Vào đầu thế kỷ thứ 16 ở nước ta có một ông vua được “nhân dân Hà Nội” đặt tên là Vua Lợn (Trư vương, lề).
Nghe nói có người Tàu bảo ông ta có tướng tinh “con lợn ủn ỉn mua hành cho tôi”. Triều đại của Vua Lê Tương Dực chỉ được bẩy năm, nhưng ông có nhiều sáng kiến. Ông đã xây cửu trùng đài cao hơn hẳn Chùa Một Cột, rồi xây cung điện với 100 mái nhà. Ông lại bầy ra nhiều trò giải trí trên Hồ Tây, thí dụ cho các thiếu nữ khỏa thân chèo thuyền, những cuộc vui mà tới thế kỷ 20 Thủy Cung Thăng Long đã noi theo trên đường tiến lên Chủ nghĩa Xã hội.
Mấy ngày qua đồng bào ta ở Hà Nội đã phong vương một Vua Lợn mới, một người bạn mới cho tôi biết. Tại Bắc Hàn, triều đại nhà Kim đã truyền đến đời thứ ba, sau khi ông Kim Jong-il chết thì cậu Kim Jong Un lên ngôi, đã chính thức tôn vinh làm lãnh tụ tối cao của Hàn Quốc! Người Việt mình bắt đầu gọi lãnh tụ tối cao Kim Jong Un bằng cái tên rất thân mật: “Cậu Ủn!”
Tên cậu đọc theo lối Hán Việt là Kim Chính Ân. Nhưng nếu quý vị cứ phải nhìn hoài chân dung của “lãnh tụ tối cao” 28 tuổi này, nếu mỗi ngày cứ phải ngắm khuôn mặt bụ bẫm nghiêm và buồn này; thì quý vị phải đồng ý với tên gọi Cậu Ủn. Hai cái má phinh phính như mông trẻ con; khuôn mặt tròn chặn cắm trên cái cổ núng nính; mái tóc đen bóng chải ngược dựng đứng trên đầu; màng tai và gáy đều cạo trắng hếu như da con lợn mới làm lông. Mái tóc cậu chải theo lối ông bố, mai mốt cậu sẽ đeo cái kính đen thật to giống bố; để trông thấy bớt vẻ lùn tè vì mập mạp quá. Quả thật, trông cậu có cái tướng Trư Vương! Vì vậy người Hà Nội chợt nhớ Lê Tương Dực đời xưa, đã kháo nhau: Cậu Ủn lên nối ngôi Bố Ỉn rồi.
Ðặt danh hiệu như vậy có thể thất lễ đối với dân Hàn Quốc nói chung, và riêng đối với người Bắc Hàn. Dù sao họ cũng là những ông vua một nửa quốc gia, làm chủ một cõi giang sơn, dọc ngang nào biết trên đầu có ai!
Nhưng chỉ một danh hiệu như thế mới diễn tả được lòng khinh bỉ của mọi người, không riêng gì người Việt, đối với một gia đình ngự trị gieo rắc thống khổ cho 24 triệu đồng bào của họ. Ngay bây giờ, đang có ba triệu người đang đói, vì không đủ thức ăn. Nạn đói chắc đang đe dọa nặng nề cho nên trong bài bình luận đầu năm trên ba tờ nhật báo ở Bắc Hàn, họ đã phải nhắc tới. Cả ba tờ báo, sau khi hô hào, “Năm 2012 sẽ là một năm Thắng Lợi Vinh Quang;” nhưng mặt khác cả ba đều nhắc nhờ cần giải quyết “Vấn đề thực phẩm nóng bỏng;” trên đường xây dựng một “quốc gia phú cường!”
Trong khi dân chết đói hàng triệu người như vậy, cậu Ủn từ nhỏ đã được bố cho đi học ở Thụy Sĩ dưới một tên giả, mỗi ngày có tài xế đưa đón. Anh của cậu đi Macao đánh bài và làm công tác rửa tiền qua các ngân hàng và sòng bài, một ngân hàng đã bị tình báo Mỹ tố giác. Một người anh bị bắt giữ ở phi trường Nhật Bản trong khi đi du hí, với tội dùng giấy thông hành tên giả mạo. Khi sắp chết, ông Ỉn nhìn quanh thấy chỉ còn cậu Ủn đáng mặt lên ngôi nối nghiệp nhà. Từ Tháng Mười năm 2010 cậu liên tiếp được phong các chức đại tướng 4 sao, phó chủ tịch quân ủy trung ương, phó lãnh tụ đảng, vân vân. Và sau khi ông Ỉn qua đời, cậu được suy tôn làm lãnh tụ tối cao quân đội, lãnh tụ tối cao của đảng Lao Ðộng Thống Nhất, xác định ngôi vị khi dẫn đầu tang lễ Bố Ỉn.
Chính hình ảnh dân Bắc Hàn khóc lóc vật vã trong đám tang đã khiến cho lòng khinh bỉ của mọi người biến thành một nỗi giận; không thể nào tha tội cho bố con họ Kim được. Cả loài người nhìn vào cảnh những ông già bà cả, đàn ông đàn bà cho tới trẻ em khóc thảm thiết, kêu trời kêu đất thương tiếc ông Kim Jong-il, khóc như cha chết, hơn cả khóc khi cha chết. Người bình thường phải tự hỏi: Làm sao họ có thể đóng kịch tài tình như vậy?
Nhưng đó không phải là đóng kịch, nhiều người thương khóc như máy, nhưng thành thật. Ông Kim Jong-l có lần nói ông biết cả nước có một phần ba yêu ông, một phần ba ghét ông thậm tệ, và một phần ba trung lập. Tất nhiên chỉ có những người trong số một phần ba yêu ông Ỉn là được xuất hiện trước ống kính trong tang lễ. Và có nhiều phần là họ khóc thật. Chính sách của Bố Ỉn là “Quân đội Trước hết!” Tất cả tài nguyên quốc gia được giành ưu tiên cho một triệu 200 ngàn quân, từ tướng lãnh, sĩ quan xuống tới binh lính. Cộng thêm đám công an có sẵn, sẽ lên thành hai triệu. Khi thóc gạo, rau thịt được thế giới đưa tới cứu dân Bắc Hàn khỏi chết đói, thì mọi thực phẩm được ưu tiên chia cho quân đội, công an, dân đói mặc dân. Cộng thêm vợ con của họ, chúng ta sẽ có khoảng 8, 9 triệu người, một phần ba dân số Bắc Hàn trung thành với lãnh tụ. Những người này tất nhiên biết rằng: Ông Ỉn ông Ủn còn, thì mình còn; ông Ủn Ỉn mất thì mình cũng không tồn tại được!
Trong đám khuyển mã này, có những người đã được tẩy não toàn diện từ thời thơ ấu. Họ không được phép biết một chút gì về thế giới bên ngoài, chỉ được học tập tấm gương “chói sang, quang vinh” của các lãnh tụ Kim lớn Kim con. Mở miệng ra ai cũng phải nói: “Nhờ ơn Bác Kim kính yêu, Bác Kim vĩ đại!” Cứ tin vào bộ máy tuyên truyền thì cha con nhà Kim đã cứu dân Hàn Quốc khỏi bị đế quốc Mỹ đàn áp, bóc lột, thoát khỏi cảnh đồng bào họ ở miền Nam đang đói khổ. Khi dân Bắc Hàn thiếu gạo, thiếu áo mặc, bị đói, bị rét, thì guồng máy tuyên truyền cũng đổ tội cho bọn Mỹ và Ngụy quyền miền Nam gây ra. Với phương pháp giáo dục nhồi sọ từ sau chiến tranh Cao Ly, năm 1952 đến nay; ít nhất có một phần ba dân Bắc Hàn khóc Kim Jong-l một cách thành thật, như Tố Hữu khóc Stalin: “Hỡi ơi ông chết có trời đất không? Thương cha, thương mẹ, thương chồng - Thương mình thương một, thương ông thương mười!”
Nhìn hình ảnh dân Bắc Hàn khóc lãnh tụ, chúng ta thấy như những cảnh trong truyện cổ tích của Doãn Quốc Sỹ. Tác giả Sợ Lửa đã viết một truyện chính trị giả tưởng, tả một chính quyền độc tài đã “chế tạo” ra những người dân và binh lính theo lối sản xuất hàng loạt bằng giáo dục nhồi sọ từ khi mới sinh ra; rồi đưa lính đi xâm lăng nước láng giềng theo chiến thuật biển người của Mao Trạch Ðông. Thời 1960 đọc truyện ngắn của Doãn Quốc Sỹ, chẳng ai tin đó có thể thành sự thật. Nay nhìn cảnh những người dân Bắc Hàn khóc Kim Jong-il, chúng ta thấy trước mắt kết quả của một bộ máy giáo dục nhồi sọ như vậy.
Loài người nổi giận, không phải là giận những người dân khóc thương một bạo chúa. Ðáng giận dữ, đáng khinh bỉ nhất là những bạo chúa đã chế ra và sử dụng bộ máy tẩy não từ hơn nửa thế kỷ nay! Những điều mà chúng ta đọc, sản phẩm từ óc tưởng tượng của Doãn Quốc Sỹ, hay của Aldous Huxley trong “Brave New World,” của George Orwell trong “1984,” không ngờ đang diễn ra trước mắt, có thực 100%!
Hai đời lãnh tụ họ Kim đã nhào nặn cái đầu dân Bắc Hàn với một bộ máy tẩy não học được từ Stalin và Hitler. Họ đã biến đồng bào của họ thành những bộ máy mù lòa, nhắm mắt tin tưởng vào các lãnh tụ yêu nước vĩ đại, kính yêu, vân vân. Người dân nào còn chưa tin tưởng thì cũng không dám để lộ ra. Nếu đồng chí của anh biết anh thiếu tin tưởng vào ông Ỉn, ông Ủn, thì anh sẽ đi Cổng Trời; cuộc đời của anh sẽ tàn ngay. Soljenitsyn kể mỗi lần Stalin đọc xong một bài diễn văn, tất cả mọi người phải đứng lên vỗ tay; mà trong lúc vỗ tay, anh nọ lấm lét nhìn anh kia, chỉ sợ mình vô tình ngưng vỗ tay sớm quá! Sau nửa thế kỷ nhồi sọ, người dân Bắc Hàn cũng vậy. Những người vật vã than khóc vừa lau nước mắt vừa ngó qua những người bên cạnh, xem có ai khóc thảm thiết hơn mình không. Nếu thấy, phải thành khẩn nhận khuyết điểm, phải đập đầu, vặt tóc, đấm ngực mình, khóc lóc thảm thiết hơn, kẻo bị báo cáo.
Khi đem người dân làm vật thí nghiệm nhồi sọ, tẩy não, các lãnh tụ cộng sản và phát xít đã khinh thường con người, coi “nhân dân” tệ hơn loài vật. Nhìn đám dân đen họ chỉ thấy những cái máy không hồn, tha hồ nhào nặn, thì họ mới đang tâm đem dân ra làm thí nghiệm như thế. Họ làm cả một dân tộc mất phẩm giá, 24 triệu con người làm nô lệ mà không thấy nhục nhã!
Nhìn cảnh những người dân Bắc Hàn khóc lóc, chúng ta cảm thấy xấu hổ, đồng thời còn sợ hãi nữa. Vì biết rằng chính mình cũng có thể bị nhồi sọ như vậy! Nếu không may gặp hoàn cảnh tương tự, chúng ta cũng có thể được huấn luyện để than khóc lãnh tụ như người Bắc Hàn! Ai cũng có thể là dân Bắc Hàn! Doãn Quốc Sỹ viết, “Tước đoạt nhân phẩm của một cá nhân nào cũng làm thương tổn đến nhân phẩm của cả nhân loại.” Chứng kiến cảnh những người dân Bắc Hàn bị họ Kim nhồi sọ, loài người nổi giận, vì thấy cả nhân loại đang bị những ông Ỉn ông Ủn khinh miệt!
Người Việt Nam gọi tên hai lãnh tụ Bố Ỉn và Bố Ỉn, cũng vì nỗi giận đó. Mặc dù trong lòng chúng ta không ai muốn xúc phạm đến danh dự của người dân Hàn Quốc, miền Nam hay miền Bắc. Bài học cho nhân loại, là trong lịch sử đời nào cũng có thể sinh ra những bạo chúa bắt dân làm tôi mọi. Mà người dân cứ thế cắn răng chịu đựng, chịu mãi thành quen coi là cuộc sống bình thường, không ai thắc mắc chi cả!
Nhưng mặt khác, như ký giả Caroline Fourest mới viết trên nhật Le Monde vào dịp cuối năm qua, chúng ta hy vọng ở những nước độc tài đảng trị sẽ có một nhóm thiểu số tích cực khác, có can đảm đứng lên đòi xóa bỏ cái kim tự tháp độc tài, hoặc lật ngược nó lên. Bà nhắc lại những cuộc cách mạng Hoa Nhài ở Trung Ðông trong năm qua. Ðể kết luận rằng, “Sau một năm 2011 với bao nhiêu bạo chúa bị lật đổ, năm 2012 sẽ cho chúng ta một thế giới đang chuyển hóa, trong đó tất cả các con đường đều bầy ra trước mắt loài người.” Người dân những nước đang còn sống dưới chế độ độc tài phải lựa chọn. Phải phục hồi lại nhân phẩm cho mỗi người và cho cả dân tộc. Hay là nhắm mắt cúi đầu tiếp tục chịu đựng cảnh những lãnh tụ kiểu Ủn Ỉn cha truyền con nối ngồi trên đầu dân mình. Ngô Nhân Dụng
California trước thực tế Trước khi nhậm chức, Thống Ðốc Arnold Schwarzenegger đã được nhiều người tin là thế nào ông cũng thành công, vì ông đã “tề gia” rất giỏi thì việc “trị quốc” sẽ chẳng khó gì. Một người ngoại quốc đến nước Mỹ, nổi tiếng lên là nhờ có những bắp thịt to, thuộc đảng Cộng Hòa mà lại lấy cháu gái nhà Kennedy, một đại gia địch quốc trong đảng Dân Chủ, rồi ông thuyết phục được bà vợ bỏ công ăn việc làm của mình về đóng vai thống đốc phu nhân - nói cách khác, về làm nghề nội trợ! Người tề gia tài như vậy thì không giỏi trị quốc sao được?
Công việc chính trị khó nhất là hứa hẹn khi tranh cử, rồi sau khi thắng lại được dân chúng ủng hộ cho mình làm ngược lại với những lời đã hứa. Ông Arnold Schwarzenegger đang đạt được thành tích đó. Khi tranh cử trong vụ bãi nhiệm cựu Thống Ðốc Grey Davis năm ngoái, ông Schwarzenegger thề là sẽ không bao giờ tăng thuế - trừ khi có thiên tai! Trước đó, ông Davis đề nghị tăng thuế để thu thêm 8 tỷ mỹ kim ngõ hầu lấp vào lỗ trống ngân sách, nhưng bị các dân biểu đảng Cộng Hòa chặn lại. Bây giờ thì từ 69 phần trăm đến 79 phần trăm dân California đồng ý ông Schwarzenegger nên tăng mấy thứ thuế! Trong số những người vẫn bầu cho đảng Cộng Hòa cũng có 63% ủng hộ việc tăng thuế! Ðảng Dân Chủ còn ủng hộ hăng hơn nữa.
Nghĩa là bây giờ Thống Ðốc Schwarzenegger có thể tăng thuế mà dân không ai phàn nàn gì, kể cả những người thường vẫn chống tăng thuế ở trong đảng Cộng Hòa! Không những thế, theo cuộc nghiên cứu dư luận của Nhật Báo Los Angeles Times, 63% những cử tri Cộng Hòa và 66% cử tri Dân Chủ đồng ý rằng nếu ông Schwarzenegger tăng thuế thì đó là vì tình trạng thực tế bắt buộc! Không biết trong gia đình ông ra sao, khi mà ông theo đảng Cộng Hòa còn bà vợ ông, nhất là các bà cô ông chú, anh chị em họ bên vợ ai cũng theo đảng Dân Chủ cả! Hồi tranh cử, có bao nhiêu phụ nữ tố cáo ông sàm sỡ linh tinh với họ, mà bà vợ ông lúc nào cũng bênh chồng! Phải công nhận ông là một nhà chính trị giỏi. Ngày xưa ông De Gaule bên Pháp có lúc cũng đạt được một thành tích tương tự, về chuyện chính trị chứ không phải chuyện phụ nữ. Ông De Gaule ra tranh cử với lời hứa sẽ bảo vệ thuộc địa Algérie, ông tuyên bố Algérie chính là một phần của nước Pháp! Nhờ thế ông được phe hữu ủng hộ, kể cả những tay thực dân. Ðắc cử rồi, ông De Gaule thuận theo lòng đa số dân chúng, trả độc lập cho nước Algérie!
Ông Arnold Schwarzenegger cũng đạt được nghệ thuật thỏa hiệp cần thiết của một chính trị gia. Ða số các đại biểu trong Nghị Viện Tiểu Bang là Dân Chủ, nhưng ông thống đốc Cộng Hòa vẫn thuyết phục được họ đồng ý với những dự án vay nợ 14 tỷ và đề nghị cải tổ bảo hiểm lao động của ông. Phải nhắc lại, một người chồng có bà vợ làm nghề truyền thông như ông thì chắc biết nghệ thuật thỏa hiệp như thế nào. Nhưng ông Schwarzenegger cũng gặp may mắn nữa. Ông lên làm thống đốc lúc tiểu bang California đang xuống đến chỗ không thể xuống hơn được. Ngân sách thì thâm thủng, các đại biểu quốc hội thì bị các nhóm bên ngoài thao túng, từ những nghiệp đoàn công chức tới các bộ lạc da đỏ. Dân California đã chán tất cả các chính trị gia, họ rất mừng có một người “từ bên ngoài,” một tài tử chiếu bóng đã thành công cả về tài chính, vào quản trị công việc tiểu bang. Ông Schwarzenegger được hưởng một cái vốn thiện cảm rất lớn của dân chúng Cali. Sau 6 tháng nhậm chức, ông vẫn được 69% dân chúng chấm điểm tốt, cao hơn cả hai bà Nghị Sĩ Liên Bang Feinstein (63%) và Boxer (57%.) Vì vậy, ông có thể đem các vấn đề ông muốn quyết định ra hỏi thẳng ý người dân, qua mặt các chính trị gia đối lập trong Quốc Hội Tiểu Bang.
Cho nên chúng ta có thể tin là trong thời gian tới tiểu bang California sẽ tăng thuế mà không ai dám phàn nàn. Có đến 69% những người được Nhật Báo Los Angles Times phỏng vấn đồng ý nên tăng thuế lợi tức của những người giàu nhất tiểu bang. Có 78% đồng ý nên tăng thuế thuốc lá, và 79% nên tăng thuế rượu. Chỉ có việc tăng thuế tiêu thụ (sales tax) là bị 50% chống, chỉ có 47% ủng hộ.
Tiểu bang California vẫn được tiếng là đi trước toàn thể nước Mỹ trong việc chống thuế. Bây giờ dân California đồng ý cho tăng thuế, một biến chuyển lớn. Thực tế là người ta không thể cứ tính chuyện chi tiêu mà không lo chuyện thâu nhập. Không biết những nơi khác sẽ nghĩ sao? Còn một món thuế ở California đã bị cố vấn Warren Buffett của ông Arnold chỉ trích là thuế thổ trạch, mà ông thấy là quá thấp. Ông Warren Buffett là người giàu thứ nhì ở nước Mỹ (nhất Bill Gates, 48 tuổi, hơn 40 tỷ mỹ kim, công ty Microsoft; nhì Buffett, 73 tuổi, 30 đến 36 tỷ, đầu tư chứng khoán; ba Paul Allen, 51 tuổi, hơn 20 tỷ, công ty Microsoft.) Ông Buffett so sánh một ngôi nhà của ông ở New Port Beach, California, trị giá nửa triệu mà chỉ đóng 4,000 đô la tiền thuế, trong khi một căn nhà giá bằng một phần ba, ở tiểu bang khác thì đóng $14,000 thuế! Ông Buffett có đề nghị ông Schwarzenegger tăng thu bằng cách thay đổi luật thuế nhà đất hay không? Có 69% dân Cali đồng ý tăng thuế những người giàu nhất tiểu bang, mà những vị này cũng là chủ nhân của những ngôi nhà trị giá hàng triệu, nhưng mua từ 20, 30 năm trước, bây giờ vẫn đóng thuế theo giá nhà cũ! Ðây sẽ là một thử thách cho ông Thống Ðốc California! Liệu ông có dám tăng thuế những người đã từng góp tiền cho ông ra tranh cử hay không? Ngô Nhân Dụng
Ở các nước dân chủ, mỗi lần có một cuộc vận động tranh cử, người ta lại thấy nhiều bất mãn về không khí chính trị.
Như cuộc vận động tranh cử hiện đang diễn ra ở nước Mỹ chẳng hạn. Ngược lại, tại một nước độc tài, một cuộc bầu cử hơi tự do một chút cũng khiến mọi người thêm tin tưởng rằng cơ chế chính trị dân chủ hy vọng sẽ giúp quốc gia sẽ tiến bộ hơn. Như tình trạng ở Nga trong mấy ngày nay. Chế độ dân chủ giống như một cái bánh: Ðược nếm một chút thì người ta thèm muốn ăn nhiều hơn; nhưng khi được ăn mãi thì lại dễ thấy chán!
Sang năm nước Mỹ mới có bầu cử tổng thống và Quốc Hội. Nhưng không khí chính trị đã sôi nổi, hào hứng nhờ các nhà chính trị bên đảng Cộng Hòa đang giành nhau để được đảng đưa ra làm ứng cử viên tổng thống. Một tháng nữa mới có những cuộc bầu cử sơ bộ ở Iowa nhưng từ nửa năm nay đã có hàng chục nhà chính trị rất sáng giá vận động hòng được đảng đưa ra đối đầu với đương kim Tổng Thống Barack Obama. Hãy tạm coi họ đều là những ứng cử viên tổng thống. Với tình trạng kinh tế đang trì trệ và khó hy vọng khá lên nhiều trong 12 tháng tới, ai chính thức được làm ứng cử viên Cộng Hòa sẽ hy vọng được làm tổng thống nước Mỹ từ năm 2013.
Nhưng chính cuộc vận động sôi nổi này làm nhiều người thấy chán nản. Theo dõi các cuộc tranh luận của họ, có những vị ứng cử viên tổng thống làm người ta phát chán. Nhiều người Mỹ tự hỏi: Cái ông (hay bà) này mà sẽ làm tổng thống của tôi hay sao? Thí dụ như ông Herman Cain, nhà triệu phú chủ nhân nhiều tiệm ăn thành công, có tài ăn nói, có lúc đã vượt lên đứng hàng đầu. Ông đưa ra một chính sách thuế rất giản dị, ai cũng hiểu được, gọi là “999,” ba thứ thuế cái nào cũng đánh 9%. Ai cũng biết các suất thuế như vậy sẽ làm ngân sách chính phủ Mỹ thiếu tiền tiêu, nhưng nếu có ai đặt câu hỏi thì ông Cain coi như chuyện đó không quan trọng! May mắn cho đảng Cộng Hòa, có đến 4 phụ nữ xuất hiện tố cáo ông đã sách nhiễu tình dục họ; rồi chính ông cũng thú nhận đã từng ngoại tình. Sau cùng ông Cain phải rút lui, ai cũng thở phào nhẹ nhõm.
Một ứng cử viên sáng giá khác là ông Rick Perry, thống đốc tiểu bang Texas. Ông có những khẩu hiệu rất hay, dựa trên thành tích đã quản trị thành công trong một tiểu bang vào hạng lớn và giầu nhất nước Mỹ. Có lúc ông đã vượt lên chạy hàng đầu, qua mặt cả Mitt Romney và Newt Gingrich; được coi như niềm hy vọng của đảng. Nhưng bây giờ ông đã xuống, rất thấp. Ông Perry có cái tật hay quên một cách thảm hại, đặc biệt là quên tên! Ðãng trí một lần thì dễ được bỏ qua, vì ai cũng có lúc quên; nhưng quên đến mấy lần, quên toàn những chuyện quan trọng, thì những người ủng hộ ông cũng phải lo! Một lần, lên ti vi tranh luận với các ứng cử viên khác, ông trình bày dự án chính trị sẽ thi hành khi lên làm tổng thống: Chính phủ liên bang to lớn quá, phải cắt bớt (Ai cũng đồng ý!). Cho nên Tôi, Perry, sẽ xóa bỏ bớt ba bộ trong chính phủ Mỹ. Thứ nhất là Bộ Thương Mại; thứ hai là Bộ Giáo Dục; và thứ ba là bộ... bộ nào nhỉ, quên mất rồi!
Mới ngày hôm qua, ông Rick Perry lại biểu diễn tính đãng trí một lần nữa. Ðang đi vận động ở Iowa, nói chuyện với ban biên tập tờ báo lớn nhất tiểu bang, The Des Moines Register, ông Perry chỉ trích Tổng Thống Obama đã Ðề Cử Hai Thẩm Phán Tối Cao, “thí dụ như là...” Nói tới đó ông Perry lúng túng nghĩ không ra cái tên vị thẩm phán này. Ông tự hỏi thầm, nhưng ai cũng nghe thấy, “Không, không phải là Montemayor...” Một nhà báo có hảo ý nhắc tên vị nữ thẩm phán: “Sotomayor.” Ông Perry sung sướng nhắc lại: “Sotomayor, đúng, Sotomayor.” Sau đó, ông chỉ trích các quan tòa Tối Cao Pháp Viện đã can thiệp vào “quyền tự do cầu nguyện” ở trong các trường học. Ðó là một đề tài rất hấp dẫn. Cho nên ông lên tiếng phản đối “Tám vị thẩm phán tối cao không do dân bầu ra; thành thật mà nói, họ không chịu trách nhiệm với ai hết!” Ý kiến này sẽ được nhiều người đồng ý. Chỉ có một điều bất ổn, là Tối Cao Pháp Viện nước Mỹ xưa nay vẫn có chín vị thẩm phán. Ðề tài Tối Cao Pháp Viện là do ông Perry chọn, để ông phê phán định chế này. Tôn giáo là một lãnh vực ông được rất nhiều người tán thưởng. Vậy mà ông quên cả con số 9 người hay 8 người. Nhiều người sẽ tự hỏi: Sao ông không chịu học trước khi lên trả bài?
Chắc cuối cùng ông Rick Perry khó qua mặt được Mitt Romney và Newt Gingrich để giành lấy vai trò ứng cử viên chính thức của đảng Cộng Hòa. Nhưng các màn biểu diễn tính hay quên khiến nhiều người đã thất vọng về khả năng chính trị của ông. Và nếu ông cứ tiếp tục vận động thêm vài tháng nữa, có lúc người ta sẽ thất vọng cả về những chuyện tranh cử và bầu cử sơ bộ. Liệu hai chính đảng lớn ở Mỹ không tìm ra cách nào khác để chọn một ứng cử viên chính thức hay sao?
Chưa hết, hãy chờ đến sang năm. Khi đảng Cộng Hòa chọn xong rồi, cuộc tranh cử giữa ông Barack Obama với, hoặc ông Mitt Romney hoặc ông Newt Gingrich, sẽ diễn ra với những cảnh đấu đá, chê bai, bới móc và có khi bôi bẩn nhau rất nặng nữa. Dân chúng sẽ còn chứng kiến nhiều cảnh không phải lúc nào cũng hay ho, đáng ngưỡng mộ. Vậy mà, sau cùng, một trong mấy người đó sẽ lên làm tổng thống cai trị dân Mỹ trong bốn năm! Có cách nào khác hay không?
Nhưng khi nhìn lại những vị tổng thống được kính trọng nhất trong lịch sử Mỹ, như ông Lincoln, như hai ông Roosevelt, ta thấy ông nào cũng đều đã trải qua những cuộc tranh cử giống y như vậy cả! Ðọc lịch sử nghe những điều các đối thủ bôi nhọ ông Lincoln, phải thấy là kỳ lạ!
Chế độ Dân Chủ có một khuynh hướng kỳ lạ này, là rất thích phơi bầy những cái xấu của mình! Sống giữa các cuộc vận động tranh cử, nhiều người phải phát chán. Một người quan sát ngoại quốc sẽ lại đặt câu hỏi: Có cách nào khác (coi lành mạnh và sạch sẽ hơn), để chọn một người cai trị quốc gia hay không?
Ở một nước độc tài thì khác hẳn. Chế độ độc tài rất giỏi trong nghề che đậy, giấu diếm. Tốt khoe ra, xấu xa đậy lại. Dân chúng biết càng ít càng tốt!
Thử nhìn ông Vladimir Putin mà coi. Ông ta chỉ xuất hiện trước công chúng để đóng trò một người hùng; chỉ thua Thống Chế Stalin ngày xưa mà thôi! Putin bắn súng. Putin đấu võ. Putin cưỡi ngựa (cởi trần, khoe bộ ngực lực sĩ). Putin lái máy bay, lái cả tầu ngầm. Putin đứng giữa đoàn nữ vệ binh (các cô y phục rất khiêm tốn). Ðầy rẫy trên truyền hình, trên báo, trên màn ảnh lớn, trên cả nhãn hiệu Vodka. Ông Putin còn được các đồng chí Trung Quốc chọn trao giải Hòa Bình mang tên ông Khổng Tử nữa!
Trước đây hai tháng cả nước Nga và cả thế giới chỉ thấy một chính quyền Putin vô địch, được toàn dân ngưỡng mộ, kính yêu, không ai thay thế nổi; sang năm ông chắc chắn sẽ làm chúa tể Ðiện Kremlin thêm 12 năm nữa. Ai than vãn hay tỏ ý nghi ngờ sẽ bị công an mật vụ hỏi thăm, nhiều nhà báo can đảm đã mất mạng.
Nhưng chỉ cần cho dân chúng bỏ phiếu tự do hơn một chút, bầu không khí đã thay đổi. Tự nhiên hàng chục ngàn người dân bỗng thấy họ mạnh dạn hơn. Họ dám xuống đường tố cáo bầu cử gian lận! Một phụ nữ nói, “Trước đây tôi không bao giờ đi biểu tình. Vì sợ cũng có, mà còn vì tôi nghĩ đi biểu tình cũng chẳng thay đổi gì được. Nhưng bây giờ khác. Chủ Nhật này tôi sẽ đi biểu tình!” Một người dân bình thường bỗng thấy can đảm. Vì bắt đầu tin tưởng vào những quyền tự do căn bản của thể chế tự do dân chủ: Tự do hội họp; và tự do phát biểu. Chắc những quyền đó phải hấp dẫn, phải đưa tới những kết quả tốt hơn tình trạng độc tài! Một điều chắc chắn: Những người Nga đi biểu tình ngày mai, Chủ Nhật 11 tháng 12 năm 2011, đều mong muốn đất nước họ được tự do dân chủ hơn.
Ðể làm gì? Tất nhiên, để cuộc sống kinh tế, xã hội tốt đẹp hơn. Ðể con cháu họ sống hạnh phúc hơn. Nhưng, sẽ đến ngày nước Nga tự do dân chủ thật, các cuộc bầu cử sẽ có nhiều ứng cử viên tham dự, họ sẽ tranh luận với nhau trước công chúng, cãi nhau như mổ bò, y như ở Mỹ bây giờ. Và sau đó nhiều người sẽ thất vọng, sẽ tự hỏi: Có cách nào khác để chọn người cai trị mình hay không?
Nhưng chúng ta biết, chế độ dân chủ tự do không bảo đảm sẽ tìm ra những người lãnh đạo tốt nhất, giỏi nhất, đẹp trai hay xinh gái nhất nước để trao quyền. Dân chủ tự do là một chế độ không hoàn hảo, và không hứa hẹn những kết quả hoàn hảo. Dân chủ tự do không cam kết sẽ tạo ra một xã hội “lý tưởng” - như các chủ nghĩa viển vông thường mê hoặc những người dại dột.
Vậy thì đâu là giá trị đặc biệt của thể chế dân chủ tự do khiến loài người đã mất bao công tranh đấu, theo đuổi, muốn thực hiện bằng được? Hiện nay ở nước Miến Ðiện người ta cũng náo nức đặt những viên đá đầu tiên xây dựng con đường tự do dân chủ cho các thế hệ tương lai. Nhiều người dân các nước Á Rập cũng đang hào hứng xây dựng xã hội mới dân chủ tự do hơn.
Ưu điểm của chế độ tự do dân chủ là nó tạo ra một cái khung, cái sườn cho cuộc sống chung; để giới hạn quyền hành của những người đóng vai cai trị. Khi sống trong khung cảnh pháp lý đó, có thể ngăn ngừa được những tai hại do tình trạng lạm quyền sinh ra. Chỉ cần cho người dân quyền thay đổi người cầm quyền một cách tự do, khuynh hướng lạm quyền sẽ bị hạn chế. Trong một nước độc tài thì tham nhũng, bất công, đàn áp, tham quyền cố vị sẽ khó sửa chữa được. Khi được tự do, người ta có hy vọng thay đổi. Dân chủ tự do không hứa hẹn thiên đường. Nhưng sẽ giúp xã hội loài người tránh rơi xuống địa ngục. Vì vậy loài người vẫn tiếp tục khát khao tự do dân chủ.
Ngô Nhân DụngNgười Việt không bị Hán hóa
Cả tuần nay người Việt trong và ngoài nước kháo nhau về chuyện 5 sao với 6 sao. Ông Mao Trạch Ðông đặt ra cờ 5 sao có ý nói đảng cộng sản của ông ta (sao lớn) lãnh đạo bốn giai cấp xã hội (4 sao con).
Có người lại nói 5 ngôi sao đó tượng trưng 5 chủng tộc: Hán (sao lớn), và Mãn, Mông, Hồi, Tạng (4 sắc dân nhỏ). Giải thích như thế để suy ra là khi cho trẻ con Việt Nam cầm cờ 6 sao đi đón ông Tập Cận Bình, ông Nguyễn Phú Trọng muốn nói Trung Quốc có 6 chủng tộc; ngôi sao thứ sáu mới thêm vào là giống dân Việt! Ví thử lúc ông Bush hay ông Obama sang Việt Nam mà thấy các học sinh cầm lá cờ Mỹ vẽ 51 ngôi sao thì chắc người mình cũng tha hồ suy diễn đùa cợt như vậy! (Cờ nước Mỹ có 50 ngôi sao, cho 50 tiểu bang).
Nhưng không phải ông Mao (hay ông Tôn Trung Sơn) đã gom bốn sắc dân nhỏ vào với dân Hán. Việc gom góp này có từ đời nhà Thanh. Ai tới các đền đài cung điện ở Bắc Kinh đều thấy những tấm bảng viết bằng 5 thứ chữ, ngôn ngữ của 5 giống dân. Vì các ông vua nhà Thanh gốc người Mãn Châu; họ cần biện minh tại sao họ lại được ngồi trên đầu người Hán. Biện minh bằng lý luận rằng Thiên hạ là của chung; có 5 giống dân, người giống nào lên làm thiên tử cũng được.
Vì tham vọng của các ông hoàng Mãn Thanh cho nên bây giờ dân Mãn Châu bị mất gốc rễ (những người nói thông thạo tiếng Mãn hiện nay gần xuống lỗ hết; ông vua sau cùng là Phổ Nghi không nói thông thạo tiếng mẹ đẻ!) Người Mãn cũng như người Mông Cổ trước họ, đã đánh Ðông dẹp Bắc, cuối cùng chỉ “làm cỗ sẵn” cho người Hán xơi. Cuối cùng dân Hán đã đồng hóa hết các đám dân “Di, Ðịch!”
Nhưng thành công lớn nhất của người Hán không phải là đã gom các sắc tộc ngoài biên ải vào một nước Trung Hoa. Công trình lớn lao quan trọng hơn nữa là họ đã đem nền văn minh sông Hoàng, sông Hoài từ miền Bắc xuống “giáo hóa” và “đồng hóa” đám dân miền Nam sông Dương Tử (Trường Giang). Dân hai miền vốn gốc gác khác hẳn nhau. Người miền Bắc thuộc giống Mông Cổ, cao lớn, da nhợt nhạt hơn, mũi cao hơn, và ngôn ngữ thuộc họ Hoa-Tạng. Dân miền Nam da ngăm ngăm, ngôn ngữ vốn gốc Nam Á, Thái. Người Quảng Ðông, Phúc Kiến có họ hàng gần với người Việt, người Ðông Nam Á hơn so với người Hoa phương Bắc. Sau vài ngàn năm, các sắc dân phía Nam Trường Giang đã tự coi họ là người Hán, người Trung Hoa. Trừ đám dân Việt Nam bướng bỉnh tới bây giờ vẫn chưa bị đồng hóa - dù người ta biểu diễn cờ 5 sao hay 6 sao cũng mặc!
Nhờ đâu người phương Bắc thành công trong việc Hán hóa những sắc dân ở Hoa Nam? Sức mạnh quân sự không đủ để đồng hóa người khác. Bằng cớ là quân Mông Cổ đã từng chiếm từ Á Châu sang Ðông Âu, đến tận núi Ural; nhưng chính họ lại bị đồng hóa bởi các nền văn minh khác.
Người Hán thuần hóa được miền Hoa Nam nhờ “Sức Mạnh Mềm,” nói kiểu bây giờ, “Soft Power.” Họ tạo ra một tổ chức chính quyền rất hiệu quả trong việc thu thuế và bắt lính. Và họ nắm trong tay một dụng cụ thông tin là chữ viết. Các quan cai trị phải học chữ thông thạo trước khi được bổ nhiệm vào guồng máy thư lại, “bureaucracy.” Guồng máy đó vẫn sử dụng cho đến bây giờ, thí dụ chế độ “”hộ khẩu” đã áp dụng từ thế kỷ thứ ba trước Công nguyên. Nhờ chính sách của Tần Thủy Hoàng bắt dân bốn phương phải dùng chung một thứ chữ viết, dù nói tiếng khác nhau, nên việc cai trị một đế quốc rộng lớn trở nên dễ dàng hơn. Thứ chữ đó cũng chuyên chở Hán tộc tràn xuống phương Nam lập thành nước Trung Hoa bây giờ.
Chữ viết đã được phát minh ở các vùng Sumer, ở Ai Cập hay Mexico sớm hơn ở Trung Quốc. Nhưng trong các xã hội cổ sơ đó, việc học và sử dụng chữ viết bị giới hạn. Chỉ một số thư ký giữ kho cho ông vua, hay các thầy cúng tế trong đền thờ, là học đọc và viết chữ. Khi không được sử dụng nhiều, việc phát triển, cải thiện và gia tăng số chữ viết để diễn tả nhiều thứ khác nhau cũng chậm chạp. Ở Trung Quốc, các trường tư đã xuất hiện từ thời Xuân Thu, việc học đọc, học viết trở thành phổ cập từ hơn 2000 năm trước. Ít nhất 500 trước Công nguyên, Khổng Tử đã sống bằng nghề dạy học. Trường tư của Quỷ Cốc Tử dạy rất nhiều môn, không khác gì một đại học tổng hợp bây giờ. Nhờ nhiều người dùng nên chữ viết được hoàn thiện và nhiều chữ mới liên tục được đặt ra từ đời này sang đời khác để diễn tả những khái niệm mới nghĩ ra, các hiện tượng mới quan sát.
Có lẽ một phong trào đặt các chữ mới, bày ra cách viết mới đã “bùng nổ” vào thế kỷ thứ ba trước Công nguyên, giống như các mạng blog bây giờ! Phong trào đó có thể là một động cơ khiến bộ tham mưu của Tần Thủy Hoàng thấy nhu cầu phải quy định các tiêu chuẩn thống nhất. Ít nhất, tránh trường hợp các “blogger” viết ra những bản văn mà các quan đọc không được! Thống nhất chữ viết giống như đặt ra một bức tường lửa, hay là bắt tất cả các blogs phải dùng chung một “máy server” vậy! Ðám quan lại được đào tạo trong nghề cai trị đã mang thứ khí cụ chữ viết này theo trong các cuộc chinh phục, thứ vũ khí nhẹ và dễ mang trong đầu nhưng lại có sức mạnh vô cùng lớn! Dần dần, ở cõi Giang Nam, những ai đã học đọc, học viết, tay cầm quyển sách, miệng ê a mấy câu chữ Hán, đã trở thành những mẫu người tiến bộ, bảnh nhất trong làng xóm; không khác gì hình ảnh những người ôm một cái iphone hay ipad đang đi trên đường phố ở khắp thế giới bây giờ!
Các giống dân ở phía Nam Trường Giang tự thấy mình “chậm tiến” hơn các quan cai trị, họ chịu thỏa hiệp, họ muốn học hỏi, muốn bắt chước lối sống của lớp người đã tiến bộ, văn minh đó. Những người “hội nhập nhanh” sẽ hãnh diện khi đọc được sách Khổng Mạnh. Học chữ Hán là một phương tiện thăng tiến trong xã hội! Những người biết chữ Hán chắc cũng bắt đầu tập nói tiếng phương Bắc. Cứ như thế, nhiều người bị đồng hóa, tự nhận là “Hán Tử,” hay “Hảo Hán,” thành phần tiến bộ hơn những người đồng chủng. Khi nhiều người cùng thay đổi theo thời thượng, thứ tiếng nói của tổ tiên họ lùi dần lại thành một tiếng thiểu số, một “patois” như người Pháp gọi thổ âm miền Provence đang chết dần.
Ở miền Nam Trung Quốc trong hai ngàn năm Hán hóa, những nông dân không biết đọc biết viết thì vẫn nói thứ ngôn ngữ cũ của cha ông; vì họ không cần tiếp xúc với các quan thứ sử, các tiết độ sứ. Cho nên đến bây giờ ở Hoa Nam vẫn còn những nhóm người nói các thổ âm tiếng Hẹ, tiếng Tiều, tiếng Phúc Kiến, vân vân, nhiều người vẫn từ chối không nói tiếng phổ thông (quan thoại). Nhưng dù vẫn tiếp tục nói tiếng địa phương, họ cũng chịu ảnh hưởng gián tiếp của chữ viết, khi bắt đầu thay đổi cách nói năng, thay đổi văn phạm theo lối mới. Hiện tượng tiếng nói bị đồng hóa này có thể diễn ra trong hàng ngàn năm chưa dứt.
Dòng sông Hán hóa cuốn hút các sắc dân Phúc Kiến, dân Tiều, dân Hẹ giống như con sông Hoàng Hà “Bôn lưu đáo hải bất phục hồi,” đi luôn không quay ngược lại nữa. Riêng tại Việt Nam thì người Việt vẫn giữ được tiếng nói riêng, dù có học, biết dùng chữ Hán. Tiến trình Hán hóa ngưng lại, không tiến xa hơn được. Không biết hiện tượng này diễn ra từ 2000 năm trước, vào thời Hai Bà Trưng, hay vào thế kỷ thứ năm (Lý Bôn xưng đế), thứ mười (Ngô Quyền lập quốc). Ðó là một hiện tượng khó hiểu, đáng kinh ngạc.
Tại sao giống dân Việt cũng được các thái thú người Hán “khai sáng” với cùng một hệ thống thư lại và thứ chữ viết mang từ phương Bắc xuống, trong hơn một ngàn năm, y như dân các tỉnh Phúc Kiến, Quảng Ðông và Vân Nam; mà họ không chịu chung số phận biến thành người Trung Hoa? Người Việt Nam giải thích đó là do sức đề kháng quật cường của dân tộc mình, một điều huyền bí, thiêng liêng nhưng không thể chối cãi được. Ngôn ngữ, tín ngưỡng, có thể đã giúp dân Việt tự đứng lên vững chãi đương đầu.
Nhưng nếu nhìn với con mắt khách quan hơn, có thể thấy còn những yếu tố trong thiên nhiên đóng góp vào khả năng đề kháng suốt một ngàn năm đó.
Khí hậu, thủy thổ có thể là một “đồng minh” của dân tộc Việt Nam trong quá trình đề kháng. Các quan cai trị phương Bắc quen phong thổ miền khô, không khí lạnh lẽo. Ðất Giao Châu nóng và ẩm; cư dân ở đó sống chen chúc mấy ngàn năm đã sinh ra những bệnh thời khí, những vi khuẩn của riêng của một vùng. Thể xác người phương Nam đã phát triển được những kháng thể, di truyền để lại từ hàng ngàn năm. Người phương Bắc không có sẵn trong mình những kháng thể chống lại những vi trùng và vi khuẩn đó. Họ còn bị các ký sinh trùng miền nhiệt đới tấn công. Các loài vi khuẩn tìm được những “mảnh đất mầu mỡ” trong những “khách” từ phương xa lại. Những giống ruồi, muỗi ở phương Nam hỗ trợ sức bành trướng và sinh sôi nẩy nở của các loại vi trùng. Các di dân từ phương Bắc phải lựa chọn; hoặc bị tiêu diệt vì bệnh tật, hoặc phải quay về phương Bắc. Nhiều người phương Bắc sẽ nghĩ rằng nếu học cách ăn uống, cách sinh hoạt theo lối dân địa phương, chịu thờ phượng các thần thánh địa phương; họ hy vọng sẽ chống lại được các căn bệnh do đất, nước, mưa gió, thời tiết, ma quỷ bản địa gây ra, những người ở lại phải tập sống theo lối người địa phương. Cho nên mới có những ông Triệu Ðà, ông Sĩ Nhiếp tập nhiễm cách sinh hoạt của người phương Nam.
Phải nêu lên những điều kiện khách quan về địa dư, phong thủy đó để giải thích tại sao người Giao Chỉ, Cửu Chân không biến thành người Trung Hoa, như các giống dân láng giềng ở mấy tỉnh phía Bắc biên giới. Nhưng nói đến các yếu tố thiên nhiên đó không phải là để hạ thấp giá trị tinh thần quật cường của dân Việt; đó mới là yếu tố quyết định giữ được hồn tính, bản sắc của người Việt Nam. Vì tinh thần quật cường bướng bỉnh đó, chúng ta khỏi cần lo nước mình biến thành ngôi sao thứ sáu trên lá cờ Trung Quốc. Bộ Ngoại Giao Hà Nội giải thích rằng ngôi sao thứ sáu là do lầm lẫn kỹ thuật khi đi in cờ; một lời giải thích không mấy ai tin.
Câu chuyện 5 sao, 6 sao cũng mua vui được một vài trống canh. Nhưng không ai nghĩ rằng nước Việt Nam lại có thể trở thành một ngôi sao nhỏ trên lá cờ nước khác, dù là cờ 5 sao hay 50 ngôi sao! Ngô Nhân Dụng
Chính phủ Hoa Kỳ đã thay đổi đường lối điều khiển cuộc chiến Iraq trong ngày hôm qua, khi quân Hoa Kỳ rút ra ngoài, để cho một cựu tướng lãnh của chế độ Saddam Hussein bước vào thành phố Falluja để tái lập trật tự.
Tướng Jasmin Muhammad Salih, mặc bộ binh phục cũ và đeo lon cũ, đã được các toán lính bảo an do Hoa Kỳ huấn luyện vỗ tay hoan hô, trong khi dân chúng phất cờ Iraq. Ông Salih từng là Tham Mưu Trưởng Ðạo Quân Vệ Binh Cộng Hòa của Hussein, trước chiến tranh được coi là đạo quân tinh nhuệ, được ưu đãi và trung thành với Hussein nhất, nhưng họ đã tan hàng khi quân Hoa Kỳ tiến đến Baghdad một năm trước đây.
Ngày hôm nay, năm ngoái, Tổng thống Bush đã đáp máy bay xuống mẫu hạm Lincoln chở binh sĩ khải hoàn, ông tuyên bố các trận đánh lớn đã kết thúc; và trên mẫu hạm treo hàng chữ: “Nhiệm vụ hoàn tất!” Ngày hôm qua, nhắc lại kỷ niệm đó, ông Bush nói ngay từ năm ngoái ông đã báo trước rằng sẽ còn nhiều khó khăn trước mắt chứ chưa hết.
Quả nhiên, còn nhiều khó khăn mà chính phủ Hoa Kỳ không lường được trước. Trong Tháng Tư năm nay có 136 binh sĩ Hoa Kỳ tử trận, cao hơn số thiệt mạng suốt cả chiến dịch sáu tuần lễ, từ lúc khởi đầu cho đến khi tiến vào Baghdad. Số người Iraq thiệt mạng trong Tháng Tư cao gấp mười lần, 1,361 người, trong đó có nhiều phụ nữ, người già và trẻ em. Chính phủ Hoa Kỳ chưa bị sa lầy ở Iraq, nhưng quân đội Hoa Kỳ đã sa lầy ở hai mặt trận Falluja và Najaf, tiến thoái lưỡng nan.
Nếu quân Hoa Kỳ chịu lui thì chẳng khác gì khuyến khích những thành phố khác nổi dậy. Nhưng nếu tiến tới bằng cách cùng những loại vũ khí ác liệt thì số thường dân chết sẽ lên hàng ngàn người nữa. Cả thế giới sẽ chỉ trích, các nước đồng minh của Hoa Kỳ có thể theo gương Tây Ban Nha; mà chính phủ Hoa Kỳ càng khó thuyết phục người Á rập khắp nơi rằng họ vào Iraq để giải phóng chứ không phải để chiếm đóng và đàn áp.
Vì vậy, chính phủ Hoa Kỳ phải lùi một bước quan trọng, là dùng lại những sĩ quan quân đội Iraq cũ và các chuyên viên, công chức cựu đảng viên đảng Baath. Trong đám lính bảo an do Tướng Salih chỉ huy có cả những người gần đây còn cầm súng chống lại quân đội Hoa Kỳ.
Năm ngoái, ông Paul Bremer III được cử làm Giám Quốc Iraq đã ra lệnh giải tán quân đội và cấm các đảng viên đảng Baath không được giữ các chức vụ trong bốn cấp cao nhất trong chính quyền mới. Nhiều giáo sư, khoa trưởng đại học mất việc; không còn các kỹ sư cũ để kiểm soát hệ thống phát điện; nhiều bác sĩ phải nghỉ mổ xẻ.
Trong đám quân nổi dậy có những cựu sĩ quan Iraq từ nơi khác lẻn vào Falluja để làm tham mưu, có cả các cựu bác sĩ quân y tình nguyện tới băng bó người bị thương. Quân đội Hoa Kỳ cũng công nhận rằng những người nổi dậy có vẻ như những đơn vị thuần nhất. Họ đã đào lên những vũ khí dấu trong nghĩa trang, cho nên có cả máy dò dùng tia hồng ngoại để bắn trúng các trực thăng Hoa Kỳ.
Quân nổi dậy còn phao tin họ sẽ trao giải thưởng 15 triệu mỹ kim cho ai giết được một cấp chỉ huy quân Hoa Kỳ! Ở Falluja với đa số dân theo phái Sun Ni Hồi Giáo thì như vậy, còn ở Najaf, một thánh địa của phái Si A thì đám quân tình nguyện Mahdi có vẻ ô hợp của giáo sĩ Muqtada al-Sadr nhất định chiếm các giáo đường để cố thủ. Quân Hoa Kỳ có thể lấy cớ đó bỏ bom các nhà thờ, nếu chính phủ Hoa Kỳ chịu trả cái giá chính trị lớn không thể lường trước được.
Nỗi khó khăn chính của chính phủ Hoa Kỳ là họ không lường trước được. Khi Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ cử một vị tướng hồi hưu làm quản trị viên dân sự bên cạnh vị tướng chỉ huy, ông chỉ lo lắng việc cứu trợ dân tị nạn, nhưng không có dân tị nạn chiến tranh như năm 1991. Chờ cả tuần lễ ông mới mời các giáo sĩ, tộc trưởng người Iraq đến họp để tuyên bố thiện chí của chính phủ Hoa Kỳ muốn xây dựng một nước Iraq dân chủ, tự do. Một vị phụ lão dè dặt hỏi: “Bây giờ ở đây ai là người quyết định?” Tướng Jay Garner trả lời: “Quý vị là những người quyết định!” Những người Iraq ra về, hoàn toàn thất vọng, vì không biết ai sẽ quyết định cuộc sống của họ. Cuối cùng, hầu như không có ai quyết định, cho nên loạn. Trong cơn hỗn loạn đó, các nhóm tôn giáo tự tổ chức, tự vũ trang; người dân chỉ biết là quân đội Hoa Kỳ chịu trách nhiệm khi họ không có điện, thiếu nước, trương học, nhà thương bị cướp, vân vân. Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ không lường trước được những diễn biến đó trong lúc chuẩn bị chiến tranh.
Ðại Sứ Bremer thay thế Tướng Garner đã ra lệnh giải tán quân đội Iraq mà không lường trước hậu quả là 300 ngàn người đang trốn lánh khắp các xóm làng, các khu phố, trong tay vẫn còn giữ súng mà từ nay không được lãnh lương nữa, họ sẽ làm gì. Các cơ quan chính quyền không đủ chuyên viên, nhà hương thiếu bác sĩ, cả guồng máy cai trị bỏ ngỏ.
Bây giờ ông Bremer đã phải làm ngược lại hai quyết định năm ngoái. Nhưng chắc chắn ông không phải là người duy nhất chịu trách nhiệm. Bên trên ông còn có Thứ Trưởng Paul Wolfowitz, người được coi là diều hâu giống như Phó Tổng Thống Cheney; và Bộ Trưởng Quốc Phòng Donald Rumsfeld. Họ là những người chưa tham dự cuộc chiến tranh nào thật sự. Trong thời chiến tranh Việt Nam họ đều được miễn dịch vì lý do này hay lý do khác. Họ chủ trương đánh, chiếm đóng, và thay đổi xứ Iraq để từ đó thay đổi cả vùng Trung Ðông và thế giới Á rập, theo lý thuyết của sử gia Bernard Lewis mà chúng tôi đã trình bày trong mục này.
Họ coi thường những hậu quả của chiến tranh nên không tính toán trước khi ra lệnh tấn công; nhưng ngay cả khi chiến tranh đã diễn ra được một năm rồi và càng ngày càng rắc rối, phức tạp thêm, họ vẫn giữ lối nhìn đơn giản và dễ dàng như cũ. Các ông Cheney và Rumsfeld vẫn tuyên bố là những người nổi lên chống đối Hoa Kỳ ở Iraq chỉ là tàn dư của chế độ cũ và bọn khủng bố từ ngoài tới. Khi không chấp nhận sự thực là người dân Iraq thất vọng về cảnh quân chiếm đóng, thì chính phủ Hoa Kỳ không thể ra khỏi được những khó khăn. Thứ Trưởng Paul Wolfowitz không quan tâm tới những hậu quả chiến tranh đến nỗi ông không biết đã có bao nhiêu binh sĩ Hoa Kỳ tử vong. Ngày Thứ Năm vừa qua, ra trước Tiểu Ban Chuẩn Chi của Hạ Viện Hoa Kỳ, các dân biểu hỏi ông bao nhiêu quân nhân Hoa Kỳ đã hy sinh. Ông Paul Wolfowitz trả lời: “Khoảng độ 500 người, trong đó - tôi có thể tìm ra con số đúng - khoảng 350 người chết khi giao chiến.” Nhật báo Wall Stret Journal, khi kể lại điều trên, đã cho con số đúng để cải chính: Kể từ khi bắt đầu, đã có 722 binh sĩ Hoa Kỳ, nam và nữ, tử thương, trong đó 521 người chết khi giao tranh. Tờ báo này thường ủng hộ chính phủ Bush và ủng hộ chủ trương đánh Iraq từ lâu nay.
Chính phủ Hoa Kỳ đã thay đổi chính sách ở Iraq để tránh những lầm lẫn khác khó chữa trong việc thu phục nhân tâm. Khi sử dụng Tướng Jasmin Muhammad Salih và các quân nhân, sĩ quan cũ trong quân đội Iraq để thu phục các đám quân nổi dậy, chính quyền Hoa Kỳ ở Iraq đã chấp nhận đối thoại với những người nổi dậy. Có thể từ sự hợp tác đó mà hy vọng những người này sẽ truy tầm những phần tử khủng bố và phá hoại đến cùng, chính họ sẽ thanh toán các tàn dư của chế độ Hussein cũng như các tay khủng bố ngoại nhập. Cuối Tháng Sáu, khi một chính phủ Iraq mới được trao trả chủ quyền, chính phủ đó cần phải có một lực lượng quân sự của họ, thì đây cũng là một giải pháp chuẩn bị thành lập lực lượng đó.
Về mặt chính trị, chính phủ Hoa Kỳ cũng chịu thay đổi hoàn toàn. Năm ngoái, họ còn coi Liên Hiệp Quốc như kẻ đứng ngoài phá đám. Năm nay ông Bush đã hoàn toàn trông cậy vào Ðại Sứ Brahimi của Liên Hiệp Quốc để thu xếp thành lập một chính phủ Iraq mới, và ông công nhận điều đó trong cuộc họp báo gần đây. Chính phủ Bush đang vận động để Liên Hiệp Quốc sẽ chia sẻ bớt gánh nặng tái thiết Iraq, để rút bớt quân Hoa Kỳ về.
Nhưng, Iraq không còn là mặt trận duy nhất nữa. Quân khủng bố đã bắt đầu hoạt động mạnh ở ngay các nước láng giềng. Bom đã nổ ở Riyadh, thủ đô Á rập Sau đi. Xe chở chất nổ cũng làm sụp mấy ngôi nhà ở Damascus, thủ đô Syria. Chính phủ Jordan mới khám phá và phá vỡ một âm mưu khủng bố bằng hóa chất ở Amman, nếu thực hiện có thể làm chết hàng chục ngàn người; mà Syria là một nước không thân thiện với Hoa Kỳ. Chiến tranh Iraq đã khích động người dân Á rập và các nhóm khủng bố có cơ hội tuyển mộ tân binh.
Phải kết luận là ở Iraq nhiệm vụ chưa hoàn tất.
Ngô Nhân Dụng
Ðế quốc bất đắc dĩ
Khi ra trước Thượng Viện điều trần về vụ Abu Ghraib, Tướng Richard Myers - Tham Mưu Trưởng Liên Quân Mỹ, nói rằng: “Ðứng về mặt quân sự thì chúng ta không thể nào thua ở Iraq.” Sau đó ông lại nói tiếp: “Cũng không thể nào thắng ở Iraq bằng quân sự được.” Cái thế “không thể thua cũng không thể thắng” này cho thấy trên chiến trường Iraq vũ lực có giá trị rất giới hạn.
Nói cho cùng, chiến tranh chỉ là một mặt của chính trị, mục tiêu sau cùng của chiến tranh bao giờ cũng là chính trị. Nếu không cần dùng đến quân đội và vũ khí mà vẫn đạt được mục đích thì tốt nhất. Bất đắc dĩ phải dùng vũ lực thì không thể coi đó là phương tiện duy nhất, cũng không phải là phương tiện tốt nhất nữa.
Chính phủ Mỹ nói rằng họ đem quân tới Iraq lật đổ chế độ Saddam Hussein là để thay đổi xứ này, biến nó thành một quốc gia mới, có luật pháp, trọng nhân quyền và sống dân chủ, tự do. Tôi tin họ có ý định thật như vậy. Tôi không dám phong nước Mỹ là quốc gia đạo đức nhất so với các quốc gia khác; nhưng hệ thống chính trị và kinh tế ở Mỹ đã giúp họ trở nên quốc gia giàu có và hùng mạnh nhất thế giới. Và tôi biết họ tin ở các quyền tự do của con người. Cứ nghiệm trong lịch sử của nước họ là họ đủ tin tưởng rằng nếu cả thế giới cùng sống theo các hệ thống tương tự thì rất tốt. Tốt, nghĩa là dân Mỹ sẽ được lợi, các nhà kinh doanh Mỹ được lợi, cũng như dân chúng các nước khác sẽ được lợi. Cho nên có thể tin chính phủ Mỹ thật tâm muốn giúp dân Iraq có một nước dân chủ, tự do, tôn trọng pháp luật. Rồi các nước chung quanh cũng như vậy thì càng tốt. Họ nêu điều sau cùng này như là mục tiêu của việc tấn công Iraq: để thay đổi xứ này cho tốt hơn - sau khi mục tiêu được nêu ra lúc đầu tiên là đi tìm và phá các vũ khí hủy diệt tập thể không còn lý do để nhắc tới nữa.
Nhưng muốn thay đổi một quốc gia thì phải chiếm đóng xứ đó. Phải dùng vũ lực, phải đóng vai trò cảnh sát quốc tế, có khi còn gọi là làm đế quốc. Nhưng nước Mỹ không chuyên, không giỏi về mục này, mục làm đế quốc. Vì nói chung dân Mỹ không chấp nhận nước họ là một đế quốc, khi mà muốn đóng vai đế quốc là phải rất tàn bạo. Người Mỹ đã thay đổi thái độ về chiến tranh Việt Nam sau khi coi những hình một em bé gái chạy trốn bom napalm, hình một ông tướng Việt Nam Cộng Hòa cầm súng bắn vào đầu một tên Việt Cộng đã bị trói tay, hay những hình ảnh vụ tàn sát ở Mỹ Lai. Người Mỹ không chấp nhận việc sử dụng bạo lực bất chấp các quy tắc đạo lý văn minh, không thể cho quân Mỹ hành động như vậy. Mà khi coi các đế quốc từ xưa tới nay, thì thấy họ không ngần ngại sử dụng vũ lực một các tàn bạo cho nên mới thắng.
Người Mông Cổ tiến đánh một thành nào, nếu quan quân trong thành đó không đầu hàng ngay mà lại kháng cự thì sau khi chiến thắng họ thường giết hết dân chúng không để lại một người nào, dù một cụ già hay đứa trẻ con. Quân đế quốc La Mã trước đó cả ngàn năm còn nhân đạo hơn, họ chọn tình cờ, cứ 10 người trong thành thì chỉ giết một (chữ Anh decimate gốc tiếng Latinh, do chữ decem nghĩa là 10.) Sang thế kỷ 20 chiến tranh cũng vẫn tàn bạo không kém. Không Quân Anh, Mỹ đã ném bom trải thảm xuống thành phố Dresden ở Ðức trong những tháng cuối chiến tranh, chỉ để khủng bố dân chúng và làm cho quân lính Ðức ngã lòng. Số thường dân chết ở Dresden còn cao hơn số nạn nhân ở Hirosima và Nagasaki chết vì bom nguyên tử. Nhưng khi quân Mỹ chiếm đóng Nhật Bản và quân đồng minh đóng ở Ðức thì họ không cần dùng đến vũ lực tàn bạo. Vì dân chúng ở các quốc gia này đã chấp nhận mình thua trận, chấp nhận bị quân thắng trận chiếm đóng; mà đa số họ đều nhận lỗi là do người lãnh đạo của họ gây chiến nên mới bị đánh, gây nên tội thì đáng bị trừng phạt.
Tại sao, nhiều người Mỹ tự hỏi, dân Iraq không giống dân Nhật Bản hay dân Ðức? Bởi vì Nhật Bản và Ðức là những trường hợp chiếm đóng đặc biệt trong lịch sử. Phần lớn các vụ chiếm đóng khác không giống như vậy. Không ai muốn đóng vai một dân tộc bị ngoại quốc chiếm đóng. Người Iraq, nhất là người Iraq một năm sau khi nếm mùi chiếm đóng, không cảm thấy họ mang nợ và phải trả nợ quân Mỹ, như người Nhật hoặc người Ðức nghĩ về quân Mỹ sau Ðại Chiến Thứ Hai. Ngay cả những người Iraq theo phái Si A, rất vui mừng khi quân Mỹ lật đổ chế độ Hussein đã đàn áp họ, bây giờ cũng thất vọng muốn quân Mỹ rút đi - để họ lấy đa số mà nắm chính quyền.
Nhưng quân Mỹ không thể nào rút khỏi Iraq. Ứng cử viên đảng Dân Chủ - ông John F. Kerry, có lúc còn yêu cầu gia tăng quân số Mỹ ở Iraq nữa, khiến nhiều cử tri phía tả sẽ bỏ rơi ông. Các cuộc thăm dò dân ý mới đây cho biết đa số dân Mỹ muốn rút quân về “càng sớm càng tốt” nhưng không có nghĩa là họ muốn bỏ đi ngay. Vì ai cũng biết nếu Mỹ rút lui ở Iraq thì hậu quả sẽ tai hại, không những cho nước Mỹ mà cho cả thế giới. Iraq không phải là Việt Nam. Mỹ rút khỏi Việt Nam thì cũng chẳng làm cho khối cộng sản lan ra khiến vùng Ðông Nam Á bất ổn; trái lại sau khi có hòa bình thì tất cả hệ thống cộng sản mới phơi bày hết những cái yếu kém.
Còn nếu nước Mỹ rút vội khỏi Iraq thì sao?
Trước hết, xứ Iraq sẽ chia ra, ít nhất làm ba phần: Người Kurd; người Á rập theo phái Sun Ni; và Á rập theo phái Si A. Nói ít nhất ba phần, là vì còn người Iraq gốc Thổ, người theo Syria, người theo Iran nữa. Nếu Iraq có nội chiến thì cả ba nước trên đều lo lắng, phải đem quân vào, ít nhất để canh giữ biên giới và ngăn làn sóng tị nạn. Xứ Iraq được cắt ra trên bản đồ thế giới một cách giả tạo, sau khi đế quốc Ottoman tan rã và đế quốc Anh được trao cho quản lý ba tỉnh quanh vùng hai sông Tigris và Euphrate. Từ năm 1920 đến nay, những khối dân phức tạp và xung khắc đó được giữ lại với nhau không bung ra là vì bị vũ lực đe dọa, ép buộc. Nếu sau này Iraq vẫn là một quốc gia, dù là một liên bang với ba vùng nhiều quyền tự trị, thì vẫn cần một chính quyền mạnh ở giữa cầm cân nẩy mực không cho nhóm thiểu số nào đòi li khai, cũng không cho nhóm đa số bắt nạt thiểu số. Tìm đâu ra một chính quyền mạnh đó bây giờ? Phải có sức mạnh của quân Mỹ bảo vệ chính quyền đó. Dù có đội cái mũ quân Liên Hiệp Quốc thì quân Mỹ vẫn đóng vai chính.
Nhưng ảnh hưởng việc quân Mỹ rút lui trên xứ Iraq cũng chỉ là chuyện nhỏ. Ảnh hưởng lớn hơn nhiều sẽ diễn ra khắp vùng Trung Ðông và trên thế giới.
Ví thử quân Mỹ không đánh vào Iraq thì không sao, nhưng đã lỡ tới đó rồi thì không thể rút chân ra. Những người Á rập và Hồi Giáo quá khích sẽ coi là họ chiến thắng, họ sẽ nức lòng phát động các chiến dịch mới. Phong trào tôn giáo quá khích này đã hoạt động ở Á rập Sau đi, Jordan, Ai Cập, Syria. Họ muốn lật đổ chính quyền các nước này để tăng quyền hành của giới giáo sĩ, thay đổi luật pháp cho “tinh túy” hơn, và chống lại các giá trị của Tây phương, kể cả các quyền làm người. Trước đây, đảng Baath của Saddam Hussein chính là một cái đê ngăn chặn phong trào Hồi Giáo quá khích. Chính phủ Iraq cũng như Syria theo chủ nghĩa Baath đều chống các giáo sĩ can dự vào chính trị. Họ đều muốn thế tục hóa xã hội để tôn giáo không can dự vào chính trị. Một điều người Mỹ ít ai biết, là phụ nữ Iraq được giải phóng nhất trong thế giới Hồi Giáo. Họ được đi học, làm công chức, chỉ huy cả xí nghiệp, làm bác sĩ, giáo sư đại học, khác hẳn những nước Á rập Sau đi hay Iran. Nữ sinh Iraq được mặc quần jean, uốn tóc, đi ngồi uống cà phê ngoài phố. Gần đây, sau khi Iraq được “giải phóng” thì quyền tự do của phụ nữ ở nhiều nơi bị cắt mất. Ở mấy đại học trong thành phố Basra bây giờ các nữ sinh viên phải trùm khăn che mặt, vì áp lực của những nhóm quá khích.
Nếu quân Mỹ rút khỏi Iraq bây giờ, hay trước khi nước Iraq thật sự ổn cố, thì các phong trào quá khích sẽ bùng lên khắp vùng Trung Ðông và lan sang các nước Á Châu. Pakistan, một nước có bom nguyên tử vẫn đang lo lọt vào tay đám quá khích. Indonesia, Mã Lai, Phi Luật Tân đều có mầm mống. Dù những người quá khích không cướp được chính quyền, họ vẫn có khả năng làm tê liệt các chính quyền, phá hoại về chính trị và kinh tế. Cả một vùng dầu lửa lớn sẽ bất ổn, các đường giao thông chở dầu mất an ninh. Âu Châu sẽ lo dầu tăng giá, Nhật Bản và Trung Quốc sẽ thiếu dầu.
Cho nên sau cùng dù ai làm Tổng Thống Mỹ thì bây giờ cũng không thể rút quân khỏi Iraq. Ðâm lao rồi phải theo lao. Nhưng nước Mỹ lại không muốn đóng vai đế quốc, và rất vụng về trong vai trò đó. Các quốc gia khác sẽ phải ghé vai gánh giúp.
Chính phủ Mỹ đã tiếp nhận được nhiều bài học khiêm tốn sau một năm chiếm đóng Iraq. Chưa bao giờ ông Tổng Thống Bush lại để cho một đại sứ của Liên Hiệp Quốc có nhiều quyền quyết định chính sách của chính phủ Mỹ như bây giờ. Trước công chúng và trước quốc hội Mỹ, ông Bush nói thẳng rằng ông chờ coi Ðại Sứ Brahimi thu xếp, chọn lựa chính phủ mới ở Iraq ra sao để nước Mỹ trao quyền. Ði chiếm một nước, chi vài trăm tỷ mỹ kim và chết hơn 700 quân sĩ, nhưng sau cùng lại nhờ người khác chọn chính phủ cho nước đó, chẳng phải là khiêm tốn hay sao? Ở cấp chính quyền địa phương cũng vậy. Ông Ðại Sứ Bremer toàn quyền ở Iraq cũng thay đổi ngược chiều hai chính sách cũ của Mỹ, khi ông chấp nhận các đảng viên đảng Baath và các tướng lãnh trong quân đội Iraq cũ được trở lại làm việc.
Với những thay đổi chính sách đó, nước Mỹ có nhiều hy vọng đạt tới mục tiêu cuối cùng của họ ở Iraq: Thiết lập một nhà nước có hiệu quả và tương đối ổn định. Ít nhất, chịu thay đổi thì nhiều hy vọng hơn là chỉ dựa vào vũ lực. Mục đích chính trị của chính phủ Mỹ nếu đạt được thì không phải chỉ nhờ quân Mỹ đánh nhau giỏi và có vũ khí tinh khôn. Như Tướng Myers nói, không thể thắng bằng giải pháp quân sự được.
Ngô Nhân Dụng
CUỘC CHIẾN GIỮA HAI KHUYNH HƯỚNG. THEO CS ĐỂ GIỮ ĐẠO VÀ DIỆT CS ĐỂ CỨU ĐẠO
Trong một bài viết trước đây, chúng tôi có đưa ra nhận định rằng “rất có thể Giáo Hội Việt Nam (GHVN), cả hai thành phần trong và ngoài nước, sẽ đi đến một cuộc nội chiến vì ý thức hệ trong một ngày không xa. Một bên là chủ trương đi theo CS để giữ lấy GH, còn bên kia là phải tiêu diệt CS để cứu GH và cứu đất nước”. Hôm nay, chúng tôi muốn mượn ý này, đặt thành một đề tài và khai triển thêm để chia sẻ với quí bạn đọc.
Bài viết này sẽ lần lượt đề cập đến hai đề mục nằm trong chủ đề trên:
- Một là cuộc xung đột trong các tôn giáo tại Việt Nam hiện nay, và cuộc xung đột vì ý thức hệ trong Giáo Hội Công Giáo.
- Hai là Giáo Hội Công Giáo giữa hai khuynh hướng theo CS để giữ Đạo và diệt CS để cứu Đạo: nguyên nhân và những xung đột.
I. Nội Chiến Tôn Giáo Và Sự Xung Đột Vì Ý Thức Hệ
1. Nội Chiến Trong Các Tôn Giáo
Sợ rằng nói đến chữ “chiến tranh” hay “xung đột” trong tôn giáo, nhiều người, và nhất là người công giáo không hiểu và không tin được nên sẽ bị dội ngược, người viết vì thế buộc lòng phải dài dòng một chút để giải tỏa những nghi ngờ trong tâm trí bạn đọc về những từ ngữ dùng có thể bị coi là cuồng ngôn loạn ngữ này.
Chiến tranh là sự xung đột, xẩy ra dưới muôn hình vạn trạng. Chẳng hạn những nỗ lực đẩy lui sự dốt nát thường gọi là “giặc dốt”, người ta nói là cuộc chiến chống nạn mù chữ. Chính sách của một chính quyền nhằm tiêu trừ bọn tham quan sâu dân mọt nước gọi là cuộc chiến chống tham nhũng. Hai nhà văn, hay hai văn đàn tranh cãi nhau trên báo chí về một quan điểm nhân sinh hay văn học, trong chừng mục nào đó sự việc mang ý nghĩa xung đột, người ta gọi là bút chiến. Hai chánh khách vận động ứng cử, cãi nhau tóe lửa trước cử tri về các chánh sách quốc gia gọi là khẩu chiến. Từ đó suy ra, khái niệm về một cuộc xung đột hay chiến tranh không chỉ giới hạn trong ý nghĩa là phải có những đoàn quân ăn mặc uniform, trang bị súng ống, xe tăng, tầu chiến, máy bay bắn giết nhau loạn xạ, máu đổ đầu rơi. Hễ cứ có hai bên tranh dành nhau mà kết quả là kẻ thắng người thua, kẻ còn người mất thì đều có thể gọi là xung đột hay chiến tranh cả. Tiếng Anh cũng dùng chữ như vậy. Chẳng hạn trên tờ San Jose Mercury News số phát hành ngày 26-9 vừa qua, ngay trên cuối trang nhất, người ta gọi là “War of Words” hai bài diễn văn của hai đối thủ là Tổng Thống Mỹ George W. Bush và Tổng Thống Iran Mahmoud Ahmadinejad đọc trước Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc.
Chuyện cụ Lý Văn Hợp bị lôi cổ ra khỏi bữa tiệc tiếp đón Đ/C Châu Ngọc Tri, chuyện bài viết Mục Vụ Xin Tiền của Lm Nguyễn Hữu Lễ, chuyện các vị Thượng Tọa Tuệ Sĩ và Trí Siêu đầu quân vào hệ thống Phật Giáo quốc doanh, chuyện Đại Hội Phật Giáo quốc doanh sắp tới tại Hànội âm mưu thôn tính và sát nhập Giáo Hội Phật Giáo VN Thống Nhất, vân vân và vân vân, chuyện nào cũng kéo theo những bài viết, những ý kiến đóng góp gay gắt trên các diễn đàn điện tử và báo chí, tất cả đều được coi là những trận bút chiến. Chưa hết, các vấn đề đó đôi khi cũng khuấy lên những cuộc đấu khẩu dữ dội trong các buổi hội họp của các hội đoàn hay từng nhóm bạn bè. Các cuộc đấu võ mồm này không thể nói gì khác hơn là những trận khẩu chiến.
Mỗi chuyện đáng tiếc kia, theo cách nhìn của con nhà lính, có thể coi là một trận đánh (battle). Nếu liên kết những trận đánh lẻ tẻ rời rạc lại, đặt chúng vào trong toàn cảnh của đất nước ta dưới chế độ cai trị của bọn thảo khấu ngoại hạng lưu manh và xảo quyệt hiện nay, chúng ta sẽ có thể kết luận rằng các tôn giáo chính của người VN đang thực sự lâm vào một cuộc chiến tranh (war) có thật. Cuộc chiến giới hạn trong nội bộ một tôn giáo, gọi là cuộc nội chiến tôn giáo tưởng cũng không phải là ngoa ngữ. Hình thức nội chiến này xẩy ra trong tất cả các giáo hội của các tôn giáo có mặt tại Việt Nam hiện nay. Đáng chú ý nhất trong lúc này là cuộc chiến giữa hai phe Phật Giáo. Tin tức dồn dập trong những ngày gần đây cho thấy đã đến lúc tình hình có thể là một mất một còn giữa hai Giáo Hội Phật Giáo VN Thống Nhất và Giáo Hội Phật Giáo VN thường được gọi là Phật Giáo quốc doanh. Các giáo hội Tin Lành, Cao Đài và Hòa Hảo cũng không thoát khỏi tình trạng bi đát tương tự. Kẻ gây nên tình trạng thương đau này chính là đảng CSVN. Có thể khẳng định rằng tình trạng xung đột trong nội bộ các giáo hội nhất định sẽ không còn nữa nếu CS bị tiêu diệt. Nói cách khác, bao lâu còn CS tại VN, bấy lây các tôn giáo còn xào xáo nhau không dứt, và đó là lý do chúng tôi phải xử dụng đến cụm từ “Nội chiến tôn giáo” để nói đến tình trạng này. Nghĩ mà coi, thời phong kiến không thế, thời thực dân không thế, các thời Cộng Hòa không thế. Tại sao thời CS lại xẩy ra như thế, xẩy ra đều khắp trong tất cả các tôn giáo, chứ không riêng một tôn giáo nào. Sự thật rõ ràng đây là một chính sách rất thâm độc và nham hiểm của CS: không tiêu diệt được tôn giáo thì gây ra loạn để trị loạn. Hay còn nói là dùng địch đánh địch hầu làm tiêu hao thế lực địch. Trước sau gì thì vẫn là nằm trong kinh điển CS: tôn giáo là thuốc phiện, cần phải tiêu diệt. Hoặc: Xóa bỏ tôn giáo, một thứ hạnh phúc ảo tưởng của nhân dân, là đòi hỏi hạnh phúc thật sự của nhân dân. Tùy hoàn cảnh và tùy thời gian, chính sách không thay đổi, chỉ thay đổi phương thức hành động.
Cũng nên biết thêm, không phải chỉ có các tôn giáo mới gặp cảnh nội chiến, mà các tổ chức, các đoàn thể, các cộng đồng ở hải ngoại, các nhóm đấu tranh ở trong nước đều lâm vào tình trạng tương tự toàn là do bàn tay ác độc của CS gây ra.
Cuộc chiến trong lòng các tôn giáo tại VN hiện nay gọi là “nội chiến Tôn Giáo” tuy miễn cưỡng một tý, nhưng đó là sự diễn tả đúng và thực tế nhất. Bởi vì, nếu nói đây chỉ là một sự chia rẽ nội bộ, thì sự việc không đáng quan ngại lắm. Sự chia rẽ thường chỉ gây nên bởi những bất đồng nhỏ nhặt về hình thức, có thể là phương thức điều hành cơ cấu, hay đường lối thực hiện chánh sách. Loại bất đồng như thế còn có thể hàn gắn được, miễn là hai bên biết tương nhượng nhau. Nhưng một khi đôi bên đã đối nghịch nhau trên căn bản tư tưởng thì nhất định chuyện ngã ngũ là phải có kẻ thắng người thua. Nó thực sự là một cuộc đấu tranh, một cuộc chiến.
Riêng đối với đạo Công Giáo có thể nói là một GH có kỷ cương và kỷ luật nhất, tình trạng xung đột có hơi khác về hình thức, nhưng tựu chung vẫn là nằm trong chủ trương tiêu diệt Công Giáo của CS. Cuộc nội chiến trong GHCG là điều có thể tránh được nếu các thành phần trong GH biết nhìn vào sự thực, nhưng vẫn cứ để xẩy ra thật là một điều đáng buồn.
2. Nội Chiến Vì Ý Thức Hệ Trong Công Giáo
Nằm trong hệ ý thức, tức giáo lý của GHCG là niềm tin vào sự trường tồn vĩnh cửu của Hội Thánh do chính Chúa lập nên. Chính Chúa đã khẳng định: Còn Thầy, Thầy bảo cho anh biết: anh là Phêrô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi (Mt 16,18).
Không người CG nào lại không tin như thế. Ngoài đức tin ra thì thực tế và lịch sử 2000 năm nay đã chứng minh rằng đạo CG tuy có lúc thịnh lúc suy, nhưng vẫn tồn tại và lan rộng. Chính đức tin và giáo lý của đạo đã biến người CG, mỗi cá nhân trở thành một người chiến sĩ có nhiệm vụ bảo vệ và phát triển GH. Nhưng có lẽ không mấy ai ngờ rằng cuộc nội chiến cay đắng hiện nay trong GHVN lại nằm ngay trong chính cái tinh thần hăng say bảo vệ và phát triển GH của người công gíao VN. Thật vậy, cũng là để bảo vệ và phát triển GH, một bên mà đa số thuộc hàng giáo phẩm, chủ trương qui thuận và đi theo CS để đạt mục đích giữ lấy đạo và phát triển đạo. Còn bên kia là phần đông đảo giáo dân cùng với một số ít ỏi trong hàng lãnh đạo, chủ trương ngược lại, phải tiêu diệt CS để cứu lấy GH và cứu đất nước. Phe chủ trương “giữ lấy đạo trước đã” không đưa ra một lời giải thích nào (chứ chưa nói đến một lý thuyết) cho đường lối của mình. Phe chủ trương “chống CS để cứu đạo” cũng vậy, nhưng qua những bài viết của nhiều người, người ta có thể đọc được hai luận điểm như sau của phe này:
- Một là CS là một tập đoàn bán nước hại dân.GH cũng là một thành phần của dân tộc nên phải đứng trên lập trường dân tộc trước sự suy vong của đất nước. GH đi theo CS khó khỏi mang tiếng đồng lõa, đắc tội với Tổ Quốc.
- Hai là nhiều hiện tượng coi là phản chứng của đường lối Phúc Âm xẩy ra trong GH nhưng không thấy hàng lãnh đạo sửa sai. Vì thế giáo dân không đồng ý và không hiểu nổi nên không thể đồng tình với lãnh đạo GH. Họ lên tiếng mạnh mẽ để phản đối.
Không ai không biết rằng trên căn bản học thuyết, CG và CS là hai ý thức hệ đối nghịch nhau tuyệt đối, một bên hữu thần, một bên vô thần, một bên tự do, một bên độc tài. Chúng phủ định nhau tự bản thân. Do đó không thể có vấn đề sống chung hòa hợp với nhau được. Trước kia toàn thể khối người CGVN theo đuổi cùng một học thuyết đứng chung cùng một lập trường, thực hành cùng một đường lối đối với CS. Nay các nhà lãnh đạo GH đi theo một hướng khác ngược lại với hướng đi cũ và với đại đa số giáo dân. Do đó, sự việc làm phát sinh một cuộc xung đột giữa hai khuynh hướng như nói trên. Những chuyện xẩy ra giữa hàng giáo phẩm và giáo dân thường xẩy ra mới đây là những thí dụ về tình trạng xung đột. Nói đây là một cuộc xung đột, hơn nữa là cuộc xung đột vì ý thức bảo tồn và phát huy GH nên gọi là cuộc nội chiến ý thức hệ có lẽ cũng không phải là vô lý.
Chủ trương sống chung hòa bình với CS như hiện nay của GH phát sinh từ lúc chế độ CS nằm trên bờ vực của sự sụp đổ vào khoảng năm 1979 sau khi CS xua quân tấn công nước láng giềng Campuchea. Năm sau tức 1980, HĐGMVN họp và đưa ra đường lối “sống Phúc Âm trong lòng dân tộc”, và khẳng định “GH đồng hành cùng dân tộc”. Đây rõ ràng là một thông điệp chính trị ngụ ý mời gọi gởi cho đảng CS. GH đã nhận ra rằng CS không còn đủ nội lực để cùng một lúc chống lại tất cả mọi kẻ thù nên đã nhanh tay nắm lấy cơ hội đi bước trước trong cái thế hai kẻ thù phải bám lấy nhau để tồn tại. Sau đó ít năm, tức là từ 1986 khi VN mở cửa, lúc CS đứng vững trở lại cũng là lúc GH bắt đầu được thong dong hơn để phát triển. Thực tại này được nhận thấy qua các cơ sở vật chất được thiết lập, các tiện nghi được trang bị, nhân sự được bổ xung dồi dào, và việc xuất ngoại của các chức sắc được tự do thoải mái.
Có người hỏi rằng đi với CS có phải là GH đã thực hành chủ trương của Tòa Thánh có từ thời đức cố Giáo Hoàng Gioan XXIII không. Câu trả lời là không hẳn như thế. Các triều đại Giáo Hoàng Gioan XXIII và PhaoLô VI, Tòa Thánh hòa hoãn với CS và thường tỏ ra thiên vị CS. Nhưng dưới triều đức cố Giáo Hoàng Gioan Phalô II thì khác. Không ai nói được là Đức Gioan PhaoLô II đi theo đường lối của hai vị tiền nhiệm. Ngài là người chống cộng triệt để ai cũng biết. Ngài đã khuyên các giám mục VN chấp nhận những thách đố mà Phúc Âm đem lại, noi gương các Thánh Tử Đạo đi trên con đường Đức Tin khi các vị này sang triều kiến Roma theo lệ Ad Limina Apostolorum. Đức Thánh Cha còn mạnh dạn thúc dục các vị hãy “ra khơi”, nhưng nào có ai nghe đâu.
Cũng có người cho rằng đường lối của HĐGMVN hiện nay đặt căn bản trên quan điểm của Đức Cố Giáo Hoàng Gioan XXIII về CS. Điều này tuy là đúng nhưng cũng sai. Quả thật Đức Cố Giáo Hoàng Gioan XXIII, trong Thông Điệp Hòa Bình Trên Trái Đất (Pacem in Terris) đã chỉ dậy rằng phải sáng suốt phân biệt và công bình đối với những lý thuyết và phong trào phản lại con người. Thông Điệp viết: “Cũng vậy, không thể đồng hóa những thứ triết thuyết sai lầm về bản tính, nguồn gốc, và cứu cánh của vũ trụ và con người, với những phong trào lịch sử được thiết lập vì mục đích kinh tế, xã hội, văn hóa, hay chính trị, dù cho các phong trào ấy bắt nguồn hay khởi hứng từ các triết tuyết ấy. Một học thuyết một khi đã thành hình và cố định thì không thay đổi nữa, trong khi các phong trào thì lấy hoàn cảnh cụ thể và biến đổi của cuộc sống làm đối tượng, nên không thể không bị ảnh hưởng vì sự biến đổi …”. Lời dậy của Đức Giáo Hoàng ngụ ý là lý thuyết CS thì mãi mãi sai, nhưng những người thực hành lý thuyết đó là các đảng CS thì họ có thể thay đổi. Để tránh bị mang tiếng là quá khích và cố chấp trong cách phát biểu về GH cũng như về CSVN, chúng tôi xin minh định việc thừa nhận là đúng lời dậy bảo của Đức Thánh Cha. Nhưng chúng tôi cũng tin tưởng rằng lời dậy của Ngài chỉ đúng về mặt lý luận, và chưa bao giờ được chứng minh là đúng về mặt thực hành đối với đảng và chế độ CS. Người VN quen nói “chó đen giữ mực”, nghĩa là con chó lông đen cho đến chết vẫn là đen, không thể đổi thành mầu khác được. CS cho dù thành hình dưới hình thức là một đảng phái hay phong trào, qua thời gian, nó vẫn luôn luôn mang bản chất vô thần với đặc tính độc đoán, lưu manh và thảo khấu (predatory). Thực tế tại VN hơn 6 chục năm qua đã chứng minh điều đó. Đảng CSVN xem ra có thay đổi, nhưng thay đổi từ nham hiểm tàn ác đến nham hiểm tàn ác hơn, từ lưu manh điếm đàng đến lưu manh điếm đàng hơn. Tóm lại CSVN có thay đổi, nhưng thay đổi từ tình trạng đã tệ hại tiến đến tình trạng càng ngày càng tệ hại hơn rất nhiều. Cứ thử so sánh nội dung 2 văn kiện trước và sau về tôn giáo của CSVN ta sẽ thấy. Pháp Lệnh Tôn Giáo ban hành ngày 15-11-2004 còn độc ác và bóp nghẹt ghê gớm hơn gấp trăm gấp ngàn lần Sắc Lệnh về Tôn Giáo Hồ Chí Minh ký ban hành 49 năm trước, tức vào ngày 14-6-1955. Chính Đức HY Phạm Minh Mẫn cũng đã phải xác nhận Pháp Lệnh Tôn Giáo 2004 khắt khe hơn Sắc Lệnh Tôn Giáo 1955 của Hồ Chí Minh nhiều, và ngài kết luận: “Đừng nên ban hành Pháp Lệnh này thì hơn”. Kinh nghiệm về CS thì ngay một tay đầu sỏ CS Nga là ông Boris Yelsin đã phải nhìn nhận: CS dứt khoát phải thay thế thôi chứ không thể thay đổi được. Chúng tôi không nghi ngờ rằng bảo đảm vững vàng nhất cho sự tin tưởng của mình là việc Đức Thánh Cha Benedicto XVI trong bài giảng lễ Đức Mẹ Lên Trời ngày 15-8-2007, đã xác định Con Rồng Đỏ với các đặc tính của nó trong sách Khải Huyền chính là chế độ toàn trị Stalin. Ngài nói: “……. there is the immemsely strong, red dragon with a striking and disturbing manifestation of power without grace, without love, of absolute selfishness, terror and violence …” (tạm dịch: ….. con rồng đỏ mạnh khủng khiếp, nó phô trương sức mạnh thô bạo và bất nhân một cách quyến rũ và khuấy đảo, tính ích kỷ tuyệt đối, sự kinh hoàng và bạo lực …). CSVN là con đẻ của chế độ ghê tởm này. Đức Thánh Cha đã chỉ đích danh con rồng đỏ là CS. Do đó không còn nghi ngờ gì nữa, nghĩ rằng CSVN đã thay đổi bản chất nên có thể hòa hợp và sống chung được với nó là một sai lầm nghiêm trọng không thể tưởng tượng được. Đáng tiếc là GHVN đang ở trong vũng lầy sai lầm đó.
II. Giáo Hội Giữa 2 Khuynh Hướng Giữ Đạo và Cứu Đạo
Cách tốt nhất để hiểu được sự khác biệt giữa hai khuynh hướng “Giữ Đạo” và “Cứu Đạo” là so sánh giữa hai đường lối sống đạo trong lòng chế độ CS của GH miền Bắc trước năm 1975 và của GH toàn quốc sau 1975, và nhất là hiện nay.
Hiệp Định Genève 1954 chia cắt Tổ Quốc VN cũng đồng thời chia cắt GHCGVN. Tại miền Bắc, GH rơi vào tình trạng sống không nổi mà chết cũng không xong, người ta gọi là GH sau bức màn sắt. Đức khâm sứ Tòa Thánh và các linh mục thừa sai ngoại quốc lần lượt bị trục xuất. Hàng giáo phẩm trong nước một số bị tù, bị đầy ải biệt tích, còn lại tất cả đều bị cô lập và quản chế tại chỗ. Nhiều thánh đường và hầu hết các cơ sở giáo dục và xã hội của GH bị tịch thu. Tại nhiều vùng quê xa tỉnh thành, giáo dân không được phép tụ họp đọc kinh xem lễ, hoặc bị cấm cản tinh vi bằng cách bị lùa đi lao động vào các giờ kinh lễ. Việc dậy giáo lý bị cấm tuyệt đối. Không còn chủng viện. Không có đào tạo linh mục. Không còn truyền chức. Nhiều linh mục, kể cả giám mục như đức cha Đinh Đức Trụ, giám mục Thái Bình phải tự túc sinh nhai bằng cách tăng gia sản xuất. Tóm lại có thể nói CG miền Bắc là một GH chết về mặt sinh hoạt. Dùng chữ “tê liệt” coi như còn quá nương tay.
Thế nhưng lạ lùng thay, GH đó vẫn không chết. Trái lại nó sống rất hào hùng và sinh động. Không có thánh đường hoành tráng, nhưng thánh đường trong tâm hồn của mỗi giáo dân luôn tưng bừng thờ phượng Chúa. Có nhiều chuyện kể trong dân gian về cách sống đạo đầy ấn tượng của giáo dân và chủ chăn miền Bắc. Nhiều cá nhân nêu gương sống đức tin đáng khâm phục. Cái gì CS cấm thì chịu vậy. Cái gì còn làm được thì làm. Tuyệt đối từ thuợng tầng lãnh đạo xuống đến người giáo dân bình thường không bao giờ ngửa tay xin xỏ hay cầu khẩn bạo quyền bất cứ ơn huệ nào. Thành ra duới chế độ CS tại miền Bắc, GH không lệ thuộc vào cơ chế Xin/Cho để phải đánh đổi quyền lợi như ta thấy ngày nay. Nói đúng ra GH miền Bắc đã bị tước đoạt sạch sẽ nên chẳng còn gì để đổi chác. Cái mất mát là những quyền lợi vật chất. Nhưng ít ra GH miền Bắc còn giữ được những quyền lợi tinh thần như quyền tuyển chọn và giáo dục chủng sinh, quyền truyền chức và bổ nhiệm linh mục v.v. Các quyền tự do cao quí này chỉ trong tình trạng đông lạnh nhưng không mất. Bị đàn áp nặng nề như thế, nhưng trong GH không xẩy ra một vụ bê bối nào làm mất thanh danh của GH. Đám linh mục theo CS, một con số rất nhỏ nhưng họ cũng không có hành động gì quá đáng làm thương tổn nặng nề đến GH.
Những cái mất đi của GH miền Bắc là những cái GH toàn quốc hiện nay phải ngửa tay xin lại từ CS. Ngược lại những cái còn giữ được của GH miền Bắc trước kia là những cái mà GH ngày nay đã để mất vào tay CS. Đó là hậu quả hay nói đúng hơn là hệ lụy của 2 đường lối ứng xử đối với CS của GH trước và bây giờ. Đường lối tại miền Bắc trước đây được gọi là đường lối “bất hợp tác”. Đường lối hiện nay của GH được sơn phết hoa hòe hoa sói dưới cụm từ “đồng hành cùng dân tộc”. Ngày nay, khuynh hướng bất hợp tác với CS không phải đã chết đi, mà nó biến thành một phong trào phản kháng vừa thụ động vừa tích cực. Người trong nước dưới chế độ kìm kẹp nên hầu hết đều thụ động, nhưng cũng không thiếu những cá nhân đứng lên công khai phản kháng như các linh mục Nguyễn Văn Lý, Phan Văn Lợi v.v. Ở hải ngoại, người CG tỵ nạn đứng lên phản kháng một cách công khai và mạnh bạo hơn. Sụ thể cho thấy khuynh hướng này hiển nhiên đi theo chủ trương phải tiêu diệt CS mới cứu được GH và đất nước, ngược lại với khuynh hướng đồng hành với đảng CS để giữ lấy GH mà HĐGM đang theo đuổi.
Đã rõ ràng là GH miền Bắc ngày trước thà chịu bắt bớ đàn áp nhưng mà còn giữ được cái “hồn” của đạo. Ngược lại, GH hiện nay dễ dãi thỏa hiệp với CS thì chỉ giữ được cái “xác” đạo mà bỏ mất đi cái “hồn” của đạo rồi. Như vậy người CG tốt nhất là phải tiêu diệt CS thì mới giữ được GH của mình toàn vẹn cả hồn lẫn xác.
1. Những Nguyên Nhân Tạo Xung Đột
Nguyên Nhân 1: GH Tự Tách Mình Ra khỏi Cộng Đồng Dân Tộc
“GH đồng hành cùng Dân Tộc” là khẩu hiệu chiến lược của GH được đưa ra trong môi trường CSVN Bolshevik hóa toàn dân. Điều này có nghĩa là GH cũng chấp nhận mình bị Bolshevik hóa. Việc khó có thể tưởng tượng được nếu chữ nghĩa cứ được hiểu trần trụi như thế. Nếu không hiểu được ý nghĩa bên trong thì chỉ còn cách nhìn và đánh giá những hành động bên ngoài để hiểu mà thôi.
Đồng hành nói nôm na là cùng đi chung với nhau trên một con đường. Nhưng không phải cứ đi với nhau là đồng hành theo ý nghĩa sâu xa của từ ngữ. Một ông đồ nho đi hát cô đầu hay đến nhà bạn chơi tổ tôm có dăm ba chú tiểu đồng lếch thếch theo sau, đứa cầm ô (dù), đứa cắp tráp, đứa sách giỏ trầu, đứa mang bầu rượu. Họ đi với nhau nhưng không phải đồng hành, vì ông đồ đi du hí, còn đám tiểu đồng đi hầu hạ phục dịch cho ông. Trong ý nghĩa sâu xa của từ ngữ này, những người đi với nhau phải là những người tự do và trong nhiều trường hợp còn phải đồng đẳng nữa. Mục tiêu tiến tới cũng phải là mục tiêu chung. Chữ đồng hành còn hàm ý một sự ràng buộc tinh thần giữa những người cùng đi. Nghĩa là, nói theo người bình dân, có vui cùng chia, có khổ cùng chịu, sống chết có nhau. Tinh thần đó đáng lẽ GH nên chia sẻ chung với các thành phần dân tộc khác. Nhưng không, GH lại tìm cách gắn bó với đảng CS. Với đảng CS, Giáo Hội không phải là một thực thể tự do, cũng chẳng đồng đẳng, và dĩ nhiên mục tiêu tiến tới của cả hai cũng khác nhau, và cuối cùng GH không thể sống chết với CS. Chế độ CS sẽ qua đi, nhưng GH phải mãi mãi tồn tại với dân tộc.
Ta hãy thử xem GH đã đồng hành cùng Dân Tộc Việt Nam như thế nào. Chỉ xét đến thời gian sau Thư Chung tuyên bố việc đồng hành, tức từ năm 1980 tới nay.
- Trong phong trào vượt biên, vượt biển, CS bán bến, bán bãi, lừa gạt tiền bạc của đồng bào rồi đẩy con người vào chỗ may rủi. Bao nhiêu đau thương và chết chóc. GH đã làm gì để giảm bớt dòng lệ của con chiên và của đồng bào? - Im lặng!
- Sau khi thôn tính miền Nam, CS bắt đi cải tạo 300.000 quân, dân, cán, chính VNCH trong đó có cả hàng ngàn linh mục tuyên úy, gây ra bao nhiêu thảm cảnh: cuộc sống điêu đứng, gia đình tan vỡ, trẻ thơ thất học v.v. Trước tình trạng này GH làm gì? - Im lặng.
- Trưóc việc các tôn giáo bạn như Tin Lành Mennonite, Phật Giáo VN Thống Nhất, Phật Giáo Hòa Hảo bị đàn áp và xách nhiễu, việc Đức TGM Nguyễn Kim Điền bị CS đầu độc, Lm Nguyễn Văn Lý bị cần tù v.v. GH làm gì để ngăn bàn tay tội ác lại? - Im lặng.
- Trước cảnh xã hội bị băng hoại, đạo đức suy đồi, cán bộ CS mau chóng trở thành đại tư bản, trong khi đó, dân nghèo càng ngày càng nghèo mạt đến nỗi cha mẹ phải bán con vị thành niên đi làm đĩ tứ xứ, thiếu nữ ham lấy chồng ngoại quốc chỉ vì nghèo đói, cả dân quê lẫn thành thị bị cán bộ, đảng viên dựa vào quyền lực để cướp nhà cướp đất tạo thành phong trào dân oan trên cả nước. GH làm gì để vơi đi những bất công kia? – Im lặng.
- Nạn phá thai tại VN được ghi nhận là cao nhất thế giới. Mỗi năm trung bình có từ 2 triệu rưởi đến 3 triệu phụ nữ phá thai. Trước vấn đề nhức nhối này, GH cũng chỉ im lặng.
Còn nhiều, rất nhiều nữa. GH vẫn không làm gì, mà chỉ một mực im lặng. GH đã đồng hành với Dân Tộc VN như thế đấy. Nếu GH chỉ dám nói lên tiếng nói vì nhân quền, vì công lý trong điều kiện được tư do thoải mái thì việc đó dễ dàng quá, ai mà không làm được, cứ gì phải là tông đồ của Chúa?
Tôn giáo được lập ra cho con người. Cái gốc gác của con người là tổ tiên. Tổ tiên sống hợp quần trong một khu vực với văn hóa, văn minh, phong tục tập quán và tiếng nói riêng gọi là tổ quốc. Giới răn thứ 4 trong 10 giới răn của Chúa là thảo kính cha mẹ. Từ cha mẹ tính ngược lên là tổ tiên đến tổ quốc. Người công giáo không yêu và phụng sự tổ quốc thì làm sao giữ trọn được giới răn thảo kính cha mẹ. Trong thân thể của một GHCG, phần “Công Giáo”, tạm coi như phần hình nhi thượng là phần của Vatican. Còn phần “Giáo Hội”, tức phần hình nhi hạ là phần thuộc về dân tộc. Nếu GH chỉ coi trọng phần hình nhi thượng mà coi phần hình nhi hạ như không có, thì nên gọi là GH Vatican thì hơn. Gọi là GHVN thật chẳng hợp lý tý nào. Một GH Vatican như vậy sẽ phát sinh ra hệ quả là người CGVN sẽ là người ngoại quốc sống trên đất nước của mình chứ không còn phải là những công dân VN nữa. Nên nhớ rằng phong hóa VN ta lấy chữ Hiếu làm đầu. Do đó không thể quên sự thật lịch sử là trước kia, một trong những nguyên nhân khiến vua chúa cấm đạo là vì cho rằng CG cấm người ta thờ kính cha mẹ, tổ tiên, và các bậc anh hùng dân tộc. Ngày nay, nếu GH không đau được cái đau của các thành phần dân tộc khác, không chịu nhục được nỗi nhục của họ thì đúng là GH đang đứng bên lề dòng lịch sử của dân tộc, điều mà Hội Nghị Các Giám Mục Á Châu đã cảnh giác ngay từ khi CS chiếm miền Nam. GH đang đồng hành cùng đảng CSVN chứ không phải với dân tộc VN. Cái đảng chính trị này theo lịch sử đảng ghi chép, thực chất chỉ là một chi bộ của đảng CS Liên Sô, chứ không phải một đảng chính trị của người VN. Nó đấu tranh để xích hóa dân tộc VN cho Đệ Tam Quốc Tế CS, tức đế quốc Liên Sô, chứ không phải với mục đích đem lại độc lập, tự do và phú cường cho dân tộc VN. Vì thế bản chất của nó là bán nước.
Một khía cạnh khác, nếu GH cho rằng lên tiếng vạch trần những tội ác của đảng CS và báo động trước những tai họa của đất nước là làm chính trị, thì không biết GH hiểu chữ chính trị là cái gì. Đức cố HY Jaime Sin của Phi Luật Tân, TGM Pius Ncube của Zimbabwe, TGM Oscar Romero của El Salvador v.v. đều là các chức sắc cao cấp tại các GH địa phương đã công khai lên tiếng và hoạt động chống lại các chính quyền tham nhũng và đàn áp dân chúng. Trường hợp các ngài phải giải thích thế nào: làm chính trị hay không làm chính trị? Hơn nữa nếu coi hành động ái quốc là làm chính trị thì việc Vatican phong thánh cho cô gái Jeanne d’Arc của nước Pháp đáng gọi là cái gì, một trò đùa chăng?
Nguyên Nhân 2: Những Hành Động Cụ Thể
Chuyện giáo dân chống đối HĐGM nói chung xuất phát từ nguyên nhân xa là việc GH tự tách mình ra khỏi công đồng dân tộc, đi theo CS như đã trình bầy trên. Nhưng cũng có những nguyên nhân gần và cụ thể trực tiếp dẫn đến tình trạng này.
- Một vị giám mục sang Mỹ xin tiền từ chối bước vào nơi tiếp đón có treo cờ Vàng Ba Sọc Đỏ. Đó phải chăng là một thái độ chính trị: ngài chọn chỗ đứng dưới lá cờ đỏ sao vàng nên từ chối bước vào nơi có lá cờ của con chiên tỵ nạn? Nếu không thì cũng biểu lộ một cử chỉ thiếu lịch sự và khinh mạn đối với những người tiếp đón mình, không đếm xỉa đến tâm tư tình cảm và lối sống của con chiên. Người lãnh đạo thiết tưởng phải biết như thế hơn những người khác mới phải.
- Nhiều vị khác, giám mục có, linh mục có, sơ siếc có cố đấm ăn xôi mặc luôn lễ phục cầm bịch nylon đứng nơi cửa nhà thờ trước mặt ông đi qua bà đi lại vì không được phép giám mục địa phương quyên tiền trong nhà thờ. Chuyện thật là khó coi nhưng các vị vẫn làm được. Có phải vì đồng tiền con người đã mất hết cả tự trọng và nhân cách? Con chiên tỵ nạn đã quen sống trong xã hội văn minh nên cảm thấy ngượng ngùng và khó chịu. Các vị đã không chịu học câu “nhập gia tùy tục” trước khi đi.
- Ở trong nước, có nơi trước tòa giám mục dựng bia Mân Côi bằng đá quí mua từ ngoại quốc khắc kinh Mân Côi bằng đủ 150 ngôn ngữ trên thế giới. Để làm gì? Sùng đạo hay chơi nổi?
- Có nơi giám mục phá bỏ nhà thờ cổ kính và kiên cố đã tồn tại hàng trăm năm để xây nhà thờ mới lớn nhất VN với những công trình tự khoe là hoành tráng và nghệ thuật, bàn thờ mạ toàn vàng ròng 24 cara. Để làm gì, trong khi Thiên Chúa chỉ muốn ngự nơi đền thờ “tâm hồn con người”?
- Có nơi đã chịu chi (đấm mõm bọn CS) 4 triệu dollars (khoảng 70 tỷ tiền Hồ) để được mở chủng viện. Đi với ma mặc áo giấy là lẽ thế gian thường tình, nhưng vấn đề là giáo lý Phúc Âm có cho phép các tông đồ của Chúa điều hành công việc GH theo cung cách thế gian như thế không. Không lẽ xử dụng đường lối ma quỉ để mở nước Chúa được coi là chính đáng?
- Một số giám mục kết án cha Lý làm chính trị nhưng lại thả cho các linh mục thuộc quyền tham gia phỉ quyền các cấp của CS. Như vậy là giáo lý áp dụng hai tiêu chuẩn luân lý, và giáo luật thi hành hai tiêu chẩn hành động? Thời nào kỷ cương nấy. Thời CS ta theo kỷ cương CS mới hợp thời? Khổ nỗi cái kỷ cương của thời xã hội chủ nghĩa là vô kỷ cương, là xài luật rừng.
- Quốc doanh Phan Khắc Từ có vợ con công khai mà vẫn thi hành chức linh mục. Ông Vatican không cho phép nhưng HY Phạm Minh Mẫn không cấm. Làm gì được nhau đây? Có phải phép vua chịu thua lệ làng? Ông cha có vợ con không bị cấm làm mục vụ. Nhưng bổn đạo để cho con cái lấy vợ, lấy chồng khác tôn giáo bị ông cha rút phép thông công, chết không được xưng tội, xức dầu, không được chôn trong đất thánh (Lm Pio Ngô Đức Hậu, Nhật Ký Truyền Giáo p. 41-42). Rừng nào cọp nấy hay luật rừng chăng?
Trên đây chúng tôi chỉ nêu một số những việc điển hình. Những chuyện tương tự thì vô vàn vô số không sao kể ra cho xiết được. Toàn là những chuyện giáo dân không hiểu nổi. Có những chuyện xẩy ra phản chứng Tin Mừng không thể chối cãi được, nhưng vẫn không được hàng giáo phẩm lên tiếng biện minh hay giải thích. Vì thế khó tránh được sự bất mãn trong GH. Điều nguy hiểm nhất là giáo dân VN ngày nay, kể cả một số giáo sĩ và tu sĩ, hầu như đã đánh mất ý thức về sự sai trái, thậm chí về tội lỗi. Đút lót để được xây nhà thờ, để được chịu chức linh mục, để xin đi ngước ngoài, nhận đút lót, hối lộ, ăn gian nói dối v.v. đều được coi là chuyện bình thường trong xã hội ngày nay, không có gì phải thắc mắc. Người ta giải thích: gặp thời thế thế thời phải thế là chuyện đương nhiên. Ông cha có vợ con công khai vẫn cứ làm mục vụ, vẫn làm lễ, giải tội cho bổn đạo có sao đâu. Cũng vẫn là chuyện gặp thời thế thế thời phải thế, có gì phải bận tâm. Lương tâm con người ngày nay vẫn yên ổn với những chuyện như thế. Nếu có gì không ổn thì các cha đã nói, giáo dân biện luận. Tôn giáo biến thành mê tín khi người có đạo cho những việc làm trái đạo lý là chuyện bình thường.
Trưóc việc GH quay lưng với các khổ đau của Dân Tộc và chỉ lo trau chuốt vẻ bề ngoài của mình như thế, và trước một xã hội loạn với những việc suy thoái đạo đức như thế, ai còn chút lương tri mà không đau lòng. Có những người giỏi nín nhịn, họ âm thầm chịu đựng nhưng trong bụng không khỏi bất mãn. Những người kém sức chịu đựng, họ phản ứng bằng lời nói, có khi bằng hành động. Hành động thông thường nhất là viết bài đăng báo, phóng lên internet. Những gì họ nói đều là những việc có thật, nói có sách mách có chứng chứ không phải là những vu cáo hàm hồ. Nhưng những con chiên mê tín thấy vậy thì bất kể phải trái, nổi sùng lên. Thế là có chuyện. Cuộc chiến bắt đầu.
Trong khi đánh phá những người chống sai lầm xẩy ra trong GH, và nhắm mắt bênh vực GH bất kể phải trái, những con chiên mê tín phơi bầy ra 3 cái khuyết tật trong lối sống đạo cằn cỗi của họ. Trước hết là sự bất lực tư duy, thứ đến là cái não trạng ông bình vôi, và cuối cùng là thói quen phản ứng lưỡi gỗ.
- Sự bất lực tư duy: Về nhận thức, những kẻ mê tín không đủ khả năng phân biệt thế nào là GH, và thế nào là hàng giáo phẩm. Họ tự nhiên đồng hóa hàng giáo phẩm với GH y chang như bọn Việt gian CS đồng hóa đảng CS của chúng với dân tộc VN. Vì thế họ cho rằng chống những sai lầm trong GH là chống GH, thậm chí chống Thiên Chúa. Cũng như người dân VN đụng tới bất cứ cái gì của đảng CS cũng đều bị ghép vào tội phản quốc.
- Não Trạng ông bình vôi: Những kẻ mê tín không nhìn thấy những người chống đối đứng trên vị trí nào để chống đối và người ta chống đối với mục đích gì. Họ phải biết rằng người tín hữu đồng thời cũng là công dân của đất nước nên có quyền và có bổn phận chống những tên phản quốc và những kẻ tán trợ tội phản quốc. Cứ xem những nguyên nhân đưa đến chống đối, người ta có thể biết những người chống đối đứng ở vị trí nào và hành động cho mục đích gì. Họ không chống đối hoặc phê phán bất cứ một giáo điều hay luật lệ nào của GH, mà chỉ chống đối đường lối và những hành động của HĐGM liên quan đến đất nước gây tác hại cho Dân Tộc. Như vậy rõ ràng là những người chống đối họ đứng trên cương vị công dân để hành động, chứ không phải trên cương vị người tín hữu. Và mục đích của họ là để bảo vệ đất nước và đồng thời cũng bảo vệ GH. Đồng bào khác tôn giáo cũng chia sẻ quan điểm của những người chống đối, nhưng vì sự tế nhị của vấn đề, họ không lên tiếng.
- Phản ứng lưỡi gỗ: Trong một xã hội văn minh và có văn hóa, nguyên tắc đi tìm sự thật cho các vấn đề tranh cãi là tranh luận dân chủ và ngay thẳng. Đám con chiên mê tín không biết lý luận. Họ chỉ biết chửi rủa những gì mà đầu óc đặc sệt của họ cho là chống GH. Điều làm ngạc nhiên là có cả một số linh mục cũng làm như thế. Các linh mục này không giảng giải điều hơn lẽ thiệt, không phân tích cái đúng cái sai cho con chiên, mà cũng chỉ chửi. Họ chửi bới những người không mê tín như họ là kiêu căng, thiếu lòng đạo, ngu dốt, vô giáo dục, hạ cấp. Thậm chí họ chửi người khác là đồ chó săn, quân súc sanh, loài cầm thú, “bọn bất lương nhất thế gian, quỷ sẽ đưa cả nhà chúng mày xuống hỏa ngục”. Ôi, tinh thần Phúc Âm, lòng đạo đức của những “con chiên ngoan đạo” là như thế! Quí bạn đọc cần kiểm chứng cứ vào các trang web công giáo sẽ thấy. Hiện nay những bài chửi đểu, đã được lấy bớt xuống rồi không biết vì lý do gì. Nếu là người đạo hạnh, có văn hóa, họ nên viết lách đàng hoàng, dùng cái đầu để suy nghĩ, dùng ngòi bút để lý luận, để phản biện những người không mê tín như họ. Sự thể cho thấy một khi lòng đạo mất đi lý trí và sự khôn ngoan, niềm tin tôn giáo nơi con người sẽ trở thành mê tín. Người tín hữu dễ trở thành cuồng tín nếu có bàn tay nào đó thọc vào khích động. Nguy hiểm nhất là có những linh mục có học hành đàng hoàng, lợi dụng tính mê tín của con chiên để củng cố địa vị hoặc thủ lợi riêng. Hậu quả càng thê thảm hơn gấp bội.
Thay Cho Lời Kết
Chúng tôi xin mượn một mẩu chuyện nhỏ trong trong cuốn Nhật Ký Truyền Giáo của Lm Piô Ngô Phúc Hậu làm phần kết cho bài viết này. Chuyện như sau:
Cái Răng, … (Thời VNCH, Cái Răng là một quận lỵ cách thị xã Cần Thơ 5 km trên
đường Cần Thơ đi SócTrăng. Ghi chú của người viết)
Hôm nay mình (cha Hậu) ghé chủng viện Cái Răng. Phòng đầu tiên mà mình bấm chuông là phòng cha giáo Chương. Cha giáo đang duyệt phim.
- Cha Piô coi phim Les Missions chưa?
- Về phim ảnh thì mình dốt đặc cán mai, dài cán thón. Bác tóm tắt dùm em coi. Hết sức vắn tắt thôi.
- Phim mô tả thực dân da trắng tấn công các bộ lạc da đỏ. Các cha truyền giáo thì có hai thái độ: Thái độ một: đứng hẳn về phía người da đỏ, cầm vũ khí chống lại thực dân. Thái độ hai: khước từ bạo lực, chỉ rao giảng và cầu nguyện. Nhưng cuối cùng thì thực dân tấn công và tiêu diệt tất cả. Hàng giám mục địa phương báo cáo về Tòa Thánh như sau:
“Hàng giáo sĩ của chúng tôi đã đứng ra bênh vực người da đỏ, chống lại thực dân. Có người dùng bạo lực. Có người dùng lời cầu nguyện. Cả hai đều đã chết, nhưng dường như họ vẫn sống. Còn chúng tôi, hàng giám mục thì vẫn còn đang sống. Chúng tôi đang sống, nhưng dường như chúng tôi đã chết.”
Nội dung chuyện phim cùng với giọng truyền cảm của cha giáo Chương làm mình bị xúc động. Có lẽ mình còn phải suy nghĩ về đề tài này nhiều năm nữa (Lm Ngô Phúc Hậu, Nhật Ký Truyền Giáo trang 78-79).
Duyên-Lãng Hà Tiến NhấtKhủng hoảng nợ và suy thoái kép đi về đâu? “...Trung Quốc rất cần sự phục hồi của Âu châu và đồng Euro, vì 1/3 xuất khẩu nước này là châu Âu. Những tháng gần đây nhiều nhà máy xuất khẩu sang châu Âu đã phải đóng cửa vì hoạt động sa sút. Cứu Euro là cứu chính mình...”
Kể từ khi xảy ra cuộc khủng hoảng tài chính kinh tế năm 2008 với sự vỡ nợ của ngân hàng Lehman Brothers, kinh tế các nước Âu Mỹ đang bước vào cuộc khủng hoảng kế tiếp và trầm trọng. Cuộc khủng hoảng lần này khác với lần trước là nó đã được tiên báo từ mùa hè năm nay với những biến động sau cuộc khủng hoảng về nợ trần và sự tụt hạng AA+ của Mỹ do cơ quan đánh giá Standard & Poor’s. Biến động đó đi kèm với tình trạng xáo trộn lớn trên thị trường chứng khoán châu Âu từ cuối tháng 7/2011(CAC40 của Pháp từ trên 4000 có lúc xuống dưới 3000) do mất tin tưởng về khả năng các nước khu vực Euro giải quyết món nợ 350 tỷ euros của nước Hy Lạp nhỏ bé đang trên bờ phá sản. Nước Hy Lạp đã bị cơ quan đánh giá tín dụng uy tín Standard & Poor’s xếp hạng áp chót CC (chuẩn bị phá sản) vào ngày 27/7/2011(1). Hệ thống ngân hàng châu Âu cũng chao đảo mạnh và mất giá nhiều, nhất là sau khi ngân hàng lớn Pháp-Bỉ Dexia bị sụt giá và tái cấu trúc do khối lượng tích sản độc hại quá lớn. Hàng chục ngân hàng lớn châu Âu (Tây Ban Nha, Ý) bị sụt điểm, một số nằm trong tầm ngắm của Standard & Poor’s như : BNP Paribas, Deutsch Bank, Goldman Sachs và Morgan Stanley (Mỹ)…
Cuộc khủng hoảng lần này lại đi kèm với xáo trộn xã hội. Phong trào « Những người phẫn nộ » từ Tây Ban Nha (15/5) đã lan ra nhiều thành phố lớn thế giới kể cả Nhật, Mỹ. Tại Mỹ, phong trào mang tên « Chiếm phố Wall » hay « 99% » (ý nói sự cách biệt với 1% người giàu nhất) (2) đã kéo dài hàng tháng vào ngày thứ bảy, nay đã lan sang các thành phố tiểu bang như Los Angeles, Orange County. Các phong trào biểu tình nói chung ôn hoà (ngoại trừ ở Ý) nhưng quyết liệt, có vài nơi kéo dài, tỏ rõ sự bất mãn về tình trạng thất nghiệp cao, sự tham lam, thao túng của giới tài phiệt, ngân hàng, và giới giàu có nhất không bị đánh thuế đúng mức.
Chắc chắn, giới lãnh đạo chính trị các quốc gia Âu Mỹ sẽ phải xét lại thái độ, chính sách kinh tế nếu không muốn cho phong trào phản kháng kéo dài thành một cuộc « cách mạng xã hội » như một số biểu ngữ ở Tây Ban Nha. Các nước độc tài đảng trị như Trung Quốc, Việt Nam cũng sẽ thấy hậu quả nếu các bất công xã hội dâng cao do tham nhũng đưa người dân đến con đường phản kháng quyết liệt.
Hậu quả rõ nét của cuộc khủng hoảng nợ là Quỹ Tiền tệ thế giới IMF vào cuối tháng 9/2011 đã hạ thấp nhiều các dự đoán về mức tăng trưởng năm 2011, 2012 của Âu Mỹ theo hướng suy thoái, so với ước tính vào tháng 6/2011(3). IMF tiên đoán nền kinh tế thế giới sẽ gặp suy thoái vào năm 2012 nếu các nước khu vực Euro (17 quốc gia) không giải quyết toàn diện và lâu dài cơn khủng hoảng nợ trong vùng. Tổng thống Obama cho biết rất lo lắng e sợ khủng hoảng nợ khu vực Euro ảnh hưởng đến nền kinh tế Mỹ chưa hồi phục và đang đi vào khủng hoảng suy thoái kép (4).

Mười nước có nợ cao nhất thế giới
Quả thực nền kinh tế Mỹ chưa hồi phục từ sau khủng hoảng nợ subprimes năm 2008. Sau đợt tung 1700 tỷ USD nới lỏng định lượng QE1 vào cuối năm 2008 chủ yếu để mua nợ xấu ngân hàng suy sụp, bù đắp vốn cho một số đại xí nghiệp phá sản, và mua công khố phiếu trả nợ cũ, nền kinh tế Mỹ đã vực lên nhưng rất yếu. Do đó, cuối năm 2010, Ngân hàng trung ương Mỹ FED phải bơm thêm 600 tỷ USD mua công khố phiếu, mong giảm lãi suất và kích thích đầu tư. Hiêu quả của gói nới lỏng định lượng QE2 đã không đạt được mong muốn đề ra. Tình trạng thất nghiệp vẫn ở mức cao 9,1%. Các ngân hàng lớn sau khi được tiếp sức đã trở lại lời đáng kể và chia nhau tiền thưởng « bonus » (140 tỷ USD năm 2010) trong khi sa thải nhân viên và không nới lỏng cho các xí nghiệp cần đầu tư. Các đạo luật nhằm tách rời hoạt động kinh doanh đầu cơ (banques d’affaires) và ký thác (banques de dépôts) đã bị trì hoãn trong việc thực thi vì áp lực của lobby ngân hàng. Chính việc không tách rời này tại châu Âu đã khiến ngân hàng Dexia bị khủng hoảng do nợ xấu bất động sản hơn 100 tỷ euros và phải tái cấu trúc với cái giá đáng kể. Việc tiêu chuẩn hoá phát hành các loại tín dụng thứ cấp (dérivés de crédits, credit swaps) mang tính hiểm tai như CDS (credit default swaps- hiểm tai không trả)- nhân tố chủ yếu trong việc lan rộng của nợ subprimes- đã không được thực hiện. Đây chính là những tích sản được coi là độc hại (actifs toxiques) mà hiện các ngân hàng lớn Âu Mỹ đang nắm giữ với số lượng rất lớn. Trong gói nợ khổng lồ của Ái Nhĩ Lan và Hy Lạp, thành phần CDS chiếm tỷ lệ đáng kể. Các ngân hàng Tây Ban Ban Nha được ước tính chứa 230 tỷ euros tích sản độc hại trong đó 50 tỷ liên quan đến bất động sản. Ngân hàng Pháp Société Générale chứa đến 35 tỷ euros tích sản độc hại. Ngân hàng Dexia với trên 100 tỷ euros tích sản độc hại đã khiến chính phủ Pháp phải bảo đảm 33 tỷ euros cho phần tái cấu trúc ‘bad bank’. Pháp đang lo ngại bị xuống hạng bởi cơ quan đánh giá tín dụng Moody’s (5). Đây là mối lo thực sự vì sẽ ảnh hưởng đến lãi suất công khố phiếu hiện đã khá cao (3%) so với Đức (2,4%).
Bài học nợ subprimes đã không được cả Mỹ lẫn Âu rút tỉa vì thế lực của giới tài chính.
Hiện ông Obama đang ở trong tình thế bị đảng Cộng hoà ngăn cản (tái cử !) khi đưa ra những biện pháp chống suy thoái như kế hoạch trợ giúp tăng việc làm 447 tỷ MK và tăng thuế nhà giàu trên 200 000 USD. Mỹ, mặc dù những hạn chế vì nợ công và khiếm hụt ngân sách cao vẫn còn khả năng để áp dụng một chính sách tăng chi phí đầu tư (với sự hỗ trợ của FED) đối với những lĩnh vực mũi nhọn gia tăng công ăn việc làm (hạ tầng cơ sở, môi sinh, giáo dục..). Lý do là Mỹ có khả năng phát hành Mỹ kim, một đồng tiền được dùng làm dự trữ quốc tế và vẫn cao giá. Đây là điều mà các nước sử dụng đồng Euro không làm được, và khiến đi đến bất đồng quan điểm giữa Mỹ và châu Âu trong việc giải quyết khó khăn hiện nay. Cuối cùng thì Mỹ thừa nhận là châu Âu phải ưu tiên giải quyết vấn đề nợ công nhưng đề nghị một chính sách khắc khổ đúng mức để không làm tụt giảm phát triển. Điểm quân bình này vẫn là điều gây tranh cãi và khó thực hiện (vì phải tăng thu, giảm chi nói chung mà vẫn có biện pháp kích thích đầu tư). Giáo sư được giải Nobel kinh tế Joseph Stiglitz thì dứt khoát phê phán chính sách khắc khổ (‘quy tắc vàng’ về quân bình ngân sách), cho rằng nó kềm hãm phát triển. Chúng tôi cho rằng phải nhìn vấn đề theo chính sách đối phó đoản kỳ hay trường kỳ và tùy thực trạng từng nước. Hiện nay chỉ hai nước Thụy Điển và Gia Nã Đại là thực hiện thành công chính sách khắc khổ. Đối với các nước châu Âu đang gặp khủng hoảng trầm trọng, chắc sẽ phải ưu tiên « quy tắc vàng » về quân bình ngân sách vì các nước này đã quá buông lỏng quản lý ngân sách.
Dù sao cái vòng luẩn quẩn giữa tăng trưởng giảm và nợ cao rất khó giải quyết. Nước Nhật hơn 20 năm nay vẫn chưa ra khỏi vòng luẩn quẩn này vì số nợ khổng lồ hơn 220% GNP, mặc dù chỉ có 5% là nợ nước ngoài. Mỹ sẽ phải đối phó với vấn nan này trong tương lai vì đã sống quá lâu trên mức khả năng của mình (cả chinh quyền và người tiêu thụ) (6) như ông Obama đã thừa nhận. Nợ quá nhiều là giới trẻ sẽ phải trả. Trước mắt, những tranh chấp có tính cách giáo điều và phe phái (Cộng hoà, Dân chủ) sẽ khiến Mỹ không giải quyết thực sự tình trạng thất nghiệp cao. « Giấc mơ Mỹ quốc » giờ đây không còn nữa.
Châu Âu hiện cũng phải giải quyết vấn đề nợ công và khiếm hụt ngân sách mà nếu tính chung khu vực euro thì khối nợ tổng cộng (85,1% GDP, 2010) và khiếm hụt trung bình (6% GDP) còn thấp hơn nhiều so với Mỹ (100% và 10% GDP). Vấn đề là đối với các nước ngoại vi (pays périphériques) như Hy Lạp, Ái Nhĩ Lan, Ý chưa kể Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha thì mức nợ công và khiếm hụt ngân sách rất cao. Năm 2010, 14 trên 17 thành viên khu vực Euro ( kể cả Đức, Pháp) đã vượt mức nợ công tối đa 60%, một trong 4 tiêu chuẩn của hiệp ước Maastricht. Sự vượt mức này phần lớn do hậu quả của chính sách đối phó với khủng hoảng năm 2008 (Pháp, Đức), và chạy theo bong bóng bất động sản ở một số nước như Ái Nhĩ Lan, Tây Ban Nha. Về khiếm hụt ngân sách các nước như Ái Nhĩ Lan (32,4% GDP), Hy Lạp (10,5%), Tây Ban Nha (9,2%), Bồ Đào Nha (9,1%), Pháp (7%) đều đã vượt mức tối đa 3% GDP của tiêu chuẩn Maastricht mà không có cơ chế cảnh báo, chế tài thích đáng. Chỉ có Đức là tuân thủ tiêu chuẩn. Ủy ban châu Âu (ủy viên kinh tế) và chủ tịch nhóm Euro, ông Jean Claude Juncker, bất lực, trông vào hai nước Đức, Pháp thường xuyên bất đồng trong việc giải quyết. Điểm bất đồng chính cho đến nay: Đức không chấp nhận giải pháp phát hành « euro-bonds » được ông J.Cl.Juncker và hầu hết các kinh tế gia cho là toàn hảo nhất để giải quyết vấn đề nợ. Đức cũng không chấp nhận đề nghị của Pháp muốn FESF vay BCE hầu gia tăng khả năng tác dụng đòn bảy 440 tỷ euro vì cho là trái với quy lệ của BCE (điều 123) và quốc hội Đức không chấp nhận.
Cuộc khủng hoảng nợ khu vực Euro trước hết là khủng hoảng lãnh đạo
Chúng ta biết khâu yếu nhất của khu vực Euro là Hy Lạp. Trong việc xin gia nhập khu vực Euro, Hy Lạp đã tìm cách gian lận các con số thống kê mà phải đến năm 2009, sự thật mới được chính phủ Papandréou công bố (khiếm hụt 12,7% rồi 13,6% GNP thay vì 6%) và hậu quả là bị cơ quan đánh giá tín dụng S&P xuống hạng BBB+ và gia tăng lãi suất công khố phiếu. Ở đây, tất cả các nhà phân tích đều thừa nhận là khu vực Euro đã quá dễ dãi để Hy Lạp gia nhập mặc dù không đủ tiêu chuẩn. Đi kèm với khiếm hụt ngân sách là khối nợ tăng vọt vì nước nhỏ bé 10 triệu dân này đã sống quá khả năng của mình nhiều lần (nợ 350 tỷ euros). Lý do mà người đều biết là nền kinh tế nước này sống dựa vào mọi hình thức « kinh tế ngầm» để trốn thuế, từ người lái taxi đến ông chủ nhà hàng, bác sĩ..(khoảng 35 tỷ euro năm 2010), đặc quyền đặc lợi về đất đai (giáo hội Chính thống), miễn thuế lợi tức (giới vận chuyển hàng hải), xây cất bất hợp pháp, về hưu quá sớm (50 tuồi), viên chức tham ô (ban tổ chức thế vận hội 2004 đã tăng chi phí hàng chục lần)….
Trước tình trạng có nguy cơ phá sản, vào tháng 5/2010, cộng đồng châu Âu và IMF đã phải phải đưa ra kế hoạch cứu trợ 110 tỷ euro trong 3 năm (gói thứ sáu 8 tỷ euro vừa được chấp thuận để tránh phá sản, nhưng chỉ là tạm thời). Khu vực Euro cũng đề ra Quỹ ổn định tài chính châu Âu (FESF) với 750 tỷ euro (440 tỷ do khu vực Euro đóng góp mà Đức, Pháp chiếm phân nửa, 250 tỷ do IMF) để trợ giúp cho các nước gặp khó khăn. Quỹ này phải đến 21/7/2011 mới mở rộng thẩm quyền (cho phép mua lại trái phiếu trên thị trường, cho các quốc gia đang gặp khó khăn vay và trợ giúp các ngân hàng gặp khó khăn). Quy chế mở rộng này phải chờ đến trung tuần tháng 10/2011 mới được 17 nước phê chuẩn. Đi kèm theo sự trợ giúp, Hy lạp phải chấp nhận một chính sách khắc khổ gắt gao và đã đưa đến đình công liên tục. Mặc đù vậy, tiêu chỉ hạ khiếm hụt không thực hiện nghiêm chỉnh (năm 2011, khiếm hụt khoảng 8,5% so với 7,4% đề ra. Kế hoạch khắc khổ mới dự trù cho nghỉ việc 30 000 nhân viên, giảm lương, tư nhân hoá một số lĩnh vực… Việc không thực hiện còn do mức tăng trưởng của Hy Lạp trong ba năm liền là số âm (-5% năm 2011) nên không có đủ thuế thu. Đây là cái vòng luẩn quẩn mà Hy lạp sẽ không có đường giải quyết món nợ nếu không được xoá nợ đáng kể và đặc biệt là phải được trợ giúp đầu tư.
Vào cuối năm 2010, nợ công của Ái Nhĩ Lan (Ireland) cũng bùng nổ đưa đến kế hoạch cứu trợ 85 tỷ euro của cộng đồng châu Âu và IMF. Ngân hàng trung ương châu Âu (Banque Centrale Européenne - BCE) cũng phải phá rào mua lại hàng chục tỷ trái phiếu. Cho đến nay, kế hoạch khắc khổ đi kèm với khích lệ đầu tư đã có phần hiệu quả.
Về nợ công của Bồ Đào Nha (Portugal) cũng bùng nổ vào tháng 5/2011 khiến cộng đồng châu Âu và IMF cũng phải cứu trợ đặc biệt 78 tỷ euro chưa kể ngân hàng trung ương châu Âu mua lại hàng chục tỷ trái phiếu. Bồ Đào Nha phải cam kết đưa ra kế hoạch khắc khổ giảm khiếm hụt còn 5,9% năm 2011 so với 9,1% năm 2010.
Tinh trạng của Ý cũng rất trầm trọng. Nợ công lên đến 1900 tỷ euro (120% GNP), bị sụt hạng A và hiện phải vay với lãi suất 6%. Ngân hàng BCE đã phải mua lại cấp thời hàng chục tỷ trái phiếu nhưng không đủ. Ý đã đưa ra kế hoạch khắc khổ mạnh mẽ và hứa thực hiện cân bằng ngân sách năm 2013 nhưng vì tỷ lệ phát triển quá thấp (thu thuế giảm) nên khó có khả năng thực hiện. Chưa kể những khiếm khuyết cơ cấu trầm trọng ( lậu thuế, tuổi về hưu thấp..) và tình hình bất ổn chính trị nội bộ.
Kế hoạch cuối cùng để cứu Hy-Lạp và đồng Euro
Bị thế giới thúc bách và tình thế nợ ngày càng nguy ngập, khu vực Euro và Liên minh châu Âu đã họp bàn ngày 23/10 và 26/10/2011 để đưa ra kế hoạch giải quyết tổng thể và lâu dài, được coi là cơ hội cuối để cứu Hy Lạp và đồng Euro. Đêm 26/10/2011 được coi là đêm dài nhất tại Bruxelles (10 giờ thương thảo căng thẳng) với 20.000 ký giả theo dõi. Kết quả là những bước tiến đáng kể sau, đã khiến thị trường chứng khoán thế giới tăng vọt (CAC40 tăng 6,2%..):
-Đối với Hy Lạp : Các ngân hàng, sau nhiều cò kè đã phải chấp nhận xoá nợ 50% trên trị giá trái phiếu Hy Lạp 200 tỷ euro trong tổng số 350 tỷ nợ (7). Đây là một bước tiến và là thành công chính của hội nghị vì ngày 21/7/2011, các ngân hàng chỉ « tự nguyện » xóa nợ 21%. Tất nhiên điều này gây khó khăn cho các ngân hàng giữ nhiều trái phiếu Hy Lạp nhất, đặc biệt là các ngân hàng Hy Lạp chiếm giữ 22% trái phiếu. Để bù đắp vào sự mất mát và để đáp ứng tiêu chuẩn Bâle 3 về vốn tự hữu (9%), các ngân hàng được yêu cầu tái bổ sung vốn (recapitaliser) 108 tỷ euro nhưng không nói phương cách thực hiện. Đối với Pháp, các ngân hàng chỉ cần bổ sung 10 tỷ và có thể tự thực hiện bằng cách lấy từ trị giá lợi nhuận tương ứng, không cần Nhà nước đóng góp. Trong mọi trường hợp, các ngân hàng sẽ hạn chế cấp tín dụng cho các tư nhân, xí nghiệp cần vốn và do đó ảnh hưởng đến phục hồi kinh tế.
Hy lạp cũng được cho vay 100 tỷ euro (trong kế hoạch trợ giúp 2) trong 4 năm với lãi suất thấp 3,5%. Hơn nữa, trên 400 triệu euro sẽ được đầu tư để phục hồi phát triển (đi đúng hướng).
-Về vai trò của Ngân hàng trung ương châu Âu BCE: Tân chủ tịch người Ý đã can đảm hứa sẽ tiếp tục mua lại các trái phiếu những nước gặp khó khăn như trước đây mặc dù có phần « không mấy hợp lệ » (non conventionnelle) so với nội quy.
-Về việc tăng cường khả năng tác dụng 440 tỷ euro của FESF. Thực ra khả năng cho vay 440 tỷ euro đã bị giảm gần một nửa vì đã dùng để cứu Ái Nhĩ Lan và Bồ Đào Nha, chưa kể phải dành ra 100 tỷ euro cho kế hoạch thứ hai để cứu trợ Hy Lạp. Để có thể đối phó với nhu cầu của các nước ngập nợ cần được giúp đỡ (trong đó có cả Ý), phải sử dụng phương thức đòn bảy tăng hiệu lực gấp bốn để có được khoảng 1.000 tỷ euro trong thời gian đầu. Các biện pháp tăng hiệu lực của FESF gặp trở ngại vì giới hạn mà quốc hội Đức đưa ra:Không cho phép FESF nhờ BCE và không tăng đóng góp. Hai biện pháp đề ra có thể kết hợp để tăng hiệu lực: Một là FESF sẽ bảo lãnh một phần các trái phiếu của các nước mang nợ cần vốn, hai là thiết lập một quỹ đặc biệt dựa vào IMF để có thể nhận đóng góp của các nhà đầu tư bên ngoài (kể cả Trung Quốc, Nga, Nhật, tỏ ý rất muốn ‘đóng góp’). Trung Quốc với khối dự trữ ngoại tệ khổng lồ 3200 tỷ USD và giữ hàng trăm tỷ trái phiếu Hy Lạp, Ý nay rất cần sự phục hồi của Âu châu và đồng Euro, vì 1/3 xuất khẩu nước này là châu Âu. Những tháng gần đây nhiều nhà máy xuất khẩu sang châu Âu đã phải đóng cửa vì hoạt động sa sút. Cứu Euro là cứu chính mình.
-Đặc biệt quan tâm đến tình trạng khả năng trả nợ 1900 tỷ của Ý. Khu vực Euro quy trách Ý không thực hiện các cam kết về giảm khiếm hụt ngân sách và cải tổ kinh tế (tăng tuổi về hưu lên 67, kế hoạch kích thích đầu tư). Thủ tướng Berlusconi đã hứa chấp hành nghiêm chỉnh để có thể hưởng sự giúp đỡ của FESF.
-Về cải tổ khả năng lãnh đạo khu vực Euro, hội nghị đồng ý để uỷ viên kinh tế của Ủy ban châu Âu kiêm nhiệm đặc trách về khu vực Euro. Đây chỉ là bước tiến nhỏ đối với yêu cầu một cơ chế lãnh đạo kinh tế châu Âu (gouvernance économique européenne) do Pháp đề nghị.
Phải nói là những quyết định của hội nghị Bruxelles tuy chưa đầy đủ nhưng đã tạm thời xoa dịu những nỗi lo ngại của thị trường nhất là đối với sự phá sản của Hy Lạp. Nhưng sự xoa dịu này chỉ là nhất thời.
Thực vậy, nếu những quyết định của hội nghị Bruxelles có thể nhất thời làm giảm nguy cơ tan rã của đồng Euro và châu Âu, nhưng những thách đố kế tiếp không nhỏ. Thách đố thứ nhất là khả năng thực hiện những biện pháp đã đề ra mà không có xáo trộn xã hội do những biện pháp khắc khổ quá đáng và không công bình gây ra. Thách đố thứ hai là sự đổ vỡ hệ thống ngân hàng (hiện đang bị xáo trộn và càng xáo trộn hơn) như đã xảy ra cho Lehman Brothers. Nhưng thách đố quan trọng hơn vẫn là khả năng thực hiện những biện pháp kích thích sự tăng trưởng, đặc biệt là tại những nước yếu nhất trong khu vực Euro. Bởi nếu không tăng trưởng thì thu càng ít và nợ cùng khiếm hụt càng tăng, cái vòng lẩn quẩn mà chúng ta đã biết. Giáo sư Mỹ nổi tiếng Nouriel Roubini, người đã đoán trước hai năm về khủng hoảng nợ subprimes 2008, vừa cho rằng có xác suất trên 50% nền kinh tế các nước phát triển sẽ gặp suy thoái mới năm 2012 (suy thoái kép). Ông đưa ra hai giải pháp: Giảm giá đồng Euro để tăng xuất khẩu và đưa mức lãi suất cho vay xuống gần mức 0% để phục hồi phát triển ngắn hạn. Đây cũng là ý kiến của người vừa được giải Nobel kinh tế năm 2011 (Thomas Sargent và Christopher Sims) .
Chúng tôi cho rằng chúng ta phải chuẩn bị cho khả năng suy thoái mới năm 2012 khi mà chính những nước đầu đàn khu vực Euro như Đức và Pháp đã đưa ra những dự kiến theo hướng này. Điều mà chúng ta muốn biết là hậu quả sự suy thoái đó đối với nền kinh tế hàng thứ nhì thế giới: Trung Quốc.
Theo giáo sư Roubini, sự giảm nhu cầu nhập cảng của châu Âu và Mỹ cũng như mức nợ xấu rất cao, đặc biệt là trong lĩnh vực bất động sản (8) khiến cho người ta có thể dự kiến một sự hạ cánh mãnh liệt của Trung Quốc trong hai, ba năm sắp tới. Ông thêm rằng hiện chưa có một trường hợp thoát hiểm nhẹ nhàng nào trong quá khứ đối với tăng phát (boom) do siêu đầu tư gây ra.
Kinh tế thế giới suy trầm hơn vào thời kỳ 2008 với những hệ quả chính trị, xã hội. Trung Quốc hạ cánh với những hệ quả khó lường cả đối nội lẫn đối ngoại. Phải chăng đây là bức tranh đen tối đang chờ đợi chúng ta.
Tiến Hồng. Rennes, 28/10/2011
Gửi Nhóm Bạn Cửu Long
và VN 2020 Mekong Group
một hình thái khác của bạo động và vi phạm nhân quyền
Một Thoáng Miến Điện
Miến Điện từng được biết tới như một vùng Đất Vàng – Shwe Pyidaw, một đất nước rất giàu có về tài nguyên thiên nhiên với gỗ quý, đá kim quý, dầu khí, đất đai phì nhiêu nhất Á Châu như vùng châu thổ Irrawaddy diện tích 255,000 km2 là cả một vựa lúa trù phú và thêm một vựa cá khổng lồ ngoài khơi vịnh Andaman. Một đất nước đẹp đẽ như vậy với cả ngàn ngôi chùa vàng lấp lánh nhưng lại là một đất nước của nghèo khổ với ba phần tư dân chúng thất học và thiếu ăn, còn tệ hơn dưới thời thực dân Anh. Với dân số gần 54 triệu, diện tích 676 552km2 gấp đôi Việt Nam, bằng diện tích nước Pháp và Anh cộng lại. Tây và tây bắc giáp với Ấn Độ và Bangladesh, bắc và đông bắc giáp với Trung Quốc và Lào, đông và đông nam giáp với Thái Lan. Có hai con sông chính chảy từ bắc xuống nam tạo nên những thung lũng và đồng bằng đẫm phù sa. Con sông Irrawaddy dài nhất xuất phát từ cao nguyên Tây Tạng băng qua vùng đồi núi Kachin phía đông bắc Miến rồi chảy dài suốt 2000 km về hướng nam với chặng cuối chia ra làm nhiều nhánh trước khi đổ ra biển khơi Ấn Độ Dương.
Là mạch sống và cũng là thủy lộ giao thông chính của Miến từ thời thực dân Anh. “Con đường tới Mandalay” đã đi vào vần thơ bất hủ của Rudyard Kipling, văn hào Anh đầu tiên được giải Nobel văn chương, được mọi người biết tới như một nhà văn của thời kỳ thuộc địa. “The Ballad of East and West” (1892) vẫn còn luôn luôn được trích dẫn: Oh, East is East, and West is West, and never the twain shall meet ! Đông là Đông, và Tây là Tây, và hai ngả ấy chẳng bao giờ gặp nhau ! Mandalay theo huyền thoại Miến Điện được coi là vùng đất Phật. Tương truyền rằng Đức Phật Thích Ca và môn đồ Ananda khi viếng thăm đồi Mandalay đã tiên tri rằng tới năm Phật lịch 2400, thì Mandalay sẽ trở thành một trung tâm truyền bá Phật học. Do đó vào năm 1857 vua Miến Điện Mindon đã di chuyển cung điện tới gần đồi Mandalay nơi khúc quanh của con sông Irrawaddy và tiếp sau đó rất nhiều Phật học viện tráng lệ được xây cất, đó là các công trình nghệ thuật kiến trúc bằng gỗ quý được trạm trổ vô cùng tinh vi. Mandalay nghiễm nhiên trở thành một trung tâm văn hóa Phật giáo. Nhưng rồi sau đó Mandalay rơi vào tay người Anh và tiếp đến Thế Chiến Thứ Hai, tất cả đã trở thành tro than. Mandalay đã điêu tàn và ngày nay trở thành cái bóng của quá khứ.
Miến Điện từng được kể là một trong những thuộc địa đem lại lợi lộc nhất cho đế quốc Anh. Kyaw Nyein đã mô tả đất nước Miến Điện dưới thời Anh đô hộ như sau: “Đó là một xã hội hình tháp – social pyramid với dưới đáy là bao nhiêu triệu người dân Miến nghèo khổ, ngu dốt và bị bóc lột, và trên đỉnh là một thiểu số người ngoại quốc Anh, Ấn và Hoa...”.
Để rồi hơn một nửa thế kỷ sau tình hình không có gì đổi khác, cho dù người Anh đã ra đi, nhưng cũng vẫn là xã hội hình tháp ấy với nguyên dưới đáy là hàng chục triệu những người Miến Điện nghèo khổ ngu dốt và bị bóc lột, chỉ có khác là bị bóc lột triệt để hơn bởi chính đồng bào của họ: đám tướng lãnh quân phiệt Miến. Năm 1989, chánh quyền quân phiệt đổi tên nước Miến Điện là Myanmar theo chế độ Cộng Hòa Xã Hội Liên Bang. Thư từ nước ngoài gửi về với tên Miến Điện – Burma sẽ bị đóng dấu phát hoàn với lý do: “Burma, country unknown”. [5]
Hoàng Hôn trên Sông Irrawaddy [ 2007 - 2011 ]
Từ tháng 5 năm 2007, theo The New Light of Myanmar tờ báo nhà nước Miến Điện, thì chánh quyền quân phiệt Rangoon và Trung Quốc đã hoàn tất 7 dự án thủy điện lớn trên sông Irrawaddy với tổng công suất 13,360 MW, đi tới một ký kết giữa Công Ty Đầu Tư Điện Lực Trung Quốc (CPI / China Power Investment Co.) và Bộ Điện Lực Miến Điện.
Từ cuối năm 2007, cho dù bản tường trình EIA / Lượng Giá Ảnh Hưởng Môi Sinh chưa hoàn tất, Trung Quốc đã cho khởi công xây con đập thủy điện Myitsone lớn nhất Miến Điện cũng là lớn nhất Đông Nam Á, công suất dự trù lúc ban đầu là 3,600 MW trên sông Irrawaddy [ gấp 3 lần con đập Cảnh Hồng / Jinghong Dam trên dòng chính sông Mekong] . Nhưng đến tháng 12, 2009 trong chuyến viếng thăm của Phó Thủ Tướng Trung Quốc Tập Cận Bình / Xi Jinping, công suất con đập Myitsone đã được tăng từ 3,600 MW lên tới 6.000 MW [ gấp 4 con đập Mạn Loan/ Manwan, Vân Nam.]
Vị trí con đập nằm ngay trên hợp lưu của hai nhánh sông Mayhka và Malihka, cách Myitsone thủ phủ của bang Kachin 42 km về hướng bắc [Bản Đồ I]. Theo IRN/ International Rivers Network, trụ sở ở Berkeley California thì nếu không gặp trắc trở, con đập Myitsone sẽ hoạt động phát điện vào năm 2018, với 90% lượng điện sản xuất sẽ được chuyển về Trung Quốc và chỉ riêng công ty Quốc Doanh Đầu Tư Điện Lực Trung Quốc CPI / China Power Investment Corp. được hưởng tới 70% phần lợi nhuận.
[ Tập Cận Bình / Xi Jinping, theo dự đoán, sang năm 2012 sẽ thay thế Hồ Cẩm Đào trong chức vụ Tổng Bó Thư Đảng CS và Chủ Tịch nhà nước Trung Quốc.]
Mọi Lượng Giá Ảnh Hưởng Môi Sinh Bị Che Dấu.
Chỉ sau khi thỏa ước hai nước đã ký kết, như một chiếu lệ, công ty điện lực Trung Quốc CPI mới có kế hoạch đề cử một tổ chức phi chánh phủ có tên BANCA / Biodiversity and Nature Conservation Association thực hiện một cuộc khảo sát về ảnh hưởng môi sinh [EIA / Environment Impact Assessment] của con đập Myitsone. BANCA đã báo động về tình trạng nguy hiểm khi vị trí con đập xây gần rãnh nứt động đất / earthquake fault line; cùng với tác hại phá rừng khai quang khu xây đập, sẽ không còn rừng để ngăn lũ, gây ngập lụt các vùng cư dân như thị trấn Myitkyina. Họ đề nghị thay thế dự án đập Myitsone bằng 2 con đập nhỏ hơn nhưng đã bị các công ty Trung Quốc và giới quân phiệt Miến Điện bác bỏ. Không những thế họ còn bị áp lực bắt tổ chức này phải im tiếng. Nhưng rồi thông tin của bản tường trình ấy cũng bị tiết lộ, mở màn cho một phong trào vận động rộng lớn hơn của giới trí thức và các nhóm hoạt động môi sinh nhằm “Cứu Con Sông Irrawaddy!” như huyết mạch và cũng là cái nôi của nền văn hóa Miến Điện.
Ngày 19 tháng 09, 2011 là một dấu mốc đáng ghi nhớ, đây là lần đầu tiên có một cuộc hội thảo quy mô với hơn 400 người tham dự, trong số đó có cả các chức sắc của chánh phủ Miến Điện về “Những Thuận Lợi và Bất cập của Công trình Myitsone”.
Tiến Sĩ Tun Lwin, nguyên Tổng Giám Đốc Khí Tượng Thủy Văn phát biểu ông chống dự án đập vì hậu quả làm thay đổi khí hậu, gây bão lụt và mực nước sông trồi xụt.
Win Myo Thu, Giám Đốc Quản lý Phát triển Hệ Sinh Thái / EcoDev tại Rangoon cũng có quan điểm chống dự án đập. “Không còn hoài nghi là con đập sẽ hủy hoại môi trường và câu hỏi đặt ra là con đập ấy có thực sự mang lại lợi ích cho cho nền kinh tế Miến Điện hay không?” [8]
Cho dù phong trào chống đối con đập Myitsone gia tăng nhưng các công ty xây đập Trung Quốc và đối tác là các tay tài phiệt Miến vẫn cứ ngạo nghễ cho tiến hành công trình xây đập.
Theo Tổ Chức Môi Sinh Kachin có trụ sở ở Chiang Mai Thái Lan, thì tình trạng vi phạm nhân quyền và cả đàn áp cư dân địa phương đã luôn luôn diễn ra trên vùng xây đập. Cảnh quan thiên nhiên và di sản văn hóa của sắc tộc Kachin đang từng ngày bị hủy hoại, với 40 ngôi làng quanh vùng xây đập sẽ hoàn toàn bị ngập lụt và hơn 10 ngàn cư dân sẽ mất hết nhà cửa và bị cưỡng bách phải di dời. Chưa kể đến trường hợp nếu con đập bị vỡ do động đất thì sẽ là thảm họa cho hàng triệu cư dân hạ nguồn. Ai cũng biết Bắc Miến cũng như Vân Nam và các tỉnh tây nam Trung Quốc là vùng động đất đang hoạt động / seismically active zone) [9]
Tháng 6 năm 2010, sau Tập Cận Bình là Thủ Tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo / Wen Jiabao đã tới thăm giới lãnh đạo quân phiệt Miến Điện để “thảo luận về các vấn đề năng lượng” cũng có nghĩa là hai nước sẽ phải tiến hành nhanh và đẩy mạnh kế hoạch xây chuỗi đập thủy điện trên lãnh thổ Miến. Đập Myitsone trên sông Irrawaddy chỉ là một trong 7 dự án và ngoài Công Ty Đầu Tư Điện Lực Trung Quốc CPI thì nay đã có thêm một công ty xây đập lớn khác nữa cũng của Trung Quốc CDC / Datang International Power Generation Co. tham dự vào.
[ Tưởng cũng nên ghi lại ở đây là chính Công Ty Datang này đã nhận thầu xây cất hai con đập trong một chuỗi 11 dự án đập trên dòng chính Sông Mekong vùng Hạ Lưu đang gây rất nhiều tranh cãi: đập Pak Beng 1,320 MW và đập Xanakham 1,000 MW cả hai nằm trong lãnh thổ Lào.]
Cho dù gặp sự chống đối mạnh mẽ của sắc dân Kachin, cả đụng độ võ trang với cư dân địa phương chống cưỡng bách di tản, với cả các vụ nổ bom (17/04/2010) nơi công trình xây đập đã khiến 4 công nhân Trung Quốc chết và nhiều người khác bị thương, thì ngay sau đó cư dân sắc tộc Kachin bị quân đội Miến Điện bắt bớ, tra tấn và đàn áp dữ dội hơn. Kế hoạch cưỡng bách tái định cư / forcibly relocated và tiến độ xây đập vẫn không hề bị chậm lại.Vẫn Một Trung Quốc Cao Ngạo Không Chấp Nhận Đối Thoại
Rất sớm, từ 2006 đã có một tổ chức chánh trị mang tên Kachin Independence Organization / KIO lên tiếng chống lại dự án đập Myitsone. Đây không phải chỉ là tiếng nói giới hạn trong quần chúng vùng xây đập, ảnh hưởng của họ đã vươn xa tới thủ đô Rangoon, tới cả Bắc Kinh. Họ đã nhiều lần viết thư cho chánh phủ Trung Quốc cho rằng ảnh hưởng tác hại không thể hồi phục của con đập Myitsone là không thể chấp nhận được, đặc biệt trên vùng châu thổ Irrawaddy cũng là vựa lúa nuôi sống cư dân Miến Điện. KIO cũng đã tiên liệu khả năng bộc phát những cuộc tranh chấp vũ trang với cư dân địa phương nếu dự án vẫn cứ tiến hành. Nhưng như từ bao giờ, chánh quyền Bắc Kinh và cả các công ty xây đập Trung Quốc thì vẫn cao ngạo, họ không thèm trả lời và từ chối mọi cuộc đối thoại.
Cùng với nhóm KIO, đồng bộ từ thủ đô Rangoon cũng hình thành những nhóm môi sinh khác hoạt động rất tích cực – đặc biệt là có thêm cả tiếng nói hỗ trợ của lãnh tụ dân chủ đối lập rất uy tín, bà Aung San Sui Ky, cùng với các tổ chức môi sinh quốc tế có thanh thế như International Rivers Networks / IRN – đã khiến cho chánh phủ Miến Điện không thể không lắng nghe. Quyết định ngưng xây con đập Myitsone trên sông Irrawady của Tổng thống dân sự Thein Sein như vén bức màn đêm và mở ra một ngày mới trên đất nước Miến Điện bấy lâu chưa hề có sinh hoạt dân chủ. Đây được xem là một đối đầu can đảm của một chánh quyền dân sự còn rất non trẻ với người láng giềng khổng lồ Phương Bắc, thủ đoạn và nham hiểm với ảnh hưởng còn bao trùm trên đất nước Miến Điện trong nhiều thập niên. Quyết định ấy cũng tạo ra một “tiền lệ” rất ngoạn mục và đáng quan tâm đối với các dự án đập thủy điện của Trung Quốc, vượt cả ra ngoài lãnh thổ Miến Điện, để thấy rằng “tiếng nói của xã hội công dân” cho dù ở bất cứ đâu, cũng phải được lắng nghe.
Tiền lệ Myitsone đã “như một bài học” cho Việt Nam và các quốc gia khác trong Lưu Vực Sông Mekong và cũng để thấy rằng những con đập “Made in China” ấy cho dù ở đâu, nếu cứ tiến hành “với bất cứ giá nào” chỉ để phục vụ nhu cầu năng lượng và quyền lợi của Trung Quốc mà không kể gì tới những tàn phá về sinh cảnh môi trường và cả xáo trộn cuộc sống các cộng đồng cư dân trên các vùng xây đập là điều không thể chấp nhận được. Một câu hỏi được đặt ra là liệu đến bao giờ người dân Việt Nam – những cư dân Đồng Bằng Sông Cửu Long mới cất được tiếng nói, và tiếng nói ấy đến bao giờ mới được lắng nghe?
Và như vậy cũng dễ hiểu tại sao Trung Quốc vẫn chuộng ký kết hợp đồng làm ăn với các thể chế độc tài, trong đó có Việt Nam – nhân danh ổn định chánh trị nhưng là một thứ “chánh trị cơ hội”, chỉ tồn tại được bằng bạo lực đàn áp.
Bình Minh và Ngày Mới trên Sông Irrawaddy
Ngày 30 tháng 09, 2011, như một chuyển biến rất đáng ngạc nhiên trong tình hình chánh trị của Miến Điện, khi Tổng Thống dân sự Thein Sein đã ra lệnh hoãn công trình xây con đập thủy điện không lồ Myitsone của Trung Quốc trên sông Irrawady, từ bấy lâu đã gây rất nhiều tranh cãi. Với tổn phí ban đầu lên tới $US 3.6 tỉ MK có thể còn lớn hơn rất nhiều khi tăng công suất con đập lên tới 6,000 MW, và chỉ riêng hồ chứa cũng làm ngập một diện tích đất đai lớn hơn đảo quốc Singapore (khoảng 700 Km2), gây mất cân bằng hệ sinh thái vốn đã mong manh của lưu vực sông Irrawady, đồng thời cũng dìm sâu nhiều di tích đền đài như cái nôi của nền văn hóa Miến Điện.
Trong một thông điệp gửi Quốc hội Miến Điện, Tổng Thống Thein Sein cho rằng dự án đập Myitsone “đã đi ngược lại nguyện vọng của dân chúng”. Đây có thể coi là bước tiến đột phá trên đường “dân chủ hóa” biểu tượng nhất.
Tưởng cũng nên nhắc lại là cách đây hơn một năm, khi chế độ quân phiệt hỗ trợ cho cuộc bầu cử để đưa tới hình thành một chánh phủ dân sự nhưng ban đầu đã bị các giới chức Phương Tây đánh giá là “trình diễn giả tạo”. Nhưng qua thực tế, chánh quyền dân sự ấy đã có từng bước tiến tới dân chủ hóa như: bớt kiểm duyệt báo chí, nới lỏng việc xử dụng internet, và quyền được hội họp, thả các tù nhân chính trị và đáng kể hơn nữa là mở rộng bang giao với các nước đối tác khác nhằm phát triển một đất nước Miến Điện lạc hậu với nền kinh tế trì trệ từ nhiều thập niên qua. Tiếng nói của dân chúng bắt đầu được lắng nghe, kể cả từ các thành phần dân chủ đối lập.
Sau nhiều năm bị giam cầm và cả 7 năm quản thúc tại gia, lãnh tụ dân chủ đối lập bà Aung San Suu Kyi được thả ra. Ngay sau đó, từ tháng 8 năm 2011, bà đã mạnh dạn lên tiếng kêu gọi phong trào quần chúng hãy bảo vệ con sông Irrawaddy cùng với yêu cầu phải tái lượng giá ảnh hưởng môi sinh / Environmental Impact Assessment/ EIA của toàn dự án con đập Myitsone. Ảnh hưởng tiếng nói của bà Aung San Suu Kyi đã gây tiếng vang rộng rãi trên diễn đàn quốc tế. Bà cũng đã mau chóng tỏ ý hoan nghênh và hậu thuẫn quyết định hoãn xây con đập Myitsone của Tổng Thống Thein Sein và cho rằng mọi chánh quyền nên lắng nghe tiếng nói của người dân. Các nhà hoạt động môi sinh thì hân hoan, coi đây một thắng lợi.
Giới quan sát am hiểu tình hình cho đây như một khúc rẽ mới “như một cử chỉ quay lưng lại với Bắc Kinh” và giúp Miến Điện thoát khỏi vòng kiềm tỏa bấy lâu của Trung Quốc. Nó cũng có tác dụng xoa dịu nỗi bất mãn của dân chúng đặc biệt là với các sắc dân thiểu số Kachin sẽ bị tác hại trực tiếp bởi chuỗi dự án đập thủy điện trên sông Irrawady.
Các nhóm hoạt động môi sinh thì vẫn hy vọng rằng chánh quyền Rangoon sẽ giữ lời cam kết ấy, ít nhất là trong nhiệm kỳ 5 năm của vị Tổng Thống đương nhiệm, [bắt đầu từ tháng 3, 2011 tới năm 2015].
Nhưng cũng để thấy rằng “Bài học Myitsone” chưa thể gọi là qua trang và dừng lại ở đây vì đang có áp lực rất mạnh mẽ từ Bắc Kinh để đảo nghịch quyết định đột biến này. Ngày 14 tháng 10, 2011 tức là 2 tuần lễ sau ngày thông báo chính thức của chánh quyền Rangoon ra lệnh ngưng xây đập thì dân làng Kachin vẫn chưa thấy có biểu hiện nào là dự án bị ngưng lại.
Theo thông cáo báo chí của KDNG / Kachin Development Networking Group [14/10/2011] cho biết thì mọi trang thiết bị vẫn còn nguyên vẹn tại chỗ, công trình phá mỏ vàng cho hồ chứa đập Myitsone vẫn cứ tiếp tục. Công nhân Trung Quốc vẫn tiến hành cuộc khảo sát trắc địa phía nam con đập, và công trình làm con đường tiếp vận nối Myitsone tới thị trấn Tenchong biên giới Trung Quốc thì vẫn tiến hành. Mặc dầu đã có lệnh đình hoãn từ chánh quyền Rangoon, nhưng ban tham mưu Công Ty Đầu Tư Điện Lực Trung Quốc / CPI đã ra lệnh giữ nguyên các trang thiết bị tại chỗ vì dự án sẽ tiếp tục khi mùa mưa qua đi.
Trước thực tế ấy, dân làng Kachin không thể không hoài nghi về quyền hạn thực sự của Tổng Thống họ đối với các Đại Công Ty Xây Đập Trung Quốc. Tin vui đến với họ cũng thật ngắn ngủi và họ vẫn cảm thấy lo ngại về một tương lai bất chắc. Để thấy rằng, giữa ánh sáng và bóng tối, họ vẫn phải tiếp tục cuộc tranh đấu, nếu không muốn bóng đêm sẽ lại phủ chụp, bởi vì cánh tay của Bắc Kinh thì rất dài kết hợp với quyền lợi của giới quân phiệt Miến Điện vẫn là một sức cản đáng sợ.
Qua “Bài học Myitsone”, ý dân Miến Điện thì đã rất rõ, nhưng ý đồ của “thiên tử” Trung Quốc thì chưa biết ra sao vả người viết sẽ tiếp tục tường trình và theo dõi.
Một Bất Ngờ và Bài Học Đắt Giá cho Trung Quốc
Khi ký kết được các thỏa ước với những chánh quyền độc tài như với chánh phủ quân phiệt Miến Điện, như từ bao giờ Trung Quốc hết sức vững tâm trong công việc hợp tác làm ăn với các bộ máy đàn áp. Do đó quyết định ngưng xây con đập Myitsone phải nói là vô cùng bất ngờ, như một đòn giáng choáng váng đối với Bắc Kinh.
Trong cuộc phỏng vấn với Tân Hoa Xã, Lu Qizhou Chủ Tịch Tập Đoàn Đầu Tư Điện Lực Trung Quốc CPI, nói rằng ông ta đã “hoàn toàn sửng sốt” về quyết định của Rangoon. Chính cái triết lý làm ăn bấy lâu tưởng là thành công của Trung Quốc chỉ dựa vào sức mạnh đàn áp của nhà cầm quyền địa phương bất kể tới tiếng nói và mối quan tâm của xã hội dân sự đã tạo nên sức mạnh nối kết của các phong trào quần chúng. Đứng trước tình hình mới như “một sự đã rồi” này, Trung Quốc đã phải tạm thời xuống giọng nói tới những cuộc thảo luận công khai – open discussions. Phát ngôn viên Bộ Ngoại giaoTrung Quốc Hong Lei đã phát biểu: “Các vấn đề chánh đáng liên quan tới dự án con đập nên được giải quyết qua các cuộc tham khảo hữu nghị giữa hai phía.”
Tiền lệ Myitsone đã đặt Trung Quốc trước những mối lo. Bởi vì còn bao nhiêu dự án làm ăn khác giữa Trung Quốc và Miến Điện liệu ngày mai sẽ ra sao?
Điển hình là công trình chiến lược “Đường Ống Dẫn Dầu CNPC – China Myanmar Oil & Gas Pipeline” đã được Bắc Kinh âm thầm ký kết với chánh quyền quân phiệt Miến Điện vào tháng 4 / 2006 một thỏa ước xây dựng ống dẫn dầu từ cảng Sittwee vịnh Bengal vượt đồi núi băng qua các vùng sắc tộc đông dân cư để lên thẳng tới thủ phủ Côn Minh Vân Nam thay vì phải diệu vợi đi qua eo biển Malacca. Ảnh hưởng phá hủy của đại công trình này trên môi sinh và đời sống của cư dân phải di dời ra sao là điều chưa được xét tới. Chắc chắn cũng sẽ gặp sự chống đối của nhân dân Miến Điện.
Nhân Quyền và Những Con Đập “Made in China”
Bắc Kinh hiện đang là chủ nhân các đại công ty xây đập lớn nhất thế giới. Chỉ mấy thập niên trước đây thôi, một Trung Quốc còn non yếu phải cần tới yểm trợ kỹ thuật xây đập của các công ty ngoại quốc khi thực hiện dự án đập Tam Hợp (Three Gorges projects). Cũng ngay từ lúc đó, Trung Quốc đã rất khôn ngoan có ngay một chiến lược “thu hút kỹ thuật cao” của Tây Phương vào Trung Quốc trong một thời gian ngắn với giá rẻ. Họ yêu cầu các công ty đối tác ngoại quốc phải chấp nhận cho sản xuất phân nửa những giàn turbines phát điện ngay trong nội địa Trung Quốc với sự tham gia trực tiếp của các kỹ sư và công nhân kỹ thuật người Hoa. Với mối lợi nhuận trước mắt hàng tỉ Mỹ kim, các đại công ty Tây Phương như ABB, Alstom, General Electric and Siemens đã dễ dàng chấp nhận giải pháp này – cũng có nghĩa đồng ý chuyển giao quy trình công nghệ xây đập cho Trung Quốc. Và các nhóm kỹ sư trẻ Trung Quốc đã không bỏ lỡ cơ hội, rất mau chóng học hỏi và làm chủ các khâu kỹ thuật xây đập của ngoại quốc và rồi không lâu sau đó, Trung Quốc đã có thể tự chế tạo và sản xuất mọi trang bị từ A tới Z cho kỹ nghệ xây đập ngay tại Hoa Lục.
Để rồi ngày nay, Trung Quốc vượt qua các bậc thầy, thống lĩnh thị trường xây đập toàn cầu. Nhưng ngoài vấn đề Hoa Lục làm chủ được kỹ thuật xây đập, nhiều người đã tự hỏi bằng cách nào Trung Quốc đạt được những thành tựu “xuất cảng kỹ nghệ xây đập” nhanh như vậy sang rất nhiều quốc gia khác ?
Giám đốc chánh trị Mạng Lưới Sông Thế giới (IRN/ International River Network), Peter Bosshard đã tìm được lời giải đáp. Đó là, trong khi các đối tác Tây Phương tuy có nhiều kinh nghiệm và kỹ thuật cao hơn nhưng cũng vì biết quan tâm nhiều hơn tới ảnh hưởng môi trường và tác động xã hội của từng con đập nói chung vì “tôn trọng nhân quyền” họ đã rất “dè dặt và bảo thủ” , trong khi đó phía Trung Quốc không có cùng mức độ quan tâm như vậy nếu không muốn nói là “bất chấp” và Bắc Kinh chưa bao giờ bỏ lỡ cơ hội thủ lợi, cứ thế nhận đấu thầu mọi dự án cho dù đa số không đáp ứng được những tiêu chuẩn môi sinh quốc tế. [8]
Cũng theo IRN / Mạng Lưới Sông Quốc Tế thì Myitsone chỉ là một trong số hơn 300 dự án đập thủy điện lớn trên các con sông huyết mạch của 78 quốc gia mà các công ty xây đập Trung Quốc có trực tiếp liên hệ: như sông Irrawaddy và Salween ở Miến Điện, Sông Mekong, con Sông Nile / Sudan và con Sông Omo / Ethiopa… Tất cả các dự án đập vĩ mô ấy có một mẫu số chung, giống như trường hợp con đập Myitsone Miến Điện là thiếu tiêu chuẩn lượng giá ảnh hưởng môi sinh / EIA, do đó không ngạc nhiên khi thấy bất cứ ở đâu Trung Quốc đã gặp phải sự chống đối mạnh mẽ của các cộng đồng cư dân địa phương do “cái giá quá cao về xã hội và môi sinh” mà họ phải gánh chịu khi mà mối lợi chính thì không phải phía quốc gia họ mà lại về tay các đại công ty xây đập nhà nước Trung Quốc. [7]
Nhưng rồi ra, trước công luận thế giới, với một Trung Quốc hối hả đi tìm lợi nhuận, không thể nói là hoàn toàn vô can trước tác hại của không chỉ những con đập thủy điện mà cả những dự án khác như khai thác Bauxite trên Tây Nguyên Việt Nam, Đường Ống Dẫn Dầu ở Miến Điện, phá rừng lấy gỗ và tận khai thác nguồn khoáng sản ở Phi Châu… hầu như trên khắp thế giới, quốc gia nào cũng có Trung Quốc trực tiếp đầu tư vào. Những gì tệ hại đang diễn ra trong Lưu Vực Lớn Sông Mekong (GMS/ Greater Mekong Subregion); đã từng được báo chí đã đưa ra một ví von rất gợi hình là Trung Quốc đang liều lĩnh bước đi trên trên những tảng băng mỏng / China walks on thin ice. Một hình ảnh nước lớn Trung Quốc chắc chắn sẽ xấu xí hơn nếu cứ tiếp tục với những công trình xây dựng thiếu bền vững như vậy trên khắp hành tinh này.
Hủy hoại môi trường sống, cho dù ở đâu và bao giờ cũng là một hình thái khác của bạo động và vi phạm nhân quyền. Và cũng rõ ràng là nếu không có dân chủ thì cũng không thể có một hệ sinh thái khỏe mạnh và trong lành. NGÔ THẾ VINH
Nếu biết rằng em đã lấy chồng.
Anh về bắt vịt nhổ sạch lông.
Tiết canh làm được vài ba bát.
Uống chén rượu cho giải nỗi lòng.
Nhậu heo sữa với húng mùi.
Gắp được hai miếng bùi ngùi nhớ em.
Chẳng ra anh đứng một mình.
Để cho lũ chó yên bình anh vô.
Anh vô đụng phải ông bô.
Ông cầm cây gậy miệng hô: "cút mày".
Em tưởng giếng sâu nối sợi dây dài.
Ai ngờ giếng cạn mai em thuê người đào.
Thanh niên 28 tuổi, đọc thân vui tính, khoẻ mạnh. Không rượu chè bài bạc chích choác, yêu màu tím, tôn thờ sự thủy chung, hơi lãng mạn, có khả năng tự chăm sóc bản thân và người khác, ăn ngủ luôn đúng giờ giấc, sống rất kỷ luật. Không lang thang trên mạng, không chít chát hay chơi game trực tuyến, không bị Webcam lôi cuốn, không tham gia cá độ. Đã sống theo đúng thời khoá biểu trên 6 năm và sẽ tiếp tục như thế cho đến hết cuộc đời còn lại. Muốn quen biết các cô gái dịu hiền, đẹp, có lòng vị tha... Ai mến xin thư về cho: Trần Bất Lương , khu tù chung thân, trại giam Hoả Lò
|
0 comments:
Post a Comment