Thursday, September 29, 2011

Vài nhân vật đối lập trước 1975

Vài nhân vật đối lập chính trị nổi tiếng trước 1975
Nhóm Caravelle: Nhóm Tự do Tiến bộ, còn được biết với tên gọi Nhóm Caravelle vì nhóm họp báo ra tuyên cáo lần đầu tiên tại Khách sạn Caravelle Sài Gòn vào năm 1960, là một nhóm gồm 18 chính khách thuộc nhiều khuynh hướng chính trị khác nhau, chống Cộng và đối lập với chính phủ Ngô Đình Diệm. Nhóm chỉ tồn tại trên chính trường Việt Nam Cộng hòa trong giai đoạn đầu 1960 đến hết 1963. Sau khi chính phủ Ngô Đình Diệm bị đảo chính quân sự lật đổ, nhóm này xem như chấm dứt hoạt động, tuy nhiên, nhiều thành viên cũ của nhóm vẫn có tác động đến chính trường Việt Nam Cộng hòa cho đến khi chính thể này sụp đổ vào năm 1975.

Vào khoảng năm 1948, xuất hiện tập hợp một nhóm các nhân sĩ trí thức người Việt có tinh thần quốc gia, mà hạt nhân là Trần Văn Đỗ, Nguyễn Tăng Nguyên; sử dụng hình thức báo chí và thỉnh nguyện thư để tác động đến chính phủ Pháp, nhằm xây dựng một giải pháp một quốc gia Việt Nam độc lập và không Cộng sản. Nhóm có lập trường ủng hộ giải pháp Ngô Đình Diệm, một chính khách được chính phủ Mỹ ủng hộ và khả dĩ có khả năng độc lập tương đối với chính quyền Pháp. Do cơ quan phát ngôn chính của nhóm là 2 tờ báo Tinh Thần và báo Hoa Lư, nên nhóm còn được gọi là nhóm Tinh Thần. Sau khi Ngô Đình Diệm lên làm thủ tướng Quốc gia Việt Nam, nhóm Tinh Thần càng tích cực ủng họ Ngô củng cố vị thế chính trị, lượt dẹp trừ các thế lực chống đối quân phiệt. Nhóm này là một trong 18 thành viên đoàn thể của Ủy ban Cách mạng Quốc gia, ủng hộ việc tổ chức Cuộc trưng cầu dân ý miền Nam Việt Nam, 1955, phế truất Quốc trưởng Bảo Đại, đưa Thủ tướng Diệm lên làm Tổng thống đầu tiên, xác lập chính thể Việt Nam Cộng hòa.
của

Tuy nhiên, khi chính sự đã ổn định, tổng thống Diệm đã dần trở mặt với các thỏa hiệp ban đầu với những người đã ủng hộ ông và giúp ông giữ được ngôi vị tổng thống. Để đảm bảo vị thế quyền lực của mình, Diệm chủ trương kềm chế các phe phái chính trị đối lập cũng như ảnh hưởng từ phía nước ngoài như Mỹ, Pháp. Các tướng lĩnh như Dương Văn Minh, Trần Văn Đôn, Mai Hữu Xuân..., các chính khách như Trần Văn Hương, Nguyễn Ngọc Thơ, Phan Khắc Sửu..., kể cả nhiều đảng viên cao cấp của đảng Cần Lao như Trần Chánh Thành, Võ Văn Trưng..., lần lượt đều bị xa lánh và tước bỏ ảnh hưởng. Trong nền Đệ nhất Cộng hòa, ngoài tổng thống Diệm, quyền hành bị tập trung vào trong tay một số người thân trong gia đình ông như Ngô Đình Nhu, Trần Lệ Xuân, Ngô Đình Cẩn, Ngô Đình Thục; và một số ít người thân tín như Trần Kim Tuyến, Lê Quang Tungđảng Cần lao

Việc quyền hành nhà nước bị chi phối quá nhiều trong tay những người trong gia đình tổng thống Diệm, cộng với sự lộng quyền của một số đảng viên Cần lao và chính sách đàn áp của Chính phủ gây bất mãn trong quần chúng. Ngay chính trong những người đồng chí thuở ban đầu của Diệm cũng cảm thấy bị phản bội và chuyển dần sang thế đối lập với người mà họ đã ủng hộ. Họ liên tục công kích chính sách độc tài chính trị của tổng thống. Mặt khác, khi những người Cộng sản miền Nam, với sự cho phép của Nghị quyết 15 của Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, dần xây dựng cơ sở và chuyển hướng đấu tranh từ đơn thuần đấu tranh chính trị sang kết hợp với đấu tranh vũ trang từ cuối năm 1959, sự ổn định của chính phủ Diệm đã trở nên bị lung lay, nhất là khi nổ ra Phong trào Đồng khởi tại Bến Tre và Trận tập kích Tua Hai tại Tây Ninh cuối tháng 1 năm 1960. Trước hàng loạt thất bại về quân sự và chính trị của tổng thống Diệm, các nhóm đối lập ngày càng kích động quần chúng phản đối chính phủ Diệm. Họ buộc tội chính phủ Ngô Đình Diệm thực chất là một chính phủ độc tài và gia đình trị, bất lực trong việc ổn định xã hội và chống Cộng.

http://namkyluctinh.org/a-lichsu/tvhuong/tvhuong-pix%5B1%5D.jpgTừ những ý kiến trao đổi với một số trí thức đối lập, ba trí thức đối lập là các ông Trần Văn Văn, Trần Văn HươngNguyễn Lưu Viên đã thảo một bản tuyên cáo kêu gọi chính quyền nên cải tổ. Sau đó, ông Trần Văn Văn đã đi thuyết phục 15 nhân sĩ khác, thuộc nhiều thuộc nhiều khuynh hướng chính trị, tôn giáo khác nhau, chống Cộng và đối lập với chính phủ, quê quán ở 3 miền, cùng ký tên vào bản tuyên cáo. Ông Trần Văn Văn đề xuất tên gọi nhóm 18 nhân sĩ là nhóm Tự Do Tiến Bộ, gọi tắt là Cấp Tiến, để có danh nghĩa chính thức đối lập hợp hiến với chính quyền.

http://www.viendongdaily.com/images/galary/VietNamHaiNgoai/VN0607/Anh_PhanKhacSuu.jpgĐể đảm bảo an toàn khi ra tuyên cáo, nhóm đã cẩn thận mời đại diện các báo chí khách sạnChợ Lớn. Các phóng viên nước ngoài và đại diện các tòa đại sứ được báo mời trước nhưng không cho biết trước địa điểm. Sáng ngày 26 tháng 4 năm 1960, hai ông Trần Văn Văn và Phan Khắc Sửu, mặc âu phục chỉnh tề, bất thần đến trước cổng dinh Độc Lập, nhờ quân phòng vệ dinh chuyển bản tuyên cáo đến tổng thống Diệm. Sau đó, các ông trở về khách sạn Caravelle và cùng các thành viên khác tổ chức họp báo tại đây. Việt họp báo riêng tại một

Nội dung của bản tuyên cáo chỉ trích quyết liệt các sai lầm của chính quyền về chính trị, hành chính, xã hội và quân sự, gây ra tình trạng bất mãn trong dân chúng, suy thoái của chế độ và làm giảm tiềm lực đấu tranh chống cộng. Tuy nhiên, ngoài việc đòi hỏi thực thi dân chủ và chấm dứt gia đình trị, những đề nghị cải cách tương đối khiêm tốn.

Dưới đây là danh sách 18 thành viên của nhóm Caravelle ký tên trong Tuyên cáo ngày 26 tháng 4 năm 1960 (xếp theo thứ tự ký tên).

STT Tên Năm sinh Quê quán Tôn giáo Đảng phái Ghi chú
(tại thời điểm ký tên)
1 Trần Văn Văn 1907 Long Xuyên Tam giáo Đảng Phục Hưng Thạc sĩ Thương mại, cựu Bộ trưởng Kinh tế và Kế hoạch.
2 Phan Khắc Sửu 1905 Cần Thơ Cao Đài Mặt trận Đại đoàn kết Quốc dân Kỹ sư Canh Nông, cựu Bộ trưởng Canh Nông.
3 Trần Văn Hương 1902 Vĩnh Long Tam giáo Đảng Phục Hưng Giáo sư Trung học, cựu Đô trưởng Sài Gòn-Chợ Lớn.
4 Nguyễn Lưu Viên 1919 Trà Vinh Tam giáo Không đảng phái Bác sĩ Y khoa, cựu Cao ủy Di cư.
5 Huỳnh Kim Hữu chưa rõ (quê quán miền Nam, chưa rõ) Tam giáo Nhóm Tinh thần Bác sĩ Y khoa, cựu Bộ trưởng Y tế.
6 Phan Huy Quát 1908 Nghệ An Tam giáo Đảng Đại Việt Bác sĩ Y khoa, cựu Bộ trưởng Quốc phòng và Giáo Dục.
7 Trần Văn Lý 1901 Quảng Trị Thiên chúa giáo Liên đoàn Công giáo cựu Thủ hiến Trung phần.
8 Nguyễn Tiến Hỷ chưa rõ (quê quán miền Bắc, chưa rõ) Tam giáo Việt Nam Quốc dân đảng Bác sĩ Y khoa.
9 Trần Văn Đỗ 1903 Biên Hòa Tam giáo Nhóm Tinh thần Bác sĩ Y khoa, cựu Bộ trưởng Ngoại giao.
10 Lê Ngọc Chấn chưa rõ Thanh Hóa Tam giáo Việt Nam Quốc dân đảng Luật sư, cựu Bộ trưởng Quốc phòng.
11 Lê Quang Luật chưa rõ (quê quán miền Bắc, chưa rõ) Thiên chúa giáo Phong trào Liên hiệp Dân chúng Luật sư, cựu Bộ trưởng Thông tin.
12 Lương Trọng Tường 1904 Biên Hòa Hòa Hảo Đảng Dân Xã Kỹ sư công chánh, cựu Thứ trưởng Kinh tế Quốc gia.
13 Nguyễn Tăng Nguyên chưa rõ (quê quán miền Trung, chưa rõ) Phật giáo Đảng Cần Lao Bác sĩ Y khoa, cựu Bộ trưởng Lao Động và Thanh Niên.
14 Phạm Hữu Chương chưa rõ (quê quán miền Bắc, chưa rõ) Tam giáo chưa rõ Bác sĩ Y khoa, cựu Bộ trưởng Y tế và Công tác Xã hội.
15 Trần Văn Tuyên 1913 Tuyên Quang Tam giáo Việt Nam Quốc dân đảng Luật sư, cựu Bộ trưởng Thông tin và Tuyên truyền.
16 Tạ Chương Phùng chưa rõ Quảng Ngãi Tam giáo Không đảng phái cựu Tỉnh trưởng Bình Định.
17 Trần Lê Chất 1874 (quê quán miền Bắc, chưa rõ) Tam giáo Không đảng phái Tiến sĩ Hán học.
18 Hồ Văn Vui 1917 (quê quán miền Nam, chưa rõ) Thiên chúa giáo Không đảng phái Linh mục, Chánh xứ họ đạo Tha La, Tây Ninh

Ảnh hưởng chính trị của tuyên cáo

Thực chất, nhóm Tự do Tiến bộ không hẳn là một tổ chức chính trị độc lập mà chỉ là tập hợp các nhân sĩ cùng đưa ra tuyên bố chính trị. Ngoài ảnh hưởng của tuyên cáo, các thành viên của nhóm đã có những ảnh hưởng chính trị riêng của cá nhân hoặc dưới danh nghĩa đảng phái.

Tuy vậy, ảnh hưởng của tuyên cáo làm chấn động chính trường Việt Nam Cộng hòa bấy giờ. Dù rất ôn hòa, nhưng đây là lần đầu tiên, một nhóm chính khách dám ra tuyên cáo chống quyền lực của tổng thống Diệm, bấy giờ đang đạt đỉnh cao.

http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/articlefiles/122321-TRVTUYEN-1-300.jpgLuật sư Trần Văn Tuyên (1 tháng 9, 1913 - 28 tháng 10, 1976) là một trong các lãnh tụ của Việt Nam Quốc dân Đảng, cựu dân biểu Hạ viện, sau làm Phó thủ tướng Việt Nam Cộng hòa. Ông cũng là một trong các trưởng thuộc thế hệ sáng lập Hướng đạo Việt Nam . Ông đã bị chính quyền Cộng hòa Miền Nam Việt Nam bắt ngay sau khi Sài Gòn thất thủ và đã chết trong trại tù.

http://www.daophatkhatsi.net/UserImages/1/2010/02/07/pic115_jpg.jpgNi Trưởng Thích Nữ Huỳnh Liên thế danh Nguyễn Thị Trừ, sinh năm 1923 tại làng Phú Mỹ, tỉnh Mỹ Tho (Tiền Giang ngày nay). Thân phụ là cụ ông Nguyễn Văn Vận đã qua đời, thân mẫu là bà Lê Thị Thảo đã xuất gia, thọ Tỳ Kheo Ni trong Hệ Phái Khất Sĩ, pháp danh Thiện Liên, viên tịch ngày 3 tháng 4 năm Kỷ Mão tại Bến Tre, hưởng thọ 89 tuổi. Năm 1943, khi được 20 tuổi, Cố Ni Trưởng đã quy y Phật Đường Minh Sư, tu học theo hạnh cư sĩ tại gia.Năm 1946, khi Đức Tôn Sư Minh Đăng Quang, Tổ khai sơn Hệ Phái Khất Sĩ tại Việt Nam, được các cư sĩ thỉnh về hoằng pháp tại chùa Linh Bửu, làng Phú Mỹ, tỉnh Mỹ Tho, thì Cố Ni Trưởng đã hội đủ phước duyên, cùng 2 bạn đồng hành là Ni Sư Nhị và Ni Sư Tam được Đức Tổ Sư chứng minh, làm lễ xuất gia vào ngày mùng 1 tháng 4 năm Đinh Hợi (1947) tại chùa Linh Bửu, thọ ký pháp danh là Huỳnh Liên, Bạch Liên, Thanh Liên mà Ni Trưởng là Trưởng tử Ni của Đức Tổ Sư. Lần lược cả 3 vị đều được Đức Tổ Sư chứng minh, truyền thọ giới pháp Y Bát Khất Sĩ, làm Tỳ Kheo Ni, nối gót Tổ Thầy tu học, nếp sống vân du, phát triển mở mang Giáo Pháp.Năm 1954, Đức Tổ Sư Minh Đăng Quang thọ nạn và Ni Trưởng kế tục sự nghiệp Tổ Thầy, trực tiếp lãnh đạo hàng Ni chúng Khất Sĩ trong phận sự Ni Trưởng Ni.Từ năm 1947 đến năm 1948, tròn 40 năm tu học, Ni Trưởng đã léo lái Giáo Đoàn Ni Giới Khất Sĩ cùng con thuyền Giáo Hội Tăng Già truyền thừa Phật Pháp rộng sâu trong quần chúng nhân dân suốt hai miền Nam Trung nước Việt.
Từ năm 1960 đến năm 1975, miền Nam bước vào thời kỳ của khúc quanh lịch sử. Noi gương hạnh đức Bồ Tát Phổ Hiền, nối chí các Thiền Sư Vạn Hạnh và Khuông Việt, Cố Ni Trưởng chủ trương đem Đạo vào đời. Người đã tích cực vận động và nhiệt tâm tham gia vào các phong trào xuống đường đấu tranh đòi quyền sống, đấu tranh cho lý tưởng tự do, cho hòa bình, độc lập, thống nhất đất nước và trường tồn Đạo Pháp, " đạo quân đầu tròn " của Cố Ni Trưởng hiện diện cho đến ngày Miền Nam được hoàn toàn giải phóng.
Sau 30 tháng 4 năm 1975, Cố Ni Trưởng lại tiếp tục góp phần vào các phong trào xây dựng đất nước trong thời bình. Với chủ trương tích cực nhập thế, Người đặc biệt hướng về con đường từ thiện xã hội của giới Ni lưu vô cùng thiết thực : Các Quân y viện, Bệnh viện, Viện mồ côi, Nhà dưỡng lão, các Trại tâm thần, Trại phong, những gia đình cô đơn, khốn khó, những vùng bị bão lụt, thiên tai, nơi nào cũng có bóng áo vàng của Cố Ni Trưởng và chư Ni, Phật tử thường xuyên đến viếng thăm, ủy lạo, nhất là vào những ngày lễ lớn, và lễ truyền thống của Phật Giáo.
Những tháng cuối cuộc đời, thân tứ đại của Cố Ni Trưởng phải vào nằm bệnh viện. Vào lúc 16 giờ 20 phút ngày 16 tháng 4 năm 1987 (tức 19 tháng 3 năm Đinh Mão) Ni Trưởng thị tịch, hưởng thọ 65 tuổi, hạ lạp 41 mùa mưa.

- Công đức thế pháp của Cố Ni Trưởng trong xã hội và dân tộc như sau :
*
Từ năm 1947 đến năm 1954 Trưởng tử Ni trong hàng đệ tử của Đức Tổ Sư Minh Đăng Quang.
*
Từ năm 1954 đến năm 1987 Ni Trưởng Giáo Hội Ni Giới Khất Sĩ Việt Nam.
*
Từ năm 1976 đến năm 1987 Phó Chủ Tịch Ban liên lạc Phật Giáo yêu nước TP. HCM
* Từ năm 1980 đến năm 1981 Ủy viên Ban vận động thống nhất Phật Giáo Việt Nam.* Từ năm 1981 đến 1987 Ủy viên kiểm soát Hội Đồng Trị Sự Trung Ương Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam.* Từ năm 1960 đến năm 1975 hoặc âm thầm hoặc công khai tham gia đấu tranh cho hòa bình, độc lập, thống nhất đất nước.

* Từ năm 1975 thành viên Đoàn Đại Biểu miền Nam Hiệp Thương Thống Nhất Tổ Quốc Việt Nam.

* Từ năm 1976 đến năm 1980 Đại Biểu Quốc Hội Khóa VI. Nhiều nhiệm kỳ là Phó Chủ Tịch Ủy ban Mặt Trận Tổ Quốc TP, Ủy viên ủy Ban Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam, Phó Chủ Tịch Ủy Ban Bảo Vệ Hòa Bình Thế Giới của TP. HCM. Nhiều lần đi dự Đại Hội Tôn Giáo và Hòa Bình Thế Giới.

20 năm giới trẻ miền Nam Việt Nam
Nhà hát thành phố Sàigòn là nơi thao diễn của một số dân biểu đối lập hay thành phần thứ ba quậy (chữ dùng của Hồ Ngọc Nhuận) một cách hợp pháp và hợp hiến. Họ lại có 3 tờ báo là Đại Dân Tộc, Điện Tín và Tia Sáng hỗ trợ. Còn nhớ sau đám cưới Thiệu–Kỳ, chính phủ hứa sẽ cho lập chính phủ dân sự, có quốc hội và Thương Viện. Vì thế đi đến quyết định chọn ngày 11/9/1966 là ngày bầu cử Quốc Hội. Và cho đến 1975 đã có ba kỳ bầu dân biểu Quốc Hội: 1966-1967, 1967-1971 và 1971-1975.

Các dân biểu đối lập phần đông thuộc cánh miền Nam, còn trẻ. Dân biểu Nguyễn Hũu Hiệp, đơn vị Di Linh mới hai mươi lăm. Một thứ blanc bec 100%. Lý Quý Chung thì già hơn, 26 tuổi. Những người khác là Nguyễn Hữu Chung, Hỗ Ngọc Nhuận, Kiều Mộng Thu, Dương Văn Ba, Hồ Ngọc Cứ, Ngô Công Đức.
Trong bấy nhiêu vị trên, tôi nhận thấy Dương Văn Ba, dân biểu đơn vị Bạc Liêu cùng là quê của anh là đáng để nói nhất. Ba là người thừa thông minh, cho người khác cũng không hết, thông minh đến chỗ thành bá đạo, dám làm những việc tầy trời, tung hoành, mánh mung, dấu rất hay con bài tẩy không chỉ lúc anh chơi xì phé mà còn dấu cả con bài tẩy trong cuộc đời. Chính trị nhạy bén, ăn nói ngổ ngáo như đao chém, viết báo xã luận không thua gì ai. Sau 1975, Dương Văn Ba đi với cánh Võ Văn Kiệt và dính dáng trong vụ án Cimexcol nổi đình đám, có người phải tự tử chết, vụ kiện đi lên đến Trung ương Đảng. Tôi có hồ sơ vụ án. Dương Văn Ba bị bắt vào nằm 1987. Kể từ đó, sau một thời gian ở tù ngắn hạn. Không ai nhắc tới anh nữa.

Ông Nguyễn Hữu Thái (ảnh chụp ngày 22/4/2010).(*)

Thoạt tiên khi ông Kỳ lên lên làm Thủ tướng, ông muốn lấy lòng cánh miền Nam nên đã nhờ kỹ sư Võ Long Triều qua trung gian Lm Nguyễn Quang Lãm, bạn học với Võ Long Triều ở Paris. Sau đó, qua cái vòng quen biết của Võ Long Triễu cứ thế mà nới rộng ra. Qua ông Triều mà Đại học Cần Thơ có mặt cũng như chương trình Phát triển quận 8 thành hình. Ông Võ Long Triều đã thay mặt ông Kỳ mời các nhân vật miền Nam sau đây đến dự một bữa tiệc như Nguyễn Văn Trườnng, Âu Trường Thanh, Âu Ngọc Hồ, Khương Hữu Điểu, Trương Văn Thuấn, Nguyễn Văn Bông. Sau này ông Nguyễn Văn Bông bị ám sát chết. Vậy là sau này Âu Trường Thanh trở thành Bộ trưởng Bộ tài chánh,Trương Văn Thuấn, giao thông, Nguyễn Văn Trường, giáo dục, Trương Thái Tôn, kinh tế. Chỉ có Nguyễn Văn Bông từ chối làm Bộ Trưởng tại Phủ Thủ tướng. Ông Bông sau này bị ám chét giông như trường hợp ông Trần Văn Văn vậy. Là ai thì nhiêu dư luận đồn đại lắm.

Khối thành phần thứ ba này còn gọi là khối độc lập gồm 20 dân biểu. Muốn trở thành Khối trong Hạ viên thì tối thiểu có 20 người. Cuối cùng nhóm này vẫn thiếu một người. May quá, họ móc nối được với một dân biểu độc lập. Ông Giáp Văn Thập nguyên là chủ trường dạylái xe hơi chuyên nghiệp. Mới đầu ông chỉ nhận gia nhập khối với điều kiện ông làm trưởng khối. Thương lượng rồi ông quyết định chịu làm Phó Trưởng khối.

Phần viết bài này dựa trên một số dữ kiện có thật trong sinh hoạt Quốc Hội thời kỳ đó. Còn rất nhiều cựu dân biểu thời kỳ đó có thể đối chứng và nếu có điều gì sai sót, tôi xin sửa. Nhưng nếu đúng thì xin nhận. Nhận mà đừng tức giận người viết. Người viết chỉ muốn sự thật. Sự thật mà thôi.

Một điểm son là miền Nam ở Hạ viện đã có đối lập. Ít là như thế. Đối lập không phải như một thứ kiểng. Bởi vì nó cũng gây nhức đầu cho Tổng Thống Thiệu và sau này phụ tá Nguyễn Văn Ngân. Đã hẳn cũng có đối lập cuội, đi hàng hai, thò ra thụt vào. Đã hẳn cũng có những dân biểu ôn hoà. Nhưng vào thời kỳ đó, ai cũng có thể nghi ngờ ai. Anh không theo tôi là anh đi với nhà cầm quyền. Trong hoàn cảnh đó, người biết điều trở thàn nạn nhân của ngộ nhận chụp mũ. Nó có khác gì, không chỐng Cộng như mọi người cũng nhậ đủ thứ mũ?

Trong nhiệm kỳ đầu, Hạ viện có nhiều nhóm, khối. Nhóm thì ít người, khối thì từ 20 người trỏ lên.

Nhóm Xã hội mới thì có Hồ Ngọc Nhuận, Ngô Công Đức, Hồ Văn Minh và mấy dân biểu trẻ gốc Tân Đại Việt của giáo sư Nguyễn Ngọc Huy.

Nhóm Quốc Dân Đảng, miền Trung với Phan Thiệp, Nguyễn Mậu Lê, Lê Đình Duyên.

Nhóm Phật giáo miền Trung có bác sĩ Nguyễn Đại Bảng, Phan Xuân Huy (anh này theo Cộng sản).

Khối Cộng Hoà thì chiếm đa số, thuộc TT Nguyễn Văn Thiệu.
Còn lại lẻ tẻ vài dân biểu đối lập.
Xem ra trò chơi dân chủ không hẳn dễ. Sang nhiệm kỳ 2 và 3, người ta đã biết phối hợp vào chung một khối xã hội gôm có Phật giáo, đảng phái và công giáo với Nguyễn Văn Binh. Và trách nhiệm trưởng khối này được giao cho một người rất có uy tín là Luật sư Trần Văn Tuyên. Ông chết trong tù Cộng Sản và tôi đang muốn viết lại cuộc đời của vị luật sư này. (32)
Cuộc bầu cử độc diễn của TT Nguyễn Văn Thiệu
Về việc này, ông phụ tá Nguyễn Văn Ngân đã có lời giải thích, vì chính ông là tác giả bộ luật ấy. Nhưng bạn đọc thử đọc theo cái nhìn của người dân thường không rành rẽ pháp luật xem thế nào?
TT Nguyễn Văn Thiệu muốn nắm phần chắc cuộc tuyển cử này. Dự luật được gửi đến Hạ viện và tranh cãi mấy ngày vẫn chưa thông qua được. Thường thì luật do phía dân cử nộp. Nhưng ở Việt Nam, rất nhiều dự án luật do TT đưa ra và đã được Quốc hội phê chuẩn.
Nội dung dự thảo luật độc diễn nó như thế nào? Nó trù liệu ứng cử viên Tổng Thống phải có 40 chữ ký dân biểu hay nghị sĩ hoặc 100 chữ ký của các hội đồng tỉnh. Nghe thì dễ, nhưng trầy vẩy. Với luật này TT Thiệu đã trói tay hầu hết các ứng cử viên. Ông Minh dốc toàn lực ra mới có đủ số 40 khít khao của luật pháp. Đến ông Kỳ thì phải đi kiếm phiếu ở các Hội đồng tỉnh. Cũng kẹt luôn, họ đã ký dành cho ông Thiệu rồi.
Và người ta mới thấy cái cảnh một đoàn xe có hộ tống của các nghị viên chạy đến tối Cao Pháp Viện xin thay đổi chữ ký. Ông Kỳ được 101 chữ ký của nghị viên, nhưng trong đó đã có 39 tên nghị viên có trong danh sách ủng hộ Thiệu.Thay lam sao được, tay đã nhúng chàm, trót ký rồi thì ráng chịu.
Dân biểu Ngô Công Đức, không biết tại sao đã bay về Vĩnh Bình, tát cho bằng được anh nghị viên Bác sĩ Phạm Hữu Gia. Ngô Công Đức bị bắt quả tang đánh người. Dân biểu đối lập phá thối không bầu bán gì trước khi thả Ngô Công Đức.
http://honvietquochoc.com.vn/HonViet/files/34/34ddce60-020f-44f9-a6ec-ceca5243c887.jpgĐinh Văn Đệ, điệp viên chiến lược dưới vỏ bọc là Chủ tịch Uỷ ban Quốc phòng Hạ Viện Việt Nam Cộng Hoà
Người hùng Nguyễn Cao Kỳ ra tay nghĩa hiệp cho trực thăng đến chở các dân biểu đối lập Đinh Văn Đệ, Phan Xuân Huy, Hồ Ngọc Nhuận, Trần Minh Nhựt và Dương Văn Ba. Trên đường về lại Sài gòn chưa được bao lâu thì Đức bị bắt ngay.
Ở Hạ viện thì phụ tá Ngân đang lập bộ chỉ huy tiền phương ngay trong văn phòng Tổng Thư Ký Hạ viện là Nguyễn Văn Nhuệ. Nhuệ thay thế dân biểu Trần Ngọc Châu đã bị TT Thiệu bắt. Ông Ngân đang ngồi gậm bánh mì thì dân biểu Hồ Ngọc Nhuận được mời vào. Ông Ngân có nói với Hồ Ngọc Nhuận như sau: “Toa cũng biết, tụi moa có dư túc số để thông qua dự luật, nhưng không muốn dằng co quá mức.” Hồ Ngọc Nhuận trả lời bằng mọi giá thả Ngô Công Đức rồi mới nói đến việc khác. Cãi qua , cãi lại rội dự luật bầu cử Tổng Thống cũng được cũng được thông qua, vì phiếu chống của đối lập trước sau cũng chỉ là thiểu số. Và Đức được thả. Cũng lại công của tướng Kỳ.
Nhưng điều mà cả ông Thiệu và ông Ngân không tính trước được là đến ngày 20/8/1971, ông Minh dù đủ số phiếu đã tuyên bố rút lui. Lý do là Ông Minh có trong tay tài liệu chứng tỏ ông Thiệu đã ra chỉ thị cho các tỉnh trưởng phải làm gì để ông được thắng cử.
Theo ông Lý Quý Chung, ông Minh đã trao tài liệu này cho ông Bunker và ông Bunker xác nhận là tài liệu thật.
http://hoanghaithuy.files.wordpress.com/2008/09/dvminh.jpg?w=468Phe ông Minh phải tìm cách để ông Kỳ đủ điều kiện ứng cử, nếu không ông Thiệu sẽ phải ứng cử một mình. Đến lượt ông Kỳ tuyên bố vào ngày 23/8 là không ra ứng cử. ông tuyên bố với báo chí: “Tôi không tiếp tay cho một trò hề bẩn thỉu, càng làm cho người dân vỡ mộng với chế độ dân chủ.
Sau này gặp lại TT Thiệu trong một dịp tiếp tân ở Hạ viện, ông Thiệu nói: “các anh làm tôi bạc đầu”. Mà ông ấy bạc đầu thật.
Sau này, Ngô Công Đức bị đánh bại khi ứng cử vào hạ viện, anh đã phải nhờ dân biệu Thạch Phen giúp đưa trốn sang Cam bốt, Thái Lan rôi lưu vong sang Âu Châu. Mãi tháng 5/1975, Đức mới về lại Sài gòn. Phần Dương Văn Ba sau này cũng bị thất cử cũng phải trốn nhui trốn nhủi trong dinh Hoa Lan của ông Dương Văn Minh.
Sau đây, chúng ta thử tìm hiểu xem, họ đã làm được điều gì trong 9 năm đó.
Trước hết, chống Mỹ và chống chiến tranh:
Kể từ cái ngày 8/3/1965, 3500 lính Hải quân Mỹ đã đổ bộ xuống Hải cảng Đà Nẵng và đã có rất nhiều nữ sinh Trung học Đà Nẵng choàng những vòng hoa đón tiếp các quân nhân Mỹ. Và từ đó cho đến cuối năm, đã nâng số lính Mỹ lên 184.314. Cuối năm 1966, con số đã lên gần 400.000 người và cuối năm 1967 là 500.000 người.
Các vị dân biểu đối lập thành phần thư ba đã dựa trên điều luật nào để phản đối sự gia tăng quân số người Mỹ?
Đã thế, tôi còn nhận ra một điều là chống mỹ mà vẫn chơi với Mỹ, vẫn thích là bạn của những người Mỵ Trường hợp dân biểu Lý Quý Chung dành hẳn một chương trong hồi ký của ông để nói về những người bạn Mỹ này.
Ông Lý Quý chung đưa ra nhận xét: “Có lẽ trên thế giới chưa có một thủ tướng nào mời người tham gia nội các một cách độc đáo như thế.
Nguyễn Văn Lục© 2006 DCVOnline

http://www.bachkhoatoanthu.gov.vn/Uploaded/hai1007/anh%20hoi%20dong/NgoBaThanh.jpgNữ luật sư Ngô Bá Thành (1931 - 2004), tên thật là Phạm Thị Thanh Vân (Ngô Bá Thành là tên người chồng quá cố của bà) nguyên là Chủ nhiệm Ủy ban pháp luật Quốc hội các khoá 6, 7, 8 và 10, nguyên Phó Chủ tịch Hội Luật gia Việt Nam.

Bà sinh ra tại xã Tùng Ảnh, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh, là con gái của ông Phạm Văn Huyến, bác sĩ thú y đầu tiên của Việt Nam. Năm 26 tuổi, bà bảo vệ xuất sắc luận án tiến sĩ Luật tại Pháp. Sau đó, bà được đích thân Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc thời bấy giờ, ông Dag Hammarskjöld, mời làm việc cho ban luật quốc tế với tư cách là nữ luật gia Việt Nam đầu tiên thông thạo ba hệ thống pháp luật và ba ngoại ngữ Anh, PhápTây Ban Nha. Tuy nhiên bà đã từ chối để nhận một công việc khác tại Việt Nam.

Bà là Phó Chủ tịch Hội luật gia Việt Nam, Uỷ viên Đoàn chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, nguyên Chủ nhiệm Uỷ ban pháp luật Quốc hội, Đại biểu Quốc hội từ khóa 6 đến khóa 8 và khóa 10. Tuy nhiên trong lần ứng cử tại thành phố Hồ Chí Minh năm 1992 vào Quốc hội khóa 9, bà đã không được bầu. Trong trả lời phỏng vấn của đài BBC, bà đã tức giận gọi đây là sự gian lận. Đến khóa sau, bà được Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giới thiệu ra ứng cử tại Hà Nội và đã trúng cử vào Quốc hội khóa 10 (1997). Tới lần bầu cử Quốc hội khóa 11, bà cũng ra ứng cử tại Hà Nội nhưng đã thất cử mặc dù đang là Chủ nhiệm Ủy ban pháp luật của Quốc hội khóa 10.

Năm 1998 Uỷ ban về Phụ nữ của Viện Tiểu sử Hoa Kỳ (ABI) đã bầu bà là "Người phụ nữ của năm 1998". Cũng năm đó Trung tâm tiểu sử quốc tế (IBC) bầu bà là "Người phụ nữ thiên niên kỷ", đồng thời trao cho bà chức vụ Phó tổng giám đốc Trung tâm tiểu sử quốc tế đầu tiên khu vực châu Á".

http://2.bp.blogspot.com/_pXpkf6tfFd4/S-zl4LnzVgI/AAAAAAAAAPA/LeFgSqU6XEk/s320/lychanhtrung.jpgÔng Lý Chánh Trung sinh năm 1929 ở Trà Vinh, theo đạo Công Giáo vào khoảng năm 1949, năm 1950 sang Bỉ học tại Đại Học Louvain, một đại học Công Giáo, ở cách thủ đô Brussells khoảng 30 cây số. Lý Chánh Trung học rất thông minh, tuy nhiên vào năm 1956 khi mới lấy xong Cử Nhân Tâm Lý Học và Cử Nhân Chính Trị Học, chưa đậu Tiến Sĩ, ông về nước.Tuy có trình độ kiến thức cao và vững vàng, tính tình hòa nhã, nhưng bước đường sự nghiệp của Lý Chánh Trung rất lận đận. Ông có người anh là Lý Chánh Đức, làm Giám Đốc Nha Học Liệu tại Bộ Quốc Gia Giáo Dục, đã xin cho ông vào làm Công Cán Ủy Viên của Bộ này. Về sau, ông được bổ làm Giám Đốc Nha Trung Học Công Lập. Ngoài ra, Lý Chánh Trung cũng được mời dạy triết học tại các Viện Đại Học Huế và Đà Lạt. Sau năm 1975, ông là Ủy viên Ủy Ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Phó Chủ tịch Ủy Ban Mặt Trận Tổ quốc Việt Nam Thành phố Hồ Chí Minh.Vốn là một giáo sư triết, tôn thờ Mounier và Karl Jasper, Lý Chánh Trung luôn nhìn vấn đề chính trị Việt Nam dưới lăng kính của một triết gia. Điều này thể hiện rất rõ qua các tác phẩm và bài báo của ông.Tác phẩm: - Cách Mạng và Đạo Đức (1966)- Ba Năm Xáo Trộn (1967)- Tìm Về Dân Tộc (1967)- Tìm Hiểu Nước Mỹ (1969)- Những Ngày Buồn Nôn (1972)- Tôn Giáo và Dân Tộc (1973)

VỀ NHÂN VẬT NGUYỄN NGỌC LAN

http://saigonecho.com/main/images/articles/2010/12/lm_nguyenngoclan.jpgGiáo sư Nguyễn Ngọc Lan (cựu linh mục) qua đời ngày 26 tháng 02, 2007 tại Sài Gòn. Cái chết của ông làm nổ ra cuộc tranh luận về hành trạng cuộc đời ông: Con đường ông đi đúng hay sai?

Talawas.org ngày 11.6.2007 đăng bài của Quỳnh Thi nhan đề ‘Đôi Điều Về Bài Viết ‘Lẽ Đương Nhiên’ Của Kiều Phong’. Trong bài này, tác giả Quỳnh Thi nhiệt tình bênh vực cố Giáo sư Nguyễn Ngọc Lan.

Trong cuộc đời nếu có thể tử tế với ai đó là một điều đáng qúy. Song nhiệt tình bênh vực chưa đủ, còn phải bênh cho chính xác nữa mới có sức thuyết phục. Không biết vào thời chiến tranh VN, tác giả Quỳnh Thi ở đâu, chính kiến ra sao mà lập luận trong bài viết lại khiến cho bất cứ độc giả nào, đứng về phía quốc gia chống lại cuộc xâm lược Miền Nam của CSBV, cũng cảm thấy có những điểm cần phải nói lại.

Quỳnh Thi kết cho ông Sức Mấy (Đinh Từ Thức) và Kiều Phong là mạ lị, vu khống, xỉ nhục một người đấu tranh cho đất nước vừa từ trần (tức Nguyễn Ngọc Lan) vì đã cho rằng Nguyễn Ngọc Lan ‘đâm sau lưng chiến sĩ’. Lập luận của Quỳnh Thi như sau: NNL chống chiến tranh vô nghĩa, cốt nhục tương tàn và chống chính quyền đầy bất công, tham nhũng. Và những việc làm ấy của NNL được luật pháp bảo vệ vì ông sống trong một nước theo pháp trị, công nhận quyền lập đảng đối lập, quyền tự do báo chí. Do đó không thể nói NNL hoạt động ‘bí mật, lén lút’ hay là ‘đâm sau lưng, đâm trộm, đâm lén, kẻ thù giấu tên, giấu mặt, tránh sự lộ diện của mình’.

Phần đầu lời phát biểu trên đây của Quỳnh Thi liên quan tới việc xác định chính nghĩa của cuộc chiến Quốc - Cộng. Đây là một đề tài quan trọng và to lớn đã được nhiều tác giả trong và ngoài nước đề cập. Tuy hành trạng của Gs. Nguyễn Ngọc Lan mới là chủ đích của bài viết, nhưng khi đưa ra một số nhận xét về tạp chí Đối Diện (Nguyễn Ngọc Lan là chủ bút) dưới đây, chúng tôi cũng sẽ nêu lên vài ý có liên quan tới chính nghĩa của cuộc chiến Quốc - Cộng, để chỉ ra chủ trương, đường lối sai lầm và tai hại của tờ tạp chí này.

Về phần sau lời phát biểu bênh vực Gs. Nguyễn Ngọc Lan của Quỳnh Thi, xin khẳng định ngay: Nguyễn Ngọc Lan chẳng những là kẻ ‘đâm sau lưng, đâm trộm, đâm lén’ bằng những việc làm lén lút mà còn là kẻ đâm thẳng vào mặt các chiến sĩ và toàn dân miền Nam yêu tự do bằng các hoạt động công khai để tiếp tay cho Cộng Sản chống lại VNCH của ông.

Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hòa 1967 công nhận các quyền tự do căn bản, nhưng Điều 4 Hiến Pháp không chấp nhận Cộng Sản: ĐIỀU 4
1- Việt Nam Cộng Hòa chống lại chủ nghĩa cộng sản dưới mọi hình thức
2- Mọi hành vi nhằm mục đích tuyên truyền hay thực hiện chủ nghĩa cộng sản đều bị cấm chỉ
.

Do đó, những công dân nào hoạt động có lợi cho CS là phạm pháp và hoạt động làm lợi cho CS của họ cũng bị ngăn cấm.

Nguyễn Ngọc Lan dùng những quyền tự do căn bản hiến định để công khai và hiên ngang chống chính quyền VNCH. Ông hung hăng đến nỗi đã vượt quá mức giới hạn của một người đối lập, tới chỗ ngả sang cộng tác trực tiếp với Cộng Sản.

PhotobucketÔng Châu Tâm Luân

Hoạt động công khai bằng báo chí

Ngay khi còn ở bên Pháp, Nguyễn Ngọc Lan đã bắt đầu viết lách chống chính phủ của Tổng thống Ngô Đình Diệm về việc ông cho là chính phủ đã đàn áp Phật giáo bằng bài báo nhan đề ‘Phật tử, người anh em của tôi, Bouddhiste, mon prochain(đăng trên báo Témoignage Chrétien,29.8.1963).

1.Từ 1964 tới 1968: Nguyễn Ngọc Lan cộng tác với các báo có khuynh hướng cấp tiến: Hành Trình, Đất Nước.

2.Từ 1970 tới 1971: Viết cho Tin Sáng có xu hướng khuynh tả (những bài này sau được gom thành sách Cho Cây Rừng Còn Xanh Lá, gồm 50 bài).

Tất cả các bài viết của Nguyễn Ngọc Lan cho thấy ông là một trí thức đầy ảo tưởng. ‘Giá trị’ của những bài viết của các trí thức loại này sẽ đưa tới hậu quả đúng như Gs. Nguyễn Văn Trung đã nhận xét: ‘Tham gia Cách mạng là tham gia vào một quá trình tự tiêu diệt sau này’ (Tạp chí Văn Học (HK) Số 174 tháng 10. 2000).

3. Đặc biệt là Nguyễn Ngọc Lan cùng với Lm. Chân Tín cho ra tạp chí Đối Diện (1970), quy tụ những cây bút với các bài viết thiên Cộng rõ rệt: Bài Học Cách Mạng Của Lênin (Đối Diện, 12.1970); Diễn Tiến Cuộc Xây Dựng và Phát Triển Chính Sách Thực Dân Mới Của Mỹ Tại Việt Nam (Đối Diện, 8.1971); Khái Niệm Về Chủ Nghĩa Thực Dân Mới (Đối diện, 6.1972); Diễn Tiến và Ý Nghĩa Của Cách Mạng Tháng Tám (Đối Diện, 8.1972); Miền Bắc Có Gì Lạ (Đối Diện, 2.1974)...

Chưa nói đến những tác giả khác đã cộng tác với Đối Diện, chỉ kể ra vài cây viết chủ chốt:

* Chủ nhiệm Đối Diện là Lm. Chân Tín được CS gài vào chức Phó chủ tịch của cái gọi là Ủy Ban Vận Động Cải Thiện Chế Độ Lao Tù Miền Nam Việt Nam. Sau 30.4.75, Lm. Chân Tín ra tranh cử Quốc hội, bị Lm. Huỳnh Công Minh đánh bại, thành ra mờ nhạt dần đến chỗ trở lại chống CS (dĩ nhiên còn có thêm một số những nguyên do khác nữa). Trong tạp chí Văn Học số 124, trang 67, Gs. Nguyễn Văn Trung nhận xét về Lm.Chân Tín: Linh mục Chân Tín khi làm chủ nhiệm báo Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp chống Cộng rõ rệt, nhưng khi làm tạp chí Đối Diện thay đổi lòng chuyển sang CHỐNG CHỐNG CỘNG …Bây giờ linh mục lại chống Cộng’!

http://www.nuvuongcongly.net/images/Chan-Tin.jpg* Chủ bút Đối Diện là Nguyễn Ngọc Lan. Lm. Chân Tín và Gs. Nguyễn Ngọc Lan như hình với bóng, luôn sát cánh nhau. Học giả Cao Thế Dung ghi nhận: ‘Năm 1975, ông Nguyễn Ngọc Lan viết và công khai tuyên bố: ‘Chế độ CS ở Bắc Việt là chế độ không còn mối mọt’. (Cao Thế Dung. Công Giáo Việt Nam Trong Dòng Sinh Mệnh Dân Tộc. Dân Chúa xuất bản, 1988. Trang 240).

* Cũng trên Đối Diện, Lm.Trương Bá Cần viết bài ‘25 Năm Xây Dựng Xã Hội Chủ Nghĩa Ở Miền Bắc’, đăng 3 kì vào năm 1971, để ca ngợi CSVN. Vì bài này mà tạp chí Đối Diện bị truy tố, khiến cho tự nhiên tạp chí vô danh này được nhiều người biết tới. Sau 1975, Lm. Trương Bá Cần nắm tờ Công Giáo Và Dân Tộc . Tờ này do một linh mục thiên Cộng khác ở Pháp tên là Nguyễn Đình Thi chuyển về VN cho nhóm Trương Bá Cần. Trên tờ Công Giáo và Dân Tộc, Lm. Trương Bá Cần đã khoe khoang thành tích cúc cung tận tụy ‘với Bác với Đảng’ như sau: ‘ Năm 1972, trong khí thế vô cùng phấn khởi của cuộc tiến quân anh dũng sau Trị Thiên, Tây Nguyên, Bình Long, Phước Long đang đem cuộc chiến tới hồi kết thúc, anh Phan Khắc Từ nhất định tổ chức lễ giỗ Bác một cách rộng rãi hơn mọi lần…Với ý định như vậy, chúng tôi họp nhau để làm giỗ Bác, chung quanh một bàn tiệc Thánh…Ý định của Thiên Chúa quả đã bắt đầu được thực hiện trên đất nước Việt Nam, nhờ công lao của Hồ Chủ tịch. Nếu Hồ chủ tịch muốn vào nước Trời, Người sẽ vào trước ai hết’. (Công Giáo Và Dân Tộc số 8, tháng 9.1975 và số 44 tháng 5. 1976. Cao Thế Dung trích dẫn. Sđd).).

Vài nhận xét về báo Đối Diện:

Nói chung, tất cả những tội gì báo Đối Diện nêu ra để tố cáo chính quyền VNCH (tội ác gây chiến tranh, tội ác trong chiến tranh, làm tay sai cho đế quốc Mĩ, không bảo vệ được độc lập và toàn vẹn lãnh thổ, không đem lại cơm no áo ấm cho đồng bào, đàn áp bắt bớ, tham nhũng, bầu cử gian lận, vi phạm tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do tôn giáo, tự do đi lại …) thì CSBV còn vi phạm trầm trọng gấp trăm lần, nhưng Đối Diện lờ đi, không bao giờ nói tới. Đối Diện chỉ một chiều bôi lọ, vu cáo chính quyền VNCH với mục đích làm mất uy tín của chính quyền đối với dư luận trong và ngoài nước, đồng thời xúi giục người dân chống chính quyền VNCH.

Đành rằng chính quyền miền Nam còn những khiếm khuyết nhất định, xã hội miền Nam chưa phải là toàn bích, nhưng nếu đem so sánh với chính quyền độc tài đảng trị miền Bắc và chế độ Cộng sản vừa không tưởng vừa dối trá, tàn ác đã kềm kẹp toàn dân miền Bắc trong đói khổ cùng cực suốt mấy chục năm, thì người dân sẽ lựa chọn bên nào? Giữa hai sự khốn khó, đương nhiên người ta sẽ chọn sự ít khốn khó hơn.

Nếu là một người có nhận xét khách quan và công bằng, chắc chắn phải thấy rõ CS Hà Nội không đem lại cho dân cho nước nhiều độc lập, nhiều tự do, nhiều hạnh phúc hơn VNCH. Sau 30/4/1975, có biết bao nhiêu người từ miền Bắc vào Nam đã có dịp so sánh thực trạng quá chênh lệch về mọi phương diện trong đời sống giữa hai miền đất nước. Thực trạng quá nghèo khổ và mất đủ mọi thứ tự do của dân chúng miền Bắc, đã vạch trần bài viết ‘25 Năm Xây Dựng XHCH ở Miền Bắc’ của Lm. Trương Bá Cần trên báo Đối Diện chỉ là một lời nói dối, một trò lửa đảo, một mánh khoé tuyên truyền.

Nhìn ra thế giới bên ngoài, ngày nay nhân loại được chứng kiến và có đủ yếu tố để so sánh giữa thực trạng lầm than khốn khổ của dân chúng Bắc Hàn với cuộc sống phát triển thịnh vượng vượt bậc của người dân Nam Hàn. Thế giới cũng biết khi nước Đức thống nhất trở lại, Tây Đức tự do đã phải bỏ ra hàng trăm tỉ Đô la để vực dậy nền kinh tế của Đông Đức Cộng sản.

Dân tộc Việt Nam vốn có truyền thống chống ngoại xâm. Để khích động lòng yêu nước của dân chúng và giành lấy chính nghĩa, đảng Cộng sản rêu rao khẩu hiệu ‘Chống Mĩ cứu nước’và tìm mọi cách tuyên truyền rằng họ phát động cuộc chiến là để bảo vệ độc lập cho nước nhà. Nhưng những gì đã diễn ra sau cuộc chiến (dâng đất, dâng biển cho Tầu; cho Tầu thuê dài hạn rừng đầu nguồn; cho Tầu khai thách bâu xít miền cao nguyên chiến lược; làm ngơ để Tầu xâm lăng và chèn ép nền kinh tế nước ta…), chứng tỏ tất cả chỉ là một trò bịp bợm khổng lồ. Rốt cuộc, sau khi người dân VN đã phải hi sinh quá to lớn, xương chất thành núi, máu chảy thành sông, thì đất nước tuy được thống nhất, nhưng không được độc lập thật sự, không bảo toàn được lãnh thổ, không hề ‘sạch bóng quân thù’! Đúng như ông Ngô Đình Nhu đã cảnh báo về tai họa này trước đây cả nửa thế kỉ: ‘ Giả sử mà Nam Việt bị Bắc Việt thôn tính, thì sự Trung Cộng thôn tính Việt Nam chỉ là một vấn đề thời gian’ (Tùng Phong. Chính Đề Việt Nam. Sàigòn - Việt Nam. Trang 212).

Các hoạt động công khai khác

Ngoài những hoạt động báo chí, Nguyễn Ngọc Lan còn hăng say tham gia vào các cuộc biểu tình chống chính phủ. Ông từng nếm lựu đạn cay, dùi cui và từng bị đá trúng ‘dinh độc lập’! Nguyễn Ngọc Lan cũng tích cực ủng hộ trùm sinh viên tranh đấu Huỳnh Tấn Mẫm và cùng các thành phần tranh đấu ‘dàn chào’ gây áp lực tại các phiên tòa xét xử bọn sinh viên VC. Ông luôn khoác áo nhà tu, coi như một thứ bùa hộ mạng, mỗi khi đi tranh đấu với các , Huỳnh Công Minh, Trần Thế Luân…; với Ni sư Huỳnh Liên của Phong trào Phụ Nữ Đòi Quyền Sống…; hoặc nhập bọn cùng các kí giả để đi ‘ăn mày’ (Trong đó, có nhiều kí giả là Việt Cộng hoặc thân Cộng như: Tô Nguyệt Đình, Nam Đình, Thiếu Sơn, Trần Tlinh mục Phan Khắc Từấn Quốc…).

http://www2.vietbao.vn/images/vn2/chinh_tri/20688378_images564537_anhlinhmuc3.jpglinh mục Phan Khắc Từ

Nguyễn Ngọc Lan hoạt động lén lút

Trở lên, đã thấy Nguyễn Ngọc Lan lợi dụng những quyền tự do dân chủ do Hiến Pháp quy định để chống phá chính quyền miền Nam một cách công khai. Chưa đủ, Nguyễn Ngọc Lan còn tham gia các ‘hoạt động bí mật, lén lút’, và làm ‘kẻ thù giấu tên, giấu mặt…tránh sự lộ diện của mình’.

* Sau khi Báo Đối Diện bị truy tố và bị đóng cửa, Nguyễn Ngọc Lan và Lm.Chân Tín in báo trên Thủ Đức, nhưng phịa ra là in tại Canada! In xong, họ nhờ một nữ tu già người Tây Ban Nha dùng xe Deux Cheveaux chở báo về Sài Gòn. Hành động này cũng là một hành động ‘lén lút’ để ‘tránh sự lộ diện’, không phải là hành động của một nhà đối lập công khai hợp pháp.

* Đêm 30.4.1966, đi trên đường phố Đà Lạt cùng với tên đồ tể Nguyễn Đắc Xuân, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, Trần Trọng Thức, ‘chị’ Sâm, ca sĩ Khánh Ly, Gs. Nguyễn Ngọc Lan đã nói: ‘Bây giờ không còn con đường nào khác là con đường của Mặt trận Giải phóng’ (Nguyễn Đắc Xuân. Thư gửi họa sĩ Trịnh Cung. Huế, chớm Hè 2009. Damau.org).

* Như vậy, muộn nhất là từ 1966, Gs. Nguyễn Ngọc Lan đã chọn đứng hẳn về phía Mặt trận Giải phóng, viết lách và hành động dưới sự chỉ đạo từ mật khu. Núp dưới chiếc áo nhà tu, Nguyễn Ngọc Lan đã lập được nhiều công trạng, cho nên Bí thư Trung ương Cục Phạm Hùng chỉ thị phải bảo vệ Nguyễn Ngọc Lan. Cán bộ điều khiển của Nguyễn Ngọc Lan là Tạ Bá Tòng. Đương nhiên là họ phải bí mật liên lạc với nhau. Về điểm này, Trần Bạch Đằng xác nhận như sau: Tôi nhớ, ở chiến khu, Bí thư T.Ư Cục - anh Phạm Hùng có lần bảo tôi chú ý bảo vệ Nguyễn Ngọc Lan, nghe đâu ông đi lại bằng một chiếc xe gắn máy cũ kỹ, rất dễ bị ám hại. Tôi truyền đạt ý trên cho anh Tạ Bá Tòng, người trực tiếp liên hệ với Nguyễn Ngọc Lan’(Trần Bạch Đằng. Tiễn biệt anh, anh Nguyễn Ngọc Lan. vietbao.vn).

* Sau đợt Tổng tấn công vào Thủ đô Sài Gòn Tết Mậu Thân 1968, Nguyễn Ngọc Lan đã bí mật ra ‘bưng’ để ra mắt và nhận lệnh của Trần Bạch Đằng. Việc này lại càng phải bí mật hơn nữa. Trong hồi kí Cuộc Đời Và Ký Ức, trang 186, thuật lại cuộc tháo chạy khỏi Thủ đô Sài Gòn của Cộng quân sau khi bị Quân lực VNCH đánh cho chạy té khói, Trần Bạch Đằng cho biết: ‘Chúng tôi ngụ tại Tân Túc hai hôm và sau đó chuyển sang Nam Bến Lức, xã Bình Chánh. Tại đây, tôi gặp linh mục Nguyễn Ngọc Lan, giáo sư Châu Tâm Luân, Cao Hoài Hà, nhà văn Thiếu Sơn, các giáo sư Nguyễn Văn Chì, Lê Văn Chí…’.

* Khi Nguyễn Ngọc Lan qua đời, tác giả Lữ Phương (sinh viên tranh đấu hồi 1966,67,68) trong bài Tưởng Nhớ Một Người Anh Em. (Diendan.org) cũng xác nhận: ‘Đúng vào những ngày hôm đó, bằng một đầu mối khác, tôi cũng đã vào bưng như anh (tức Nguyễn Ngọc Lan), đúng cái nơi mà anh đã vào và cũng đã phải đi “chém vè” thục mạng dưới bom pháo dữ dội trong trận càn mà anh đã gặp. Sau đó cùng một số anh em khác (có Châu Tâm Luân, Thiếu Sơn…) anh trở về Sài Gòn, còn tôi thì ở lại, đội bom, nằm hầm bí mật mấy tháng, suýt chết mấy lần mới được chuyển lên R rồi ở lại đó mãi cho đến khi chiến tranh chấm dứt. Cũng như anh, lúc đó tôi cũng đồng ý ra bưng gặp những người cộng sản để tìm hoà bình cho đất nước (tôi được cấu tạo như thành viên của một tổ chức có cái tên lòng thòng là “Liên minh các Lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hoà bình Việt Nam, khu Sài Gòn Chợ Lớn, Gia Định”), tưởng hoà bình đã đến trong tầm tay, nhưng rồi đã phải đợi chờ đến 7 năm sau mới có được nhưng với một nội dung ngoài sự hình dung của anh và tôi vào những ngày Mậu Thân năm ấy’.

* Về việc làm sao mới có thể ‘đi khu’ hay ‘đi bưng’, các đương sự phải tuân thủ từng bước một cách hết sức nghiêm ngặt. Trường hợp Nguyễn Ngọc Lan và đồng bọn chạy theo ‘Cách mạng’ quá vội vàng cho nên có thể đã đốt đi một số giai đoạn. Trường hợp bình thường, để vào được tới ‘khu’, đối tượng phải tiếp xúc ít nhất từ 2 giao liên trở lên, phải áp dụng ngụy thức, ngụy trang, ngụy danh, bí danh, bí số, mật khẩu, đường đi thay đổi bất ngờ để chống theo dõi. Thậm chí vào tới khu, các đối tượng đều phải bịt mặt để tránh lộ diện, họ chỉ có thể đoán ra nhau nhờ nghe giọng nói trong các buổi lên lớp….

Sinh viên học sinh đi ‘khu’ như vậy thì Nguyễn Ngọc Lan đi ‘khu’ chắc chắn cũng phải theo một số những bước nghiêm ngặt ấy. Nghĩa là phải ‘giấu mặt, giấu tên, tránh sự lộ diện’. Tức là không thể gọi được là hành động công khai của một người hoạt động đối lập thuần túy.

Một sinh viên học sinh được chấm định đi ‘khu’ để học tập, đại khái phải qua từng bước như sau: Được đánh giá là ‘hạt nhân quần chúng tốt’ tùy theo thành phần gia đình và tư tưởng cá nhân có ‘tiến bộ’ không, rồi tiến lên được kết nạp làm hội viên Hội Liên Hiệp Học Sinh Sinh Viên Giải Phóng, lên nấc nữa là đoàn viên Đoàn Thanh Niên CS (hay Thành Đoàn), mức cuối cùng là trở thành đối tượng kết nạp tạm thời vào Đảng và sau chót mới là đảng viên thực thụ. Mỗi đối tượng đều phải kinh qua thử thách và lập được những thành tích cụ thể trước khi được nâng lên một cấp.

* Nguyễn Ngọc Lan là nhân vật nổi, có nhiều thành tích, cho nên trong ‘khu’ (hay ‘bưng’) đánh giá ông rất cao. Nguyễn Ngọc Lan đã vào ‘khu’ gặp Trần Bạch Đằng, nhưng may sao, ông chưa gia nhập đảng, nếu không, chắc chắn đâu phải chỉ có ‘Nhóm 4 anh em chúng tôi Minh-Cần-Từ-Bích’ (tức Huỳnh Công Minh, Trương Bá Cần, Phan Khắc Từ, Vương Đình Bích) mà có tới ‘nhóm 5 anh em chúng tôi’ (‘Tôi đã thành khẩn nói với hai anh Từ và Cần, là vấn đề thật của tổ chức chúng ta, không phải là Nhóm Nghiên Cứu (thần học), mà là nhóm 4 anh em chúng tôi Minh-Cần-Từ-Bích đã được Lãnh đạo gầy dựng và giao nhiệm vụ điều động Phong trào Công giáo yêu nước tại thành phố này’ (Trích thư riêng của Lm. Vương Đình Bích gửi cho Lãnh đạo Dân vận, Mặt trận và Ban Tôn giáo Tp. HCM ngày 25.12.1997. Tin Nhà số 32.Trang 18).

Qua phần trình bầy trên đây, thiển nghĩ đã tạm đủ cho thấy nhiệt tình bênh vực Nguyễn Ngọc Lan của Quỳnh Thi chỉ có thể thuyết phục được những độc giả trẻ tuổi hoặc là những độc giả sống ở ngoài Bắc trước 1975, chứ không thể thuyết phục được những độc giả ở miền Nam có chút quan tâm tới thời sự.

Đang khi quân đội VNCH nói riêng, và cả Miền Nam nói chung, hi sinh xương máu chiến đấu chống lại cuộc xâm lăng của CSBV, để bảo vệ cho người dân miền Nam, trong đó có Nguyễn Ngọc Lan và đồng bọn, được hưởng những quyền tự do căn bản, thì Nguyễn Ngọc Lan lại lợi dụng những quyền tự do Hiến định này để vừa hoạt động chống phá công khai, vừa hoạt động lén lút bí mật, tiếp tay cho cho CSBV thôn tính miền Nam tự do. Như thế, không phải là vừa đâm thẳng vào mặt, vừa‘đâm lén sau lưng chiến sĩ’ thì là gì?

Nhân dịp, xét cũng cần phải nói rõ luôn vài điểm khác nữa trong bài viết của tác giả Quỳnh Thi:

1. Nguyễn Ngọc Lan là nhà văn ‘cự phách’? Thiển nghĩ, có thể gọi Nguyễn Ngọc Lan là nhà văn, nhưng gọi ông là nhà báo có lẽ chính xác hơn. Nguyễn Ngọc Lan là nhà báo có tài viết bút chiến về những đề tài nóng bỏng chứ ông không có sách vở bàn sâu rộng về vấn đề nào.Vài cuốn sách của ông: Đường Hay Pháo Đài (1969), Cho Cây Rừng Còn Xanh Lá (1971), Nước Ta Còn Đó (1973), Chủ Nhật Hồng Giữa Mùa Tím (1997) là tập hợp những bút kí ngắn, những bài luận chiến hoặc là phê bình có giọng sâu cay. Ngay cả 3 tập Hồi Ký Nguyễn Ngọc Lan (1989-1990) sau này cũng giống như vậy.

2. ‘Bao nhiêu ngàn, bao nhiêu vạn học trò của ông…’ ? Gs.Nguyễn Ngọc Lan là ‘cha giáo’ của một nhóm nhỏ tu sinh Dòng Chúa Cứu Thế, và một dạo là giáo sư thỉnh giảng Triết học ở Đại học Huế. Sinh viên theo môn Triết bao giờ cũng rất ít; hơn nữa, đại học Huế tọa lạc tại một thành phố tương đối nhỏ. Cựu sinh viên Tuấn Nguyễn viết về lớp Triết của Gs. Nguyễn Ngọc Lan ở đại học Huế trong bài Nhớ Cha Nguyễn Ngọc Lan như sau: Lớp học chứng chỉ Luận lý và siêu hình học đâu chỉ vỏn vẹn có 6, 7 người, và khi nào cũng đông đủ(Dactrung.net). Như vậy thử hỏi lấy đâu ra mà có ‘bao nhiêu ngàn, bao nhiêu vạn học trò của ông phải xếp bút nghiên…’?

3. Quỳnh Thi cho rằng Nguyễn Ngọc Lan đã phê phán ngay cả Giáo Hội, nhưng không vì thế mà sự nể trọng của các giám mục đối với ông bị giảm sút, vì ông đã dám nói sự thật theo đúng Tin Mừng!

Tác giả Quỳnh Thi có quá lời chăng, có khẳng định điều mình không mấy thẩm quyền chăng? Làm gì có chuyện các giám mục phải ‘nể trọng’ Nguyễn Ngọc Lan. Lúc đó, có thật là Nguyễn Ngọc Lan đã ‘dám nói sự thật’ không? Và thế nào là ‘nói sự thật theo đúng Tin Mừng’? Nói ‘sự thật theo đúng Tin Mừng’đã khó, sống đúng Tin Mừng còn khó hơn? Nói mà không làm có khi lại là giả hình, là lạm dụng tôn giáo để tranh đấu hoặc mưu đồ chính trị đen tối.

Sự thật thì khi còn giảng dậy tại Học Viện Dòng Chúa Cứu Thế Đà Lạt, Gs. Nguyễn Ngọc Lan và Lm. Đinh Khắc Tiệu đã cổ xúy cho nền ‘Thần học Giải phóng’ phát xuất từ Nam Mĩ. Do vậy, một số vị giám mục tỏ ý lo ngại khuynh hướng cấp tiến này sẽ là mầm mống gây khủng hoảng trong lòng Giáo hội CGVN. Giám mục Đà Lạt lúc đó là Simon Hòa Nguyễn Văn Hiền đã phải cấm Lm.Nguyễn Ngọc Lan không được làm công tác mục vụ trong phạm vi giáo phận Đà Lạt (coi như phạt ‘treo chén’).

Sau này, đôi khi Nguyễn Ngọc Lan còn nhắc lại vụ này một cách cay cú. Chẳng hạn như ông đã viết một bài báo có nhan đề là: Một giám mục không gậy không mũ là một thằng HÈN. Đây là thuật ‘chơi chữ’ sâu cay sở trường của Nguyễn Ngọc Lan: Ông ta lấy tên của Giám mục HIỀN mà bỏ chữ I (tức cây gậy) và dấu mũ trên chữ E (cái mũ) thành ra chữ HÈN !.

Sự lo ngại càng lớn khi thấy Gs.Nguyễn Ngọc Lan từ Đà Lạt trở về Sài Gòn, vừa bằng ngòi bút vừa bằng hành động, đã tỏ ra đã hết sức hung hăng, tả xung hữu đột trong mọi cuộc tranh đấu chống phá chính quyền VNCH, gây xáo trộn thường xuyên ngay tại Thủ đô. Tuyệt nhiên, không ghi nhận một vị giám mục nào hoan nghênh phe nhóm Nguyễn Ngọc Lan.

Thêm vào đó, còn nhớ một lần vào năm 1973, tôi cùng với một anh bạn thân được hầu chuyện Đức Tổng Giám mục Nguyễn Văn Bình tại phòng khách tòa Tổng giám mục và tôi đã hỏi tại sao Ngài không có phản ứng gì đối với đám linh mục thiên Cộng Minh-Cần-Từ-Tín-Lan…thì Đức Tổng giám mục trả lời ý chính như sau: Cha có quyền làm gì chứ, nhưng để yên vậy, ít ai biết tới hơn. Nếu cha có biện pháp này nọ thì lập tức họ nổi tiếng như cồn. Các đài phát thanh Giải phóng, đài Hà Nội, rồi bên Âu châu, Mĩ châu sẽ thi nhau khai thác ồn ào ngay….

Xem như thế, lời khẳng định của Quỳnh Thi rằng các giám mục vẫn nể trọng Nguyễn Ngọc Lan là không có căn cứ xác thực.

4. Tác giả Quỳnh Thi còn khẳng định: Cuối thập niên 60, đầu 70, Nguyễn Ngọc Lan đi lại, điều phối, chỉ huy phong trào đấu tranh của các Tổng hội sinh viên học sinh Miền Nam một cách công khai. Ông vẫn đi dậy hết trường này tới trường khác, từ Nam ra Trung, chẳng ai dám đụng tới. Không phải vì ông có quyền lực gì mà vì ông được dân chúng, sinh viên, học sinh, mọi giới kính trọng, yêu mến.

Quỳnh Thi không nắm vững tình hình sinh hoạt của các phong trào sinh viên học sinh tại Miền Nam. Nói vắn tắt:

- Từ khoảng 1963-1966, hầu hết các phong trào sinh viên tranh đấu (đặc biệt là ở Sài Gòn) còn nằm trong tay những thành phần sinh viên quốc gia (Lê Hữu Bôi, Nguyễn Trọng Nho, Tô Lai Chánh...).

- Từ khoảng 1966 tới cuối 1971: Các chi bộ Cộng Sản chi phối được Tổng Hội và một số phân khoa tại Đại học Sài Gòn (thế là xuất hiện những tên tuổi như Hồ Hữu Nhựt, Lữ Phương , Trần Triệu Luật, Nguyễn Đăng Trừng, Huỳnh Tấn Mẫm, Trịnh Đình Ban, Tôn Thất Lập, Hà Thúc Thoan, Huỳnh Thiện Kim Tuyến, Trần Thị Lan, Trần Thị Huệ, Cao Thị Quế Hương, Trầm Khiêm, Dương Văn Đầy, Nguyễn Thị Yến, Phan Nguyệt Quờn, Huỳnh Quan Thư, Hạ Đình Nguyên, Trương Quốc Khánh, Trần Long Ẩn, học sinh Lê Văn Nuôi…

- Từ cuối 1971 cho tới 30.4.1975, các chi bộ CS và các sinh viên thân Cộng hoàn toàn bị loại khỏi Tổng hội sinh viên Sài Gòn và các phân khoa.

Như vậy, vì Nguyễn Ngọc Lan chống chính quyền quốc gia, đương nhiên ông không dính dánh tới các tổ chức sinh viên quốc gia khoảng thời gian 1963 tới 1966.

Đối với các tổ chức sinh viên thân Cộng, cao lắm ông chỉ dùng chút tên tuổi của mình và chiếc áo dòng để yểm trợ cho hoạt động của những tổ chức do các chi bộ Cộng Sản thuộc Thành Đoàn điều khiển, chứ ông không có vị thế nào để ‘điều phối, chỉ huy’ các phong trào sinh viên học sinh thiên Cộng này. Các chi bộ Cộng Sản ‘hoạt động trong lòng địch’ này được lãnh đạo chặt chẽ bởi các cán bộ Cộng sản cốt cán và xuất sắc nhất (Mời đọc thêm một bài khác của Bạch Diện Thư Sinh nhan đề: Sơ Lược Tổ Chức Cộng Sản Trong Giới Học Sinh, Sinh Viên Sài Gòn Trước 1975 và Các Cán Bộ Cốt Cán Của Những Tổ Chức Này).

- Sang thời kì từ cuối 1971 tới 30.4.1975, các tổ chức sinh viên học sinh thiên Cộng hoàn toàn bị quét sạch khỏi Tổng hội SV Sài Gòn và các phân khoa, Nguyễn Ngọc Lan lại càng không có chút ảnh hưởng nào đối với Tổng Hội SV Sài Gòn và với Ban Đại diện của các phân khoa nay nằm trong tay các sinh viên khuynh hướng quốc gia.

Thực tế, Nguyễn Ngọc Lan có ảnh hưởng đối với một số rất ít sinh viên Công Giáo thân Cộng thuộc tổ chức Thanh Lao Công và Nhóm cựu học viên Dòng Chúa Cứu Thế. Nhóm Thanh Lao Công như: Đoàn Khắc Xuyên (cựu tu sĩ Phanxicô), Nguyễn Xuân Hàm, Nguyễn Xuân Phổ, Nguyễn Văn Hồng, Nguyễn Văn Ngọc (1), Vũ Sĩ Hùng, Phạm Văn Phổ (Khoa học)…Nhóm cựu học viên Dòng Chúa Cứu Thế như: Vũ Sinh Hiên (2) …Kể luôn một số nữ sinh viên và học sinh CG thường xuyên sinh hoạt với Nguyễn Ngọc Lan, trong đó có cô Thanh Vân là người đến năm 1976 trở thành bà xã của ông.

(1) (‘Thời gian sau này [có thể rõ ràng từ sau Biến Cố Tết Mậu Thân, 1968], Nguyễn Văn Ngọc, sinh viên CG khoa học

hoạt động nằm vùng, làm TTK/TLĐ/VN [trụ sở Trung Tâm Phục Sinh, 229 Hiền Vương, Sàigòn 3].

Sau 30/4/1975 anh làm ở Thành Đoàn Tp Sàigòn, rồi làm Phó Trưởng Ban Tôn giáo đặc trách khối

Kitô giáo [1998-2003?] trong Ban Tôn Giáo của Chính Phủ Hà Nội’.

Theo Đỗ Hữu Nghiêm. Tập Thể Sinh Viên Công Giáo Việt Nam. Dunglac.org).

(2) (Vũ Sinh Hiên là tác giả một bài ca tụng trại cải tạo Xuyên Mộc đăng trong báo Đứng Dậy của Nguyễn Ngọc Lan

vào năm 1978 VS Hiên cũng là anh ruột của Vũ Đức Vượng, người gây tai tiếng một dạo trong cộng đồng

người Việt tại miền Bắc Cali. Vượng đã nhiều lần được Cộng Sản Việt Nam mời về Hà Nội để tưởng thưởng

chút công lao hãn mã của y), linh mục cởi áo tu Nguyễn Nghị (một vài cựu học viên

Dòng Chúa Cứu Thế nói Nguyễn Nghị đã tuyên thệ nhập đảng Cộng Sản)

5. Quỳnh Thi nói không ai đụng tới Nguyễn Ngọc Lan thì ‘hơi bị’ đúng, bởi vì chính quyền không nắm được bằng chứng ông đi ‘khu’. Một phần cũng nhờ cái áo chùng thâm của ông bao bọc che chở cho ông. Vả lại cái mạnh của chế độ tự do là ở thời bình, nhưng ngược lại, chế độ tự do trở thành rất yếu trong thời chiến, nó bó chân bó cẳng chính quyền. CS cũng là người VN cho nên họ dễ xâm nhập trà trộn, họ lại được huấn luyện cực kì kĩ lưỡng để hoạt động bí mật, để hoạt động khuynh loát chính quyền; họ dám dùng bạo lực, và mọi mánh khoé, mọi thủ đoạn. Họ sẵn sàng bắt và tiêu diệt bất cứ ai cản trở con đường của họ hoặc ngay cả không theo họ. Trong khi đó, chính phủ VNCH phải tôn trọng luật pháp, không đuợc bắt bớ ai nếu không có đủ bằng cớ phạm pháp. Trường hợp bắt do tình nghi, chỉ được tạm giam trong một thời gian ngắn để điều tra, nếu không đủ chứng cớ, bắt buộc phải thả ra. Thêm vào đó, chính quyền VNCH còn bị bó tay bởi các chính phủ và dư luận của các nước Âu Mĩ, nhất là Hoa Kì, cho nên mặc dù biết có những kẻ hoạt động cho Cộng Sản mà vẫn chỉ theo dõi mà không dám bắt giữ. Nguyễn Ngọc Lan là một trong số nhiều trí thức phản chiến ở Miền Nam được chế độ bảo vệ để họ tha hồ chống lại chế độ thời đó.

6. Ngày 18 tháng 6, 2007, trong một bài viết ngắn trên Talawas để trả lời Bs.Trần Văn Tích (Bác sĩ trưởng Phủ ĐUTƯTB, hiện cư ngụ tại Đức quốc), Quỳnh Thi vẫn nhất quyết cho rằng Nguyễn Ngọc Lan chỉ là nhà đối lập như bao nhà đối lập khác ở miền Nam. Theo Quỳnh Thi, những chính khách xôi thịt, những tay buôn bán vũ khí, thuốc Tây, lương thực với Việt Cộng, những viên chức chính quyền và quân sự tham nhũng, lính ma lính kiểng, những cấp chỉ huy bỏ lính chạy …mới là những kẻ đâm sau lưng chiến sĩ.

Chúng tôi đồng ý ngay với Quỳnh Thi khi cho rằng những kẻ buôn bán với Việt Cộng, tham nhũng, buôn lậu, lính ma lính kiểng, cấp chỉ huy bỏ lính chạy…đều là những kẻ đâm sau lưng chiến sĩ. Thực sự là có nhiều loại người đã đâm sau lưng chiến sĩ. Ở đây chỉ nói về nhân vật Nguyễn Ngọc Lan, không mở rộng ra tới các loại người đâm sau lưng chiến sĩ khác. Trong luật pháp có nguyên tắc: không thể thấy người khác phạm pháp thì mình cũng được phép phạm pháp. Giết người hay lái xe vượt đèn đỏ…nếu bị bắt, đương sự không thể nại lí do thấy kẻ khác cũng làm như vậy được.

Như phần đầu đã trình bầy, Nguyễn Ngọc Lan đã vượt quá vị trí của một nhà hoạt động đối lập theo hiến định. Nghĩa là đã thiên Cộng rõ ràng: đã làm ngơ trước mọi tội ác của CS, chỉ một chiều cáo giác phía VNCH mục đích làm suy yếu chính quyền VNCH, đã hoạt động chống chính quyền vừa công khai vừa lén lút và đã từng bí mật ra ‘khu’…Do đó, nói cho đầy đủ thì Nguyễn Ngọc Lan vừa là kẻ đâm thẳng vào mặt chiến sĩ vừa là kẻ đâm sau lưng chiến sĩ.

Sau 30 tháng 4 năm 1975

Nguyễn Ngọc Lan viết lách và ăn nói hết sức phóng túng. Ông đã gán ghép các đặc ngữ Công Giáo vào những bài viết loại trở cờ, còn gọi là loại ‘ba mươi tháng tư’ như: ‘Tin Mừng Ngày Giải Phóng’, ‘Anh em ơi hãy vui mừng, đó là tin mừng cứu độ được gửi tới anh em’ (‘mượn’ ý tên một Hiến chế lừng danh của Giáo Hội Công Giáo. Đó là Hiến Chế Gaudium et Spes: Vui Mừng và Hi Vọng). Chúa nhật đầu tiên sau ngày miền Nam bị Cộng Sản cưỡng chiếm, tức ngày 04.5.1975, Nguyễn Ngọc Lan nói trên tòa giảng nhà thờ Dòng Chúa Cứu: ‘… 10 giờ sáng ngày 30 tháng 4 sau bao nhiêu tháng ngày hoang mang, lo lắng, sợ hãi hay hồi hộp mong chờ. Hòa bình đã đến trên đất nước ta, hòa bình đã đến như phải đến đã đành, nhưng đặc biệt hòa bình lại đến mà không đi qua biển máu lửa, đổ nát tại Sàigòn như mọi người đã phải lo ngại hay tiên đoán’.

Rồi Chúa nhật thứ hai, ngày 11.5.1975, ông lại lên tòa giảng để ca ngợi con người Xã hội chủ nghĩa miền Bắc tốt hơn hẳn con người sống ở miền Nam: ‘Thế thì, thưa anh chị em, giữa hai giới đồng bào kia, một bên mộc mạc thật thà như thế, một bên quá tinh khôn và sẵn thói chụp giật, gạt gẫm như thế, chúng ta có thể tự hỏi: Chúa đang có mặt phía nào hơn. ‘Nước Trời’ đang bắt đầu tỏ hiện từ phía nào hơn’ (Nguyễn Antôn. Công Giáo Miền Nam sau 30.4.75. Dân Chúa xuất bản. Trang112,113).

Nhớ lại hồi trước 1975, ông đã từng viết: ‘Chúa hôm nay vẫn ở ngoài đường’, ‘Xin được chối từ Thiên đường’, ‘Chiến tranh của 500.000 lính Chúa Kitô’, ‘Chúa sắp vác chiếu ra tòa’...

Nguyễn Ngọc Lan theo Cộng, tiếp tay cho CS xâm chiếm Miền Nam VN. Coi như ông đã ‘kịp chuyến tầu’(Sức Mấy Đinh Từ Thức). Nhưng khi tầu cập bến thì ông bị Cộng Sản đá văng ra, không thương tiếc. CS dùng thứ thiệt như ‘nhóm 4 tên’ Minh-Cần-Từ-Bích cho chắc ăn (tức là các linh mục Huỳnh Công Minh, Trương Bá Cần, Phan Khắc Từ, Vương Đình Bích), chứ không dùng những tay ngu ngơ như ông. Sau khi ra đến số 114, tháng 12 năm 1978, CS bắt báo Đứng Dậy của ông (thối thân của Đối Diện, Đồng Dao) phài nằm xuống không được ‘đứng dậy’, phải chết.

Thật vậy, Nguyễn Ngọc Lan ‘vinh dự’ là một trong 25 nhân vật miền Nam được chọn tham quan Hội Nghị Hiệp Thương Thống Nhất đầu 9.1975 tại Hà Nội. Khi về, ai cũng khôn hồn lo trả bài, còn ông cứ tưởng bở như xưa cho nên đã dại dột nói lên cả cái tốt lẫn cái chưa tốt trong bài Hà Nội Tôi Thế Đó (có kẻ ‘xỏ lá’ đọc lái ra là Hà Nội Tồi Thế Đó). Chẳng hạn như thuật lại căn nhà khi ông rời Hà Nội trước 1954 nay trở lại thấy nước vôi cũ vẫn còn y nguyên… Hậu quả là Lm. Huỳnh Công Minh được phái tới gặp ông và nói: Thôi thì tờ Đứng Dậy đã“hoàn thành nhiệm vụ” của nó rồi, mình tính sang chuyện khác. Lãnh dạo tính nhờ anh đứng chủ bút tờ báo Thần học công giáo’.(Nguyễn Văn Lục. Nói Về Một Người Sắp Sửa Ra Đi: Nguyễn Ngọc Lan. Huongduongtxd.com).

Sau khi báo Đứng Dậy phải đình bản, cuộc sống của vợ chồng Nguyễn Ngọc Lan lâm vào hoàn cảnh bi đát. Ông đã tâm sự với nhà văn Thế Uyên: ‘Tôi bây giờ còn thua cả số phận của anh nữa. Hộ khẩu thường trú của tôi là tòa soạn, bây giờ xin chuyển về nhà riêng, Công an nhất định không cho. Tôi không có hộ khẩu, không có quyền mua gạo, không được vô bệnh viện, không được di chuyển, TÔI KHÔNG CÒN HIỆN HỮU, TÔI KHÔNG CÒN CÓ MẶT TRÊN THẾ GIAN NÀY NỮA…Tôi (Thế Uyên) an ủi anh (NNL): Dù sao anh vẫn còn được tự do và vẫn còn có chị (tức Thanh Vân, vợ của NNL)’ (Hồi ký của Thế Uyên. Nguyễn Văn Trung và Những Người Công Giáo Bạn Tôi. Phụ bản Tin Nhà số 4. Paris, Hè 1991. Trang 10).

Đến đó thì ông mới vỡ lẽ ra. Thế là ông quay ra chống Cộng.

Tóm lại, chúng tôi công nhận Gs. Nguyễn Ngọc Lan có trình độ và bằng cấp cao, đỗ tiến sĩ ở đại học Sorbonne với luận án về Thuyết tiến hóa (Nguyễn Văn Lục. Bđd.), có tài viết bút chiến sắc bén. Giọng văn ông đôi khi thông minh, dí dỏm, nhưng sâu cay, độc địa cho nên dễ làm cho đối phương buồn phiền, oán hận. Tư tưởng ông cấp tiến và quá lí tưởng, đến độ ảo tưởng. Còn lập trường chính trị của ông hồi đó thật sự là một chiều, bất công, phe phái, thiếu khách quan, rất bất lợi cho VNCH và đương nhiên ông trở thành kẻ có công lớn đối với Cộng sản. Ngày 28.02.2007, hai ngày sau khi Gs. Nguyễn Ngọc Lan qua đời, Trần Bạch Đằng viết bài Tiễn Biệt Anh, Anh Nguyễn Ngọc Lan. Trong đó, có đoạn tuyên dương công trạng như sau: Tôi nghĩ rằng nỗi buồn ấy không chỉ riêng của cá nhân tôi bởi trong phong trào đấu tranh chống Mỹ cứu nước ở thành phố Sài Gòn anh được biết đến như một người xung trận quả cảm, đồng hành với trí thức, học sinh, sinh viên, phật tử và đồng bào nói chung, nếu chúng ta nhớ thái độ của anh đối với sự hy sinh của Nhất Chi Mai, của công nhân Hãng pin Con Ó và nổi lên cuộc chống độc diễn của Nguyễn Văn Thiệu cùng tai họa do cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ gây trên đất nước chúng ta’ (vietbao.vn).

Nhận xét cuộc đời Gs. Nguyễn Ngọc Lan, thấy ông có tính bất mãn kinh niên, sống trong bất cứ môi trường nào ông cũng sẵn sàng phản kháng, khi còn tu cũng như khi cởi áo dòng ra sống ngoài đời. Gs. Nguyễn Văn Lục cũng đã lột tả tính khí ông vừa chính xác vừa rất dí dỏm: ‘Tôi chỉ có một nhận xét về Nguyễn Ngọc Lan như thế này. Không ở chế độ nào mà ông không là người đối lập. Đối lập là lý lẽ đời ông. Từ chối, phủ nhận, tranh đấu, bất đồng ý kiến, chính là bản thân con người của một trí thức khuynh tả. Mai mốt ông đi về nhà Cha thật là nước Thiên Đàng. Ở trên ấy chỉ có sướng. Một ngày nào đó ông sẽ bực mình hỏi Chúa rằng: Tại sao tôi lại sướng như thế này?’! ( Nguyễn Văn Lục. Nói Về Một Người Sp Sửa Ra Đi: Nguyễn Ngọc Lan. Huongduongtxd.com).

Với cá tính như vậy, cho nên khi bị CS bạc đãi, ông không chịu được, ông ngoái cổ lại cắn vào gót chân chúng. Phản ứng như thế, đối với CS, chúng coi như là phản ứng của một con chó dại, cần phải thủ tiêu ngay. Đúng vậy, ngày 04 tháng 5 năm 1998, CS sai bọn ‘ưng khuyển’ kết liễu đời Gs. Nguyễn Ngọc Lan bằng cách đạp cho ông và đàn anh của ông là Lm. Chân Tín té xe Honda trên đường đi đám tang tay Cộng Sản gốc Miền Nam, bất mãn và phản tỉnh là Nguyễn Văn Trấn (Bảy Trấn). Theo tờ Tin Nhà số 34, Tháng 7, 1998, Pháp, trang 20, thì ‘Giáo sư Nguyễn gọc Lan bị bất tỉnh ngay tại chỗ, mất nhiều máu, đưa vào bệnh viện khâu năm mũi ở đầu và bị nứt xương vai. Chụp scanner thấy trong đầu có máu bầm….Chân Tín bị xây xát’. (Mời đọc thêm bài: ‘Tạ ơn đời, tạ ơn Trời, tạ ơn từng bạn và tất cả các bạn’ của Nguyễn Ngọc Lan. Tin Nhà số 35, tháng 9.1998. Trang 23).

Cuộc chiến đã lui vào dĩ vãng hơn 35 năm, nhưng những chiến sĩ đã miệt mài chiến đấu chống Cộng Sản Bắc Việt bảo vệ Miền Nam tự do sẽ còn ôm mối hận cay đắng mãi cho tới ngày xuôi tay nhắm mắt vì bị những kẻ ăn cơm quốc gia thờ ma CS này đâm sau lưng.

Thực ra, trong chiến tranh Việt Nam, có nhiều trí thức giỏi chuyên môn nhưng dường như hiểu biết về Cộng Sản rất ít, cho nên, một là đã hí hửng ‘theo đóm ăn tàn’, hai là đã để Cộng sản lợi dụng một cách quá dễ dàng. Trong số đó có những tên tuổi quen thuộc như: Nguyễn Hữu Thọ, Huỳnh Tấn Phát, Trương Như Tảng, Dương Quỳnh Hoa, Ngô Bá Thành…Nhóm ‘Dương Văn Minh’ như Hồ Ngọc Nhuận, Dương Văn Ba, Lý Qúy Chung, Nguyễn Hữu Chung, Ngô Công Đức…Một số giáo sư Đại học như: Lê Văn Hảo, Châu Tâm Luân, Lý Chánh Trung, Trần Kim Thạch ...Một số linh mục như Trần Tam Tỉnh (Canada), Nguyễn Đình Thi (Pháp), Vũ Hồng Khanh Nguyễn Thế Hiển (Đức)… Đâu phải chỉ có Lm. Chân Tín và Gs. Nguyễn Ngọc Lan.

Cũng may, lúc sau này, khi phản tỉnh, Gs. Nguyễn Ngọc Lan và Lm Chân Tín đã tìm cách nói lên sự thật.

Mùa chay 4/1990, tại nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế, đường Kỳ Đồng, Lm. Chân Tín đã giảng 3 Bài Giảng Sám Hối: Sám Hối Cá Nhân, Sám Hối Trong Lòng Giáo Hội, Sám Hối Trong Lòng Dân Tộc.

Mở đầu bài giảng Sám Hối Cá Nhân, Lm. Chân Tín nói ngay: ‘Nói đến sám hối là tôi nghĩ đến tôi trước nhất’. Nói thế, nhưng ông không chính thức nói lời sám hối về những hoạt động có lợi cho Cộng Sản của ông trước đây. Ông không đủ can đảm nói lời xin lỗi nước VNCH và đồng bào miền Nam yêu tự do. Song ông đã dán tiếp nói lên tâm tình sám hối của ông bằng cách diễn giảng quan niệm sám hối ‘không phải đấm ngực khóc lóc…không phải chỉ có ân hận…’, nhưng ‘sám hối là đổi mới sau khi đã ân hận’. Có lẽ ông đã kín đáo ám chỉ bây giờ lời nói, hành động của ông đã khác trước, tức là ông đã đổi mới, chứng tỏ ông đã sám hối chăng? Lm.Chân Tín lặp lại quan niệm sám hối này trong bài giảng Sám Hối Trong Lòng Dân Tộc: ‘Chúng ta thấy Liên Xô và các nước Đông Âu đã ân hận, đã sám hối bằng cách đổi mới(viethoa.nl và Nguyễn Văn Trấn. Viết Cho Mẹ và Cho Quốc Hội. Tph. HCM. Trang 406).

Cũng vậy, Gs. Nguyễn Ngọc Lan, tuy không chính thức nhận lỗi như cha con cụ Vũ Đình Huỳnh và Vũ Thư Hiên trong Đêm Giữa Ban Ngày, nhưng việc viết lách của ông khác trước 180 độ, đã nói thay cho ông (3 tập Nhật Ký Nguyễn Ngọc Lan: Nhật Ký 1988, Nhật Ký 1989-1990, Nhật Ký 1990-1991, đều do Tin Nhà Paris xuất bản). Mặc dù gặp nhiều khó khăn, Gs. Nguyễn Ngọc Lan còn có thể để lại tiếng nói phản tỉnh theo cách của riêng ông, không đến nỗi như Nhất Chi Mai ‘chết mới được lên lời’ (nhan đề tập sách nhỏ và mỏng của Nguyễn Ngọc Lan ca ngợi nữ sinh viên Nhất Chi Mai tự thiêu cầu nguyện hòa bình).

Một khi đã phản tỉnh và lên tiếng phê phán chống lại Cộng Sản, đương nhiên Lm. Chân Tín và Gs. Nguyễn Ngọc Lan phải chấp nhận hi sinh, phải chấp nhận đòn thù của Cộng Sản. Vì 3 tập Nhật Ký, ngày 05.8.1990, Công An tới khám xét nhà của Gs. Nguyễn Ngọc Lan và tuyên lệnh quản thúc ông 3 năm tại gia. Vì 3 Bài Giảng Sám Hối, Lm. Chân Tín bị phát vãng 3 năm ra cửa Cần Giờ. Đặc biệt nghiêm trọng là việc Gs. Nguyễn Ngọc Lan và Lm. Chân Tín bị mưu sát ngay trên đường phố Sài Gòn như đã thuật lại trên đây.

Sự phản tỉnh của Gs. Nguyễn Ngọc Lan và Lm. Chân Tín tuy muộn màng, song vẫn hơn là không bao giờ.

Lịch sử sẽ ghi nhận điều này.

*Bạch Diện Thư Sinh

(Bổ túc và sắp xếp lại ngày 20.12.2010)

KTS Nguyễn Hữu Thái: Sinh trưởng ở Đà Nẵng trong một gia đình cha làm công chức, mẹ là tiểu thương, Nguyễn Hữu Thái là anh cả của 9 người em. Từ tấm bé, Thái là niềm kì vọng của cả gia đình; được ăn học tử tế để mai sau trưởng thành, làm gương cho các em. Năm 1958, Nguyễn Hữu Thái đỗ Tú tài tại Trường Thiên Hựu (Huế), rồi vào Viện Đại học Sài Gòn học ngành Kiến trúc và Luật.Theo đuổi ước nguyện trở thành một kiến trúc sư giỏi, song bầu máu nóng của chàng thanh niên Nguyễn Hữu Thái đã thôi thúc anh cùng các sinh viên xuống đường đấu tranh chống lại chế độ độc tài Ngô Đình Diệm, đòi tự do, dân chủ, chống phân biệt đối xử các tôn giáo... "Thực ra, lúc đó tôi cũng chưa có ý thức gì về cách mạng, những điều đã biết thì cũng rất mơ hồ. Nhưng là thanh niên trong cảnh đất nước tao loạn, khiến tôi không thể không tham gia tranh đấu" - ông Nguyễn Hữu Thái kể. Ông được bầu làm Chủ tịch Tổng hội Sinh viên Sài Gòn (nhiệm kì 1963-1964) - một chức vụ do giới sinh viên lựa chọn từ những thủ lĩnh sinh viên các trường Đại học. Do tích cực tham gia đấu tranh, ông 3 lần bị chế độ Sài Gòn cầm tù trong những năm 1964 đến 1974.

Vị cựu Chủ tịch Tổng hội Sinh viên Sài Gòn bồi hồi nhớ lại những ngày sục sôi tranh đấu: “Sau cuộc đảo chính tháng 11/1963, phái quân sự lên nắm quyền, sinh viên tiếp tục xuống đường tranh đấu. Sang năm 1964 thì tôi bị bắt giam ở khám Chí Hòa. Cùng phòng giam có một số cán bộ "Việt cộng"; ngay trong đêm đầu tiên, giữa tôi và họ đã tranh luận gay gắt về phương pháp đấu tranh..."

"Những cán bộ "Việt cộng" này đa phần hoạt động ở vùng nông thôn nên chưa hiểu lắm tình hình đô thị. Tuy vậy, càng tranh luận thì tôi càng bị họ thuyết phục và hiểu rằng ngoài cuộc đấu tranh của sinh viên, trí thức chống chế độ Sài Gòn, còn có cuộc đấu tranh lớn lao của những người Cộng sản... Từ đây, tôi dần dần có thiện cảm với họ và chuyển hướng đấu tranh của mình; đặc biệt là sau khi quân Mỹ đổ bộ vào Đà Nẵng, năm 1965".

Sau khi ra tù năm 1964, Nguyễn Hữu Thái là cái gai trong mắt của các cơ quan mật vụ. Để bảo vệ an toàn cho ông, một số người có ảnh hưởng với chính quyền đã đưa ông đến nương thân trong nhà một người Mỹ, là ông Wilson, Phó Giám đốc điều hành Cơ quan viện trợ của Mỹ tại Nam Việt Nam (USAID). "Ông Wilson có vai trò gần như một viên "Công sứ" của Mỹ tại Sài Gòn.

Ổng rất quý mến tôi vì thấy tôi thạo tiếng Anh. Hằng ngày, tôi còn dạy ổng tiếng Pháp để giao tiếp với các quan chức Sài Gòn (hầu hết họ đều thạo tiếng Pháp, nhưng ít người thạo tiếng Anh). Wilson gợi ý tôi sang Mỹ học tiến sĩ, với học bổng toàn phần do ổng tìm giúp... Tôi đứng trước ngã ba đường: hoặc sang Mỹ học tiến sĩ, hoặc ở lại trong nước đi theo cách mạng.

Tôi quyết tâm thoát ly ra "cứ" hoạt động, song không được toại nguyện. Sau này, tôi được biết, cũng có ý kiến nghi ngại tôi giao tiếp nhiều với người Mỹ, cần phải có thời gian thử thách; có ý kiến cho rằng, tôi ở lại Sài Gòn hoạt động công khai thì có lợi hơn...” - ông Thái kể.

Rồi, Nguyễn Hữu Thái bị bắt quân dịch, trở thành giảng viên chiến tranh chính trị trong quân đội Sài Gòn rồi lại bị bắt đi tù… Ra tù lần thứ ba, ông tiếp tục hoạt động công khai, trở thành cây bút chủ lực của Báo Điện Tín do Dương Văn Minh chủ trương.

Nguyễn Hữu Thái ngày càng gắn bó hơn với nhóm trí thức trẻ thân cận với Dương Văn Minh, như Ngô Công Đức, Phan Xuân Huy, Nguyễn Văn Binh, Hồ Ngọc Nhuận, Dương Văn Ba, Huỳnh Bá Thành...

Họ là những người được coi như "thành phần thứ ba" có xu hướng vận động chính quyền Sài Gòn đi vào con đường hoà giải, hoà hợp dân tộc. Và đó cũng là những tiền đề để ngày 30/4/1975, Nguyễn Hữu Thái có mặt trong Dinh Độc Lập chứng kiến lịch sử sang trang.

Người giới thiệu tuyên bố đầu hàng của Dương Văn Minh trên sóng phát thanh

Nhớ lại thời khắc lịch sử tại Dinh Độc Lập, ông Nguyễn Hữu Thái xúc động kể: Khoảng 10h sáng 30/4/1975, tôi cùng nhà báo Nguyễn Văn Hồng và Giáo sư Huỳnh Văn Tòng lên chiếc xe Renault màu xanh của Hồng, xe này có giấy phép đặc biệt ra vào Phủ Tổng thống. Đường phố vắng tanh.

Khi xe chạy vào cửa hông Dinh trên đường Nguyễn Du, cửa mở sẵn nên chúng tôi chạy thẳng luôn vào thềm Dinh. Khoảng 10h30' (11h30' giờ Hà Nội), chúng tôi thấy một đoàn xe tăng ầm ầm tiến về phía Dinh... Tôi, anh Huỳnh Văn Tòng và một số người khác đưa anh bộ đội (Bùi Quang Thận) vào thang máy, lên cắm cờ Mặt trận trên nóc Dinh Độc Lập.

Sau đó, chúng tôi trở xuống tầng hai của Dinh rồi cùng bộ đội đưa Tổng thống Dương Văn Minh, Thủ tướng Vũ Văn Mẫu và Tổng trưởng Thông tin Lý Quý Chung ra đài phát thanh để tuyên bố đầu hàng. Khi tới Đài, lực lượng cách mạng đã làm chủ đài, nhưng không ai biết vận hành máy móc. May sao, anh em sinh viên đi tìm được kĩ thuật viên Trần Văn Bảng.

Về nội dung bản tuyên bố đầu hàng, tôi chứng kiến giữa ông Dương Văn Minh và ông Bùi Văn Tùng có lời qua tiếng lại. Ông Minh không muốn nêu chữ Tổng thống mà chỉ muốn dùng chữ Đại tướng, vốn quen thuộc hơn. Ông Tùng cương quyết không chịu vì cho rằng dẫu sao thì tướng Minh cũng đã là Tổng thống chính quyền Sài Gòn và phải tuyên bố với tư cách đó mới ra lệnh được cho cả bên dân sự lẫn quân sự. Thu băng và thử đi thử lại mấy lần mới xong.

Ông Nguyễn Hữu Thái đứng thứ hai bên phải, tay cầm tập giấy, chứng kiến Tổng thống chính quyền Sài Sòn Dương Văn Minh chuẩn bị tuyên bố đầu hàng. (Ảnh do ông Nguyễn Hữu Thái cung cấp). Ảnh Kỳ Nhân.

Người phát thanh viên chương trình phát thanh cách mạng đầu tiên trong ngày lịch sử đó chính là ông Nguyễn Hữu Thái. Tố chất của một cựu Chủ tịch Tổng hội Sinh viên Sài Gòn trải qua bao năm lăn lộn đấu tranh công khai, đã được dồn nén và phát lộ đúng lúc.

Ông Thái nói trực tiếp vào micro và đài cũng phát trực tiếp. Tuy vậy, câu từ mạch lạc, khúc chiết và lần đầu tiên Sài Gòn được gọi là Thành phố Hồ Chí Minh... Đó thực sự là tiếng nói của cách mạng, mở đầu cho một trang sử mới của nước Việt Nam: "Chúng tôi là những người đại diện cho Ủy ban nhân dân cách mạng Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định. Chúng tôi là những người đầu tiên tới Dinh Độc Lập trước 12 giờ và đã cùng anh em Quân giải phóng cắm cờ trên Dinh Độc Lập... Đời sống bình thường đã trở lại Sài Gòn - thành phố HCM, thành phố mà Bác Hồ đã mong đợi, nay đã được giải phóng... Xin giới thiệu lời kêu gọi của ông Dương Văn Minh và Vũ Văn Mẫu của chính quyền Sài Gòn về vấn đề đầu hàng...".

Sau ngày giải phóng đến năm 1980, ông Nguyễn Hữu Thái công tác tại Thành đoàn TP HCM. Từ 1980-1985, ông làm việc tại Viện Quy hoạch kiến trúc thành phố. Năm năm sau, ông Thái làm cho một công ty khai thác gỗ tại Lào và đến năm 1990 thì xuất cảnh sang Canada theo diện đoàn tụ gia đình.

Đến năm 1995, vợ chồng ông trở lại quê hương. Hiện nay, nhiều thành viên trong gia đình ông Nguyễn Hữu Thái đã trở lại Việt Nam làm ăn, sinh sống.

Những người giết GS Nguyễn Văn Bông
bây giờ ở đâu?


Khánh Dung

Gs. Nguyễn Văn Bông, Viện trưởng Học viện Quốc gia Hành chánh 1963-1971 (1929-1971)
Gần 12 giờ trưa Thứ Tư 10/11/1971, chiếc xe chở Giáo Sư Nguyễn Văn Bông vừa từ đường Trần Quốc Toản quẹo phải vào đường Cao Thắng, chạy chậm lại để ngừng đèn đỏ ngay ngã tư trước khi quẹo trái vô đường Phan Thanh Giản.
Xe vừa ngừng, một thanh niên chạy đến gần và ném xuống gầm xe của Giáo sư Bông một chiếc cặp trong đựng mìn chống tăng MK6 (1). Sau đó anh ta băng qua đường và nhảy lên một xe Honda 90 có người đã nổ máy chờ sẵn, xe vọt luôn vào một con hẻm. Lựu đạn nổ, Giáo Sư Bông và người cận vệ của ông thiệt mạng.(2)
Những sát thủ Chiếc xe gắn máy biến nhanh vào một con hẻm trên đường Cao Thắng. Do đã tập luyện thuần thục trước khi ra tay, chỉ trong vòng ba phút xe đã ra đến đầu hẻm phía bên kia và biến mất trên đường Trần Quốc Toản.
Người lái xe, và cũng là người điều khiển vụ ám sát là Vũ Quang Hùng, sinh viên năm thứ ba Đại học Khoa Học Saigon và là thành viên của tổ trinh sát vũ trang của Ban An Ninh T4. Người ngồi sau xe honda là Lê Văn Châu, trung úy quân đội VNCH nhưng đồng thời cũng là cơ sở của An Ninh T4. Người cung cấp sáu trái lựu đạn MK6 cho hung thủ là Nguyễn Hữu Thái, kiến trúc sư, cựu chủ tịch Tổng Hội Sinh Viên Sài Gòn, lúc đó đang là trung úy chiến tranh tâm lý tại Sài Gòn.
Ngay sau khi vụ ám sát xảy ra, Hùng và Châu được đưa ra bưng để tránh mũi dùi điều tra của chính quyền, và họ chỉ trở về Sài Gòn sau ngày 30 tháng 4, 1975.

Lê Văn Châu về làm việc ở Báo Tuổi Trẻ. Còn Vũ Quang Hùng được đưa về làm Chủ tịch Ủy ban Nhân dân quận 3, nhưng sau đó không lâu Hùng nhảy sang lãnh vực báo chí.
Hùng sanh năm 1945 tại Nam Định, bắt đầu viết báo từ 1964, và cho đến nay đã kinh qua các chức vụ phó tổng biên tập báo Công an Thành phố Hồ Chí Minh, tổng biên tập tạp chí Người Du Lịch, và biên tập viên Báo Pháp Luật
Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 7/2004, Vũ Quang Hùng dưới tên nhà báo lão thành Quang Hùng xuất bản tập sách “Phóng Sự Điều Tra” trong đó ghi lại những kinh nghiệm mà Hùng đã “đúc kết, học hỏi, thậm chí va chạm trong suốt 40 năm làm báo”.
“Chiến công” của Vũ Quang Hùng đã được chính ông ta kể lại trong một bài đăng trên tạp chí Đứng Dậy của Linh Mục Chân Tín năm 1976. Đến tháng 4/2000, trong dịp kỷ niệm 25 năm ngày chiến thắng 30 tháng 4 nhà báo chuyên về các đề tài tình báo Nam Thi của báo Thanh Niên cũng kể lại chuyện này, trong đó có ghi rõ vai trò trợ giúp đắc lực của Nguyễn Hữu Thái.
Biệt động thành hay sinh viên tranh đấu?
Vào thời điểm tham gia vụ ám sát Giáo sư Bông, Nguyễn Hữu Thái chỉ mới là cơ sở của An ninh T4 chứ chưa phải là thành viên chính thức. Sau này Thái được bổ về tổ điệp báo A10 vào những năm gần 1975 khi An ninh T4 cần gây dựng thêm nhiều cơ sở để đáp ứng với tình hình sôi động.
An ninh T4 là tổ chức phụ trách hoạt động an ninh chính trị nội thành Sài Gòn trong chiến tranh. Tất cả những lệnh ám sát trong thời gian này đều phát ra từ người chỉ huy trực tiếp lúc ấy là Thái Doãn Mẫn, sau này là đại tá phó giám đốc công an Thành Phố Hồ Chí Minh.
Sáng ngày 30/04/1975, sau khi nghe tin bộ đội đang vào Sài Gòn, Thái cùng với ký giả Nguyễn Vạn Hồng và giáo sư Huỳng Văn Tòng băng xanh đỏ trên cánh tay chạy ra đường Hồng Thập Tự đón dẫn đường đoàn xe tăng đang tiến vào Dinh Độc Lập.
Tại đây, Thái là người chạy theo anh bộ đội xe tăng Bùi Quang Thận lên nóc dinh Dinh Độc Lập để cắm cờ (Thận không biết sử dụng thang máy và đã bị ngã khi tông vào cửa kính vì chưa bao giờ nhìn thấy cửa kính). Thái cũng có công giúp thâu băng lời đầu hàng của Tổng thống Dương Văn Minh tại đài Phát thanh Sài Gòn. Lần này, Thái và Tòng có dịp chứng tỏ sự quan trọng của mình khi được xưng danh tánh trước khi giới thiệu Dương Văn Minh đọc lời tuyên bố đầu hàng.
Sau này Nguyễn Hữu Thái luôn tìm cách che giấu những hoạt động cho An ninh T4 của mình, chỉ luôn tự nhận mình thuộc thành phần thứ ba hoặc là một thành phần của lực lượng sinh viên tranh đấu. Chính phóng viên đài BBC cũng đã bị lừa khi họ cho rằng Thái “không phải là người ở phía bên kia, mà đã từng tham gia phong trào đấu tranh sinh viên ở Sài Gòn”.
(Embedded image moved to file: pic29182.gif)
Nguyễn Hữu Thái giới thiệu bài viết của mình về Perect Spy (Tuổi trẻ cuối tuần, tháng 9, 2007)
Nguồn: larrybermanperfectspy.com

Trong buổi phỏng vấn ngày 19/05/2005 với BBC về một cuốn sách nhỏ do Nguyễn Hữu Thái viết, trong đó kể lại những chuyện xảy ra tại dinh Độc lập và đài Phát thanh Sài Gòn vào ngày 30/04/1975, Thái cho phóng viên BBC biết cuốn sách của Thái đã không được phép xuất bản tại Việt Nam vì những chuyện Thái kể không phù hợp với những chi tiết của phiên bản chính thức về những chuyện xảy ra trong Dinh Độc Lập sáng ngày hôm ấy.
Cái vinh quang của người chiến thắng không thể nào lại có thể chia sẻ với một kẻ cứ ngỡ rằng sẽ có một chỗ cho thành phần thứ ba. Và quả thật là vì không có chỗ cho một thành phần như vậy, nên Thái đành phải trở về sống bằng nghề kiến trúc và dạy học của mình.
Ngoài ra Thái cũng trở thành nhà nghiên cứu Phật giáo. Trong kỳ hội thảo quốc tế “Phật giáo trong thời đại mới, cơ hội và thách thức” vào tháng 7/2006 tại Việt Nam, Nguyễn Hữu Thái, lúc này đang dạy học tại Hoa Kỳ, đã trình bày đề tài: “Đột phá mới trong truyền bá Phật giáo ở phương Tây.”
Vụ mưu sát Giáo sư Bông năm 1968 Nhà báo Nam Thi của Thanh Niên trong các số báo đã nêu trên cũng xác nhận hai người chịu trách nhiệm về vụ ám sát hụt Giáo sư Bông vào tháng 8/1968 chính là luật sư Đỗ Hữu Cảnh và công nhân Trần Văn Hoành. Vũ khí dùng trong vụ ám sát không thành này là một trái nổ C4 nặng 4kg đựng trong một chiếc cặp học sinh. Giáo Sư Bông may mắn thoát chết trong vụ này do vừa đi sang một phòng khác lúc mìn phát nổ.
Sau 1975 Hoành trở thành sĩ quan an ninh trong ngành công an, còn Cảnh thì cũng như trường hợp của Thái, ông ta nổi lên như một sinh viên tranh đấu ở Sài Gòn nhưng thật sự lại là thành viên tổ vũ trang tuyên truyền của công vận, và sau này là thành viên tổ điệp báo A10 của An ninh T4.
Năm 2005 khi người dân Sài Gòn xôn xao về việc thanh lý những hậu quả của vụ Epco – Minh Phụng, người dân được biết đến tên một người đứng tên làm giám đốc cho nhiều công ty của Liên Khui Thìn. Đó là Đỗ Hữu Cảnh.
Cảnh đã đứng tên làm giám đốc công ty sản xuất – thương mại – xây dựng – dịch vụ Hồng Long lập năm 1995, và công ty cổ phần xây dựng – kinh doanh nhà Hồng Hà năm 2003. Con trai Cảnh là Đỗ Trường Sơn thì làm giám đốc của ba công ty khác: công ty cổ phần Đông Dương thành lập năm 2001, công ty tin học Công nghệ mới năm 2000, và công ty tư vấn – thiết kế – kiến trúc – xây dựng Đông Dương năm 2002.
Tất cả 5 công ty trên toạ lạc tại toà nhà số 282 đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa. Hầu hết vốn tạo dựng những công ty này là của Tăng Minh Phụng và Liên Khui Thìn.
Sau khi tòa án tuyên bố tịch biên tài sản của Liên Khui Thìn và cơ quan thi hành án đã kê biên hơn 100,000 thước đất dự án của công ty Hồng Long,
Đỗ Hữu Cảnh vẫn tiếp tục rao bán những khoảnh đất này cho hơn 500 người mua. Việc lường gạt này đưa đến những vụ kiện tụng trong đó nhiều người mua đã kéo đến thể hiện sự tức giận tại nhà riêng của Đỗ Hữu Cảnh ở số 166C đường Thích Quảng Đức, phường 4, quận Phú Nhuận. Đến lúc đó nhiều người mới bật ngửa ra khi được biết kẻ làm ăn lươn lẹo và lường gạt này lại là một luật sư.
Tháng giêng năm nay (2007), có một văn phòng luật sư mới được phép hành nghề tại thành phố Hồ Chí Minh. Đó là văn phòng luật sư Hồng Lạc, địa chỉ 451/2 Hai Bà Trưng, Phường 08, Quận 3,Thành Phố Hồ Chí Minh, dưới tên Luật Sư Đỗ Hữu Cảnh.

http://www.voicesofaolam.org/upload/binhluan/DuongVanMinh.jpgThân thế và gia đình Ông Dương Văn Minh

Ông Dương Văn Minh sinh năm 1916 ở tỉnh Mỹ Thọ Cha là ông Dương Văn Huề, khi đi học mướn lấy tên là Dương Văn Mau (tên của người bà con), làm thầy giáo, sau làm tri phủ, rồi đốc phủ sứ (hàm)Ông Dương Văn Huề (gốc Hoa) và bà Nguyễn Thị Kỹ có bảy người con: bốn trai, ba gáị Ông Minh là con cả. Dương Thanh Nhựt là con trai kế, có tham gia hoạt động cách mạng từ trước Cách mạng tháng Tám (năm 1944) và suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, là Thiếu tướng Quân đội nhân dân VN. Dương Thanh Sơn, em trai thứ năm, là Đại tá Quân đội VNCH .

Gia đình ông Minh theo đạo Phật, lễ giáo, nề nếp.

- Năm 1940, Dương Văn Minh học trường đào tạo hạ sĩ quan và sĩ quan dự bị của Pháp. Năm 1942 vào quân đội Pháp.

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Dương Văn Minh tham gia lực lượng vũ trang cách mạng chống Pháp xâm lược. Pháp trở lại, gia đình ông Minh tản cư về Chợ Đệm (Tân An). Lần đó, ông về thăm nhà, đơn vị rút đi, ông bị kẹt lại chưa tìm được đơn vị thì bị Tây bắt, buộc ông trở lại làm việc cho quân đội Pháp. Năm 1946, Dương Văn Minh là thiếu úy, đại đội phó quân đội Pháp.

Lần lượt lên đến cấp tá, rồi qua Pháp học trường võ bị, là một trong những sĩ quan đầu tiên của quân đội “VNCH”.

Ông Minh cũng theo đạo Phật, nhân từ, sợ phải giết người. Thấy ai bị nạn thì ra tay cứu như can thiệp cho em trai bà Bùi Thị Mè một chiến sĩ điệp báo là thiếu tá quân đội VNCH bị tình nghi hoạt động cho “VC” được thả ra; giúp ông Nguyễn Minh Triết cán bộ của ta bắt giam ở nhà lao Phú Lợi, được ra tù...

- Ông Minh là người rất tự trọng. Sau ngày 30.4.1975, ông được về nhà (98 đường Hồng Thập Tự, nay là đường Nguyễn Thị Minh Khai, Quận 3) sống với tư cách một “công dân của một nước độc lập” (2). Đời sống khó khăn, ông lại bị bệnh tiểu đường, bị đau dạ dàỵ Có lúc lãnh đạo Thành phố (đồng chí Võ Văn Kiệt) nhờ bà Bùi Thị Mè gợi ý khéo là đảng và chính quyền thành phố muốn hỗ trợ ông trong cuộc sống. Nhưng ông Minh từ chối với lý do: “Các anh các chị sống được thì tôi cũng sống được nếu chưa quen thì phải tập lại cho quen”.

Năm 1983, ông Minh được Chính phủ ta chấp thuận để ông sang Pháp trị bệnh và thăm con. Toà Tổng Lãnh sự Pháp ở Saigon đề nghị Bộ Ngoại giao Pháp giúp ông Minh vé máy bay và tiền gửi hành lý nhưng ông Minh từ chối, nói rằng “đã có Chính phủ VN lo rồi”.

Khi đi, ông Minh chỉ xin mang theo một ít đồ cổ trong nhà. Sang Pháp, ông không nhờ vả gì Chính phủ Pháp, không xin trợ cấp xã hội Pháp.

+ Quá trình binh địch vận đối với Tướng Dương Văn Minh

Công tác binh địch vận đối với tướng Dương Văn Minh bắt đầu từ năm 1959, với nhiều lực lượng, nhiều ban ngành tham gia: Binh vận Trung Ương Cục, Tình báo, An ninh T4 (Saigon - Gia Định), Trí vận...

1. Ban binh vận Trung Ương Cục miền Nam

Năm 1960, theo yêu cầu của Ban binh vận Xứ ủy Nam bộ (sau này là Trung Ương Cục miền Nam) Ông Võ Văn Thời, Cục trưởng Cục địch vận Tổng Cục Chính trị Quân đội Nhân dân VN đề nghị và được cấp trên đồng ý điều động Trung tá Dương Thanh Nhựt (3) về Cục để giao nhiệm vụ về miền Nam vận động Dương Văn Minh. Trung tá Nhựt được đặt bí danh là Mười Ty.

Cuối tháng 12.1960, Trung tá Mười Ty lên đường.

Tháng 8.1960, đồng chí Mười Ty móc được với gia đình, trước hết là với ông Nguyễn Văn Di, cậu ruột; qua cậu, móc vợ là Sử Thị Hương, nhắn vợ về thăm mẹ và tìm hiểu thái độ của anh hai Dương Văn Minh. Sau đó Mười Ty thăm em trai là Dương Thanh Sơn, sĩ quan quân đội VNCH và em thứ tám là Dương Thu Vân.

Thấy tình hình thuận lợi, Mười Ty hướng dẫn cán bộ mật đem ý kiến của lãnh đạo trao đổi với Dương Văn Minh về việc đảo chính Chính phủ Ngô Đình Diệm. Trong lúc Tướng Minh đang bực tức Ngô Đình Diệm, phủ nhận công lao của mình (tảo thanh Bình Xuyên và các giáo phái Hoà Hảo). Tướng Minh hứa sẽ tìm cách làm.

Ngày 01.01.1963, Trung tướng Dương Văn Minh nhân danh Chủ tịch Hội đồng quân nhân cách mạng phát lệnh đảo chính Chính phủ TT Ngô Đình Diệm và lên làm Quốc trưởng VNCH lần thứ nhất. Đồng chí Mười Ty nắm được ý định Tướng Minh chuẩn bị đảo chính Diệm và có báo cáo về Ban binh vận Trung Ương Cục.

Sau cuộc đảo chính TT Ngô Đình Diệm một thời gian, đồng chí Mười Ty có vào nhà Dương Văn Minh (98 Hồng Thập Tự, nay là đường Nguyễn Thị Minh Khai), sau đó qua nhà em là Dương Thanh Sơn ở mười ngày. Qua nhiều lần gặp và trao đổi với Dương Văn Minh, đồng chí Mười Ty cho rằng Tướng Minh trước đây mơ hồ về Mỹ là tên xâm lược, nay thì hết tranh cãi về điều này, nhưng vẫn còn cho là Mỹ có giúp đỡ miền Nam. Tướng Minh hứa hủy bỏ ấp chiến lược, cho nhân dân về nhà cũ với ruộng vườn, mồ mả ông bà.

Trong thời gian làm Quốc trưởng lần thứ nhất. Dương Văn Minh có một số hành động tiến bộ có lợi cho cách mạng:

+ Quyết định hủy bỏ 16.000 ấp chiến lược. Đại sứ Mỹ Cabot Lodge hỏi Dương Văn Minh vì sao làm thế? Ông trả lời, đại ý: Người VN có phong tục tập quán riêng, không người nào muốn xa rời mảnh đất đã gắn bó đời mình và mồ mả ông chạ Dồn dân vào ấp chiến lược là chủ trương sai, vì lẽ đó tôi giải tán ấp chiến lược để người dân trở về quê cũ của mình.

Nhờ quyết định của Tướng Minh, Quân đội cách mạng đã giải phóng 1/3 lãnh thổ VNCH.

+ Bộ trưởng quốc phòng Mỹ Mc Namara và Tướng Harkin yêu cầu Quốc trưởng Dương Văn Minh để cho Hoa Kỳ ném bom ra miền Bắc, không ném ồ ạt mà ném bom nổ chậm trên đê sông Hồng. Miền Bắc sẽ bị lũ lụt mất mùa, người dân sẽ đói... Dương Văn Minh lắc đầu từ chối.

Tháng 1.1964, Đại sứ Cabot Lodge yêu cầu Quốc trưởng Dương Văn Minh nghiên cứu, chuẩn y và thực hiện kế hoạch 34A (hoạt động gián điệp, biệt kích chống miền Bắc). Dương Văn Minh không trả lời.

+ Theo lời kêu gọi của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam (4) Dương Văn Minh tỏ ý muốn thương lượng để tuyển cử tự do, thực hiện một chế độ trung lập, lập Chính phủ liên hiệp. Nhưng Mỹ cự tuyệt hòa đàm, chống mọi xu hướng trung lập.

- Do những chủ trương và hành động của Dương Văn Minh không theo đúng “Bắc tiến” của Mỹ, theo chỉ thị của Tổng thống Mỹ Johnson, và gây bất mãn cho các tướng lãnh quân đội VNCH . 30. 01.1964, Tướng Nguyễn Khánh tiến hành chỉnh lý lên làm Chủ tịch Hội đồng quân nhân cách mạng kiêm Thủ tướng Chính phủ Cộng Hòa VN bằng một cuộc đảo chính. Nguyễn Khánh tuyên bố: “Tôi đảo chánh Dương Văn Minh để cứu đất nước này khỏi rơi vào tay CS”.

Mỹ thấy Dương Văn Minh có hậu thuẫn ở miền Nam, (Nhóm Phật giáo của Thượng toạ Thích Trí Quang) nhưng khó điều khiển nên yêu cầu Chính quyền VNCH phong Dương Văn Minh làm đại tướng và cử làm đại sứ lưu động ở Đài Loan. Mỹ mời ông Minh qua Mỹ một thời gian rồi cho lưu vong ở Thái Lan (từ đầu năm 1965) có sự giám sát của CIA.

Cuối năm 1967, theo chỉ đạo của đồng chí Mười Cúc (Nguyễn Văn Linh, Phó Bí thư Trung Ương Cục miền Nam) và Ban binh vận Trung Ương Cục, đồng chí Mười Ty có chuyến qua Pháp, ở nhà em rể là Charlot để móc người em gái thứ 8 là Dương Thu Vân qua Pháp.

Có thời gian Mười Ty ở nhà Dương Minh Đức (con trai Dương Văn Minh). Được biết, khi người em gái thứ 6 Dương Thu Hà bị ung thư chết, Dương Văn Minh có qua Pháp dự đám tang em gái, sau đó ở lại Pháp hơi lâu, có ý chờ tin của Mười Ty. Nhưng vì bọn CIA bảo trung tá Đẩu (sĩ quan tùy viên của Tướng Minh) kêu ông Minh về Thái Lan, nên không ở lâu hơn được nữa.

Khi chị Dương Thu Vân qua Paris gặp Mười Ty cho hay là ông Minh không thể qua Pháp được nữa, thì Mười Ty mới chuyển kế hoạch qua em (Dương Thu Vân) và cháu (Dương Minh Đức) truyền đạt ý kiến của cấp trên cho Dương Văn Minh. Sau đó Đức báo lại ý kiến của cha anh với Mười Ty như sau: “Lập Chính phủ ba thành phần là khó lắm, cần đánh cho văng Nguyễn Văn Thiệu, Mỹ phải rút đi là hết chiến tranh. Tôi có ra làm chính phủ ba thành phần khi bầu cử thì ông Thọ (Luật sư Nguyễn Hữu Thọ) cũng thắng cử, tôi có thất cử cũng không nghĩa lý gì, miễn có lợi cho đất nước là hơn”. Dương Minh Đức nói thêm: Ba cháu không còn lực lượng, không biết làm chính trị, không giỏi bằng ông Thọ; ra ngoài (ra khu) lúc này là không có lợi, ở trong này khi cần có lợi hơn...

Sau đó, đồng chí Mười Ty về Hà Nội, được Tổng bí thư Lê Duẩn gặp và mời cơm (với đồng chí Võ Văn Thời). Sau khi nghe đồng chí Mười Ty báo cáo đầy đủ chuyến đi công tác ở Pháp, TBT Lê Duẩn khen và nói: “Dương Văn Minh trả lời như vậy là thành thật, nói như vậy là làm được, chứ hứa hết có khi không làm được...”

Cuối năm 1970,... theo chỉ đạo của Trung Ương và Trung Ương Cục miền Nam, Ban binh vận Trung Ương Cục tìm một người khác, để tiếp cận vận động Dương Văn Minh. Đó là chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh, cơ sở của ta trong sĩ quan là bạn bè và thầy trò có thể tiếp cận được với Dương Văn Minh. Đồng chí Nguyễn Tấn Thành (tức Tám Vô Tư), bác của Nguyễn Hữu Hạnh, được Ban binh vận Trung Ương Cục giao nhiệm vụ trực tiếp nắm và bồi dưỡng cho Nguyễn Hữu Hạnh.

Tháng 3 và 4.1975, đồng chí Tám Vô Tư thường gặp ông Nguyễn Hữu Hạnh. Sau khi TT Nguyễn Văn Thiệu từ chức, đồng chí Tám Vô Tư gợi ý ông Hạnh nên tiếp cận và vận động Dương Văn Minh nếu lên làm Tổng thống thì tìm cách kết thúc cuộc chiến có lợi cho nhân dân.

Khi được tin ông Dương Văn Minh lên làm Tổng thống, ngày 28.4.1975, từ Cần Thơ, ông Nguyễn Hữu Hạnh bằng mọi cách, vượt mọi khó khăn lên Saigon gặp Dương Văn Minh và được ông giao làm phụ tá Tổng tham mưu trưởng, thay Tổng tham mưu trưởng ở bên cạnh ông, sau đó là Quyền Tổng tham mưu trưởng. Với các cương vị này, ông Hạnh đã góp phần quan trọng vào việc thực hiện lệnh của Tổng thống Dương Văn Minh làm cho quân đội Saigon “án binh bất động”, tan rã tại chỗ, không nổ súng và thúc đẩy Chính phủ Dương Văn Minh sớm bàn giao chính quyền cho cách mạng.

2. Thâm nhập vào “nhóm Dương Văn Minh”

Tháng 9.1972, Ban An ninh T4 (Thành phố Saigon - Gia Định) thành lập Cụm điệp báo mới, bí số là A10, với nhiệm vụ xây dựng lực lượng điệp báo bí mật trong một số đối tượng, trong đó có lực lượng thứ ba, đặc biệt là “nhóm Dương Văn Minh”... (các thành viên bộ tham mưu nhóm Dương Văn Minh, ban biên tập bản tin nội bộ nhóm Dương Văn Minh, thư ký tòa soạn báo Điện Tín, báo Đại dân tộc...).

Đầu năm 1975, đồng chí Trần Quốc Hương (Mười Hương), Trưởng Ban An ninh T4, chỉ đạo A10 tìm cách thâm nhập vào lực lượng thứ ba và nhóm Dương Văn Minh để tác động, vận động lực lượng này chống đối, cô lập, chia rẽ chính quyền TT Nguyễn Văn Thiệu.

Thời gian này, Cụm điệp báo A10 tiếp cận, sát “nhóm Dương Văn Minh”, có lúc họa sĩ Ớt (Huỳnh Bá Thành) ở luôn trong nhà Dương Văn Minh; tham gia viết và in tuyên cáo “chống Chính phủ Thiệu không có Thiệu”, đòi Trần Văn Hương từ chức (Tổng thống).

Ngày 01.3 và cuối tháng 3.1975, Chiến sĩ điệp báo Huỳnh Bá Thành (lần sau có thêm các chiến sĩ Trần Thiếu Bảo, Huỳnh Huề...) vào căn cứ báo cáo với đồng chí Mai Chí Thọ (Bí thư thành ủy), Trần Thanh Vân (Phó trưởng Ban An ninh T4). Đồng chí Mai Chí Thọ chỉ đạo: “...Phải bằng mọi cách để Dương Văn Minh thay Nguyễn Văn Thiệu, rồi giao chính quyền cho cách mạng. Đó là chủ trương của đảng nhằm tránh đổ máu, tránh tổn thất cho nhân dân”.

3. Tác động vào Chính phủ Dương Văn Minh

Cụm điệp báo VĐ2 thuộc phòng tình báo chiến lược M22, cục tham mưu Miền cũng có chỉ đạo vận động tác động nội các Dương Văn Minh đầu hàng thông qua kỹ sư Tô Văn Cang trong những ngày cuối cùng của chế độ VNCH. Theo ông Tô Văn Cang, sáng ngày 28.4.1975, ông Cang đến gặp Đại tá Nguyễn Văn Khiêm (Sáu Trí) ở nhà ông Ba Lễ (cơ sở tình báo) hẻm đường Triệu Đà, Saigon, để báo ý kiến của ông Nguyễn Văn Diệp (trong Chính phủ Dương Văn Minh) muốn tìm gặp đại diện Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam để xin ý kiến xử trí tình hình Saigon. Đồng chí Sáu Trí phân tích tình hình và “khuyên Chính phủ Dương Văn Minh chấp nhận đầu hàng vô điều kiện”. Ý kiến này được ông Cang phản ánh lại cho ông Diệp và sau đó ông Diệp có báo cáo lại cho bộ ba Dương Văn Minh - Nguyễn Văn Huyền - Vũ Văn Mẫu.

4. Xây dựng lực lượng thứ ba ở đô thị

Sau hiệp định Paris (1973), Hội nghị lần thứ 21 Ban chấp hành Trung Ương (tháng 7.1973) đề ra nhiệm vụ: “Xây dựng lực lượng thứ ba ở đô thị”; “mở rộng hơn nữa Mặt trận dân tộc Giải phóng gồm mọi giai cấp, tôn giáo, lực lượng hòa bình, độc lập, dân chủ ở miền Nam và Việt kiều ở nước ngoài”.

Năm 1974, theo chỉ đạo của đồng chí Mười Cúc (Nguyễn Văn Linh), phó Bí thư Trung Ương Cục miền Nam, đồng chí Quốc Hương (Mười Hương), Ủy viên Thường vụ, Trưởng Ban An ninh T4 đã chọn một số thanh niên, sinh viên cài vào hoạt động trong lực lượng thứ ba. Trên thực tế thì lực lượng ta đã hình thành trước khi có hiệp định Paris qua tổ chức “Lực lượng quốc gia tiến bộ” do luật sư Trần Ngọc Liễng và nhà tư sản dân tộc (ngành vật liệu xây dựng) Phan Văn Mỹ thành lập tháng 6.1969 với mục tiêu là: đòi các lực lượng ngoại nhập (Mỹ và đồng minh) phải rút khỏi miền Nam, thành lập chính phủ hòa giải dân tộc. Sau đó, lợi dụng lúc Thiệu đi nước ngoài, luật sư Trần Ngọc Liễng lập “Lực lượng hoà giải dân tộc”. Sau hiệp định Paris, tháng 02.1974, nhóm luật sư Trần Ngọc Liễng lập “Tổ chức nhân dân đòi thi hành hiệp định Paris”, xác định mình là lực lượng thứ ba, mục tiêu chính là đòi thi hành hiệp định Paris, Mỹ rút quân, thành lập Chính phủ hoà giải dân tộc.

http://www.ubmttq.hochiminhcity.gov.vn/web/data/news/2009/5/2885/tranngoclieng.jpg Luật sư Trần Ngọc Liễng

Thành viên của “nhóm Dương Văn Minh” gồm một số trí thức, dân biểu đối lập, ký giả, tướng lĩnh [1]. Hằng tuần, nhóm họp bàn về tình hình thời sự chính trị (lúc tình hình sôi động mỗi tuần họp hai lần). Cạnh tướng Dương Văn Minh có Văn phòng báo chí. Lúc báo Điện tín bị đóng cửa, “nhóm Dương Văn Minh” ra bản tin bán công khai để phát cho các tổ chức, đoàn thể, báo chí trong và ngoài nước.

Vinh biet Ngo Cong Duc mot ten tuoi cua lang bao Sai Gon

Ngô Công Đức

- Theo ông Lý Quý Chung (Hồi ký), tuần lễ đầu tháng 4.1975, tướng Dương Văn Minh và “nhóm Dương Văn Minh” đã họp tại Dinh Hoa Lan (nhà ông Minh) bàn và quyết định công bố ý định thay thế TT Nguyễn Văn Thiệu để góp phần chấm dứt chiến tranh."

5. Phối hợp phong trào đấu tranh chính trị của nhân dân Saigon

Với các khẩu hiệu “đuổi Mỹ, lật Thiệu”, đòi Nguyễn Văn Thiệu từ chức Nhóm 3 thành phần DVM, đòi thi hình hiệp định Paris, hòa bình, chấm dứt chiến tranh, đòi dân chủ, cải thiện dân sinh... các cuộc xuống đường diễn ra liên tục, mạnh mẽ thu hút hàng ngàn, hàng vạn người. Như cuộc xuống đường của 200 ký giả Saigon ngày 10.10.1974, ngày “ký giả đi ăn mày” lôi cuốn gần hai vạn quần chúng tham gia đã có tiếng vang lớn cả trong và ngoài nước. Cuộc tuần hành ngày 20.4.1974 của hàng vạn công nhân lao động, sinh viên, học sinh, trí thức, thương phế binh... đòi TT Nguyễn Văn Thiệu từ chức, đòi thi hành hiệp định Paris, đòi hòa bình, cơm áo, chống sa thải, chống thuế VAT..., là cuộc đấu tranh lớn nhất từ sau hiệp định Paris.

http://www.tcs-home.org/ban-be/articles/ly-qui-chung-va-trinh-cong-son/lqc_plaquqette-bia.jpg/image_preview

Sau khi TT Thiệu từ chức, Phó tổng thống Trần Văn Hương lên thay tổng thống, tuyên bố “cương quyết tử thủ dù phải hi sinh đến nắm xương tàn”, đã bị phong trào 3 thành phần do Tướng Minh lãnh đạo Saigon đấu tranh đòi Chính phủ Trần Văn Hương từ chức ngay lập tức. TT Trần Văn Hương trì hoãn việc giao quyền cho Dương Văn Minh, mãi đến ngày 26.4.1975, lưỡng viện quốc hội đã bầu Dương Văn Minh làm Tổng thống VN Cộng hòa với 147.151 phiếu.

Theo chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh và ông Lý Quý Chung, sáng ngày 30.4.1975, tướng tình báo Pháp Vanuxem đến Phủ thủ tướng (số 7 Thống Nhất, nay là đường Lê Duẩn) gặp Tổng thống Dương Văn Minh, gợi ý ông Minh nên kêu gọi Tàu can thiệp để cứu miền Nam không rơi vào tay CS Bắc Việt. Ông Minh từ chối, nói rằng: “Tôi đã từng làm tay sai cho Pháp rồi cho Mỹ, đã quá đủ rồi. Tôi không thể tiếp tục làm tay sai cho Tàu”.

+ Tướng Dương Văn Minh với 3 ngày làm tổng thống

15 giờ chiều ngày 28.4.1975, Tướng Minh làm lễ nhậm chức Tổng thống, cử Nguyễn Văn Huyền làm Phó tổng thống, Vũ Văn Mẫu làm Thủ tướng.

Tổng thống Dương Văn Minh cử một số Bộ trưởng và người phụ trách quân đội, cảnh sát, trong đó có đảng viên và cơ sở của ta là: Luật sư Triệu Quốc Mạnh, Giám đốc Nha cảnh sát đô thành, và chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh, phụ tá Tổng tham mưu trưởng sau là quyền Tổng tham mưu trưởng.

Về Bộ quốc phòng, Tổng thống Dương Văn Minh chỉ định Giáo sư Bùi Tường Huân, Giáo sư Đại học Huế (không phải tướng tá) làm Bộ trưởng. (Theo ông Lý Quý Chung, việc Tổng thống Dương Văn Minh chỉ định ông Bùi Tường Huân làm Bộ trưởng quốc phòng để chứng tỏ chính phủ này không muốn chiến tranh).

17 giờ ngày 28.4.1975, phi đội 5 chiếc A37 của Nguyễn Thành Trung ném bom sân bay Tân Sơn Nhất.

http://www.ubmttq.hochiminhcity.gov.vn/web/data/news/2006/5/476/ho_ngoc_nhuan.jpgTheo ông Hồ Ngọc Nhuận (Hồi ký), tối hôm đó, Tướng Minh giao cho ông chuẩn bị chiếm đài phát thanh (đề phòng Nguyễn Cao Kỳ làm đảo chính).

Đêm 28.4, Tướng Dương Văn Minh và gia đình dời đến ở nhà một người bạn của tướng Mai Hữu Xuân ở đường Phùng Khắc Khoan do sợ Nguyễn Cao Kỳ ném bom dinh Hoa Lan (nhà ông Minh).

Tướng Dương Văn Minh chuẩn bị tuyên bố đầu hàng tại đài phát thanh Saigon trưa ngày 30.4.1975

+ Ngày 29.4.1975

Tổng thống Dương Văn Minh, Phó tổng thống Nguyễn Văn Huyền và Thủ tướng Vũ Văn Mẫu bàn và ra lệnh cho Giám đốc Nha cảnh sát đô thành Triệu Quốc Mạnh thả tù binh chính trị; gửi công văn yêu cầu Đại sứ Mỹ Martin cho cơ quan Viện trợ quân sự Mỹ (DAO) rời khỏi VN trong vòng 24 giờ để giải quyết hòa bình ở VN.

Đến 16 giờ chiều ngày 29.4, đã thực hiện xong việc trả tù binh chính trị (trong đó có Huỳnh Tấn Mẫm). Chỉ huy các ban và cảnh sát 18 quận, huyện đã tan rã (trừ bộ phận biệt phái).

Tổng thống Dương Văn Minh chỉ thị không được di chuyển quân, không được phá cầu. Dựa vào chỉ thị trên, chiều ngày 29.4.1975, phụ tá Tổng tham mưu trưởng Nguyễn Hữu Hạnh đã ra lệnh cho các đơn vị không được phá cầu. Đơn vị nào muốn phá cầu phải có lệnh của Bộ Tổng tham mưu.

Sau đó, khoảng 15 giờ, phái đoàn do Luật sư Trần Ngọc Liễng cầm đầu có Linh mục Chân Tín, Giáo sư Châu Tâm Luân vào Trại David, được đồng chí Võ Đông Giang, Phó trưởng phái đoàn ta tiếp. Ông Liễng đã thông báo với phái đoàn chính phủ cách mạng lâm thời về chủ trương “không chống cự” của Tổng thống Dương Văn Minh, mà ông coi là niềm vui sướng nhất trong đời ông, vì đã thông báo cho bên trong biết “Saigon không chống cự” vào giờ chót của cuộc chiến tranh. Theo Luật sư Liễng, Tổng thống Dương Văn Minh đã chấp nhận đầu hàng từ buổi trưa hôm đó (ngày 29.4.1975).

http://www.tcs-home.org/ban-be/articles/ly-qui-chung-va-trinh-cong-son/lyquichung-tcs.jpg/image_previewTừ chiều và tối ngày 29.4, cũng có một số người tác động Tổng thống Dương Văn Minh hướng “Thành phố để ngỏ”, đầu hàng. Như ông Lý Quý Chung, họa sĩ Ớt (Huỳnh Bá Thành). Thông qua ông Phan Xuân Huy và ông Đoàn Mai, thượng tọa Thích Trí Quang nói điện thoại trực tiếp với Tổng thống Dương Văn Minh: “còn chờ gì nữa mà không đầu hàng”[2].

+ Ngày 30.4.1975

- 6 giờ, chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh quyền Tổng tham mưu trưởng (tướng Vĩnh Lộc, Tổng tham mưu trưởng đã di tan) và tướng Nguyễn Hữu Có đến báo cáo với Tổng thống Dương Văn Minh về toàn bộ tình hình quân sự. Sau đó, ông Minh (cùng các ông Hạnh và Có) đến Phủ Thủ tướng (số 7 Thống nhất, nay là đường Lê Duẩn).

Tổng thống Dương Văn Minh họp với Phó Tổng thống Nguyễn Văn Huyền, Thủ tướng Vũ Văn Mẫu và một số người trong nội các “nhóm Dương Văn Minh”, bàn và quyết định không nổ súng và giao chính quyền cho Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng Hòa miền Nam. Thủ tướng Vũ Văn Mẫu soạn bản thảo tuyên bố này.

- 9 giờ, Tổng thống Dương Van Minh đọc vào máy ghi âm.

Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh đề nghị và được Tổng thống Dương Văn Minh đồng ý có nhật lệnh cho quân đội. Ông Hạnh soạn thảo nhật lệnh này. Đồng thời tướng Nguyễn Hữu Hạnh gọi điện thoại cho tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư lệnh Quân khu 4 yêu cầu cố gắng thi hành lệnh của Tổng thống trên đài phát thanh.

- 9 giờ 30: Đài phát thanh phát tuyên bố của Tổng thống Dương Văn Minh: “Đường lối của chúng tôi là hòa giải và hòa hợp dân tộc”; “yêu cầu tất cả anh em chiến sĩ Cộng Hòa ngưng nổ súng, và ở đâu thì ở đó”; “Chúng tôi chờ gặp Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng Hòa miền Nam VN để thảo luận về lễ bàn giao chính quyền trong vòng trật tự, tránh sự đổ máu vô ích cho đồng bào”.

http://vnca.cand.com.vn/Uploaded_VNCA/hoabt/4lar-tuong372.jpgSau đó, cả các ông Dương Văn Minh, Nguyễn Văn Huyền, Vũ Văn Mẫu cùng nội các đến Dinh Độc Lập để chờ bàn giao chính quyền cho cách mạng.

Sau khi đọc tuyên bố “đầu hàng” xong, Tướng Dương Văn Minh nói với mọi người (trong Chính phủ): “Mọi việc coi như đã xong. Bây giờ ai muốn đi hay ở thì tùy”.

- 11 giờ 30, xe tăng quân giải phóng vào Đinh Độc Lập. Xe quân giải phóng đưa ông Dương Văn Minh và ông Vũ Văn Mẫu đến đài phát thanh để đọc tuyên bố đầu hàng vô điều kiện.

Buổi trả tự do cho nhóm Dương Văn Minh tại Dinh Độc Lập tối ngày 2.5.1975

+ Kết luận

1. Tướng Dương Văn Minh là người có tinh thần dân tộc, giác ngộ cách mạng. Từ chỗ lúc đầu còn mơ hồ về việc Mỹ xâm lược miền Nam, cho rằng Mỹ có giúp đỡ miền Nam, dần dần tỏ thái độ chống Mỹ: chống Mỹ đưa quân viễn chinh Mỹ và đồng minh vào miền Nam, kéo dài và mở rộng chiến tranh, muốn có hòa bình, độc lập và thống nhất đất nước

2. Theo ông Nguyễn Hữu Hạnh và ông Lý Quý Chung, Tướng Dương Văn Minh lên làm Tổng thống không có ý để thương thuyết với Miển Bắc vì đã thấy không còn khả năng thương thuyết; cũng không có ý để tiếp tục chiến tranh vì lâu nay ông Minh chủ trương hoà bình, chấm dứt chiến tranh. Điều này thể hiện rõ ở Tổng thống Dương Văn Minh chỉ định hai cơ sở của ta (chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh và luật sư Triệu Quốc Mạnh) nắm hai lực lượng vũ trang: quân đội và cảnh sát; cử một người dân sự (giáo sư Bùi Tường Huân) làm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; chưa đầy một ngày sau khi nhậm chức thì ngày 29.4.1975, đã ra lệnh thả tù chính trị, đuổi phái đoàn DAO của Mỹ; không di chuyển quân, không phá cầu v.v..

3. Trong điều kiện cuộc tổng tiến công quân sự của các binh đoàn chủ lực vào Saigon - Gia Định đã tạo sức ép quân sự lớn; công tác vận động, binh địch vận của nhiều lực lượng ta với Tướng Dương Văn Minh; được sự đồng tình, tác động tích cực của những người chủ yếu trong nội các, lực lượng thứ ba và “nhóm Dương Văn Minh”; Tổng thống Dương Văn Minh đã quyết định “không chống cự”, tuyên bố “ngưng nổ súng và ở đâu ở đó vào 9g30 (sau đó tuyên bố “đầu hàng vô điều kiện” vào 11g30) ngày 30.4.1975 là hành động thức thời, làm giảm ý chí đề kháng của đại bộ phận quân đội VNCH .

Sự thật lịch sử cần tôn trọng. Đã đến lúc chúng ta cần biết tại sao có ngày oan nghiệt, nếu chúng ta không nói rõ, chúng ta có tội với dân tộc VN.

Trân trọng

Nguyễn Hùng Kiệt

Khái quát tình hình chính trị - Kinh tế - xã hội VNCH dưới thời ông Thiệu:
Thật vậy những năm đầu của chế độ Nguyễn Văn Thiệu, 1967, 1968, guồng máy tương đối còn có kỷ cương nhưng dần dần đi tới chỗ tham nhũng thối nát tồi tệ, nó đã phá hoại kinh tế vật chất và làm suy sụp tinh thần quân dân. Tham nhũng hối lộ có từ thời Tây nhưng dưới chế độ Nguyễn Văn Thiệu có thể nói đã tiến tới chỗ tột cùng của thối nát. Các chế độ, chính phủ Quốc Gia từ thời Trần Văn Hữu, Nguyễn Văn Tâm, Ngô Ðình Diệm, Nguyễn Cao Kỳ… cũng ít nhiều có tham nhũng nhưng người dân còn chấp nhận được, đến Nguyễn Văn Thiệu thì thật hết nước nói. Sau khi miền Trung thất thủ lọt vào tay Cộng quân, chúng tôi có nghe một ông công chức than thở “chế độ Thiệu đi theo vết xe đổ của Tưởng Giới thạch, các ông tỉnh trưởng chết gục trên đống vàng”!
Trong cuốn sách Cuộc Triệt Thoái Cao Nguyên 1975 trang 56, Phạm Huấn có nói.
“Theo dư luận, cái giá để mua chức Tỉnh trưởng qua đường giây bà Thiệu, bà Khiêm, thường thường từ 10 đến 20 triệu”
Tệ nạn mua quan bán tước ngày càng lộ liễu, những chức vụ, công việc hái ra tiền đều được mua bán trả giá cả sòng phẳng, ngoài ra quan chức phải nộp tiền hụi chết cho cấp trên theo hệ thống quân giai, Quận nộp cho Tỉnh, Tỉnh nộp cho Vùng, Vùng nộp cho Trung Ương. Nguyễn Ðức Phương nói các hình thức tham nhũng tại miền Nam đã được nhóm nghiên cứu thuộc tổ hợp Rand xếp thành bốn loại chính buôn lậu, hối lộ, mua quan bán tước và lính kiểng, lính ma.. Trong phim Vietnam History by television, ông giám đốc CIA khi trả lời phỏng vấn cho biết tham nhũng (corruption) đã phát triển quá độ tại miền Nam VN , chỗ nào cũng có, chính phủ Mỹ biết rõ như vậy và họ đã phải che dấu không cho báo chí biết sợ người ta làm um lên, nếu đến tai Quốc hội viện trợ sẽ bị cắt giảm.
Tại các tỉnh, viện trợ kinh tế, xã hội, bình định phát triển.. bị đục khoét trầm trọng, tiền viện trợ của Mỹ không được dùng vào mục tiêu kinh tế quân sự mà vào túi bọn quan lại tham ô. Tham nhũng bắt nguồn từ lòng tham vô đáy của con người hơn là vì thiếu thốn. Các quan chức có được căn nhà, cái xe hơi thì cũng được rồi, so với đời sống nhân dân như thế cũng là được quáưu đãi. Nhưng kẻ tham ô không dừng chân ở đó, được voi tròi tiên, họ tậu rừng tậu ruộng, tậu đồn điền, mua dăm bẩy căn nhà nghỉ mát, cái ở Nha Trang, cái Ðà Lạt, Vũng Tầu, chuyển ngân ra ngoại quốc… Tham nhũng như đã nói ở trên vừa phá hoại kinh tế quốc gia, vừa làm suy yếu tinh thần người dân cũng như người lính chiến. Sau đây là tham nhũng dười con mắt người ngoại quốc.
Hậu quả của tình trạng tham nhũng này đã được một sĩ quan nhận xét.
‘ Tham nhũng luôn luôn tạo ra sự bất công trong xã hội. Tại Việt Nam, một nước đang trong thời chiến thì sự bất công trong xã hội lại càng rõ ràng hơn so với các nước khác. Tham nhũng đã tạo ra một thiểu số nắm giữ tất cả các quyền lực và tài nguyên, phần lớn giai cấp trung lưu và nông dân trở thành nghèo hơn và phải chịu hy sinh.Họ mới chính là người đóng thuế cho chính phủ, hối lộ cho cảnh sát, phải mua phân bón với giá cắt cổ để rồi phải bán gạo với giá rẻ do chính phủ ấn định, và cũng chính họ đã cho con cái đi chiến đấu và hy sinh cho đất nước trong khi các công chức cao cấp của chính phủ và những kẻ giầu có lại gửi con cái ra nước ngoài.Một bác sĩ quân y đã nói với tôi rằng ông đau lòng khi nhìn thấy những thương binh, các binh sĩ cụt chân tay nằm đầy tại quân y viện đều thuộc giai cấp bình dân, thuộc các gia đình nông dân, các thương binh này phải chịu đựng và hy sinh cho thiểu số tham nhũng thống trị. Chính phủ tuyên bố tìm cách chiếm lòng dân nhưng thực tế chỉ làm lớn hơn khoảng cách giữa giai cấp lãnh đạo và quần chúng.”
Nguyễn Ðức Phương, Chiến Tranh Việt Nam Toàn tập, trang 804, 805.
Hồi ấy trên báo chí đã có người lên án bất công xã hội tại miền Nam ngày càng trở lên ghê tởm, trong khi binh sĩ chết như rạ ngoài mặt trận thì tại các thành phố lớn, bọn nhà giầu mua xe hơi bóng lộn, xây nhà cao năm bẩy tầng lầu, ai nấy mặt vênh mày vác, khinh người rẻ của. Bọn con buôn hái ra tiền nhờ chiến tranh rồi dùng tiền cho con cái đi du học ngoại quốc trong khi những kẻ sông pha mũi tên hòn đạn ngoài chiến trường phải chịu cảnh nghèo nàn thiếu thốn. Thực trạng xã hội đã ảnh hưởng rất nhiều đến tinh thần người chiến sĩ, họ phải hy sinh, chiến đấu cho một chế độ bất công thối nát.
Phạm Huấn có ý chê các Tướng lãnh Việt Nam không có sự ngay thẳng, tư cách như các Tướng lãnh ngoại quốc. Năm 1950 De Lattre, Tướng 5 sao, Tư lệnh Ðông Dương nhưng vẫn để cho người con một, Bernard De Lattre đóng tại đền Non nước Ninh Bình. Mặc dù vua Bảo Ðại đề nghị đưa Bernard về làm trong văn phòng Quốc trưởng nhưng ông Tướng vẫn để con chiến đấu tại chiến trường và tử trận tháng 5-1951. Khi Mỹ bắt đầu ném bom Bắc Việt, Ðô đốc Sharps, tư lệnh các lực lượng Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương đã để con trai ông, Thiếu tá phi công Mac Cain tham gia oanh tạc và đã bị bắn rơi.
“Trong khi đó, suốt cuộc chiến 21 năm sau cùng tại Việt Nam, chắc chắn không thể tìm thấy con một ông tướng nào chiến đấu ngoài mặt trận”
(Phạm Huấn,Những Uất Hận Trong Trận Chiến Mất Nước, trang 133)
“..con những ông Tướng khác thì cứ gần đến tuổi động viên đã bằng cách này, cách khác, được xuất ngoại du học. Chung qui chỉ có những sinh viên, học sinh con nhà nghèo và không thế lực, sẽ bị thi hành lệnh Tổng động viên một cách rất kỹ lưỡng. Ngoài ra, vì không có tiền bạc để chạy chọt, chắc chắn không bao giờ họ được phục vụ tại ‘chỗ ngon, chỗ bở’ ở Sài Gòn hay hay các tỉnh”
Phạm Huấn, Những Uất Hận Trong Trận Chiến Mất Nước, trang 134, viết theo lời kể của Thiếu uý Phạm văn Trung, sư đoàn 18 BB.
Trần Phan Anh trong cuốn Trận Chiến Mùa Hè 1972 trang 155, 156 có nêu ra một vụ tham nhũng hối lộ động trời của các Tướng lãnh VNCH, chẳng biết hư thực ra sao.
“Trong khoảng thời gian từ tháng giêng đến tháng 3-1972, tình báo VNCH báo cáo sự hiện diện của công trường 5 Bắc Việt tại căn cứ địa 712, gần thị trấn Snoul, Cam Bốt, khoảng 30 cây số Tây Bắc Quận lỵ Lộc Ninh trên Quốc Lộ 13. Hai công trường 7, 9 được phát hiện tại vùng đồn điền cao su Dambe và Chup trên đất Cam Bốt, nơi đó là hai mục tiêu hành quân của Quân đoàn III thiết kế cho Ðệ tam cá nguyệt 1971. Kế hoạch đã bị đình hoãn sau cuộc tử nạn của Trung Tướng Ðỗ Cao trí, Tư lệnh quân đoàn III QLVNCH.
Trung Tướng Ðỗ Cao Trí đã bị thảm sát vì đã cùng Nguyễn Văn Thiệu, Ðặng Văn Quang nhận hối lộ 30 triệu đô la do tòa Ðại sứ Nga tại Paris trao cho Quang để thả Trung Ương Cục và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam chạy trối chết qua Cam Bốt sau khi bị liên quân Việt Mỹ bao vây tại vùng rừng Tây Ninh vì những cánh quân của Quân đoàn III tiến quá nhanh, cục R chậm chân kẹt lại bị CIA phát hiện do việc họ đánh điện cầu cứu Hà Nội. MACV phối hợp Ðệ 2 Quân đoàn tiền phương Hoa Kỳ (US II Field Forces) cùng Quân đoàn 3 VNCH được tăng cường một lữ đoàn Dù, Liên đoàn 5, 6 Biệt động quân tung quân bao vây, Cục R chỉ còn một trung đoàn bảo vệ, cá nằm trong rọ chờ lên thớt. Khi Liên quân Việt Mỹ siết chặt vòng vây, Lữ đoàn Dù thọc mũi tấn công khuấy động, một liên đoàn Biệt Ðộng Quân lãnh nhiệm vụ án ngữ biên giới Cam Bốt thì bất ngờ nhận được lệnh Trung Tướng Ðỗ Cao Trí cho lệnh rút về chi khu Phước Thành, Tây Ninh nghỉ dưỡng quân thì tối hôm đó bị trung đoàn bảo vệ Cục R đánh úp để che chở cho toàn bộ Trung ương Cục chạy trối chết qua Cam Bốt về hướng đồn điền Snoul.
Sau đó CIA tức giận nghĩ rằng Ðỗ Cao Trí là người của Cộng sản nên ra tay tiêu diệt, những chuyện này do chính Ðặc sứ Komer (hàm Ðại sứ) kể lại, ông đặc trách Bình định phát triển MACV.”
Khởi đầu từ 8 tháng 9 năm 1974, linh mục Trần Hữu Thanh Chủ tịch Phong trào Nhân dân chống tham nhũng cho phổ biến bản cáo trạng số 1 tố cáo ông Thiệu tham nhũng và yêu cầu từ chức. Tướng Thiệu bị tố tham nhũng nhiều vụ như nhà cửa, đất đai, đầu cơ phân bón, gạo miền Trung, buôn bán bạch phiến.. . phong trào lôi cuốn các nhóm khác như sinh viên, ký giả, chính khách.. Ðầu tháng 2 năm 1975, phong trào phổ biến cáo trạng số 2 tố cáo ông Thiệu nhiều tội và hô hào lật đổ bằng võ lực khiến ông ta phải dùng biện pháp mạnh cho bắt giam nhiều nhà chính khách, đảng phái.
Người dân trong nước đã quá chán ghét chính quyền thối nát, dĩ nhiên người Mỹ phải chán nản hơn thế nữa, tiền của họ đổ vào từ bao lâu nay y như gió lùa vào nhà trống, cựu đại sứ Bùi Diễm nói.
“Một quốc hội quá chán ngán chiến tranh và mệt mỏi vì đã yểm trợ một đồng minh có quá nhiều khuyết điểm và thối nát”
Nhà bào Trần Văn Ân, Tướng Trưởng, Phạm Huấn, chính khách, ký giả… đều cho rằng đất nước đã được giao phó vào tay lãnh đạo tồi. Trần Việt Ðại Hưng cũng như nhiều nhà báo
khác cho rằng Thiệu, Kỳ không phải là những nhà lãnh đạo mà chỉ là những anh cai thầu chiến tranh, hễ có tiền thì đánh, không tiền thì chạy. Trong tám, chín năm cầm quyền, ta không thấy chính phủ Thiệu có một kế hoạch gì về chính trị, kinh tế cũng như quân sự mà chỉ trông chờ vào Mỹ, ông Nguyễn Tiến Hưng cho rằng ta đã hoàn toàn lệ thuộc vào Mỹ từ quốc phòng, ăn ở, giao thông, vận chuyển…
Ðương đầu với một kẻ thù nguy hiểm, công chức quân nhân không được học tập về đường lối, lý tưởng chủ nghĩa quốc gia.. hoặc có chăng chỉ là hình thức. Tổ chức hoạt động tuyên truyền của chính phủ rất yếu kém, không lôi cuốn được sự ủng hộ của nhân dân trong khi kẻ địch thường xuyên tuyên truyền nhồi sọ cán binh, nhân dân, bộ đội để lái họ theo đường hướng chúng đã vạch ra. Bộ Thông tin, tuyên truyền của ta không giáo dục, tuyên truyền cho người dân, quân nhân, công chức một lý tưởng Quốc gia, lý tưởng Tự Do Dân chủ để quân dân ta có một tinh thần vững mạnh mà chỉ là chính sách tự vệ, gặp VC ở đâu thì đánh đấy.
Ông Nguyễn Ðức Phương cho rằng người dân không tích cực yểm trợ cho công cuộc chiến đấu.
“Cuộc chiến tranh quá dài đã khiến mọi người mệt mỏi, giao khoán hoàn toàn việc bảo vệ đất nước cho quân đội. Phần lớn thanh niên không thiết tha, đôi khi còn trốn tránh nghĩa vụ quân sự trong thời chiến. Tất cả những mục nát của chính quyến, thờ ơ của dân chúng và sự ung thối của xã hội miền nam đã cấu thành yếu tố tự hủy”(CTVNTT, trang 806)
Một điều không thể chối cãi được là người Quốc Gia luôn luôn chia rẽ khiến cho CS đã thừa cơ nước đục thả câu. Ngay từ những năm 1945, 46.. các đảng phái Quốc Gia đã chia rẽ nhau khiến cho CS lợi dụng thời cơ tuyên truyền lôi cuốn quần chúng để rồi cướp được chính quyền. Ông Ngô Ðình Diệm chấp chánh ngày 7-7-1954, so với các Thủ Tướng tiền nhiệm như Trần Văn Hữu, Nguyễn Văn Tâm, Bửu Lộc… ông Diệm là người có bản lãnh cao nhất, dám chơi bạo hất cẳng Pháp để đi theo Mỹ. Ðụng chạmvới Bảo Ðại thân Pháp, tháng 4-1955, ông Diệm được triệu hồi sang Pháp để Quốc trưởng cất chức. Các đảng phái Quốc gia, nhân sĩ.. đều nhiệt tình ủng hộ Thủ tướng Diệm, đả đảo và truất phế ông vua vong bản Bảo Ðại. Năm 1956 ông Diệm Trưng Cầu dân ý lên làm Tổng thống rồi từ từ xung đột với các đảng phái, nhân sĩ Quốc gia. Những người Quốc gia trước đây ủng hộ ông nay quay lại chống ông. Chính phủ cũng chống đối đàn áp những người đối lập ra mặt.
Sau ngày đảo chính 1-11-1963, miền Nam lại lâm vào tình trạng chia rẽ trầm trọng gấp bội lần hơn trước. Các Tôn giáo, Tướng lãnh tranh giành quyền hành biến miền Nam thành một đất nước vô chính phủ. Phật Giáo, Công giáo chia rẽ đả kích nhau trên báo chí, rồi lại có phe chủ trương chia rẽ Bắc Nam để hòng thủ lợi. Năm 1966 chính quyền quân nhân đã tạm ổn định được tình hình lại bị phong trào Phật Giáo miền Trung chống đối dữ dội, phong trào đã gây tình trạng sáo trộn nhiễu nhương khiến cho nhân tâm sao xuyến, kẻ thù thừa cơ len lỏi phá hoại cơ cấu Quốc gia.
http://www.nhomai.vn/forum/anhnhomai/33684a1040e4cde5f.jpgCho đến gần giờ thứ hai mươi lăm, cuối 1974 và đầu 1975, những cuộc biểu tình chống chính phủ của Linh mục Trần Hữu Thanh, đảng phái, chính khách… khiến cho các binh sĩ ngoài tiền tuyến mất tinh thần chán nản và ảnh hưởng tai hại đến sự sống còn của đất nước.
Nguồn: http://lichsuvn.info/forum/showthread.php?t=1394

Đinh Văn Đệ sinh năm 1924 (Giáp Tý) tại xã Long Thuận - xã anh hùng, trước thuộc huyện Tân Châu, tỉnh Châu Đốc, nay thuộc huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp, cũng tại quê hương Long Thuận này đã sản sinh ra nhiều nhà tình báo.

Trong bộ quần áo dài màu trắng của một chức sắc đạo Cao Đài, ông Đinh Văn Đệ năm nay đã 85 tuổi, nhưng vẫn minh mẫn tiếp anh Nguyễn Tấn Tước và tôi với nụ cười đôn hậu dễ mến. Nhưng khi biết ý định của tôi gặp để viết về những hoạt động của anh trong sào huyệt đầu não kẻ thù, anh lắc đầu từ chối, vì anh bây giờ là người tu hành không muốn nhắc lại chuyện cũ, nhất là gần đây trên mạng có kẻ đội lốt nhà báo cách mạng công kích nói xấu anh, cho anh là kẻ phản bội chế độ Việt Nam Cộng Hoà (!).


Ông Đinh Văn Đệ

Điều đó làm anh rất phiền lòng, anh chỉ muốn được yên tâm lo chuyện đạo (hiện nay chức danh anh trong đạo là “Đạo trưởng Thiên vương tinh”). Anh Nguyễn Tấn Tước và tôi trao đổi với anh mục đích chuyện viết không phải đề cao cá nhân anh, mà chính là muốn nhân dân hiểu thêm về ngành Tình báo - những chiến sĩ trên mặt trận thầm lặng - đã chiến đấu gian khổ hi sinh thế nào để đóng góp phần nhỏ của mình vào thắng lợi vĩ đại của dân tộc trong suốt cuộc trường chinh vừa qua.

Cuối cùng, sau khi đắn đo suy nghĩ cân nhắc, anh đồng ý kể lại chuyện hoạt động của mình trong giai đoạn cuối cuộc chiến tranh trong vỏ bọc là “Chủ tịch Uỷ ban Quốc phòng của Hạ Viện Việt Nam Cộng Hoà”. Tôi hỏi - trong cuộc đời làm điệp viên chiến lược “luồn sâu, leo cao” của anh có những kỷ niệm gì làm anh nhớ mãi? Anh trầm ngâm: - Tôi xin kể ba việc mà tôi nhớ mãi, coi đó là những đóng góp chút ít của mình vào công cuộc giải phóng miền Nam:

1. Kế hoạch oanh kích Lộc Ninh của địch…

Sau khi ta giải phóng thị xã Phước Long ngày 6/1/1975, đồng chí Phạm Hùng (Bí thư Trung Ương Cục) có hỏi bộ phận Tình báo miền liệu địch có tái chiếm Phước Long hay không để ta biết trước mà đối phó. Tôi được giao nhiệm vụ trả lời câu hỏi này.

Theo thủ tục thông thường tôi điện qua Phủ Thủ tướng mời ông Tổng trưởng Quốc Phòng qua điều trần trước với Quốc hội để trả lời tại sao mình có binh sĩ trong hệ thống phòng thủ mà lại để thất thủ vào tay Việt Cộng, lỗi tại ai? Nhiều dân biểu chất vấn rất hóc búa, thậm chí chỉ trích gay gắt, khiến ông Tổng trưởng trả lời rất vất vả. Tôi đã liệu trước tình huống này, nên sau phiên họp, tôi đến gần ông an ủi: “Tôi thấy các anh cực quá. Thôi tôi tính thế này, từ rày tôi sẽ giúp anh, anh nói bên tướng Cao Văn Viên (Bộ Tổng tham mưu) cấp cho Chủ tịch Uỷ ban Quốc Phòng một cái giấy thông hành thường trực để được ra vào bên cơ quan quốc phòng, trực tiếp hỏi Trưởng phòng hành quân để báo cáo tình hình với Quốc hội, khỏi bắt các anh đi lại điều trần vất vả” - anh Đệ cười nói tiếp - Ông Tổng trưởng quốc phòng chịu ngay. Thế là họ trúng kế, lại còn chịu ơn tôi nữa.

Có giấy thông hành trong tay, tôi qua gặp trưởng phòng hành quân may lại trúng người tôi đã quen biết cũ khi còn học ở trường võ bị Thủ Đức, nay mang quân hàm chuẩn tướng. Tôi hỏi: - Phước Long thất thủ rồi liệu có tái chiếm lại không? Anh ta vỗ vai tôi thân mật: “Đại ca đừng lo (hồi học ở Thủ Đức, đám học viên hay gọi tôi là “đại ca”). Ai dại gì kéo bộ binh lấy lại cái nơi mình phòng thủ rồi thất thủ. Tôi sẽ phục thù bằng cách khác, sẽ cho máy bay quần nát Lộc Ninh”. Tôi báo cáo tin đó về căn cứ, lãnh đạo lại hỏi có thật chắc không? Tôi đã trả lời là chắc, vì viên chuẩn tướng ấy còn cho tôi xem trên bản đồ hắn ghim cái đinh mũ tại Lộc Ninh ký hiệu oanh kích rõ ràng.

Quả nhiên vài ngày sau, máy bay địch ném bom Lộc Ninh. Vì biết trước nên ta tránh được thiệt hại, nhưng quan trọng hơn là ta yên tâm chuyển quân lên đánh trên Tây Nguyên, sau đó là tấn công Buôn Ma Thuột… Anh nhấp một ngụm nước rồi kể tiếp.

2. Trung Ương Cục ở đâu?

Việc thứ hai là lãnh đạo cứ muốn biết liệu địch có nắm được Trung Ương Cục ở đâu và động thái chuyển quân của mình không. Tôi ngẫm nghĩ kỹ rồi không đi hỏi bên Bộ Quốc Phòng mà trực tiếp khảo sát ngoài chiến trường - ta gọi là “đi thực tế” - cho chắc ăn.

Tôi điện sang Bộ Quốc Phòng đề nghị cấp cho tôi - Chủ tịch Uỷ ban Quốc phòng Hạ Viện - một chiếc trực thăng, cho Trung tướng Tôn Thất Đính, Chủ tịch Uỷ ban Quốc phòng Thượng Viện một chiếc, và cho Trung tướng Trần Văn Đôn, Phó Thủ tướng một chiếc để đi uỷ lạo binh sĩ đang tổ chức tử thủ, vì lúc này, Pleiku, Đà Nẵng đã bị ta chiếm. Đoàn bay đến Bến Cát (Bình Dương) nơi Sư Đoàn 5 đang bố trí lực lượng phòng thủ, tôi hỏi: Địch đã biết rõ ta ở đâu, còn ta có biết Trung Ương Cục của địch ở đâu không và có biết địch di chuyển thế nào không. Đến Sư Đoàn 18 của tướng Lê Minh Đảo ở Xuân Lộc, tôi cũng hỏi như vậy. Họ trả lời thế nào tôi cũng đều nhập tâm hết, lại được xem những bản đồ hành quân của họ.

Với vốn kiến thức quân sự đã giúp tôi tổng hợp được tình hình và cung cấp thông tin thâu nhận được ra ngoài cứ, để phân tích, vì chính tôi cũng không biết Trung Ương Cục ở đâu và quân ta di chuyển như thế nào… Chắc chắn những thông tin ấy rất bổ ích giúp ta bảo toàn ưu thế bí mật, chủ động và bất ngờ…

3. Xin viện trợ để Mỹ cắt viện trợ

Chuyện tham gia phái đoàn sang Mỹ không phải xin viện trợ bình thường mà chính là xin “viện trợ khẩn cấp”. Anh giải thích - số là sau khi tan vỡ mặt trận Tây Nguyên phải bỏ Pleiku, Đà Nẵng, tình hình quân Ngụy rất nguy kịch. Tất cả đều trông chờ vào viện trợ Mỹ để cứu vãn. Thiệu vẫn ngoan cố không chịu từ chức, còn ông Kỳ vẫn hung hăng thề tử thủ, đại sứ Mỹ ở Sài Gòn Martin thì hối thúc viện trợ. Chính trường bên Mỹ rất hoang mang không biết nên tiếp tục hay bỏ cuộc chiến. Chính trong tình thế đó, Sài Gòn quyết định cử phái đoàn Quốc hội sang Mỹ để vận động xin viện trợ khẩn cấp để cứu nguy.

Tôi là Chủ tịch Ủy ban Quốc phòng Hạ Viện, đương nhiên phải tham gia phái đoàn. Theo chương trình, khi sang Mỹ các Nghị sĩ sẽ chia nhau làm việc và vận động “hành lang” với các cơ quan và chính khách Mỹ. Trước khi đi, tôi suy nghĩ mãi làm cách nào để vận động xin viện trợ mà kết quả lại để Mỹ “cắt viện trợ”. Quả là một công việc hết sức khó, nhưng phải làm bằng được.

Khi sang Mỹ mỗi đại biểu đều có nhân viên Đại sứ quán Việt Nam Cộng Hoà bên đó đi kèm, hớ hênh là bại lộ hay đẩy chiều hướng trái ý đồ của mình. Chính kiến thức quân sự của tôi học của Mỹ đã giúp tôi chọn cách lấy chính sự thật đang diễn ra trên chiến trường Việt Nam, hướng cho Mỹ thấy chính tình thế không thể cứu vãn được là cách thuyết phục tốt nhất để Mỹ bỏ cuộc mà mình bề ngoài vẫn tỏ ra tha thiết yêu cầu viện trợ khẩn cấp để cứu nguy.

Với cái chiêu “nói vậy mà không phải vậy”, làm cho các đại biểu trong Đoàn thấy tôi là người tận tụy yêu cầu tha thiết nhất xin viện trợ khẩn cấp để cứu chế độ Sài Gòn khỏi sụp đổ. Chính sự thông tin về chiến trường của tôi – qua cách tư duy của người Mỹ - khiến họ nản chí muốn bỏ cuộc. Tôi đưa ra hình ảnh những người lính Cộng Hòa níu càng máy bay trực thăng để trốn chạy khỏi chiến trường thì người Mỹ hiểu ngay họ phải làm gì.

Qua các cuộc vận động hành lang rồi tiếp đến là phái đoàn được Tổng thống Mỹ G. Ford mời đến gặp ở Nhà Trắng. Đây chính là phiên họp quan trọng nhất quyết định sự thành bại của chuyến đi. Mỗi đại biểu đều nói – trong đó có tôi – Tổng thống Mỹ đều lắng nghe hết, cuối cùng ông kết luận: “Thôi các vị cứ yên tâm về đi. Tôi sẽ cử một vị tướng qua thị sát tình hình rồi sẽ quyết định sau”. Nghe Tổng thống Mỹ nói như vậy, tôi hiểu ngay là Mỹ sẽ bỏ cuộc… và như vậy là tôi đã hoàn thành nhiệm vụ. Ngay sau đó, một vị tướng được cử sang Sài Gòn với rất đông các quan chức chuyên viên Mỹ tháp tùng… để rồi cắt viện trợ. Và những gì xảy ra sau đó thì chúng ta đã biết cả rồi.

Đã gần 34 năm trôi qua sau chiến thắng lịch sử Mùa Xuân 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, cũng như bao chiến sĩ Tình báo quân sự khác – những anh hùng trong mặt trận thầm lặng – Đinh Văn Đệ trở về cuộc sống một công dân bình thường cùng gia đình phụng sự Đạo như bao giáo sĩ Cao Đài khác. Anh không đòi hỏi sự đãi ngộ của cấp trên đối với những thành tích mà anh đã cống hiến bằng sức lực, trí tuệ cho ngành, cho cách mạng trong suốt quá trình hoạt động bí mật. Anh coi đó là phần đóng góp nhỏ nhoi của mình vào thắng lợi vĩ đại của dân tộc, làm tròn nhiệm vụ của người chiến sĩ vô danh. Anh không được may mắn như các đồng chí Tình báo chiến lược khác như Phạm Ngọc Thảo, Phạm Xuân Ẩn, Vũ Ngọc Nhạ và một số đồng đội khác – còn sống hay đã hy sinh – được Đảng và Nhà nước thưởng công lao một cách trang trọng… Trong thâm tâm anh thông cảm và chia sẻ niềm vui với họ.

Trong cuộc trường chinh kéo dài suốt ba mươi năm của dân tộc, đánh bại hai đế quốc hùng mạnh nhất để bảo vệ nền độc lập, thống nhất tổ quốc, đã có biết bao cán bộ chiến sĩ Tình báo hy sinh thầm lặng, thậm chí có đồng chí khi chết còn mang tiếng là “Việt gian” mà ngành không làm sao thanh minh được, chỉ có ngành và tổ quốc ghi nhận công lao của họ. Một lần nữa, tôi lại nhớ đến nhà văn Lê Tri Kỷ viết trong lời tựa quyển tiểu thuyết tình báo của ông: “Kính tặng những người chết không để lại tên, những người còn sống không muốn nêu tên”. Nhưng những đóng góp vô giá của họ vào thắng lợi vĩ đại của dân tộc thì Tổ quốc và nhân dân ta không bao giờ quên, “uống nước nhớ nguồn” là một đạo lý truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta từ xưa đến nay.Tưởng nhớ lại hình ảnh Quê hương ta 50 năm về trước:

photo

Dinh Độc Lập, 01-7-1961 - Các đoàn thể chúc mừng TT Diệm nhân dịp kỷ niệm 7 năm ngày đảm nhiệm chức vụ Tổng Thống.
photo
photo
photo
Đại tướng Lê Văn Tỵ, Tổng Tham Mưu trưởng Quân đội VNCH
photo
Phó Tổng Thống Nguyễn Ngọc Thơ
photo
photo
photo
photo
photo
TT Diệm tiếp phái đoàn các tu sĩ Phật giáo tại Dinh Độc Lập nhân dịp kỷ niệm 7 năm cầm quyền 1955-1961.
photo
photo
photo
photo
photo
photo
photo
photo
photo
photo
photo
photo
photo
photo
photo
photo

photo
photo
photo
photo
photo

Saigon 1961 - Le Loi Avenue

photo
photo
photo
photo
photo
photo
photo
photo

Saigon 1961

photo
photo
photo
photo
photo
photo
photo
photo
South Vietnam Presidential Palace 1961
photo
TT Diệm dự lễ trong nhà nguyện tại Dinh Độc Lập
photo
photo
trong một nhà máy dệt tại SG 1961
photo
photo
quân trường 1961
photo
photo
photo
photo
photo
photo
TT Diệm kinh lý Ban Mê Thuộc
photo
photo
photo

Ban Me Thuot 1957

photo
photo
photo

Ban Me Thuot 1957

bắt giữ kẻ âm mưu ám sát TT Diệm tại Hội chợ Xuân 1957 tại Ban Mê Thuột
photo
photo
photo
photo
photo
photo
photo
photo
photo

No comments:

Post a Comment