Monday, October 3, 2011

Tôn Nữ Thị Ninh

Tôn Nữ Thị Ninh(theo Wikipedia) sinh ngày 30 tháng 10 năm 1947 tại thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên-Huế, là hậu duệ của hoàng tộc nhà Nguyễn. Năm 1950, bà theo gia đình sang Pháp và sau đó lại cùng gia đình trở về Sài Gòn. Vào năm 1964, bà sang Pháp du học ở Đại học Paris (Pháp) và Đại học Cambridge (Anh), bà đã tham gia hoạt động với Mặt trận Giải phóng Miền Nam Việt Nam. Bà còn dạy Anh văn và văn học Anh ở Đại học Paris 1, École Normale Supérieure, Fontenay-aux-Roses và Université des Droits. Sau đó, khi về nước, bà dạy ở Đại học Văn khoa Sài Gòn. Cho đến năm 1975, tình cờ bà gặp Trưởng ban Đối ngoại Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam là ông Xuân Thuỷ - người đã từng biết bà trong thời gian hội nghị Paris (1968-1972) và theo lời khuyên của ông, bà về làm việc tại Ban Đối ngoại Trung ương.
Bà trở thành nhà ngoại giao bắt đầu bằng công việc phiên dịch và bà đã học được nhiều kinh nghiệm khi đi dịch cho Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, ông Xuân Thuỷ, ông Nguyễn Cơ Thạch... Ông Jean-Pierre Debris
, khi nghe bà dịch cho Tổng thống Pháp François Mitterrand trong chuyến thăm Việt Nam năm 1993 đã ví bà như người thợ kim hoàn lành nghề. Bà đã làm đại sứ ở ba nước Bỉ, Hà Lan và Luxembourg và Liên minh châu Âu (EU). Bà còn giữ cương vị là người đứng đầu đại diện của phái đoàn Việt Nam ở Liên minh châu Âu tại Brussel (Bỉ) và đã từng giữ một nhiệm kỳ trong Ủy ban Trung ương của Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam. Cương vị gần đây nhất mà bà nắm giữ là Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Đối ngoại Quốc hội. Trên cương vị đó bà đã có một số những phản bác tương đối mạnh mẽ trước một số cáo buộc về vấn đề nhân quyền từ phía Hoa Kỳ và quốc hội Hoa Kỳ. Tháng 8 năm 2007, bà đã thôi giữ chức tại quốc hội và tham gia vào lĩnh vực giáo dục với tư cách Chủ tịch Hội đồng sáng lập Trường ĐH tư thục Trí Việt.*Tôn Nữ Thị Ninh, bà là ai?Nói đến gương anh thư liệt nữ, người Việt thường hay nhắc đến Hai Bà Trưng, Bà Triệu. Ngày nay trải qua mấy ngàn năm văn hiến, Việt Nam tuy không còn trong chế độ mẫu hệ nữa, nhưng dòng giống oai linh của Mẹ Việt Nam còn tồn tại đến ngày hôm nay là nhờ di truyền tính của các các bà vẫn còn tiềm tàng trong hậu duệ chúng ta. Do đó từ việc giữ vững cơ đồ cho đến chuyện bảo tồn nòi giống, chúng ta vẫn phải nhớ ơn khai phóng của nữ giới, tôn vinh “con cháu Hai Bà”: những người phụ nữ thầm lặng và sáng giá vẫn son sắt với dòng đời. Riêng cá nhân tôi, lúc nào cũng cảm phục sự hy sinh và sức chịu đựng của các phụ nữ đời thường, lúc nào cũng tò mò muốn tìm hiểu thêm về con người và tư duy của họ. Làm thế nào để tìm về bản chất của những người sống chung quanh tôi đã khó chứ đừng nói gì đến chí hướng của những phụ nữ cao xa! Gần đây, khi có cơ may gặp gỡ hai người đàn bà: nhà văn Dương Thu Hương và bà đại sứ Tôn Nữ Thị Ninh, tôi mang suy tư nặng trĩu về vai trò nối tiếp hữu ích của hai người; tuy thanh cao hơn, nhưng ở một mức độ nào đó, tôi cảm nhận trong họ một mức chịu đựng mãnh liệt và vô biên, không khác gì những người chân lấm tay bùn (mà bà Hương thường nhắc đến) có khác chăng họ là những con người sống cho lý tưởng và chọn lựa của mình bất kể những trạng huống ngang trái và éo le của cuộc đời. Người ta sẽ chất vấn tôi: Tại sao lại có thể đặt hai người đàn bà này trong cùng một câu văn như thế. Không có hình ảnh nào có thể tương phản hơn, không có lý tưởng nào lại đối chọi như vậy. Người thứ nhất tự cho mình là một người nhà quê dốt nát, chân đất váy đụp, cố gióng lên tiếng nói quả cảm của lương tri để thức tỉnh công dân Việt sống sao cho xứng đáng với trách nhiệm và bổn phận làm người và con dân của họ. Người thứ hai thuộc dòng dõi hoàng tộc, học vấn uyên thâm, đại diện cho cả nước đi chiêu dụ thế giới góp phần xây dựng Việt Nam. Tôi đã viết nhiều về Dương Thu Hương nên hôm nay xin nói về bà đại sứ Tôn Nữ Thị Ninh. Do vậy mục đích bài viết này không phải để so sánh hai người và chỗ đứng của họ đối với nhà nước Việt Nam, nhưng nếu có thể được, sẽ cố tìm hiểu những điều cụ thể, những ẩn dụ và bóng gió trong lời nói, những gì chưa hoặc không nói ra. Vì đối với một nhà ngoại giao uyên thâm, khôn khéo, mềm mỏng và từ tốn như bà Tôn Nữ Thị Ninh thì từ luận điệu đến ngôn từ chắc gì đã hàm chứa nhiều bằng cách thức và âm điệu của chúng? Và tôi cũng xin phép những nhà ái quốc chân chính - những người tự cho mình quyền phán xét thế nào là yêu nước đúng (thế nào là) sai - để nói rằng từ trên đỉnh cao trí tuệ của mình, bà Tôn Nữ Thị Ninh hẳn đã tin rằng chuyện mình đang thực hiện là đúng (yêu nước), cũng như bà Dương Thu Hương, người bị buộc lưu đày xa quê hương dấu yêu tin rằng quyết định (yêu nước) của mình đúng. Người thứ nhất, cố thi hành những điều tích cực mà bà có thể trong vai trò của mình, dù phải đại diện cho một chế độ như hiện tại. Người thứ hai cố thức tỉnh lương tâm của dân tộc mình, đang ngủ một giấc say và mệt nhoài, cổ vũ họ hãy sống sao cho xứng đáng với lương tâm con người, trách nhiệm và bổn phận làm dân. Hai ngày 25 và 27 tháng Năm 2006, tôi có cơ hội được nghe và gặp gỡ bà Tôn Nữ Thị Ninh. Thứ Năm tại Trung tâm Nghiên cứu châu Á Thái Bình Dương Shorenstein ở Đại học Stanford. Bài diễn văn của bà nhan đề "Tư thế độc đáo của Việt Nam trong một thế giới nối liền" (Vietnam Uniqueness in A Globalized World). Thứ Bảy lại đi nghe bà nói chuyện ở Menlo Park (gần San Jose) trong một bầu không khí thu gọn và riêng tư hơn (khoảng gần 30 người hầu hết là Việt Nam và 6 du sinh Việt, ngoại trừ một người đàn ông Mỹ) Với một giọng Huế thân mật và truyền cảm mà bà thích sử dụng hơn Anh văn, bà cố gây thiện cảm với người nghe. Là hậu duệ mấy đời của hoàng tộc Huế, với tư cách lịch sự, hiền hòa và giọng Ăng-lê Oxford pha với âm hưởng Pháp khả ái, bà đã chiếm cảm tình và thu phục được nhiều thành phần ở Hoa Kỳ, Âu châu và nhiều nơi trên thế giới trong vấn đề giao tế tích cực hơn với Việt Nam. Kể cả những nhà an bang tế thế của miền Nam thời trước, phải nhìn nhận ít có ai sánh kịp với vai trò ngoại giao của bà. Không hiểu có phải do cái buồn diệu vợi trước tình thế lưỡng nan của đất nước ̣(kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa) mà bà đã thích ứng với vai trò đại sứ lưu động không? Nhưng những người tinh ý sẽ cảm thông cho vai trò khó khăn của bà, và có lẽ sẽ chia sẻ với nhận định của giáo sư Don Emerson, Giám đốc Trung tâm Đông Nam Á Shorenstein ở Stanford, người đã giới thiệu bà hôm thứ năm: "Trong môi trường ngoại giao nói riêng, nhất là ngoại giao đa phương, có thể nói rằng không có một lãnh đạo Việt Nam nào có thể đại diện cho Việt Nam một cách ý tứ và bặt thiệp như bà Ninh". Ông cho biết thêm, vào tháng Mười năm nay ở Hội nghị Thượng đỉnh Las Vegas, bà Ninh sẽ được Fortune Magazine vinh danh là một trong 100 Phụ nữ Quyền uy Nhất Thế giới. Thật vậy, là cố vấn cho Bộ Ngoại giao Việt Nam, bà là người có trọng trách dàn xếp nỗ lực của quốc tế cho Việt Nam cũng như giúp tổ chức Hội nghị Thượng đỉnh các nước Pháp thoại ở Hà Nội năm 1997. Bắt đầu từ thập niên 60, khi là sinh viên miền Nam du học ở đại học Sorbonne (Pháp) và Cambridge (Anh) bà đã tham gia hoạt động với Mặt trận Giải phóng Miền Nam và sau đó dạy Anh văn và văn học Anh văn ở Université de Paris 1, École Normale Supérieure Sonetenay aux Roses và Université des Droits (Đại học Luật khoa) vào cuối thập niên 60, sau đó về dạy ở Đại học Văn khoa Sài Gòn cho đến năm 1975. Từ năm 2000 đến 2003 đại diện cho Việt Nam làm đại sứ ở ba nước Bỉ, Hòa Lan, và Lục Xâm Bảo và đứng đầu đại diện của phái đoàn Việt Nam ở Liên hiệp Âu châu ở Bruxelles (Bỉ). Bà giữ một nhiệm kỳ trong Ủy ban Trung ương của Hội Phụ nữ Việt Nam. Một điều mà tôi cảm nhận được xuyên qua hai buổi nói chuyện là bà Tôn Nữ Thị Ninh, hơn là một người chống chế cho chế độ, hơn là một người chỉ chấp nhận thực thể Đảng trị của nhà nước, cũng là một người mong đợi một sự biến đổi nào đó trong chính quyền. Khi được hỏi: "Có phải Việt Nam ngày nay theo chế độ tư bản hơn là xã hội?", bà trả lời một cách sửng sốt, như bị điện giật: "Chủ nghĩa xã hội không phải là chuyện để tôi xía vào!"; như thể đây là chuyện cấm kỵ, bà vội nói: "Nói trắng ra là, nếu ông hỏi tôi, cho tôi biết chủ nghĩa xã hội là gì, thì có lẽ chúng ta chỉ có thể gãi đầu gãi tai mà thôi… không, tôi nói thật đó. Vì sao? Bởi vì nếu ông thật tình theo dõi, ông sẽ thấy diễn biến ở Đông Âu đã làm cho mọi người phải lo nghĩ, ngay cả ở Việt Nam, ngay cả trong Đảng Cộng sản Việt Nam, và cũng vì chuyện ở Đông Âu mà đã có những thay đổi trong Đảng Cộng sản Việt Nam nữa. Kỳ Đại hội Đảng vừa qua đã có quyết định là đảng viên có quyền làm ăn riêng, cho phép họ mở doanh nghiệp tư. Đảng Cộng sản đã tốn 20 năm để đi đến quyết định này. Con người không đổi ý mau như thế, đúng không? Và nói thật, thí dụ như ở Mỹ thử hỏi xem người ta có muốn cấm súng, như vậy chuyện ấy có thành hình ngày mai không? Các ông sẽ có chuyện tranh cãi dữ dội đúng không? Và có thể chuyện này, tôi cũng không biết sẽ kéo dài bao nhiêu năm. Như vậy mọi xã hội phải tự quyết định lấy họ có an tâm với cái đà cải tổ này hay không. Vì vậy chúng ta đừng nên nói đến nhãn hiệu. Chúng tôi gọi là chủ nghĩa xã hội, các ông có thể gọi nó bằng bất cứ tên gì các ông thích." Rồi hình như vẫn còn dao động vì câu hỏi tại sao Việt Nam hơn bốn ngàn năm nay vẫn bị giới cai trị hứa hẹn một ngày mai tươi sáng giống như bài hát "Chờ nhìn quê hương sáng chói" của Trịnh Công Sơn, người Huế đồng hương của bà (sáng tác trước 1975), một bài hát rất mỉa mai và vẫn ứng nghiệm hôm nay, bà trả lời: "Nói về phát triển, mở mang, chúng tôi đang thực hiện điều đó hiện nay, hãy về Việt Nam và thử một phen xem sao. Điều mà chúng tôi biết, chúng tôi đang tìm một nền kinh tế thị trường với bộ mặt nhân bản, chú tâm đến chuyện công bằng xã hội, văn hóa và phát triển về mặt nhân văn… Còn chuyện khi nào chúng tôi mới tìm đến đó được, tôi cũng không rõ. Chúng tôi đang thật sự cố gắng". Rồi với một thái độ như muốn thố lộ điều gì, bà cho biết: "Mau cỡ nào, cái đó còn tùy thuộc vào tất cả các người dân trong nước." Xong có vẻ như cam chịu với đà tiến triển quá chậm chạp của Việt Nam trong phạm vi chấp chính này, khi có người hỏi tại sao cải cách về dân chủ vẫn còn quá chậm so với cải cách kinh tế, bà trả lời: "Mong mỏi dân chủ hóa ở Việt Nam là một điều ai cũng muốn", và bà nhìn nhận hai phạm trù này không phát triển đồng bộ ở Việt Nam hiện giờ, bà lại tiếp tục: "Nhưng điều này có thể thay đổi". Rồi bà kết luận một cách khó hiểu: "Mười năm tới đây, ai biết chuyện gì có thể xảy ra?" Ngày thứ Bảy, trong một buổi họp mặt kéo dài gần bốn tiếng ớ Menlo Park, gần Đại học Stanford, một nhóm thân hữu, gồm những người thích đóng góp tích cực để giúp hoán cải tình trạng ở Việt Nam, tụ tập để trao đổi một cách lịch thiệp và tế nhị, tuy không kém phần thẳng thắn và sôi nổi những đề tài như: Việt Nam vào WTO cho đến chuyện quy chế song quốc tịch của Việt kiều (có thể bị chính quyền bắt bớ vì chuyện tư tưởng của họ hay không) cho đến chuyện thành lập một đại học quốc tế ở Việt Nam, (hàng đầu thế giới, khởi sắc từ chuyến đi Mỹ thăm Harvard của ông Phan Văn Khải). Đây là một nhóm công tác được nhà nước khuyến khích và ban giáng và bà Ninh hẳn nhiên là người chủ xướng. Ngoài chuyện được nhà nước chỉ thị thành lập từ một đến ba đại học như thế từ Nam chí Bắc, bà Ninh có kế hoạch riêng để thiết kế một đại học tư thục ở vùng Bà Rịa-Vũng Tàu mà bà sẽ đặt tên là Việt Trí. Xét tổng hợp những chuyện bàn đến, cộng với chủ đề "mong chờ và hy vọng" mà bà đã nhắc nhiều trong hai ngày nói chuyện, hay cụm từ "Mau lên mà xếp hàng" mà bà đã dùng trong ngày thứ Bảy, người ta có thể đoán được cái khó khăn của bà trong việc thuyết phục một nhà nước đang lo sợ mất tự chủ với những lý tưởng mà bà muốn đưa ra. Như thế dự án thành lập một đại học, tuyển dụng Việt kiều trong ban giáo sư, soạn đề án và giáo trình, ngay cả chức vụ làm viện trưởng với lương bổng tương đương của thế giới có thể thành hình không? Chúng ta chỉ biết tin vào (chờ nhìn) ngày mai sáng chói. Còn chuyện giới trẻ của Việt Nam (60 % dân số là những người dưới 30 tuổi) mà bà đang muốn thu hút và nói tới, có phải họ đang đối đầu với một sự thui chột lịch sử to lớn khi thế hệ chuyển tiếp của cha ông họ đang muốn viết lại lịch sử hay đoạn tuyệt với quá khứ này để chính nghĩa hóa sự trị vì của mình? Do đó, ngoài chương trình tin học, quản trị kinh doanh, quản trị hành chánh (do một du sinh trẻ Việt Nam đề xướng) và chuyện lịch sử văn hóa (do một luật sư ở San Jose đề nghị) có thể nào lịch sử Việt Nam cận đại từ thực dân đến cộng sản/quốc gia phải được dạy lại? Dẫu vậy, sau khi mọi tranh cãi lắng xuống, bà Ninh vẫn là bộ mặt sáng sủa nhất mà Việt Nam có thể trình ra cho thế giới hiện nay, một người văn hóa thâm thúy, học vị cao lại sành sỏi về thời sự quốc tế cũng như guồng máy chính trị Hoa Kỳ. Thiết nghĩ không còn một người Việt Nam nào có thể thay thế bà trong vai trò của bà hiện nay. Nếu có một điều nghịch lý sái buổi chợ, lỗi thời trong chế độ cộng sản hiện nay: bà Tôn Nữ Thị Ninh chính là một trong những bộ mặt nhân ái nhất trong thời hậu-cộng-sản-kiêm-tư-bản của Việt Nam hiện giờ. Bởi vì người ta không thể dùng cụm từ "cộng sản với bộ mặt con người" một cách đồng nhất hay chính xác hơn ở Việt Nam được nữa. Tôi đã theo dõi bà Ninh với nhiều ngạc nhiên và quan ngại và có thể nói tôi thông cảm vấn nạn của bà. Bởi vì sau cùng, tôi đồng cảm với vai trò đại sứ nhiều thiện chí cho một quốc gia, nơi mà hứa hẹn tương lai đang che lấp thực tế của một nhà nước giữ cửa, không chấp nhận sự đóng góp của công dân họ trong guồng máy hành chánh, 60 năm sau khi Bác Hồ tuyên bố độc lập cho một Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở Quảng trường Ba Đình.
Nguyễn Khoa Thái Anh(Talawas)
BBC & Bà Tôn Nữ Thị Ninh, nguyên đại sứ Việt Nam tại Liên minh châu Âu (EU) và Phó chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại Quốc hội. Thông thạo tiếng Anh và Pháp, bà Ninh được xem là một trong những nhà ngoại giao nổi bật và có cá tính nhất của Việt Nam thời Đổi Mới. Năm 2007, sau khi thôi cương vị ở Quốc hội, bà trở thành Chủ tịch Hội đồng sáng lập Trường Đại học tư thục Trí Việt, đang tiến hành xây dựng ở Bà Rịa- Vũng Tàu. Bà chia sẻ với Xuân Hồng về thế nào là ngoại giao hiện đại, nhận xét việc quảng bá cho Việt Nam "chưa đủ mạnh dạn". Bà cũng đồng ý dân chủ là khát vọng chung của nhân loại, nhưng cho rằng nó có thể bị lợi dụng trong quá trình phát triển của Việt Nam. Ngoại giao Việt Nam
Bà Ninh từng là Đại sứ Việt Nam tại Liên minh châu Âu (EU) và là Phó chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại Quốc hội Việt Nam.
Theo bà Ninh, "ngoại giao hiện đại rất khác ngoại giao xưa. Ngoại giao hiện đại phải ‘bình dân hóa’, nếu tôi có thể dùng từ ấy.”
“Sẽ hạn chế nếu hiểu ngoại giao chỉ là công việc giữa các nhà ngoại giao, tổ chức với nhau. Ngoại giao giờ đây phải đa năng và đa kênh.”
Bà Ninh giải thích trong mỗi sứ quán phải có một người “giỏi về truyền thông”, mà theo bà Việt Nam chưa có. Bà nói: “Việc quảng bá cho đất nước, đây đó, còn chưa đủ mạnh dạn, chưa chủ động.”
Một vấn đề làm bà quan tâm là công tác đến với cộng đồng người Việt ở nước ngoài và bảo hộ cho công dân Việt Nam ở nước ngoài.
Bà Ninh nhấn mạnh: “Nó đòi hỏi người ở các sứ quán phải am hiểu luật pháp quốc tế.”
Công việc ở Quốc hội
Xuân Hồng hỏi khi bà còn là đại biểu Quốc hội, bà đã đáp ứng được kỳ vọng của người dân hay chưa.
Bà Ninh giải thích bà là đại biểu Quốc hội chuyên trách – khác với đại biểu kiêm nhiệm.
“Đã là chuyên trách, tức là không sống và làm việc tại địa phương mà là sống tại Trung ương, Hà Nội. Một năm tôi về được năm, sáu lần để tiếp xúc cử tri.”
“Nhưng chúng tôi cũng nói sòng phẳng với cử tri là nếu nói về những vấn đề địa phương, thì trong đoàn đại biểu QH của một tỉnh như Bà Rịa – Vũng Tàu (6 người), có hai người chuyên trách của trung ương.”
Bà Ninh nhiều năm làm đại biểu Quốc hội
Nếu có những vấn đề của địa phương được nêu, bà Ninh nói bà nghe và quan tâm nhưng “chắc khó theo dõi vấn đề thường xuyên”.
Bà giải thích cử tri có thể gửi gắm ở bà về vấn đề đối ngoại hoặc những vấn đề chung về luật.
“Thí dụ, bà con than phiền về tham nhũng. Có cử tri nói vì sao đến giờ không có luật chống tham nhũng – thời gian đó chỉ mới có một Pháp lệnh. Khi quay về họp ở trung ương, chúng tôi đã phản ảnh tâm tư đó.”
Sau đó Quốc hội Việt Nam kiến nghị phải nâng Pháp lệnh lên thành Luật chống Tham nhũng.
Bà Ninh lưu ý Luật này có điểm đặc biệt là do chính Quốc hội, chứ không phải Chính phủ, đề xuất.
Khát vọng dân chủ
Đối diện câu hỏi về đòi hỏi dân chủ của người Việt Nam trong và ngoài nước, bà Ninh trả lời:
“Khát vọng dân chủ là của cả người dân thế giới, là xu thế của loài người. Nhưng mỗi khái niệm lại có nội hàm khác tùy theo ai là người đề cập.”
“Một số người nhắc tới dân chủ để tạo sức ép hơn là vì mong muốn cái tốt đẹp cho người dân Việt Nam.”
Bà Ninh nhận xét mọi bình luận về Việt Nam đều là bình thường nhưng nếu nó “xa thực tế, thì mãi mãi cũng chỉ là câu chuyện của phòng khách salon.”

Bà nói: “Vấn đề khó là mổ sẻ thực tế cho sát hợp và nếu có đề xuất, phải khả thi.”
*Bà Tôn Nữ Thị Ninh và vấn đề đối thoại
VW: Bà Tôn Nữ Thị Ninh, sinh năm 1947, từng là đại sứ đặc mệnh toàn quyền của Việt Nam tại Bỉ, Hà Lan và Liên Âu. Bà là người thuộc hoàng tộc nhà Nguyễn, học ở các trường đại học Sorbonne của Pháp và Cambridge của Anh. Bà đã từng dạy môn văn học Anh tại các trường đại học tại Pháp, và đại học văn khoa Saigòn. Hiện tại bà giữ vai trò phó chủ nhiệm Quốc Hội chuyên trách đối ngoại. Cuộc phỏng vấn này được thực hiện vào tối thứ sáu ngày 22 tháng 6 tại khách sạn St. Regis ở Dana Point, quận Cam. Đề tài phỏng vấn liên quan đến tình trạng tự do báo chí và dân chủ tại Việt Nam hiện nay.
VW: Về tự do ngôn luận và tự do báo chí, ở Việt Nam chưa có tự do báo chí tư nhân. Theo sự suy nghĩ của những người quen thuộc với nền tảng xã hội ở Mỹ, báo chí là công cụ để giám sát chính quyền để tránh sự lạm dụng trong xã hội Việt Nam như tham nhũng. Mà nếu báo chí được điều khiển bởi chính quyền sẽ khó làm được vai trò giám sát chính quyền và là tiếng nói của người thế cô. Bà nghĩ sao về chính sách báo chí trong nước?

TNTN: Quả thật luật báo chí ở Việt Nam và Mỹ khác nhau. Tuy nhiên, nó không đơn giản là trắng đen. Tôi xin giải thích là, ngày nay có 500 đến 700 ấn phẩm khác nhau ra hàng ngày, hàng tuần hoặc hàng tháng. Không có nhà nước nào có bộ máy nào đó để ngồi đó đọc tất cả các ấn phẩm đó trước khi xuất bản. Cho nên, không nên hiểu một cách máy móc. Thực ra, bây giờ các Tổng biên tập chịu trách nhiệm nội dung tờ báo của mình. Nếu có bị góp ý, là góp ý sau, chứ không phải góp ý trước. Các Tổng biên tập phải chịu trách nhiệm tờ báo của mình. Thứ hai, trong luật chống tham nhũng có điều khoản, đề nghị báo chí phát huy vai trò góp sức chống tham nhũng. Nói cách khác là, không nên bị ám ảnh hoàn toàn là vì chưa có nhà xuất bản tư nhân cho nên không có tư duy độc lập, tu duy phê phán trong báo chí. Công bằng mà nói, nếu mở báo Tuổi Trẻ hàng ngày, báo Thanh Niên hàng ngày, phải nói là khá thẳng thừng, đương nhiên ở Việt Nam không có văn hóa là muốn chửi Tổng thống là chửi. Tôi là người hơi am hiểu xã hội phương Tây. Vì sao người ta thoải mái chửi Tổng thống. Có ai xử Tổng thống, mà người chửi Tổng thống có kéo Tổng thống ra khỏi ghế được không. Chỉ có khác là, Việt Nam là Á Đông, đương nhiên chế độ chưa chấp nhận quyền phân lập, cho nên không có chửi Chủ tịch nước trên mặt báo. Tôi thừa nhận. Tôi cho đó là thứ yếu. Nếu tôi dùng từ chửi, đó là xoa dịu tinh thần. Ơ bên này, cho phép chửi Tổng thống như là safety ground, là good action. Rồi sau đó, Tổng thống vẫn đó. Hai đảng vẫn đó. Tôi đã từng tranh luận với người Mỹ, một người political science professor ở South Carolina là, tôi không hiểu tại sao ở Mỹ chỉ có hai đảng, không có nhiều đảng như ở châu Aâu. Bao giờ mới có đảng thứ ba. Đảng thứ ba ở Mỹ không ngóc đầu lên nổi. Trong ý tôi là, các bạn phải thừa nhận là trong xã hội nào cũng có những truyền thống như kim cô. Kim cô, tôi thừa nhận ở Việt Nam có, nhưng không phải ở nước Mỹ không có. Tôi nói thật, Jewish lobby, ở đây ai mà dám nói điều gì không thuận cho Israel. Đó là taboo. Như tôi đã từng nói như gun ownership, có vũ khí trong nhà. Tôi không thể hiểu nổi, những vụ thảm sát như Nor như mấy hôm nay đưa lên mặt báo trở lại, nó xa lạ với người Việt Nam lắm. Chính người Việt Nam trải qua chiến tranh như thế nhưng không muốn có vũ khí trong nhà. Còn nước Mỹ, gun lobby dễ sợ lắm, không bao giờ cấm được. Tại sao không? Về lý mà nói, đất nước thời cao bồi, thời viễn tây đã qua rồi, tại sao còn cần súng trong nhà. Riêng điều đó có thể tranh luận. Yù tôi muốn nói là, về tự do báo chí, tự do ngôn luận, so với Mỹ có khác. Có thể về hình thức không thể rộng rãi như ở Mỹ. Nhưng mà nếu rơi vào thái cực nói rằng là, chỉ vì nó là của nhà nước cho nên không tự do, không suy nghĩ độc lập, không phê phán là không chính xác, không công bằng. Nếu lấy sản phẩm ra đọc, sẽ thấy rằng, đâu phải như thế. Trong quốc hội, khi thảo luận về phòng chống tham nhũng, chúng tôi cũng ghi nhận vai trò rất quan trọng của báo chí. Những vụ tham nhũng lớn là toàn báo chí phanh phui chứ ai nữa, một dạng investigate report. Họ có làm chứ không phải là không. Họ nêu rất cụ thể là ông Mai Văn Dâu như thế nào, con trai ra sao…
VW: Cộng đồng ở hải ngoại cho rằng, vì báo chí trong nước chịu sự điều khiển của nhà nước, cho nên làm cho người Tổng biên tập lo sợ, mặc dù được quyền làm trước báo cáo sau. Đồng thời, có thể đi đến tình trạng báo chí là công cụ cho những thế lực chính trị trong chính quyền thanh toán lẫn nhau. Điều đó có xảy ra không?
TNTN: Tôi không rõ. Nhưng tôi phản bác như thế này. Ơû Việt Nam, đúng là nhà nước còn có vai trò chi phối phần nào (báo chí). Nhưng ở Mỹ, những ông chủ mua những tờ báo cũng có chi phối chứ không phải là không. Họ chi phối có thể là khéo léo hơn, ít lộ liễu hơn nhưng không phải là không chi phối. Vì vậy, ông Rupert Murdoch muốn mua báo nào đó, người ta rất lo sợ, tôi nghĩ không phải vấn đề tiền, vì ai có tiền cứ mua. Nhưng họ thích rằng, người mua phải là người họ tin tưởng, họ yên tâm rằng người này tư duy cởi mở, sẽ liberal, sẽ không áp đặt quan điểm nào đó. Và các ông cũng sẽ bị mất ghế vì ông boss mới, không phải là nhà nước, mà là ông Rupert Murdoch. Yù tôi muốn nói là, tôi thừa nhận trong nước chưa có báo tư nhân. Nhưng đồng thời, tôi không có thừa nhận là vì báo chí tư nhân nghĩa là báo chí hoàn toàn tự do, hoàn toàn fair. Đôi khi nó là free but not quite fair. Thời vấn đề Campuchia, tôi đã từng viết thư trả lời Đại sứ Philippine, trong những năm 1980, phê phán chính sách Việt Nam tại Campuchia. Tôi có viết thư trả lời báo Washington Post, tôi nhớ, tôi gởi, tôi yêu cầu người phụ trách báo chí của phái đoàn Việt Nam ở Liên Hiệp Quốc gởi cho Washington Post mà không chịu đăng. Tôi yêu cầu anh ta nói lại rằng, đây là fair play, fairness. Quí vị đã đăng bài của ông Đại sứ Philippine phê phán Việt Nam, chỉ trích Việt Nam, bây giờ cho Việt Nam write the reply để defend. Nói kiểu gì họ cũng không đăng. Tôi kết luận rằng, tôi dùng đến argument đó mà họ cũng không đăng. Tại vì sao? Tại vì đã có chủ trương rất là rõ ràng, lúc đó dứt khoát chỉ thiên về ASEAN chứ không muốn cho bên Việt Nam lên tiếng nói. Kinh nghiệm riêng của cá nhân tôi như thế. Tôi đi đến kết luận là, free but not quite fair. In theory, trên nguyên tắc là tự do, nhưng trong practice không phải là không có những individual constraint cho những ràng buộc, kiềm chế vô hình. Cho nên, nó không phải là trắng và đen. Ở Mỹ, có thể nó dễ dàng hơn. Tôi cũng muốn nói với bà con hải ngoại rằng, điều gì cũng phải có thời gian. Ngày nay, so với năm 1975, báo chí đã thay đổi nhiều lắm. Cho nên, đọc không xuể, đọc nhiều tờ báo thú vị lắm. Điều mà cần thêm cho báo chí trong nước là những bài nghiên cứu sâu. Thiếu những tạp chí có chiều sâu. Như tôi bên lãnh vực đối ngoại, tôi thấy những foreign affair, foreign policy, tôi rất mong Việt Nam dần dần có những tạp chí như thế. Còn về báo chí hàng ngày, tôi chưa chắc là tôi thích daily press bên này hơn bên Việt Nam. Đây là tôi nói thật. Ơû đây, tôi mở CNN, tôi thấy mệt quá. CNN ở trong nước là CNN International, họ đưa thông tin về thế giới nhiều. Mỗi lần tôi ở khách sạn Mỹ, trên lãnh thổ Mỹ, họ có CNN National, toàn là chuyện xảy ra như đám cháy, người mất tích… Tôi nói thật, văn hóa khác quá, vì chạy theo ăn khách. Cho nên là, một cô gái pregnant bị mất tích, cũng rất là đáng tiếc. Ở Iraq người ta chết như thế, những trận bão lụt người chết như thế… làm sao một người mất tích lại lên tin liên tục…
VW: Đó là hậu quả tất nhiên của một nền kinh tế thị trường mà hiện nay Việt Nam cũng đang đi theo…
TNTN: Tôi mong là càng ngày càng cởi mở nhưng mà đừng chạy theo quá mức. Tôi cũng có nói các vị trong quốc hội Hoa Kỳ, tôi đã từng nói thẳng với bà Loretta Sanchez, bà với tôi đều được dân bầu. Bà lắng nghe một số cử tri của bà. Message thứ nhất của tôi là, bà phải lắng nghe tất cả, bà chỉ nghe local minority. Bà không chịu khó lắng nghe majority. Thứ hai, một dân biểu là một chính khách, không chỉ nghe mà phải guide và lead. Lẽ nào, tôi là một dân biểu rất bảo thủ về vấn đề phụ nữ mà tôi đồng ý với quan điểm bình đẳng giới. Lúc đó, tôi phải cố gắng nói cho dân nghe rằng, không nên như vậy, nên cởi mở hơn, nên tiến bộ hơn. Cho nên, phải có hai mặt. Xu hướng chung ở hạ viện Mỹ là nghe, và nghe ai nói to. Cho nên, làm cho toàn bộ tầm nhìn hạn chế và ngắn hạn. Chẳng qua là, hai bên phải hiểu cho nhau. Tôi muốn kết thúc là quan hệ Việt Nam và Hoa Kỳ, suy cho cùng, 30 năm qua như thế là tiến nhanh. Đối với hai nước, đã từng trải qua chiến tranh khốc liệt như thế, mà ngày hôm nay được như thế này, phải nói là điều nhiều người không thể ngờ được. Tôi không thể nào mường tượng được. Cho nên, cũng như cốc nước nửa đầy nửa vơi. Nói là chậm quá cũng đúng. Nói là nhanh thế cũng đúng. Tôi thiên về nhân thế. Lúc tôi làm Đại sứ bên Châu Aâu, ở Bỉ, có người nói với tôi, có biết có những quán cà phê họ bị ám ảnh về sự chiếm đóng của Nazi. 50 năm sau, người ta vẫn không quên được. Cho nên, phải có cái nhìn rộng ra, mới thấy, Việt Nam và Hoa Kỳ là câu chuyện thú vị và độc đáo.
VW: Bà có thời gian cho một câu hỏi nữa?
TNTN: Bây giờ là mấy giờ rồi. Khai thác ghê quá. Nhưng mà ngắn thôi nhé.
VW: Rất ngắn. Lúc nãy bà có nói rằng, những người biểu tình bên kia đường còn vương vấn sự thù hận. Nhưng thực ra, có những người chống đối vì đòi hỏi về vấn đề dân chủ. Vì họ nghĩ rằng dân chủ tạo ra sự giám sát và phân quyền, check and balance, cần thiết để trong sạch hóa chính quyền. Định nghĩa của bà về dân chủ như thế nào? Bà trả lời những người đang đòi hỏi dân chủ cho Việt Nam như thế nào?
TNTN: Thứ nhất, họ đòi hỏi tại sao họ không có ôn tồn tới đây đối diện với chúng tôi để đòi hỏi. Dù tôi muốn nói rằng, tôi không hiểu tại sao họ phải biểu tình để đòi hỏi. Dân chủ là cùng xây với nhau. Dân chủ không phải là đứng bên này đòi bên kia phải có dân chủ. Dân chủ là phải góp ý. Thí dụ như Liên Minh Châu Au chống án tử hình, đó là điểm bất đồng của Hoa Kỳ. Liên Minh Châu Au và Hoa Kỳ không có đồng quan điểm về death penalty. Liên Minh Châu Au rất kiên trì, năm này qua năm nọ, thuyết phục Việt Nam tiến tới bỏ án tử hình. Tiếp xúc ở cấp cao họ đều nói đến. Khi tổ chức những hội thảo, họ đưa chuyên gia sang để chứng minh rằng, án tử hình không mang tính chất răn đe. Những người nói rằng, dùng án tử hình để giảm tội ma túy. Thực chất rằng, nào có giảm tội ma túy đâu. Người ta chứng minh rằng, siêu lợi nhuận của ma túy làm cho người ta sẵn sàng chết take the risk để đổi đời nhanh chóng, mặc dù bất hợp pháp. Tôi có quan điểm muốn bỏ án tử hình. Trong xã hội Việt Nam cũng có một số người có cùng suy nghĩ như tôi. Tôi được biết chính phủ Việt Nam, đang yêu cầu các cơ quan chức năng nghiên cứu, thứ nhất, hình thức thi hành án tử hình ít đau đớn nhất hoặc nhân đạo hơn phương pháp hiện giờ. Đồng thời, Chủ tịch Trần Đức Lương, tiền nhiệm của Chủ tịch Nguyễn Minh Triết, trong phát biểu từ biệt tại quốc hội đã gởi gấm lại hy vọng rằng, sớm đây Việt Nam sẽ tiến tới bỏ án tử hình, công khai trên diễn đàn quốc hội.
VW: Ý bà muốn nói rằng, những người ở đây muốn đối thoại về vấn đề dân chủ nên đi theo một tiến trình đối thoại để thuyết phục lẫn nhau?
TNTN: Nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt cũng chỉ nói điều đó thôi. Đương nhiên, thuyết phục nổi được trong nước, tôi hiểu rồi. Đa số những người bên kia đường muốn lập một đảng mới, điều đó coi bộ là chưa được. Cũng như tôi hỏi ông giáo sư chính trị học ở đây, When are you going to have a third political party in the US? Oâng trả lời chắc còn lâu, ông bảo thế. Về logic, lẽ ra rất là dễ dàng để có thêm một đảng thứ ba.
VW: Có một điểm rất khác biệt giữa từ một đảng lên hai đảng, và từ hai đảng lên ba đảng chứ. Hai đảng có thể giám sát và canh chừng lẫn nhau, bà có nghĩ như thế không?
TNTN: Không. Tôi cho là, khác biệt về chính trị ít lắm. Tôi rất thú vị nghiên cứu về đời sống chính trị ở Mỹ. Theo tôi được hiểu, tôi không biết có hiểu đúng hay không. Tôi thấy là, có một loại logic không cưỡng lại được của vấn đề tranh cử khiến cho mình có suy nghĩ, có quan điểm, có lập trường để lúc ra tranh cử mình sẵn sàng lách bên này lách bên kia. Ơû nước Mỹ này, rất khó để mà giữ chính kiến. Nước Mỹ có nhiều điều rất hay. Đồng thời có những điều ăn sâu, nghĩa là kim cô, không có nhúc nhích được. Hình thức có vẻ sôi động nhưng thực chất more and more … Ở Việt Nam có thể tranh cử không được sôi động lắm. Nhưng ở Mỹ phải có mấy chục triệu đô la trở lên mới tranh cử được, tôi thấy mệt quá.VW: Trong hệ thống xã hội dân chủ Mỹ, họ ứng dụng nguyên tắc phổ thông của dân chủ là giám sát và phân quyền trong chính quyền và trong tất cả mọi ngành. Ơû trong Đảng hoặc trong hệ thống chính quyền Việt Nam hiện nay, có cơ cấu giám sát và phân quyền để tránh sự lạm dụng quyền lực hay không?TNTN: Về nguyên tắc quốc hội giữ vai trò giám sát. Chính quốc hội yêu cầu có luật chống tham nhũng. Ơû bên hành pháp kiến nghị với quốc hội là sẽ trình lên quốc hội một dự thảo. Hành pháp soạn bản dự thảo. Quốc hội xem qua, giao cho ban liên quan để xem xét. Trong khóa XI vừa rồi, luật chống tham nhũng do đại biểu quốc hội yêu cầu vì cử tri nhắc mãi. Chính tôi khi đi tiếp xúc cử tri, bà con cứ nói là bức xúc với tham nhũng, tại sao không có luật. Trước đó có pháp lệnh nhưng dân chúng ít biết vì mức độ ràng buộc và tầm cao không bằng luật. Đương nhiên khó mà so sánh với vai trò quốc hội Mỹ, có lẽ vai trò quốc hội Mỹ về giám sát là mạnh mẽ nhất thế giới, mạnh hơn bên Châu Aâu. Nhưng nếu nói quốc hội ở Việt Nam không có vai trò, là không đúng. Vai trò của quốc hội đã có một bước tiến như là chất vấn từ Thủ tướng trở xuống. Trung tâm thông tin của quốc hội có làm survey đánh giá cách làm việc của các bộ trưởng rất thú vị. Vị bộ trưởng được điểm cao nhất là Bộ trưởng Tài nguyên Môi trường Mai Ai Trực. Trước đó, Bộ Tài nguyên Môi trường đã cử những nhóm lãnh đạo đến những địa phương nóng để mở cửa và mời dân đến phản ánh. Làm cho người ta chú ý. Người bị điểm thấp nhất là Bộ trưởng Y tế. Tôi cũng buồn vì đó là một phụ nữ. Nhưng người dân đã đánh giá một cách chính xác.
VW: Mặc dù bà nói rằng, quốc hội ngày càng có tiếng nói mạnh mẽ hơn trong vai trò giám sát chính quyền. Nhưng nhìn từ xa, trong cả chính phủ, hành pháp lẫn lập pháp, đại đa số nhân sự đều nằm dưới quyền điều khiển của Đảng Cộng sản Việt Nam. Như vậy, vẫn chưa có giám sát và phân quyền một cách rốt ráo. Trong cơ cấu của Đảng, có giám sát và phân quyền hay không?
TNTN: Ở Việt Nam chưa có tam quyền phân lập nhưng có sự phân công, phân vai. Trong suốt quá trình tôi là đại biểu quốc hội, tôi chưa bao giờ bị Đảng dặn là phải bỏ phiếu như thế nào cả. Chỉ có một hai lần, có một thông báo giấy là vấn đề này, quan điểm của lãnh đạo là như thế này. Chỉ như thế thôi, hàm ý để mình tham khảo, chứ không có đề nghị phải thế này, phải thế kia. Tôi không rõ lúc xưa. Tôi cũng có nghe lúc xưa khác lắm. Còn bây giờ, tôi bỏ phiếu hoàn toàn theo lương tâm của tôi.
VW: Như vậy, ý của bà có phải là sự chỉ đạo của Đảng bây giờ tương đối giống như sự chỉ đạo của Đảng ở Mỹ chỉ có tính cách đưa ra đường hướng?
TNTN: Không. Riêng về điểm đó, cần phải hiểu cho chính xác. Có vị nghị sĩ của Mỹ đã từng nói với tôi, về bỏ phiếu, chính Đảng yêu cầu họ bỏ phiếu theo Đảng. Vì có hai đảng. Đương nhiên, không phải ai cũng nghe. Cho nên, cũng có người Cộng hòa bỏ phiếu theo Dân chủ và ngược lại. Ơû Việt Nam chỉ có một Đảng. Chỉ có Đảng viên hoặc không Đảng viên. Không đảng viên sẽ không nhận bất cứ chỉ thị gì. Tôi là đảng viên, tôi nói đúng sự thật, tôi chưa bao giờ bị dặn là phải bỏ phiếu như thế nào. Như tôi đã nói, chỉ có vài lần, có tờ giấy nói rằng quan điểm của lãnh đạo đảng là như thế này, rất nhẹ nhàng. Cuối cùng, tôi vẫn bỏ phiếu theo suy nghĩ của tôi. Chủ tịch quốc hội Nguyễn Văn An là người suy nghĩ sâu sắc về vấn đề, như thế nào là vai trò lãnh đạo của Đảng. Theo tôi, nó thể hiện qua từng con người đảng viên trong quốc hội. Không có nghĩa là nó thể hiện bằng cách cầm tay bấm nút bỏ phiếu, không phải như thế, không phải thô thiển như thế. Nó thể hiện qua bộ óc cá nhân của từng đảng viên. Tôi nghĩ rằng, có những đảng viên họ suy nghĩ xu thế chung như thế nào, họ bỏ phiếu như thế. Vẫn có những người bỏ phiếu ngược lại. Logic rất khác bên này. Thật sự chẳng có dặn dò gì cả. Ngày nay đã khác lắm. Lúc xưa, tôi không biết như thế nào. Có thể bị sự hướng dẫn trực tiếp hơn, trực diện hơn.
VW: Đảng Cộng sản Việt Nam trên thực tế có vẫn còn theo đuổi học thuyết Cộng sản hay không? Có còn sử dụng ứng dụng nó nữa hay không?
TNTN: Trong đời sống hàng ngày thì ít lắm. Còn ở học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, trường đảng, chắc chắn họ tập trung học. Giai đoạn này, về mặt lý thuyết, không xuất hiện nhiều trong đời sống hàng ngày của người Việt Nam. VW: Bà có sẵn sàng gặp những nhân vật của đảng phái đối lập ở hải ngoại để có cuộc nói chuyện trao đổi không?
TNTN: Tôi, nói chung, ai tôi cũng muốn gặp. Tôi đã thử gặp, tôi đã đối thoại ở San Diego… Lần đó, họ cũng có ban đón tiếp ở bên kia đường. Trường UC San Diego mời họ vào bên trong phòng với tinh thần khác với tinh thần của tôi. Họ chiếm lấy 2/3 ghế, họ đứng dậy và make speeches. Tôi nói gì họ cũng không nghe. Họ không có chất vấn đâu. Họ chỉ có đả đảo. Họ nhắc lại thời Mậu Thân. Chúng ta không nên go down that road. Vì tôi có thể nhắc đến Mỹ Lai, chuồng cọp… Khơi dậy lại những nỗi đau đó để làm gì. Điều đó là vô phương cứu chữa. Làm như vậy chỉ là quay lưng lại với nhau thôi. Không ai thuyết phục được ai. Nếu như thế, chúng ta đành chấm dứt ở đây, và chúng ta đi về thôi. Cho nên, cách đặt vấn đề quá khác. Lần đó, tôi đến trong tinh thần đối thoại, rất đáng tiếc, tôi nói chuyện như thế này, mà có người nói tôi là you are a liar. Họ tới để chửi tôi, tùy họ thôi. Như tôi mà còn bị chửi, tôi không biết họ nói với ai bây giờ. Ở Việt Nam, tôi là người chịu khó, mà còn bị họ chửi. Ý tôi muốn nói là, tôi mong là phải sòng phẳng, công bằng. Ở bên này cố như thế, có khi hơi chậm, hơi vụng về, hơi nửa vời. Nhưng những người đứng ở bên kia có cố không, họ chẳng có cố một tí nào cả. Bên này bảy bước, bên kia cũng phải ba bước chứ. Chứ cứ đứng bên kia đường, bắt mọi người phải qua bên kia. Rồi phải xin lỗi. Không thể có. We are human. Ai cũng có lòng tự trọng. Cho nên, đòi hỏi hơn mức đành chịu. Lịch sử có thời gian của nó. (Theo VW)
*Hà Sĩ Phu và Tôn Nữ Thị Ninh
Lần đầu nhìn thấy tên của mình, bên cạnh tên một cô bé học cùng lớp - được viết thật to trên bảng, lồng khung trong hình một quả tim - mặt tôi bỗng đỏ bừng lên vì ngượng ngập, sung sướng và... hạnh phúc! Hạnh phúc ở tuổi ấu thơ sao mà giản dị, nhẹ nhàng, dễ dàng, lảng xẹc (và dễ ẹc) như vậy - hả Trời? Tôi vẫn cứ nhớ mãi cái cảm giác hơi choáng váng, có pha lẫn một chút ngây ngất, rạo rực như thế - cho mãi đến bây giờ.
Và bây giờ thì chắc chắn ông Hà Sĩ Phu cũng sẽ choáng váng (thấy mẹ luôn) khi "bỗng" nhìn thấy tên mình bên cạnh tên bà... Tôn Nữ Thị Ninh! Tôi cũng sợ rằng ông ấy sẽ không cảm thấy rạo rực, ngất ngây, sung sướng hay hạnh phúc gì cho lắm - khi có một người phụ nữ (thứ dữ) như bà Ninh đột ngột xuất hiện và đi (sát ngay) bên cạnh cuộc đời mình, như thế.
Dù biết thế, và dù cũng hết sức áy náy cho ông Hà Sĩ Phu, tôi vô cùng tiếc là đã không không có cách chi giúp cho đương sự thoát khỏi tình huống rất khó khó khăn (và khó coi) như hiện cảnh. "Chuyện tình" giữa bà Tôn Nữ Thị Ninh và ông Hà Sĩ Phu (kể) cũng hơi dài. Xin được bắt đầu bằng một bài báo ngắn, với tựa là "Sống Ðời Chùm Gửi" của Nguyễn Triều - như sau:
" Khách uống cà phê trên đường Nguyễn Chí Thanh, quận 10 không lạ gì một thanh niên bán vé số ngoài ba mươi tuổi bị liệt chân, di chuyển bằng tay trên hai chiếc ghế gỗ. Ðáng chú ý ở chỗ, tháp tùng theo anh là một thanh niên trẻ hơn, cao lớn và khoẻ mạnh. Mọi việc diễn ra đã được lập trình sẵn: Người thanh niên liệt chân vào quán mời khách, anh chàng 'hộ pháp' lên xe lăn ngồi chờ!
"Có một cặp khác, bà lão 'cổ lai hy' được 'hộ tống' bởi một thanh niên khoảng hai muơi tuổi. Qui trình làm việc của cặp này được 'phô tô' giống hệt cặp kia... Rõ ràng ở đây hai anh chàng khỏe mạnh kia đang sống nhờ vào đôi chân què quặt của người thanh niên và cái dáng lom khom của bà lão bẩy muơi (http://www.nld.com.vn/tintuc/thoi-su/nhung-dieu-trong-thay/97280.asp).
Tưởng gì chứ "sống nhờ" vào sự khốn cùng, và nỗi bất hạnh của kẻ khác thì ở Việt Nam (bây giờ) kể-như-là-chuyện-nhỏ, và là chuyện vô cùng phổ biến. Có nhiều trường hợp "rõ ràng" hơn và tệ hại hơn nhiều nhưng Nguyễn Triều không biết; hoặc giả, tuy cũng có biết nhưng nhà báo ( quốc doanh) thấy không "tiện" nói. Xin đơn cử vài trường hợp (hơi) khó nói:
Năm 2002, sau chuyến đi thăm những trại cùi ở Việt Nam, linh mục Ðinh Thanh Bình đã tường thuật như sau:
"Trên danh nghĩa hiện thời, nhà nước quản lý 21 trại cùi ở Việt Nam. Tuy nhiên ban điều hành các trại đa số vẫn là do các nữ tu đứng đầu... Trại phong Di Linh hiện giờ có 350 bệnh nhân, nhưng chỉ có 147 người đủ tiêu chuẩn trợ cấp 15 Úc Kim một tháng của chính quyền. Số còn lại 200 người thì mặc kệ tụi mày, sống chết mặc bay, tao không cần biết. Nhà nước chỉ giỏi cướp công, mỗi lần đưa phái đoàn ngoại quốc đến thăm để xin tiền, nhà nước sẽ đưa tới Di Linh, vì Di Linh là một trọng điểm kiểu mẫu. Xin được bao nhiêu, vô túi ai không biết, vì Di Linh không hề nhận được thêm đồng cắc nào. Tôi rời Di Linh, để lại thêm một số tiền, ít ra cũng nuôi được vài bữa cơm qua ngày cho 200 người cùi thiếu tiêu chuẩn không biết làm sao mà sống được cho đến mùa Tết tháng sau
(http://vietpage.com/archive_news/politics/2003/Mar/20/0164.html).
Và đây là chuyện xẩy ra ở một cái trại khác:
"Chị tôi rủ đi thăm một trường câm điếc ở Sông Bé... Chúng tôi chất thức ăn lên xe, bánh mì ổ, nồi 'la gu' (lỏng chỏng thịt bò xắt cục, khoai lang trôi trong nước súp đùng đục), thùng chè đậu quơ cái vá mới thấy cái. Chị bảo ít vậy chứ nấu từ 3 giờ sáng, mà cũng nhiều người góp của lắm nghe mới đủ một bữa trưa cho mấy đứa nhỏ."
"Chúng tôi đem thức ăn vào nhà bếp để hâm lại. Trường có hai dẫy dành cho học sinh nam và nữ cách nhau một sân rộng và một hàng rào. Tôi được sơ hiệu phó giới thiệu với một người đàng ông có tuổi tầm vóc trung bình, ốm, nét mặt thông minh đang ngồi trong căn phòng của ban Giám hiệu:
Ðây là anh B, Hiệu Trưởng, đảng viên nhưng rất cởi mở...
"Rồi ông và sơ thay nhau nói về thành tích của trường. Năm 1886, các cha người Pháp dòng Phao-lồ thành lập, đến nay có 270 học sinh nhưng vì thiếu tiền nên nhà nước chỉ nuôi 250 đứa, mỗi tháng phát 55 ngàn cho mỗi em, thành thử nhu cầu bức thiết của trường không phải là giấy mực hay sách giáo khoa mà là thực phẩm... " (Lý Không Minh. Ngày Về Của Quỷ. Ðồng Dao, Victoria, 1977, 33).
Sao (đ... mẹ) mâm nào cũng có tụi nó ngồi sẵn ở đó - vậy cà? Kể cả những mâm ăn mà "khoai lang trôi trong nước súp đùng đục, thùng chè đậu quơ cái vá mới thấy cái" mà bao kẻ đã phải dành dụm, chắt bóp để chia sẻ với những đứa bé thơ câm điếc. Quý vị đảng viên cộng sản Việt Nam khiến tôi liên tưởng đến hai người đàn ông "hộ pháp" - luôn luôn ngồi chờ một bà lão già và một thanh niên khuyết tật đang bò lê bán vé số - ở đường Nguyễn Chí Thanh, Sài Gòn.
Hai người này đã bị ông nhà báo Nguyễn Triều gọi là những kẻ sống đời ký sinh hay chùm gửi. Lời kết án này e (hơi) vội vã, và cũng có phần (quá) khắt khe. Ðẩy xe lăn cho một người già nua hay phế tật đi bán vé số là một hình thức cộng sinh, một cách hợp tác để sinh tồn, dù cách phân công trông (có vẻ) hơi khó coi chút đỉnh. Và nó chỉ "có vẻ" thế thôi chứ chưa hẳn đã thế. Không ai biết đích xác liên hệ giữa những người trong cuộc ra sao và chuyện họ chung sức làm ăn được chia chác thế nào? Còn cái cách kiếm tiền của Ðảng và Nhà Nước CSVN (dựa trên lòng trắc ẩn mà nhân loại dành cho những người dân kém may mắn nhất ở xứ sở này) thì rõ ràng (và hoàn toàn) không sòng phẳng. Sơ Giám Ðốc Trung Tâm Mai Hoà, nơi chăm sóc cho những bệnh nhân liệt kháng ở Củ Chi, đã cho biết thế này: "Một triệu đô la Mỹ viện trợ khi tới tay trung tâm may ra còn một triệu đồng Việt Nam" (http://www.danchu.net/ArticlesChinhLuan/Collection4/DinhThanhBinh.htm). Một cá nhân có thể sống cuộc đời chùm gửi nhưng một dân tộc thì không. Theo đuổi chính sách sống bám là chủ trương của một chế độ bệnh hoạn; đã thế, còn huyênh hoang và tự mãn về lối sống đời ký sinh của mình thì kể như là hết thuốc. Bà Tôn Nữ Thị Ninh có thể coi như là một thí dụ tiêu biểu và điển hình cho cái loại người hết thuốc (chữa) như thế. Với cương vị Phó Chủ Nhiệm Ủy Ban Ðối Ngoại Quốc Hội, cuối năm 2004, bà Ninh đã được phái đến Hoa Kỳ gần một tháng. Chuyến công du này - trên danh nghĩa - có mục đích nhằm cải thiện mối tương giao (vốn chưa bao giờ tốt đẹp) giữa Việt Nam với Mỹ, và với cộng đồng người Việt tị nạn cộng sản ở đất nước này.
Theo ngôn ngữ của báo chí của người Việt ở hải ngoại thì bà Tôn Nữ Thị Ninh có nhiệm vụ đi "giải độc". Bà Ninh đi đâu, gặp gỡ những ai, giải độc (hay rải độc) thế nào..., tôi tuyệt đối không hề bận tâm. Tôi không có rảnh rỗi đến thế.
Dù thế, tôi vẫn hết sức kinh ngạc khi đọc tường những bài phỏng vấn của báo chí ở Việt Nam dành cho bà Ninh - sau chuyến đi này. Bà Ninh giễu cợt khi kể lại những biểu tình phản đối sự hiện diện của mình ở Hoa Kỳ, và đối với cộng đồng người Việt tị nạn ở nơi đây - cái tập thể mà hằng năm vẫn chăm chỉ và đều đặn gửi về VN vài ba tỉ đô la - bà Tôn Nữ Thị Ninh đã (thỏ thẻ) bỏ nhỏ như sau: "Mình là thế thượng phong của nguời chiến thắng, mình cần chủ động, người ta không thể chủ động được do mặc cảm, cũng không thể yêu cầu ngươi ta đi trước, họ đứng ở vị trí không thuận lợi trong tiến trình lịch sử" (http://www.thanhnien.com.vn/TinTuc/XaHoi/2004/12/25/38166/?Print).
Dân Việt có thành ngữ (thú vị) là "đi xa về nói khoác". Tôi cũng thuộc loại người khoác lác, cỡ một tấc đến Giời, nhất là sau khi đã uống sương sương vài ba ly Cognac, nhưng nghe qua miệng lưỡi của "Madame Ninh" thì (chợt) biết mình còn yếu cơ - thấy rõ.
Cái nhìn của tôi về thế sự, xem ra, cũng không được "bao la và trời biển" như "Bà Ðại Sứ". Tôi hoàn toàn (và tuyệt đối) không thấy ra "cái vị trí thuận lợi trong tiến trình lịch sử " của nhà đương cuộc Hà Nội - trong hiện cảnh. Nếu dân làng Ba Ðình đang thực sự ở "thế thượng phong" thì quý quan chức ngoại giao như ông Nguyễn Ðình Bin, Nguyễn Phú Bình và bà Tôn Nữ Thị Ninh đâu đến nỗi phải bị gậy túa đi khắp mọi nơi. Tôi cũng có dịp đi qua nhiều xứ sở, gặp đủ kiểu và đủ cỡ hành khất nhưng chưa thấy ai đi ăn xin với giọng điệu hợm hĩnh (và ngu xuẩn) quá cỡ như vậy.
Thái độ láu cá và trơ tráo của bà Tôn Nữ Thị Ninh khiến tôi thấy nhớ (và thương) ông Hà Sĩ Phu hết sức. Loại người như bà Ninh tôi mới thấy lần đầu nhưng sĩ phu họ Hà chắc phải đối diện thường xuyên nên ông mô tả diện mạo cũng như phương thức sinh hoạt của họ vô cùng chính xác:
"Thế giới sinh vật đã cho ta những ví dụ rất rõ về vấn đề này. Con đường tiến hóa là: Sinh vật đơn bào phải đa bào hóa, trên cơ sở đa bào mới phân hóa thành những cơ quan khác nhau, giữa các cơ quan ngày càng có sự 'phân công' rành rọt nhưng ngày càng phối hợp với nhau chặt chẽ bởi sự chỉ huy càng ngày càng tập trung của hệ thần kinh. Cứ thế mà tiến hóa từ thấp lên cao, và cuối cùng xuất hiện loài người chúng ta."
"Nhưng có những sinh vật đơn bào không đi vào con đường đa bào hóa mà thích nghi bằng cách 'tu sửa vặt', 'bổ sung vặt', khiến cho bên trong cái tế bào duy nhất của nó cũng có đủ thứ như một cơ thể đa bào: có một chút tượng trưng cho 'tim', một chút tượng trưng cho 'dạ dầy', một chút 'thận', một chút 'giác quan', một chút 'thần kinh', một chút 'chân tay'... Chúng kéo dài cái cấu trúc 'cổ lỗ' ấy suốt mấy triệu năm, và vĩnh viễn không thể 'gia nhập' vào con đường tiến hóa chung được nữa. Nếu chỉ lấy sự 'sống chết' để đo mức độ tiến hóa thì những sinh vật đơn bào ấy hẳn là 'cao' hơn con người người nhiều, vứt ra bất cứ cống rãnh nào chúng cũng sinh sôi".
" Ðiều kiện để có sự tiến hóa là phải có nguy cơ bị tiêu diệt: Nếu không tiến hóa nó sẽ bị diệt vong trong cuộc đấu tranh sinh tồn! Sự 'tu sửa vặt' chính là 'giải pháp' giúp cho sinh vật 'lách' qua được sự đấu tranh sinh tồn khắc nghiệt, vượt qua nguy cơ bị tiêu diệt mà không cần đến con đường chính thống, nhưng chính sự 'thành công' này đã tách nó ra xa con đường chung và không tiến hóa cao được nữa". ("Ðôi Ðiều Suy Nghĩ Của Một Công Dân". Tuyển Tập Hà Sĩ Phu. Phong Trào Nhân Quyền Cho Việt Nam Năm 2000 và Tạp Chí Thế Kỷ 21 xuất bản tháng 1 năm 96, trang 99 và 100).
Bước vào kỷ nguyên toàn cầu, trong thời kỳ đất nước đổi mới, quý vị lãnh đạo Ðảng Cộng Sản Việt Nam cũng có nhiều "tu sửa vặt" và "bổ sung vặt" rất thành công. Ít nhất thì họ cũng thành công trong việc giữ cho chế độ chưa bị sụp đổ. Và chính sự "thành công" này đã tách nó ra xa con đường chung và không tiến hóa cao được nữa!
Báo chí quốc nội cũng mô tả chuyến đi của bà Tôn Nữ Thị Ninh là thành công. Nếu đúng thế - theo tôi - đây chưa hẳn đã là điều đáng mừng mà (không chừng) còn là chuyện đáng lo. Ðể cho những những sinh vật đơn bào - hay nói rõ ra là sán lãi - sống ký sinh (thành công) trong cơ thể của mình không phải là chuyện đáng lo sao?
Tưởng Năng Tiến

*Bà Tôn Nữ Thị Ninh:Chúng ta chủ động đối thoại, không tránh né
Phó Chủ nhiệm Ủy ban đối ngoại Tôn Nữ Thị Ninh vừa dẫn đầu đoàn đại biểu Quốc hội Việt Nam đi thăm và làm việc tại Mỹ. Bà cho biết một số thông tin quanh chuyến đi và suy nghĩ về nỗ lực hội nhập quốc tế của Việt Nam. Bà Tôn Nữ Thị Ninh cho biết:
- Chuyến đi vừa rồi nhằm hai mục đích. Thứ nhất là góp phần đẩy lùi Dự luật nhân quyền (DLNQ) Việt Nam. Thứ hai dài hạn hơn là tiếp xúc trực tiếp với các chính khách Mỹ, trong đó có các nghị sĩ Mỹ. Kinh nghiệm cho thấy các cuộc tiếp xúc trực tiếp, trực diện mang lại những kết quả tích cực hơn là chỉ dừng lại ở khâu trao đổi văn bản, viết thư. Cần lưu ý đây là chuyến đi hoàn toàn theo chủ động của Việt Nam chứ không phải theo lời mời của phía Mỹ. Quốc hội thông qua Đại sứ quán Việt Nam tại Washington đã sắp xếp các cuộc tiếp xúc với 10 hạ nghị sĩ (HNS) và hai thượng nghị sĩ Mỹ cùng một loạt các nhân vật quan trọng trong chính quyền, các tổ chức phi chính phủ, hội cựu chiến binh, các trường đại học, các doanh nghiệp... Khi thấy bóng dáng tà áo dài Việt Nam tại đồi Capitol, nhiều người gốc Việt vốn cực đoan với Việt Nam tỏ ý ngạc nhiên. Họ không nghĩ các chính khách từ Hà Nội sang lại có thể chủ động xuất hiện tại đồi Capitol để tiến hành vận động hành lang tích cực như vậy. Báo Orange County Register sau khi phỏng vấn tôi qua điện thoại đã viết bài trong đó nói một ý: các cuộc vận động, đấu tranh trên chính trường của Việt Nam ngày một bài bản hơn.
* Những cuộc tiếp xúc nào gây ấn tượng nhất, thưa bà?
- Có ba cuộc gặp mà tôi cho là nhiều ý nghĩa. Thứ nhất là cuộc gặp với HNS Robert Simmons. HNS này được dư luận của Mỹ nhắc tới nhiều sau khi trả lời phỏng vấn, nói rằng đã thay đổi cách nhìn về Việt Nam. Chín ngày trước khi tôi lên đường, tôi có gặp cựu đại sứ Mỹ tại Việt Nam Pete Peterson. Ông nói với tôi: "Vâng, HNS Simmons đã phát biểu tại Việt Nam như vậy. Nhưng quan trọng là tại Mỹ, liệu HNS có kiên định với những phát biểu của mình không". Tôi cũng hồi hộp về điều này. Khi gặp lại ông Simmons tại Washington, tôi vô cùng vui mừng khi ông ấy tiếp tục bảo vệ ý kiến của mình. Sau khi rời Việt Nam, HNS Simmons đã có ba cuộc gặp với HNS Chris Smith, thuyết phục ông Smith từ bỏ ý định bảo trợ và đưa DLNQ ra hạ viện. Ông cũng đang vận động để thành lập nhóm nghị sĩ thân thiện với Việt Nam ở hạ viện. Tôi đã đưa thư cảm ơn của Phó chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phúc Thanh tới ông Simmons, chứng tỏ Việt Nam có cách ứng xử lâu dài chứ không chỉ nhất thời. Hai cuộc gặp nữa cũng giàu kết quả là với HNS Deborah Pryce, lãnh tụ thứ ba của Đảng Cộng hòa trong QH Mỹ và với HNS Cai Dooley của Đảng Dân chủ. Trong cuộc tiếp xúc với bà Deborah, khi nghe nhắc tới HNS Smith, bà nói đại ý HNS này có mối quan tâm đặc biệt tới nhân quyền, bất cứ là ở nước nào. Bà đã bày tỏ mong muốn được đến thăm Việt Nam để hiểu Việt Nam hơn. Còn đối với HNS Dooley, ông bày tỏ ý kiến rằng không chấp nhận cách tiếp cận đối đầu và trừng phạt như tinh thần của DLNQ.
* Sau chuyến đi, bà nhìn nhận thế nào về khả năng đưa dự luật này ra Hạ viện Mỹ kỳ này?
- Sau các cuộc tiếp xúc với các nghị sĩ Mỹ, tôi nhận ra một điều hầu hết các nghị sĩ Mỹ đều không nắm được là trong DLNQ có một điều khoản là gắn các vấn đề về nhân quyền với trừng phạt kinh tế. Được biết là HNS Smith đã đưa DLNQ Việt Nam ra xem xét tại hạ viện kỳ trước với thủ thuật là xếp dự luật này vào số những dự luật không cần nhiều thời gian để xem xét kỹ. HNS này cũng đã có ý định đưa DLNQ ra hạ viện vào dịp 30-4 vừa rồi với thủ thuật tương tự nhưng bị thất bại.Tháng bảy tới, đạo luật Jackson Vanik được đưa ra xem xét tại hạ viện và những người bảo trợ DLNQ đang có ý định đẩy dự luật ra hạ viện bỏ phiếu cùng luôn. Lần này tôi tin rằng những người không bỏ phiếu, bỏ phiếu trắng hoặc bỏ phiếu chống sẽ cao hơn.
* Có ý kiến cho rằng cần phải xây một "cầu thông tin" giữa Mỹ và Việt Nam để tránh những vấn đề như vậy?
- Tôi hoàn toàn đồng tình. Mấy chục năm hoạt động ngoại giao cho tôi thấy rằng các chính khách nước ngoài đến Việt Nam phần lớn đều có những cảm tình tốt đẹp hơn trước lúc đến. Sắp tới, Quốc hội sẽ lần lượt mời thêm nhiều các nghị sĩ Mỹ sang Việt Nam để tìm hiểu thực tế của Việt Nam.
* Cũng có ý kiến cho rằng người Việt tại hải ngoại vẫn còn khoảng cách với quê nhà, thưa bà?
- Thực tế là có một nhóm người vẫn còn nhiều định kiến, dẫn đến những hành động quá khích. Lúc trước họ cố tình cản trở bình thường hóa quan hệ Việt - Mỹ, sau đó là cản trở bản hiệp định thương mại song phương và bây giờ là thổi phồng các vấn đề tôn giáo, nhân quyền của Việt Nam. Tôi cho rằng cần phải chú ý tới những người Việt thuộc thế hệ thứ hai ở Mỹ, sinh ra hoặc lớn lên sau 1975. Các em có những người bị ảnh hưởng bởi định kiến của cha mẹ nhưng cũng có rất nhiều người không muốn bị ràng buộc bởi chuyện quá khứ mà muốn quay về cội nguồn của mình. Chúng ta cần tạo điều kiện hơn nữa cho thanh niên Việt tại hải ngoại về Việt Nam học tập, kinh doanh, nghiên cứu... Gần đây có một số ca sĩ hải ngoại về Việt Nam biểu diễn hoặc sinh sống, tôi cho rằng đó là dấu hiệu tốt.
* Bà nhìn nhận thế nào về nỗ lực của Việt Nam để trở thành thành viên Hội đồng Bảo an LHQ?
- Chúng ta đã chính thức đặt mục tiêu thành viên không thường trực Hội đồng Bảo an LHQ nhiệm kỳ 2008-2009. Để đạt được điều này, cần phải được Đại hội đồng LHQ bỏ phiếu thông qua vào phiên họp từ tháng 9 tới tháng 12-2007. Chúng ta đã bắt đầu quá trình vận động và bước đầu nhận được sự ủng hộ của một số nước. Cá nhân tôi rất tin tưởng rằng Việt Nam sẽ đạt được mục tiêu. Thực tế cho thấy chúng ta thường tham gia các thể chế quốc tế ban đầu với tư cách là thành viên mới, học hỏi nhưng dần dần đều khẳng định được vai trò của mình và tham gia tích cực vào việc định ra các luật lệ. Nhiều nước nhỏ hơn Việt Nam cũng đã trở thành thành viên không thường trực Hội đồng Bảo an. Nhưng theo tôi điều quan trọng là khi trở thành thành viên Hội đồng Bảo an rồi, chúng ta sẽ tham gia như thế nào, bày tỏ ý kiến của mình thế nào để thể hiện được vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.(Báo Tuổi trẻ)
* Hiện tượng Tôn Nữ Thị Ninh
Phạm Thanh Phương(Theo Con Ong - Australia)
Trong mấy ngày gần đây, hiện tượng Tôn Nữ Thị Ninh “rải độc” đã làm xôn xao cộng đồng người Việt Hải Ngoại không ít. Nhưng xét cho cùng thì hiện tượng này cũng không có gì mới lạ, VC thường diễn cái trò hề này từ nhiều năm qua, mỗi khi chúng gặp trở ngại về một lãnh vực nào đó từ áp lực của các phong trào đấu tranh trong toàn dân.
Lần này cũng thế, để mong được vào WTO chúng lại đemThị Ninh đi làm thuyết khách, lải nhải ngụy biện, phủ nhận tất cả những tội ác do chính chúng gây ra và mong tạo một trận hỏa mù, van xin Mỹ rút tên VC khỏi danh sách những nước đáng quan ngại, cho dù VC vẫn vi phạm nhân quyền qua hành động đàn áp Tôn giáo và sát hại đồng bào Thượng tại Tây Nguyên mới đây.
Khi nói về vi phạm nhân quyền, Thị Ninh liến thoắng nguỵ biện”Trong gia đình chúng tôi có những đứa con, cháu hỗn láo, bướng bỉnh thì để chúng tôi đóng cửa lại trừng trị chúng nó, dĩ nhiên là trừng trị theo cách của chúng tôi. Các anh hàng xóm đừng có mà gõ cửa đòi xen vào chuyện riêng của gia đình chúng tôi”.
Cái lối lý luân, ví von trơ trẽn, hỗn xược này là bài học thuộc lòng của đảng mà Trương Ngọc Ninh, (Phó Giám đốc sở VH-TT Hà nội) từng nhắc rất nhiều lần trong các phiên họp “Con không chê cha mẹ khó, chó không chê chủ nghèo.!”. Và câu này cũng được Nguyễn thị Hồng Ngát dùng để trả lời phóng viên ABC của Úc, khi được hỏi về những nhà đối kháng tại Việt Nam, trong đoạn phóng sự “Dare to speak out” năm ngoái. Ðiều nực cười nhất là khi Thị Ninh đã cao giọng quảng bá một nền dân chủ đặc biệt của nhà nước VC, đó là “Dân Chủ Ðộc Ðảng” (One-Party Democracy). Chỉ với cái tên của nó cũng đã chửi cha vào cái “Ðỉnh cao trí tuệ” XHCN để người nghe thấy ngay được cái bịp bợm, cưỡng từ đoat lý ở trong đo.Ô Ðã gọi là dân chủ mà lại độc đảng, thì thực sự trên thế giới chưa ai dám nghĩ đến. Sau đó, để làm sáng tỏ thêm nét đặc thù của VC, Thị Ninh cũng lấp liếm chạy tội: “Chính sách của nhà nước CSVN bao giờ cũng là ủng hộ dân tộc thiểu số, không có chuyện đàn áp các sắc dân người Thượng ở Tây Nguyên, người Việt Nam tự do hành đạo. Các ông mục sư tin lành, ông linh mục Nguyễn văn Lý, ông Nguyễn đan Quế, các nhà sư Thích quảng Ðộ, Thích Huyền Quang bị xử án, bị quản chế, bị cấm đi lại là do các ông ấy vi phạm luật hình sự của nhà nước, chứ không phải vì lý do chính trị, tôn giáo”.
Loài ác qủy, giả lòng nhân ái
Lũ ma đầu, mặc áo cà sa
Tạo màn sương, ẩn náu tâm tà
Che tội ác, bịp lừa thiên hạ
Miệng lưỡi Vẹm chỉ có thế, chúng chỉ biết nói lấy được như một cái máy mà không bao giờ biết suy nghĩ để thấy được điều nghịch lý trơ trẽn. Mặc dù cái luận điệu cưỡng từ đoạt lý như trên đã qúa lỗi thời và nhàm chán với tất cả mọi người, nhưng đối với đảng nó lại là một bửu bối “bất khả di”. “Bất khả di”, bởi nó chính là linh hồn của đảng, chính sách của đảng vốn dĩ phi nhân bản và bất nhân, bất trí, bất nghĩa là căn cốt đảng viên. Nếu một khi phải thay đổi cho phù hợp với nền văn minh nhân loại, thì đảng lấy gì để tồn tại.
Trở về bản thân của Tôn Nữ thị Ninh, tập thể giáo chức tại Canada cho biết, mụ là loại ăn cơm Quốc gia thờ ma Công sản. Mụ là người được lớn lên trong miền Nam tư do, được ăn hoc thành tài bằng xương máu của quân dân miền Nam , mụ được du học tại Pháp và về nước năm 1973. Vào thời điểm sôi động này, mụ đã luồn lọt để được vào dạy trong Ðại Học Sư Phạm Saigon, phân khoa khoa học xã hội cho đến “ngày đứt phim”1975. Với bản chất bất chánh, Thị Ninh đã bị nhiễm độc CS rất nhanh lúc đang học tại Pháp, bởi sự móc nối của Nguyễn thị Bình. Một số nguồn tin cho biết thêm, sau năm 1975, Thị Ninh làm thông dịch viên cho Phạm văn Ðồng và cũng “ấm ớ” với gã một thời gian. Sau này vì bảo vệ đảng, nên Ðồng phải công khai hợp thức hóa cho một đồng chí khác “quản lý”. Như vậy, hoàn cảnh của mụ cũng giống như Nguyễn thị Minh Khai ngày trước, trong cái đạo đức di truyền của Hồ Chí Minh để lại..
Tôn Nữ Thị Ninh, Ả mặt dày
Sông hương núi ngự, cũng buồn lây
Bao năm xương máu, quên tình nghĩa
Ðiếm nhục gia môn, nhọ mặt thầy
Tóm lại, hiện tượng Tôn Nữ Thị Ninh chỉ là một con vẹt, trong kế sách gây xáo trộn tình hình chính trị của tập thể người Việt tại hải ngoại, nó là một trong những mắt xích của chiến dịch lập lờ lũng loạn. Từ những văn công gởi ra, qua một số chương trình văn nghệ, triển lãm nghệ thuật, cho đến một mớ người từng trùm mền nhiều năm, nay xuất đầu lộ diện, len lỏi dưới mọi hình thức nhằm tạo ra cảnh “phe ta đánh phe mình” như hiện tượng rắc rối trong vụ Kỳ Ðài tại Cabra-Vale Park tại Úc vừa qua. Do đó, điều quan trọng là chúng ta nên cảnh giác và bình tĩnh, đừng qúa coi trọng những tiếng rên rỉ vô sỉ của Thị Ninh và tránh những nóng nẩy nhất thời, để vô tình bị cuốn vào cái qũy đạo phân hóa mà bọn VC đã bày ra.

*Tôn Nữ Thị Ninh: giữ gìn văn hóa Việt
Trong cuộc đời của một nữ chính khách, nguyên Phó chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại Quốc hội Việt Nam Tôn Nữ Thị Ninh đã luôn ý thức giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc và cổ vũ dùng hàng nội. Những câu chuyện về vấn đề này của bà có thể “đi cùng năm tháng” với rất nhiều người.
Câu chuyện thứ nhất: Đừng bỏ văn hóa “ruột” của mình!
Tôi sinh ra ở Huế. Theo gia đình sang Pháp từ nhỏ. Nhiều năm sống tại nước ngoài nhưng tôi nhất định không nhập quốc tịch cho dù những tinh hoa của văn hóa nước sở tại, tôi cố gắng lĩnh hội càng nhiều càng tốt. Mỗi lần được tới một đất nước nào, tôi tự cho là mình đã có thêm kiến thức của một nền văn hóa mới. Và dù rất hiểu, rất thông cảm với văn hóa các nước, tôi vẫn kiên quyết đòi hỏi những người nước ngoài phải đối xử công bằng với văn hóa nước mình. Ví như tôi rất ghét khi ra nước ngoài, tên tôi bị xáo trộn. Tôn Nữ Thị Ninh sẽ thành Ninh Nữ Thị Tôn, thậm chí có lúc tệ hơn. Và họ chỉ thích lôi cái họ của tôi ra để gọi. Cho nên, nếu người nước ngoài đến Việt Nam làm việc với tôi, họ cũng phải “nhập gia tùy tục”. Tôi đề nghị họ gọi tôi là “bà Ninh”. Đơn giản thế!
Nguyên Phó chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại Quốc hội Việt Nam Tôn Nữ Thị Ninh. Ảnh: Tư liệu Tôi có quen một cô bạn người Việt Nam, con một nhà nghiên cứu văn hóa dân tộc. Cô ấy sau khi sang Mỹ được vài năm đã in name card chỉ có họ và một cái tên Tây mới đặ, không có dấu vết gì của cái tên riêng mà cô đã được gọi từ khi lọt lòng. Cô còn có ý nhờ tôi đổi hẳn tên Việt Nam đầy đủ của cô sang cái tên mới đó trên giấy tờ hợp pháp. Tôi từ chối. Và tôi thấy cô ấy sao mà kém cỏi quá! Nếu thấy cần, cô ấy vẫn cứ giữ cái tên gốc của mình rồi cộng thêm cái tên Tây nào nữa cũng được, sao phải bỏ hẳn đi tên gốc?... Nhớ hồi làm đại sứ ở Bỉ, trong buổi họp mặt các gia đình có con nuôi là người Việt Nam, tôi xúc động vô cùng vì không ngờ có tới 90% số gia đình đó có nhu cầu cho con họ được học nghiêm chỉnh tiếng Việt Nam. Và họ còn nói, sau này khi bọn trẻ lớn, họ sẽ đưa chúng về thăm quê hương. Con của họ sẽ được giáo dục bởi hai nền văn hóa: văn hóa Việt, văn hóa Bỉ.
Vậy thì, có nên chăng, những người đã từng sống bao năm ở quê hương, đã từng được Tổ quốc nuôi ăn, học tới trưởng thành mới xa quê hương có vài năm đã vội nhân nhượng để nền văn hóa mới bào mòn, đè bẹp dần nền văn hóa cũ, vốn là gốc rễ của mình.
Câu chuyện thứ hai: Người Việt Nam ăn đồ Việt Nam
Tôi ngại quá khi thấy tầng lớp trung lưu và thanh thiếu niên ở Việt Nam cứ say sưa với những món ăn nhanh của Tây: những hamburger, bit têt, gà rán kiểu Mỹ, mì kiểu Ý… Tất nhiên là những món đó cũng ngon nhưng có nhất thiết phải đều đặn đưa nhau tới những nơi đó hết ngày này sang ngày khác. Ngoài lý do được thưởng thức các món ăn lạ trên thế giới, còn lý do nào khác?
Có lần tôi nghỉ tại một khách sạn ở Vũng Tàu. Khách ăn sáng hôm đó ở khách sạn có cả khách Ta, khách Tây. Bàn ghế, bát đĩa đương nhiên là đẹp rồi, rất có gu, sạch sẽ. Nhưng món ăn họ đưa lên để phục vụ khách thì tôi chịu, không thể dịch được cho mấy người nước ngoài đó là món gì và của nước nào. Một bát bún trong một bát nước dùng trong suốt, vài lát giò heo. Hết! Malaysia chẳng phải. Indonesia không. Tây chẳng ra Tây, Tầu chẳng ra Tầu. Mà suốt từ đầu tới cuối, nhân viên phục vụ rất chu đáo, tỉ mỉ. Tôi thấy tiếc quá. Sao những món ăn sáng ngon như những tô phở ngoài Bắc, những mẹt bánh cuốn Thanh Trì; những món bún nem, bún chả; những bát bún thang, bún xáo; những bát hủ tiếu, đĩa bánh xèo… lại không có ở một không gian thoáng rộng và sang trọng như ở đây? Sao không có một cách thức phục vụ ân cần như ở đây? Giá có thể đánh đổi, tôi chắc phần đông những người đang mời gọi nhau tới các quán ăn nhanh kiểu Tây kia sẽ có nhiều lúc muốn tới những địa điểm mới. Ở đó, họ sẽ vừa được ăn ngon những món quen thuộc, vừa được một địa điểm văn minh, lịch sự để có thể giao lưu, trò chuyện. “Người ta đến nhà thờ đâu phải chỉ để thờ Chúa”! Tôi mong ở Việt Nam sẽ có nhiều hơn những nhà doanh nghiệp mở ra các tiệm ăn sáng, ăn nhanh chuyên nghiệp. Tuy là quà sáng nhưng được bán cả ngày: Từ 6h tới 23h. Và có thể chỉ cần chuyên bán bánh cuốn, nhưng chỗ ngồi phải rất mode, rất style. Như thế là chúng ta đã nâng tầm cho những món ăn đã được liệt vào hàng văn hóa ẩm thực của dân tộc.(Theo Quân Đội Nhân Dân)

* Tôn Nữ Thị Ninh: Ủng hộ sống "sạch và sung túc"!
“Một tiếng nói gây ngạc nhiên của Việt Nam mới”. Đó là nhận xét của nhà báo Mỹ Daniel Sneider về bà. Không chỉ là gương mặt thông minh bặt thiệp của đối ngoại, bà Tôn Nữ Thị Ninh còn được ngưỡng mộ như là một đại diện cho trí tuệ và sắc đẹp quý phái (những điều khó đi đôi) của giới phụ nữ.
Cuộc trò chuyện với bà tại văn phòng của dự án Đại học Trí Việt, TP.HCM.
Sạch = khổ là chiến thắng nửa vời

- Thưa bà, rời công việc phó chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội, có tới 30 năm làm đối ngoại, vì sao bà chọn giáo dục làm công việc tiếp theo?
- Bà Tôn Nữ Thị Ninh: Đây là điều tôi ấp ủ bao năm qua khi còn làm đại sứ châu Âu. Con người Á Đông chúng ta luôn có ý thức để lại cái gì cho hậu thế. Những đóng góp nho nhỏ của tôi trong đối ngoại còn đọng được những gì, để con cháu đánh giá. Còn giáo dục là một khát vọng làm ra sản phẩm dở, hay đều thấy được. Làm đối ngoại, kết quả là tương đối, khó “sờ” thấy được.
- Nhưng tôi sẽ nói làm giáo dục cũng như thế?
- Giáo dục được kiểm nghiệm liên tục từng năm, con người đào tạo ra làm gì, số đông nối tiếp trong cuộc sống. Xã hội tiếp nhận, đánh giá sản phẩm giáo dục dễ khách quan hơn. Sự thừa nhận rộng rãi, khó chối cãi. Tôi hiện dành thời gian 100% cho dự án Đại học Trí Việt. Muốn quay lại sự nghiệp giáo dục trong tư thế khác. Đóng góp giáo dục là nối tiếp đối ngoại.
- Đã từng học Đại học Sorbonne (Pháp) và Cambridge (Anh), đi dạy học ở đại học trong, ngoài nước và cả đời giao tiếp, có rất nhiều mối quan hệ. Đây có phải là dấu ấn của bà để làm giáo dục đại học trong giai đoạn mới?
- Dấu ấn đầu tiên là ý tưởng của tôi - rồi rủ bạn bè tham gia. Đầu tiên là người bạn thân Kim Hạnh và bạn bè thân thiết có cùng nhân sinh quan gần gũi.- Nhân sinh quan đó là gì?- Theo nghĩa cả đời sống cho sạch sẽ. Nói liêm khiết nghe to quá nhưng tiền không bao giờ là động lực chính, quan trọng của cuộc đời. Không ai sống mà không cần tiền, nhưng đó không là động lực chính yếu cho hành động. Không vì chức vụ. Nhóm sáng lập Đại học Trí Việt có nhân sinh quan như nhau: sống đàng hoàng. Chữ đàng hoàng có nghĩa là sống với lương tâm, bản lĩnh, chính quy hiện đại. Không phải liêm khiết nghĩa là sống khổ. Tôi không ủng hộ quan niệm sống sạch = khổ. Như vậy là chiến thắng nửa vời. Chúng tôi ủng hộ: sạch và sung túc.Đàng hoàng mới thành công đầy đủ. Có mẫu số chung làm chất gắn kết. Coi trọng giáo dục. Đất nước này muốn đi xa, bay cao, cơ bản là con người được đào tạo như thế nào.
- Giáo dục phải từ móng, từ cấp cơ sở. Sao bà chỉ tập trung cho bậc đại học?

- Đúng như vậy, giáo dục phải từ móng. Nhưng chúng tôi không ôm hết được, mà có phân vai trong xã hội. Chúng tôi tập trung đại học, hy vọng người khác lo cơ sở, xoáy hai mũi giáp công quan trọng: những lớp thấp nhất và cao nhất, dưới thấm lên, trên thấm xuống.
- Trong tình hình của nền giáo dục có quá nhiều vấn đề hiện nay, niềm tin của bà để dự án thành công là gì?
- Tôi tiếp cận nền văn hóa, văn minh, tư duy xã hội khác, cách tổ chức khác của thế giới, rút ra được những phương châm, kinh nghiệm. Vốn lớn nhất của tôi đi vào giáo dục là kinh nghiệm và mối quan hệ rộng rãi. Một nghĩa nào đó là sự tiếp nối làm giáo dục của tôi, trong tư thế mới.Hơn 6 tháng qua, tiếp xúc với cộng đồng người Việt ở nhiều nước, được thấy có một sự hưởng ứng nhiệt tình mạnh mẽ đã củng cố niềm tin của tôi. Gặp gỡ Việt kiều tôi không hề hé miệng hỏi tiền. Họ dự hội thảo chuyên môn, tư vấn lập làng đại học cho Trí Việt, giới trí thức Việt kiều tha thiết muốn đóng góp cho lợi ích chung của đất nước. Dự án của chúng tôi như là một nơi cụ thể. Nghị quyết 36 là đường lối chung, phải có dự án, có chỗ để người ta tham gia.
- Bây giờ trong hoạt động có gì tiếp nối công việc đối ngoại vốn có rất nhiều kinh nghiệm của bà?
- Tôi có dành một phần nhỏ cho CLB Phụ nữ Việt Nam hoạt động quốc tế. Tập hợp chị em ở nhiều lĩnh vực khác nhau, có không gian tiếp cận. Tôi phát hiện nhiều phụ nữ làm những chuyện hay mà không biết nhau. Sẽ có hội thảo chuyên đề, đi du lịch, phải có đi chơi. Như các ông chơi golf cũng thành thân thiết, hội bạn bè, thư giãn. Chúng tôi cũng sẽ làm từ thiện qua hai quỹ nhỏ “CLB Vòng tay ấm” và “Tài năng nữ” cho các em gái nghèo.Một xã hội dân sự có nhiều tổ chức hoạt động bên cạnh tổ chức nhà nước. Hội nhập quốc tế có đóng góp của phụ nữ. Chúng tôi giao lưu với các đoàn quốc tế, đón đoàn phụ nữ ngân hàng Mỹ, đoàn bộ trưởng và nghị sĩ Singapore, đoàn viên chức doanh nghiệp công nghệ cao Thung lũng Silicon... Kết nối qua net, để nhân lên các mối quan hệ cá nhân.Tôi học ở gia đình chữ lễ nghĩa
- Trong lần đi 8 bang, 12 thành phố ở Mỹ thực hiện đối thoại và giới thiệu Việt Nam, bà đã thành công và cũng gây kết quả bất ngờ khi tranh luận thẳng thừng. Có người cho rằng khác lạ với hình ảnh dịu dàng của một phụ nữ dòng dõi quý phái? Bà nghĩ sao?
- Tôi sinh ra trong một gia đình Huế truyền thống. Ông cụ làm tri huyện. Bà cụ điển hình thế hệ đó: nội trợ. Nội trợ xuất sắc cũng chỉ là nội trợ. Cái tôi lĩnh hội được từ gia đình hơi phong kiến đó là không coi trọng vật chất tiền bạc, mà lễ nghĩa nhiều hơn. Tính khí khái tự trọng tôi thừa kế từ gia đình. Phương châm của tôi là kết hợp Đông - Tây, cương - nhu. Tôi sinh ra ở Việt Nam, sống ở châu Âu, về Việt Nam hoạt động cũng liên tục giao tiếp với phương Tây nên vận dụng cả hai.
- Cụ thể thế nào?

- Tây thích thẳng thừng, mở. Đông theo nhìn nhận phổ biến: mềm mại, tinh tế, đôi khi khó hiểu, không trực diện. Việt Nam chăm sóc khách chu đáo, Tây không sánh kịp. Tây chỉ chuyên nghiệp khi làm việc chính thức thôi. Ta thì làm việc xong còn xem họ thích gì, dẫn đi chơi. Họ chẳng tiễn khách bao giờ, trừ nghi thức ngoại giao lớn. Trong đối thoại, tôi thấy khi nào cần thẳng, phải nói thẳng. Cần nói cả cái không hay của họ, trong khi nhiều người thấy khó chịu, không dám nói, nhịn tức. Khi tranh luận vấn đề nhân quyền chẳng hạn, tôi thẳng thắn lấy ngay các thí dụ của xã hội Mỹ. Khi tranh thủ thì lấy cách phương Đông, khi đấu tranh thì lấy cách phương Tây trực diện hai chiều.
Cốt lõi là cái thiện
- Chương trình truyền hình có bà làm giám khảo - bao nhiêu cô gái trẻ đẹp “Phụ nữ thế kỷ 21” nhưng hút người xem lại là bà. Đẹp hiện đại, thành công, tài giỏi, hạnh phúc. Nếu muốn được hoàn hảo như bà thì phải làm sao?
- Nhiều bạn trẻ quan tâm tới tôi, tôi được động viên. Họ thích những gì tôi làm, thích cái thiện, đẹp, giỏi. Theo tôi, cốt lõi là cái thiện trước. Nó là cơ bản trước hết, rồi mới tới tài, mỹ. Thiện là phải tự xác định cho mình lẽ sống. Làm giàu có là lẽ sống không? Trả lời điều đó chỉ là nhất thời, ngắn hạn (có thể 20 năm chứ không phải 3 phút) nhưng nếu là chính yếu, suốt đời sẽ không trọn vẹn, thiếu chiều sâu. Không thể trách có người đến với mình là do muốn hưởng một phần tiền của mình, đến chỉ muốn nghe mình cho học bài học làm giàu. Tôi không coi thường làm giàu. Ở Mỹ, nói huyền thoại “Giấc mơ Mỹ” thì tất cả tỉ phú kết thúc đều trả lại xã hội cái xã hội đã cho. Không ai ôm của cải giàu có để chết. Xã hội, nền kinh tế, cá nhân phải làm giàu nhưng không là lẽ sống. Yêu cầu và lẽ sống khác nhau. Lẽ sống phải cao hơn, rộng hơn, sâu hơn. Như thế nào? Mỗi người tự trả lời. Với tôi, đó là: đất nước, dân tộc, xã hội, người Việt Nam, làm người; đồng thời phải có tài. Vì muốn đất nước đi lên, chỉ có người tốt không đủ. Phải có tài. Có lần tôi đi phục vụ, được chứng kiến cuộc nói chuyện của ông cựu thủ tướng Singapore Lý Quang Diệu với ông Võ Văn Kiệt. Ông Diệu nói: đương nhiên tối ưu có cả đức - tài.Nhưng lỡ phải bắt ưu tiên chọn thì chọn đức. Người cha đẻ dựng lên đất nước Singapore hiệu quả làm ăn, tài giỏi về tổ chức mà nói như vậy. Thật đáng suy nghĩ. - Vậy còn đẹp thì sao? Các bạn trẻ có hay hỏi bà điều này không?- Cái mỹ bao gồm nhiều mặt. Từ cái thiện mà ra. Xã hội đức độ thể hiện lối sống đẹp, văn hóa cao, trình độ phát triển văn minh. Thanh niên rất hay hỏi tôi làm sao hài hòa giữa sự nghiệp và gia đình.Tôi nói luôn tìm sự cân bằng một cách linh hoạt, được xác định từng bối cảnh cụ thể. Có lúc bối cảnh nào thì ưu tiên cái gì. Giữ được hạnh phúc nhờ vào điều gì chính yếu nhất? Các bạn trẻ thường cho là: Tình yêu. Tôi nghĩ quy luật con người là tình yêu có giảm, pha với thói quen. Cái chính yếu giữ cho hôn nhân suốt đời là sự tôn trọng nhau. Đó là nền tảng vững bền nhất.Tôi còn dự án đời tôi
- Bà thấy các cô gái trẻ thế nào?
- Trí tuệ Việt Nam không thua ai, rất xuất sắc, ai cũng biết rồi. Nhưng họ còn có những say mê và ý tưởng. Tôi rất tin vào thanh niên. Có người ngộ nhận, cho thanh niên chỉ chạy theo tiền. Nhưng tôi đã từng thấy nhiều mẫu thanh niên đáng nể. Không ai sống mà không cần tiền, nhưng đó không là động lực chính yếu cho hành độngThí dụ một em gái quê ở Tây Ninh, sống ở mãi miền quê nghèo, lên Sài Gòn trọ học - tức là không thuộc thành phần cao, giàu có. Vậy mà làm tiến sĩ ở Pháp, giành tiếp học bổng ở một trong những trường hàng đầu thế giới. Xem xong chương trình dự án, cô xung phong sẽ về làm cho Trí Việt mặc dù tôi không mời gì. Họ có lý tưởng. Sau 30 năm làm đối ngoại, tạm đủ sau này viết hồi ký. Tôi rất muốn chia sẻ với thanh niên. Đó cũng là giáo dục. Phải 5, 7 năm nữa sẽ viết, sau khi hoàn thành dự án giáo dục, thì cuối cùng là dự án đời tôi.
- Trong cuốn hồi ký sẽ viết đó, bà muốn cho xuất hiện một bà Ninh như thế nào?
- Một bà Ninh sản phẩm của thời đại Việt Nam, đất nước Việt Nam, một đất nước đặc biệt. Tôi rất tin tưởng chất đặc biệt này. Tất nhiên, đặc biệt đây không nghĩa là chỉ có tốt. Nhưng đặc biệt. Tôi sẽ cố gắng làm rõ điều đó.
http://tuanvietnam.net/vn/nhanvattrongngay/3883/index.aspx
* Tôn Nữ Thị Ninh: Luận bàn duyên dáng
Thời gian chưa hề làm suy giảm cái sang trọng, quý phái của một nhà ngoại giao chuyên nghiệp trên chính trường quốc tế, chưa hề làm phai nhạt cái vẻ đẹp dịu dàng, sâu lắng của một phụ nữ xứ Huế. Bà Tôn Nữ Thị Ninh chia sẻ những suy nghĩ của mình về nhan sắc thời hiện đại…
Thưa bà, bà sẽ định nghĩa như thế nào về một người phụ nữ hiện đại và có phong cách?
Tôi cho rằng, chúng ta không nên định nghĩa, vì phương pháp này không thích hợp trong việc tìm hiểu phụ nữ. Con người hiện đại thì phải gắn với thế giới hiện đại, cuộc sống hiện đại với những am hiểu nhất định về thế giới mà ta đang sống. Sự hiểu biết, nhận thức này không mang ý nghĩa học thuật hay chuyên ngành, nhưng trong suy nghĩ của họ, là những yếu tố cấp tiến, chẳng hạn, phải biết xác lập vai trò cá nhân, định rõ cái tôi trong vai trò của cộng đồng, của cái chung. Chính từ nhận thức rõ về thế giới và cuộc sống hiện đại, mà nó định hình nên lối sống, tác phong, hành vi và cả phong cách của mỗi người. Những suy nghĩ hiện đại còn có thể ảnh hưởng đến cách tổ chức cuộc sống, công việc và gia đình của người phụ nữ nữa.
Còn thế nào là có phong cách? Theo cách hiểu thông thường, thì “có phong cách” nghĩa là có sự khẳng định hình ảnh cá nhân, tạo ra được cái riêng trong cái chung chứ không phải sống và hành xử rập khuôn theo những mô hình thời đại. Có nhiều người thích chọn cho mình một cái tôi lập dị, khác người. Nhưng tôi thiên về việc xử lý những nét chấm phá, những điểm nhấn nhá trong tính cách, trang phục và cuộc sống để hài hoà được yếu tố chung và riêng đối với môi trường xung quanh.
Nhiều phụ nữ lúng túng khi đối diện người khác phái. Trong khi ấn tượng đầu tiên là rất quan trọng. Theo bà, phải làm sao để có thể thu hút người khác ngay từ phút ban đầu?
Cái này phụ thuộc vào một yếu tố quan trọng, là cái “duyên”. Cái “duyên” thì quan trọng hơn lợi thế về nhan sắc. Làm thế nào để có duyên, là một chuỗi những yếu tố phức tạp và có yếu tố bẩm sinh, bị ảnh hưởng bởi gia đình và quá trình thu thập kỹ năng sống. Tôi nghĩ bây giờ, nhiều bạn nữ biết cách làm duyên, cười duyên, tay chân, ánh mắt đều duyên nhưng thường hơi quá và làm mất sự tự nhiên. Cần chăm chút cho hình thể, tác phong, nhưng phải luôn gạt bỏ trong đầu ý nghĩ “luôn luôn có ai đó đang nhìn mình” và diễn xuất như đang đứng trước ống kính. Cái duyên, nhiều lúc chỉ đơn giản xuất phát từ sự giản dị, không kiểu cách, không cầu kỳ. Cái duyên mỗi người mỗi khác, đừng làm mất chính mình bằng những sự õng ẹo quá lố.
Thưa bà, liệu phụ nữ hiện đại có phải làm theo những quy chuẩn hành xử, những điều được báo chí gọi là “nên làm để thu hút” hoặc “tối kỵ trong giao tiếp” hoặc tham gia những khoá học về giao tiếp ứng xử?
Tôi không có được học những lớp như vậy, mà chỉ học ở gia đình, ở cuộc sống bằng những quan sát, trải nghiệm và suy nghĩ của mình trong cách hành xử. Tất nhiên cũng phải đọc và tìm hiểu thêm về những miền văn hoá khác để có thể ứng xử cho phù hợp. Có lẽ, chúng ta nên học những điều “tối kỵ” để tránh thôi, còn khoảng cách giữa “ứng xử hay” và “ứng xử tệ” thì xa nhau lắm, đòi hỏi một sự quan sát, rút kinh nghiệm để mỗi ngày tự hoàn thiện mình hơn mà tôi gọi là “vừa chạy vừa sắp hàng”.
Bao nhiêu năm nay, người ta vẫn thấy Tôn Nữ Thị Ninh xuất hiện với một kiểu tóc quen thuộc. Nhưng nhiều chuyên gia thời trang cho rằng, thỉnh thoảng phụ nữ nên thay đổi một chút để tạo ra sự mới lạ…
Tôi là kiểu phụ nữ hành động, nên không có nhiều thời gian cho mái tóc của mình. Thú thật, chọn được một kiểu tóc ưng ý, người làm tóc phù hợp khó lắm, nên mỗi lần thay đổi là tốn tiền và thời gian kinh khủng, tôi không chịu được. Nhưng bù lại, tôi rất hay thay đổi trang phục và những phục sức đi kèm. Tôi luôn luôn ủng hộ phụ nữ làm đẹp, vì mỗi phụ nữ làm đẹp thì sẽ tạo ra sự tươi tắn cho cộng đồng quanh mình, làm cho xã hội nhẹ nhàng và sáng sủa hơn. Nhưng mà, phải biết cân bằng giữa cuộc sống, công việc và những giá trị mình tạo ra với sự làm đẹp, sẽ là vô nghĩa nếu ta cứ suốt ngày đi làm đẹp, lo thay đổi kiểu tóc, kiểu áo quần mà không để làm gì cả. Làm đẹp không bao giờ là một mục tiêu trong cuộc sống, nó chỉ có ý nghĩa làm cho cuộc sống trọn vẹn hơn.
Thưa bà, xã hội vẫn nhìn nhận bà là một phụ nữ quý phái. Làm thế nào để có sự quý phái ấy? Và quan trọng hơn, làm thế nào để giữ được nó không đổi với thời gian?
Quý phái là một khái niệm thôi. Có những người sinh ra đã mang trong người một sự quý phái rất dễ nhận biết, như chị Bảy Huệ, vợ của cố tổng bí thư Nguyễn Văn Linh dù sống trong đạn bom, rừng rậm mà lúc nào nhìn cũng sang trọng. Không có công thức để trở nên quý phái, nhưng mà tại sao phải quý phái mà không phải là sự duyên dáng tự thân của mình nhỉ? Đừng chạy theo những điều phù phiếm mang tên quý phái, hãy nhận biết vẻ đẹp, sự tự tin và duyên dáng tiềm ẩn của mình nằm ở điểm nào để phát huy nó và đừng giống ai cả.
Tôi không dành nhiều thời gian cho việc làm đẹp, dù thực sự khi tuổi cao thì mình phải sửa soạn lâu hơn một chút. Tôi không đồng tình với việc dùng mỹ phẩm, phẫu thuật để kéo dài tuổi thanh xuân. Tôi quan niệm vẻ đẹp, sự duyên dáng nên phù hợp với lứa tuổi của mình. Tôi tin rằng chúng ta cứ làm tốt công việc và quên tuổi tác đi thì sẽ giữ được cái duyên mà mình có.
Nghe nói bà có tham gia giảng dạy về phong cách ứng xử…
Tôi quá bận với dự án đại học Trí Việt nên chưa có thời gian cho việc này. Nhưng toàn bộ kinh nghiệm tích luỹ, quan sát và những gì tôi có được trong cuộc sống của mình, tôi sẵn sàng chia sẻ với những ai muốn nghe, muốn trao đổi.
Thưa bà, nếu những độc giả của SGTT nguyệt san muốn trò chuyện cùng bà, nhờ bà tư vấn cho phong cách của mình thì phải làm sao?
Việc này thì đơn giản, các bạn cứ gởi thư về cho toà soạn. Tôi sẽ giúp các bạn giải đáp những thắc mắc trong phạm vi mà tôi có thể.
Xin cám ơn bà về cuộc trò chuyện duyên dáng này.

No comments:

Post a Comment