyện chính trị, chắc sẽ đề cập tới các chủ đề như cuộc sống, con người, về quan hệ xã hội vv..., có phải không ạ?

    LS Trương Phú Thứ: Cuốn sách của bà Nhu nói về những chuyện cao hơn, xa hơn như thế nữa. Thí dụ các vấn đề tâm linh, sự hiện diện của con người, của Thượng đế...

    Bà cũng nói về một vài vấn đề mà mọi người muốn biết, như chuyện gia đình, đời tư của bà từ khi còn nhỏ đi học ở Hà Nội, hay lớn lên đi lấy chồng ra sao. Tôi chắc là độc giả thì nhiều người tò mò, muốn biết những chuyện này.

    Nhưng tựu chung, cuốn sách của bà Nhu sẽ nói về những chuyện cao hơn và xa hơn; và phải đợi đến khi nào sách ra thì độc giả mới có cơ hội đọc và chiêm nghiệm.

    Nói về quá trình viết sách thì mấy năm qua, lúc hứng thú thì bà viết được nhiều, lúc không hứng thì có khi cả nửa tháng bà không viết chữ nào. Bản thảo đều chuyển cho tôi, và hiện tôi đang có trong tay đây.

    Cuốn sách hiện còn trong tình trạng dở dang, chừng độ 500 trang, nhưng phần cuối thì còn chưa hoàn tất.

    'Chỉ biết có mình ông Nhu'

    Cả đời, bà chỉ biết có một mình ông Ngô Đình Nhu mà thôi. Trong suốt nửa thế kỷ qua, những người muốn công kích hay phỉ báng bà đã không tìm ra được bất cứ một điều gì về vấn đề tình cảm để mang ra công kích bà.

    LS Trương Phú Thứ

    BBC: Dĩ nhiên sẽ có nhiều người tò mò muốn biết liệu khi còn khỏe, cuộc sống riêng tư của bà Trần Lệ Xuân như thế nào.

    LS Trương Phú Thứ: Khi ông cố vấn Ngô Đình Nhu bị thảm sát, thì bà mới có chưa đầy 40 tuổi, cái tuổi có thể gọi là đẹp và mặn nồng nhất của người phụ nữ. Mà bà Nhu, như chúng ta thấy, cũng có sắc đẹp, sinh động, giỏi ngoại ngữ, nói tiếng Anh tiếng Pháp lưu loát, đại để là một người phụ nữ trên mức bình thường.

    Cũng có nhiều người, kể cả chính trị gia, vì lúc đó bà Nhu hoạt động chính trường nên quen biết nhiều người lắm, cũng có lòng yêu mến kính trọng bà.

    Tôi được biết có một ông kỹ nghệ gia, làm quản trị cho công ty chế tạo xe hơi Rolls Royce ở London, cũng đề nghị lập gia đình với bà Nhu, nhưng bà đã khước từ.

    Cả đời, bà chỉ biết có một mình ông Ngô Đình Nhu mà thôi.

    Trong suốt nửa thế kỷ qua, những người muốn công kích hay phỉ báng bà đã không tìm ra được bất cứ một điều gì về vấn đề tình cảm để mang ra công kích bà.

    Bà Nhu sống thầm lặng, một mình, một cách rất đạo đức, kín đáo và đơn sơ.

    BBC: Nói chuyện tới giờ, thì có thể thấy luật sư rất có cảm tình với bà Trần Lệ Xuân?

    LS Trương Phú Thứ: Đúng thế, tôi rất có cảm tình với bà. Nói đúng ra, tôi kính phục bà.

    Bà Nhu là một phụ nữ thông minh, rất thông minh. Bà giỏi, dám nói dám làm.

    Nhưng có một điều mọi người nên biết, trong những ngày tháng sau này của bà thì tôi thấy bà Nhu có một đức tính mà ít người có: đó là sự tha thứ.

    Bà tha thứ tất cả, cả những người cầm súng bắn vào đầu chồng bà, cả những người đi bày đặt nói xấu bà trên báo chí, trong dư luận... Bà ấy từng nói là nếu có những việc như vậy, thì bà ấy tha thứ hết, không có oán hận chuyện gì.

    Đó là sự vị tha, hiếm có trong cuộc đời con người ta, vốn có yêu có ghét, có hận thù. Dường như bà Nhu đã đi xa được hơn những tình cảm bình thường đó.

    BBC: Tài giỏi vậy, nhưng bà Trần Lệ Xuân cũng là một người khá cô độc phải không ạ?

    LS Trương Phú Thứ: Không phải "khá cô độc" mà là "quá cô độc" thì có. Từ khi chồng chết, phải lưu vong ở ngoại quốc thì bà ấy không còn liên lạc với ai nữa.

    Bà chỉ sống ở nhà với mấy đứa con. Theo đạo nên bà đi lễ hàng ngày, nhưng cũng chỉ đến chào hỏi cha cố, rồi các tín đồ ở đó. Bạn bè không có nhiều.

    Tôi nhớ bà có một vài người bạn Nhật Bản vì khi nói chuyện với tôi, bà mặc bộ đồ kimono Nhật. Bà ấy nói với tôi rằng đó là do người bạn Nhật gửi tặng, mỗi năm vài cái để bà mặc trong nhà. Thì tôi nghĩ chắc bà ấy còn liên lạc với một số ít bạn thân thiết, ngoài ra chẳng có ai đâu.

    Con cái của bà thì họ lớn lên ở ngoại quốc (ông bà Ngô Đình Nhu có bốn con, hai trai là Ngô Đình Trác và Ngô Đình Quỳnh, hai gái là Ngô Đình Lệ Thủy - tử nạn giao thông năm 1968; và Ngô Đình Lệ Quyên). Họ có những suy tư và lối hấp thụ văn hóa khác, tuy họ đều yêu thương và kính trọng mẹ.

    Vậy nên tôi cũng không nghĩ họ có thể chia sẻ với bà về những suy tư hay thăng trầm của cuộc đời bà. Nhất là những chuyện quá khứ, thì khi đi khỏi Việt Nam họ còn rất nhỏ nên tôi cũng không nghĩ họ biết để mà nhắc tới.

    Bà Nhu cũng là người rất độc lập, ngay cả về vật chất bà không nhờ vả gì con cái.

    Những năm 63-65, gia đình bà ấy khá túng thiếu, cho tới tận sau này, có một ân nhân ẩn danh cho bà một số tiền rất lớn và bà mua được hai căn apartment ở bên Paris, quận16 gần trung tâm.

    Bà Nhu ở một cái, một cái cho mướn để lấy tiền sinh sống.

    BBC: Cơ duyên nào mà ông lại có điều kiện tiếp xúc và cộng tác với bà Trần Lệ Xuân trong khuôn khổ cuốn sách của bà ạ?

    LS Trương Phú Thứ: Gia đình tôi biết gia đình của bà Nhu từ khi tôi còn bé, ở Việt Nam. Hồi ông bà ở Dinh Độc Lập thì tôi mới mười mấy tuổi đầu, nhưng bà vẫn còn nhớ.

    Tôi rời Việt Nam năm 1975. Sau này ra ngoại quốc tôi liên lạc lại, bà ấy mời tôi qua chơi. Tôi cũng may mắn được bà Nhu quý mến và cho phép dịch cuốn sách của bà.

  • tran le xuan
    Biệt thự Hồng Ngọc Trần Lệ Xuân xây tặng cha là ông Trần Văn Chương.
    Biệt thự Lam Ngọc của Trần Lệ Xuân.
    Vườn Nhật Bản sau lưng biệt thự Lam Ngọc.
    Cửa hầm thoát hiểm trong biệt thự Lam Ngọc của Trần Lệ Xuân.
    Biệt thự Bạch Ngọc có hồ bơi là nơi giải trí của gia đình Trần Lệ Xuân và các tướng lĩnh Việt Nam Cộng hòa.
    Ngô Đình Diệm và gia đình Trần Lệ Xuân dạo chơi vườn hoa Nhật Bản trong khuôn viên khu biệt điện Trần Lệ Xuân. (Ảnh tư liệu).

    Hình ảnh bà Trần Lệ Xuân :
    http://www.flickr.com/photos/13476480@N07/sets/72157626187967663/
    http://www.flickr.com/photos/13476480@N07/sets/72157626059935471/
    http://www.flickr.com/photos/13476480@N07/sets/72157626059278583/
    http://www.flickr.com/photos/13476480@N07/sets/72157626131990552/
    http://www.flickr.com/photos/13476480@N07/sets/72157625797723608/
    http://www.flickr.com/photos/13476480@N07/sets/72157626572950662/
    http://www.flickr.com/photos/13476480@N07/sets/72157625907219990/
    http://www.flickr.com/photos/13476480@N07/sets/72157625803229503/
    http://www.timelifepictures.com/source/search/FrameSet.aspx?s=ImagesSearchState|0|0|-1|28|0|0|0|1|||0|0|0|0|0|0|0|0|9||madame+ngo+dinh+nhu|16384|0|0|0|0&p=9&tag=1

  • Chuyện “hồi ký” bà Nhu

    Hôm 1.5.2011, đài RFI đã phổ biến bài phỏng vấn ông Trương Phú Thứ, hiện ở Seattle, về tập sách (có người gọi đó là “hồi ký”) của bà Ngô Đình Nhu mà ông dự tính sẽ ra mắt vào năm 2012. Nhiều người đang chờ đọc.

    Tôi nhớ khi mới viết xong phần đầu của tập này, bà Nhu đã gởi cho Đại Tá Nguyễn Linh Chiêu ở Westminster, California, như muốn thăm dò ý kiến. Tôi và một vài thân hữu được mời tới xem. Tôi đã đọc và thấy bà ấy viết tiếng Pháp với một lối hành văn khá rắc rối và với nội dung có nhiều chỗ rầt khó biết được bà muốn nói gì. Hơn nữa, những điều bà viết không liên hệ gì đến những điều mà nhiều người muốn biết, bà chỉ nói lên những cảm nghiệm của bà về đạo. Do đó, chúng tôi đã “coi như không có”.

    Nay tập sách nói trên đang được ông Trương Phú Thứ nhờ dịch ra tiếng Việt và sẽ xuất bản, chúng tôi thấy cũng cần trình bày một vài ý kiến. Tuy nhiên, trước khi trình bày, chúng tôi thấy cần nói qua vài nét về bà Ngô Đình Nhu và gia đình bà, cuộc sống của bà tại hải ngoại... mới có thể giúp độc giả nhìn vấn đề một cách dễ dàng hơn.

    VÀI NÉT VỀ BÀ NGÔ ĐÌNH NHU

    Như mọi người đã biết, bà Ngô Đình Nhu có khuê danh là Trần Lệ Xuân. Theo một vài tài liệu, bà Trần Lệ Xuân sinh tại Hà Nội (có tài liệu nói sinh tại Huế) năm 1924, mẹ là bà Thân Thị Nam Trân, cháu ngoại của vua Đồng Khánh và em họ của vua Bảo Đại, cha là luật sư Trần Văn Chương.

    Trần Lệ Xuân lớn lên ở Hà Nội, từng theo học trường Albert Sarraut và đã tốt nghiệp tú tài Pháp. Năm 1943, Trần Lệ Xuân kết hôn với người con trai thứ sáu của dòng họ Ngô Đình là ông Ngô Đình Nhu và theo đạo Thiên Chúa.

    Trong thời gian ông Ngô Đình Diệm chấp chánh (1954 – 1963) và ông Ngô Đình Nhu làm Cố Vấn Chính Trị, vì ông Diệm không có gia đình, bà Nhu được coi như là Đệ nhất Phu nhân (First Lady) của Việt Nam. Bà đã ra ứng cử dân biểu và đắc cử trong cả hai nhiệm kỳ liền dưới chế độ Đệ Nhất Cộng Hoà. Trong thời gian này, bà đã làm ba việc được nhiều người chú ý nhất:

    (1) Ngày 20.5.1958 bà tuyên bố thành lập Phong Trào Phụ Nữ Liên Đới, mục tiêu chính của Phong Trào là vận động phụ nữ ủng hộ chế độ Ngô Đình Diệm. Bà Đinh Thủy Yến, phu nhân của Tướng Trần Thiện Khiêm, được coi như cánh tay mặt của bà trong Phong Trào này. Lúc đó, ông Diệm không hay biết Tướng Khiêm là người được CIA cài vào để lật đổ ông nên coi Tướng Khiêm như “con cưng”. Trung Tá Nguyễn Hữu Duệ, Tư Lệnh Phó Lữ Đoàn Liên Binh Phòng Vệ Phủ Tổng Thống, cho biết có lần được gặp riêng ông Diệm, ông có hỏi rằng trường hợp có biến cố gì xẩy ra, Tổng Thống và ông Cố Vấn bị trở ngại, chúng tôi sẽ xin lệnh của ai. Tổng Thống Diệm trả lời: “Cứ hỏi Tướng Khiêm và Tướng Đính”!

    (2) Đệ trình dự luật Luật Gia Đình, sau đó trở thành Luật Gia Đình số 1/59 ngày 2.1.1959. Luật này cấm chế độ đa thê vốn đã có từ lâu ở Việt Nam, truất quyền của các con ngoại hôn và không chấp nhận ly dị.

    (3) Ngoài hai công việc nói trên, bà đã lăng xê thời trang áo dài cổ hở đầu tiên ở Việt Nam, nên nhiều người thường gọi loại áo dài cổ hở đó là "áo dài cổ bà Nhu». Phóng viên RFI có hỏi ông Trương Phú Thứ rằng khi tiếp xúc với bà ông có thấy bà ăn diện không, ông Thứ trả lời:

    “Không. Khi tôi tiếp xúc với bà thường thường thì bà hay mặc cái áo kimono của Nhật. Bà nói với tôi những cái áo kimono này là của một vài người bạn Nhật, mỗi năm họ gửi cho vài ba cái để mặc ở trong nhà.

    “Còn về cái áo khoét cổ, thì khi tôi nói chuyện với bà, bà nói ở Sài Gòn nóng quá - bà lấy hai ngón tay ra dấu như cái kéo - thì tôi cắt cái cổ đi cho nó mát. Bà nói là, tôi mặc như vậy thì Tổng Thống không có bằng lòng. Tôi nghĩ là về sau thì nhiều người theo cái mốt của bà Nhu cũng mặc áo dài hở cổ, thì chắc là ông Tổng thống cũng chẳng để ý đến cái chuyện đó nữa”.

    Ngày 10.9.1963, bà Ngô Đình Nhu dẫn một phái đoàn dân biểu đi dự Hội Nghị Quốc Tế Nghị Sĩ tại Nam Tư và nhân tiện ghé qua nhiều nước Âu Mỹ để “giải độc” dư luận quốc tế về vấn đề Phật Giáo. Ngày 18.10.1963 bà đến Hoa Kỳ, có người con gái đầu là cô Ngô Đình Lệ Thuỷ cùng đi theo (Thật ra đây là một sự xếp đặt của Mỹ cho bà và con gái ra đi trước khi đảo chánh, chúng tôi sẽ nói sau).

    Ngày 1.11.1963, khi bà Nhu và con gái đang ở khách sạn Wilshire Hotel tại khu thượng lưu ở Beverly Hill, Los Angeles, California, thì ở Sài Gòn xảy ra cuộc đảo chánh, cả ông Ngô Đình Diệm lẫn ông Ngô Đình Nhu đều bị giết. Ngày 15.11.1963, bà và con gái đã rời khỏi Los Angeles sau khi tức tối tuyên bố: "Tôi không thể cư ngụ ở Mỹ, vì lý do đơn giản chính phủ của họ đã đâm sau lưng tôi".

    Khi cuộc đảo chánh xẩy ra, ba đứa con nhỏ của ông bà Nhu là hai cậu Ngô Đình Trác, Ngô Đình Quỳnh và người con gái út là Ngô Đình Lệ Quyên đang ở Đà Lạt với toán bảo vệ thân tính của ông Nhu. Có lẻ do sự sắp xếp trước, Tướng Nguyễn Khánh, Tư Lệnh Quân Khu 2, đã ra lệnh cho một toán quân nhân đem máy bay đến nhận ba người con này và nói sẽ đem trả cho mẹ chúng. Toán bảo vệ liền cho Thượng Sĩ Phúc đi theo. Lúc 3 giờ chiều ngày 4.11.1963 ba đứa nhỏ đã được đưa về ở trong nhà của Tưóng Nguyễn Khánh, gần sát cổng Bộ Tổng Tham Mưu.

    Tướng Trần Văn Đôn cho biết, sau đó ông đã cho người đi mới bà Trần Trung Dung đến gặp ba đứa nhỏ. Tướng Khánh ra đón bà Dung tận ngoài cổng. Tướng Đôn cho biết sau này bà Dung có kể lại với Tướng Đôn rằng khi đi từ cổng vào nhà, Tướng Khánh có nói với bà: “Chúng tôi sẽ trả thù cho ông Cụ!”.

    Lúc 4 giờ chiều, Đại Sứ Cabot Lodge đã đến nhà Tướng Dương Văn Minh xin nhận 3 đứa con ông bà Nhu và hứa sẽ lo cho ba đứa đi qua Rome bằng một chuyến bay đặc biệt. Tướng Đôn cho biết ông nói với Đại Sứ Lodge rằng ba đứa đang ở nhà Tướng Khánh và “chúng tôi sẵn lòng trao trả”. Đại Sứ Lodge liền gọi điện thoại cho sứ quán Mỹ yêu cầu trong ngày 4.11.1963 phải cho một chiếc máy bay đưa ba đứa nhỏ đi Rome.

    Lúc 8 giờ tối, Lucien Conein đã đến nhà Tướng Khánh đón ba đứa nhỏ. Tướng Đôn có cho Đại Úy Khấn, tuỳ viên của ông đi theo Lucien Conein lên phi trường. Lúc 9 giờ tối Đại Úy Khấn trở về và cho biết phi cơ đã cất cánh, sẽ ghé Bangkok rồi đến Rome.

    (Trần Văn Đôn, Việt Nam Nhân Chứng, Xuân Thu 1989, tr. 243 – 244).

    CUỘC SỐNG Ở HẢI NGOẠI

    Năm 1963, sau khi rời Mỹ bà Trần Lệ Xuân cùng các con đã về sinh sống tại Rome, nơi Tổng giám mục Ngô Đình Thục đang tá túc. Khi TGM Thục qua Mỹ, gia đình bà vẫn sống ở đó.

    Đến năm 1990, người em út của ông Diệm là ông Ngô Đình Luyện qua đời tại Paris vì bệnh. Lúc đó bà không đưa các con đến Paris dự đám tang vì trước đó giữa bà và ông Luyện có xích mích với nhau. Nhưng sau khi ông Luyện chết, bà đã qua Paris cứ trú. Các con bà vẫn ở lại Ý.

    Vào tháng 3/2002, ông Trương Phú Thứ đã qua Paris chơi và có được gặp bà Nhu. Khi về lại Hoa Kỳ, ông có viết một bài kể lại cuộc sống của bà.

    Ông cho biết bà Nhu sống một mình trong căn hộ của một tòa nhà mới xây gần tháp Eiffel. Bà có hai căn ở tầng thứ 11, tại một khu vực đẹp và đắt tiền nhất Paris. Bà ở một căn, căn còn lại cho thuê để sinh sống. Đó là nguồn thu nhập duy nhất, đủ để sống, không cần nhờ vả đến các con.

    Căn nhà của bà Nhu khá tầm thường, với hai phòng ngủ và một phòng khách. Trên tường phòng khách còn treo vài bức ảnh lớn của ông Ngô Đình Diệm, ông Ngô Đình Thục, ông Ngô Đình Nhu và con gái lớn Ngô Đình Lệ Thủy.

    Bà Nhu bác bỏ tin đồn nói một người Pháp giàu có đã biếu TGM Ngô Đình Thục một số tiền lớn, sau đó ông đã cho bà để mua hai căn hộ này. Sự thật không phải thế. Bà Nhu trực tiếp nhận được tiền từ một ân nhân ẩn danh. Sau đó bà nhờ một cựu bộ trưởng thời De Gaulle giúp mua cho hai căn hộ này. Bà kể lại: “Mấy thanh niên Việt Nam mới đến Pháp, bơ vơ, tôi cho tạm trú ở căn hộ này, không lấy tiền nhà và điện nước. Một thời gian sau, họ có thân nhân đón đi hay mua nhà riêng, tôi mới cho một nhà ngoại giao Nhật thuê”.

    Bà còn tiết lộ vị ân nhân đó chính là bà Capici, một phụ nữ Ý từng nằm trong danh sách những người giàu nhất thế giới. Bà chưa từng gặp mặt vị ân nhân này, và mãi 4 năm sau khi bà này tạ thế, bà mới biết rõ thân thế và sự nghiệp của bà ta.

    Mỗi sáng sớm, bất kể thời tiết nóng lạnh, bà Nhu đều đi bộ chừng 10 phút đến nhà thờ Saint-Paul dự lễ. Sau thánh lễ, bà ở lại giúp dọn dẹp nhà thờ và xếp đặt trưng bày hoa, nến. Ngày Chủ nhật, bà còn dạy giáo lý cho trẻ con.

    Ông bà Ngô Đình Nhu có 4 người con. Cô Ngô Đình Lệ Thủy là con đầu, sinh năm 1945, bị chết vào tháng 4 năm 1967 trong một tai nạn xe hơi ở Longjumeau, ngoại ô thành phố Paris. Lúc đó, cô đang lái một chiếc xe nhỏ bị một chiếc xe camion chạy ngược chiều húc thẳng vào đầu xe của cô làm xe cô nát bấy.

    Người con trai lớn là Ngô Đình Trác, tốt nghiệp kỹ sư nông nghiệp, lấy vợ Italia. Vợ ông thuộc dòng dõi quý tộc, rất giàu có. Ông bà có 3 con trai và 1 gái, người nào cũng cao to. Ông chuyên chế tạo những nông cụ thích hợp cho canh tác những mảnh đất nhỏ.

    Gia đình ông có một biệt thự to và đẹp ở nội thành Roma, có dáng dấp như một tu viện cổ. Nhà đó cách thủ đô Roma khoảng 10 cây số. Đó là nhà trệt, không có lầu, nhưng ở dưới có một cái tầng hầm. Gia đình ông Trác ở trên, và gia đình của cô em Lệ Quyên ở dưới. Họ sống với nhau cả bao nhiêu năm trời rồi, rất là vui vẻ và rất hòa thuận. Bà Nhu từng ở đây nhiều năm, khiến có tin đồn đoán bà đang sống trong một tu viện Công giáo!

    Người con thứ hai là Ngô Đình Quỳnh, tốt nghiệp Trường cao đẳng Kinh tế và Thương mại (ESEC) và hiện đang làm đại diện thương mại cho một công ty Hoa Kỳ ở Bruxelles, Bỉ. Ông không có vợ con nên bà Nhu thường nói: “Nó giống ông bác ruột” (Ngô Đình Diệm).

    Cô gái út là Ngô Đình Lệ Quyên có bằng tiến sĩ luật ở Đại học Roma và đang là luật sư ngành công pháp quốc tế và thỉnh giảng ở Đại học Roma. Cô được mời tham dự nhiều hội nghị quốc tế và đã công bố nhiều tham luận xuất sắc.

    Cô có chồng người Ý, nhưng có đứa con trai lại lấy họ mẹ là Ngô Đình Sơn khiến bà Nhu rất hãnh diện.

    Khi sức khỏe quá yếu, bà Nhu về Rome, ở căn nhà của gia đình Ngô Đình Trác.

    KHÔNG PHẢI LÀ HỒI KÝ HAY TỰ TRUYỆN

    Trước hết, ông Trương Phú Thứ cho biết tập sách ông sắp xuất bản là do bà Nhu tự tay viết ra và viết bằng tiếng Pháp. Ông nói:

    “Bà viết ra tự tay bà viết ra chứ không có ai viết thay bà hết, vì bà không có liên lạc với bẩt cứ một người nào hết. Đó là điểm thứ nhất. Điểm thứ hai: các con bà ở mỗi người một nơi. Bà viết cái này khi bà còn ở bên Paris, tức là khi sức khỏe của bà còn tốt. Bà viết trong căn phòng appartement có một mình bà thôi, thì bà đâu có nhờ ai viết được, bà tự viết lấy.

    “Tiếng Việt của bà thì kém lắm, tiếng Pháp rất là giỏi. Tiếng Pháp bà viết còn hơn cả những người có bằng cấp về văn chương Pháp ở Pháp. Tiếng Pháp của bà rất giỏi nhưng mà tiếng Việt thì kém lắm, thành ra bà phải viết bằng tiếng Pháp. Thế thì bà đưa cho mình, và mình có nhiệm vụ dịch ra tiếng Việt Nam.”

    Khi được hỏi “liệu cuốn sách đó có đáp ứng được mong đợi của người đọc không?”, ông Trương Phú Thứ trả lời:

    “Cái này thì tùy theo quan điểm của người đọc. Những người nào tò mò muốn biết về đời tư của bà như thế nào, hoặc thái độ đối xử của bà đối với những người đã gây ra những đau khổ cho bà, hoặc những người vu oan nói xấu bà này nọ, thì không có. Bà không đề cập đến chuyện đó, vì bà coi đấy là những chuyện không đáng để nói tới. Quyển sách của bà truyền đạt những suy tư, tư tưởng của bà đối với thân phận con người, đối với tạo hóa, và rất có thể là nhiều người đọc sẽ thất vọng lắm. Nhưng những cái gì của bà viết ra thì mình sẽ đưa ra cho công chúng như vậy thôi, mình không thể nào thêm bớt được hết. Một dấu phẩy, một dấu chấm mình cũng không thay. Thứ nhất là bây giờ bà chết rồi mình phải tôn trọng cái đó một cách tuyệt đối.”

    Ông xác nhận đây không phải là một cuốn tự truyện mà cũng không phải là một cuốn hồi ký.

    Được hỏi trong sách có nói gì về “những lời đồn đãi chung quanh tính cách của bà không?”, ông cho biết: “Chuyện đó thì không có... Bà Nhu không hề động chạm, đề cập đến bất kỳ một chuyện lớn nhỏ nào như thế. Từ khi bà chọn một cách sống, ở một mình trong một căn phòng, tức là bà đã muốn quên hết, muốn bỏ lại đằng sau lưng tất cả. Những chuyện lớn chuyện nhỏ, chuyện vui chuyện buồn bà bỏ hết. Bà sống như một người khổ tu, gần gần như một người khổ tu vậy.”

    Ông Trương Phú Thứ cho biết thêm:

    “Trong sách bà không đề cập đến những vấn đề chính trị, những vấn đề mà đa số người muốn biết. Thí dụ như thái độ của bà đối với những người cầm khẩu súng mà bắn vào đầu chồng bà như thế nào. Có nhiều người nghĩ là bà sẽ chửi rủa những người kia, sẽ nói nặng lời với họ, nhưng tuyệt đối bà không nói một câu. Bà không để ý tới những chuyện đó nữa. Bà muốn quên, bà bỏ lại đằng sau lưng tất cả, và đặc biệt là bà muốn tha thứ tất cả.

    “Bà muốn tha thứ là vì bà là người rất sùng đạo. Bà nói, Chúa đã tha thứ cho bà, thì bà phải tha thứ cho tất cả mọi người, đơn giản vậy thôi. Bà không có thù oán, và không bao giờ nói nặng nhẹ đến những người đã gây khổ đau cho gia đình bà, không nói tới một câu.”

    MỘT VÀI CẢM NGHĨ

    Có lần tôi nhờ một người rất có uy tín với bà Nhu giới thiệu tôi qua Pháp nói chuyện với bà về một số biến cố lịch sử. Vị này bảo tôi xem tập cảm nghiệm do chính tay bà Nhu viết rồi nói chuyện. Tôi cho biết tôi đã đọc qua rồi. Vị này hỏi tôi với một người đang có những suy tư và cuộc sống như vậy, có thể tìm hiểu được gì không? Tôi nghĩ lại và không muốn đi phỏng vấn bà nữa.

    Bà Nhu vì lấy chồng và bị các biến cố về chính trị đẩy đưa vào chính trị, thật sự bà không phải là một chính khách, hoặc một nhà nghiên cứu hay phân tích chính trị. Chồng bà và người anh chồng của bà chắc chắn cũng không bao giờ chia xẻ với bà về các vấn đề chính trị. Bà chỉ được giao phó một vài sứ mạng đặc biệt. Do đó, bà không biết nhiều về các biến cố đã xẩy ra dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa. Những gì bà phát biểu về chính trị thường là do cảm tính (feeling).

    Tôi đã được nghe video và đọc phần chuyển ngữ cuộc phỏng vấn bà năm 1982 bằng tiếng Anh dưới nhan đề “Open Vault interview with Madame Nhu, 1982” do nhóm hệ thống thông tin WGBH ở Mỹ thực hiện. Bà nói có khi pha lẫn tiếng Pháp. Có tất cả 32 câu hỏi đã được đặt ra và bà đã trả lời khá gay cấn, có khi bà còn quay lại đặt câu hỏi với người phỏng vấn.

    Ở câu 22, khi được hỏi: “Thưa bà, ai đứng đàng sau cuộc khủng hoảng Phật Giáo?”, bà trả lời ngay: Tôi tin rằng trước tiên là Cộng Sản, nhưng nó không thể được khơi động lên nếu không có sự giúp đỡ của cơ quan truyền thông Hoa Kỳ, cơ quan truyền thông Tây Phương...

    Thật ra, đây cũng chỉ là cách suy nghĩ và phát biểu theo cảm tính của đa số người Việt về lịch sử trong 48 năm qua.

    Về tôn giáo, bà đã có cảm nghiệm về đời sống siêu nhiên sau khi trải qua nhiều biến cố đau thương. Đọc tập sách của bà, tôi có cảm tưởng bà chịu ảnh hưởng khá nhiều đối các tư tưởng của Công Đồng Vatican II, nhưng bà chưa cảm nghiệm được nhiều về đời sống siêu nhiên của đạo Thiên Chúa và đời sống tu đức của bà cũng chưa đạt tới, nên bà chưa thể có những suy nghĩ sâu sắc như thánh nữ Teresa dòng Camelo hay Mẹ Teresa Calcutta.

    Trong “Truyện một tâm hồn", thánh nữ Teresa, một nhà ẩn tu, đã ghi lại cảm nghiệm của bà bằng một câu chuyện đơn giản như sau:

    "Con không hiểu sao chị ấy lại làm nước bắn lên cả người con như thế. Con muốn nói to lên rằng chị đừng làm như thế nữa. Nhưng con chợt nhận ra đây là kho tàng mà Chúa ban cho con, và con vui vẻ giặt đồ tiếp. Ngày hôm sau con sẽ đến giặt bên cạnh chị ấy nữa..."

    Còn Mẹ Teresa Calcutta viết:

    "Trong ngày sau hết, chúng ta sẽ không bị phán xét để xem chúng ta được bao nhiêu bằng cấp, bao nhiêu tiền của chúng ta có được hay bao nhiêu điều to tát chúng ta đã thực hiện.

    “Tuy nhiên, chúng ta sẽ bị phán xét theo điều này: Khi Ta đói, con đã cho ta ăn; khi Ta trần truồng, con đã cho Ta mặc, khi Ta không nơi nương tựa, con đã tiếp rước Ta.”

    Bà Ngô Đình Nhu cũng đã có một đời sống ẩn dật và chiêm nghiệm để hướng tâm hồn lên, những gì bà đạt được, bà đã ghi lại trong tập sách mà ông Trương Phú Thứ sắp xuất bản. Người đọc có thể hiệp thông phần nào với bà hay không hiệp thông, nhưng đừng mong tìm được ở trong đó những bí ẩn đã xẩy ra dưới thời Đệ Nhất Cộng Hoà hay trong cuộc đời của bà.

    Ngày 24.5.2011

    Lữ Giang

No comments:

Post a Comment