Wednesday, March 14, 2012

Bài viết hay(263)

Liêm sỉ và văn hóa từ chức
Đã hai kỳ báo liên tiếp, tôi đề cập đến “vụ án Tiên Lãng”, trong bài này đáng lẽ tôi chuyển sang một đề tài khác cũng đang làm dư luận bàn tán khá sôi nổi. Cụ thể như những biện pháp chống kẹt xe ở hai thành phố lớn là Hà Nội và Sài Gòn có mang lại kết quả gì không. Chuyện của những thứ “chuyện nhỏ nhưng rất phổ biến” là con trai quan chức kiểm lâm phá rừng và buôn gỗ lậu. Chuyện “cái chết made in Sài Gòn”, chết dưới hố gas, chết dưới cống đào đường. Chuyện niềm tin của người dân và ngân hàng… có vô số chuyện để bàn. Nhưng chuyện Tiên Lãng vẫn chưa đến hồi kết, người dân vẫn còn đang nóng lòng chờ đợi những kết quả điều tra chính thức, định rõ tội trạng của từng đơn vị, từng cá nhân phía chính quyền cũng như phía gia đình ông Vươn cùng những “biện pháp xử lý” của chính phủ và tòa án. Trong khi đó, vẫn còn những chuyện đáng tiếc, có thể nói là ngang tai trái mắt vẫn xảy ra. Tôi nghĩ bạn đọc vẫn cần biết những tin tức này.
Sau bài viết về “Người dân còn chờ đợi gì về vụ Tiên Lãng” ngày 11-2-2012, tôi nhận được một cái e mail của bạn đọc doannguyen37@xxx ở Mỹ góp ý kiến về bài viết này. Xin trích nôi dung chính của lá thư:
“Tôi biết địa chỉ mail của ông qua một người bạn ông chuyển bài của ông cho tôi đọc, cũng bình thường như những người bạn khác của ông và những diễn đàn khác đã từng chuyển bài và tin tức hot nhất cho anh em cùng thưởng thức. Trong bài mới đây của ông đoạn dưới cùng, ông kể hai chuyện khá… kỳ cục, dưới tiêu đề: Hai chữ nếu lẩm cẩm bên lề chuyện Tiên Lãng. Nhưng theo tôi, đó là thứ chuyện lẩm cẩm khá độc đáo.
Tôi xin có ý kiến về 2 chuyện này.
- Ông Vươn xứng đáng làm quan to hơn nữa
Chuyện thứ nhất ông kể, người cháu ông có sáng kiến: Cậu ơi, tối hôm qua, cháu suy nghĩ, nếu cháu mà có quyền thì cháu sẽ cho ông Vươn làm chủ tịch huyện Tiên Lãng sau khi thi hành xong án phạt. Bởi xét về thân thế lý lịch thì hoàn toàn yên tâm…. Và ông cho rằng: Thằng này chỉ bàn chuyện vớ vẩn. Nó có vớ vẩn hay nó cũng có lý của nó, tùy bạn. Vậy tôi xin cho thằng cháu ông điểm 8/10. Xin bật mí, tôi đã từng đi dạy học và điểm tối đa tôi cho học trò học văn, tối đa là 6/10 thôi đấy. Cháu ông rất có lý. Cả cái đất Tiên Lãng khó tìm ra một người nào xứng đáng là chủ tịch huyện như ông Vươn. Theo tôi thì ông Vươn còn có thể làm chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố Hải Phòng nữa ấy chứ.
Cứ thử xét xem một thái độ nhỏ trong ý thức thôi cũng đủ thấy ông Vươn, chỉ là một công dân làng xã mà còn biết tự nhận lỗi mình làm sai ở chỗ nào. Trong đơn viết mời luật sư bào chữa cho mình ngày 31/1/2012, ông Đoàn Văn Vươn viết: Tôi đủ trình độ hiểu biết nhận thức rõ về sai phạm của bản thân, song tôi muốn bào chữa rõ cho tôi về nguyên nhân sai phạm.
Trong khi đó các quan chức vụ Tiên Lãng thì chỉ tự kiểm điểm rằng nguyên nhân mắc lỗi của họ là donhận thức đơn giản sự việc, tức là gián tiếp chối bỏ hết sai phạm.
Còn xét về thực tế những việc của ông Vươn đã đổ mồ hôi, tim óc, công sức và cả máu nữa đã làm cho mảnh đất quê hương thì hầu như các quan chức từ Ban Bí Thư đến UBND Thành Phố Hải Phòng chưa ai làm được. Vì thế nếu cháu ông nằm mơ cho ông Vươn làm chủ tịch TP Hải Phòng thì tôi cho thêm 1 điểm nữa (9/10).
Điểm 10/10, nếu cháu ông bỏ hàng chữ sau khi thi hành xong án phạt mới được làm chủ tịch huyện thì bài luận văn ấy hay hơn nhiều. Cháu ông nên suy tư là ông Vươn chẳng có tội tình gì hết. Đó chỉ là hành động tự vệ chính đáng trước một thế lực kẻ cướp tấn công bằng đủ loại vũ khí giết người. Theo ý tôi thì ngay sau khi Thủ Tướng Chính Phủ Việt Nam có kết luận điều tra chính thức, hãy mời ngay ông Vươn làm chủ tịch huyện Tiên Lãng, một thời gian quen việc sẽ làm chủ tịch TP Hải Phòng. Nếu có ông chủ tịch như thế, tôi tin rằng thành phố được mệnh danh là Hoa Phượng Đỏ nhưng lại rất phức tạp kia sẽ an bình hơn, người dân sẽ tin tưởng hơn là những ông quan bây giờ và có thể cả những ông sau này được bầu hay chỉ định cũng không thể được dân tín nhiệm bằng ông Vươn.
Nếu làm được như thế thì không những chính quyền Việt Nam đã tiến môt bước khá dài và theo chữ nghĩa các báo Việt Nam thường dùng thì chính quyền VN đã đột phá mạnh mẽ trong việc cải tổ hành chánh và nhân sự, làm trong sách bộ máy chính quyền. Nhiều nước chậm tiến sẽ phải nể phục và noi gương. Ông nghĩ sao?

Văn hóa từ chức không dễ làm

Còn chuyện ông kể về văn hóa từ chức, tôi xin nhắc lại nguyên văn: Chuyện thứ hai là khi ngồi ở quán café Bean, một ông bạn ở nước ngoài về, nhân bàn ngang tán dọc về chuyện này, bỗng tủm tỉm cười và nói: Nếu tớ làm Bộ Trưởng Bộ Tài Nguyên Môi Trường ở Việt Nam hoặc làm Chủ Tịch TP Hải Phòng thì tớ sẽ có một quyết định giản dị nhưng vô cùng hấp dẫn, các cậu sẽ phải cúi đầu kính phục và nhiều ông Bộ Trưởng sẽ phải giật mình. Anh em ngồi quanh tròn mắt nhìn cho rằng anh ta nói dóc. Anh ta ậm ọe ra cái điều quan trọng rồi mới phát ngôn: Giản dị là tớ xin từ chức, có thế thôi. Anh em cười xòa, một ông ở Việt Nam chắp tay vái: Ông mang cái văn hóa từ chức ấy về Mỹ mà xài, chúng tớ không quen với thứ văn hóa ấy.
Tôi tin đây là chuyện thật, chứ không phải chuyện phịa. Mà dù thật hay phịa cũng chẳng quan trọng gì, miễn là nói được cái ý chính. Lối viết của ông xưa nay vẫn vậy, đùa đấy nhưng thật đấy, lẩm cẩm mà tinh tế, nói thật nhé, đôi khi còn quái nữa.
Tôi chưa thấy báo nào, chưa có ai lên tiếng về trách nhiệm của Bộ Tài Nguyên Môi Trường (TNMT) hoặc của cái Ủy Ban TNMT TP Hải phòng. Mà thật ra trách nhiệm của cơ quan Tài Nguyên Môi Trường từ Bộ đến Thành Phố trong vụ này rất lớn. Người bạn ông tinh ý và chắc có ý thức về pháp luật, lại quen với thứ văn hóa tự do nên đã chú ý ngay tới vấn đề này và đặt vấn đề xa hơn. Nếu tớ làm Bộ Trưởng Bộ Tài Nguyên Môi Trường ở Việt Nam hoặc làm Chủ Tịch TP Hải Phòng thì tớ sẽ từ chức. Có lẽ người bạn ông cũng thừa biết rằng ở Việt Nam cái thứ văn hóa từ chức không có trong sách vở. Cái thứ văn hóa không trường lớp nào dạy, không có tiêu chí nào như khi gặp trường hợp nào anh nên từ chức, rất khó mà áp dụng được trong cuộc sống của những người nhận lãnh trọng trách được giao phó. Nhất là những người đang có trọng trách thường đi đôi với quyền hành, bổng lộc trong tầm tay. Ngồi ký cũng có tiền, gật đầu hay lắc đầu cũng có tiền… thì sự từ chức là một việc làm rất khó khăn. Có khi mình muốn từ chức cũng không được. Đàn anh cản, đàn em xin anh đừng về, vợ con can ngăn, anh mà từ chức là tôi ly dị, anh có biết phải đầu tư vào cái ghế ấy bao nhiêu công của không, mới chỉ lấy lại vốn nên chưa bỏ được, con cái khẩn cầu bố phải ngồi lại cho chúng con làm ăn chứ. Và nguy nhất là lo kẻ thù lâu nay sẽ ra tay trả hận… Còn họ hàng, làng xóm, anh em thì cứ nghĩ từ chức là thất sủng nên coi thường. Đúng không ông? Mong được bàn tiếp với ông trong thư khác. Chúc ông khỏe”.
Ôi, có cả trăm thứ “khách quan” nó chi phối đến cái sự từ chức, mặc dù anh có chút lòng tự trọng và có chút liêm sỉ. Vậy xin cùng bạn đọc thử bàn về cái văn hóa từ chức này xem nó xấu tốt ra sao.

Muốn có văn hóa từ chức phải có lòng tự trọng
Vâng, điều kiện đầu tiên của một người có được thứ văn hóa từ chức là lòng tự trọng. Nói rộng hơn, đôi khi đó còn là sự liêm sỉ. Tuy nhiên, không phải sự từ chức nào cũng cần đến liêm sỉ. Có những người được giao nhiệm vụ nhưng khi thi hành, người đó nhận thấy công việc quá với khả năng mình, ông ta xin từ chức, dành chỗ cho người khác xứng đáng hơn. Đó là sự từ chức rất đáng kính trọng.
Có những sự từ chức vì nhận thấy sự việc đáng tiếc xảy ra, mình chỉ liên quan một phần trách nhiệm rất nhỏ cũng xin từ chức. Hãy nhìn ra các nước láng giềng Á châu. Môt thí dụ như vài năm về trước, một tai nạn xe lửa đâm nhau ở Nhật, ông Bộ Trưởng Giao Thông Nhật Bản nhận lỗi và xin từ chức ngay. Mới đây thôi, ông Ryu Matsumoto, Bộ Trưởng Bộ Tái Thiết Nhật, chỉ do lỡ lời với dân, mà phải nghẹn ngào cất lời xin lỗi về những phát biểu của ông có thể làm tổn thương tình cảm của các nạn nhân thảm họa. Gần đây, báo chí đưa tin Thủ Tướng Nhật Bản Yukio Hatoyama từ chức vì không thực hiện được cam kết di dời căn cứ quân sự Mỹ Futenma ở đảo Okinawa và vấp phải sự phản đối mãnh liệt của người dân.
Mọi người chắc còn nhớ chuyện Ngoại Trưởng Hàn Quốc Yu Myung-hwan đã công khai xin lỗi và quyết định từ chức vì có nhiều lời tố cáo về việc đã tuyển mộ con gái ông cho một vị trí được trả lương cao trong Bộ Ngoại Giao. Cũng tại xứ sở kim chi này, cựu Tổng Thống Roh Moo Hyun đã tự sát khi có những nghi ngờ người gia đìnhông liên quan đến một vụ tham nhũng lớn. Trước đó, ông đã cúi đầu xin lỗi nhân dân Hàn Quốc vì đã để những sự việc đáng tiếc xảy ra.
Đó rõ ràng là hành vi vừa mang tính văn hóa, vừa là lương tri và cũng vừa là đạo đức của một quan chức do dân, của dân, vì dân.
Nhìn ra thế giới, ở nhiều nước, việc từ chức được xem là chuyện bình thường. Họ quan niệm, trách nhiệm công việc của ai đến đâu thì phải làm tốt đến đó. Ai không đảm đương được hoặc để xảy ra những hậu quả, làm mất lòng dân thì vì lòng tự trọng, họ sẵn sàng xin từ chức. Và điều này đã trở thành một nét văn hóa - “văn hóa từ chức” - trong sinh hoạt chính trị của nhiều nước. Văn hóa từ chức là chuyện không phải hiếm, là chuyện xưa như trái đất. Nhưng ở Việt Nam, việc một vị Chủ Tịch UBND, Bí Thư Tỉnh Ủy dám mạnh dạn từ chức khi thấy mình có thiếu sót lại là chuyện “xưa nay hiếm”, chưa từng xảy ra.Thà bị cách chức chứ đừng nói đến chuyện từ chức. Việc từ chức là một việc làm có thể coi là “xa xỉ phẩm”. “Văn hóa từ chức” là một khái niệm hoàn toàn mới mẻ, xa lạ.
Ở chỉ có “văn hóa cách chức” như sau Tết Nhâm Thìn, Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng đã quyết định cho thôi chức hai trường hợp - một là ông Đào Văn Hưng, chủ tịch EVN; và hai là ông Dương Chí Dũng, chủ tịch Vinalines.

Lý do không dám từ chức là gì?
Nguyên nhân từ chức rất đa dạng và “thầm kín” như tôi đã trình bày ở phần trên. Người cầm quyền có thể mời, khẩn khoản mời, hoặc ra sức cố thuyết phục người từ chức đừng hoặc khoan từ chức, nhưng không thể bác bỏ, không cấm đoán được sự từ chức. Quyền quyết định là ở người từ chức. Ông nhất định từ chức thì không ai giữ được. Chỉ sợ ông “nửa ở nửa về” thôi.
Đã có rất một số vị đi tìm nguyên nhân tại sao ở Việt Nam người ta lại sợ từ chức đến thế. Như Tiến Sĩ Nguyễn Sĩ Dũng, Phó Chủ Nhiệm Văn Phòng Quốc hội. Ông nói: “Trước đây, trong cơ chế quan liêu bao cấp, cơ hội của đời người chỉ tập trung vào một dãy ghế, cơ hội nhiều hơn ở những ghế cao hơn. Chúng ta đang chuyển sang cơ chế thị trường nhưng giai đoạn đầu, cơ hội do thị trường mang lại chưa nhiều. Chức tước vẫn đưa lại nhiều cơ hội hơn. Do vậy, họ cố bám lấy cái ghế đến suốt đời, rồi quyền lợi đi theo...
Tại nhiều nước, những nhân vật có tiềm năng kinh tế sau đó mới đi vào con đường chính trị ví dụ Thủ Tướng Italy, Thủ Tướng Thái Lan… Với họ việc làm chính trị như một sự thôi thúc chứ không phải lẽ kiếm sống. Họ đã có nền tảng kinh tế rất tốt, chuyện từ chức với họ sẽ dễ dàng hơn rất nhiều.
Còn ở Việt Nam, không khéo người ta làm chính trị vì mục đích kinh tế, điều đó dẫn tới tệ tham nhũng. Ban đầu anh là lãnh đạo tốt nhưng quyền lực có thể làm tha hoá con người. Khi lên hàm Thứ Trưởng anh có ôtô. Ngoài ra còn chuyện ơn huệ, lại quả”.
Trên tờ báo tuanvietnam.net, ông Tô Văn Trường đã nhận định: “Hầu hết quan chức chỉ biết làm quan, không có nghề gì khác (dù nhiều người có bằng cấp cao), nếu thôi chức vụ thì không biết kiếm sống như thế nào. Một số người vốn có nghề chuyên môn, nhưng từ khi làm quan chức đã bỏ nghề, nay trở lại nghề cũ thì không làm được nữa hoặc ngại làm vất vả mà thu nhập không thể bằng lương bổng quan chức. Trong khi đó, ở các nước phát triển, quan chức chính trị trước khi giữ chức vụ, nhất là ở cấp cao, đều có học (thực), có nghề như làm luật sư, nhà báo, nhà văn, nghiên cứu khoa học, giảng dậy, kinh doanh, v.v.. Nếu từ chức, họ có thể làm tiếp công việc cũ, hoặc tìm nghề mới, nhiều khi có thu nhập còn cao hơn lương khi làm quan chức”.
Với những lập luận trên, nhiều vị như ông Tô Văn Trường cho rằng “nếu thôi chức vụ thì không biết kiếm sống như thế nào” tức là từ chức thì vợ con làm lễ treo niêu. Tôi không đồng tình với ý kiến này. Thật ra các quan chức làm chừng vài năm, nếu là người chạy chọt, mua quan bán chức, nói gọn là tham quan thì khi họ từ giã quan trường, có trở về làm thường dân thì họ vẫn có thể “làm cha thiên hạ”. Họ đã có năm bảy cái biệt thự đứng tên người khác hoặc vài cái siêu thị, nhà hàng, một cái công ty tổ chảng, có khi còn làm chủ ngân hàng chưa biết chừng, tiền gửi ngân hàng nước ngoài vô số kể. Xin đừng lo họ “thất nghiệp”. Thứ “văn hóa thất nghiệp” chỉ dành cho những anh công dân rách như cái mền mà thôi. Các ông này sợ từ chức và không có can đảm từ chức chỉ vì cái túi tham không đáy. Khi mới làm quan chỉ mong có cái biệt thự, leo lên cái xe hơi. Nhưng làm lâu lại muốn có những thứ khác, có 1 cái biệt thự hay 1 cái siêu thị muốn có 2 có 3, có vài trăm ngàn đô muốn có vài triệu. Có cái xe hơi lại muốn chơi sang mua máy bay hoặc như ông chủ hãng Kìm ở Việt Nam muốn chơi du thuyền… Đó là lý do chính.
Tôi chỉ có thể đồng ý với ông: “Từ chức là một nét văn hóa đẹp, đáng kính trọng, thể hiện sự tự trọng và nhân cách của con người. Thiếu vắng hiện tượng từ chức đích đáng không phải chỉ đáng tiếc mà là đáng buồn và xấu hổ”.

Ông bí thư Thành Ủy Hải Phòng nói ngược

Về “văn hóa xấu hổ” tôi đã có dịp bàn đến trong bài ngày 17-9-2011. Xin trở lại với vài diễn biến mới nhất trong vụ Tiên Lãng đang om xòm.
Ngày 21-2, Thường Vụ Thành Ủy Hải Phòng đã đề nghị cách chức Chủ Tịch huyện Tiên Lãng đối với ông Lê Văn Hiền, cách chức Phó Chủ Tịch huyện với ông Nguyễn Văn Khanh vì sai phạm trong thu hồi, cưỡng chế đất của gia đình ông Vươn. Ông Bùi Thế Nghĩa, Bí Thư Huyện Ủy, ông Hoàng Đăng Chinh, chỉ huy trưởng Ban Chỉ Huy Quân Sự huyện và ông Lê Văn Mải, Trưởng Công An huyện đều bị kỷ luật cảnh cáo. Thường Vụ Thành Ủy yêu cầu cá nhân gây hậu quả do quyết định hành chính của mình xin lỗi và chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật.
Nhưng trước đó, sáng 17-2, bí thư Thành uỷ Hải Phòng Nguyễn Văn Thành đã đến “nói chuyện thời sự” tại CLB Bạch Đằng (nơi sinh hoạt của các cán bộ trung cao cấp nghỉ hưu), nội dung chủ yếu là “giải thích” vụ cưỡng chế đầm tôm nhà ông Vươn.
Theo ông Hoàng Châu (83 tuổi) - nguyên cán bộ tuyên giáo Thành Ủy Hải Phòng cho biết, trong phát biểu, ông Thành nói ông Vươn sai. Bí Thư Hải Phòng cho rằng báo chí nói sai, ghép ảnh chỗ khác vào, chứ không có chuyện xe ủi phá nhà ông Vươn. Ông Châu phẫn nộ: “Tôi lập tức phản ứng là lên bục phát biểu 4 vấn đề: Bí Thư nói không đúng kết luận của Thủ Tướng. Nói sai về báo chí. Việc nói như vậy và coi thường chúng tôi, những cán bộ trung cao cấp nghỉ hưu. Với tư cách một đảng viên, tôi đề nghị Bộ Chính Trị đình chỉ công tác Bí Thư Thành Ủy của đồng chí Nguyễn Văn Thành”.
Ngoài ra còn các ông Nguyễn Khánh Chuân (87 tuổi) - nguyên cán bộ Liên Đoàn Lao Động thành phố cho biết: “Đúng ra ông Thành phải thừa nhận sai trái của cấp dưới và có cách xử lý. Ban Thường Vụ Thành Ủy cần nhận rõ trách nhiệm gì, trách nhiệm đến đâu...”.
Còn ông Phạm Quang Ngọc (83 tuổi) cho biết, bất bình của ông Châu và các ông khác trong CLB Bạch Đằng cũng là của ông và nhiều người khác. Vì thế nên ngày 18-2, các viên chức lão thành, người có công sinh hoạt trong CLB Bạch Đằng gồm ông Nguyễn Cục - đại tá quân đội về hưu (84 tuổi), ông Nguyễn Viết Phúc - nguyên Phó Bí Thư Huyện Ủy Kiến An (84 tuổi) và ông Lê Văn Thinh - đại tá quân đội về hưu (78 tuổi), đã có báo cáo, đề nghị gửi Tổng Bí Thư, Chủ Tịch Nước, Thủ Tướng Chính Phủ, Chủ Tịch Quốc Hội, Thường Trực Ban Bí Thư, bày tỏ sự bất bình của các thành viên CLB đối với ông Nguyễn Văn Thành - Bí Thư Thành Ủy Hải Phòng trong việc thông tin trái với kết luận của Thủ Tướng về việc cưỡng chế thu hồi đất tại huyện Tiên Lãng.
Không biết ông Bí Thư Thành này dựa vào thế lực nào mà uống thuốc liều, đã không phổ biến kết luận của cấp trên, còn liều mạng “cố đấm ăn xôi” nói ngược, dùng đúng chữ phải nói là vô cùng ngoan cố. Không từ chức, vẫn thích tại chức đã là một điều lạ và có điều lạ hơn nữa ông vẫn là nhân vật cầm đầu điều tra những sai phạm mà chính ông cùng cơ quan của ông mắc phải. Người dân biết chỉ còn biết trơ mắt nhìn.
Chuyện lạ và tàn nhẫn thứ hai là vụ “kẻ xấu” lại phá tan hoang căn lều của mẹ con bà Vươn dùng làm nơi ở tạm. Bà Nguyễn Thị Thương (vợ ông Đoàn Văn Vươn) đau xót cho biết: Ngày 17-2, hai chị em bà đi vắng, không biết “kẻ xấu” nào đã đột nhập vào khu vực đầm của gia đình bà để phá hoại. Bàn thờ, bát hương, ảnh người quá cố đều bị đập nát. Cái lều này nằm trong khu vực này, hàng ngày chính quyền vẫn đang cắt cử một tổ công an xã thường trực bảo vệ khu đầm của gia đình bà Thương mà “kẻ xấu” vẫn ngang nhiên hành động, thế mới “lọa”. Kẻ xấu đó là ai vậy? Trộm cắp đâu có ngu mà chui vào cái lều tàn tạ như thế! Chịu thua cái sự lì lợm kinh khủng khủng này. - (Văn Quang)
24-2-2012
Văn hóa “cà chớn”
Tôi ngần ngại mãi khi viết đến hai chữ “cà chớn” này. Bởi cà chớn khó định nghĩa như thế nào cho chính xác. Cà chớn không hề có nghĩa là láo lếu, cũng không có ý nghĩa là xấu xa, nhảm nhí. Thí dụ bạn hẹn một người bạn đi uống cà phê, nhưng anh ta đến muộn, bạn phán là “thằng cà chớn”. Vậy không có nghĩa là anh bạn kia là một người bạn xấu. Hoặc bạn nghe một người bạn nào đó đùa dai một câu như “trông cô gái kia phốp pháp, có vẻ hạp với ông đấy”. Bạn chỉ có thể kết tội anh ta là cà chớn chứ không thể cho là anh ta nói láo. Đôi khi nó có nghĩa là xấu, đôi khi nó có nghĩa là vui đùa, đôi khi nó có nghĩa là không tốt, không xấu nữa. Thí dụ, bạn nói về một người bạn rằng: “Thằng ấy nó cà chớn thế thôi chứ không xấu bụng đâu”. Vậy cà chớn là không tốt cũng không xấu.

Minh định về hai tiếng “cà chớn”

Xem ra hai tiếng “ cà chớn” này rất khó dịch sang tiếng ngoại quốc. Xin nhờ các dịch giả, các nhà nghiên cứu về ngôn ngữ học làm ơn dịch giùm. Tôi cứ nghĩ, nếu không là người Việt Nam thì khó mà hiểu nổi “cà chớn” có nghĩa là gì. Tuy nhiên người Việt Nam nào cũng có thể cảm nhận được, hiểu ngầm được hai tiếng này. Nhóm chữ “văn hóa cà chớn” tôi dùng ở đây mang tất cả các ý trên.
Lại cũng xin xác minh rằng hai tiếng “cà chớn” đã có từ thời xa xưa chứ không phải chữ nghĩa hay lời nói mới phát sinh vào thời đại ngày nay ở Việt Nam (không phải chữ nghĩa VC). Tôi nhớ rằng khi còn nhỏ, khoảng trên dưới 10 tuổi, mỗi buổi chiều khi tôi mê đá bóng hay đánh bóng chuyền, bóng bàn, về nhà trễ, tôi thường bị anh tôi mắng là “thằng cà chớn”. Tôi nghĩ ông ấy đã dùng chữ này thật chính xác. Nếu tôi mê đánh đinh đánh đáo, anh tôi có thể mắng là “thằng bố láo, thằng lười, ham chơi hơn thích học”, nhưng tôi mê thể thao cũng như ông ấy thì ông không dùng chữ “láo” được mà chỉ có thể có thể cho tôi là “thằng cà chớn” là đúng nhất. Đôi khi người ta còn dùng là “cà chớn, cà cháo”, nhưng chữ “cháo” này không có nghĩa gì khác cả, chỉ là câu nói quen miệng cho trơn, cho xôm tụ thôi. Nhưng khi người ta nói “người ngợm đâu mà bẩn thế”, chữ “ngợm” ở đây có thêm nghĩa xấu, chứ nói về một người tốt, không ai thêm chữ “ngợm” vào cả. Thế mới biết chữ nghĩa Việt Nam thâm thúy lắm. Cũng cùng một nhóm chữ, nhưng mỗi trường hợp phải được hiểu theo một ý khác nhau và hiểu được đúng lại càng khó. Đôi khi chỉ còn là sự cảm nhận của những người cùng chung một dân tộc, một huyết thống.

Tác phẩm cà chớn trên thị trường chữ nghĩa

Trong những ngày gần đây, tại Việt Nam rộ lên những cái gọi là “tác phẩm văn học” được một vài nhà xuất bản tung ra thị trường chữ nghĩa rồi lại bị thu hồi khiến nó bỗng nổi tiếng và được nhiều người tò mò tìm đọc. Cái trò sách bị tịch thu bao giờ cũng bán chạy, tưởng như một “nghịch lý” mà không phải “nghịch lý” này trở thành một chiêu quảng cáo rất hấp dẫn, mang lại kết quả rất béo bở cho mấy nhà phát hành. Hai cuốn sách đã cho xuất bản, bày bán cả mấy tháng trời mới bị tịch thu. Đó lá cuốn “Ở lưng chừng nhìn xuống đám đông” và cuốn “Sát thủ đầu mưng mủ”.
Cuốn sách “Ở lưng chừng nhìn xuống đám đông” (tập truyện ngắn của Nguyễn Vĩnh Nguyên, Sách Phương Nam & NXB Hội Nhà Văn 2011) sẽ phải thu hồi trong vòng 10 ngày, theo quyết định của chánh thanh tra Sở Thông Tin - Truyền Thông (Sài Gòn) ký ngày 01-11. Quyết định này còn buộc công ty sách Phương Nam phải nộp phạt 7,5 triệu đồng do cuốn sách trên “truyền bá lối sống dâm ô đồi trụy, không phù hợp với thuần phong mỹ tục Việt Nam”. Cuốn sách này gồm 13 truyện ngắn, được phát hành trên toàn quốc từ tháng 4-2011, tuy nhiên đến nay chỉ có Sàu Gòn quyết định tịch thu sách. Hiện đang gây nhiều tranh cãi, và khi tôi ra nhà sách chuyên “bán lậu” loại này cũng hết nhẵn.Vậy chúng ta sẽ bàn đến khi tôi mua được sách “lậu” kia.
Trong bài này, tôi điểm qua cuốn sách được coi là rất kỳ cục cũng vừa bị tịch thu. Đó là cuốn “Sát thủ đầu mưng mủ”. Mời bạn đọc nhìn vào nội dung cuốn sách xem nó mang lại những gì cho độc giả.

“Sát thủ đầu mưng mủ” là cái quái gì vậy?

Trước hết, ngay cái tên truyện “Sát thủ đầu mưng mủ” chẳng mang một ý nghĩa nào chứ đừng nói đến ý văn học hay giáo dục. Nó cũng chẳng là thứ truyện bằng tranh giải trí cho trẻ em. Nó có phần nào phản ảnh được tâm trạng... bừa phứa, ăn nói lung tung, kém văn hóa của một số lớp trẻ hiện nay ở các thành phố lớn mà người ta thích gọi là “tuổi teen”.
Cuốn sách “Sát thủ đầu mưng mủ” do công ty Văn Hóa Truyền Thông Nhã Nam đặt hàng cho họa sĩ Thành Phong thực hiện và ông họa sĩ này đã mất 5 tuần để thực hiện các bức tranh. Mỗi bức tranh mang một “thành ngữ” mà ông tự nhận đây là cuốn sách thu thập “các thành ngữ sành điệu” của giới trẻ. Vậy sự “sành điệu” đó như thế nào?
Từ trang bìa đến nội dung cuốc sách, người đọc được giới thiệu những bức vẽ có phần dễ dãi như loại biếm họa trên các trang báo hàng ngày, mục đích có lẽ chỉ để chọc cười. Cuốn sách tập hợp 120 câu nói thông dụng, cửa miệng hiện nay của giới trẻ như “Ngất ngây con gà tây”, “Phi công trẻ lái máy bay bà già”, “Thuận vợ thuận chồng, con đông mệt quá”, “Tào lao bí đao”, “Tự nhiên như cô tiên”, “Xấu nhưng biết phấn đấu”, “Đói như con chó sói”, “Một con ngựa đau, cả tàu được thêm cỏ”, “Một điều nhịn là chín điều nhục”, “Cái khó ló cái ngu”...

Sự phản bội văn hóa và đạo đức dân tộc

Cuốn sách “Sát thủ đầu mưng mủ” được phát hành trong tháng 10-2011. Vừa “ra lò”, nó đã nhanh chóng trở thành “cẩm nang” của hầu hết giới học sinh thành phố. Đọc những câu cú trên đây, hẳn bạn đọc đã thấy rõ có những câu vô nghĩa bị kết tội là rẻ tiền, là làm nghèo tiếng Việt cũng không sai. Cứ cái đà ấy cuốn sách kéo dài một cách trơ trẽn, đầu độc những cái đầu non trẻ. Chúng sẽ dựa vào sách để bắt chước, “sáng tạo” ra những câu cú tục tĩu, kỳ quái hơn nữa. Đã có rất nhiều ý kiến phản đối kịch liệt, cho rằng đây là một cuốn sách nhảm nhí, xuyên tạc thành ngữ, tục ngữ Việt Nam và làm mất đi sự trong sáng của tiếng Việt. Chị Thanh Hà, một nhân viên ngân hàng, lên tiếng: “Tôi không hiểu vì sao một cuốn sách nhảm nhí như vậy lại được kiểm duyệt để xuất bản. Những câu thành ngữ, tục ngữ của cha ông như 'Một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ' bị cải biên, xuyên tạc một cách trắng trợn. Thử hỏi, với các cháu nhỏ lứa tuổi tiểu học khi cầm những cuốn sách này, các cháu sẽ học được điều gì?”.
Hoặc những câu “Có chí thì ghê”, xuyên tạc mất ý nghĩa giáo dục tinh thần của câu “Có chí thì nên” của ông cha ta bao đời để lại cho con cháu noi theo. “Một điều nhịn là chín điều nhục”, “Cái khó ló cái ngu”... toàn là những câu phản lại truyền thống đạo đức Việt Nam.
Việc phổ biến rộng rãi những câu nói này sẽ hình thành trong giới trẻ thói quen ăn nói hời hợt, nghèo nàn về văn hóa, thậm chí phản bội văn hóa. Vì thế, không thể in thành sách những câu nói như vậy. Đúng là một cuốn sách cà chớn chưa từng thấy trong lịch sử xuất bản văn học Việt Nam.

Vậy mà nó còn được bán ra thế giới!!!
Cuốn “Sát thủ đầu mưng mủ” xuất hiện trên trang bán hàng trực tuyến Amazon (ấn bản Kindle, sách điện tử) với giá 7,99 Mỹ kim. Sách được bán theo nhượng quyền xuất bản ở Mỹ giữa công ty Nhã Nam - nhà xuất bản mỹ thuật - với Indochine Media Inc, một công ty truyền thông, có trụ sở tại Milpitas, California.
Theo ông Dương Thanh Hoài, phó giám đốc công ty Nhã Nam, thủ tục chuyển nhượng quyền xuất bản “Sát thủ đầu mưng mủ” ra thị trường Mỹ và quốc tế đã được thực hiện ngay từ khi cuốn sách ra mắt bạn đọc trong nước, chứ không phải sau khi bị ngưng phát hành. Ông Thanh Hoài cho biết: “Chúng tôi rất vui vì đây là lần đầu tiên sách Việt Nam có thể xuất cảng ra thị trường nước ngoài, phục vụ cho những người Việt Nam muốn biết thêm về cái mới trong lời ăn tiếng nói, ngôn ngữ trong nước".
Bạn Nguyễn Huy Trương phản ứng ngay trên báo: “Khác gì một sự sỉ nhục tiếng Việt. Cuốn sách đầu tiên được xuất bản ra thế giới... là thế này đây? Nhiều lúc không hiểu các bác ấy nghĩ gì nữa, vì vài đồng tiền mà đem một sự bôi nhọ văn hóa Việt Nam ra bán cho thế giới? Buồn cười với câu nói của ông Phó GĐ Nhã Nam... 'cái mới trong lời ăn tiếng nói, ngôn ngữ trong nước'. Ông cho cái này là cái mới, cái tiến bộ sao?”.
Và cũng ở trên mạng, một độc giả đã khuyến cáo: “Vậy thì hãy chuẩn bị tư tưởng để chấp nhận việc một ngày nào đó, con cháu các anh chị sẽ nghêu ngao rằng: 'Công cha như miếng rau câu/ Nghĩa mẹ như nước trong cầu chảy ra'”.Nếu thế thì chẳng còn gì để nói. Sự “xuống cấp” của văn hóa đến thế là cùng. Chắc bạn không ngờ được!

Một vài nhận định về “văn hóa nghị trường”
Vào những ngày giữa tháng 12 này, câu chuyện thời sự nóng bỏng nhất tại Việt Nam là việc bất ngờ tăng giá điện kể từ 20-12-2011, đúng vào thời điểm cuối năm và chính phủ đang ra sức kiềm chế lạm phát, bình ổn giá cả thị trường. Người dân coi đó là “cú đánh úp” vào đầu dân của ông Điện Lực Việt Nam. Tiếng ca thán nổi dậy đầy rẫy trên mặt báo và trong từng con hẻm nhỏ. Tuy nhiên, chúng ta hãy đợi xem hậu quả của “cú đánh úp” này đi đến đâu, dịp khác chúng ta sẽ bàn tới. Trong mấy tuần vừa qua, có 3 bài cần thiết về cách chữa bệnh ung thư và tiểu đường được nhiều bạn đọc quan tâm, nên có một số tin thời sự, tôi phải gác lại. Nay xin tiếp tục về vài diễn biến trong lãnh vực thời sự vừa qua.
Trong tuần cuối tháng 11-2011, sự kiện được người dân trong và ngoài nước Việt Nam chú ý đến nhiều nhất chính là lời tuyên bố của người đứng đầu chính phủ Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng trước quốc hội khẳng định về chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa và Trường Sa. Tin này đã được rất nhiều cơ quan thông tin bình luận nên tôi không nhắc lại.
Cũng trong kỳ họp này, còn có một số bộ trưởng những bộ được coi là “nóng” nhất đã đăng đàn trả lời các đại biểu (ở Việt Nam gọi các dân biểu là đại biểu). Không thể đi vào chi tiết quá dài dòng, ở đây tôi điểm qua một nét chính tượng trưng, trong những câu hỏi của các đại biểu và câu trả lời của các bộ trưởng.

Ai cũng làm bộ trưởng được!
Khuôn mặt nổi bật nhất và là người đầu tiên trả lời chất vấn là ông Đinh La Thăng, người đã hai lần “trảm hai tướng” dưới quyền khi đi thị sát các công trình do các viên chức này chịu trách nhiệm. Sau khi trả lời một số câu hỏi trước nghị trường, ông đại biểu Nguyễn Bá Thuyền chưa “thỏa mãn” nên đã đưa ra câu hỏi “rất nặng ký”: “Nếu cứ trả lời lòng vòng như thế thì ai cũng làm bộ trưởng được. Xin đề nghị Bộ Trưởng trả lời xem mấy năm thì có thể giảm được tai nạn giao thông, mấy năm thì giảm bớt được ùn tắc giao thông?".
Trước các đại biểu tại nghị trường, Bộ Trưởng Đinh La Thăng nhã nhặn trả lời: “Chúng ta phải quyết tâm, cùng phải làm, chứ còn bây giờ bảo tôi khẳng định bao giờ hết tai nạn giao thông, bao giờ hết ùn tắc giao thông thì xin phép đại biểu là chưa khẳng định được. Chúng tôi chỉ mong rằng nó sẽ kiềm chế và giảm dần như mục tiêu chúng ta đưa ra là mỗi năm giảm từ 5% đến 10%”.

Cú “trả đòn” như một cú đá thủng lưới của Messi
Nhưng bên lề hành lang quốc hội, ông bộ trưởng Thăng đã trả lời câu hỏi của phóng viên:
Phóng viên: "Ông suy nghĩ gì khi có đại biểu quốc hội cho rằng trả lời như ông thì ai cũng có thể làm được bộ trưởng?".
Ông Thăng nói: "Tôi nghĩ bộ trưởng là do quốc hội phê chuẩn chứ không phải ai cũng làm được. Theo tôi, chúng ta đang nói đến văn hóa giao thông thì cũng cần có văn hóa về chất vấn”.
Quả thật câu trả lời nhẹ nhàng mà rất thấm. Ông Thăng nói đến “văn hóa chất vấn” đúng nơi đúng lúc. Cú “trả đòn” của ông Thăng mềm mại như Messi đi bóng, đá một cú lượn vào góc chết, làm khung thành vỡ toang. Nhẹ mà đau lắm, các cụ ạ.
Đúng là cần phải có “văn hóa chất vấn”, không thể để những thứ “ngôn ngữ cà chớn” chui vào nghị trường được. Điều đó thì chính các ông đại biểu phải tự ý thức lấy, chứ không có trường lớp nào dạy hay quy định nào ràng buộc. Người dân lại cảm thấy cần phải thận trọng hơn nữa với những lá phiếu bầu đại biểu của mình.
Ông Đinh Xuân Thảo, Viện Trưởng Viện Nghiên Cứu Lập Pháp của quốc hội đánh giá về các phiên chất vấn này như sau: “Một số câu hỏi không đúng nghĩa chất vấn, như chỉ hỏi thông tin, mang tính chất trao đổi. Nếu chỉ hỏi lấy thông tin, bộ trưởng trả lời xong, đại biểu tưởng thế là được. Qua loạt hỏi thấy rất ít đại biểu nắm chắc thông tin về nội dung chất vấn, thậm chí có thể đại biểu hỏi để cho cử tri nhìn thấy mình. Do các câu hỏi không đúng nên khó mà đạt được yêu cầu như mong muốn”.
Đúng như vậy, theo dõi qua truyền hình, người dân nhận thấy có ông bà đại biểu cầm tờ giấy đọc cũng còn ngắc ngứ và câu hỏi chỉ để mà hỏi, chỉ để cho “nhân dân” nhìn thấy mặt mình trên diễn đàn quốc hội!
Khi được hỏi: “Ông nghĩ sao về ý kiến chính các đại biểu phải có văn hóa chất vấn, văn hóa nghị trường?”.
Ông Đinh Xuân Thảo nói: “Đúng là văn hóa nghị trường từ người điều hành cho đến người hỏi và người trả lời rất là cần thiết. Như lần trước, Chủ tịch Quốc Hội khóa 12 cũng nói không nên đao to búa lớn mà nên lạt mềm buộc chặt. Nếu nói nhẹ nhàng, có lý lẽ, sức thuyết phục thì giá trị hơn là nói như băm bổ hoặc trả lời như là ở bên ngoài. Đối với hoạt động nghị trường, phát biểu trao đổi cũng có quan điểm khác nhau nhưng cách tranh luận dùng lời lẽ thì cũng cần thể hiện văn hóa ứng xử".
Có lẽ không cần phải bình luận gì thêm về sự cần thiết phải có những đại biểu của dân có trình độ kiến thức cao hơn và phải biết ứng xử ít nhất là “văn hóa nghị trường”. - Văn Quang
Khủng hoảng niềm tin từ đời sống đến văn hóa
Ngồi ở quán cà phê đầu ngõ, ở tiệm cắt tóc đàn ông, làm tóc đàn bà, quán ăn trưa gọi là “cơm văn phòng” ở Sài Gòn và các thành phố lớn, bây giờ người ta chỉ bàn đến chuyện tín dụng đen. Mỗi buổi sáng, đọc báo hàng ngày, không dưới 10 cái tin giật gân về chuyện vỡ nợ. Nào là “đại gia” bỏ trốn, nào là bà chủ hãng gas cuốn gói đi mất tiêu, nào là vợ chồng chủ hiệu buôn bán xe gắn máy bỏ lại căn nhà thuê trống huơ trống hoác biến mất. Để lại những thảm cảnh hết sức đau lòng, thậm chí có gia đình tan nát và có người đã tự tử. Không chỉ ở thành phố lớn mà tín dụng đen đã tràn về cả thôn quê.

Toàn dân cùng đánh bạc

Một cuộc khủng hoảng thật sự đang đến hồi gay go nhất giữa thời buổi lạm phát và bão giá. Cơn bão giá đang có dấu hiệu gia tăng bởi những ngày Tết gần kề. Dù chính phủ Việt Nam đã có rất nhiều nỗ lực làm giảm áp lực của cơn báo giá này, nhưng hệ thống tài chánh không vững vàng làm các ngân hàng lao đao, nhất là các ngân hàng nhỏ cứ bấn xúc xích vì khách hàng rút tiền ngày càng nhiều chuyển sang ngân hàng lớn hơn hoặc gửi vào các nơi khác có lời và có vẻ an toàn hơn. Nhưng không nơi nào là an toàn tuyệt đối cả, ngay cả sự an toàn tương đối cũng không có. Xin chứng minh:
- Ông Phạm Huy Hùng - chủ tịch Hiệp Hội Ngân Hàng Việt Nam, chủ tịch Hội Đồng Quản Trị (HĐQT) Vietinbank - cho hay: “Hiện nay tính rủi ro trong nhiều ngân hàng ở Việt Nam rất cao. Nhiều ngân hàng hoạt động không đúng nội dung ngân hàng, chất lượng quản trị rất kém. Huy động mười đồng xài chín đồng rưỡi thì làm sao an toàn được”.
- Là chuyên gia về tài chính ngân hàng, ông Trần Hoàng Ngân (đại biểu của Sài Gòn) cho rằng “rất nhiều người dân Việt Nam vẫn đang ngộ nhận gửi tiền vào ngân hàng là tuyệt đối an toàn, ngay cả khi phá sản nhà nước cũng có trách nhiệm. Tuy nhiên, thực tế quy định đã rõ khi gửi tiền mà ngân hàng phá sản, người Việt Nam chỉ được bảo hiểm chi trả tối đa 50 triệu đồng. Đây chính là thực tế cần cảnh báo”.
Ngân hàng lời nhiều, họ hưởng, nhưng ngân hàng phá sản thì dân chịu. Theo ông Ngân, ở các nước, luật bảo hiểm tiền gửi thường xuất hiện sau khủng hoảng tài chính với nhu cầu bảo vệ người dân gửi tiền. Ông Phạm Huy Hùng bình luận rằng: “Tôi gửi 100 tỉ mà nhận bảo hiểm 50 triệu thì khác nào tiền mua gạo, mua rau”.
- Viện trưởng Viện Nghiên Cứu Lập Pháp Đinh Xuân Thảo cho biết ở Mỹ mức chi trả là 200.000 Mỹ kim, ở Hàn Quốc chi trả tương đương khoảng 2 tỉ đồng Việt Nam. Ông Ngân thì cho hay ở nhiều nước người ta quy định mức này gấp 5-10 lần GDP bình quân….
Chính phủ không bảo hiểm cho vàng và đô la, ngay đến tiền Việt Nam cũng chỉ được bảo hiểm tối đa 50 triệu đồng, dù anh gửi 10 tỉ hay một tỉ cũng thế thôi. Nhà nước còn dè chừng như thế thì dân tin làm sao được các ngân hàng. Cho nên người dân có tí tiền tiết kiệm cứ loay hoay, không biết xoay xở thế nào. Gửi ở đâu cũng sợ bị mất, bị quỵt, bị lừa. Không còn nơi nào đáng tin cả. Niềm tin không còn chỗ đứng, thế thì đành phải liều, được ngày nào biết ngày ấy, gửi chỗ nào có lời nhất thì gửi. Không khác gì trò đánh bạc, đỏ đen nhờ Trời thôi. Thế là “toàn dân cùng phải đánh bạc”.

Còn nhiều vụ vỡ nợ ngầm
Chỉ tính riêng tại Hà Nội, từ đầu năm đến nay, “thủ đô yêu quý” đã liên tục xảy ra các vụ vỡ nợ. Công an đang điều tra vụ ở Đan Phượng với số nợ lên gần 300 tỷ đồng; vụ ở Hà Đông cũng lên đến vài trăm tỷ; ở huyện Phú Xuyên khoảng 300-400 tỷ đồng. Gần đây nhất, ở quận Cầu Giấy có vụ xù nợ trên dưới 100 tỷ đồng. Các vụ này có điểm chung là con nợ vay vốn của dân hứa trả với lãi suất cao, rồi bỏ trốn. Còn nhiều vụ khác, người dân vẫn chưa biết vì những kẻ lừa đảo dùng nhiều hình thức che giấu. Kiểu lừa thường gặp là làm ra vẻ “đại gia” đi xe đắt tiền, nhà đẹp, đeo đầy vàng trên người, ba hoa chích chòe, làm nhiều người dân hoa mắt. Hoặc các con nợ núp dưới danh nghĩa doanh nghiệp, xây dựng trụ sở, và khoe khoang rằng mình có cuộc sống xa hoa, giàu có để lấy lòng tin của dân. Họ lấy tiền của dân để mua xe đắt tiền. Tiêu biểu như vụ ở Phú Xuyên, con nợ mua xe đến 5-6 tỷ đồng, rồi vợ chồng Quang- Quyên ở Đan Phượng cũng đi xe đến 4-5 tỷ đồng, thực chất chỉ để khoe mẽ đi lừa.
Trong màn dạo đầu, họ trả tiền lời rất cao và sòng phẳng, rồi màn thứ hai là khất nợ, sau đó là “tắt đài” tức là không nghe điện thoại, màn cuối là đóng cửa hàng. Có khi người dân biết mình bị lừa, nhưng sợ báo công an thì con nợ sẽ bỏ trốn, khó lấy lại được tài sản, cứ ngấm ngầm tìm mọi cách đòi nợ dù chỉ còn một chút hy vọng mong manh. Vậy là ngoài những vụ đã nổ ra vẫn còn những quả bom nằm chờ sắp nổ. Màn kịch tín dụng đen chưa dừng lại ở đây, sẽ còn bi thảm hơn nhiều thực tế hiện nay.

Thị trường chứng khoán, địa ốc chết đứng

Mặt khác, thị trường chứng khoán và thị trường địa ốc đang bừng bừng khí thế, bỗng chốc rơi vào cảnh ảm đạm, chỉ có anh nhảy ra, chứ không ai nhảy vô. Tất cả chỉ vì thiếu tiền. Doanh nghiệp bán đổ bán tháo lấy tiền trả nợ, chạy làng cũng chẳng xong. Cụ thể buổi bốc thăm mua nhà giảm giá của Công ty cổ phần địa ốc dầu khí (PVL) dự định tổ chức hôm 8-11 vừa qua đã bị hủy vì chỉ có 2 khách tham dự. Theo quy định của PVL, phải có ít nhất 25 khách hàng ghi tên tham dự mới có thể tổ chức bốc thăm. Có thể thấy chiêu quảng cáo, làm giá của PVL đã bị khách hàng bắt bài nên đã quay lưng lại với căn nhà đại hạ giá ảo như nói trên. Buổi bốc thăm cũng phá sản!
Hiện có hàng trăm dự án đóng băng, nằm trên bàn giấy, hàng ngàn căn nhà trên các “cao ốc hoành tráng bề ngoài” không bán được. Đặc biệt năm 2009-2010, giá bất động sản bị thổi lên quá cao, vượt quá khả năng chi trả, cung và cầu không gặp nhau dẫn đến các khu đô thị có hàng trăm biệt thự bị bỏ hoang. Ngoài ra, thị trường chứng khoán trước đây giống như một quả bong bóng bị "thổi" lên không đúng với giá trị thực tế và đến bây giờ mới sụt xuống. Hiện nay, nhiều nhà đầu tư lớn đã rút khỏi hai thị trường này, chỉ còn người dân bị mắc kẹt. Đây là nguyên nhân chính.

Lách lãi suất là việc làm sống còn của hầu hết ngân hàng
Hiện nay, rất nhiều người đã rút tiền từ ngân hàng ra, nghe tin “tín dụng đen” hoành hành dữ dội đã lại thu tiền về, đành gửi tạm lại ngân hàng, chỉ là tạm thời vì lãi suất quá thấp. Cái vòng luẩn quẩn như chui trong rọ. Dĩ nhiên họ chọn ngân hàng lớn để… may ra còn tin tưởng được. Các ngân hàng (NH) lại đưa ra hàng trăm “chiêu” lách lãi suất. Có những chiêu thức lách rất quái dị. Ngân Hàng Quân Đội (MB) đưa ra lãi suất 13,98% một năm đối với các kỳ hạn tháng. Tại NH Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank), tại NH Á Châu (ACB)… cũng có chương trình tiết kiệm dự thưởng…. Tôi không thể kể hết những mánh lới lách lãi suất “đúng luật” hay không đúng luật này. Người dân ngẩn ngơ vì những kiểu khuyến mãi và thật sự chẳng ai kiểm soát nổi hàng ngày mình có trúng thưởng hay không.
Với tình hình này, Ngân Hàng Nhà Nước (NHNN) lại phải tính đến việc ra các quy định để phòng ngừa việc lách trần huy động bằng quay số trúng thưởng như đã làm với các “chiêu”, các trò trước đây. Nó như một cuộc đuổi bắt rất hào hứng giữa cảnh sát và kẻ trộm. Cuộc đuổi bắt này sẽ còn vã mồ hôi vì “anh lách luật” rất thông minh, "siết" chiêu này tung chiêu khác, dẹp trò này thì trò kia nảy sinh, cho thấy biện pháp hành chính đã thực sự “quá tải”, thực sự bất lực và không thể kham nổi gánh nặng giải quyết vấn đề lãi suất trên thị trường hiện nay. Bởi xét cho cùng, biện pháp hành chính là để giải quyết tình thế, không thể kéo dài năm này qua năm khác như ông NHNN đang làm. Đã đến lúc, NHNN phải đưa vào các giải pháp hợp lý hơn, phù hợp với cả hai lợi ích của dân và của NH. Nếu chưa thấy được những hậu quả thì nay đã thấy. Một mức ép lãi suất đầu vào hợp lý, như có đề nghị đã đưa ra là 15 đến 15,5% là người gửi tiền có thể chấp nhận được và NH cũng vẫn có lời nếu cho vay sản xuất 17- 18% và phi sản xuất là 20%.

Ai tạo cơ hội cho tín dụng đen tung hoành?
Câu hỏi đặt ra là, tại sao những tổ chức tín dụng chính thống khó khăn trong việc huy động vốn thì một nguồn vốn lớn từ dân chúng lại chảy vào tín dụng đen bất chấp các rủi ro đã được cảnh báo. Câu trả lời là do mất lòng tin. Trong khi, chỉ huy động người dân với lãi suất 14% thì các ngân hàng vẫn cho vay lẫn nhau với lãi suất 20%-25%, thậm chí trên 30% trên thị trường liên ngân hàng. Huy động áp trần 14% nhưng lãi suất cho vay thả nổi, tạo cửa cho các tổ chức tín dụng thoải mái "bắt chẹt" doanh nghiệp với lãi suất cao; kinh tế khó khăn nhưng nhiều ngân hàng vẫn lãi lớn.... Thật khó để biện hộ cho những con số cũng như các vấn đề nói trên. Đó cũng là lý do khiến nhiều người tìm đến tín dụng đen. Tạo cơ hội cho tín dụng đen thả sức tung hoành, tràn lan từ các thành phố lớn cho đến cả các vùng quê yên bình.
Tham siêu lợi nhuận, hàng loạt doanh nghiệp "nhảy" vào kinh doanh bất động sản; tham lợi lớn, hầu hết các tổ chức tín dụng đẩy mạnh cho vay phi sản xuất; tham lãi suất cao, nhiều người dân tìm đến tín dụng đen.... Tất cả những điều này liên quan mật thiết với nhau nên khi một thị trường gặp khó khăn sẽ kéo theo các sự rủi ro của những thị trường còn lại. Chưa biết hiệu ứng domino này sẽ đưa dẫn tới đâu.
Tôi nhớ hồi còn nhỏ, làng tôi đã xảy ra cảnh người dân phải vác cả một cái bao tải tiền đi mua một con trâu. Chúng ta hãy chờ xem, liệu có bao giờ trở lại với cái hình ảnh này không?

Nói chuỵện văn hoá cho đỡ nhức đầu
Nói mãi chuyện tín dụng đen, tín dụng đỏ nhức đầu quá, phải không bạn? Xin đề cập đến một lãnh vực khác nhẹ nhàng hơn. Đó là chuyện văn hóa. Ở Việt Nam lại đang có nhiều đề tài bàn tán sôi nổi giữa các ông nhà văn nhà thơ, nhà xuất bản. Chuyện đáng nói trước hết, có một nhà văn, vừa là bác sĩ, vừa là đại biểu quốc hội đã đưa ra đề nghị quốc hội thảo luận một luật mới gọi là “luật nhà văn”. Đó là ông nhà văn, bác sĩ, dân biểu Nguyễn Minh Hồng. Thú thật với bạn đọc tôi chưa được đọc tác phẩm nào của nhà văn này nên chưa thể kể tên, khi nào được đọc tôi xin nêu tên sau.
Của tôi mà không phải của tôi - Khi được báo chí phỏng vấn, ông Nguyễn Minh Hồng nói (xin tường thuật nguyên văn cả lời lẫn ý):
- Theo ông, Luật nhà văn nên điều chỉnh những gì?
- Luật này điều chỉnh rất nhiều. Nào là các tác phẩm được xuất bản, các quy định đối với nhà văn ra sao, chế độ nhuận bút và các chế độ chính sách khác thế nào, chế độ thẩm định rồi quy định viết về cá nhân, viết về lịch sử phải thế nào...
Nhưng khi được hỏi:
- Ông là người kiến nghị làm luật này, vậy ông có sẵn sàng trình dự án luật ra Quốc hội không?
- Sáng kiến này không phải của tôi. Đó là trong một hội nghị của Hội Nhà Văn, đồng chí Hữu Thỉnh đề xuất và tôi có hứa sẽ trình trước Quốc Hội. Vì vậy tôi chỉ là người làm cầu nối để trình ý tưởng của Hội Nhà Văn thôi.
Như vậy là nhà văn này chỉ làm theo ý của ông nhà văn Hữu Thỉnh chứ không phải của ông. Tuy nhiên ngay tại quốc hội, ông nhà văn bác sĩ này cũng đã không được nhiều “đồng viện” của ông đồng tình. Ông Nguyễn Đình Quyền (phó chủ nhiệm Ủy Ban Tư Pháp) thẳng thắn bác bỏ: “Luật nhà văn không cần thiết. Theo tôi, cần xem xét lại việc đưa dự thảo Luật nhà văn vào chương trình làm luật của Quốc Hội. Hiện những vấn đề liên quan đến hoạt động của nhà văn cơ bản đã được thể hiện và quy định, điều chỉnh ở Luật báo chí”.

Lề trái, lề phải cùng phản ứng quyết liệt
Còn về phía các nhà văn nhà thơ thì hàng loạt những cây viết cả lề trái và lề phải, đả kích khá dữ dội. Trong đó phải kể đến hai ông có tên tuổi và có tác phẩm được nhiều độc giả yêu thích. Nhà thơ Đỗ Trung Quân vốn là Thanh Niên Xung Phong từ năm 1979, có bài thơ dài và khá hay là bài Tạ Lỗi Trường Sơn làm từ năm 1982, nhưng lại được nhiều người biết đến qua bài thơ Quê Hương được ông Giáp Văn Thạch phổ nhạc. Ông vừa cho ra một bài thơ nhại lại bài thơ được phổ nhạc rất nổi tiếng của chính ông, ông gọi là “Quê Hương bis”. Bài thơ có đoạn vào như sau: “Quê hương làm gì có luật / Nên ta luồn lách mỗi ngày / Quê hương mình thường lách luật / Huề tiền lắm vụ hay hay…”.
Và, ông Trần Mạnh Hảo vốn là một nhà văn, nhà thơ “cách mạng” từ chiến khu ra. Nhưng đã từ lâu, ông bước sang lề trái, với nhiều bài viết “nảy lửa”. Nhân dịp này, ông có bài viết rất mỉa mai, giễu cợt và rất thẳng thắn. Tôi không muốn trích ngang trích dọc những câu chữ của ông. Tôi chỉ xin phép trích đoạn cuối như câu kết trong bài của ông Trần Mạnh Hảo để bạn đọc có thể thấy được “văn phong” của ông:
“… Hiện nay, việc các bà vợ (hoặc tình nhân) ghen tuông cắt mất chim các ông chồng đang là chuyện phổ biến, một vấn nạn quốc gia, gây ra sự khiếp hãi cho đàn ông khi vào việc chăn gối. Mà như các vị quốc hội biết đấy, khi vào chuyện ái ân hạnh phúc kia mà đàn ông lo sợ bị mất của quý, thì chúng tôi xin cam đoan với quốc hội là trăm phần trăm trên bảo dưới không nghe. Nếu cánh đàn ông khi vào cuộc chăn gối mà trên bảo dưới không nghe vì sợ vợ làm liều, sẽ ảnh hưởng đến sự tồn vong dân tộc, thưa quốc hội. Việc này dễ gây ra diệt chủng lắm, thưa các vị dân biểu đáng kính.
Nên chúng tôi xin kiến nghị lên quốc hội hãy thương xót nhân dân mà cho ra một đạo luật cấm vợ hay tình nhân cắt đứt chim chồng vì ghen tuông, lấy tên rất dễ hiểu là Luật Cấm Cắt Chim thì có phải là nhân đạo vô cùng, là cứu nguy dân tộc, là mở đường hiếu sinh cho các thế hệ tương lai, hơn là đưa ra đạo luật nhà thơ rất vui nhộn ra bàn, bị ông nghị Trần Du Lịch chê là ấm ớ hay không?”.
Câu chuyện về văn hóa còn khá dài và còn nhiều chuyện đang lùng bùng nữa, nhưng trang báo có hạn, xin để kỳ khác bàn tiếp.Văn Quang
Thời đại “đồ đểu” tình nghĩa không còn!
Từ hơn 2 năm nay tôi mới được ông bạn già đến thăm, không cần hỏi nguyên do, tôi hiểu vì sao ông không đến. Nhưng ông bạn vốn tính bộc trực, mới bước chân vào nhà, ông đã thanh minh ngay: “Xin lỗi bác, tôi không đến bác vì nghe thiên hạ nói bác bị ‘làm phiền’ nên anh nào đến cũng có thể bị ghi sổ bìa đen hoặc bị sờ gáy. Có ông khuyên tôi không nên đến. Tôi không tin hẳn là như thế, nhưng cứ cẩn tắc vô áy náy”.
Rồi ông cười khành khạch triết lý vụn: “Cuộc đời là thế, anh nào cũng muốn yên thân, nhắm mắt, bịt tai cho qua mọi chuyện. Lắm lúc nghĩ đất nước cứ như thế thì làm sao mà khá được”.
Tôi mời ông ngồi và nói giỡn: “Vậy bác đến tôi hôm nay là muốn làm cho đất nước khá lên hay sao?”. Ông bạn già của tôi xua tay giẫy nẩy: “Tôi là cái thá gì mà dám mon men vào chuyện nước non, dù tôi biết cái thế hệ già mình mà như thế là hỏng, hỏng lắm nếu không muốn nói là nhát, là hèn. Anh nào cũng muốn giữ nồi cơm, khư khư ôm lấy cái mình đang có, sống chết mặc bay. Làm sao dạy con cái sống cho ra con người. Tuy nhiên, người ta thế cả, tôi cũng thế thôi. Gặp thời thế, thế thời phải thế, bác hiểu cho”.
Tôi thân mật vỗ vai ông: “Tôi không trách bác đâu, mỗi người có một cách sống, bác cẩn thận như thế cũng không phải là thừa”. Ông gật gù, dù tôi biết trong lòng ông vẫn có một chút gì đó như sự ân hận nhỏ nhoi. Ông thở dài lảng chuyện: “Thôi không nói chuyện nước non làm gì cho mệt, hồi này bác sống thế nào, sức khoẻ ra sao ?” Tôi ừ ào cho qua chuyện bởi tôi quá rõ, ở Việt Nam bây giờ, có những ông rất hăng nhưng có những ông “thủ” rất kỹ. Ông bạn già của tôi chậm rãi uống nước rồi thú nhận: “Tôi vừa qua cửa hàng vàng, hôm nay giá xuống 44 triệu một lượng, nhưng chờ mỏi mắt chưa mua được, chen chúc như đi ăn xin, giá cả mỗi giờ lại một tăng, không dám mua vội. Tiện đường ghé thăm bác thôi”.

* Sơ lược về cuộc đời một ông bạn “tư sản”

Ông bạn tôi, trước năm 1975 khá giàu. Tôi chỉ biết ông có 2 cái hotel thuộc loại trung bình ở Chợ Lớn và 1 cái garage xe hơi ở Tân Định. Ngày 30 tháng 4 năm 75, ông chui vào phi trường Tân Sơn Nhất, yên trí kiếm được một chỗ trên máy bay ra đi. Nhưng ông bị bỏ rơi như một số ông tư sản khác chui vào không đúng chỗ. Ông kẹt lại, sau tháng 4 năm 1975 ông bị quy vào thành phần “tiểu tư sản thành thị”. Chẳng hiểu lúc đó ông có “rét quá” mà đem “hiến” hai cái khách sạn và cái garage xe hơi cho “Ủy Ban Quân Quản” hay không. Tôi chỉ biết ông nhanh chân chuồn về quê vợ ở tuốt Năm Căn - Cà Mau sống. Ở đấy ông có người em vợ đi “tập kết” trở về được làm một chức khá lớn trong huyện che chở. Có thể nhờ vậy ông không bị “đánh tư sản”, không phải đi tập trung “học tập cải tạo” như những người khác.
Tuy nhiên, theo lời khuyến cáo của người em vợ, ông phải làm ra vẻ đói rách cho phù hợp với “nhân dân lao động”. Ông mặc áo tơi lá đi cấy mạ, mặc quần áo vá, đi dép lốp. Ông có vẻ thú vị vì đã đóng vai “than nghèo kể khổ” rất giỏi. Thật ra thì gia đình ông chưa đến nỗi phải túng thiếu, ông còn mang được chút vàng và đô la về cho vào bao ni-lông giấu kỹ vào cái vại sau vườn, sát vách nhà. Lâu lâu lại mở lên xem có bị thấm nước hoặc mối mọt gì không. Mỗi lần như thế cứ như đi ăn trộm của nhà mình, vợ con phải canh gác rất cẩn mật. Nhờ vậy ông mới có chút vốn mang về Sài Gòn làm ăn.
Nhưng ông không lấy lại được sản nghiệp cũ của mình. Bây giờ những nơi đó đã là trụ sở của mấy cái cơ quan lớn, sân sau là mấy cái biệt thự mua đi bán lại đến nay là của ai chẳng biết, ông theo đuổi vụ lấy lại nhà, làm hàng trăm lá đơn cũng chẳng đi đến đâu. Ông chán, chẳng thèm nhắc đến những của cải đã bị mất trắng này.
Nhưng ông vốn là dân làm ăn buôn bán ở thành phố Sài Gòn nhiều năm nên chỉ một thời gian sau, ông trở lại Sài Gòn nhờ có “chỗ dựa”, ông lại phất lên khá nhanh, so với đống gia tài cũ, có lẽ cũng không kém là bao nhiêu. Cho nên ông chú trọng đến việc giữ của, thời buổi này mà không biết giữ của thì chẳng mấy lúc mà sạt nghiệp vì nhiều lý do khác nhau. Ông kể: “Nhà nào có máu mặt cũng phải đề phòng trộm cướp, giết người, lừa lọc, quỵt nợ, hàng gian hàng giả, chạy cửa trước cửa sau nộp những khoản ‘phí’ không tên, chi những khoản quyên góp ‘không tự nguyện’, mua bảo hiểm trời ơi, chung vốn vào những công trình ‘bắn vịt trời’… Nói ra có hàng trăm thứ chuyện rắc rối chỉ thời nay mới có”.

* Ép lãi suất và lách lãi suất như chạy loạn

Trở lại chuyện tuần này ông đến thăm tôi vì ghé qua một cửa hàng vàng gần đó. Ông giãi bày:
- Bác biết không, tôi phải lấy tiền gửi ngân hàng ra mua vàng, lúc này hầu hết những bạn hàng của tôi đều tính như vậy. Bởi Ngân Hàng Nhà Nước nghiêm ngặt hạn chế lãi suất đầu vào của ngân hàng chỉ còn 14%. Vậy mà tốc độ lạm phát, trượt giá hay nói cho đúng là đồng tiền mất giá cứ tính trung bình là 20%. Như thế gửi ngân hàng (NH) chỉ lời có 14% là mỗi năm anh mất toi 6% chứ có lời đâu. Anh mà tiêu vào tiền lời gửi ngân hàng là anh “tự cắn vào tay mình”, anh phải tính đó là tiền bù vào khoản mất giá. Không biết mấy ông ở NH nhà nước có tính đến khoản này không mà cứ “ép” lãi suất như vậy? Ai kêu thì mặc, “ép” được cứ “ép”. Vấn đề cốt lõi là giảm lạm phát, giảm bão giá rồi mới hạ lãi suất chứ sao lại làm ăn ngược đời như thế! Thế nên từ anh giàu đến anh nghèo, anh nào cũng chết. Ngân hàng cũng rối bời cứ như chạy loạn, tìm đủ cách lách lãi suất, lãi suất ngày, lãi suất tuần, lãi suất tháng để hòng giữ chân khách cũ, câu khách mới.
Ông ngừng lại một chút rồi lắc đầu nói tiếp:
- Nếu không gửi ngân hàng, anh còn mất nhiều nữa. Anh có 100 đồng để dành, mỗi năm trượt giá, anh mất 20 đồng, hai năm mất 40 đồng, chỉ còn lại 60 đồng. Như thế anh nghèo có tí tiền để dành mua nhà, sắm cái xe gắn máy cũng thiệt, có khi vài năm sau tiền để dành 3-4 năm chỉ còn mua được cái lốp xe đeo vào cổ đi chơi chứ làm sao mua được xe. Còn anh có nhiều tiền càng “chết” nặng hơn. Có mười tỉ chỉ còn 6 tỉ, buôn bán gì cho lại? Có nhiều mất nhiều, có ít mất ít, nói tóm lại thằng nào cũng chết nhăn nếu cứ giữ tiền trong tủ hoặc gửi ngân hàng. Phải tìm cách xoay xở đường khác thôi. Người rút tiền mỗi lúc một đông. Tôi lo ngân hàng sẽ có lúc phá sản vì thiếu vốn. Khi ngân háng thiếu vốn thì doanh nghiệp cũng chẳng thể cho doanh nghiệp to hay nhỏ vay được, dù có sản xuất hay phi sản xuất với bất kỳ lãi suất nào. Nếu chẳng may, một ngân hàng phá sản thì tôi cam đoan với bác, một loạt sẽ phá sản theo. Người dân sẽ ùn ùn kéo đến rút tiền cho chắc ăn. Bác còn nhớ vụ “Nước Hoa Thanh Hương” chứ? Vỡ nợ, dân kéo đến làm loạn, có anh đến đòi tiền, chỉ còn bộ bàn ghế, cũng phải nhặt. Rồi chuyện tối hôm trước thông báo không đổi tiền, sáng sớm hôm sau ra lệnh đổi làm người dân trắng mắt. Người ta bị “cái dớp” đó rồi nên lúc nào cũng phòng thủ. Tốt nhất là không nghe ai cả, nghe mình thôi.
Ông nhắc đến chuyện một anh giám đốc ngân hàng vừa bị một anh bạn thân chơi một vố khá đau.

* Cú chơi “độc” của ông giám đốc ngân hàng Tây Ninh

Xin tóm lược về vụ chơi xấu này của ông “bạn” cùng là giám đốc ngân hàng.
Ông Nguyễn Thái Hậu, giám đốc chi nhánh Đông Á Tây Ninh, bị tổng giám đốc Ngân Hàng Đông Á đình chỉ công tác từ ngày 14-9 do không tuân thủ “chỉ đạo về việc giữ trần lãi suất huy động”. Sự việc xảy ra như sau:
Vào lúc 8 giờ sáng ngày 8-9 ông Nguyễn Thái Hậu, giám đốc chi nhánh ngân hàng Đông Á Tây Ninh nhận được điện thoại của người bạn là ông Nguyễn Lê Nam, giám đốc Ngân Hàng Á Châu (ACB) chi nhánh Tây Ninh (cùng địa phương), đề nghị được gửi một tỷ đồng kỳ hạn một tháng với lãi suất 15,5% một năm. Vì là bạn bè ông Hậu đồng ý.
Đến 11 giờ trưa cùng ngày, vị giám đốc Nguyễn Lê Nam, giám đốc Ngân Hàng Á Châu (ACB) chi nhánh Tây Ninh đem tiền đến gửi và yêu cầu chi nhánh Tây Ninh của Đông Á ngoài sổ tiết kiệm ghi lãi suất 13,94% thì phải có giấy xác nhận sẽ trả lãi suất 15,5% một năm cho số tiền trên. Giấy xác nhận này sau đó đã được ông Nam chuyển cho giám đốc Ngân Hàng Nhà Nước chi nhánh Tây Ninh để tố cáo làm ông Hậu bị giáng chức!
Dư luận đang râm ran về chuyện bạn bè gài bẫy nhau trắng trợn như thế này. Trước đó hai người không hề có xích mích gì nên giao thiệp khá thẳng thắn thân tình. Vậy mà bỗng dưng “ông bạn” trở mặt.

* Chỉ có ông NH Nhà Nước khen, dân thì chê

Ngày 28-9 vừa qua, Ngân Hàng Nhà Nước đã có bản văn về sự việc này. “Ngân hàng Nhà nước ủng hộ việc phát hiện sai phạm và cho rằng không nên xem đây là hành vi chơi xấu của các ngân hàng thương mại mà nên coi đó là cách tích cực phát hiện sai phạm”.
Ông Ngân Hàng Nhà Nước phải khen là việc tất nhiên rồi. Vì đó là về “phương diện quốc gia”, có khi trong bụng chính ông này lại nghĩ rằng: “Thằng cha này chơi với bạn thế thì chỉ có nước chơi với cọp. Có khi nó tố cả mình cũng chưa biết chừng! Phải cẩn thận với loại người này”.
- Bạn Tuấn Anh trả lời ngay trên diễn đàn báo chí: “Mọi người đều đồng ý việc gài bẫy bạn là chơi xấu! Xét kết quả cuối cùng thì là tìm ra sai phạm trong việc vượt trần lãi suất của các nhà băng, đương nhiên ngân hàng nhà nước phải nói vậy rồi. Nhưng xét đến việc cố tình đưa người ta vào bẫy, thì đó là hèn hạ”.
- Bạn Mạnh mỉa mai: “Hay quá, vì vị giám đốc chi nhánh Á Châu làm ‘đúng’ quá nên tôi và họ hàng mình cùng những người bạn và nhiều người truyền tai nhau cùng rút sạch tiền gửi ở ngân hàng Á Châu đem gửi ngân hàng khác rồi”.
- Bạn Hoa Cỏ May đã viết trên báo: “Thực chất là xấu. Giám đốc ACB rõ ràng chơi xấu. Là bạn nên mới hỏi và trả lời thật lòng, nếu thấy rủi ro cho bạn phải nhắc nhở bạn còn ông ta đã cố tình gài và tố bạn. Thật là xấu xa cho loại bạn như vậy. Con người ta ai cũng đi làm thuê để đổi lấy chén cơm cho gia đình, con vật còn biết thương nhau con loài người thì không. Giám đốc ACB khi thấy bạn vì sự dối trá của mình mà mất việc có cảm thấy thoả mãn hay không? Thật đáng khinh! Lãnh đạo cấp cao của ACB cũng không nên dùng loại người này vì đến 1 ngày nào đó chính họ sẽ là nạn nhân của con người này”.
- Bạn Chu Văn Khường cho rằng đó là một cách cạnh tranh trong kinh doanh ngớ ngẩn. “Những người dân, và những người có tiền không kinh doanh để ở ngân hàng thì ai cũng muốn được lãi cao, để kịp với những chi phí cho giá tiêu dùng tăng cao, bảo đảm cuộc sống sinh hoạt của họ. Vị giám đốc của ngân hàng Á Châu làm như vậy thì làm sao được lòng những người dân gửi tiền. Không khéo bây giờ tiền ở trong chi nhánh của vị giám đốc ACB bị rút sạch gửi ngân hàng khác rồi. Thật là cách làm ngớ ngẩn trong kinh doanh cạnh tranh”.
- Bạn Lê Công Bách: “Rùng mình vì hành động ích kỷ của người có học. Đã là 1 người đứng đầu 1 chi nhánh ngân hàng cổ phần Á Châu lẽ ra vị giám đốc kia nên hành xử 1 cách có học hơn.… Bây giờ chắc chắn ông thắng được Giám đốc Đông Á Bank nhưng nhìn trên tổng thể chắc chắn ông thua rất nhiều, bạn bè, nhân viên cấp dưới, cấp trên chắc sau này ai cũng phải dè chừng ông. Có lẽ đây là bài học xương máu cho những người làm ngành ngân hàng nói riêng và mọi người nói chung”.

* Thời đại “đồ đểu” không còn tình nghĩa?

Còn ông bạn đến thăm tôi, lắc đầu thở hắt ra: “Vì thế nên không chỉ có các ngân hàng cạnh tranh mà ở đâu cũng có thể có sự cạnh tranh rất bẩn. Cái thời buổi buộc con người phải sống chụp giựt là thế. Các bạn tôi nửa đùa nửa thật cảnh báo: Hồi xưa mày là tư sản xanh, bây giờ mày là tư sản đỏ, coi chừng nó luộc mày lúc nào không biết. Cái thời đại đồ đá, đồ đồng, con người đối với nhau có tình có nghĩa, đến cái thời đại đồ đểu này tình nghĩa không còn đâu”.
Tôi không tin hẳn như thế, trên đời này vẫn còn những trái tim nhân hậu. Tuy vậy khi ông bạn tôi ra về, để lại cho tôi nỗi buồn như mất mát một cái gì rất lớn trong cuộc đời lúc xế bóng.
Sài Gòn, 01-10-2011, Văn Quang
Cần phải học văn hóa xấu hổ
Một bạn đọc vừa đặt câu hỏi khá dài:
Thưa ông, xa quê lâu ngày tôi mới có dịp về Việt Nam trong tháng 8 vừa qua. Tôi có người em ở quận 5 mời về ở. Vừa vào đến đầu ngõ đã thấy cái bảng rất to đề hàng chữ ‘Khu Phố Văn Hóa’, thế là yên tâm được ở nơi yên tĩnh mát mẻ. Nhưng mọi con đường vào đều có hàng quán mọc la liệt, xe taxi phải đậu giữa đường vì hai bên xe gắn máy xếp lớp, đường bị lấn quá nửa, nhếch nhác lắm. Mấy chú thợ sửa xe tha hồ rồ ga, nẹt pô. Rồi hôm sau tôi phải khăn gói ra khách sạn ở vì cách đó 3 căn, nhà có đám ma, đêm trước tôi đã bị tra tấn bởi kèn trống nhạc sống, nhạc chết om sòm đến quá 1 giờ đêm. Cả nhà chú em tôi đều lắc đầu ngao ngán. Các cháu bé cũng không học hành, nghỉ ngơi gì được. Chú em tôi than có đám ma để luôn 5-7 ngày, đợi mấy người con ở nước ngoài về. Thế là mỗi ông về ‘báo hiếu’ luôn một đêm kèn trống vang trời, mời ban nhạc về hát xướng liên miên, chơi luôn cả ‘kèn bú dích’ và nhạc Trịnh Công Sơn. Hồi này nhạc Trịnh vắng ở phòng trà nhưng coi bộ còn ăn khách ở cả đám ma, chẳng hiểu có bị đòi tiền bản quyền không. Còn có cả ban xiếc làm trò để bà con xem ‘chùa’, cho ra vẻ… người nước ngoài về. Hầu hết nhà xung quanh đều điên đầu nhưng chẳng làm gì được, đành chịu trận. Chẳng ai buồn can thiệp.
Vài hôm sau, tôi đi thăm bà con, có dịp dạo một vòng quanh Sài Gòn, thấy ‘Phố Văn Hóa’ mọc lên như nấm. Dường như tất cả các con hẻm, đường ngang ngõ tắt của thành phố này đều là phố văn hóa cả, phải không ông? Vậy văn hóa là gì? Tôi nhớ khi xưa xóm này còn nghèo, còn có nhà tranh nhưng đường sá luôn sạch sẽ, khang trang. Bây giờ nhà lầu, nhà ngói bề thế, đường sá rộng rãi hơn, vậy mà lại bề bộn, ồn ào, nhếch nhác, chật hẹp hơn xưa. Vài khu chung cư cũ xuống cấp trầm trọng, nhưng chẳng ma nào thèm ngó tới. Tình trạng đường sá nhà cửa bị lấn chiếm tơi bời, cứ như phố hoang, mạnh ai chiếm được cứ chiếm. Chiếm hết các đầu lô làm nhà riêng rồi chiếm tới hè phố, lấn chiếm luôn lòng đường, ôm luôn cột điện, lấn luôn trước cửa nhà người khác. Ông ở chung cư chắc biết nhiều hơn? Tình trạng ‘Phố Văn Hóa’ kiểu này chắc chỉ ở Việt Nam mới có. Ông có thể giải thích cho chúng tôi biết tiêu chuẩn thế nào là được gọi là ‘Phố Văn Hóa’ không? Cảm ơn ông.
(Trần Trung – Cabramatta)
Văn Quang trả lời:
Thưa bạn Trung, bạn đặt câu hỏi tôi mới nhớ là tôi cũng đang ở trong “Phố Văn Hóa”, lâu nay tôi quên khuấy đi mất “niềm tự hào” này. Bạn hỏi đến tiêu chuẩn nào mới được gọi là “Phố Văn Hóa”, tôi cũng tịt luôn. Mấy người dân cần gì biết đến cái tiêu chuẩn ấy. Các ông “trên Ủy Ban, trên Phường, Quận” muốn gọi là khu phố gì chẳng được. Gọi là “Phố Văn Minh Hiện Đại Nhất Thế Giới” cũng OK. Cứ nhìn khung cảnh trên đường là ông cũng có thể hiểu được văn hóa là gì rồi. Nhếch nhác, lấn chiếm, ồn ào mất trật tự, thiếu vệ sinh… là tiêu chuẩn bày ra đấy rồi ông ạ. Ông hãy nghe một anh phóng viên diễn tả khu phố Văn Hóa còn hơn cả cái “Văn Hóa” ở nơi em ông ở nhé.
* Tệ nạn xã hội đồng hành cùng “văn hóa”
“Chỉ vì bệnh thành tích mà hàng loạt khu phố văn hóa (KPVH), phường Văn Hóa (VH) “mọc” lên, trong khi chính ở những nơi đó, tệ nạn xã hội vẫn còn đầy rẫy.
Sau 15 năm phát động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” tại TP. Sài Gòn, ngày nay ra đường, mọi người dễ dàng bắt gặp những khẩu hiệu khá mỹ miều: “KPVH”, “phường VH”, đến khẩu hiệu (hay khổ hiệu?): “Quyết tâm giữ vững Khu Phố Văn Hóa”… Dễ thấy nhất là tại nhiều KPVH, phường VH vẫn diễn ra tình trạng xả rác, nước thải, các nhà buôn bán vẫn vô tư lấn chiếm lòng lề đường làm nơi buôn bán, đậu xe tràn lan…
Tại một số KPVH, người dân thật sự ngán ngẩm trước tình trạng cướp giật lộng hành. Bà L., chủ quán cà phê trong con hẻm trên đường Thạch Lam (KPVH 5, P.Phú Thạnh, Q.Tân Phú), kể: “Tui đang ở trong quán, có hai thanh niên khoảng 15, 16 tuổi đi trên chiếc xe Nouvo kêu ly nước mang đi. Khi tui vừa mang nước ra, bất ngờ 2 thằng nhảy đến giật sợi dây chuyền vàng tui đeo ở cổ và phóng xe vọt mất”. Bà L. Ngao ngán: “Trộm cắp đầy mà khu phố văn hóa cái nỗi gì!”.
Theo lời bà L. kể, hàng xóm của bà vừa bị trộm viếng. Đó là nhà số 307/43 đường Thạch Lam, vừa bị trộm cạy cửa nhà lấy đi số tài sản gần 300 triệu đồng. Theo bà L. và một số người khác, vụ việc xảy ra đã gần 2 tháng, dù đã trình báo đủ nơi nhưng đến nay vụ việc vẫn bặt vô âm tín. Được biết, P. Phú Thạnh đang xây dựng để được xét công nhận là phường VH trong năm nay.
Khoảng 12 giờ ngày 2-8, vừa bước vào KPVH 6, P.1, Q.5, phóng viên tình cờ thấy một thanh niên đi xe gắn máy giật sợi dây chuyền vàng của chị Trần Ngọc Thu ( ở Huyện Củ Chi), khi chị vừa đi vào hiệu thuốc số 6 Huỳnh Mẫn Đạt. Một số người dân địa phương cho biết, dù là KPVH nhưng tình trạng cướp giật ban ngày là chuyện bình thường…
Không chỉ có cướp giật, tình trạng gái mại dâm chèo kéo khách hoạt động ngày đêm vẫn ngang nhiên diễn ra tại một số KPVH. Hằng ngày, trên con đường Xô Viết Nghệ Tĩnh (từ cầu Thị Nghè đến Nguyễn Cửu Vân), người dân ở KPVH 1, P.17, Q. Bình Thạnh ngán ngẩm vì nạn mại dâm di động tại đây từ nhiều năm qua. Bà T. - một người dân KP1, cho biết: “Từ sáng tới tối, gái mại dâm chạy xe gắn máy đón khách rồi kéo khách vô mấy khách sạn gần đây mà chẳng thấy địa phương dẹp gì ráo!”.
Đến KPVH 3 đường Nguyễn Thị Tần, P.2, Q.8, ngay bên trong tấm bảng “Quyết tâm giữ vững khu phố văn hóa…” là những dãy chợ tự phát nằm hai bên đường, nhộn nhịp người mua, kẻ bán. Rác, nước thải của các hàng buôn bán thịt, cá, rau… cứ đổ thẳng ra đường, trông nhếch nhác. Càng đi sâu vào KP3, tình trạng lấn chiếm lòng, lề đường làm nơi buôn bán càng nhiều hơn. Chị T., sống gần đó nhăn mặt: “Mấy ông trong ban điều hành KP biết hết nhưng vẫn làm ngơ vì sợ lớn chuyện, mất thành tích!”.
Đây là thứ bệnh như có tính “di truyền” từ thành đến tỉnh. Chỉ khoe cái vỏ bề ngoài hào nhóang, bên trong… loạn xà bần” (ngưng trích).
Thưa bạn Trung, nói về “Phố Văn Hóa”… phi văn hóa như thế tạm đủ rồi. Xin được đề cập đến một thứ “văn hóa” khác.
* Văn hóa xấu hổ là gì?
“Xấu hổ” là tiếng người Bắc thường dùng, người miền Nam gọi là “mắc cỡ”. Dùng từ nào cũng được, cả hai miền đều hiểu nhau. Lâu nay có nhiều cụm từ thường thấy như văn hóa giao tiếp, văn hóa giao thông, văn hóa ứng xử, văn hóa từ chức… nhưng chưa có ai nói tới văn hóa xấu hổ. Mới đây, một quan đầu tỉnh, ông bí thư thành ủy Đà Nẵng đã “truyền đạt” cho các quan chức cấp dưới rằng: “Cán bộ bây giờ phải biết tập xấu hổ”. Nói thế có nghĩa là quan chức cấp dưới ông không biết xấu hổ nên bắt đầu từ bây giờ phải “tập xấu hổ” cho quen. Đây là lời “dạy dỗ” mới được nghe thấy lần đầu. Điều đó cũng có nghĩa là, đối với những quan chức, nhất là quan chức nắm chức vụ lãnh đạo, phải có lòng tự trọng, có tinh thần trách nhiệm, lời nói phải đi đôi với việc làm. Không thể nghĩ mình đã có chức, có quyền thì có hứa rồi không làm cũng chẳng sao, không dễ gì bị mất chức. Nhìn lại trong thực tế vẫn còn những người, dù có địa vị xã hội cao, có học thức nhưng không biết xấu hổ là gì. Thực tế là, tính tự trọng của những vị quan chức này còn “hơi bị thiếu”! Làm sai, không một lời xin lỗi lại còn nói là hoàn thành tốt nhiệm vụ!?
* Vài bằng chứng gần nhất
Gần đây nhất như vụ bác sĩ để quên gạc trong bụng bệnh nhân, khám đi khám lại vẫn không biết! Phải nhờ đến một bệnh viện tư tìm mới ra. Bệnh nhân chết hụt. Vụ Cục Điện Ảnh làm thất thóat 24 tỉ đồng mà các sếp lớn sếp nhỏ đều “vô tư” không hề hay biết rồi xin từ chức cả đám… Về mặt công trình xây dựng và thơ “phi văn hóa”, có thể kể đến Khu Du Lịch Đại Nam thuộc tỉnh Bình Dương. Đã có nhiều dư luận đàm tiếu về cả hai mặt kiến trúc và văn học. Kiến trúc sư Nguyễn Hữu Thái nhận định: “Thử hỏi có gì là văn hóa, nghệ thuật Việt khi nhà cửa toàn mái cong, rồng phượng cóp nhặt kiểu Trung Quốc. Chạm trổ cũng sao chép thô thiển họa tiết trang trí Trung Hoa, từ chiếc đèn đá, phù điêu cho đến vườn cảnh, hòn non bộ… Hình tượng binh lính có mặt nơi đây cũng không có gì gọi là Việt Nam, chỉ rặt một sự cóp nhặt hình ảnh các phim cổ trang Trung Quốc”. Còn nói về những bài thơ của ông “chủ tiệm” là Huỳnh Uy Dũng. Thơ văn của ông ta đều được chạm trổ, sơn son thếp vàng, khắc lên các bức tường của một “công trình văn hóa” cho thiên hạ chiêm ngưỡng. Thạc sĩ Nguyễn Ngọc Bảo Trâm, giảng viên Khoa Văn học và Ngôn ngữ Trường đại học Khoa Học Xã Hội Nhân Văn TP Sài Gòn đã lên tiếng khi đọc những bài thơ, câu đối ở Đại Nam: “Tôi thấy Khu Du Lịch Đại Nam chán lắm. Nó tầm thường và không có gì nổi bật, chỉ được mỗi cái to, nhưng rỗng tuếch. Mớ câu đối, câu thơ được sơn son thếp vàng lộng lẫy in khắc trên các cột và bức tường thì gọi là thơ mà không phải là thơ, gieo vần, thanh điệu còn sai chứ đừng nói là nội dung. Không có ý nghĩa, không có giá trị. Còn tệ hơn những bài thơ con cóc”. Còn nhiều điều để nói về cái khu du lịch “vĩ đại” này. Xin để dịp khác, tôi sẽ bàn luận cùng bạn đọc.
Rồi đến bóng đá lại vừa rộ lên thứ bóng đá “sạch” và bóng đá “bẩn” đang tùm lum tà la. Các ông bầu đang “nổ súng” vào Liên Đoàn Bóng Đá Việt Nam (VFF), yêu cầu cải tổ và cũng cần phải học “văn hóa xấu hổ”….
Nhiều chuyện tày trời thành thói quen hứa “lèo”: “Chúng tôi sẽ kiểm tra và giải quyết thoả đáng” hoặc “Chúng tôi sẽ rút kinh nghiệm”, thế là phủi tay, là xong chuyện. Chẳng ai biết xấu hổ là cái gì! Dân chỉ có nước chờ mòn con mắt.
Những chuyện như thế này còn nhiều lắm, viết bao nhiêu cũng không đủ.
“Con ma nhà họ Hứa” mỗi lúc một nhiều.
Những vị quan chức này cần nghiên cứu về “Văn hóa xấu hổ”. Ở đây chỉ nói tới khía cạnh “xấu hổ”, về lòng tự trọng. Có thể cấp dưới hay người dân không lên tiếng tố cáo những vị quan chức “không biết xấu hổ” nêu trên, vì ngại, vì sợ bị trù dập… nhưng chắc chắn là họ không được mọi người tôn trọng. Làm sao mà tôn trọng được khi, một quan chức chưa giải quyết việc cho dân đã gợi ý “bỏ bì thư”, gợi ý đi nhà hàng nào, thậm chí phải có kèm khoản này khoản nọ, kể cả khoản “tình phí” mới chịu. Đã không tôn trọng người dân còn khinh thầm. Ngoài xã hội hiện nay đang lan truyền câu nói là dạo này đã có nhiều người đổi họ thành họ “Hứa” để ám chỉ những vị chỉ giỏi hứa hẹn mà quên thực hiện lời hứa. Họ hàng của “con ma nhà họ Hứa” này mỗi lúc một nhiều hơn bằng đủ thủ đoạn khác nhau. Hãy xem một kiểu “gợi ý” trong tuần vừa qua, tuy nó nhỏ nhưng có liên quan mật thiết tới “văn hóa xấu hổ”.
* Ghi chức danh cha trên thiệp mời cưới con
Suốt tuần qua, nhiều người dân TP Cần Thơ bàn tán về chuyện ông Nguyễn Hùng Dũng - Phó ban thường trực Ban chỉ đạo phòng chống tham nhũng TP Cần Thơ - tổ chức đám cưới cho con trai, ngoài thiệp mời ghi cả chức danh của ông. Một viên chức nhận được thiệp mời bày tỏ, đám cưới con là để thân tộc, bạn bè hai họ đến chung vui, mang tính thân tình. Một chủ doanh nghiệp thì cho biết, không thân thiết với gia đình ông Dũng nhưng thấy dưới tên “cán bộ” có ghi chức danh quá to nên cả nể đi dự tiệc vào trưa Thứ Hai, 5-9.
Những người dự tiệc hôm ấy cho biết đám cưới được tổ chức tại nhà hàng Cửu Long nằm cạnh Thành Ủy Cần Thơ. Có hơn trăm xe hơi đậu kín phía trước. Khách mời ngồi kín cả sảnh có sức chứa 90 bàn.
Ông Nguyễn Minh Thuyết, nguyên đại biểu Quốc Hội nhận xét: “Tôi cảm thấy buồn cười vì việc làm này. Cưới xin ma chay là việc riêng, trên thiệp cưới của con chỉ đề tên cô dâu, chú rể và tên bố mẹ của cặp đôi. Ghi chức vụ trên bao thiệp mời là chuyện không bình thường, thậm chí, nếu nặng lời thì có thể gọi là lố bịch. Trong trường hợp ghi chức danh ‘nhạy cảm’ như Phó trưởng ban Chỉ đạo phòng chống tham nhũng thì người nhận được thiệp chắc chắn không tránh khỏi cảm giác bị áp lực. Vì đó là lời nhắc nhở khiến người nhận thiệp phải hiểu rằng việc đến dự không những là bắt buộc mà phong bì mừng cưới cũng phải tương đối khá”.
* Mang bố từ nhà quê ra “làm cảnh” kiếm tiền mừng tuổi
Ông Thuyết còn nói: “Hiện tượng ‘thu hoạch’ qua cưới hỏi, lễ tết phổ biến ở nước ta từ lâu. Một số cán bộ có chức có quyền ‘tranh thủ’ thu lợi trong những dịp này. Tôi biết có cả trường hợp cán bộ có bố, mẹ ở quê, cũng không thường xuyên quan tâm đến cụ, nhưng cứ gần Tết là đưa cụ ra ngồi ở nhà mình để người ta đến thăm, mừng tuổi…!!!”
Đúng là các quan tham không biết đến xấu hổ thật. Cho nên “tập xấu hổ” nên phổ biến rộng rãi để “các ngành các cấp” ở khắp nơi được học tập, trước khi học tập chống tham nhũng, trước khi làm bản khai tài sản, trước khi tiếp xúc với người dân. Đây là một bài học cần thiết cho các “cán bộ” hơn bao giờ hết.Văn Quang
Xây tượng đài sang hơn Mỹ!
Việc đáng nói nhất trong tuần này là chuyện người dân khắp nơi đang “la làng” về mấy ông quan chức một tỉnh nghèo, gần như nghèo nhất Việt Nam bây giờ, lại đang lo xây một bức tượng đài với kinh phí lên đến hơn 400 tỉ đồng. Bạn đọc chưa hỏi, tôi cũng phải nói về việc làm quái đản này. Mặc dù dư luận trong nước cũng như ở nước ngoài cũng đang bất bình, nhưng tôi là người Việt Nam còn đang sống ở Việt Nam, tôi thấy có bổn phận phải nói tiếng nói của mình và tin chắc phản ảnh được trung thực tiếng nói của người dân. Việc xây tượng đài này, không những đã “quái” mà còn là sự coi thường người dân, trắng trợn thách thức dư luận trong thời buổi vô cùng khó khăn này.


Phác thảo cụm tượng đài.

* Phong trào “xây tượng đài” đã có từ lâu
Thật ra câu chuyện xây tượng đài ở nhiều tỉnh thành đã có một thời rộ lên như “một nét văn hoá mới” làm đẹp thành phố, tỉnh lỵ. Mỗi thành phố, mỗi tỉnh thuê một ông họa sĩ hay một nhà điêu khắc, thậm chí một ông “thợ nặn” nào đó vẽ cho vài cái mẫu làm “biểu tượng” cho tỉnh mình rồi hội thảo lu bù, chọn một mẫu “văn hoá” đẹp nhất, xuất quỹ làm tượng, đặt ở ngay lối vào đầu tỉnh hoặc một nơi chốn có đông người qua lại. Như bức tượng trên con đường lớn nhất, bên bãi biển Nha Trang mà từ “người dân bổn xứ” cho đến khách du lịch nhìn mãi chưa hiểu nổi ý nghĩa “thâm sâu” của bức tượng là gì! Hồi đó cuộc sống của người dân còn tương đối no đủ, vậy mà cũng đã có nhiều lời than phiền chê trách. “Phong trào chơi biểu tượng” ấy xẹp xuống dần như nhiều cái “phong trào” khác giống quả bóng xì hơi. Nay lại thấy tỉnh Quảng Nam chơi trội, xây một cái tượng đài làm “biểu tượng” cho toàn quốc. Đó là “tượng đài Mẹ Việt Nam anh hùng” được xây dựng tại khu vực núi Cấm, xã Tam Phú, thành phố Tam Kỳ, Quảng Nam. Tượng đài này xây trên tổng diện tích hơn 15 hecta, gồm khối tượng chính và 8 trụ huyền thoại. (Từ đây xin gọi tắt là “tượng đài” cho đỡ dài dòng). Theo các quan chức tỉnh và nhà nặn tượng thì tượng đài này “sau khi hoàn thành không chỉ lớn nhất Việt Nam mà còn lớn nhất Đông Nam Á”. Đó là niềm hãnh diện hay để các nước Đông Nam Á cười chút chơi?

* Ngân quỹ bổ sung gấp 5 lần ban đầu!
Tượng đài tạc bằng đá hoa cương. Trong lòng khối tượng là nhà tưởng niệm có diện tích 950 mét vuông. Kinh phí phê duyệt ban đầu vào tháng 8-2007 là 81 tỷ đồng. Trong đó, Trung ương cấp 50 tỉ đồng, tỉnh chi 20 tỉ đồng và nguồn đóng góp từ các đoàn thể, tổ chức xã hội là 11 tỉ đồng. Tượng đài được khởi công vào ngày 27-7-2007.
Nay quyết định bổ sung vốn, tổng số tiền đầu tư tượng đài này lên 410 tỷ đồng, tức là phải bổ sung thêm 329 tỉ đồng, gấp 5 lần lúc ban đầu.
Cái kiểu “bổ sung” này thường xảy ra ở rất nhiều công trình lớn nhỏ. Chưa nói đến việc có “ăn” vào đó hay không, cứ nói đến cái kế hoạch dự trù cũng đã ớn xương sống rồi. Hầu hết là những ông quan chức học hành tầm tầm cùng những ông bằng cấp đầy mình (mà thường là bằng cấp… khó chứng minh, đến thứ trưởng còn xài bằng giả kia mà) ngồi bàn kế hoạch dự trù đều lơ mơ chẳng bao giờ đúng. Hơn thế đã có cái “lệ làng” là cứ dự trù rồi lại xin điều chỉnh, xin bổ sung sau. Nhân cái “lệ làng” này cứ “vừa làm vừa ăn” rồi lại có chỗ rót vốn vào, lo gì cái vặt! Làm ẩu, làm liều, cọc sắt thành cọc tre, đường vừa làm xong đã hư, lại sửa! Cái cớ viện dẫn cho việc phải bổ sung này hợp lý nhất là giá vật liệu ngày một tăng cao. Giá tăng một, các ông ấy tăng gấp đôi gấp ba. Nhưng tăng đến 5 lần được “duyệt” ban đầu như bức tượng của các quan chức ở tỉnh Quảng Nam thì quả thật là một cuộc bổ sung phi mã, hiếm thấy trong “lịch sử bổ sung của nước nhà”.
Không diệt được kiểu bổ sung này thì còn là lắm chuyện, dân chỉ còn dài người ra đóng thuế hoặc con cháu chúng ta trả nợ “hộc xì dầu”.

* Chơi sang hơn Mỹ
Trước việc điều chỉnh vốn đầu tư nói trên, nhiều nhà nghiên cứu văn hóa, người dân cho rằng, xây dựng tượng đài không nhất thiết phải quá “hoành tráng”, tốn kém đến hàng trăm tỷ đồng như vậy. Có thể nói đây là một kiểu chơi lố bịch như dân gian ví von: “Xây tượng đài hoành tráng như nhà nghèo nuôi voi cưỡi chơi”! Ông Phạm Trung, Trưởng ban Mỹ thuật hiện đại (Viện Mỹ thuật) cho biết: “Để kỷ niệm 10 năm sự kiện 11/9 ở Mỹ, tại khuôn viên của tòa tháp đôi bị đánh sập, Ban tổ chức không làm những tượng đài cao vút, đồ sộ mà tại nền 2 tòa tháp cũ, họ đào hai cái hồ vuông, nước chảy liên tục vào đấy, xung quanh ghi tên những người thiệt mạng. Ngày tưởng niệm họ chiếu 2 cột đèn laser lên trời, kỹ thuật không có gì ghê gớm nhưng ý nghĩa vô cùng sâu sắc”.
Còn riêng 8 cái “trụ huyền thoại” trong tượng đài của tỉnh Quảng Nam, phần mỹ thuật, thân tượng và 8 cột trụ đã chiếm khoảng hơn 225 tỉ đồng. Đúng là các quan này chơi sang hơn Mỹ. Thú thật với bạn đọc tôi thấy “trụ huyền thoại” nghe có vẻ “văn hóa” quá xá, chẳng biết các ông này lôi ở đâu ra hai chữ “huyền thoại” để gắn vào đó cho thêm phần long trọng kiểu “sử thi”, cho đáng đồng tiền bát gạo. Nhưng một đồng tiền, một bát gạo đối với người dân nghèo quý lắm. Không thể mang cả trăm tỉ ra “chơi văn hóa” kiểu này được. Mỹ cũng phải chào thua.


8 cột trụ huyền thoại trong tượng đài.

* Sự phẫn nộ của người dân


Rất nhiều người dân đang lên tiếng bất bình. Tôi chỉ nêu vài ý kiến trong hàng trăm, hàng ngàn lời phát biểu đầy phẫn nộ của người dân:
- Bà Trần Thị Phẩm là một trong những bà mẹ Việt Nam Anh Hùng còn sống, suốt gần 50 năm qua bà sống cô đơn ở huyện đảo Lý Sơn cũng phải kêu lên: "Xây tượng đài cho mẹ làm chi, các chú hãy giành tiền giúp tụi nhỏ ở vùng sâu, vùng xa đến trường thì tốt hơn".
- Bạn Quách Phú Lộc đã lên tiếng: “Quá lãng phí. Không hiểu người ta thích cái gì cũng phải to, phải lớn nhỉ? Trong thời buổi khó khăn này mà nhà nước duyệt cho xây dựng những công trình như thế?! Tại sao chính phủ cứ hô hào cắt giảm đầu tư công mà công trình không được cắt giảm, tui thấy ở một số nơi đầu tư công được cắt bỏ là những công trình xây dựng trường học và bệnh viện (về Bình Dương sẽ biết)”.
- Bạn Lê Tuấn cay đắng: “Bà mẹ Việt Nam anh hùng với 410 tỉ sẽ nghĩ như thế nào nếu con gái của mẹ vì nghèo đói phải lấy chồng xứ lạ Đài Loan, Nam Triều Tiên... Con gái của mẹ lại đẻ thuê cho người Thái. Không có một bà mẹ Việt Nam anh hùng muốn vậy! Chỉ có những người dựa theo mẹ để làm việc riêng.
Nói đến người dân tỉnh Quảng Nam, ai cũng biết, hàng năm phải đối mặt với thiên tai bão lụt nhiều nhất. Liệu bức tượng kia có nhìn xuống dòng sông để thấy các em học sinh bản Ông Tú và Ka Oóc xã Trọng Hoá phải bơi qua sông đi học chữ không? Nhiều thôn xóm mọi người còn phải đu dây như khỉ qua những con sông con suối nước chảy băng băng, gùi từng củ mài về ăn thay cơm, nhặt từng cọng cây khô về sưởi ấm. Các bà mẹ ấy có đành lòng ngồi trên cao nhìn cuộc sống đang diễn ra như vậy không?”


* Vô cảm trước mọi dư luận chống đối của người dân


Vậy mà trước những ý kiến chống đối gay gắt của người dân, có một số quan chức tỉnh Quảng Nam vẫn cứ thản nhiên trả lời rằng “xây dựng pho tượng này là thể theo nguyện vọng của quần chúng nhân dân”. Người ta lợi dụng hai chữ nhân dân quá nhiều rồi. Nhân dân nào? Hai chữ đó trở nên rất mơ hồ muốn gán vào chỗ nào cũng được. Hãy thử nhìn xem kết quả của một cuộc trưng cầu ý kiến của một tờ báo trong nước sẽ thấy ngay “nhân dân” có bao nhiêu người đồng tình và bao nhiêu người phản kháng:
Tính đến ngày 24-9-2011, số người đồng tình chỉ có 773 phiếu (4,5%) trên tổng số 17.005 phiếu. Số người nêu ý kiến làm với quy mô vừa phải có 7.102 phiếu (41,8%). Số người nêu ý kiến không nên xây tượng đài là 8.994 phiếu (52,3%) Vậy nguyện vọng của nhân dân ở đâu? Chỉ có 773 ông, chắc thuộc cơ quan nhà nước của tỉnh. Không ai có quyền đại diện cho nhân dân để làm bất cứ việc gì khi chưa có sự trưng cầu dân ý.
Cụ thể hơn, ngày 22 tháng 9 vừa qua, sau khi đã có sự phản đối của người dân, ông Vi Kiến Thành - Cục trưởng Cục Mỹ thuật, Cục trưởng Nhiếp ảnh và Triển lãm, đã trả lời với phóng viên rằng: “Bản thân tôi chưa nhìn thấy sự lãng phí ở đây, đó là dư luận nói”. Và ông lại vin vào cớ: “Các công trình xây dựng phần lớn đều đội giá, không thể nói riêng tượng đài”. Rồi ông đặt câu hỏi: “Các bạn đã tính 1 km quốc lộ là bao nhiêu tiền chưa? Nếu so sánh như thế thì sẽ thấy con số này là đắt hay rẻ”.
Đúng là một kiểu so sánh ngây thơ. Làm đường để phục vụ sự thông thương, phát triển kinh tế xã hội. Làm tượng chỉ để ngắm, hai việc khác nhau hoàn toàn. Ông đã gặp ngay câu trả lời của người dân: Bạn Nguyen Vinh Dan viết trên báo Người Lao Động: “Ông Cục trưởng này bị bịnh vô cảm rồi... Ông đang chứng tỏ mình là quan chỉ biết ý kiến của mình, quan điểm của mình mà không đếm xỉa gì đến ý kiến quần chúng nhân dân...”.
Bạn Huynh Trong Tai: “Bó tay với cách phát biểu ‘thiếu trách nhiệm’ của ông Thành, tôi nghĩ bản thân ông Vi Kiến Thành là ông bị bệnh cận thị và lãng tai khi tuổi đã cao nên không nghe, không thấy rõ sự phản đối 410 tỉ để xây tượng đài của người dân trong nước và hải ngoại”… Và bạn Trần Ba kết luận một câu gọn lỏn: “Ông Vi Kiến Thành này nói ngang...”'


Gần một năm nay, học sinh bản Ông Tú và Ka Oóc xã Trọng Hoá phải bơi qua sông học chữ.

* Đội ngũ chuyên môn còn hạn chế thì đừng “dự toán”

Ông cục trưởng nêu ra ba lý do để xin bổ sung kinh phí. Ông nói: “Theo tôi, ở đây cần có một cái nhìn khách quan. Các công trình xây dựng phần lớn đều đội giá, không thể nói riêng tượng đài. Nói như vậy, tượng đài biến thành tội đồ. Giá cả trượt quá nhanh, thời gian xây dựng bị kéo dài do kinh phí rót rất chậm cũng là một lý do. Thêm nữa, khả năng tiên lượng dự toán của đội ngũ chuyên môn cũng còn hạn chế. Tất cả cộng lại đã khiến chi phí bị đội lên”.
Như trên đã phân tích, cái “mốt” đổ cho trượt giá đã thành bài bản cho hầu hết những công trình lớn nhỏ. Ở đây cũng chỉ là “bổn cũ soạn lại” thôi, không cần bàn tới. Riêng việc ông thú nhận “đội ngũ chuyên viên còn hạn chế” cũng không khác gì những kiểu trả lời của nhiều cơ quan chức năng khi một sự việc bị vỡ lở ra làm thiệt hại nặng nề cho nền kinh tế đất nước. Đổ tội cho “còn hạn chế” nghe nhẹ hều, như thế chẳng ai có tội cả, chỉ vì ta ít người tài. Thật ra người tài không thiếu nhưng các ông không biết dùng hay không dám dùng mà thôi. Bởi lý lịch của họ hay vì không cùng phe cánh, không được ai giới thiệu.
- Bạn Minh nói thẳng thừng: “‘Khả năng tiên lượng dự toán của đội ngũ chuyên môn cũng còn hạn chế’. Một câu nói mâu thuẫn hết sức, đã có chuyên môn mà lại hạn chế. Nếu trình độ còn hạn chế thì đừng tham lam ôm việc lớn để làm hao phí tiền bạc của dân. Đó mới là người chân chính”.
- Bạn Nguyên kết luận: “Đã là dân chuyên môn mà khả năng năng chuyên môn còn hạn chế!? Nói thật các ông ‘chuyên môn’ đừng tự ái. Khả năng còn hạn chế nói cho đúng là ‘còn dốt’. Dự án kinh tế mà cứ giao cho các ông ‘còn hạn chế’ kiểu này ,thì có nước in tiền âm phủ may ra mới đủ cho các ông bù vào khoản ‘còn hạn chế’. Tội nghiệp cho đồng bào mình, giao việc cho các ông ‘còn hạn chế’ như thế này thì bao giờ mới hết nghèo”.

* Tượng đài sẽ được tiếp tục như thế nào?

Đó là câu hỏi còn đang được bỏ ngỏ. Nhưng nó đã được khởi công vào ngày 27-7-2007, tức là cách đây 4 năm. Trong khoảng thời gian đó đã ngốn hết bao nhiêu ngân quỹ và làm được những gì, chưa thấy “hạch toán” rõ ràng. Tuy nhiên nó đã bắt đầu thì khó có thể bỏ ngang, đã “đâm lao phải theo lao”. Nhưng “theo lao” bằng cách nào? Chỉ sợ các “cơ quan chức năng” cố đấm ăn xôi, phớt lờ dư luận cứ làm theo ý mình, ý dân thì mặc. Chúng ta hãy chờ xem.
Văn Quang

Chân dung Người trí thức

Đất nước đột quỵ nếu không trị nổi tham nhũng


Năm năm trước, khi Việt Nam gia nhập WTO, các nghị quyết của đảng CS đều liên tiếp lên giọng hứa hẹn một mức phát triển kinh tế cao, đời sống nhân dân được cải thiện, bảo đảm xã hội đang hướng đến mục tiêu dân chủ, bình đẳng, văn minh và hạnh phúc cho toàn dân. Nghe thật hay, như rót mật vào tai. Bức tranh tương lai lúc ấy hứa hẹn bao điều tốt đẹp, sáng lên một màu hồng, nức lên niềm hứng khởi lạc quan, theo như phác họa của những người lãnh đạo cao nhất và bộ máy tuyên huấn.

Nhưng thực tế thật phũ phàng. Bộ Chính trị luôn căn dặn nhìn thẳng vào sự thật. Thì đây, hiện thực trước mắt rõ ràng là một màu xám. Lạm phát vào loại cao nhất châu Á. Tham nhũng vẫn xếp hạng 112 của thế giới. Tự do báo chí còn tệ hơn, đứng thứ 153. Đại công ty quốc doanh Vinashin chìm nghỉm cuốn theo hơn 5 tỷ đôla, đại công ty quốc doanh VN Petro đang đứng bên bờ vực. Chứng khoán VN từ 600 điểm năm ngoái nay rơi tự do xuống còn 340. Xã hội băng hoại chưa từng thấy. Cướp đất, cướp của giết người khắp nơi, tàn bạo hơn, rộng khắp hơn. Từ trong đảng vang lên lời báo động đảng viên cộng sản sa sút đạo đức đến độ nghiêm trọng, số vào tù về tội ăn cắp của công, ăn hối lộ lớn, tham nhũng lớn hàng chục triệu đôla có nhân tố nước ngoài toàn là đảng viên CS cấp cao cả.

Những “kỷ lục” không lấy gì đẹp đẽ trên đây chứng minh đầy đủ đảng CS đã thất bại nặng nề trong lãnh đạo xã hội, nói một đằng làm một nẻo, kết quả thật sự bi đát, lời hứa danh dự quyết liệt chống tham nhũng chỉ là điều mỉa mai dối trá. Lời hứa đưa đất nước bay cao, ra khơi cũng trôi theo chiều gió. Tội lỗi lớn nhất của đảng CS, đặc biệt của Bộ Chính trị, là đã phung phí, tước đoạt của cải nhà nước, chia chác nhau tài sản quốc gia cho các phe nhóm cầm quyền trên quy mô lớn, để hầu hết cán bộ cấp cao đang tại chức đều trở thành đại gia giàu có – bổng và lộc gấp không biết bao nhiều lần lương danh nghĩa. Họ có nhà cao cửa rộng, biệt thự lớn nhỏ, tiền bạc, của cải thừa mứa, có tài khoản ngân hàng lớn cả trong lẫn ngoài nước. Nhiều người cùng con cháu ăn chơi ngông kiểu phá của - chơi cờ tướng ăn thua một ván 1 tỷ đồng, đãi nhau những bát phở bạc triệu, trong khi lương tối thiểu của công nhân viên chức chỉ quanh 1 triệu đồng/một tháng.

Cần chỉ rõ không ít đảng viên Cộng sản có quyền lực lớn đã phản bội lý tưởng và lời thề của mình, không còn thương xót kẻ nghèo hèn, bênh vực người bị bóc lột, trái lại họ trở thành những nhà tư sản lớn, địa chủ lớn, chủ địa ốc lớn, chủ chứng khoán lớn, nghĩa là những đối tượng họ từng coi là xấu xa nhất trong xã hội tư bản mà họ từng chủ trương loại bỏ không thương tiếc.

Mỉa mai hơn nữa là họ cố tình đi quên bài học vỡ lòng về đạo đức của người đảng viên CS là lo trước cái lo của thiên hạ và chỉ hưởng sau những gì người dân được hưởng. Nay họ lao đi “tiên phong” trong việc vơ vét tiền của của nhân dân không chút hổ thẹn, hối hả làm giàu bất chính ngay trên cái lưng gầy còm của đồng bào mình. Họ là tiêu biểu cho những kẻ bất nhân, bất nghĩa và bội tín. Chính họ tự xóa bỏ vai trò gương mẫu hy sinh, tự phủ định tính cầm quyền chính đáng của mình.

Chưa bao giờ uy tín của đảng lại sa sút tệ hại như ngày nay. Niềm tin của đông đảo nhân dân là điều quý giá nhất. Đánh rơi niềm tin và sự quý trọng là mất tất cả. Đông đảo nhân dân nay đã hiểu ra rằng đảng đã thoái hóa biến chất tận gốc rễ do lòng tham lam hưởng thụ quá lớn không sao kiềm chế nổi, từ những vị trí cao nhất, nhà dột từ trên nóc. Cấp dưới nhìn lên cấp trên, theo gương cấp trên, thậm chí ganh đua với cấp trên, thi nhau ăn cắp của công, tham nhũng trở thành phong trào chung, trở thành thời thượng, ai không tham gia là dại.

Người xưa quen nói tệ "dốt nát" - vì “dốt” nên “nát”, đất nước tan nát vì người cầm quyền ngu dốt. Không, họ đều có học cả, không ít thì nhiều. Chỉ vì lòng tham, lòng tham không hạn độ; đất nước ỳ ạch, không bay cao được, chẳng ra khơi nổi chỉ vì lòng tham. Tham nên mù quáng. Tham nên nát.

Do trong Bộ Chính trị cá mè một lứa, không có một ai thanh liêm trong sạch, không có một ai có uy tín lớn đối với dưới, đóng vai Bao Công duy trì công lý nghiêm minh, nên đảng có nguy cơ tan rã nhanh chóng, phân ra thành những phe cánh chỉ gắn bó với nhau bằng lòng tham và danh lợi.

Hãy nhớ lại sự tan rã của đảng CS của Ceausescu ở Romania, của Tito ở Nam Tư, của Honecker ở Đông Đức, gần đây sự tan vỡ các đảng của Bel Ali ở Tunisia, của Mubarak ở Ai Cập, của Gadhafi ở Libya, tất cả giống nhau ở chỗ oai phong hung bạo làm dân khiếp sợ, nhưng đồng thời cũng bị dân khinh ghét, oán thù vì bản chất cực kỳ tham nhũng. Các chế độ này đã có thời tác oai tác quái ghê gớm tưởng chừng sẽ tồn tại lâu dài, bỗng đột quỵ khi nhân dân bừng tỉnh, tay không vùng dậy xuống đường để tự cứu, và thành công.

Ở nước ta, tai họa tham nhũng đang trở nên tai họa gốc gác, trở thành kẻ thù nội xâm nguy hiểm nhất đe dọa tận gốc rễ uy tín vốn đã giảm đến mức tệ hại của đảng CS. Nó đe dọa đến cả sự tồn vong của chế độ. Nó tạo nên sự bất công kinh hoàng chưa từng có trên đất nước ta, người đã giàu ngày càng giàu sụ không giới hạn, người lao động lương thiện bị dồn vào nghèo đói cực nhục, oán hận chế độ đã hoàn toàn buông rơi mình. Cảnh bất công phơi bày ra trước mắt mỗi người: nhà cao, biệt thự, xe cộ đời mới nhất, cảnh ăn chơi phá của của các đại gia và bọn “con cháu các cụ” ngày ngày nuôi dưỡng sự khinh bỉ và lòng căm giận của quần chúng yêu chuộng công lý. Một số blogger tự do cho biết bà con thủ đô gọi họ là “chúng nó”, là “mafia đỏ”, là “bầy giòi bọ”, những tên “cướp ngày”, gần đây còn gọi là những tên “Gadhafi Việt”, hoặc “Mubarak châu Á”, hay “Ceausescu da vàng“ chờ ngày bị hỏi tội.

Quyết liệt diệt trừ tận gốc rễ quốc nạn tham nhũng, không có khu cấm, vùng cấm nào, không lần lữa bênh che, không úp úp mở mở như vụ án Securency, không thể chạy tội mãi cho viên Đại tá công an Lương Ngọc Anh và nguyên Thống đốc ngân hàng Trần Đức Thúy… khi chứng cứ đã quá đủ. Đó là con đường tất yếu tiên quyết để giữ cho chế độ khỏi tan vỡ như Liên Xô hay Ba Lan trước đây. Nhưng điều kiện để diệt trừ tận gốc rễ quốc nạn quái ác này lại là xây dựng nền pháp chế công minh, một nền tư pháp hiện đại, một loạt Bao Công thanh liêm lòng dạ sáng trong giương cao thanh gươm luật pháp sắc bén làm nản long, gây kinh hồn cho bọn gian thần. Muốn vậy không có con đường nào khác là thay đổi hẳn hệ thống cơ chế cầm quyến, chuyển từ độc đoán sang dân chủ, độc đảng sang đa đảng trong trật tự và pháp luật.

Trung Quốc hạ bệ, bỏ tù cả ủy viên Bộ Chính trị, xử tử hình cả tỉnh trưởng - ủy viên trung ương đảng, xử bắn một loạt đảng viên cấp cao tham ô trên 1 triệu Yuan, vậy mà vẫn bị người dân cho là quá mềm yếu trong chống tham nhũng, vẫn chỉ là xua muỗi, làm trò, hời hợt, giơ cao đánh khẽ, kiểu mỵ dân.

Một lần nữa, hãy nhớ lời khuyên chân thành của “Lão Lý” – ông Lý Quang Diệu. Cẩm nang 3 điểm:

-luật pháp thật nghiêm
-lương bổng đủ ăn
-truyền bá nếp sống giản dị trong sạch.

Để viên chức các cấp đều nhất loạt:

-không dám tham nhũng, rất sợ vào tù, sẽ nhục cho bản thân, vợ con, gia đình,
-không cần tham nhũng, cũng đủ sống, kinh tế lên mọi người được hưởng,
-không nỡ tham nhũng, tự coi tham nhũng là kẻ cướp, kẻ trộm, kẻ móc túi, ô nhục.

Ông Lý Quang Diệu dặn kỹ cán bộ các cấp phải coi đồng tiền là phương tiện chứ không phải là mục đích. Ông có tiêu chuẩn đi xe ô tô Mercedes đắt tiền nhất, nhưng chỉ đi xe Honda bình dân nhất. Vẫn lấy đó làm vui. Ông dặn: cử chỉ nhỏ gương mẫu có tác dụng hơn trăm lời nói suông về chống tham nhũng.

Riêng các khoản lãng phí và tham nhũng đủ kiểu hàng năm ở nước ta – hàng vài chục tỷ đôla - thừa đủ để nâng ngân sách lương bổng lên đáng kể. Hãy nhớ câu chuyện chủ tịch thủ đô trước đây vừa nhậm chức thì việc đầu tiên là lo sắm ngay chiếc xe con đắt tiền nhất, bị dân thủ đô chế diễu là cưỡi con trâu vàng 1 triệu đôla. Một anh nhà quê nghèo văn hóa hám của, vụ lợi, dại dột, học làm sang, mang nhục, bị coi khinh về nhân cách, tiếng xấu để đời.

Cuộc họp Ban Chấp hành Trung ương 4/khóa XI vừa ra nghị quyết tập trung về củng cố, chỉnh đốn đảng, phục hồi đạo đức, kiên quyết chống tham nhũng. Biện pháp không có gì mới, vẫn chỉ là hô hào suông. Lại sẽ vẫn như cũ, mỗi lần tuyên chiến với nó, quốc nạn tai quái này lại lộng hành hơn, chén bẫm của cải của dân hơn, nó như ngạo nghễ cười khỉnh với 14 vị trong Bộ Chính trị rằng:”Tớ đâu biết sợ, vì tớ với đằng ấy tuy hai mà một, 2 chúng ta tuy một mà hai. Chả lẽ mình lại tự diệt mình à“.

Chính vì vậy nên nếu chọn con người tiêu biểu cho năm 2011 của nước ta, tôi chọn bà Lê Hiền Đức, con người yêu nước, thương dân theo hướng quyết liệt chống tham nhũng, chống bằng cả nghị lực và tài trí của mình, chống đến cùng, không nhân nhượng. Bà đích thực là người của tình thế.

Ông Trương Tấn Sang từng gọi kẻ tham nhũng là con sâu, gọi bọn tham nhũng là bầy sâu. Hy vọng ông thật lòng chống tham nhũng, tự tách ra khỏi bầy đàn tham ô. Ông nên áp dụng đúng lời khuyên của “Lão Lý” nói trên, ông nên chống tham nhũng quyết liệt như bà Lê Hiền Đức, nhưng hiệu quả sẽ gấp ngàn vạn lần vì ông ở vị thế chủ tịch nước. Ông nên tận dụng Uỷ ban trung ương chống tham nhũng, nhưng chọn kỹ lại phải toàn là người liêm khiết và có ý chí chống tham nhũng, nắm chặt bộ máy ấy. Ông và bộ máy ấy hãy ra tay quét bầy sâu lớn nhỏ ở mọi nơi, bền bỉ, nghiêm minh, thu hồi các tài khoản bất minh trả về cho ngân sách, tịch thu mọi tài sản bất chính trả về cho nhà nước. Ông hãy làm gương, đi xe con loại trung bình, ở nhà vừa phải, gương mẫu tiết kiệm trong chi tiêu công quỹ, giảm hẳn chi phí mọi mặt của Phủ chủ tịch, làm gương cho các bộ, cho các tỉnh thành. Cả xã hội sẽ hoan hỉ hơn Tết.

Nếu làm được việc đẩy lùi quốc nạn tham nhũng do tự mình ra tay và làm gương, ông Sang sẽ trở nên nhà lãnh đạo đáng quý trọng của nhân dân, được nhân dân hiện nay và hậu thế nức lòng ghi công. Nếu như năm 2012 Việt Nam từ vị thế thứ 112 về chống tham nhũng vọt lên thứ 50 hay 60 chẳng hạn do ông Sang ra tay, ông sẽ được cả thế giới ngợi ca, vì chống tham nhũng hiện là chuyện hàng đầu của mọi quốc gia.

Còn nếu ông Trương Tấn Sang cũng chỉ chống tham nhũng bằng mồm, vậy thì còn có những ai khác trong hàng ngũ lãnh đạo sẽ phất cờ cứu đảng và cứu nước đây? Nếu không, cả đất nước sẽ chìm đắm trong bất công và lạc hậu, biết bao giờ mới ngẩng đầu lên được, chỉ vì thiếu những nhà lãnh đạo kiên cường thật lòng chống tham nhũng.

Như vậy đất nước sẽ bế tắc rồi đột quỵ vì con quỷ nội xâm do chính đảng CS bao che và nuôi dưỡng. Xã hội sẽ rã rời. Sự thật hiển nhiên là như thế, không một ai có thể nói khác.

Bùi Tín viết riêng cho VOA

Chuyện nhảm ở triều đình

Tân lãnh tụ Nam Triều Tiên Kim Jong Un
Hình: AP
Nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên. Chỉ riêng tên nước đã không bình thường. “Cộng hòa” mà không có công dân tự do; “dân chủ” mà chỉ có một đảng duy nhất; “nhân dân” mà người dân chết đói hàng loạt. Nước “thần tiên” mà như địa ngục trần gian, đa số nhân dân chỉ muốn bỏ nước ra đi. Danh xưng một nước chứa đến 4 điều phi lý to đùng.

Chưa hết. Cha truyền con nối 3 đời làm lãnh tụ tối cao, tự phong cho nhau làm “nguyên soái” và “đại tướng”, 3 đời làm vua giữa triều đình cộng sản; thế là nhảm, giữa thời đại dân chủ văn minh.

Bên phải đại tướng lãnh tụ tối cao má búng ra sữa là cụ đại tướng cậu ruột, bên trái là bà đại tướng dì ruột, một bộ ba “Tam đại tướng”. Cháu cậu dì cùng được phong một lúc, trông thật khôi hài.

Vẫn chưa hết chuyện phi lý. “Lãnh tụ vĩ đại” chưa đến 30 tuổi. Ông “đại tướng”, non nớt từ bề ngoài đến tư duy cầm quyền, cố ưỡn ngực trước văn võ bá quan, trên hàng đầu là những nguyên soái, đại tướng, tể tướng cao tuổi, có người trên 70, trên 80 tuổi vẫn phải cúi rạp đầu trước cậu bé đáng tuổi con, tuổi cháu mình, lại chưa biết gánh việc nước, việc quân, việc ngoại giao phức tạp giữa thời đại nguyên tử. Trông buồn cười, vừa tội nghiệp, lại vừa đáng lo.

Những thêu dệt của bộ máy tuyên huấn Bình Nhưỡng sao mà cứ như chuyện tiếu lâm. Nào là cậu “Ủn” khi lên 3 tuổi đã biết cho nổ máy ô tô con, lên 6 tuổi đã vững tay lái, lái xe lớn phóng với tốc độ cao trên đường dài phức tạp. Ở các nước văn minh trường hợp như vậy bố mẹ cậu “Ủn” ắt sẽ bị xử phạt vì không giáo dục, quản lý con còn vị thành niên, để trẻ con đùa cợt với tử thần.

Nguy hiểm hơn nhiều nữa, Bình Nhưỡng úp mở để lộ rằng vụ bắn chìm tàu chiến Nam Triều Tiên năm ngoái là chính do cậu “Ủn” ra lệnh. Nguy hiểm quá! Điều gì sẽ xảy ra nếu như sắp tới giữa một cơn khủng hoảng chính trị nghiêm trọng, lãnh tụ tối cao non trẻ lên cơn cao ngạo hoặc tự ái, tính khí thất thường, dơ vũ khí nguyên tử ra đe dọa thiên hạ? Thảm họa hạt nhân có thể bùng nổ như chơi.

Lẽ ra Ban lãnh đạo đảng Lao động Triều Tiên nên cử ra một viên “nhiếp chính” có đủ trình độ cầm đầu chế độ, hay chí ít là một viên “phụ chính” để kềm cặp chặt chẽ cậu “Ủn” cho đến tuổi 36 – đầy 3 giáp chẳng hạn. Như vậy sẽ làm yên lòng bạn bè, láng giềng gần xa và toàn thế giới, yên lòng cả nhân dân nước mình.

Theo báo chí Nam Triều Tiên, trong buổi lễ tang ông Kim Jong Il, có 7 vị đại thần được đi bên xe linh cữu cùng cậu Kim Jong Un, chắc đó là ban cố vấn cho lãnh tụ mới, nhưng chưa có tin chính xác.

Sắp tới các ông Hồ Cẩm Đào, Tập Cận Bình, Nguyễn Phú Trọng… rồi sẽ gặp ông Kim Jong Un, sẽ xử sự ra sao, ăn nói ra sao, đối đáp ra sao, khi về nguyên tắc là bình đẳng, bằng vai phải vế với nhau. Bên trong các mối quan hệ sẽ có khối chuyện hay, mới lạ, hài hước. Với nước lớn, đảng lớn, đồng chí “Ủn” non nớt là một đồng chí cồng kềnh, chính vì nước nhỏ, đảng nhỏ, tự ái dân tộc thường lớn, nên sẽ có lúc khó thuyết phục, gây bực mình, khó xử.

Từ Macao, anh cả của Kim Jong Un là Kim Jong Nam nói lên một số điều mới mà không lạ. Kim Jong Nam nói rằng từ trước anh ta vẫn không mặn mà gì với chuyện cha truyền con nối. Chuyện đưa ra lý do anh ta phạm tội đi du lịch Nhật Bản bằng hộ chiếu giả nên bị ra rìa là chuyện vô duyên, vì có đến hàng trăm khách du lịch làm như vậy, dùng một tên khác cho mình chứ không phải mang tên người khác.

Kim Jong Nam nói rằng bố anh ta rất lo sợ các con ở lâu nước ngoài sẽ tiêm nhiễm “thói xấu dân chủ“ nên học hết trung học ở ngoại quốc là gọi về nước. Kim Jong Nam tin rằng với chú em quá non nớt lên làm lãnh tụ tối cao đất nước không thể bình ổn, tất yếu sẽ rối loạn từ trong nội bộ, qua những cuộc đấu tranh dành quyền lực trong cung đình và chế độ sẽ tan vỡ trong tương lai không xa. Kim Jong Nam, một người tự cho mình am hiểu tình hình trong nước, tiên đoán rằng chế độ không thể tồn tại lâu dài, chắc chắn sẽ tự vỡ từ bên trong. Nó sẽ tự vỡ lúc nào, ra sao, còn là ẩn số. Chỉ biết chắc là nếu điều đó xảy ra, Nam Triều Tiên tuy mừng nhưng coi đó sẽ là gánh nặng gãy vai, Trung Quốc càng lo hơn vì cuộc chống Mỹ viện Triều năm xưa đã làm suy sụp cả xương sống. Liên bang Nga láng giềng chỉ có chung 20 km biên giới sẽ nhìn sang hướng khác. Tiếp quản một cộng đồng nghèo và đói vào loại tận cùng thế giới đâu có nhẹ nhàng.

Trong khi chờ số phận bấp bênh, Bình Nhưỡng chỉ còn bùa phép tuyên truyền mỵ dân. Họ nhai lại nhũng huyền thoại cũ, như chuyện khi ông Kim Jong Il nhận chức lãnh tụ tối cao, bỗng vườn hoa mơ giữa thủ đô nở rộ hàng trăm ngàn hoa trắng tinh ngào ngạt tỏa hương thơm, thu hút vô vàn ong bướm khắp nơi đổ về. Thiên nhiên cũng biết mừng lãnh tụ. Thông tấn xã Bắc Triều Tiên loan tin hôm đoàn công nhân mỏ đi đưa đám ông Kim Jong Il trên đường về gặp 3 mẹ con chú gấu từ trong rừng ra, đứng lặng lẽ cúi đầu, nước mắt ròng ròng, như chung niềm đau buồn xót xa với nhân dân. Động vật cũng đau buồn khi lãnh tụ ra đi. Cả nước tin đến sái cổ.

Thế nhưng dấu đầu hở đuôi. Người trong nước báo tin ra ngoài rằng ngay sau những ngày tang lễ, các khu phố Bình Nhưỡng cực kỳ căng thẳng, bà con đưa những người không chịu gào khóc ra đấu tố quyết liệt, một số đi tù vì không có nước mắt. Toàn là những chuyện nhảm nhí tại một triều đình cộng sản kỳ quặc, không giống ai, tuy nghèo đói nhưng lại có nguyên liệu chế bom nguyên tử, lãnh tụ lại quá non trẻ, chưa qua thử thách, cả thế giới phải trông chừng, cảnh giác, vì chế độ không bình thường, lãnh tụ không bình thường, chuyện gì cũng có thể xảy ra.

Một triều đình cộng sản phô trương bao nhiêu điều nhảm nhí, có thể coi là một quái thai giữa thế giới văn minh, vậy mà có lúc vẫn còn được coi là “người đồng chí thân thiết truyền thống” của đảng Cộng sản Việt Nam. Một ông đồng chí cũ cồng kềnh. Một di sản cộng sản quái dị.

Bùi Tín viết riêng cho VOA

Người Tàu


Hình: Reuters
Trước đây, trong bài viết về chuyến đi Hàn Quốc vào cuối tháng 9 năm 2011, tôi có nêu nhận xét về tính cách của người Hàn Quốc qua hiện tượng lặng lẽ xếp hàng cả tiếng đồng hồ trước giờ lên máy bay. Vừa rồi, trong chuyến bay từ Bangkok đến Bắc Kinh, tôi thấy một hiện tượng khác hẳn. Khi đến phòng đợi, tôi đã thấy rất đông người ngồi la liệt trên ghế hoặc dưới đất nói chuyện ồn ã hoặc ăn uống nhồm nhoàm. Hầu hết là người Trung Quốc. Nét nổi bật nhất là cường độ âm thanh trong giọng nói của họ. Hiếm khi tôi thấy cảnh nào ồn ào đến như vậy. Tôi muốn mở laptop ra để đọc hay viết một cái gì đó nhưng không có cách gì tập trung được.
Khi nhân viên báo tin đã đến giờ lên máy bay, tất cả mọi người đều đứng bật dậy và hối hả chạy ra giành chỗ vào cửa. Họ chen lấn nhau, xô đẩy nhau, thậm chí, la hét chửi bới nhau. Cuối cùng, mọi người cũng lên được máy bay. Trên máy bay lại diễn ra cảnh giành giật các chỗ để hành lý. Thường, máy bay nào cũng hạn chế số lượng và kích thước hành lý cầm tay. Thế nhưng không hiểu sao người ta lại có thể mang hành lý nhiều và cồng kềnh đến như vậy. Công việc cất hành lý đáng lẽ chỉ diễn ra trong vài phút, đằng này, nó kéo dài khá lâu, làm không khí trên máy bay nhốn nháo hẳn lên.
Khi đã ngồi vào ghế, người ta bắt đầu mở miệng hoặc để chuyện trò hoặc để cãi cọ. Như một cái chợ. Đến độ tôi hoàn toàn không nghe được lời chào hoặc thông báo gì đó của phi hành đoàn. Tuyệt đối không nghe. Mãi đến cả một, hai tiếng sau, có lẽ do thấm mệt, âm thanh trong máy bay mới bắt đầu giảm để đến lúc máy bay hạ cánh lại diễn ra cảnh giành nhau lấy hành lý. Lại cãi cọ. Lại ồn ào.
Trên máy bay, tôi mở laptop ra định viết bài cho blog. Đang viết, nhìn vào màn ảnh trên laptop, thấy thấp thoáng có mặt người. Tôi quay lại, bắt quả tang một anh Tàu ngồi hàng ghế sau đang nhoài đầu ra phía trước nhìn vào màn ảnh laptop của tôi. Anh bẽn lẽn ngả người ra sau. Tôi quay lại tiếp tục viết. Nhưng lại thấy khuôn mặt của anh phản chiếu trên màn ảnh. Tôi quay lại nhìn. Anh ta lại ngả người ra sau, ngó ra ngoài cửa, nhưng không còn lộ vẻ gì bẽn lẽn nữa. Cứ thế, mỗi lần tôi viết, anh ta lại nhoài người lên dòm. Tôi không nghĩ anh ta là công an. Làm công an, được huấn luyện để theo dõi người khác, không ai lại vụng về đến như vậy. Tôi chỉ nghĩ có lẽ anh ta là một người tò mò một cách thô bỉ vậy thôi. Nhưng không thể kiềm được sự khó chịu, tôi tắt laptop. Cả gần bốn giờ bay, do đó, chỉ ngồi thừ người nghĩ ngợi bâng quơ. Chả làm được gì cả.
Suốt 10 ngày ở Trung Quốc, ở đâu tôi cũng gặp hai nét tính cách ấy: chen lấn và sẵn sang xâm phạm vào sự riêng tư của người khác. Có thể nói ở Trung Quốc, ở chỗ nào có đông người chỗ ấy có chen lấn. Mà hình như ở Trung Quốc không nơi nào không đông người nên cảnh chen lấn dường như xuất hiện ở khắp nơi. Ngay ở các địa điểm du lịch, nơi đáng lẽ người ta cần sự thảnh thơi thoải mái và nhàn nhã, người Trung Quốc cũng chen lấn nhau. Đi dọc theo bờ Hồ Tây ở Hàng Châu, bên cạnh cảnh sông nước và cây cối tuyệt đẹp và đầy thơ mộng, mỗi vật đều gợi nhớ đến lịch sử và văn chương vốn được mọi người ngưỡng mộ cả hàng ngàn năm, họ cũng chen lấn. Ở khu phố cổ ở Thượng Hải (Miếu Thành Hoàng), nơi đáng lẽ cần sự yên tĩnh để ngắm nghía phong cách kiến trúc độc đáo truyền thống, người ta cũng chen lấn xô đẩy nhau kịch liệt. Tôi quan sát, thấy, khi đi bộ, người ta thường không bao giờ chú ý đến người khác. Họ cứ đi thẳng. Ai nhường đường, mặc, họ không một lời cám ơn. Không nhường đường thì bị họ dùng vai đẩy dạt ra. Dĩ nhiên cũng không một lời xin lỗi. Trên chiếc thuyền chở du khách chạy dọc sông Hoàng Phố () ở Thượng Hải, nhóm chúng tôi an phận ngồi trên một dãy ghế ở tầng hầm, nơi tầm nhìn bị hạn chế rất nhiều. Nhưng cũng không yên. Một lúc nào đó, hình như ở tầng trên quá lạnh, nhiều người lại ào ào chạy xuống tầng hầm và giành ghế của người khác. Chỉ cần đứng dậy là có người chĩa đít vào giành ngay ghế của mình. Bạn nói đó là ghế bạn đang ngồi ư? Họ mặc kệ, ngó đi chỗ khác và tiếp tục ngồi. Nhóm chúng tôi gồm 10 người bị cướp mất năm hay sáu ghế. Cuối cùng, mọi người đành đứng.
Ở Trung Quốc, sự riêng tư không bao giờ là một giá trị. Về chính trị, nhà cầm quyền trố mắt theo dõi mọi người ở mọi nơi và mọi lúc. Trong xã hội, ở đâu người ta cũng lom lom dòm vào người khác. Bạn đứng chụp hình ư? Rất có khả năng một người nào đó dí mắt nhìn vào màn ảnh của bạn. Không phải bạn chụp hình ở nơi nào trọng yếu hay có ý nghĩa quân sự gì đâu. Ngay cả khi bạn đứng trên chiếc du thuyền chạy dọc theo bờ sông và chỉ chụp cảnh phố xá hai bên, người ta cũng nhìn. Có lẽ chỉ vì tò mò thôi.
Đến Bắc Kinh, tôi tham gia vào một tour du lịch khá đông, khoảng 60 người. Hầu hết là người Hoa sinh sống ở nước ngoài, nhiều nhất là ở Mỹ, Canada và Úc. Có người đi từ Trung Quốc, từ Hong Kong và cũng có một số người đi từ Việt Nam, đặc biệt từ Móng Cái, vùng giáp biên giới Việt-Trung, trong những năm 1978-79. Điều đặc biệt nhất là tất cả, kể cả thanh niên sinh ra và lớn lên ở nước ngoài, đều nói tiếng Quảng Đông rất giỏi. Suốt cuộc hành trình, nói chuyện với nhau, tất cả đều dùng tiếng Quảng Đông. Nhóm của tôi có mấy thanh niên khoảng 30 tuổi, sinh ở Móng Cái, đến Mỹ lúc mới 2 hay 3 tuổi, hoàn toàn quên tiếng Việt, nhưng lại nói tiếng Quảng Đông rất trôi chảy. Và có vẻ rất thích nói tiếng Quảng Đông với bạn bè trong nhóm. Dường như người ta có chút tự hào khi nói tiếng Tàu. Đó là điều tôi ít thấy trong cộng đồng người Việt. Trẻ em Việt Nam ở hải ngoại, ngay cả khi có thể nói tiếng Việt lưu loát, vẫn có khuynh hướng dùng tiếng Anh hơn tiếng Việt.
Tuy nhiên ngay cả người Hoa ở ngoại quốc về cũng bị kỳ thị. Khi đoàn du lịch đến ở khách sạn, hầu hết là khách sạn thật sang, thuộc loại 5 sao, tôi để ý thấy tất cả các tủ lạnh trong phòng đều bị khoá chặt. Hỏi, người ta đáp: Sợ bị ăn trộm. Buổi sáng, theo kế hoạch, đoàn thường lên đường vào lúc 7 giờ. Khách sạn đòi mọi người phải trả chìa khoá trễ nhất là lúc 6 giờ. Lý do: khách sạn cần khoảng một tiếng để kiểm tra phòng xem có bị mất trộm gì không. Nhiều người kể, ở khách sạn, hở cái gì là mất ngay cái ấy. Rượu bia để trong tủ lạnh: mất. Đồng hồ báo thức để trên đầu giường: mất. Có khi cả điện thoại cũng bị mất. Khách sạn đành áp dụng chiến thuật cẩn tắc vô áy náy: Khoá tủ lạnh và đuổi khách ra khỏi phòng một tiếng để kiểm tra trước khi để họ rời khỏi khách sạn.
Thú thực tôi không có số liệu về nạn trộm cắp ở Trung Quốc. Có điều, trong suốt chuyến du lịch, điều hướng dẫn viên dặn dò nhiều nhất, dặn đi dặn lại, là phải coi chừng bị mất trộm. Túi xách của phụ nữ phải đeo trước bụng, không được kè kè bên hông. Giấy tờ và ví tiền phải để chỗ kín đáo, không được để túi quần sau, rất dễ bị móc.
Trong các nhà vệ sinh công cộng, người ta không dám để giấy vì sợ trộm, đã đành. Trong hầu hết các nhà hàng, ngay cả những nhà hàng có vẻ rất sang trọng và nghe nói rất nổi tiếng, cũng không có khăn giấy trên bàn. Khi dọn thức ăn, người ta mới phát cho mỗi người một cái khăn giấy nhỏ xíu và mỏng lét. Có nơi còn đòi tiền: một miếng khăn giấy là một đồng nhân dân tệ.
Không phải tại khăn giấy khan hiếm. Chỉ tại người ta sợ ăn cắp: để ra bao nhiêu là mất bấy nhiêu.
Nói đến người Tàu, tự nhiên tôi sực nhớ một đồng nghiệp cũ. Chị có bằng tiến sĩ, dạy đại học, nghe nói dạy khá giỏi, nhưng tính nết thì rất quái gở: Lúc nào chị cũng nghi ngờ người khác. Chị thường xuyên khiếu nại hay than phiền là có ai đó lén vào phòng chị, lục lọi computer của chị. Có lần, tôi muốn vào phòng chị để bàn bạc một số công việc trong Khoa. Tôi gõ cửa. Có tiếng mở cửa lách tách, tôi biết là chị khoá bên trong. Tôi vừa bước vào, chưa kịp ngồi xuống ghế, đã thấy chị nhoài người ra ngoài, nhìn quanh, rồi khoá hẳn cửa lại. Tôi hơi giật mình. Thường, ở đại học, không ai khoá cửa kiểu như vậy. Ngay cả việc khép cửa cũng hoạ hoằn. Sau đó, tôi kể cho một số đồng nghiệp nghe. Mọi người cười ầm: Họ cũng từng có kinh nghiệm y như vậy. Và người ta cố tìm lời giải thích: có lẽ là do ảnh hưởng từ thời cách mạng văn hoá, lúc mọi người tìm cách hãm hại nhau. Và không ai tin ai cả.
Kể những điều trên, tôi không có hàm ý miệt thị người Tàu. Không. Tôi biết trong lịch sử có vô số người Tàu vĩ đại. Vĩ đại về trí tuệ. Vĩ đại về tài năng. Và vĩ đại về tính cách. Hiện nay, chắc chắn cũng có vô số người Tàu ưu tú và khả kính, tạo thành một tầng lớp tinh hoa không thua kém ở bất cứ đâu khác. Những nhận xét ở trên, thật ra, chỉ giới hạn trong tầng lớp những người bình thường mà ai cũg có thể gặp gỡ hang ngày. Ở mọi nơi.
Họ chỉ là đám bình dân. Có điều, bình dân bao giờ cũng đông đảo. Chính họ tạo nên diện mạo của một xã hội.
Để trở thành một siêu cường thực sự, điều Trung Quốc cần làm đầu tiên và cũng mất nhiều thời gian nhất chính là cải tạo cái khối bình dân đông đảo ấy. Có lẽ chính quyền Trung Quốc cũng ý thức được điều ấy. Ở đâu tôi cũng thấy bảng hiệu nhắc nhở người ta làm người văn minh và có văn hoá.
Nhưng nói là một chuyện. Làm được hay không lại là chuyện khác.
Cũng như ở Việt Nam vậy thôi.

Đến Thiên An Môn, nghĩ về tính chính trị của địa điểm


Hình: VOA
Sống ở Úc, mỗi lần đi nước ngoài, sự mất mát đầu tiên mà tôi cảm nhận được ngay là cảm giác yên bình. Úc thường tham chiến chung với Anh và sau đó với Mỹ, nhưng tất cả đều là chiến tranh ở xa. Gần đây, vì được/bị xem là một trong những đồng minh thân cận nhất của Mỹ trong cả hai cuộc chiến ở Iraq và Afghanistan, Úc cũng nằm trong tầm ngắm của các tổ chức khủng bố quốc tế, tuy nhiên, cho đến nay, chưa có biến động đáng tiếc nào xảy ra trên lãnh thổ nước Úc cả. Có lẽ vì thế, ở đâu căng thẳng và lo âu thì cứ căng thẳng và lo âu, ở Úc, người ta vẫn thấy yên ổn và vô cùng thoải mái. Ý niệm an ninh chỉ xuất hiện khi người dân bước đến phi trường. Còn trong đời sống hàng ngày, từ nông thôn đến thành thị, không có gì gợi cho người ta nhớ đến khủng bố cả.
Đến Thái Lan thì khác. An ninh chặt chẽ ở phi trường, đã đành. Bước chân vào các trung tâm thương mại lớn, tất cả mọi người đều bước qua một cánh cửa đặc chế để thăm dò vũ khí, bên cạnh bao giờ cũng có một hai nhân viên túc trực. Các nhân viên ấy thường khá nhẹ nhàng, lặng lẽ và lịch sự. Họ đứng đó, chắp tay và cúi đầu chào mọi người một cách cung kính. Nhưng vẫn đầy cảnh giác. Chỉ cần nghe tiếng máy báo động từ cánh cửa, họ sẽ chận lại và lục lọi các giỏ xách ngay. Tất cả những hình ảnh đều là những sự nhắc nhở cụ thể: thế giới không yên bình và tai hoạ có thể xảy ra bất cứ lúc nào.
Từ Thái Lan sang Trung Quốc, tôi thấy những chiếc máy dò xét vũ khí ấy tiến thêm một bước nữa: chúng ít xuất hiện ở các trung tâm thương mại mà lại xuất hiện rất nhiều, nếu không muốn nói là luôn luôn, ở các tụ điểm công cộng, đặc biệt các khu di tích và quảng trường.
Trước, ở Úc, tôi đã nghe nhiều về hai quảng trường lớn ở Bắc Kinh, một, lịch sử,: quảng trường Thiên An Môn và một, hiện đại: quảng trường Olympics. Không những nghe, tôi còn thấy nhiều lần trên ti vi cũng như trên báo chí và internet. Thế nhưng có một điều tôi hoàn toàn hiểu sai: nghe chữ “quảng trường” (square) tôi hình dung ra hai đặc điểm: rộng và mở. Đến, tôi mới biết, cả hai quảng trường ấy đều rộng, rất rộng, nhưng không hề mở: chung quanh đều có hàng rào kín. Tất cả khách tham quan đều phải bước qua cánh cửa có máy thăm dò vũ khí và có công an đứng gác. Không phải một, hai người làm cảnh. Mà là cả toán. Ít nhất là năm, bảy người ở mỗi cửa. Ngoài ra, còn có một số cảnh sát mặc sắc phục rảo quanh bên trong quảng trường. Đó là chưa kể đến các công an chìm. Thực tình, tôi không rõ những hàng rào, cánh cửa và máy thăm dò vũ khi ấy xuất hiện từ bao giờ. Sau cuộc xuống đường tranh đấu cho dân chủ của sinh viên vào năm 1989 hay sau cuộc khủng bố ở New York vào năm 2001?
Không thể không tự hỏi: Tại sao người ta phải canh phòng hai quảng trường ấy một cách cẩn mật như thế? Để bảo vệ tính mạng của dân chúng ư? Chắc chắn là không phải. Số người đến tham quan hai quảng trường ấy khá đông nhưng vì chúng rộng, mật độ người dân không thể bằng các trung tâm thương mại hoặc các sân vận động. Ví dụ, có một quả bom nổ tung ở cả ba nơi vừa kể, số lượng thương vong thấp nhất chắc chắn là ở các quảng trường. Bởi vậy, với dân chúng, trước nguy cơ khủng bố, quảng trường không phải là nơi nguy hiểm nhất.
Quảng trường, đặc biệt hai quảng trường Thiên An Môn và Olympic chỉ thực sự nguy hiểm đối với chính quyền. Một vụ nổ bom ở hai nơi ấy, cho dù gây thương vong rất ít, vẫn gây nhiều tác hại đối với chính quyền hơn hẳn ở những nơi khác. Ở những nơi khác, khủng bố là khủng bố. Ở Thiên An Môn và quảng trường Olympics, khủng bố lại trở thành cách mạng, hoặc ít nhất, ngòi nổ của cách mạng.
Lý do: cả hai quảng trường ấy không phải chỉ là địa điểm mà còn là biểu tượng. Từ hơn hai thập niên trở lại đây, Thiên An Môn trở thành biểu tượng của khát vọng tự do và tinh thần bất khuất của thanh niên sinh viên cũng như biểu tượng của sự độc đoán và tàn bạo của chính quyền Trung Quốc. Dù hai biểu tượng ấy đã được toàn cầu hoá, chính quyền Trung Quốc tuyệt đối không muốn ai nhắc và nhớ đến chúng cả. Họ muốn quên và muốn mọi người quên. Một vụ nổ bom, cho dù nhỏ; thậm chí, một ngọn lửa tự thiêu, cho dù của một người, ở Thiên An Môn sẽ tức khắc biến thành một sự kiện nổi bật trên tất cả các phương tiện truyền thông thế giới. Nó sẽ làm thức dậy những ký ức tập thể không phải chỉ của nhân dân Trung Quốc mà còn của cả nhân loại.
Quảng trường Olympics, trước, chỉ là biểu tượng của sự hóa thân của Trung Quốc, từ một nước nghèo thành một nước giàu, hơn nữa, giàu đứng hàng thứ nhì trên thế giới, chỉ sau Mỹ; từ một nước yếu đến một nước mạnh, một trong những siêu cường có ảnh hưởng nhất trong sinh hoạt chính trị quốc tế; và từ một nước lạc hậu thành một nước văn minh, hơn nữa, có văn hoá. Khía cạnh thứ ba này, tuy là thứ yếu, nhưng lại được chính quyền Trung Quốc tập trung tuyên truyền nhiều nhất, cả tuyên truyền đối nội lẫn tuyên truyền đối ngoại: người Trung Quốc đã thay đổi hẳn trước và sau Olympics 2008. Trước, họ thu rút vào trong; sau, họ mở toang ra với thế giới; trước, họ là những nông dân quê mùa hay khạc nhổ ngoài đường, sau, họ là những con người hiện đại và lịch sự, v.v...
Tuy nhiên, từ năm ngoái, với sự kiện nghệ sĩ tạo hình Ngải Vị Vị (Ai Weiwei), người thiết kế sân vận động Tổ chim (Bird’s Nest) nổi tiếng, bị bắt và sau đó, giam lỏng, quảng trường Olympics đã trở thành một biểu tượng khác: phản kháng. Đằng sau và bên cạnh ý niệm phản kháng bao giờ cũng có nhiều ý niệm khác, chẳng hạn, độc tài và khát vọng dân chủ và nhân quyền.
Có thể nói, trên quảng trường Olympics, hình ảnh Vị Ngải Ngải giống như một đống rơm. Bất cứ ngọn lửa nào bùng lên ở đó cũng đều biến thành hoả hoạn.
Điều khiến chính quyền Trung Quốc cảnh giác đặc biệt đối với hai quảng trường Thiên An Môn và Olympics, như vậy, không phải vì độ lớn, vì mật độ người thăm viếng hay nguy cơ thương vong nếu xảy ra khủng bố mà là vì tính biểu tượng của chúng.
Cũng dễ hiểu. Về phương diện văn hoá, một trong những đặc điểm lớn nhất của loài người là biết tạo ra ý nghĩa; một trong những kết tinh lớn nhất của ý nghĩa tập thể chính là biểu tượng. Biểu tượng trở thành đặc trưng của văn hoá. Tìm hiểu một nền văn hoá là tìm hiểu một hệ thống biểu tượng. Về phương diện chính trị, phá vỡ một biểu tượng cũng là phá vỡ một quyền lực; khi quyền lực ấy là một hệ thống, việc phá vỡ nó là một cuộc cách mạng.
Ở cả hai phương diện vừa nêu, địa điểm vẫn đóng một vai trò quan trọng trong sinh hoạt chính trị quốc gia cũng như quốc tế. Chúng ta hay nói và/hoặc nghe nói internet xoá nhoà các biên giới, qua đó, dần dần giảm thiểu ý nghĩa của yếu tố địa lý trong quan hệ giữa người và người. Tuy nhiên, trong sinh hoạt chính trị, những địa điểm mang tính biểu tượng vẫn còn là một trung tâm bất khả thay thế. Một cuộc biểu tình nổ ra ở nơi này khác ở những nơi khác là vì tính biểu tượng gắn liền với những nơi ấy. Cũng là một hành động tự thiêu hay tự sát để phản đối chính quyền, nhưng ở địa điểm này, chúng gây chú ý; ở địa điểm khác, chúng chìm ngay vào quên lãng.
Những người cầm quyền, cho dù ở Trung Quốc hay ở bất cứ đâu khác, đều hiểu rất rõ điều đó.

Nguyễn Hưng Quốc

Trung Quốc tăng chi tiêu quân sự trong năm nay lên 11,2%

Ngân sách quân sự của Trung Quốc hiện đứng thứ nhì trên thế giới, sau Hoa Kỳ
Hình: Reuters
Ngân sách quân sự của Trung Quốc hiện đứng thứ nhì trên thế giới, sau Hoa Kỳ
Trung Quốc loan báo ngân sách quốc phòng của họ trong năm nay sẽ tăng 11,2%, lên tới 106,7 tỷ đô la giữa bối cảnh sự tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ tiếp tục thúc đẩy quá trình mở rộng quân sự nhanh chóng của nước này.

Người phát ngôn của Quốc hội Trung Quốc, ông Lý Triệu Tinh, hôm nay cho báo giới biết chi tiêu quốc phòng của Bắc Kinh sẽ tăng lên khoảng 10,6 tỷ Mỹ kim so với năm rồi.

Vẫn theo lời ông Lý, Trung Quốc là một quốc gia rộng lớn có bờ biển dài, nhưng chi tiêu quân sự tương đối thấp so với các nước lớn khác. Ngân sách quân sự của Trung Quốc hiện đứng thứ nhì trên thế giới, sau Hoa Kỳ.

Công cuộc phát triển quân đội nhanh chóng của Trung Quốc đã gây quan ngại cho các nước ở Châu Á và cả Hoa Kỳ dù Bắc Kinh vẫn nói rằng quá trình hiện đại hóa quân sự của họ chỉ đơn thuần mang mục đích phòng vệ.

Cuối năm ngoái, Bộ Quốc phòng Mỹ công bố báo cáo cho thấy công cuộc phát triển quân đội của Trung Quốc dường như nhằm mục đích ngăn không cho các cường quốc bên ngoài can thiệp vào bất kỳ mâu thuẫn nào có thể có trong tương lai với Đài Loan.

Cái toilet và quyền làm người

Một lần, tôi vào phòng vệ sinh trong một trung tâm thương mại ở Bangkok. Tôi nhìn trước cửa thấy hình đàn ông và một chữ “Man” (Nam) to tướng. Nhưng mới bước qua khỏi cánh cửa chính, tôi giật thót người khi thấy một phụ nữ khoảng 40-50 tuổi đang lom khom quét dọn trên sàn nhà. Nhìn chung quanh, bốn hay năm người đàn ông đứng quay lưng lại…tè. Người tè thì cứ tè; người quét dọn thì cứ quét dọn. Thật tự nhiên.
Cảnh ấy, về sau, tôi thấy đi thấy lại nhiều lần. Các nữ công nhân hết sức thoải mái bước vào phòng vệ sinh nam quét dọn, lau chùi. Ai tiểu tiện hay đại tiện cũng mặc, họ cứ cắm cúi làm việc của họ. Cả họ lẫn những người đàn ông chung quanh hình như cũng đều thấy đó là chuyện bình thường. Không ai ngượng ngùng hay khó chịu cả.
Tôi nhớ đến các phòng vệ sinh ở Hàn Quốc. Nói chung, so với phần lớn các nước Á châu khác, phòng vệ sinh ở Hàn Quốc hiện đại và sạch sẽ hơn hẳn. Có lẽ hiện đại và sạch sẽ hơn ở Úc. Tuy nhiên, hầu hết các nhà vệ sinh ở Hàn Quốc, từ trong khách sạn đến các đại học và các khu vực công cộng đều có một đặc điểm giống nhau: chỉ có một lớp cửa chính (không kể cửa phòng nhỏ nơi có bồn cầu).
Ở Tây phương, các nhà vệ sinh thường có hai lớp cửa chính: Bước qua cánh cửa thứ nhất, hoặc người ta sẽ gặp khu rửa tay hoặc một bức tường chắn ngang. Người ta phải qua khỏi cái ngách sau bức tường chắn ngang hoặc đẩy thêm cánh cửa khác mới đến khu vực làm vệ sinh. Cách kiến trúc như vậy có hai mục đích: một, người đứng ngoài không thể nhìn thấy người ở trong phòng vệ sinh; và hai, người mới làm vệ sinh xong, có đủ thì giờ riêng tư để lấy lại tư thế tự tin khi bước ra bên ngoài.
Ở Hàn Quốc thì khác. Tất cả chỉ có một lớp cửa. Mở cánh cửa ấy là thấy ngay dãy bồn tiểu ở khu vực dành cho nam giới. Mà ở những nơi đông người, có lẽ để cho tiện, người ta rất ít khi khép cánh cửa chính ấy. Cứ để mở thông thống. Bước dọc theo hành lang trước nhà vệ sinh nam, liếc mắt vào, người ta sẽ thấy ngay cảnh một số người đang quay lưng lại đứng tè vào bồn. Mà có vẻ như người ta cũng rất tự nhiên khi đứng tè như thế. Lúc đầu, trong một phòng vệ sinh ở tiệm ăn, tôi rất ngạc nhiên khi thấy cảnh ấy. Nhưng lại nghĩ: đó là tiệm ăn. Mấy ngày sau, làm việc ở một trường đại học, tôi cũng lại thấy cảnh ấy. Sau, đi đâu cũng thấy. Cũng cảnh những khu vực vệ sinh chỉ có một lớp cửa và cửa thì lúc nào cũng mở toang hoang như thế.
Ở Trung Quốc, trừ trong phi trường và khách sạn hạng sang, hầu hết các toilet công cộng đều là xí xổm, tức loại hố xí chỉ có bệ chứ không có bồn, theo kiểu các hố xí cổ điển ở Việt Nam trước đây. Ngồi trên hố xí ấy, chúng ta phải ngồi chồm hổm. Điều lạ là ngay ở những nhà hàng thuộc loại sang trọng, người ta cũng xây những kiểu hố xí như vậy. Tuy nhiên, điều đặc biệt là ở các phòng vệ sinh kiểu như thế nhiều khi không hề có giấy! Ngày đầu tiên ở Bắc Kinh, khi ghé lại tham quan một khu di tích lịch sử, mấy người phụ nữ trong tour du lịch của tôi vào nhà vệ sinh. Mấy phút sau, họ nháo nhác chạy ra, hỏi: Ai có khăn giấy (tissues) không? Cả bọn lục trong túi quần túi áo, có bao nhiêu khăn giấy đều giao hết cho họ. Sau đó, từ nhà vệ sinh ra, họ cho biết: trong đó không có giấy!
Hiện tượng không có giấy trong các nhà vệ sinh công cộng ở Trung Quốc có vẻ khá phổ biến. Hỏi người hướng dẫn tour du lịch thì được giải thích: để bao nhiêu giấy mất trộm bấy nhiêu nên người ta hoặc là không cung cấp giấy hoặc là để đâu đó ở phòng ngoài, có nhân viên canh gác.
Nhưng nói chung các phòng vệ sinh công cộng ở Trung Quốc, ít nhất ở các nơi tôi đã đi qua, từ Bắc Kinh đến Vô Tích, Tô Châu, Hàng Châu và Thượng Hải, đều khá sạch. Lúc nào cũng có người quét dọn. Có lẽ nhờ dân số nhiều, lực lượng lao động đông, nhất là lao động đơn giản với mức lương rẻ nên ở Trung Quốc nơi nào cũng thấy người quét dọn. Trước khách sạn và các trung tâm thương mại lớn cũng như trên các đường phố chính, lúc nào cũng có những nhân viên vệ sinh canh trực. Du khách mới ném một tàn thuốc xuống lề đường, vài phút sau đã thấy có người đến gắp mẩu tàn thuốc ấy. Các gạt tàn thuốc công cộng cũng có người đến dọn dẹp liên tục. Thường, đó là cái chậu được đổ đầy cát để dọc theo bờ tường. Người hút thuốc sẽ dụi mẩu tàn thuốc xuống cát cho tắt lửa. Nhân viên vệ sinh đến nhặt các mẩu tàn ấy và cào cát lại phẳng phiu như cũ. Khi đi vào trung tâm thương mại ở Thượng Hải, tôi thấy có một nhân viên thường trực trong phòng vệ sinh nam. Anh cần mẫn đến độ cứ đứng ngay sau lưng khách khi họ rửa tay, thấy nước văng lên bàn, anh lại chùi ngay tức khắc. Khách tè văng xuống sàn nhà, anh cũng lại cầm giẻ lau. Buổi trưa, mới đến, tôi thấy anh ở đó. Buổi chiều, trước khi về, tôi ghé vào nhà vệ sinh lần nữa, cũng lại thấy anh đứng đó và làm những động tác tương tự.
Điều đáng nói là cách kiến trúc nhà vệ sinh ở Trung Quốc phần lớn cũng giống ở Hàn Quốc: chỉ có một lớp cửa. Tệ hơn Hàn Quốc, có khi người ta còn thường đặt khu vực rửa tay của nam và nữ chung. Ví dụ, bước vào cửa chính, chúng ta sẽ gặp ngay các bồn nước rửa tay cho cả nam và nữ, rẽ sang tay mặt là phòng vệ sinh nam; tay trái là phòng vệ sinh nữ. Từ phòng rửa tay vào hai dãy phòng vệ sinh cả nam lẫn nữa ở hai bên đều không có cửa. Bên phụ nữ, ít nhất người ta cũng có các phòng nhỏ tương đối riêng tư. Bên nam giới, trừ khi đại tiện, người ta mới vào các phòng nhỏ ấy; còn tiểu tiện thì cứ đứng quay mặt vào tường tè vào các bồn sứ dọc bờ tường. Đứng ở phòng rửa tay, người ta sẽ thấy rõ mồn một. Với người Trung Quốc, nhìn thế thấy quen. Nhưng tôi và bạn bè thì cứ ngường ngượng.
Như vậy, liên quan đến nhà vệ sinh, tôi nghĩ có đến hai cấp độ tiến hoá: Cấp thứ nhất, từ thiếu vệ sinh đến vệ sinh và cấp thứ hai, từ việc thiếu riêng tư đến riêng tư. Nói đến nhà vệ sinh, chúng ta hay nghĩ đến cấp thứ nhất. Dĩ nhiên đó là một cấp quan trọng, quan trọng đến độ nhiều nhà khoa học cho việc phát minh ra nhà vệ sinh là một trong những phát minh quan trọng nhất trong lịch sử nhân loại: nhờ đó, các bệnh dịch giảm hẳn, sức khoẻ con người tốt hơn và tuổi thọ cũng tăng cao hơn. Nhưng còn một khía cạnh khác cũng được một số nhà tư tưởng chú ý: chính việc phát minh ra nhà vệ sinh dẫn đến ý niệm về sự riêng tư, và từ đó, cùng với một số yếu tố khác, dẫn đến việc hình thành chủ nghĩa cá nhân vốn là một trong những trụ cột chính trong nền văn minh và văn hoá Tây phương.
Thời gian ngồi trong toilet, người ta không những giải quyết các vấn đề sinh lý thiết yếu mà còn được hưởng thụ cảm giác một mình, hoàn toàn một mình mình, với thân thể và những vật thải từ thân thể của chính mình. Hoàn toàn một mình. Không chia sẻ với ai được. Cảm giác ấy dần dần làm nảy nở ý niệm về riêng tư. Và ý niệm về riêng tư dần dần trở nên một cốt lõi của chủ nghĩa cá nhân.
Những năm tháng đầu tiên khi người Việt ra sống ở hải ngoại, phần lớn, với những mức độ khác nhau, đều có kinh nghiệm về các cú sốc văn hoá. Chỉ giới hạn trong phạm vi gia đình, cú sốc văn hoá đầu tiên là trong quan hệ với con cái. Con cái, sau một thời gian ngắn đến trường, đã học được bài học đầu tiên của Tây phương: bảo vệ sự riêng tư của mình và tôn trọng sự riêng tư của người khác. Do đó, từ trường về nhà, chúng vào phòng riêng, khép cửa lại. Bố mẹ muốn vào: phải gõ cửa. Thư từ của chúng, bố mẹ không được mở ra đọc. Với chúng, đó là quyền. Là nhân quyền. Nhưng bố mẹ, từ Việt Nam sang, không thể không thấy khó chịu. Phải mất nhiều năm, người ta mới hiểu và mới chấp nhận được điều đó.
Chúng ta hay nói đến dân chủ và nhân quyền nhưng thường hay quên: tôn trọng sự riêng tư của người khác cũng là một hình thức dân chủ và nhân quyền.
Cách xây dựng nhà vệ sinh, do đó, cũng là cách thiết kế những nền tảng đầu tiên của nhân quyền. Và dân chủ. Nguyễn Hưng Quốc

Thăm Thái Lan

Quảng trường Siam, khu vực giải trí và mua sắm ở quận Pathumwan của thủ đô Bangkok, Thái Lan
Quảng trường Siam, khu vực giải trí và mua sắm ở quận Pathumwan của thủ đô Bangkok, Thái Lan
Không về Việt Nam được, kỳ nghỉ hè này (1), tôi đi Thái Lan cho...đỡ nhớ nhà.
Ra khỏi máy bay, bước vào phòng trình hộ chiếu, lại thấy những gương mặt nhân viên cửa khẩu lạnh lùng không hề cười với khách. Lạ, Thái Lan nổi tiếng là mảnh đất của nụ cười (land of smiles), vậy mà nhân viên cửa khẩu, những người đại diện đầu tiên cho đất nước tiếp xúc với khách quốc tế lại mang những bộ mặt công chức rất vô cảm. Trong khi đứng chờ, tôi nhìn quanh: người nào cũng thế. Cũng làm việc như một cái máy, cắm cúi với chiếc computer trước mặt. Không chào. Không hỏi. Và không cười. Thậm chí, cũng không ngước lên nhìn khách. Đúng hơn, họ nhìn mặt khách trên màn ảnh computer được nối với một ống kính gắn sẵn trên bàn. Nhìn họ, tôi nhớ đến Việt Nam. Chỉ khác ở Việt Nam một điểm: họ không chứng tỏ quyền uy. Họ chỉ muốn đóng vai một công chức chăm chỉ và nhanh nhẹn dù phải hy sinh một chút thân thiện. Vậy thôi.
Bước ra khỏi phi trường, dù mới 7 giờ sáng, đã thấy cái không khí hầm hập ập vào người, như muốn vắt kiệt mồ hôi của mình. Như ở Sài Gòn. Xe chạy được một hai phút, ở ngay đầu xa lộ vào thành phố, đã thấy một chiếc cổng lớn với hàng chữ viết bằng tiếng Anh “Long live the king” (Hoàng đế vạn tuế). Giống hệt câu “Hồ Chủ tịch muôn năm” ở Việt Nam. Sau này, đi nhiều địa điểm ở Bangkok, tôi thấy cái khẩu hiệu ấy xuất hiện hầu như ở khắp nơi. Ngoài đường. Trong công sở. Ở cả một số trung tâm thương mại. Và trên... internet. Ở phi trường, muốn dùng Wi-Fi để vào internet, trên trang đánh tên người sử dụng và mật mã, có hình của vua và câu “Long live the king” nằm chình ình trước mặt.
Là một nước đang phát triển, Thái Lan cũng có cái vẻ gì bừa bộn ngổn ngang. Như Việt Nam. Hệ thống xa lộ khá tốt. Chằng chịt. Chắc chắn là tốt hơn Việt Nam rất nhiều. Nhưng nhìn hai bên đường bê tông cốt sắt đồ sộ và hiện đại, lại thấy những dãy nhà lụp xụp tồi tàn bên cạnh những hàng cây, phần nhiều là dừa, chuối và cây dại còi cọc, quặt quẹo, khô cằn. Như Việt Nam. Ngay cả ở những khu phố lớn cũng vậy. Bên cạnh những toà building nguy nga và lộng lẫy là những khu nhà cũ kỹ, lở lói hoặc những dãy hàng quán lởm chởm được che bằng những mảnh ny lông hay vải bạt tạm bợ nhem nhuốc, ở đó, những người bán hàng, nếu không có khách, thường ngồi ăn uống xì xụp hoặc ngủ gà ngủ gật. Trong cái gọi là bừa-bộn-ngổn-ngang, khoảng cách giữa các cực đối lập ở Thái Lan lớn hơn ở Việt Nam: Về độ phát triển đô thị, Thái Lan phát triển sớm và nhanh hơn Việt Nam; nhưng dấu vết của đời sống tiền-đô thị ở Thái Lan lại còn nhiều hơn ở Việt Nam.
Một trong những dấu vết tiền-đô thị ấy là văn hoá ẩm thực ngoài đường (street food). Ngoài đường chứ không phải trong tiệm. Cái gọi là ngoài đường này có hai mức độ: nửa ngoài đường (nơi chế biến thức ăn nằm trong nhà nhưng khách thì ngồi dọc theo lề đường) và hoàn toàn ngoài đường (cả chủ lẫn khách, cả nơi chế biến lẫn nơi tiêu thụ đều nằm hẳn ngoài đường). Ở Việt Nam, trong khi hình thức nửa ngoài đường vẫn còn tiếp tục; hình thức hoàn toàn ngoài đường thì rõ ràng càng ngày càng giảm: Họ là đối tượng xua đuổi của công an. Ở Bangkok, ngược lại, hình thức thứ hai vẫn còn nhiều. Ở đâu cũng thấy những người đẩy xe bán hoặc trái cây tươi (tôi thấy nhiều nhất là xoài, măng cụt, bòn bon và thanh long) hoặc các loại đồ nướng (chuối, bắp, mực và ốc), v.v... Tôi để ý thấy khách ăn hàng phần lớn là những người lao động hoặc học sinh, chủ yếu là nữ sinh. Người ta hoặc vừa đi vừa ăn hoặc ngồi bệt xuống đất ăn. Cảnh, trông hơi hơi nhếch nhác. Nhưng nhiều người lại bênh vực, cho chính những điều đó đã tạo nên cái hồn cho Bangkok, tạo ra sự sống và sức thu hút của Bangkok, làm cho Bangkok khác hẳn các thành phố đã hoàn tất quá trình đô thị hoá khác ở Tây phương cũng như ở Đông phương. Cách đây mấy năm, tôi đã nghe một người bạn đồng nghiệp, vốn là chuyên gia về Thái Lan, nói điều ấy. Thú thực, tôi không có ý kiến gì rõ rệt. Đó là một sự chọn lựa mà bên nào cũng phải trả giá. Để cảnh buôn gánh bán bưng dày đặc như thế, thành phố được chút nhân tình nhưng lại mất khá nhiều vẻ thẩm mỹ và cả vệ sinh. Nhưng vì vấn đề thẩm mỹ và vệ sinh, dẹp các gánh hàng và xe đẩy ấy đi, thì những người nghèo khổ kia sẽ đi đâu và làm gì để sinh sống? Chúng ta từng biết, ở Việt Nam, chẳng hạn, trước mỗi cuộc hội nghị lớn có nhiều khách khứa quốc tế, công an lại đi lùng sục bắt bớ những người vô gia cư trên các lề đường rồi chở họ đi đâu đó. Đâu là đâu? Tôi không nghe ai nói cả. Chỉ biết là nơi nào đó khuất mắt mọi người. Ở đó họ sống ra sao, không ai thèm biết.
Với riêng tôi, hôm đầu tiên đến Bangkok, đi ngoài đường, điều quyến rũ tôi nhất chính là những chiếc xe đẩy bán thức ăn như thế. Chúng làm tôi nhớ đủ thứ. Trước năm 1975, ở Đà Nẵng, tôi thấy nhiều nhất là những người bán hàng gánh. Sau, vào Sài Gòn, thấy cả hai: cả hàng gánh lẫn xe đẩy. Phần lớn các gánh hàng rong bán từ sáng đến tối; tuy nhiên, có một số món hình như thích hợp với một thời điểm nhất định trong ngày, như xôi vào buổi sáng, tàu hủ nước đường vào buổi trưa và trứng vịt lộn vào buổi tối. Trên các xe đẩy thường có một cái lục lạc lúc nào cũng leng keng để thu hút sự chú ý của mọi người. Nhưng người bán hàng gánh thì phải rao. Nơi rao hàng hay nhất là ở Sài Gòn. Và ở Sài Gòn, nơi rao hàng hay nhất là ở các bến xe đò. Người ta rao có vần có điệu và lên bổng xuống trầm. Nghe như hát. “Bánh mì nóng hổi, vừa thổi vừa ăn đđââ..y...., bà con ơi!” Đại khái thế. Ở miền Trung, ít nhất ở Quảng Nam và Đà Nẵng, người ta thường rất kiệm lời khi rao. Thường chỉ một hai chữ, kiểu “Xôi đây!” “Tàu hủ đây!” hay “Hột vịt lộn đây!” Buổi tối, càng về khuya, người bán hàng càng mỏi mệt, lời rao càng ngắn lại, có khi cụt ngủn, chỉ còn một chữ. Buồn cười nhất là, với chữ “hột vịt lộn”, người ta thường giữ lại chữ “lộn” chứ không phải là “trứng”, “hột” hay “vịt”. Giữa đêm vắng lặng, chỉ nghe vang lên, lề nhề, mỏi mệt, rã rượi một chữ “lộn” ngân dài. Dài đến nỗi dấu nặng thành dấu huyền. Có lần, ông anh tôi đang học thi tú tài, nghe như vậy, cười đùa: “Trời, giữa khuya mà nghe hoài một chữ như vậy làm sao mà tập trung học đây, hả Trời?” Mọi người cười ồ. Năm ấy anh thi rớt. Chẳng biết có phải vì cái tiếng rao bán hột vịt lộn ấy hay không.
Trong các xe đẩy bán thức ăn ở Bangkok, tôi chú ý nhất đến những chiếc xe đẩy có lò than, trên đó, có vô số thứ được nướng, khói bay nghi ngút và mùi thơm toả ngào ngạt. Một lần, đang đi bộ, tôi thấy một chiếc xe đẩy đi qua với những củ khoai nướng thơm lừng, tự nhiên đâm ra thèm nôn nao. Hồi nhỏ, tôi cũng thường ăn khoai lang nướng. Chỉ có điều là hồi ấy, khoai không được đặt trên các vĩ sắt. Mà bỏ ngay trên bếp củi hoặc lụi dưới đống tro nóng, ở trên lửa vẫn cháy rừng rực. Lúc moi củ khoai ra, vỏ nó cháy đen và đầy tro than. Nhưng chẳng sao cả. Đầu tiên là phủi hết tro; sau đó, lột lớp vỏ cháy bỏ: chỉ còn thịt khoai thơm ngát. Lớn lên, nhất là từ lúc ra ngoại quốc, tôi chưa bao giờ được ăn khoai lang nướng. Lâu lâu, hoạ hoằn được ăn khoai luộc. Nhưng luộc khác nướng. Khoai luộc không có mùi thơm hấp dẫn như khoai nướng. Hôm ấy, nhìn chiếc xe đẩy có mấy củ khoai nướng, tôi bỗng thấy thèm lạ lùng. Bỗng nảy ra ý định mua vài củ. Nhưng lúc ấy người bán hàng đã đi khá xa. Hụt. Đúng lúc tôi đang tiếc hùi hụi như vậy thì một chiếc xe khác trờ tới. Cũng có lò nướng và có mấy củ gì đó ở trên, cháy đen. Tôi vẫy ngay lại. Té ra không phải khoai lang. Mà là chuối nướng. Tôi đang phân vân, người bán hàng hỏi, bằng tiếng Việt: “Anh là người Việt hả?” Ồ, trời ơi, đang nhớ khoai lang nướng, nhớ tuổi thơ, nhớ Việt Nam, mà được nghe tiếng Việt, tôi thấy xúc động vô cùng. Hỏi: “Chị sống ở đây lâu chưa?” Đáp: “21 năm.” Tự nhiên tôi lại buộc miệng hỏi vô duyên: “Tại sao chị qua đây sống vậy?” Chị bán hàng, trả lời tôi một cách lấp ngượng ngùng: “Em qua đây để buôn bán làm ăn.” Tôi nhìn chị. Chị khoảng dưới 40 tuổi, gầy guộc, đen đúa, mồ hôi vã ra ướt đẫm trên mặt và trên cổ. Quánh đặc giữa những giọt mồ hôi ấy là bụi và tro. Toát lên lồ lộ từ mặt mũi đến thân hình chị là cái nghèo và cái khổ. Nhìn chị là thấy ngay sự lam lũ. Không hiểu tại sao, tôi liên tưởng ngay đến những người vượt biên đến Thái Lan nhưng không được nhận tị nạn ở các nước thứ ba. Một số người bị cưỡng bức về Việt Nam. Một số người khác, bằng cách nào đó, ở lại Thái Lan sống qua ngày. Chị là một trong số những người ấy chăng? Tôi không hỏi và cũng không biết. Sau khi mua mấy trái chuối nướng, từ giã chị, tôi cứ bị hình ảnh của chị ám ảnh mãi. Một người phụ nữ nghèo nàn lam lũ vất vả ở nước ngoài. Tôi nhớ nét rạng rỡ trên khuôn mặt chị khi hỏi “Anh là người Việt hả?” và nét lúng túng tần ngần trước câu hỏi vô duyên “Tại sao chị qua sống ở Thái Lan?” của tôi.
Tôi nhớ đến một người anh họ, cuối thập niên 1980, vượt biên sang Thái Lan, bị từ chối quyền tị nạn. Anh mổ bụng phản đối. Nhưng cuối cùng, anh cũng bị buộc quay về Việt Nam. Ở Việt Nam, anh phải chịu đựng bao nhiêu điều khốn khổ. May, hơn 10 năm sau, anh và cả gia đình được sang Mỹ theo một quy chế đặc biệt nào đó. Anh em và bạn bè cứ trêu anh: Không ai đi vượt biên lâu như anh. Mất hơn 10 năm mới tới được nơi mình muốn. Chỉ tiếc lúc ấy anh đã khá lớn tuổi để có thể làm những gì mình mơ ước.
Đến Thái Lan, chưa kịp vui, đã thấy buồn hiu hắt.

Hình: ASSOCIATED PRESS
Ở Bangkok, sợ nhất là nạn kẹt xe. Đọc báo chí trong nước, tôi nghe nói nạn kẹt xe ở Việt Nam sau này cũng ghê gớm lắm. Nhưng đã sáu, bảy năm rồi không về, tôi không biết mức độ gọi là “ghê gớm” ấy cụ thể ra sao cả. Nhưng nạn kẹt xe ở Bangkok thì quả là tôi chưa từng chứng kiến. Nhìn, mới thấy cảnh kẹt xe ở Úc hay ở Mỹ (trừ trường hợp có tai nạn) chỉ là chuyện cỏn con.
Ở Thái Lan, mặc dù chính phủ nỗ lực xây dựng cơ sở hạ tầng với những xa lộ và xe công cộng khá lớn nhưng vẫn không giải quyết được nạn kẹt xe. Đường xá được xây dựng hoặc mở rộng không kịp với đà phát triển của xe cộ. Ví dụ, theo các thông báo chính thức, từ năm 2010 đến năm 2011, hệ thống đường xá ở Bangkok không thay đổi trong khi số xe hơi đăng ký chính thức lại tăng thêm 6.2%, với hơn 1000 chiếc mỗi ngày, đẩy tổng số xe trong thành phố lên đến gần 7 triệu chiếc. Theo tính toán của các chuyên gia về giao thông ở Bangkok, tốc độ trung bình của xe hơi trong giờ cao điểm buổi sáng chỉ khoảng 16 cây số/giờ; buổi chiều chỉ khoảng 23 cây số/giờ. Vấn đề là: lúc nào thì gọi là giờ cao điểm? Ở Úc, nơi tôi sống, giờ cao điểm ở buổi sáng thường là từ 8 đến 9; ở buổi chiều, khoảng từ 5 đến 6. Nhiều ngày, lái xe ra khỏi nhà lúc 8:30 sáng: kẹt. Những ngày khác, đi sớm hơn một chút, trước 8 giờ, hoặc muộn hơn một chút, sau 9 giờ: xe chạy bon bon. Buổi chiều cũng vậy. Trước và sau một giờ đã thấy khác hẳn.
Ở Bangkok thì phần lớn thời gian trong ngày đều là giờ... cao điểm. 7,8 giờ sáng: kẹt xe. 9 giờ sáng: kẹt xe. 10 giờ sáng: cũng kẹt xe. Chiều, từ khoảng 4 đến tận 8, 9 giờ, hầu như lúc nào cũng kẹt xe. Tôi có cảm tưởng chỉ khoảng giữa trưa hoặc khuya lơ khuya lắc, đường mới thực sự thông thoáng để người ta biết sự khác biệt trong tốc độ của xe hơi và của xe đạp.
Ở Bangkok mấy ngày, tôi đã từng ngồi trên xe cả gần một tiếng đồng hồ, chỉ nhúc nhích được vài ba trăm mét. Khi xe nằm giữa cầu, nhìn phía trước: thấy xe nối đuôi nhau dằng dặc; nhìn phía sau, cũng thấy xe nối đuôi nhau dằng dặc. Tất cả nằm yên. Bất động. Nếu nhúc nhích, chỉ nhúc nhích một cách hoạ hoằn. Người tài xế tắc xi cho biết những cảnh như vậy xảy ra hằng ngày. Tôi hỏi: Nếu có hẹn gì cần phải đúng giờ thì sao? Ông đáp: Thì hoặc là đi thật sớm hoặc là đến trễ. Nhưng ông cười, nói tiếp: “Có trễ cũng chẳng sao đâu, ở đây, ai cũng biết chuyện giao thông nên người ta hiểu mà!”
Đối diện với nạn kẹt đường thường xuyên như thế, người Thái Lan có thói quen lái xe không khác gì người Việt Nam. Cũng rất ẩu. Muốn đổi làn (lane) là đổi ngay tức khắc. Cứ chếch đầu xe về hướng làn mới. Người đổi làn tuỳ theo phản ứng của người ở làn bên cạnh mà đi luôn hoặc dừng lại chờ. Giống những cuộc thi gan thường thấy trên đường phố Việt Nam. Chỉ có điều khác là người Thái Lan không bóp còi inh ỏi như ở Sài Gòn hay Hà Nội. Họ cứ kiên nhẫn chịu đựng cảnh kẹt xe và khi cần, lấn giành đường. Nhưng không bóp còi hay chửi lộn. Những lúc ấy, tôi thường ngồi quan sát thái độ của các tài xế lái xe. Hàng chục lần, với hàng chục người, tôi cũng chỉ thấy một điều: nhẫn nhục chờ đợi. Với những bạn đọc chưa từng đến Bangkok, để dễ tưởng tượng, tôi đề nghị thế này: hãy lấy cảnh đường xá ở Sài Gòn hoặc Hà Nội, thay các xe gắn máy bằng xe hơi và trừ đi tiếng còi xe và tiếng chửi thề: Đó là cảnh ở Bangkok.
Kỷ niệm đáng nhớ nhất trong chuyện đi tắc xi ở Bangkok của tôi là hai lần bị tài xế đuổi xuống đường.
Lần đầu, từ một trung tâm thương mại về khách sạn, đường kẹt cứng. Buổi sáng, lúc tôi đi, chỉ mất chưa tới nửa tiếng. Chiều, tôi về, chiếc xe cứ nhúc nhích như người đi bộ. Người tài xế đổi đường và đổi hướng liên tục, nhưng ở đâu cũng bị kẹt. Khoảng một tiếng rưỡi sau, tôi nghe người tài xế nói bằng một thứ tiếng Anh lõm bõm, đại khái: ông bảo tôi xuống, đi bộ khoảng 10 phút thì đến khách sạn. Tôi làm lơ. Một phần, tôi không chắc tôi hiểu đúng những gì ông muốn nói. Phần khác, đó là ngày đầu tiên tôi đến Bangkok, mới rời khách sạn vào buổi sáng, chỉ biết tên đường chứ không biết phương hướng gì cả nên rất ngại bị lạc. Ngoài ra, trời ở Bangkok rất nắng và nóng. Nghĩ đến chuyện đi bộ 10 phút, tự nhiên thấy nản. Vả lại, tôi nghĩ một cách máy móc, như ở Tây phương: mình đã lên tắc xi, nhiệm vụ của tài xế là phải chở đến tận nơi. Ngay tận cửa.
Thấy tôi im, người tài xế cũng không nói gì thêm. Xe lại nhúc nhích lăn từng chút, từng chút trên đường phố nghẹt cứng. Khoảng hơn hai mươi phút sau, ông lại xua tay có vẻ như đuổi tôi xuống xe. Tôi hơi bực. Sau đó, ông cố giải thích bằng tiếng Anh theo lối ráp từng chữ, tôi hiểu, đại khái, nếu tôi chịu khó xuống đi bộ thì chỉ mất khoảng 2 phút, còn nếu tiếp tục ngồi trên xe thì sẽ mất khoảng 20 phút. Nghe khoảng cách giữa 2 và 20 phút như thế, tôi đồng ý trả tiền và xuống xe. Thật ra, quãng đường từ chiếc xe ấy đến khách sạn mất hơn 5 phút. Nhưng, thôi, cũng được: ít nhất cũng đỡ hơn ngồi trong xe.
Lần khác, tôi lại đón tắc xi vào buổi tối. Tưởng sau 8 giờ đường xá thông thoáng hơn. Nhưng không: hướng nào cũng kẹt. Người tài xế cứ quay hướng này rồi quay hướng khác. Hướng nào cũng đầy xe. Cuối cùng, sau khoảng nửa tiếng, ông thả tôi xuống trước một trạm xe lửa chạy trên cầu nổi (skytrain), bảo: nên đi xe lửa, nếu không, sẽ không bao giờ tới được điểm hẹn cả. Ông còn tử tế chỉ tôi cách mua vé. Rồi lấy tiền và phóng xe đi. Đã có kinh nghiệm lần trước, lần này tôi không hề ngạc nhiên và bất mãn. Tôi còn thầm cám ơn vì nhờ vậy, tôi học được cách đi xe lửa ở Bangkok. Thật ra, hệ thống xe lửa ở Bangkok không nhiều đủ để thay thế xe tắc xi, nhưng dù sao biết cũng tốt, phòng những lúc bị kẹt cùng, không có lựa chọn nào khác. Lại có thêm một chút kinh nghiệm về cảnh chen chúc và chen lấn.
Sau này, đi tắc xi nhiều, tôi biết được một quy luật tính tiền: bình thường, họ tính theo đồng hồ cây số gắn trong xe; nhưng khi bị kẹt đường, nhất là vào giờ cao điểm buổi sáng và buổi chiều-tối, họ đòi giá bao. Ví dụ, từ điểm A đến điểm B, bình thường, tiền trên đồng hồ là 50 baht; giờ cao điểm, họ đòi gấp ba hay gấp 4, thậm chí gấp 5 lần.
Giá tắc xi ở Thái Lan khá rẻ. Tăng gấp mấy lần cũng không phải là vấn đề. Chỉ có điều, giá tiền tăng nhưng tốc độ xe chạy vẫn không tăng. Cứ nhúc nhích từng chút. Từng chút. Không chừng một phần vì vậy mà người Thái, nói chung, có vẻ nhẫn nhục một cách lạ thường. Họ nhẫn nhục từ cách chào hỏi, nói năng và cười.
A! Nụ cười. Tôi có thể dễ dàng “đọc” được các kiểu cười của người Việt. Riêng nụ cười của người Thái, với tôi, vẫn còn là một bí ẩn.
Từ từ nghiên cứu sau.

Nguyễn Hưng Quốc


Ải Nam Quan trước khi ký hiệp định biên giới

Đây là Ải Nam Quan mới gọi là cột mốc “0″
Sau vụ CSVN bán nước cho TC, theo lời ông Hoàng Minh Chính cho biết thì không ai biết được ai trong bộ chính trị đã ký tên trong vụ bán nước nầy. Bộ chính trị CSVN đã dấu nhẹm chuyện nầy và BÍ MẬT ĐÃ được BẬT MÍ và sau đây là những diễn biến về việc BÁN NƯỚC:
1) Lê Khả Phiêu bị TC gài mỹ nhân kế lấy cô Trương Mỹ Vân (Cheng Mei Wang) lúc Lê Khả Phiêu sang thăm TC năm 1988 và sanh được một bé gái. LKP không đem con về vì sợ tai tiếng đưa đến nhiều lần TC gửi văn thư đòi lấn vùng biển vào tháng 01/1999 … Đồng thời đòi đưa ra ánh sáng vụ nầy nếu LKP không hợp tác. Và buộc Lê Khả Phiêu phải hạ bút ký bản hiến biển ngày 30/12/1999.
2) Ngày 31/12/1999 phái đoàn TC cầm đầu do ông Tang Jiaxuan và tình báo TQ sang Việt Nam, họ gặp kín ông Lê Khả Phiêu bàn thêm về vấn đề hiến đất …
3) Ngày 25/02/2000, Lê Khả Phiêu phái Nguyễn Duy Niên sang TC, ông Nguyễn Duy Niên cho biết Lê Khả Phiêu đã đồng ý việc hiến thêm đất.

TC nghe tin rất hoan hỉ mở tiệc chiêu đãi Nguyễn Duy Niên một cách nồng nhiệt với nhiều cung tầng mỹ nữ ở nhà khách Diao-yu-tai ăn nhậu cùng ông Ngoại Trưởng Tang Jiaxuan …
4) Bộ Trưởng TC Tang Jiaxuan gửi thư kín nhắn tin muốn gặp Bộ Trưởng CSVN tại Thái Lan khi ông viến thăm nước nầy. Ngày 26/07/2000. Ông Nguyễn Duy Niên đáp chiếc Air Bus bay từ phi trường Nội Bài vào lúc 06 giờ 47 sáng sang Thái Lan gặp Bộ Trưởng Ngoại giao TC tại khách sạn Shangri-La Hotel Bangkok phía sau phòng Ballroom 2. Cuộc gặp rất ngắn ngủi. Tang giao cho Niên một chồng hồ sơ đòi CSVN hiến thêm đất, biển trong hồ sơ ghi rõ TQ đòi luôn 50/50 lãnh hải vùng Vịnh Bắc Việt, đòi Viet Nam cắt 24 ngàn Km2 vùng biển cho TQ. Ngày 28/07 bộ chính trị nhóm chóp bu họp kín.
5) Sau hai tháng họp kín và bàn bạc, Bộ chính trị CSVN cử Phan Văn Khải qua gặp mặt Lý Bằng. Phan Văn Khải bay chuyến máy bay sớm nhất rời Việt Nam ngày 26/09/2000 qua Bắc Kinh và được xe Limo chở từ phi trường Bắc Kinh về Quảng Trường Nhân Dân vào trưa hôm đó. Nhìn thấy mặt Khải tỏ vẻ không hài lòng và hoan mang về vụ hiến đất (Điều nầy chứng tỏ Khải không rõ chuyện nầy). Lý Bằng cho Khải biết là hai tay Lê Khả Phiêu và Giang Trạch Dân đã gặp nhau 2 lần cho vụ hiến đất rồi. Lý Bằng ôm chặc PVK và khen đảng CSVN làm việc rất tốt và ông cho biết là đã có Nông Đức Mạnh (lúc đó là chủ tịch Quốc Hội đảng CSVN) đã đi đêm sang TC vào tháng 04/2000 và Lý Bằng đã gặp lại Nông Đức Mạnh, vào tháng 08/2000 ở New York Hoa Kỳ. Lý Bằng cho biết Nồng Đức Mạnh phải được cử làm Bí Thư đảng CSVN sau khi Lê Khả Phiêu xuống, nếu không thì sẽ bị TC “đòi nợ cũ”. Khải trước khi về vẫn khước từ vụ hiến vùng biển VN và nói với LB là sẽ xem lại sự việc. Lý Bằng nhăn mặt bắt Khải ngồi chờ, vào gọi điện thoại, nói gì trong đó và trở lại nói là Chủ Tịch Giang Trạch Dân muốn gặp Khải tại Zhong-nai-hai và sau đó Khải được đưa đi gặp GTD và cho ông Zhu Rongji hù dọa Khải nói: TC đã nắm trong tay Lê Khả Phiêu, Nồng Đức Mạnh … nếu không nghe lời TC, Khải sẽ bị tẩy chay và coi chừng bị “chích thuốc”. Khải cúi đầu và run sợ, sau đó đòi về. Trước khi Khải về, một lần nửa Giang Trạch Dân nhắn Khải gửi lời thăm Lê Khả Phiêu và Nồng Đức Mạnh chứ không nhắc tới tên người khác trong Quốc Hội CSVN. Khải không được khoản đãi như một vị quốc khách vì tính tình bướn bỉnh vì không nghe lời đàn anh …
6) Vào ngày 24/12/2000 , Thứ Trưởng Bộ Ngoại Giao VN Lê Công Phụng được Trần Đức Lương phái âm thầm đến TC gặp ông tình báo của TC là ông Hoàng Di, ông nầy là cánh tay phải của Bộ Trưởng Ngoại Giao TC. Ông ta nói tiếng Việt rất rành. Hai bên đã gặp nhau ở một địa điểm X gần biên giới Việt (Tỉnh Móng Cái Việt Nam). Theo bản báo cáo cho bộ chính trị CSVN, ông Lê Công Phụng Cho biết lúc đầu ông Hoàng Di vẫn khăn khăn đòi chia 50/50 với Việt Nam về vùng biển Vịnh Bắc Việt “Beibu Bay” đòi lấy luôn đảo Bạch Long Vĩ sau đó ông Phụng, được bộ chính trị dặn trước là xin lại 6 % của Vùng biển gần khu vực Bạch Long Vĩ vì đã được lâu đời là của Việt Nam. Kết Qủa cuộc đi đêm Việt Nam còn lại 56 % Vịnh Bắc Việt và mất đi 16 ngàn Km2 vùng vịnh cho TC.
7) Ngày 25/12/2000, ông Trần Đức Lương rời Hà Nội qua Bắc Kinh gặp Giang Trạch Dân và được đưa về Thành Bắc của Quảng Trường Nhân Dân, theo tài liệu lấy được của tình báo TC. Trần Đức Lương và Lê Khả Phiêu chính thức quyết định thông qua bản hiệp ước hiến đất bất chấp lời phản đối của Khải và nhiều người trong quốc hội. Phe thân Nga và Phe Miền Nam đã không đủ sức đấu với Lê Khả Phiêu và Trần Đức Lương. Bản hiến chương hiến đất cho TC được chính Giang Trạch Dân và đảng CSTQ trả cho số tiền là 2 tỉ USD được chuyển cho Việt Nam qua hình thức Đầu Tư. Đảng CSTQ chỉ thị cho đảng CSVN sẽ phải làm gì trong kỳ đại hội đảng thứ 9 vào tháng 03/2001 sắp tới. Trần Đức Lương được khoảng đải ở Thành Bắc Quảng Trường Nhân Dân.
8) Ngày 26/12/2000 vào lúc 2 giờ trưa, Lý Bằng được cận vệ đưa tới gặp Trần Đức Lương ở Quảng Trường Nhân Dân. Lý Bằng cho Lương biết là số tiền 2 tỉ dollar để mua 16 ngàn km2 vùng vịnh Beibu của Việt Nam là hợp lý. Trần Đức Lương cám ơn đảng CSTQ về số tiền nầy. Số tiền 2 tỉ đồng nầy được Lương đem về để làm bớt sự phẩn nộ của Khải, Kiệt và những nhân vật khác trong quốc hội CSVN. Ông Lý Bằng nhắc lại chuyện TC đã bán vũ khí và hổ trợ cho đảng CSVN trong thời gian chiến tranh và số nợ trên TC dùng để trao đổi mua lại vùng đất Bắc Sapa của Việt Nam, Ải Nam Quan, Bản Dốc, Cao Bằng … Thêm lần nữa Lý Bằng chỉ gửi lời thăm Lê Khả Phiêu và Nồng Đức Mạnh ! Sau đó Lương được mời lên xe Limo và đưa về Zhong-nan-hai để gặp Zhu Rongji . Zhu Rongji không nói gì khác hơn là nhắc lại số tiền 2 tỉ đồng sẽ được giao cho Việt Nam sau khi Lương trở về nước.

9) Ngày 26/02/2001 Nguyễn Mạnh Cầm bay sang TC để gặp ông Qian Qichen tại đảo Hải Nam. Nguyễn Mạnh Cầm cám ơn TC đã mua vùng Vịnh Bắc Việt của Việt Nam (Beibu Bay) với giá 2 tỉ USD.


Giới thiệu tuyển tập 6 truyện cười ngắn mà hay nhất thế giới, đảm bảo chất lượng cao ngay từ truyện đầu tiên.
Truyện 1:
"Anh yêu ơi, trái đất tròn thật đấy! Tối hôm qua em mới biết được người vợ thứ ba của anh và người chồng thứ hai của em đang hưởng tuần trăng mật ở biệt thự của người vợ thứ hai của anh cùng với người chồng đầu của em".

Truyện 2:
Một ông chồng cầu nguyện: "Lạy Chúa! Con rất yêu vợ con. Nếu cô ấy đau đầu, con xin đau thay; nếu cô ấy buồn, con xin buồn thay; nếu cô ấy phải chịu cảnh góa bụa, con xin chịu thay..."

Truyện 3: ( ko dành cho người chậm hiểu )
Tôi đi chợ vô tình đứng sau ba cô gái xếp hàng mua dưa chuột, và nghe ba cô nói:
- Bác chọn cho cháu quả mập và tròn.
- Chọn cho cháu quả dài và có gai.
- Cháu mua về đắp mặt,bác lấy loại nào cũng đuợc!

Truyện 4:
Có 3 thằng thiếu đèo nhau trên 1 chiếc xe gắn máy. Khi qua ngã tư, đèn đỏ mà nó cứ thế đi nên bị công an vẫy lại. Một thằng trên xe liền hét lên: "Mày vẫy xe khác đi xe tao chở 3 rồi không chở được thêm nữa".

Truyện 5:
Biển báo tại 1 cửa hàng vàng bạc đá quý:
"Nếu quý khách tự tiện sờ mó hiện vật trưng bày, chúng tôi cũng sẽ làm như vậy với khách hàng".

Truyện 6: Ai từng trải mới hiểu
Sau đêm tân hôn, chồng rầu rầu bảo vợ: "Thôi, chuyện đã thế rồi, ( thở dài), tình chồng nghĩa vợ..., tôi cũng muối mặt vì cô mà cắn ngón tay này để nhỏ máu ra drap".
Vợ bảo: "Anh có lòng thì tôi có dạ. Cám ơn anh. Tôi cũng sẽ vì anh mà.... xì mũi ra chăn".
Gai thép
Chúng tôi yêu nhau suốt thời sinh viên. Ra trường, vì một hiểu lầm nhỏ, tôi bỏ người tôi yêu , lấy chồng. Thời gian trôi, tôi đã thành đàn bà. Sáng nay trên đừơng tới chợ, xe tôi bỗng “xì” như một tiếng thở dài. Tôi dắt xe vào căn nhà ven đừơng có tấm biển “VÁ ÉP HONDA,XE ĐẠP”. Nào ngờ đó chính là nhà chàng. Phút gặp lại choáng váng. Chàng vẫn đẹp nhưng phong trần hơn xưa. Bàn tay kỹ sư sửa xe thô ráp, thơm thơm mùi nhựa vá, đưa những đừơng kéo sành sỏi trên miếng ruột xe đen đủi. Cái áo bảo hộ lao động bạc phếch, đứt nút, lộ đầy vẻ đàn ông quyến rũ… Buổi tối, đang ngồi coi “ Hồng lâu mộng” với chồng, tôi “À” lên rồi nói: “Em phải đến nhà ngoại lấy thêm len rồi ngủ lại đấy với cái Thoa”. Chồng tôi vẫn dán mắt vào ti-vi, bảo:” Nhớ mặc thêm áo. Mai về sớm gọi anh đi làm.” Tôi cài lại nút áo pijama cho chồng rồi ra đi như một con trộm. Tôi núp bên gốc me xù xì gần cổng nhà chàng, đợi duyên may chàng có dịp ra phố. Phố chợ về đêm vắng tanh. Một gã say loạng choạng dừng xe, ném vào tôi hơi men: “Dù không em?”… Rồi cũng đến lúc chàng bứơc ra. Dừơng như cảm đựơc ánh mắt tôi vuốt ve, chân chàng luống cuống. Tôi run rẩy rón rén bứơc theo. Tôi muốn khẽ kêu tên chàng nhưng lại muốn gần hơn nữa. Đến gần.Trời ơi! Tôi sững người.
Chàng đang rải những chiếc đinh xuống đừơng! Những cái gai thép đâm thẳng lên trời, nhòe nhoẹt ánh trăng, ánh điện.
Ký ức bất nhã
Suốt quãng đường đến bến tàu, chốc chốc chị lại mỉm cười. Từ khi li dị đến nay gần ba năm, có lẽ giờ chị mới gặp lại cảm giác hạnh phúc. Người đàn ông chị đón là người yêu đầu tiên thuở đại học. Người đã ngọt ngào, đắm say bước vào cuộc đời con gái của chị. Tuổi trẻ, chỉ vì chút tự ái nho nhỏ, họ đã chia tay. Chị lấy chồng, anh lấy vợ. Nay anh có dịp đi công tác qua thành phố quê hương chị và ghé thăm chị.
Dù đã 15 năm trôi qua, chị vẫn nhận ngay ra anh. Anh hơi mập nhưng vẫn rất đẹp trai. “Em còn đẹp hơn xưa đấy!” Anh cũng đắm đuối nhìn chị.Họ dạo bước trên công viên cạnh biển. Gió mơn man tóc và những tia nắng cuối chiều nhảy nhót trên vai áo. Rồi họ đón taxi và ngồi bên nhau. Anh nhè nhẹ nắm bàn tay chị, bàn tay chị im lặng nằm gọn trong tay anh nhưng đôi vai nhỏ thì run rẩy xúc động. Từng đôi trai gái chở nhau bằng xe máy vụt qua, chị thầm thì:
- Anh nhớ ngày xưa anh đã từng chở em bằng xe đạp suốt 120 cây số từ Sài gòn về nhà em không? Thế mà về đến nơi, ăn cơm xong, mẹ em nhất quyết không cho ngủ nhờ nhỉ…
Anh bật cười:
- À, ừ. Ngày ấy điên thật!
Chị hơi sững. Anh bảo taxi ghé vào khách sạn sang nhất thành phố biển. Anh đặt bàn ăn với đôi nến trắng, hoa hồng và rượu Sâmbanh. Họ dùng bữa tối, chuyện trò và cụng ly như trong xinê. Anh say, chị cũng bắt đầu say. Chiếc đầm đen cổ trễ khiến chị càng quyến rũ.
Anh dìu chị lên căn phòng hạng nhất, nơi có những rèm cửa lãng mạn và ánh sáng mờ ảo dìu dịu hắt từ chiếc chao đèn sang trọng. Anh ôm vòng eo thon thả của chị, chị gục đầu vào vai anh. Bỗng dưng mùi nước hoa sành điệu từ anh làm chị khựng lại, ký ức chợt ùa về mùi mồ hôi hăng hắc giữa trời nắng của anh khi gò lưng chở cô bạn gái 15 năm trước, mùi đàn ông quyến rũ…Bàn tay anh dịu dàng, thành thạo ve vuốt chị lại làm chị liên tưởng cũng bàn tay ấy ngày xưa run rẩy, lóng ngóng, vụng về…Khi anh cúi mái tóc chải óng mượt xuống chị, chiếc áo sơmi đắt tiền đang được anh cẩn thận mở từng chiếc cúc thì ký ức lại một lần nữa đưa chị về với mái tóc quăn quăn và cử chỉ nồng nhiệt cởi phăng chiếc áo phông bạc màu ngày nào của chàng sinh viên…Ký ức làm chị tỉnh hẳn rượu, chị thấy chân tay mình lạnh toát…
- Em xin lỗi nhưng em không thể…
Chị ngồi bật dậy, kéo lại váy.
- Có chuyện gì vậy? Anh xúc phạm em chăng?” Anh ngạc nhiên. Chị bối rối lắc đầu. Ký ức thật bất nhã.
- Em không còn yêu anh nữa! – Anh nói giận dỗi.
- Tha lỗi cho em- Chị rút bàn tay khỏi tay anh, nước mắt lăn trên má – Tình yêu vẫn nguyên vẹn nhưng là anh của ngày xưa…
Rồi chị chạy vội khỏi căn phòng khách sạn.
Ba trăm ngàn
Anh chia tay vợ đã sáu năm. Khoảng thời gian ấy đối với một người đàn ông không đơn giản. Anh vui bởi thoát được những cuộc điện thoại dội bom “Đang ở đâu?”,”Mấy giờ về?”,”Uống vừa vừa thôi!” hoặc những săm soi lén lút nhưng rất vụng về, những gắt gỏng, than vãn,những bài học được rút ra và những kết luận “hết chương này đến chương khác” của nhưng vĩ nhân được gọi là “Vợ”. Khoảng trời mới rộng mở trước mắt, ở đấy là những cô gái trẻ đẹp và những người đàn bà hấp dẫn. Hình như anh lại “hồi sinh tuổi hai mươi”. Anh trẻ ra, tóc nhuộm đen mượt, nói năng lịch sự và dí dỏm, sải những bước đi kiêu hãnh… Chả ai ngăn cản được những giấc mơ mới. Nhưng cuối cùng, sau những cuộc phiêu lưu có đủ hoa hồng, nước mắt, những kỳ nghỉ…và cả ở mấy phòng mạch “điều hoà” tư nhân. Anh phải công nhận: Phụ nữ em thì cao dong dỏng, em “đậm đậm phúc hậu”, em “trắng như mây”, em “nâu như mật”…nhưng rốt cuộc…như nhau! Bao giờ cũng thế, ban đầu họ tỏ ra rất kiêu sa, sau đó bị chinh phục và bắt đầu mơ mộng rất hoang đường…Cuối cùng khi anh bỏ chạy thì họ hầu như bị tan chảy…
Hôm nay anh ngất nghểu đi trên phố sau một chầu nhậu tuý luý với các bạn, cơn gió nhẹ đầu thu bỗng len tới mơn man làm anh thấy buồn và anh nhớ phụ nữ…Anh không nhớ cụ thể Tâm, Lan, Hà…(thật ra anh cũng không nhớ xuể) mà anh chỉ nhớ đơn giản là một vòng tay ôm xiết, làn mi khép phục tùng và hơi thở nồng nàn bỏng cháy…Gần đây anh còn ngại cả những cuộc tình “ổn định” bởi không chịu được sự “lấn sân dần” từ các người tình. Lúc mới quen vu vơ, các em bao giờ cũng thích khơi gợi tán tỉnh. Tán tỉnh chơi chơi thì các em bắt đầu “yêu thật”. Mà khi “yêu thật” rồi thì cơ man vấn đề…cũng chẳng khác thời “ở cũi” là bao: giận dỗi, nghi ngờ, ghen tuông, than vãn và một trong những sai lầm chung của các phụ nữ là : lúc nào họ cũng muốn kiểm soát tâm tư của đàn ông ! Mệt mỏi !
Đêm nay anh nhớ phụ nữ nhưng anh muốn sẽ làm tình với một tâm trạng thật thoải mái, không vướng bận tình cảm, trách nhiệm, nhưng cũng không thô tục, hạ cấp quá…Kinh nghiệm đưa anh đến gần cổng một trường Đại học…Vài cô thấp thoáng chào mời nhưng anh không ưng. Dù gì, cũng phải hợp “gu”. Một cô gái bước ra từ một ngõ hẹp, chân dài, tóc dài và gương mặt có vẻ thuỳ mị. Đấy là kiểu phụ nữ mà anh ưng. Anh đi theo và cô ta quay lại, hình như cô ta có cử chỉ gì đó lạ lạ nhưng anh không để ý. Anh đi sát đến, cẩn thận ngó xung quanh và hỏi: “Đi không em?” .Cô gái mỉm cười, dưới ánh đèn đường anh thấy nụ cười hơi quen nhưng kệ. Họ vào một khách sạn tầm tầm, kín đáo. Trong ánh đèn mờ ảo, anh lại thấy khuôn mặt cô gái quen quen nhưng không thể nhớ gặp ở đâu. Để thêm cảm hứng, anh nói một câu lấy lòng: “Trông em giống một diễn viên trên phim truyền hình.” Mà anh cũng nghĩ như thế thật. Cô gái làm tình rất bốc lửa nhưng không chuyên nghiệp lắm, anh chỉ lạ là sao cô ta rất thạo những vùng nhạy cảm đặc biệt của anh, những nơi mà chỉ có những người tình thật sự mới hiểu. Trong lúc mây mưa, anh nhận thấy hình như cô ta khóc nhưng anh kệ. Anh sợ những giọt nước mắt của các cô gái làm tiền. Nó như nước mưa vậy. Không khéo lại sắp sa vào hàng tỉ những “ca cảnh cải lương” rẻ tiền. Nhưng quả thật, cô ta làm tình như một người yêu thật sự, như là “ngôi sao phòng the” đầy triển vọng. Rất mỹ mãn. Xong xuôi, anh buồn ngủ quá đỗi, không thể mở nổi mắt, không cả kịp tắm rửa, lăn ra ngáy vang trời…
Khi anh mở mắt thì trời đã sáng rõ. Các diễn biến đêm qua định hình lại. Cô gái đã biến mất. Anh điếng hồn, không thấy điện thoại di động, ví , khoá xe máy… đâu. Chết thật, anh nhớ lại các vụ án mất địện thoại, mất xe máy, mất ví…mà khổ chủ cứ phải cắn răng chịu…xảy ra trong các mẩu tin nho nhỏ của báo Công An vẫn đăng với cái tít rất hấp dẫn “Vì ham của lạ”. Anh tìm dưới gối, dưới nệm giường, trong ngăn kéo cũng không thấy đâu. Hi vọng cuối cùng, anh mở cánh tủ quần áo cũ kỹ và thấy : Quần tây và áo sơ mi của anh được xếp lại cẩn thận, ngay ngắn, đặt ở trên là ví, điện thoại di động, khoá xe…và một bức thư. Ngạc nhiên quá đỗi, anh đọc: “ Anh Nguyễn Viết Tường ơi! (Anh lạnh toát mình khi nghe đầy đủ tên họ như trong tờ Sơ yếu lý lịch cơ quan) Cuối cùng thì anh vẫn không nhận ra em. Em là cô gái anh đã quen trong chuyến đi nghỉ của Công đoàn ngành mấy năm trước khi anh vừa chia tay vợ. Chúng ta đã có ba ngày với nhau ở thành phố biển thật nồng cháy và đắm đuối. Anh đã hứa rất nhiều với em và tặng em chiếc nhẫn nhỏ. Em đã yêu và chờ đợi được gặp lại anh biết bao. Em vừa bán chiếc nhẫn. Món tiền em gửi trả lại đây đúng bằng trị giá chiếc nhẫn. Vĩnh biệt anh.” Anh nhìn thấy ba tờ một trăm ngàn mới cứng đính kèm lá thư. Anh khóc.
Chiêm bao
Nàng ngồi nhìn chăm chăm vào khoảng không vô định trước mặt. Nàng không tin nổi những gì đã xảy ra, chuyện xảy ra chỉ mới ba ngày thôi, ba ngày…Khi ấy, nàng và chàng hẹn nhau cùng đi ăn tối vào thứ bảy cuối tuần. Nàng biết chàng sẽ nói những điều hệ trọng vào hôm ấy vì họ đã yêu nhau hơn hai năm rồi, nàng đã mặc cái áo xanh tuyệt đẹp, trang điểm tuyệt đẹp chờ chàng đến đón… nhưng mãi mãi… chàng sẽ chẳng bao giờ đến vì một tai nạn giao thông bất ngờ. Chàng chết khi trên tay còn cầm bó hoa hồng đỏ rực bọc trong lớp giấy lụa kiêu sa. Nàng không khóc nổi vì nước mắt đã cô đặc lại trong trái tim. Trong phút giây đau đớn, nàng ước mình được chết theo chàng , may mà cô bạn thân đã kịp kéo nàng ra khỏi ý nghĩ u ám đó. Nàng sợ những lời động viên an ủi trong lúc này, nàng sợ những sẻ chia, thương cảm của những người đang sống trong trọn vẹn. Trái tim vẫn đập trong lồng ngực, mắt vẫn nhìn, tai vẫn lắng nghe nhưng nàng thấy hình như sự sống thực sự với mình cũng đã hết. Gieo mình xuống nệm, bờ vai vững chãi của chàng , nơi nàng vẫn tựa đầu để thủ thỉ, giận hờn lại hiển hiện… Trùm chăn, nhắm mắt lại, vòng tay mạnh mẽ và đôi mắt dịu hiền của chàng lại vò xé nỗi nhớ của nàng… Nàng lả đi trong đau đớn và hồi tưởng… Nàng vật vã trong một cõi mê và tiềm thức của nàng như bị thôi miên… Một ông già râu tóc trắng toát, mặc tấm áo choàng màu thẫm hiện lên… Nhìn vẻ mặt phúc hậu và cử chỉ điềm đạm của ông, nàng hỏi:
- Cháu trông Ông giống thần tiên trong phim quá ? Ông già mỉm cười trông càng hiền hậu:
- Con gái thông minh lắm. Ta là Thần Cứu rỗi đây. Ta chỉ xuất hiện khi một người thật tuyệt vọng và đau buồn. Con muốn ta giúp con điều gì?
Nước mắt chứa chan, nàng nói như không kịp thở:
- Ông bảo giờ con còn ao ước gì nữa ngoài ước mơ anh ấy sống lại để chúng con được sống với nhau đến đầu bạc răng long và có thật nhiều con cái…
Ông già khe khẽ gật đầu thấu hiểu rồi ông vẩy nhẹ bàn tay, nhắm mặt lại, bảo:
- Con sẽ được như ý. Các con đang ở với nhau bốn mươi năm sau!
Nàng vẫn chưa hiểu lắm thì chẳng thấy Thần đâu nữa.
Một người đàn ông đi về phía nàng, nàng nhìn người ấy một lát và lại thấy nước mắt chứa chan…Chàng! Nhưng chàng của 40 năm sau thì đương nhiên phải khác chàng bây giờ: tóc đã bạc hơn nửa mái đầu, bụng nặng nề, khuôn mặt tuấn tú hằn sâu vẻ mệt mỏi. Nàng mỉm cười với chàng nhưng chàng chẳng nhìn ,chỉ hỏi: “Đi đâu bây giờ mới về?” Rồi cũng chẳng nghe nàng trả lời, chàng bước vào căn nhà nhỏ mà nàng hiểu là tổ ấm của mình. Nàng thấy họ đã có bốn người con : hai trai ,hai gái. Các cô gái giống hệt mẹ, các chàng trai giống hệt cha, thật thỏa ước nguyện! Cô gái đầu đã sinh cháu và mang sang nhờ nàng trông giúp. Vừa bế cháu ,nàng vừa nghe con gái kể thật nhiều tội của chàng rể . Ba đứa con sau đứa thì đòi lấy vợ, đứa thì đang yêu, đứa lại học kém, đứa nào cũng kể lể xin tiền bố mẹ làm cho chàng và nàng cứ rối tinh rối mù cả lên. Chàng ngồi đọc báo và xem ti-vi, mặc cho nàng vừa bế cháu vừa nấu nướng, nàng tự an ủi: ông ấy ăn ở nhà là may rồi. Cơm dọn ra, bọn trẻ con toan cãi nhau đã bị chàng nạt nộ một trận nên cả nhà ăn lặng lẽ và mau chóng . Khi vào phòng ngủ , nàng mới có dịp ngồi trước gương trang điểm và giật mình: trong gương là một mụ béo với đôi má chảy xệ và đôi mắt khắc nghiệt đầy dấu chân chim…Vừa lúc ấy, chàng cũng bước vào. Khi chàng cởi bộ đồ tây ,chỉ còn đồ lót, nàng thở dài quay đi khi nhìn thấy cái bụng nung núc mỡ… nhưng rồi nhớ ra dáng vóc mình, nàng khe khẽ nằm xuống cạnh chàng. Chàng “ợ” lên một tiếng sau khi ăn no và quay về phía nàng. Mỗi khi nằm bên nhau thế nào họ cũng bàn về chi tiêu và con cái. Nàng ca cẩm về sự thiếu hụt, về giá cả tăng vùn vụt và lũ con khó bảo còn chàng thì gắt gỏng hỏi nàng muốn gì ở chàng nữa, chàng mệt mỏi lắm rồi. Nàng im lặng, giá như lúc này chàng quàng tay dịu dàng ôm nàng thôi (chẳng cần khao khát và đắm say như 40 năm trước) thì mọi khó khăn có lẽ sẽ nhẹ nhàng biết bao nhưng sau khi lướt mắt qua thân hình của vợ, chàng vô tư chìm ngay vào giấc ngủ với những tiếng “kéo bễ lò rèn” rung giường. Nàng thấy bực bội vô cùng, chẳng biết vì tiếng ngáy, vì giá cả leo thang hay vì lũ con cứng đầu… Nàng thấy sao mình bế tắc và thất vọng thế, nhìn quanh mấy nhà hàng xóm sao họ may mắn thế … ”Vô dụng! Thật vô dụng!” Nàng lầm bầm và chợt tỉnh giấc. Nàng thấy nàng vẫn nằm một mình. Tấm ảnh chàng mỉm cười vẫn ngự ở đầu giường. Chàng mãi mãi vẫn là chàng trai ba mươi tuổi dáng dong dỏng cao, hào hoa và hóm hỉnh. Trong ký ức cuối cùng của chàng, nàng mãi mãi vẫn là cô gái hiền dịu có đôi chân dài, mái tóc dài và vòng eo thon thả . Nàng ngồi dậy, khoác tấm áo lạnh , mở cửa và bước ra phố.
Tìm bạn
Mục “Tìm bạn trăm năm “ trên báo hôm nay có đoạn giới thiệu:”Nam giới. Cao 1m70, nặng 68 kg. Tuổi Dần. Kinh doanh. Tự do đã hai năm. Tìm bạn gái đồng cảm. Không yêu cầu gì thêm. Nếu hợp, sẽ tiến xa hơn.” Cô rất mừng. Tuổi của cô hợp nhất với tuổi Dần. Cô đã ly hôn, nghĩa là cũng “tự do” đến sáu năm rồi. Con gái đang học cấp ba. Tháng sau cô 40 tuổi. Sốt ruột lắm. Sáu năm qua, cô vẫn âm thầm tìm kiếm. Nhưng thật không dễ chút nào. Những “mối” do bạn bè giới thiệu họ bảo “được” theo ý họ nhưng khi gặp thì cô lại không thấy “được”: Mấy gã trai trẻ thường nghèo rớt mùng tơi, thể nào cũng mắc tật gì đó trong mấy cái cô kỵ : thuốc lá, rượu chè, bài bạc…Gặp cô, với tuổi tác và hoàn cảnh hiện tại, lấy đâu ra ở họ “những đợt sóng ngầm”! Nên “lời ngỏ” của họ cô ngờ rằng có đến 50 phần trăm thực dụng! Những chàng “cao tuổi” thì “hóa trang” tài đến đâu, mái tóc đen nhánh bởi thuốc nhuộm cũng không che lấp được mênh mông khoảng…hói! Quần áo các “lão anh” dù có tậu loại hàng hiệu hảo hạng nào cũng khó giấu nổi… cái bụng phệ! Nhưng phần sợ nhất là : tuy cũng “tơi tả mấy tập nháp” rồi nhưng các anh này lại đòi hỏi đối tượng rất khắt khe: hình thức, đức hạnh, nội trợ, tâm hồn…Và điều khôi hài là, không biết các “lão anh” còn bao nhiêu “xí quách” nhưng lại có một ham muốn vô tận “đối tượng nữ càng trẻ càng…thích”! Các “lão anh” còn cực kỳ thận trọng. Rất sợ những hồi ức cũ lại “tái bản”… nên với họ, giai đoạn “tìm hiểu” có khi giống một cuộc “đấu giá” hơn!
Hẹn hò trên mạng thì phiêu lưu. Lứa tuổi teen phù hợp với hình thức này hơn. Họ nhiều thời gian để “chát chít”. Liều lĩnh và tự tin để biến “ảo” thành “thật”. Bởi vì nếu thất bại, họ còn nhiều cơ hội để “phục hồi”, với cô thì… ít lắm.
Làm việc tại một công ty lớn, đôi lần cô cũng vướng những “cú sét”. Những người đàn ông này tương đối hấp dẫn, tài giỏi, địa vị cao sang và rất ưu ái cô nhưng…(chỉ cái “nhưng” duy nhất) họ đều…đang có vợ và cùng có “chính sách chung” là :“Chỉ thêm chứ không bớt…Vợ”! Gian nan làm sao…
Cô nhịp chân theo điệu nhạc từ máy vi tính, đọc lại lời giới thiệu và bắt đầu tưởng tượng…Dù không còn trẻ, khởi đầu một thiên tình sử ai chả có quyền lãng mạn… Chàng là Việt kiều? Chàng là đại gia? Hay chủ một doanh nghiệp nhỏ cũng được… Nhưng người đàn bà bốn mươi tuổi thông minh và thận trọng lại định thần ngay. Coi chừng: Một gã nghiện hút, nát rượu, bài bạc, trai gái, ngoại tình, lừa đảo…Có thế thì mới gãy gánh chứ? Rồi cô lại tự mắng : Hồ nghi đến mức bệnh hoạn! Lúc nào cũng thấy xung quanh toàn những mưu đồ! Rõ ràng người này dễ chịu khi chẳng yêu cầu chi li với đối tượng. Có lẽ mình bắt đầu tính toán quá . Hãy xem các lời giới thiệu khác cùng các yêu cầu: Tìm bạn gái có hình thức ưa nhìn, cao trên 1m60, trình độ đại học, có nhà riêng, chưa có con...Khiếp! Thái tử đi kén Công nương chắc? Khắc nghiệt thật!
Mình sẽ không vội vã nhưng không thể để lỡ những cơ hội trong đời…
Thư qua thư lại. Điện thoại. Hẹn hò. Cuối cùng họ gặp ở một quán cà phê. Cô chọn chiếc áo may khéo nhưng giản dị. Buổi đầu không nên màu mè. Anh đón cô ngay ở bãi gửi xe. Hình thức anh không nổi trội nhưng vóc dáng cân đối. Mặc đồ lịch sự. Nói năng nhẹ nhàng. Hai người trông đẹp đôi. “ Sáu năm qua hình như đã có hậu”. Cô lạc quan.
- Anh đang làm việc ở đâu ạ? Sau vài câu xã giao, cô vào ngay “thân bài”.
- Anh buôn bán nhỏ thôi…
Anh hơi bối rối.
” Thôi, không phải đại gia cũng không sao. Giới đại gia phức tạp lắm”. Cô tự nhủ.
- Thế nhà anh ở đâu?
- Anh chưa có nhà riêng. Đang ở nhờ ông bác ruột.
“Mới ly hôn, việc phân chia tài sản cũng lại là cả một vấn đề đây…- Cô nghĩ – Mình có nhà riêng, lo gì”
- Anh có mấy con rồi?
- Anh có hai con nhưng đều ở với bà ấy.
“Thế càng tốt. Nếu một đứa ở cùng cũng chả sao, mình sẽ cố gắng là một người mẹ kế tốt bụng”. Cô tự nhủ.
- Nhưng cụ thể là anh đang buôn bán hàng gì thế ? Trong hai năm tự do anh đã chán cảnh độc thân rồi ư?
Cô mỉm cười. Phải hỏi thật kỹ chứ. Giống cuộc phỏng vấn quá nhưng anh chàng không hề khó chịu. Anh cũng cười :
- Hiện giờ anh đang kinh doanh mặt hàng keo dính chuột. Trước đây anh chuyên về rượu giả, trúng lắm, nhưng họ bắt được. Bị kết án 5 năm nhưng anh đã mãn hạn 2 năm rồi . Vợ anh bỏ đi cùng hai con ngay khi anh bị bắt. Đó là tất cả sự thật cuộc đời anh.
Cô chết sững. Im lặng. Rồi cô đứng phắt dậy. Cô định sẽ ném một câu gì đó thật đau đớn cho bõ những ngày mơ mộng. Cô định sẽ cười ha hả và hỏi anh ta có bình thường về tâm thần không hoặc có thể chỉ đơn giản một cái nhếch môi đáng đời rồi kiêu hãnh ra về… Chuẩn bị… nhìn thẳng vào mắt anh ta… Anh vẫn ngồi nguyên, nhìn cô điềm tĩnh chờ đợi tất cả… Nhìn sâu vào đôi mắt anh, cô bỗng thấy cay cay nơi sống mũi : đôi mắt bình thản, thẳng thắn, chân thành. Cô đưa bàn tay nhỏ bé của mình về phía anh, thì thầm:
- Lần đầu tiên em gặp một người đàn ông chân thật như anh. Em không đi tìm nữa.
Vũ Thanh Hoa
Những tấm lòng bao dung

Nhận được những câu hỏi của nhà văn Phạm Thị Hoài tôi cứ nghĩ ngợi vân vi. Không phải nghĩ về câu trả lời mà nghĩ về chính câu hỏi. Đó là những câu hỏi mà mọi người Việt Nam đang quan tâm đến vận mệnh đất nước hôm nay vẫn thường tự hỏi. Bao giờ dân tộc Việt Nam thoát khỏi họa cộng sản để lại trở về với chính mình, lại trở về với hồn cốt tinh hoa Việt Nam. Nhưng nhà văn không hỏi gay gắt như vậy. Câu hỏi của nhà văn thật nhẹ nhàng, bao dung.

Chúng ta thử hình dung một ngày nào đó không xa, trong vòng mươi năm tới, Việt Nam sẽ chuyển thành công từ thể chế độc quyền dưới sự lãnh đạo toàn diện của Đảng Cộng sản Việt Nam sang dân chủ đa nguyên, với nhà nước pháp quyền dựa trên tam quyền phân lập, với tư tưởng tự do và ngôn luận, tự do hội họp và xã hội dân sự. Khi đó cái di sản đã kéo dài ba phần tư thế kỉ ở miền Bắc và gần nửa thế kỉ trên cả nước sẽ đặt chế độ mới trước những thử thách nào? Xã hội Việt Nam cần bao lâu để vượt qua di sản đó? Có những điểm sáng hay truyền thống tốt đẹp nào từ các di sản đó cần giữ gìn? Khả năng diễn ra trong hòa bình của bước ngoặt đó lớn tới mức nào hay tình trạng bạo loạn mà nhiều người tiên đoán và dùng đó làm lập luận chống thay đổi thể chế sẽ xảy ra? Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ đóng vai trò gì trong tiến trình chuyển hóa đó?

Chấm dứt thể chế độc quyền lãnh đạo đất nước của Đảng Cộng sản Việt Nam là điều đương nhiên, là tiến trình tất yếu của lịch sử. Càng chậm trễ, càng cản trở tiến trình đó càng có tội với dân tộc, với lịch sử, càng làm cho dân tộc li tan và suy yếu, càng làm cho đất nước tụt lại sau, càng kéo dài đau khổ của nhân dân. Nhà văn khẳng định tiến trình chấm dứt sự độc diễn trên sân khấu chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam là không thể đảo ngược nhưng vẫn trông mong Đảng Cộng sản có vai trò chủ động trong tiến trình đó. Phải là một nhân cách văn hóa mới có được tấm lòng nhân hậu, bao dung như vậy. Đó là tấm lòng bao dung của nhà văn, đó cũng là tấm lòng bao dung của dân tộc Việt Nam đối với Đảng Cộng sản Việt Nam, một tổ chức chính trị đã dùng bạo lực tàn nhẫn ứng xử với dân tộc Việt Nam văn hiến và đã đem lại cho dân Việt Nam gần một thế kỉ cách mạng, chiến tranh đẫm máu, li tán dân tộc, tan hoang đất nước.

Đảng Cộng sản tồn tại bằng độc quyền quyền lực. Xóa bỏ sự độc quyền quyền lực là xóa bỏ sự tồn tại của Đảng Cộng sản. Hiện nay Đảng Cộng sản đã là một sản phẩm lỗi thời của lịch sử. Muốn tồn tại, Đảng Cộng sản chỉ còn hai lựa chọn: Hoặc dùng bạo lực hùng hậu có trong tay duy trì sự độc quyền quyền lực. Hoặc đổi mới Đảng Cộng sản để tham gia vào tiến trình dân chủ đa nguyên, để Đảng Cộng sản tồn tại bình đẳng cùng các đảng khác trong thể chế đa nguyên lành mạnh, trong xã hội dân chủ thực sự.

Chọn con đường tồn tại bằng bạo lực, dù có lực lượng bạo lực khổng lồ và hung hãn nhưng đã là sản phẩm lỗi thời của lịch sử thì Đảng Cộng sản cũng chỉ tồn tại được ngày nào biết ngày đó, chỉ là khoảnh khắc. Khoảnh khắc tồn tại ngắn ngủi đó phải trả bằng giá đắt: Đảng Cộng sản tự đặt vào thế đối lập với nhân dân, trở thành vật cản của dòng chảy lịch sử, kìm hãm đất nước trong trì trệ, đưa đất nước vào khủng bố, đàn áp đẫm máu, vào bạo loạn, rối ren, giam cầm nhân dân trong ngục tù, nhục hình của chuyên chính vô sản, đày ải, vô hiệu, thủ tiêu nhiều tài năng, trí tuệ và khí phách dân tộc.

Chọn con đường tham gia vào tiến trình dân chủ đa nguyên, mang lại dân chủ thực sự cho xã hội Việt Nam là hồng phúc cho dân tộc Việt Nam và cũng là hồng phúc cho chính Đảng Cộng sản Việt Nam. Để làm được điều đó, những người cộng sản Việt Nam phải có đủ tầm trí tuệ và lòng dũng cảm nhận ra khiếm khuyết, lỗi lầm của chủ nghĩa cộng sản đã đưa đến những thảm họa khủng khiếp cho loài người và cho dân tộc Việt Nam, phải có tâm hồn của người Việt Nam yêu nước thương nòi, đau nỗi đau khôn cùng của người Mẹ Việt Nam trước những đau thương mất mát quá lớn mà hàng triệu số phận, hàng triệu gia đình Việt Nam đã phải nhận từ năm 1930 đến nay. Trước hết họ phải nhận ra những lầm lẫn, những ảo tưởng, những hậu quả thê thảm của học thuyết đấu tranh giai cấp trong lí luận chủ nghĩa Marx mà họ đã thực thi.

Không có cái Tôi cá nhân, chủ nghĩa Marx lại đưa xã hội loài người trở về bầy đàn

Cuộc đời mỗi người đều có ba giai đoạn: Tuổi ấu thơ ngơ ngác, tuổi còn bị sai khiến, dạy bảo, có nhà triết học coi đó là tuổi lạc đà, phải chia động từ “Mày phải”. Mày phải đến trường. Mày phải ngủ đúng giờ… Tuổi của bầy đàn, chưa có cá nhân, cá nhân còn lẫn trong bầy đàn, đánh mất trong bầy đàn, chưa hình thành những nhân cách hoàn chỉnh. Đến tuổi trưởng thành, con người nhận thức được thế giới và nhận thức được bản thân, cá nhân được hình thành tách ra khỏi bầy đàn, cá nhân có tư duy, có chính kiến riêng cần được nhìn nhận, cần được khẳng định sự có mặt trong cuộc đời, đó là tuổi sư tử, tuổi chia động từ “Tôi là”. Tôi là người thợ. Tôi là cầu thủ bóng đá. Tôi là nhà giáo. Tôi là chính khách… Thời mỗi công việc, mỗi hoạt động đều có tính chuyên nghiệp cao, là môi trường tốt nhất để cá nhân bộc lộ hết tài năng trong nghề nghiệp, trong hoạt động, tạo ra những ngôi sao, những đỉnh cao, những thần tượng xã hội. Cá nhân để lại dấu ấn trong cuộc đời bằng tư tưởng, chính kiến và bằng cả tài năng trong những hoạt động nghề nghiệp, hoạt động xã hội. Thời của những dấu ấn cá nhân. Đến giai đoạn xế chiều, con người lại trở về thời ấu thơ, lại trở về bầy đàn, tìm đến đám bạn cùng giới tính.

Xã hội loài người cũng phải qua thời ấu thơ là thời bầy đàn bộ lạc nguyên thủy, thời phong kiến trung cổ, chỉ có lãnh chúa, chủ đất mới có cá nhân, còn lại chỉ là đám đông lao xao, chỉ là công cụ sản xuất trong tay chủ đất và công cụ bạo lực trong tay vua chúa. Bước vào thời văn minh công nghiệp, xã hội loài người mới bước vào thời trưởng thành. Khoa học kĩ thuật cho con người sức mạnh khẳng định mình, cho trí tuệ làm chủ bản thân và làm chủ thế giới. Con người có mặt trong xã hội là những cá nhân với tư tưởng, chính kiến riêng phải được thể hiện và phải được xã hội nhìn nhận, tôn trọng.

Cùng với văn minh công nghiệp, cùng với chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa Marx ra đời ở giai đoạn đầu thời trưởng thành của xã hội loài người khi mới chỉ có vài nước châu Âu có văn minh công nghiệp, còn lại thế giới vẫn trì trệ trong xã hội phong kiến, trong nền sản xuất nông nghiệp thô sơ. Ở đó, người lao động nông nghiệp vẫn là những nô lệ của chủ đất, bị bóc lột tàn tệ hơn cả thời trung cổ và bị cột chặt vào đất đai. Ở các nước vừa chập chững bước vào công nghiệp, máy móc ở thế hệ đầu tiên, năng suất chưa cao và còn cần nhiều sức thợ, nguồn tích lũy tư bản lớn nhất của những ông chủ vừa khởi nghiệp là bóc lột tận cùng sức lao động của người thợ để có nhiều sản phẩm, nhiều lợi nhuận. Cùng với bóc lột thậm tệ công nhân trong nước, những ông chủ tư bản cũng đã làm chủ nhà nước tư bản còn ào ạt đưa quân đi xâm chiếm thuộc địa tìm nguyên liệu và mở rộng thị trường.

Nhìn thấy chủ nghĩa tư bản ở buổi sơ khai hoang dã hai tay ròng ròng máu công nhân trong nước và máu người dân thuộc địa, nhìn thấy cuộc sống khốn cùng của người lao động do bị tư bản buổi sơ khai hoang dã bóc lột, với lòng yêu thương con người, chàng thanh niên người Đức gốc Do Thái chưa đến ba mươi tuổi Karl Marx đang miệt mài nghiên cứu lịch sử kinh tế, triết học và đã viết nhiều tập Bản thảo kinh tế và triết học liền cho rằng: Mọi bất công đau khổ mà con người đang phải gánh chịu là do chiếm hữu tư liệu sản xuất. Và: Lịch sử của tất cả các xã hội từ trước đến nay là lịch sử đấu tranh giai cấp! Từ nhận thức vội vàng, nông nổi, lầm lẫn, cực đoan đó, chàng tiến sĩ triết học trẻ tuổi có bộ óc siêu việt và trái tim nồng nàn yêu thương con người liền xây dựng lên học thuyết Đấu tranh giai cấp để tạo dựng lên một xã hội không còn chiếm hữu tư liệu sản xuất, cội nguồn của bóc lột, bất công, mọi người đều được sống trong yêu thương, hạnh phúc, xã hội cộng sản. Đó là tư tưởng cốt lõi của chủ nghĩa Marx.

Chủ nghĩa Marx ra đời khi chủ nghĩa tư bản hoang dã đang hoành hành man rợ nhất, cả loài người đang chìm đắm trong máu và nước mắt. Công nhân bị bóc lột ở các nước công nghiệp quyết liệt đấu tranh giành quyền sống, người dân ở các nước thuộc địa sôi sục làm cách mạng giải phóng dân tộc đều coi chủ nghĩa Marx là cứu tinh và chủ nghĩa Marx đã nhanh chóng chiếm lĩnh cả thế giới. Marx công bố Tuyên ngôn Đảng Cộng sản năm 1848 và cuộc cách mạng xã hội cuối cùng mang tư tưởng cộng sản của Marx thành công ở Cuba năm 1959. Có thể coi nửa cuối thế kỉ 19 và nửa đầu thế kỉ 20 là một thế kỉ của chủ nghĩa Marx. Loài người đã bước sang thế kỉ 21. Thế kỉ của chủ nghĩa Marx đã vĩnh viễn kết thúc và lùi xa rồi!

Buổi đầu chủ nghĩa Marx đã thổi bùng lên được ý chí đấu tranh giành quyền sống, giải phóng được sức mạnh bị dồn nén của cả khối nhân loại bị bóc lột, áp bức, làm nên những cuộc cách mạng long trời lở đất và giành được thắng lợi ở một phần rộng lớn trên trái đất. Nhưng chủ nghĩa Marx chỉ giành được thắng lợi ở những nơi chưa có văn minh công nghiệp, những nơi chưa có cá nhân, cá nhân chưa được giải phóng, con người vẫn là đám đông, vẫn là bầy đàn. Nước Nga khi cách mạng vô sản tháng Mười năm 1917 nổ ra vẫn là nước Nga nông nghiệp thô sơ của Sa hoàng và chủ đất. Chủ nghĩa Marx là của đám đông, là sức mạnh của đám đông được kích động bởi những quyền lợi vật chất thiết thực bao nhiêu lợi quyền ắt qua tay mình! Chủ nghĩa Marx chỉ là lí luận tập hợp đám đông, tập hợp khối người lao động làm thuê, khối dân nô lệ các nước thuộc địa tạo nên sức mạnh bạo lực của đám đông làm cách mạng vô sản, đập tan xã hội cũ của chủ nghĩa tư bản hoang dã.

Những nhà nước do cách mạng vô sản dựng nên, dùng lí luận chủ nghĩa Marx, lí luận làm cách mạng vô sản của đám đông xây dựng xã hội mới đều thất bại ê chề, cay đắng, đều để lại những tội ác lớn chưa từng có trong lịch sử loài người. Vì xã hội mới là xã hội công nghiệp văn minh, xã hội của ý thức cá nhân, cá nhân được nhìn nhận, thể hiện và khẳng định sự có mặt trong cuộc đời thì học thuyết đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Marx chỉ nhìn nhận sự có mặt của đảng cộng sản, chỉ có cá nhân của những người lãnh đạo cộng sản, người dân dù là nhà văn hóa, nhà khoa học, là trí thức, nghệ sĩ kiệt xuất cũng chỉ là quần chúng, là bầy đàn lạc đà cam chịu, là công cụ trong tay đảng cộng sản như thời phong kiến Trung cổ chỉ có cá nhân lãnh chúa, chủ đất, còn lại chỉ là bầy đàn, là công cụ sản xuất và công cụ bạo lực.

Mục tiêu hướng tới của chủ nghĩa Marx là vô cùng nhân đạo, cao cả: Xóa bỏ bóc lột, bất công, xây dựng một xã hội phát triển cao tạo ra của cải vật chất dồi dào, con người được sống trong yêu thương, được thỏa mãn mọi nhu cầu vật chất và tinh thần. Nhưng đi đến mục tiêu cao đẹp ảo ảnh đó bằng học thuyết đấu tranh giai cấp tàn bạo: Nhà nước chuyên chính vô sản sử dụng bộ máy công cụ bạo lực nhà nước xóa bỏ cá nhân, chà đạp lên số phận con người là một mâu thuẫn tệ hại của chủ nghĩa Marx, là bi kịch lớn nhất mà chủ nghĩa Marx áp đặt cho một nửa nhân loại suốt một thế kỉ. Học thuyết đấu tranh giai cấp vươn hai cánh tay bạo liệt ra, cánh tay kinh tế: Xóa bỏ quyền làm chủ tư liệu sản xuất của tư nhân, lạnh lùng bóp nghẹt cuộc sống và cánh tay chính trị: Chuyên chính vô sản, thô bạo nắm cổ người dân, định đoạt số phận người dân theo ý muốn của quyền lực vô sản chứ không theo pháp luật.

Xóa bỏ quyền làm chủ tư liệu sản xuất của tư nhân là xóa bỏ vai trò cá nhân trong kinh tế. Những cá nhân có vốn liếng, có kiến thức, kĩ năng và kinh nghiệm tổ chức, quản lí sản xuất, làm cho đồng vốn ngày càng sinh sôi, tạo ra của cải vật chất và của cải tinh thần ngày càng nhiều cho xã hội, những người chủ tư nhân thao lược, tài năng bị tước đoạt quyền làm chủ, trở thành những người làm thuê tầm thường cho những ông chủ tầm thường là người đại diện nhà nước vô sản làm chủ khối tư liệu sản xuất chiếm đoạt của tư nhân. Quyền làm chủ tư liệu sản xuất của tư nhân, quyền sản xuất kinh doanh của tư nhân chuyển về tay những người trong bộ máy nhà nước vô sản hoàn toàn không có kĩ năng của người làm kinh tế, không có phẩm chất của người làm chủ, lại hoàn toàn vô trách nhiệm, dẫn đến sản xuất trì trệ, kinh doanh thua lỗ, xã hội nghèo đói là điều đương nhiên đã diễn ra ở tất cả các nước hăm hở, cuồng tín thực hiện chủ nghĩa Marx!

Công hữu hóa tư liệu sản xuất chỉ xóa bỏ cá nhân trong kinh tế thì chuyên chính vô sản đã xóa bỏ cá nhân trong toàn bộ đời sống xã hội. Với chuyên chính vô sản, chỉ những người nắm quyền lãnh đạo đảng cộng sản mới có cá nhân. Khối nhân dân còn lại chỉ là một đám đông, một bầy lạc đà, một lũ trẻ thơ ngơ ngác phải học chia động từ “Mày phải”. Mày phải học nghị quyết Đảng. Mày phải nói theo Đảng. Mọi việc đã có Đảng và Nhà nước lo. Mày phải câm mồm, không được nói Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam, không được biểu tình phản đối Trung Quốc lấn chiếm lãnh thổ thiêng liêng của tổ tiên. Ông ủy viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam, Thủ tướng Chính phủ nói Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam trên diễn đàn Quốc hội thì được nhưng người dân nói Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam thì bị bắt, bị đánh, bị giam cầm. Hiến pháp cho người dân quyền tự do ngôn luận nhưng thực tế cho người dân bài học phải thuộc lòng là: Với Nhà nước của Đảng Cộng sản, người dân nói trái ý Đảng liền bị khép ngay vào tội tuyên truyền chống Nhà nước Xã hội Chủ nghĩa mà vụ án tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ, vụ bắt giam rồi lén lút, phi pháp đưa bà Bùi Minh Hằng vào trại giam trá hình dưới tên gọi Cơ sở Giáo dục là những minh chứng.

Ở các nước công nghiệp phát triển, nơi chủ nghĩa tư bản ngự trị, cá nhân được nhìn nhận, trí tuệ sáng tạo của cá nhân được giải phóng làm nên bộ mặt, làm nên tầm vóc, làm nên sức mạnh của nền văn minh công nghiệp. Khoa học kĩ thuật mang lại cho nhà tư bản lợi nhuận mau lẹ và dồi dào gấp nhiều lần thời bóc lột sức người. Không còn những ông chủ làm giầu bằng bóc lột. Chủ nghĩa tư bản hoang dã bóc lột sức người đã vĩnh viễn lùi xa vào quá khứ tội lỗi. Mọi người dân đều có thể trở thành người chủ. Quyền con người và những giá trị nhân đạo vì hạnh phúc và phẩm giá con người đều trở thành luật pháp xã hội, được Nhà nước tư bản thực thi nghiêm chỉnh, minh bạch trong cuộc sống. Những sản phẩm tạo ra bằng bóc lột, bằng hủy hoại môi trường, bằng điều kiện làm việc tồi tệ của người sản xuất đều không được chấp nhận.

Những ông chủ thế hệ cũ, vẫn sử dụng công nghệ thấp, cần nhiều sức lao động, vẫn phải tích lũy tư bản bằng bóc lột phải tìm đến các nước đang công nghiệp hóa, đang mở rộng cửa hứng đồng vốn đầu tư nước ngoài như Việt Nam. Chính ở đây Nhà nước Việt Nam do Đảng Cộng sản cầm quyền đáng ra phải lấy học thuyết đấu tranh giai cấp đấu tranh với sự bóc lột của chủ tư bản, bảo vệ quyền lợi người dân lao động ruột thịt của mình thì trớ trêu, cay đắng thay Nhà nước vẫn nói kiên định chủ nghĩ Marx, vẫn nhân danh chủ nghĩa xã hội nhưng chỉ chăm chăm lấy sự hà khắc, phản dân chủ của đấu tranh giai cấp để cai trị, o ép dân và làm ngơ trước sự bóc lột của chủ tư bản nước ngoài với đồng bào minh!

Kiên định chủ nghĩa Marx tội lỗi, lỗi thời, kiên định học thuyết đấu tranh giai cấp bạo liệt, chỉ có cái Tôi của người cầm quyền, không có cái Tôi của người dân, người dân chỉ là bầy lạc đà cắm cúi đi trên sa mạc vô tận của thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội huyễn hoặc. Chủ nghĩa Marx khai sinh ra Đảng Cộng sản. Kiên định chủ nghĩa Marx để duy trì sự tồn tại của Đảng Cộng sản, những người cộng sản lạnh lùng, cam tâm đưa xã hội trở về thời phong kiến Trung cổ không nhìn nhận cái Tôi, đưa nhân dân trở về thời ấu thơ, bầy đàn, khổ đau và tủi nhục.

Việc coi nhân dân chỉ là bầy đàn, là công cụ, không có cá nhân, không được có tư tưởng, chính kiến riêng bộc lộ rõ cả trong những văn kiện lịch sử của Đảng Cộng sản. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội được Đại hội 11 Đảng Cộng sản Việt Nam bổ sung và phát triển ghi: Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử! Con người trưởng thành cần khẳng định sự có mặt trong cuộc đời bằng cái Tôi cá nhân không khi nào chọn thứ chủ nghĩa xã hội chà đạp lên cái Tôi thiêng liêng. Coi người dân là bầy đàn, là đám trẻ, không được có tư tưởng chính kiến riêng, không cần điều tra xã hội học, không cần trưng cầu ý dân, những người cộng sản tự cho họ cái quyền nói tiếng nói của dân, áp đặt cả tâm tư, tình cảm cho người dân và họ thản nhiên ghi trong những văn kiện lịch sử của Đảng Cộng sản: Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân. Lựa chọn chủ nghĩa xã hội là quyền của Đảng Cộng sản nhưng Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ có ba triệu đảng viên. Đảng Cộng sản Việt Nam không phải là gần chín mươi triệu người dân Việt Nam.

Lịch sử còn ghi rõ những cuộc tắm máu mà chủ nghĩa xã hội đã gây ra cho loài người. Sự bế tắc, cùng đường và sụp đổ vĩnh viễn của chủ nghĩa xã hội trên phạm vi thế giới vừa diễn ra còn nóng bỏng tính thời sự, buộc cả nước Liên Xô xã hội chủ nghĩa lâu đời nhất, hùng mạnh nhất, thành trì của cả khối xã hội chủ nghĩa thế giới, buộc cả nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa nghèo khổ nhưng đầy quyết tâm hăm hở làm cách mạng xã hội chủ nghĩa cũng phải từ bỏ nguyên lí kinh tế cốt lõi của chủ nghĩa xã hội để trở về kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa. Chính kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa đã mở lối thoát, mở con đường sống cho thành trì xã hội chủ nghĩa kém phát triển trở thành nước Nga có mặt trong nhóm nước G8 giầu mạnh nhất thế giới và cứu nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa khỏi suy sụp, tan vỡ trong bế tắc, nghèo khổ, cùng quẫn. Lịch sử đó, thực tế đó là lời khẳng định bằng máu và nước mắt của hơn hai tỉ người dân đã từng phải sống dưới chế độ xã hội chủ nghĩa rằng: Chủ nghĩa xã hội, sản phẩm đầy khuyết tật nghiêm trọng của học thuyết Marx là tai ương, là thảm họa của loài người, là ngõ cụt lầm lạc của lịch sử. Những người cộng sản có trí tuệ, có lương tâm đều biết rõ điều đó. Nhưng Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn ghi trong Cương lĩnh rằng Chủ nghĩa xã hội phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử là tự lừa dối mình và lừa dối nhân dân. Chỉ một đoạn Cương lĩnh ngắn vẻn vẹn bốn mươi mốt từ, những nhà lí luận và những nhà lãnh đạo cộng sản đã bộc lộ rõ hai đặc tính truyền thống của Đảng Cộng sản: Coi thường dân và lừa dối dân.

Những người Việt Nam khắc khoải đi tìm cái Tôi. Những nhân chứng lịch sử.

Trên đường đi đến đô thị của văn minh công nghiệp, những năm ba mươi thế kỉ hai mươi, xã hội Việt Nam chợt đến phố huyện đã để lại dấu ấn trong văn chương là Tự Lực Văn Đoàn với những câu chuyện tình phố huyện, là Thơ Mới ghi lại nỗi thảng thốt sung sướng phát hiện ra cái Tôi cá nhân trong cuộc đời và sự khắc khoải, bền bỉ đòi hỏi sự nhìn nhận của xã hội đối với cái Tôi thiêng liêng đó. Tự Lực Văn Đoàn và Thơ Mới không những có công lớn với văn hóa Việt Nam mà còn có công lớn với lịch sử Việt Nam vì đã ghi lại bước phát triển vô cùng quan trọng của xã hội Việt Nam và cũng là bằng chứng về sự kéo lùi lịch sử, kéo lùi sự phát triển xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Xã hội Việt Nam mới chợt đến phố huyện trên tiến trình đi đến đô thị của văn minh công nghiệp cũng đã kịp gọi những cái Tôi cá nhân thức dậy. Năng lực sáng tạo của những cá nhân đó được giải phóng đã tạo ra cho lịch sử Việt Nam thời trước cộng sản những tên tuổi lớn. Về văn hóa có Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Trần Trọng Kim, Dương Quảng Hàm, Hoàng Xuân Hãn, Phan Khôi, Nguyễn Mạnh Tường, Vũ Trọng Phụng, Phạm Cao Củng, Nam Cao, Phạm Huy Thông, Nguyễn Tuân, Thế Lữ… Về kinh tế có Bạch Thái Bưởi, Nguyễn Sơn Hà, Trịnh Văn Bô, Đỗ Đình Thiện, Nguyễn Thị Năm… Về chính trị có Phan Châu Trinh, Phan Bội Châu, Nguyễn Thái Học, Lương Văn Can, Lương Ngọc Quyến… Những người Việt Nam kiệt xuất đó với tầm văn hóa và lòng tự hào dân tộc đang lặng lẽ chuẩn bị nền tảng tư tưởng, nền tảng văn hóa và cả nền tảng kinh tế, xã hội cho một xã hội mới và đang bền bỉ thức tỉnh nhân dân, tổ chức lực lượng chính trị cho cuộc đấu tranh với thực dân xâm lược Pháp giành độc lập dân tộc. Con đường đấu tranh bất bạo động bằng tư tưởng, văn hóa, kinh tế, theo con đường của M. Gandhi, theo triết lí phương Đông dựa vào lòng người “lấy chí nhân thắng bạo tàn”, không đẩy người dân tay không ra đối đầu với súng đạn thực dân, tiết kiệm xương máu cho dân là con đường lâu dài nhưng nền độc lập giành được bằng con đường đó là nền độc lập thực sự và bền vững, nền độc lập không bị phụ thuộc vào những thế lực chính trị bên ngoài.

Theo logic lịch sử, tiến trình đó đang lặng lẽ, bền bỉ và vững chắc diễn ra ở Việt Nam thì những người cộng sản nôn nóng vội vã mang bạo lực cách mạng của học thuyết đấu tranh giai cấp sắt máu từ châu Âu xa lạ về Việt Nam, đưa nhân dân Việt Nam vào những cuộc cách mạng, chiến tranh ý thức hệ đẫm máu của thế giới, chia trận tuyến đấu tranh giai cấp, thanh toán địch – ta vào trong từng con người, trong từng gia đình, trong từng cơ quan, đơn vị, phân chia trận tuyến giai cấp, thanh toán địch – ta trong lòng dân tộc Việt Nam, đẩy nhân dân vào cuộc sát phạt, tiêu diệt, xung đột, giằng xé, đấu đá, bất ổn, li tán cả dân tộc suốt từ giữa thế kỉ hai mươi đến tận hôm nay vẫn chưa chấm dứt.

Sát phạt, xung đột, thanh toán, tiêu diệt, bất ổn, li tán để xóa bỏ cái Tôi cá nhân vừa thức tỉnh trong trí thức, trong giới chủ, trong thanh niên, học sinh thành phố, để chỉ còn cái Tôi quyền uy của hơn chục yếu nhân nắm vận mệnh Đảng Cộng sản Việt Nam, quyết định số phận cả dân tộc Việt Nam.

Cái Tôi cá tính sáng tạo làm nên sức mạnh sư tử của con người trưởng thành không được chấp nhận, trí thức, nghệ sĩ, nhà khoa học cũng chỉ là bầy lạc đà bị quyền uy chăn dắt, phũ phàng đánh trận đòn Nhân Văn-Giai Phẩm dằn mặt để không bao giờ còn dám nghĩ đến cái Tôi cá tính sáng tạo, chỉ còn biết gọi dạ, bảo vâng, ăn theo, nói leo, ngợi ca chính trị, minh họa chính sách.

Không còn cái Tôi cá tính sáng tạo, sau một đời miệt mài, hăm hở viết, nhà văn Nguyễn Minh Châu phải đau xót viết “Lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa“, nền văn học được coi là có Tính Đảng vì làm vừa lòng những cái Tôi quyền uy của những người nắm vận mệnh Đảng, vận mệnh dân tộc nhưng không có cái Tôi của người viết, không có cái Tôi của nhân vật, của nhân dân. Không có cái Tôi nhân cách mang vóc dáng người viết, không có cái Tôi chân thực của cuộc đời mang hồn cốt nhân dân trong tác phẩm thì tác phẩm chỉ là đồ giả, là mớ giấy lộn, đến khi nhận ra điều đau xót đó thì đã cuối đời, nhà văn chỉ còn kịp viết lời ai điếu cho những tác phẩm của chính mình!

Nhà văn Nguyễn Khải nhận ra cái Tôi cá tính sáng tạo của ông bị giết chết với một thái độ bình tĩnh hơn nhưng day dứt, đau đớn hơn. Cuối đời ông cứ phải âm thầm, lặng lẽ, ngậm ngùi, thảng thốt, bơ vơ Đi tìm cái Tôi đã mất, đi tìm cái Tôi cá tính sáng tạo của nhà văn đã bị bức hại, đi tìm cái Tôi nhân cách, cái Tôi bản thể của con người trưởng thành đã bị giết chết để đến nỗi nhà văn chỉ còn là đứa trẻ con cho người ta sai bảo!

Một nhà báo ngang tàng của Đài Tiếng nói Việt Nam, một thời thường xuyên có những bài viết nhiều tìm tòi, phát hiện về đồng bằng sông Cửu Long đăng trên những tờ báo lớn của Đảng Cộng sản Việt Nam, báo Nhân dân, báo Sài Gòn Giải phóng. Chính nhà báo này từ năm 1992 là người đầu tiên gọi tên sự ứng xử với tự nhiên của người dân đồng bằng sông Cửu Long là Chung sống với lũ. Từ đó Chung sống với lũ trở thành phương châm, trở thành chính sách Nhà nước ở đồng bằng sông Cửu Long. Nhìn lại chặng đường dài lặn lội viết báo cho Đảng, với những thực tế đau lòng của đời sống báo chí, nhà báo ngang tàng Lê Phú Khải cũng phải giận dữ, ai oán thét lên “Lời ai điếu cho một nền báo chí nô bộc”.

Nhà văn Trần Hoài Dương vốn điềm đạm, nói năng nhỏ nhẹ bỗng một hôm hốt hoảng kể với tôi về một giấc mơ làm anh toát mồ hôi: Đêm qua mình có giấc mơ khủng khiếp quá. Không hiểu sao mình lại mơ thấy Cách mạng Tháng Tám thành công ngay sau cuộc nổi dậy của Xô Viết Nghệ Tĩnh, tháng Chín năm 1930. Những người đàn bà yếm nâu váy đen, tay cầm liềm, những người đàn ông cởi trần da cháy nắng cầm giáo mác, gậy gộc đi dưới rừng cờ đỏ ầm ầm từ Nghệ Tĩnh kéo ra Hà Nội. Họ biến đường phố Hà Nội thành những dòng sông đỏ màu cờ và họ rùng rùng tiến về tụ lại ở Ba Đình nghe ông Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập. Mình giật mình toát mồ vì nhớ ra rằng năm 1930 đó chưa có Vỡ đê, chưa có Giông tố của Vũ Trọng Phụng, chưa có Vang bóng một thời của Nguyễn Tuân, chưa có Nhớ rừng của Thế Lữ, chưa có Bỉ vỏ của Nguyên Hồng, chưa có Bước đường cùng của Nguyễn Công Hoan, chưa có Sống mòn, chưa có Chí Phèo, Lão Hạc của Nam Cao… Mình hốt hoảng thức dậy, người ướt đầm mồ hôi và không ngủ lại được nữa. Thật hú vía! Nếu Cách mạng Tháng Tám thành công từ năm 1930 thì chúng ta làm gì có Vũ Trọng Phụng, làm gì có Nguyễn Tuân, làm gì có Thế Lữ… Nguyễn Tuân, Thế Lữ, Nguyễn Công Hoan, Nguyên Hồng vẫn còn sống khá lâu dưới chế độ xã hội chủ nghĩa nhưng những tác phẩm để đời của họ, những tác phẩm thực sự văn chương, thực sự là niềm tự hào của văn chương Việt Nam đều được viết trước cách mạng, viết bằng cái Tôi cá nhân của họ. Cái Tôi cá nhân của họ không thể tồn tại trong chủ nghĩa xã hội thì họ chẳng còn gì!

Từ trước đến nay Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn tự cho là có công lớn với dân tộc Việt Nam, có công đưa dân tộc Việt Nam từ nô lệ đến tự do, từ mất nước đến độc lập, từ nghèo hèn đến giầu sang. Nhưng dân tộc Việt Nam đã phải trả một giá quá đắt cho độc lập trong khi độc lập dân tộc là một xu thế tất yếu của lịch sử. Lịch sử không đi những lối bất ngờ như nhà thơ của Đảng Cộng sản Việt Nam, Tố Hữu viết. Lịch sử bao giờ cũng có qui luật, có giai đoạn, có bước đi được lập trình tạo nên tiến trình, tạo nên xu thế lịch sử.

Lịch sử loài người đi từ hoang dã đến văn minh. Chủ nghĩa tư bản cũng phải đi từ hoang dã đến văn minh cùng nhịp với nền công nghiệp đi từ thô sơ, cần nhiều sức người, đó là thời chủ nghĩa tư bản hoang dã bóc lột sức người, đến nền công nghiệp hiện đại không cần nhiều sức người nữa mà cần nhiều tri thức, cần nhiều kĩ năng. Lợi nhuận không tạo ra từ sức người nữa mà tạo ra từ khoa học kĩ thuật. Đầu tư vào khoa học kĩ thuật, những người chủ của xã hội công nghiệp văn minh cũng đầu tư vào phát triển xã hội, đầu tư nâng cao giá trị nhân văn của xã hội loài người. Chế độ nô lệ dưới mọi hình thức đều không được xã hội công nghiệp văn minh chấp nhận. Đó là thời chủ nghĩa tư bản văn minh cũng là kỉ nguyên độc lập dân tộc.

Những người cộng sản đã đưa dân tộc Việt Nam đi qua chặng đường máu lửa thảm khốc và xa ngái mới đến nền độc lập mong manh. Những ngày này giặc phương Bắc ngang nhiên lấn đất, lấn biển của ta, áp đặt mọi tai ương cho dân tộc ta. Từ khi hấp tấp, hốt hoảng sang Thành Đô gặp lãnh đạo phương Bắc, tháng Chín năm 1990, những người lãnh đạo cộng sản Việt Nam phải liên tiếp nhượng bộ hết đòi hỏi này đến đòi hỏi khác của phương Bắc. Nhưng càng nhượng bộ, họ càng lấn tới, lại càng thấy nền độc lập của ta có được từ sông máu biển lửa là vô cùng mong manh. Nền độc lập mong manh phải đổi bằng giá đắt như vậy nhưng có độc lập thì người dân lại mất tự do cá nhân, mất cái Tôi cá nhân thiêng liêng và quí giá của kiếp người thì đó là công hay tội nhỉ?

Thời đầu đổi mới, cuối những năm tám mươi, thế kỉ hai mươi, Đảng Cộng sản Việt Nam nêu khẩu hiệu Nhìn thẳng vào sự thật, nói đúng sự thật nhưng chưa bao giờ những người cộng sản Việt Nam đủ lòng trung thực để nhìn vào sự thật. Đảng luôn tự cho mình là sáng suốt, vĩ đại, quang vinh thì không thể tiếp cận sự thật. Nhân dân bền bỉ hi sinh dựng nước và giữ nước để có nước Việt Nam hôm nay không bao giờ được Đảng nhắc đến bằng một khẩu hiệu khiêm nhường. Tổ quốc thiêng liêng cũng bị lãng quên. Từ khi Đảng thâu tóm đất nước trong tay, đất nước gấm vóc, nhân dân cần cù sáng tạo nhưng xã hội Việt Nam càng ngày càng tụt lại sau so với các nước vậy mà từ đỉnh Lũng Cú, Hà Giang đến chót mũi Năm Căn, Cà Mau, nơi nào cũng thấy hàng chữ cao ngạo Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh muôn năm! Muôn năm cả cái chủ nghĩa xã hội hư vô, không có thật. Chủ nghĩa xã hội không có thật đã gây bao đau khổ và nhiều nợ máu với nhân dân mà vẫn muôn năm: Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam muôn năm! Còn nhân dân hết đời này đến đời khác lấy máu viết lên chữ Việt Nam thì Đảng không cần biết tới, thì chỉ là hư vô!

Với người còn tư duy bình thường, còn phân biệt được cái riêng, cái chung, cái tầm thường, cái cao cả thì phải hiểu Tổ quốc là giá trị tinh thần thiêng liêng, cao cả, bất biến, vĩnh hằng của cả dân tộc. Đảng chỉ là tổ chức chính trị bình thường, biến động và nhất thời của riêng một số người, là vô cùng nhỏ bé so với nhân dân, dân tộc, Tổ quốc. Một Đảng phải tồn tại bằng bạo lực, phải lấy tiền thuế của dân nuôi một bộ máy công an khổng lồ chỉ biết còn Đảng còn mình để trấn áp tiếng nói tự do dân chủ của dân để duy trì sự tồn tại của Đảng, một Đảng đạp vào mặt dân và bỏ tù trí thức chỉ vì trí thức nói sự thật thì Đảng đó không còn bình thường nữa mà đã là tầm thường rồi. Đưa lá cờ của Đảng dù đang cầm quyền nhưng cũng chỉ là tổ chức chính trị nhất thời, nhỏ bé, tầm thường của riêng một số người lên ngang hàng lá cờ Tổ quốc thiêng liêng của cả dân tộc là sự cao ngạo đến mức không còn biết đến chữ Lễ, chữ Nhân.

Cao ngạo như vậy làm sao thấy được sự thật! Cao ngạo như vậy làm sao đến được với những lo toan, vất vả, khổ đau của dân! Cao ngạo như vậy nên ai thẳng thắn nói điều trái ý Đảng, đụng đến cái sai, cái yếu của Đảng, của Nhà nước, đều bị Đảng khép vào tội tuyên truyền chống Nhà nước của Đảng, đều bị Đảng trừng trị khắc nghiệt. Nhưng ngục tù chỉ có thể giam cầm được thân xác Nguyễn Hữu Đang, Trần Dần, Hoàng Cầm, Tuân Nguyễn, Hoàng Minh Chính, Hà Sĩ Phu, Phạm Quế Dương, Lê Công Định, Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Văn Hải, Cù Huy Hà Vũ, Tạ Phong Tần, Bùi Minh Hằng…, không giam cầm được tư tưởng của họ. Bạo lực chuyên chính vô sản chỉ có thể bịt miệng được người dân, không bịt miệng được lịch sử. Trước sau lịch sử Việt Nam cũng phải ghi những trang đau buồn rằng Đảng Cộng sản Việt Nam đã kéo lùi lịch sử phát triển dân tộc, đã biến cả dân tộc Việt Nam thành bầy đàn nô lệ của Đảng, đã biến dân tộc Việt Nam văn hiến, tồn tại bằng đùm bọc thương yêu thành dân tộc li tán, hận thù, bạo lực! Và những người Việt Nam có Cái Tôi bị chà đạp, bị giết chết tức tưởi là những chứng nhân hùng hồn xác nhận điều đó.

Bi kịch cộng sản – Bi kịch Việt Nam


Chế độ xã hội này chỉ có thể thay thế chế độ xã hội khác bằng tạo ra được năng suất lao động cao hơn. Giai cấp này thay thế giai cấp khác thống trị xã hội phải là giai cấp nhân văn hơn, tiến bộ hơn, văn minh hơn, phù hợp với tiến trình phát triển của lịch sử, thúc đẩy xã hội phát triển nhanh hơn. Xã hội tư bản tạo ra năng suất lao động cao hơn hẳn xã hội phong kiến. Giai cấp tư sản được kỉ nguyên Ánh sáng nâng tầm trí tuệ. Với tư tưởng giải phóng cá nhân, quyền con người, quyền công dân trở thành tuyên ngôn của giai cấp tư sản, trở thành luật pháp của nhà nước tư sản. Giai cấp tư sản làm chủ xã hội, cá nhân được nhìn nhận, năng lực sáng tạo của cá nhân được giải phóng đã đưa xã hội loài người vào thời kì phát triển kì diệu, đưa con người vào kỉ nguyên vũ trụ, đưa xã hội loài người vào nền văn minh tin học. Cho đến nay sự phát triển kì diệu vẫn đang tiếp diễn. Cho đến nay giai cấp tư sản giầu có của cải, giầu có trí tuệ vẫn là giai cấp tiên tiến nhất, vẫn phải nhận sứ mệnh lịch sử là giai cấp lãnh đạo xã hội. Giải phóng năng lực sáng tạo của cá nhân tạo nên sự phát triển kì diệu của xã hội, thực tế đó đã khẳng định rằng trí tuệ con người được giải phóng, năng lực sáng tạo của cá nhân được giải phóng chính là động lực thúc đẩy xã hội phát triển.

Coi đấu tranh giai cấp là động lực thúc đẩy xã hội phát triển đó là điểm xuất phát, là nền tảng tư tưởng sai lầm của học thuyết Marx. Sai lầm gọi sai lầm. Sai lầm tư tưởng cũng gây ra sai lầm dây chuyền domino. Lí luận chủ nghĩa Marx xây dựng trên nền tảng tư tưởng sai lầm, cực đoan đấu tranh giai cấp là động lực thúc đẩy xã hội phát triển đã đưa xã hội loài người vào cuộc đấu tranh bạo liệt bất tận tranh giành quyền lợi, tranh giành miếng ăn, tranh giành không gian sinh tồn như xã hội loài vật. Đưa giai cấp không phải là giai cấp tiên tiến, giai cấp vô sản, một giai cấp không có của cải, không có tri thức và chính Marx phải thú nhận giai cấp vô sản chỉ có xiềng xích, làm cách mạng lật đổ giai cấp tư sản là giai cấp khi vừa làm cách mạng thắng lợi lật đổ giai cấp phong kiến trì trệ, không có cá nhân, đã công bố ngay Tuyên ngôn Nhân quyền xác nhận Quyền Con Người cho mọi người dân và xây dựng luật pháp bảo đảm Quyền Con Người cho mọi công dân trong đó có những người vô sản làm thuê.

Làm cách mạng lật đổ giai cấp tư sản, giai cấp vô sản chỉ mất xiềng xích mà được cả thế giới. Được cả thế giới rồi đảng cộng sản, bộ tham mưu của giai cấp vô sản lại đưa nhân dân dưới sự cai trị của họ trở về bầy đàn. Học thuyết đấu tranh giai cấp trao cho đảng cộng sản, thực chất là trao cho nhóm người nắm quyền lực trong đảng độc quyền quản lí xã hội, độc đoán xóa bỏ cá nhân, tước đoạt cái Tôi cá thể của người dân. Xã hội cộng sản thời công nghiệp có đủ tiện nghi hiện đại, rực rỡ ánh sáng nhưng con người không còn cái Tôi thiêng liêng, thân phận lại trở về thời Trung cố tăm tối. Đó là bi kịch cộng sản!

Đưa giai cấp không phải là tiên tiến, giai cấp nghèo khổ, làm thuê, chưa có cá nhân, chưa làm chủ được chính cuộc đời mình lên làm chủ xã hội, lên thống trị xã hội, bi kịch cộng sản đó diễn ra ở nước ta là: Khi Đảng Cộng sản lãnh đạo cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, Việt Nam chỉ có mấy mỏ than đang khai thác chủ yếu bằng sức người, mấy cơ sở công nghiệp phục vụ sinh hoạt như nhà máy điện, nhà máy nước, nhà máy dệt, vài xưởng cơ khí sửa chữa nhỏ, chưa có hình hài của nền sản xuất công nghiệp, chưa có đội ngũ công nhân công nghiệp đủ để trở thành lực lượng xã hội, giai cấp vô sản Việt Nam chỉ là những người nông dân cùng khổ không nuôi nổi bản thân phải giao thân cho chủ đất. Cách mạng vô sản đã đưa những người nông dân cùng khổ, chưa có cá nhân, không nuôi nổi bản thân, phải giao thân cho chủ đất, lên làm chủ xã hội, lo toan nuôi cả xã hội, tổ chức hoạt động cho cả xã hội.

Ở vị trí làm chủ xã hội, những người nông dân cùng khổ dồn về thủ đô, ngồi vào vị trí của những tài năng, tinh hoa, trí tuệ của đất nước. Lập tức có ngay một hiệu ứng xã hội: Cả thủ đô nói ngọng! Chỉ những tiếng nói ngọng nghịu ở thủ đô đã cho thấy đất nước bị xuống cấp đến mức nào. Xuống cấp từ nền tảng văn hóa, cái thế, cái tầm của đất nước xuống thấp, cái cao cả không còn nữa, cái thấp hèn tràn ngập.

Nền tảng văn hóa thấp đó lại bị ý thức hệ giai cấp thống trị, triệt tiêu ý thức dân tộc, những người cộng sản Việt Nam đã tự đặt mình vào vị thế lệ thuộc vào phương Bắc, lệ thuộc ý thức hệ giai cấp, phải kí hết hiệp định này đến hiệp định khác, những hiệp định bất bình đẳng, thua thiệt với phương Bắc, tạo điều kiện cho phương Bắc xâm nhập sâu rộng vào đời sống xã hội Việt Nam, gây bất ổn xã hội, cái họa Bắc thuộc hiển hiện trước mắt. Đất đai biển trời thiêng liêng của dân tộc Việt Nam bỗng thành của riêng của giai cấp vô sản Việt Nam để giai cấp vô sản Việt Nam vô tư cắt nhượng cho giai cấp vô sản phương Bắc. Đã là của riêng của giai cấp vô sản thì việc cắt nhượng đất đai chỉ là việc riêng của Đảng Cộng sản, việc riêng của nhà nước cộng sản, nhân dân không được biết, đến Quốc hội cũng không được biết! Nhưng cắt nhượng cho phương Bắc nửa thác Bản Giốc hùng vĩ ở Cao Bằng, cắt nhượng cho phương Bắc cả tòa thành cổng nước cổ kính ở Lạng Sơn đã in bóng sừng sững trong lịch sử Việt Nam thì không thể lén lút giấu dân được mãi. Sự thật mất đất đai của tổ tiên phơi bày ra rồi, nhân dân chỉ còn biết nghẹn ngào, đau xót, khóc cho cơ thể Tổ quốc Việt Nam bị cắt xẻo ứa máu, khóc cho lịch sử Việt Nam phải ghi lại những năm tháng tủi nhục!

Làm ăn kinh tế thua lỗ. Các tập đoàn kinh tế Nhà nước độc quyền khai thác tài nguyên đất nước, thoải mái sử dụng đồng tiền thuế của dân, say sưa mở rộng đầu tư vô tội vạ, tự trả lương cho mình cao chót vót rồi thất thanh kêu lỗ, nằng nặc đòi tăng giá sản phẩm, dồn gánh nặng thua lỗ lên đôi vai gầy guộc của người dân nghèo khốn khổ! Những tập đoàn kinh tế chủ lực của đất nước cứ thua lỗ dài dài như vậy, bao giờ người dân mới thoát kiếp nghèo? Chỉ một tập đoàn công nghiệp tầu thủy Vinashin, những người quản lí kinh tế đất nước chi tiêu vung vãi, làm thất thoát hàng trăm ngàn tỉ đồng tiền thuế mồ hôi xương máu của dân!

Nền tảng văn hóa thấp không thể tiếp cận tư tưởng Ánh sáng: Tự do – Bình đẳng – Bác ái, không biết đến Quyền Con Người của người dân, những người nông dân có quyền lực trong tay lập tức hiện hình lên là những ông quan đục khoét dân, bức hại dân thời phong kiến suy tàn. Phép vua thua lệ làng, quan lại địa phương Tiên Lãng tự tạo ra luật huyện, luật xã nhẫn tâm cướp đất, cướp mồ hôi, xương máu của dân. Cướp bằng trát không được thì nhân danh nhà nước, nhân danh công vụ dùng sức mạnh bạo lực nhà nước vốn chỉ để trấn áp tội phạm và giặc cướp nước ra trấn áp dân lương thiện.

Lí tưởng xã hội sụp đổ thì chỉ còn biết dựa vào bạo lực và nền tảng văn hóa thấp thường lạm dụng bạo lực. Bạo lực được sử dụng tràn lan với dân. Bạo lực không phải chỉ là dùng sức mạnh công an đàn áp, bắt bớ dân khi dân ôn hòa bộc lộ chính kiến khác biệt với nhà nước vô sản về những vấn đề của đất nước. Bạo lực không phải chỉ là huy động lực lượng đông đảo công an, quân đội, chó nghiệp vụ hùng hổ thực hiện những cuộc cưỡng chế, giải tỏa thất đức. Bạo lực không phải chỉ là công an hung hãn đánh dân ngay trên đường phố, đánh chết dân trong trại giam. Bạo lực còn là những phiên tòa bịt miệng luật sư, những phiên tòa vắng bóng công lí và những bản án nghiệt ngã dành cho người dân có chính kiến khác biệt với nhà nước vô sản.

Nhà nước ứng xử với dân bằng bạo lực là bằng chứng rõ nhất về một nền chính trị suy vi, không còn lí tưởng, không còn chính danh, là biểu hiện của một thời bất ổn, thời bạo lực lên ngôi, thời nhà nước phải xây nhiều nhà tù công khai và nhiều nhà tù trá hình như cơ sở giáo dục đang giam cầm chị Bùi Minh Hằng. Còn ngoài xã hội những vụ giết người man rợ xảy ra khắp nơi! Mạng sống của dân lành quá rẻ rúng, máu dân lành đang lênh láng bởi bạo lực nhà nước và bạo lực côn đồ!

Những người nông dân cùng khổ chưa có cá nhân nay làm chủ xã hội thì họ không biết đến cá nhân của con người trong xã hội, họ không đếm xỉa đến Quyền Con Người cũng là tất yếu. Người dân sử dụng Quyền Tự do Ngôn luận liền bị Nhà nước không đếm xỉa đến Quyền Con Người bỏ tù. Người dân sử dụng Quyền Biểu Tình liền bị Nhà nước không đếm xỉa đến Quyền Con Người đàn áp, bị công an đạp vào mặt, bị bắt giam, đánh đập.

Những người nông dân cùng khổ trước đây nuôi bản thân không nổi, sau mấy chục năm ở vị trí làm chủ xã hội, nay đã nhà cao cửa rộng và để tiêu chuẩn hóa, để tương xứng với vị trí làm chủ xã hội, họ đã có đủ bằng cấp, học hàm, học vị cao sang. Nền tảng văn hóa của một con người cũng như sự màu mỡ của một cánh đồng. Phải có dòng sông phù sa qua nhiều đời bồi đắp mới làm nên cánh đồng màu mỡ. Phải có thói quen, nề nếp tư duy, lao động trí não như một dòng chảy tự nhiên, bền bỉ tích lũy qua nhiều thế hệ mới làm nên nền tảng văn hóa. Hình thái lao động cũng có sự phân công tự nhiên. Có người có sự khéo léo, tài hoa nghệ sĩ. Có người có sức mạnh của đôi tay. Có người có sức mạnh của trí tuệ. Học để có văn hóa phổ thông, biết đọc biết viết tiếng mẹ đẻ thì ai cũng học được. Còn học để biến kiến thức của loài người thành kiến thức của riêng mình, để hình thành con người văn hóa, nhân cách văn hóa của mình thì không phải ai cũng học được. Không phải ai cũng học được nhưng ai cũng có thể mua được, chạy được, tìm cách để có được tấm bằng của sự học. Nhìn cách hành xử của những quan chức ở Vinashin, quan chức ở huyện Tiên Lãng, Hải Phòng, không hề thấy con người văn hóa, nhân cách văn hóa mà vẫn chỉ thấy nguyên xi con người nông dân ngày nào nghèo khổ không nuôi nổi bản thân nay họ có quyền lực trong tay, có tiền bạc, tài sản của nhân dân trong tay, họ hối hả tìm mọi cách biến của dân thành của riêng họ.

Một trí thức yêu nước của giai cấp tư sản giàu có của cải, giầu có trí tuệ đi với cách mạng vô sản trong chiến tranh giải phóng dân tộc khi rời chức vụ về hưu ông đã trả lại ngôi nhà nguy nga được cấp giữa thủ đô cho nhà nước, trở về ngôi nhà của gia đình có từ trước cách mạng. Đó là hành xử của trí thức tư sản, kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát. Còn quan chức vô sản bao đời không nuôi nổi bản thân nay có chức vụ liền dùng chức vụ để thỏa mãn những thèm khát từ bao kiếp người. Quan chức nào cũng vội vã xây lâu đài nguy nga. Chính những lâu đài nguy nga đó đã dựng lên chân dung văn hóa nghèo nàn thảm hại của họ. Cả ông phó Ban Biên giới Bộ Ngoại giao khi nói rằng tàu Trung Hoa vào sâu trong vùng biển của ta cắt cáp tàu của ta, phá việc khai thác dầu khí của ta cũng chỉ như người cha yêu thương con, yêu cho roi cho vọt, yêu thì phải dạy bảo, ở ông quan cấp cao Bộ Ngoại giao đó cũng không hề thấy con người văn hóa, nhân cách văn hóa!

Những người nông dân nghèo khổ, chưa có cá nhân, không nuôi nổi bản thân, nhờ có cách mạng vô sản họ mới trở thành Tổng giám đốc này, Chủ tịch nọ, phó Ban kia. Cách mạng vô sản là họ. Đảng vô sản cũng chính là họ. Và họ sẽ bảo vệ Đảng đến cùng. Đảng Cộng sản là của những con người như vậy.

Đảng Cộng sản Việt Nam còn độc quyền thống trị xã hội Việt Nam thì bi kịch cộng sản vẫn còn đeo đẳng với dân tộc Việt Nam, dân tộc Việt Nam còn bị tha hóa, đánh mất mình, đánh mất cả nền văn hiến, đánh mất cả tình thương yêu đùm bọc dân tộc, chỉ còn bạo lực, li tán và hận thù dân tộc!

3. 2. 2012, ngày Đảng Cộng sản Việt Nam tròn 82 tuổi

No comments:

Post a Comment