Monday, September 17, 2012

Bài viết hay(416)

Về Lòng Tự Hào Dân Tộc

Người Nhật lãnh 2 trái bom nguyên tử, năm năm lao đao cùng động đất sóng thần, bị người Tàu hù muốn đái trong quần mà vẫn làm được chuyện vĩ đại trên cả vĩ đại. Những con ếch ngồi đáy giếng tự sướng với mấy ngàn năm văn hiến, coi lại mình chút.”
(Từ một Email nhân có một clip 10.000 người Nhật hợp xướng Bản giao hưởng số 9 của Beethoven–http://www.youtube.com/embed/paH0V6JLxSI)
Mười ngàn người hợp xường bài nhạc này của Beethoven có nghĩa là có thể có mười triệu người, hoặc toàn thể dân Nhật đều quen thuộc và biết thưởng thức bài nhạc này. Hiển nhiên là trình độ văn hóa của họ thật cao.
Không chỉ một sự kiện này mà vô số sự kiện khác đều chứng tỏ tầm mức văn hoá của họ cao hơn nhiều dân tộc khác. Ngay từ đầu thế kỷ 20, người Nhật đã chúng tỏ sự khôn ngoan, mạnh mẽ và lòng dũng cảm trong các chiến công đánh bại hai đế quốc Nga và Tàu. Trong Thế chiến II người Nhật tuy thất trận nhưng lòng dũng cảm phi thường của họ khiến cả thế giới đều thán phục. Sau hai trái bom nguyên tử, thay vì họ lụn bại, phải xuất khẩu dân mình đi làm cu li hay nô lệ tình dục cho người nước khác hay cho phép người nước khác vào xứ mình lột truồng phụ nữ để tuyển “vợ”,  để huênh hoang về số ngoại tệ thu được hàng năm, thì họ đã đứng dậy, chỉ mất vài ba mươi năm để trở thành cường quốc kinh tế thứ nhì của thế giới. Sau trận động đất hồi tháng 3 năm ngoái họ đã khiến cả thế giới phải cúi chào và khâm phục tinh thần kỷ luật và lòng tự trọng của họ. Tất cả những thứ đó đều phát xuất từ một nguồn gốc vững chắc: đó là niềm tự hào dân tộc. Mà niềm tự hào dân tộc không phải bắt nguồn từ không khí, càng không phải là kết quả từ sự quay lưng ngoảnh mặt với lịch sử và văn hóa của dân tộc mình. Trái lại, tự hào dân tộc chính là tự hào về lịch sử và văn hóa muôn đời của dân tộc và đất nước.
Người Nhật ngay từ nhỏ được giáo dục lòng tự hào về lịch sử oai hùng của họ, về những chiến công hiển hách của họ, tự hào về văn hóa của họ, cái văn hóa đã khiến họ tự mổ bụng mà chết chớ không sống nhục, và tự hào là con cháu của Thái dương thần nữ. Họ tự hào là một trong số rất ít các dân tộc trên thế giới đã đánh bại quân xâm lăng Mông Cổ vào thế kỷ 13, dù đoàn quân này đã bị một trận bão bất ngờ đánh tan tác trên biển trước khi chúng đặt chân được lên đất Phù Tang tam đảo.
Chừng nào niềm tự hào dân tộc còn tồn tại trong lòng người dân một nước thì quốc gia đó, dân tộc đó mới có thể tồn tại được. Lòng tự hào dân tộc chính là chỗ dựa tinh thần của dân tộc đó. Mất lòng tự hào dân tộc, con người ta sẽ dễ dàng làm mọi điều ô nhục mà tự cho là vinh. Mất niềm tự hào dân tộc, lòng người nhanh chóng tan rã vì không còn giá trị nào để kết dính họ lại với nhau. Họ không thấy đất nước mình, dân tộc mình có điều gì hay đáng tự hào để yêu thương và bênh vực.
Niềm tự hào bốn ngàn năm văn hiến của người Việt Nam hoàn toàn không phải là chuyện dốt nát, điên khùng, ngu xuẩn và vô lối. Nền văn hóa VN là một thực tế lịch sử. Càng ngày những nghiên cứu lịch sử và văn hóa càng làm cho nó sáng tỏ thêm ra. Chính niềm tự hào về nền văn hóa đó đã giữ cho nước VN còn và dân tộc VN còn cho đến nay. Sau hơn một ngàn năm nô lệ Tàu, người VN giành được độc lập dân tộc chính bằng cái vũ khí lòng tự hào vào lịch sử và văn hóa của mình. Cũng bằng chính lòng tự hào về lịch sử và văn hóa dân tộc dân tộc VN bé nhỏ liên tiếp đánh thắng những kẻ thù phương Bắc hùng mạnh hơn mình gấp nhiều lần để giữ vững nền độc lập quốc gia, trong đó có ba lần đánh bại quân xâm lược Mông Cổ, một lực lượng xâm lăng dữ dằn hung hãn và tàn bạo nhất trong suốt lịch sử nhân loại. Chưa có một dân tộc nào nghi ngờ những sự kiện lịch sử đó. Sao ta lại làm người đầu tiên nghi ngờ lịch sử và văn hóa của chính dân tộc mình? Tại sao niềm tự hào vào bốn ngàn năm văn hóa của dân tộc lại có thể biến người ta thành ếch nhái? Bụt chùa nhà không thiêng bằng bụt Tàu, bụt Đại Hàn, bụt Nhật? Quốc hiệu của Hàn quốc hiện nay là Đại Hàn Dân Quốc (Taehan Minguk), quốc hiệu của Nhật trong Thế chiến thứ II là “Đế Quốc Đại Nhật Bổn “ (Dai Nippon Teikoku – Great Empire of Japan). Tên của hòn đảo Anh quốc là Great Britain (tên của cả vương quốc là “The United Kingdom of Great Britain and Northern Ireland)… Các quốc gia này chẳng hề vĩ đại về mặt diện tích hay dân số để lấy thịt đè người, nhưng họ tự hào “lớn” về lịch sử và văn hóa. Trước kia quốc hiệu của ta là Đại Việt hoặc Đại Nam. Đó đâu phải là chuyện huênh hoang “tự sướng”, mà là niềm tự hào dân tộc hoàn toàn chính đáng.
Nếu một số vua chúa  VN trước đây vì tối tăm thiển cận làm chậm, thậm chí cản trở, sự phát triển của đất nước, đó là vì họ ít nhiều mất lòng tự hào dân tộc, họ không tin vào lịch sử hào hùng của cha ông mình, không tin “nước Việt ta từ trước, vốn xưng văn hiến đã lâu” (Bình Ngô đại cáo) mà đi tôn thờ các ông Nghiêu Thuấn bên Tàu, coi các anh Tàu hàng ngàn năm trước là Thánh nhân, thánh hiền, coi các tên thái thú Nhâm diên, Tích quang, Sĩ Nhiếp là thầy là ân nhân (phong tước Vương cho Sĩ Nhiếp và các nhà nho ta gọi y là Sĩ Vương!). Chính vào lúc lòng tự hào dân tộc phai nhạt hoặc không còn chỗ trong lòng người thì mới sinh ra những tên Tôn thọ Tường, Nguyễn Thân, Hoàng Cao Khải, và những tên hót theo giọng quan thầy đại Pháp của chúng cho tổ tiên ta là người Gô-loa. Không lẽ những tên đó (tuy xuất thân từ hàng ngũ nho sĩ trí thức) là người chớ không phải là ếch nhái?
Với người VN, lòng tự hào dân tộc không hề dành riêng cho tầng lớp trí thức (tiếc thay một số trong tầng lớp trí thức thời trước cũng như bây giờ đã biếm nhẽ lịch sử và văn hóa dân tộc, thậm chí phản bội lại dân tộc). Trước kia tinh thần tự hào dân tộc thấm nhuần trong tâm hồn mọi người dân, nhất là những người dân quê ít tiêm nhiễm văn hóa Tây phương. Chính lòng tự hào dân tộc này, nằm trong tiềm thức văn hóa, đã bộc lộ trong một hình thức “bảo vệ nòi giống” rất cảm động mà ngày nay chúng ta có thể coi là cực đoan, quá đáng:
Trước năm 1975, ít nhất ở miền Nam VN theo như tôi biết, chỉ có những người phụ nữ VN trót bị “sa chân lỡ bước” hay bị liệt vào hàng bán phấn buôn hương hoặc thuộc loại “bỏ đi” không người đàn ông con trai đứng đắn nào đoái hoài tới thì mới phải chịu lấy chồng ngoại quốc. Mà đã lấy chồng ngoại quốc, cho dù là lấy một ông hoàng đế Phi Châu, cũng là điều tủi nhục, càng rơi xuống sâu thêm một bậc nữa trong dư luận xã hội VN. Vợ và con gái người Việt của ông hoàng đế Bokassa của Đế quốc Trung Phi (Central African Empire) vào những năm 1960 – 1970 không hề là niềm tự hào của chính đương sự, và cũng không được ai “thán phục” hết, vì bản thân người phụ nữ ấy (tên là Nguyễn Thị Huệ) là một “me Tây”. (Nếu giới trẻ bây giờ không biết “me Tây me Mỹ” là gì thì hãy hiểu rằng kẻ đó bị xếp hạng ngang hàng đĩ điếm – mà đĩ điếm cho người nước ngoài thì giá trị nhân cách thấp hơn cả gái giang hồ “nội địa”).
Ngay đến công chúa Huyền Trân đời Trần, do phải thực hiện một sứ mệnh lịch sử, đi làm vợ của một ông vua lân bang để đổi lấy đất đai cho quốc gia, mở rộng giang sơn Đại Việt, công ơn với đất nước lớn lao là vậy mà không gây một cảm hứng tự hào nào, trái lại còn để niềm thương tiếc muôn đời không nguôi trong lòng người Việt: Tiếc thay cây quế giữa rừng, để cho thằng mán thằng mường nó leo!
Kết quả của sự “phân biệt đối xử” trong ý thức bảo vệ nòi giống này là đa số những người nước ngoài thời đó chỉ có thể lấy được những phụ nữ gần như “dưới đáy xã hội” VN mà thôi. Những phụ nữ “con nhà đàng hoàng”  không bao giờ lấy chồng người nước mgoài để mang sự tủi nhục về cho gia đình và dòng họ. Cả một vài người phụ nữ có học thức, sống trong môi trường Tây học cởi mở, có tình yêu thực sự và kết hôn một cách nghiêm túc với một người chồng nước ngoài có vị trí xã hội cao cũng không là một ngoại lệ trước dư luận VN. Họ đều bị đồng bào mình nhìn với cái nhìn khinh miệt hay dè bỉu; bị liệt chung vào hàng “me Tây, me Mỹ”, và luôn cảm thấy rất nhục nhã. (Bạn trẻ nào chưa biết chuyện này, đọc ở đây để biết ít nhiều tâm sự một người phụ nữ VN có học lấy chồng Mỹ mới hơn bốn mươi năm trước. (Le Hoa Wilson, “Có tội hay không có tội?” http://www.quehuongngaymai.com/forums/showthread.php?t=165193)
Những biến động lịch sử gần đây, nhất là từ sau khi chủ nghĩa cộng sản vào VN tàn phá lịch sử và văn hóa dân tộc, đền miều bị phá dở, chùa chiền làm kho hợp tác xã, đàn Nam Giao ở Huế bị phá bỏ, luân thường đạo lý đảo lộn (vợ chồng tố khổ lẫn nhau, con cái tố cáo nhục mạ cha mẹ; trong hồi ký của mình, cựu ngự tiền văn phòng của vua Bảo Đại là NKH gọi cựu hoàng đế Bảo Đại, ông chủ cũ của mình, là “hắn”); tượng vua Lý ở HN thì mặc triều phục nhà Tống bên Tàu; phim lịch sử VN thì do ngoại bang, kẻ luôn rắp tăm thôn tính mình, dàn dựng thực hiện; học trò không còn thuộc lịch sử nước mình; phim ảnh trên TV thì toàn phim lịch sử Tàu và tình cảm Hàn Quốc. Người Việt thuộc lòng lịch sử các triều vua Tàu qua phim ảnh, nhưng có người không biết Trần Hưng Đạo là ai. Thậm chí có người viết lách về lịch sử thì nói đến một ông vua tên là Lê Trung Hưng, và nói đến chuyện một người có công với vua “được phong chức công thần”. Các tiệm uốn tóc quảng cảo kiểu tóc Hàn Quốc. Các tiệm thời trang, và cả báo chí nữa, nhan nhản phô trương “mốt” thời trang Hàn Quốc, từ quần áo, kiểu tóc, son môi cho đến kiểu chụp hình, v.v…
Trước đây để bày tỏ lòng biết ơn mẹ, người ta mượn hình thức “bông hồng cài áo” của người Nhật. Bây giờ giới trẻ VN có người vận động xếp hình hàng ngàn con hạc giấy (cũng phong tục và tập quán của Nhật) để bày tỏ niềm hy vọng, mà không tự mình sáng tạo nỗi một hình thức nào khác. Vô số thanh niên Hà Nội (thủ đô ngàn năm văn vật!) khóc bù lu bù loa ngoài phố rất thê thảm và thức suốt đêm đốt nến tưởng niệm ca sĩ Mỹ Michael Jackson qua đời. Vô số phụ nữ VN đổ xô đi lấy chồng nước ngoài chỉ qua môi giới của “cò” và sẵn sàng tới khách sạn xếp hàng cởi truồng cho người nước ngoài ngắm nghía mua làm “vợ”. Không ít kẻ vênh vang dù kết hôn với một anh da đen từ những xứ sở châu Phi. Người giàu có thì tung tiền mua sắm xe cộ lộng lẫy nghênh ngang, tiêu xài phung phí giữa biển người nghèo đói. Mới đây hàng trăm thiếu nữ Việt chen lấn xô đẩy nhau xỉu lên xỉu xuống trước cổng khách sạn chào đón các ngôi sao ca nhạc Hàn Quốc đến lưu diễn, và sau đó nhiều cô đã tranh nhau hôn hít và liếm chiếc ghế mà ngôi sao này ngồi khiến báo chí và dư luận VN vốn đã quen với nền giáo dục mà cô giáo từng bắt học trò liếm ghế của mình cũng phải sững sờ.
Chỉ nói sơ qua một ít thôi. Và có lẽ chừng đó đã đủ làm đau lòng những người có lòng với đất nước, nếu cho đến nay vẫn còn thờ ơ với hiện trạng này. Chừng đó đã đủ cho thấy một số không nhỏ người VN hiện nay không còn lòng tự hào dân tộc, vì sau lưng họ là một khoảng trống mông lung về lịch sử và văn hóa. Nay mai phải đánh giặc Tàu họ sẽ biết bám níu vào cái gì? Nếu lúc này mà cười cợt biếm nhẽ những người tự hào về lịch sử và văn hóa dân tộc là những con ếch tự sướng, thì có lẽ đó là một thái độ rất không đúng đắn và nên nghĩ lại, nhất là nói từ một người trí thức.
Nói về bốn ngàn năm văn hiến của đất nước đâu phải là để tự sướng. Trong một ngàn năm độc lập vừa qua, tiền nhân ta đã nói điều đó nhiều lần, đã tự hào về điều đó nhiều lần. Chính lịch sử và tinh thần văn hóa (văn hiến) đó của dân tộc đã giúp người dân Đại Việt biết mình là ai, và giúp phân biệt ta với Tàu: “Sơn hà cương vực đã chia, phong tục bắc nam cũng khác” (Bình Ngô đại cáo), và có thể dõng dạc lên tiếng “tuyên ngôn”: “Nam Quốc sơn hà Nam Đế cư”.
Lòng tự hào dân tộc không làm ai tự sướng hay ngủ quên cả. Nhìn vào người Nhật thì thấy rõ lòng tự hào cao ngất của dân tộc họ. Họ có tự sướng hay ngủ quên gì đâu. Họ “rất thức” nữa là khác. Trong một email phản hồi nhân thông tin về sự phát hiện chữ Việt cổ, tôi có dịp viết: “Trong lịch sử thế giới, đã có quốc gia nào từng ngủ quên trên sự tự hào về lịch sử hào hùng của dân tộc họ không? Không hề. Trái lại, những giai đoạn suy vong của mỗi quốc gia đều xảy ra trong thời kỳ mà lòng người phân tán, khi niềm tự hào dân tộc ấy đã bị lung lạc, suy yếu hay không còn nữa. Trong hoàn cảnh như thế, Lê Lợi phải mất đến mười năm mới “đẩy” được đám quân Minh xâm lăng về nước, (sau cuộc kháng chiến dai dẳng làm cho chúng mỏi mòn mà ta không có một trận đại thắng nào lừng lẫy tầm cỡ “Bạch Đằng”), trong khi trước đó, nhà Trần với hào khí Đông A chỉ cần một thời gian rất ngắn để ba lần đánh bại ba cuộc xâm lăng của lực lượng xâm lược mạnh nhất, dữ dằn nhất, đáng sợ nhất của cả nhân loại trong mọi thời đại, với các chiến thắng lừng lẫy. (có thể đọc toàn bộ bài viết/email này ở đây: http://www.vietthuc.org/2012/02/23/35807/)
Trước năm 1975, trong cuốn sách Người Việt Cao Quý, nhà văn Vũ Hạnh, khi so sánh với Vạn Lý Trường Thành của Trung Quốc, Kim Tự Tháp của Ai Cập, Đế Thiên Đế Thích của Căm Bốt, vân vân, đã thấy rằng Việt Nam không có một công trình nào đủ lớn đáng để tự hào cả.
Thật nản lòng, phải không? Không có gì để tự hào cả? Nhìn vào các thành tích văn minh văn hóa lừng lẫy của người rồi nhìn lại mình không có gì cả, hoặc chỉ thấy chiến tranh và đổ nát, có đáng nản lòng không? Nhưng Vũ Hạnh đã nhận xét rằng công trình vĩ đại của dân tộc VN chính là dải đất  hình chữ S từ Ải Nam Quan đền Mũi Cà Mau này. Đây là công trình lớn lao mà tất cả các thế hệ cha ông ta luôn phấn đấu đổ nhiều mồ hôi nước mắt và cả xương máu để xây dựng, mở rộng và bảo vệ, suốt lịch sử không lúc nào ngơi nghỉ. Vũ Hạnh là một anh Việt Cộng, tức là một kẻ theo chủ thuyết cộng sản, chủ trương tất cả vì tính giai cấp vô sản quốc tế mà không thèm đếm xỉa đến lịch sử và văn hóa của tổ quốc mình, mà đã nhận ra một điều đáng tự hào của dân tộc như thế. Tại sao một người trí thức không cộng sản lại biếm nhẽ những người tự hào với tinh thần dân tộc, coi họ là những con ếch?
Ngay cả khi buộc phải lòn trôn giữa chợ, Hàn Hín vẫn tin vào tài năng và giá trị của mình. Ông ta biết mình có các giá trị đó để tin, để tự hào và nhờ đó đứng vững trong nghịch cảnh. Nhật Bản trong Thế chiến II, bị dội hai trái bom nguyên tử, phải chịu đầu hàng đối phương vô điều kiện, nhưng lòng tự hào dân tộc của họ cao đến nỗi giúp họ tự tin và đường hoàng bắt tay với kẻ thù để vực dậy và xây dựng đất nước chớ không chịu sút kém. Hàn Quốc từng bị Nhật xâm lăng, nhưng niềm tự hào dân tộc mạnh mẽ của họ giúp họ khôi phục độc lập và phát triển đất nước rực rỡ. Trong khi đó, không một người ăn mày nào mà chúng ta từng biết tự nghĩ mình có một giá trị gì để tự hào tự trọng. Biết mình có điều gì để tự hào tự trọng thì họ đâu có đi ăn xin. Có lòng tự hào tự trọng thì đâu có ngửa tay ca bài ca con cá nó sống vì nước, chúng tôi độc lập tự do hạnh phúc gần bốn mươi năm mà vẫn còn nghèo xin ông đi qua bà đi lại rủ lòng thương giúp đỡ. Không biết và không tôn trọng lịch sử văn hóa của đất nước dân tộc mình tức là ta không tự trọng mình; không tự biết mình là con nhà thế gia chớ không phải thứ đầu đường xó chợ nay mặc váy kiểu Mỹ mai mặc áo theo “mốt” Đại Hàn, ngày kia theo “mốt” thời trang đuôi sam Mãn Thanh, khóc lóc lu loa vì một thằng bá vơ nào đó chết bên Tây hay bên Tàu.  Không tự trọng mình thì ta sẽ không thể bằng người Nhật. Không những ta đang không bằng người Nhật mà ta cũng không bằng cả người Đại Hàn. Đất nước họ chẳng lớn lao hơn ta, nhưng họ đều có lòng tự hào dân tộc rất cao, mà ta thì đã tiêu hao mòn mỏi. Tại sao ta lại biếm nhẽ bốn ngàn năm lịch sử của mình?
Người trí thức có trách nhiệm phải nói cho mọi người biết: “Anh là con nhà gia giáo có lịch sử và văn hóa, chớ không phải loại cha căng chú kiết. Anh đã chiến đấu hàng ngàn năm để giữ vững tự do và độc lập. Anh có quyền và phải được tự do và độc lập. Không cần một chữ vàng chữ bạc nào của ai cả.” Nếu không nói được như thế, mà lại biếm nhẽ họ, coi họ là ếch nhái, thì … thôi.
Chớ sao! Nói gì với kẻ chưa đánh đã hàng! Thằng Tàu muốn đánh VN, chuyện đó ai cũng biết.  Anh cho rằng ta chỉ là những con ếch tự sướng chớ thực ra ta không có gì cả, thôi thua nó cho rồi. Phải vậy không?
Thiếu Khanh

‘Xẻ thịt’ công viên, phá hoại chùa chiền
Ði qua những thành phố đẹp nổi tiếng ở nhiều quốc gia khác nhau, chúng ta có thể thấy chính phủ nước họ rất chú ý đến hai điều:
Ngôi chùa Trăm Gian vừa bị phá một phần để làm chùa mới. (Hình: Anvien.vn)
Thứ nhất, bên cạnh việc xây dựng những trung tâm thương mại, cao ốc văn phòng, chung cư... luôn luôn có những công viên, quảng trường là công trình phúc lợi xã hội chung cho người dân đồng thời là những lá phổi xanh, khoảng thở cho thành phố.
Thứ hai, họ rất trân trọng giữ gìn những di tích, di sản của người xưa để lại.
Trong khi đó, ở các thành phố lớn nhỏ của Việt Nam, những điều này dường như vẫn chưa được coi trọng.
Trong phạm vi bài báo này, chỉ xin đề cập đến hai thành phố lớn nhất nước, Hà Nội và Sài Gòn.
Báo chí trong nước gần đây lại đưa tin Hà Nội nhăm nhe “xẻ thịt” công viên Thống Nhất cho dự án xây dựng 6 bãi đỗ xe (!)mà nếu được thông qua, công viên lớn nhất khu vực nội thành Hà Nội này sẽ mất gần 9,000 m2 đất.
Và một sự việc khác, ngôi chùa Trăm Gian, xã Tiên Phương, huyện Chương Mỹ (Hà Nội), được xây dựng từ thế kỷ XII và được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia đã bị nhà chùa tùy tiện trùng tu theo hướng xây mới.
Sau khi báo chí, dư luận lên tiếng chỉ trích, UBND thành phố Hà Nội và các cơ quan chức năng đã lập biên bản, yêu cầu nhà chùa ngừng thi công, kiểm điểm các cá nhân và tập thể chịu trách nhiệm về vụ việc. Ðồng thời tìm cách khắc phục theo hướng phục hồi nguyên trạng các phần đã bị phá dỡ, trên cơ sở tái sử dụng tối đa các cấu kiện cũ.
Nhưng các nhà chuyên môn cũng cho biết, việc phục hồi nguyên trạng là rất khó, chỉ có thể cố gắng chừng nào hay chừng đó.
Những sự việc như thế này thật ra chẳng lạ gì ở Việt Nam.
Về chuyện cắt đất công viên để sử dụng vào mục đích khác, đây không phải là lần đầu tiên và cũng không phải chỉ riêng công viên Thống Nhất bị “dòm ngó”.
Theo báo Giáo Dục Việt Nam: “Ngoài công viên Thống Nhất đang bị nhăm nhe ‘xẻ thịt’ để làm bãi giữ xe thì trước đó, công viên Tuổi Trẻ cũng bị ‘lấy thịt’ để xây nhà hàng, sân tennis, sân bóng đá...”
“Chưa kể, hồ Tây, hồ Ba Mẫu, những khu đất vàng của thủ đô đang ngày càng bị lấn chiếm. Ngay cả gầm cầu vượt cũng biến thành bãi giữ xe...” (“Những khu đất vàng nhăm nhe bị “xẻ thịt” ở Hà Nội”.)
Sài Gòn cũng không khác. Mặc dù diện tích công viên tính trên diện tích thành phố và dân số là quá ít, nhưng công viên phía trước Dinh Ðộc Lập cũ hay công viên Hoàng Văn Thụ cũng đã từng bị “dòm ngó” cho dự án này dự án kia, may sao vẫn còn nguyên!
Chưa kể, một thành phố rộng lớn có 8-9 triệu người dân mà một quảng trường cho người dân ngồi chơi, và cho những hoạt động văn hóa nghệ thuật vỉa hè lẫn những sinh hoạt văn hóa đặc biệt vào các ngày lễ lớn cũng không có!
Ðối với người dân sống trong một đô thị, những không gian sạch, thoáng đãng như công viên, quảng trường rất quan trọng. Là nơi người ta không chỉ ngồi nghỉ chân mà còn để cho con mắt nhìn, tâm hồn cũng được nghỉ ngơi, dịu lại sau những giờ phút làm việc vất vả.
Ði giữa Hà Nội, Sài Gòn lúc nào cũng đông nghẹt người và xe cộ, bụi bặm, ô nhiễm, bị vây bủa bởi đủ loại tiếng ồn, rồi nạn kẹt xe, nạn ngập nước khi trời mưa... Rất dễ làm con người bị căng thẳng, sinh ra nóng nảy, cáu gắt, hoặc lâu ngày có những vấn đề về tâm thần.
Còn việc trùng tu một công trình, di tích theo kiểu xây mới từ ngàn năm tuổi thành một tuổi như vụ chùa Trăm Gian, cũng không phải là lần đầu.
Cứ lâu lâu, giới trí thức, khoa học, những người làm văn hóa, yêu văn hóa lại kinh hoảng phát hiện thấy một công trình giàu giá trị lịch sử, văn hóa, nghệ thuật nào đó bị phá đi dưới danh nghĩa trùng tu, nhưng thực chất là làm mới hoàn toàn.
Như trong đợt kỷ niệm 1000 năm Thăng Long-Hà Nội, người dân Hà Nội và cả nước đã từng bất bình trước việc tháp nước chùa Ðậu, công trình kiến trúc hơn 100 năm tuổi hay di tích lịch sử Ô Quan Chưởng bị tân trang làm mất hết tất cả nét rêu phong cổ kính. Một số ngôi đền, chùa trong khu phố cổ và cả bộ mặt khu phố cổ, điển hình là Hàng Ngang, Hàng Ðào, hàng Trống đều được làm mới, v.v.
Lý do, phải đập ra trùng tu, sửa chữa thì mới có tiền từ ngân sách nhà nước (cũng chính là tiền thuế của dân) chứ!
Hà Nội là thành phố có nhiều di tích văn hóa lịch sử, công trình kiến trúc cổ nhất ở Việt Nam, và rất nhiều trong số đó đã bị phá hoại kiểu như vậy.
So với Hà Nội, Sài Gòn ít di tích hơn, nhưng không phải vì vậy mà không bị phá. Có những chi tiết tưởng là nhỏ như vỉa hè của công viên phía trước Nhà thờ Ðức Bà, trước kia được lát bằng loại gạch đỏ đã ngả màu theo thời gian trông rất hay và tiệp với màu tường gạch đỏ của nhà thờ, sau này người ta thay bằng loại đá mới màu xanh xám hồng, láng bóng!
Hoặc chỉ là những quán café nhưng tồn tại đã bao năm, là những hình ảnh gắn bó một thời của Sài Gòn như café Givral, La Pagode, Brodard... trên đường Ðồng Khởi (Tự Do cũ) đã bị xóa sổ không thương tiếc.
Café Givral, từng là nơi các ký giả trong và ngoài nước gặp gỡ, săn tin tức trong suốt thời kỳ chiến tranh Việt Nam, bị phá bỏ cùng với toàn bộ khu thương xá Eden nổi tiếng để xây một công trình mới.
Ðối với nhiều người dân Sài Gòn, đây là một địa danh văn hóa lịch sử. Bộ phim “Người Mỹ trầm lặng” (“A quiet American”) cũng đã từng cho phục chế quán café này và một góc đường Ðồng Khởi thành con đường Catinat-Tự Do vào những năm 60-70 để quay một vài phân đoạn.
Lẽ ra, lãnh đạo thành phố và những người làm công tác văn hóa du lịch nên giữ lại quán café Givral. Bên trong quán để thêm những bức hình giới thiệu bộ phim “Người Mỹ trầm lặng” đã được quay ở đây để khi khách du lịch nước ngoài đến, có thêm một địa điểm văn hóa để giới thiệu với họ.
Và còn biết bao nhiêu ví dụ khác nữa, trong quá trình xây dựng của thành phố Sài Gòn có nhiều khu phố cổ, những cây cầu... đã bị đập bỏ, biến mất.
Tất nhiên mọi thành phố đều cần phải tiến lên, phải xây mới, hiện đại, nhưng nên cân nhắc, những cái gì thuộc loại di tích, kiến trúc cổ, địa danh văn hóa lịch sử... thì tìm cách giữ lại nguyên trạng. Hoặc chỉ giữ một phần bên cạnh cái mới để con cháu đời sau còn biết.
Có cảm giác như trong tư duy của nhiều người lãnh đạo các ban ngành khác nhau ở Việt Nam, chỉ nhăm nhăm nghĩ đến tiền!
Nếu cứ như Việt Nam, thì chẳng bao giờ những công viên chiếm cả một khu đất vàng giữa lòng thành phố như Luxembourg ở Paris, hay những khoảng đất mênh mông chỉ để một vài cái cột gãy, một khoảng tường đổ nát, chứng tích của một cổng thành xưa như ở Roma... có thể tồn tại.
Cứ hễ có khoảng đất nào trống là người ta chiếm ngay xây những khu trung tâm thương mại, văn phòng cho thuê hoặc mở quán nhậu, nhà hàng, nghĩa là những thứ ra tiền! Còn các di tích thì cứ bị lấy cớ tân trang, trùng tu để mà có tiền!
Trong vụ chùa Trăm Gian, khi báo chí dư luận lên tiếng, những người có trách nhiệm còn loanh quanh bào chữa một cách rất ngụy biện. Một ông quan như chánh thanh tra Bộ VHTTDL Vũ Xuân Thành trước câu hỏi của phóng viên liệu có “làm lại” được những hạng mục đã bị phá dỡ hay không, đã trả lời một cách rất thản nhiên, vô cảm:
“Sao lại không làm lại được. Chúng tôi vừa mới xuống kiểm tra. Các chân tảng... của chùa vẫn còn nguyên. Gỗ thì vẫn thế thôi. Làm lại thôi chứ có gì đâu.” (“Làm lại thôi chứ có gì đâu”, báo Ðất Việt)
Suốt từ nhiều năm nay, trên khắp mọi miền đất nước nơi nào cũng có thể nhìn thấy những sự phá hoại “vô tư, vô cảm” kiểu như vậy. Là do ham tiền, thiếu hiểu biết, hay vì không coi trọng những giá trị văn hóa, lịch sử, tinh thần?
Có tất cả những nguyên nhân này, cộng thêm sự quản lý lỏng lẻo, luật pháp không nghiêm, những vụ phá hoại các công trình di tích lịch sử văn hóa từ trước đến nay chỉ bị phạt hành chính, kiểm điểm nên không đủ sức răn đe.
Di sản ông cha để lại đã ít ỏi, khiêm tốn so với nước người ta, mà cứ cái kiểu phá hoại như thế này thì chả còn gì! Song Chi/Người Việt
 Cộng đồng Việt và thực phẩm 'organic' 
  “Không hề có sự khác biệt về số lượng vitamin có trong trái cây rau củ hay các loại thịt 'organic' và loại thông thường, ngoại trừ điểm khác biệt duy nhất là trong các sản phẩm 'organic' hơi có nhiều chất phốt-pho hơn.”
Ðó là khám phá mới của một nhóm nghiên cứu thuộc trường Ðại Học Stanford và Hội Chăm Sóc Y tế Cựu Chiến Binh Palo Alto, do bà Crystal Smith-Spangler làm trưởng nhóm.
Nghiên cứu này dựa trên 200 kết quả nghiên cứu so sánh về tình hình sức khỏe của những người ăn thực phẩm “organic” và thực phẩm thường, ở các loại trái cây, rau củ, ngũ cốc, thịt, trứng gia cầm và sữa.
Xoay quanh việc nên hay không nên sử dụng thực phẩm “organic,” cũng như sự khác nhau giữa thực phẩm “organic” và “non-organic” như thế nào trong cộng đồng người Mỹ gốc Việt cũng có khá nhiều điều thú vị.
Giá một số trái cây “organic” tại Whole Foods Factory. (Hình: Ngọc Lan/Người Việt)
 Thực phẩm hữu cơ (organic foods) là gì?

 Thực phẩm hữu cơ (organic foods), còn được gọi là thực phẩm tự nhiên (natural foods) hay thực phẩm lành mạnh (healthy foods), là vấn đề mà nhiều người quan tâm và thảo luận từ lâu.
Theo Bộ Canh Nông Hoa Kỳ, nông sản hữu cơ là nông sản do nuôi trồng mà không dùng hoặc dùng rất ít chất phân bón tổng hợp, thuốc trừ sâu, chất điều chỉnh sự tăng trưởng hay thức ăn phụ thêm cho gia súc.
Nói một cách rõ ràng hơn, thực phẩm động vật hữu cơ (meat organic) lấy từ súc vật được nuôi ở các vùng riêng biệt, với thức ăn nước uống không chứa bất kỳ loại hóa chất nào, không có thuốc trừ sâu trên đồng cỏ và cỏ cũng không được bón bằng hóa chất. Người ta không dùng các chất kích thích tăng trưởng nhân tạo cho gia súc, ngoại trừ thuốc kháng sinh để chữa bệnh cho chúng 90 ngày trước khi làm thịt. Những gia súc “organic” này cũng không được nuôi bằng thịt các loại động vật khác.
Còn thực phẩm thực vật hữu cơ thì phải là rau trái được chăm bón bằng phân thiên nhiên lấy từ phân xác động vật trộn với các loại cây cỏ mục nát chứ không phải hóa chất; diệt trừ sâu bọ bằng cách tự nhiên như dùng chim bắt sâu hay người chăm sóc tự bắt sâu.
Có lẽ chính từ điều này, mà theo nghiên cứu của bà Crystal Smith-Spangler, “mọi người chọn mua thực phẩm hữu cơ vì nhiều lý do khác nhau, và một trong những lý do đó là người ta cảm nhận được lợi ích về mặt sức khỏe.”
Ông Andy Nguyễn, một cư dân ở Los Angeles, có cùng suy nghĩ này khi ông cho rằng, “Dùng thực phẩm 'organic' sẽ tránh được phân bón hóa học và vị ngon hơn, lại không có chất 'hormone' trong thịt cá.”
Với ông Khương Diệp, đang sống tại Tampa, Florida, lý do gia đình ông chọn dùng thực phẩm “organic” từ năm 2006 là vì “năm 2006 là năm đỉnh của vụ 'organic,' báo chí nào cũng đề cập đến vấn đề đó hết. Tôi nghe có lý vì tôi rất sợ dính vô thực phẩm có chất hóa học nên quyết định dùng thực phẩm hữu cơ, như trứng, sữa và một số loại trái cây.”
Tuy nhiên, là một người làm “test pesticide” mỗi ngày, cô Hoàng Nguyễn, hiện đang sống tại Anaheim, nêu thắc mắc, “Nếu không dùng thuốc trừ sâu thì làm sao diệt được cỏ và sâu bọ? Nếu nói là con người đi bắt sâu thì làm sao thực hiện được nếu cánh đồng trồng trọt quá rộng lớn? Còn nếu sử dụng chất tự nhiên thí dụ như dấm pha loãng để trừ sâu thì vẫn là hoá chất thôi.”
Cũng do công việc đang làm cho Cơ Quan Bảo Vệ Môi Sinh Hoa Kỳ (EPA) mà kinh nghiệm của cô Ngọc là “Người ta chỉ có thể xài thuốc trừ sâu ở giới hạn cho phép của EPA, nên mình ăn vô không có sao, vả lại nếu dùng thuốc trừ sâu dư nhiều quá sẽ thấm sâu xuống đất làm hại mạch nước ngầm.”

Ðắt nhưng không bổ dưỡng hơn

Trong khi cô Hoàng Nguyễn cho rằng “chưa bao giờ dùng 'organic' vì không hiểu rõ lắm” thì cô Vân Nguyễn ở Arizona, cô Ngân Ðoàn ở Texas, hay cô Tứ Hải Nguyễn ở Garden Grove, đều không dùng thực phẩm “organic” với lý do đầu tiên là “đắt quá!”
Theo Annals of Internal Medicine, nhiều nghiên cứu trước đây cho thấy không hề có tiêu chí căn bản cho việc xác định cái gì làm nên thực phẩm “organic,” nhưng điều trước mắt ai cũng thấy là loại thực phẩm này đắt gấp hai lần thực phẩm thông thường.
Ðó là lý thuyết. Trên thực tế, đi một vòng quanh các chợ chuyên bán thực phẩm “organic” và các chợ Mỹ, chợ Việt Nam thông thường sẽ nhận ra rằng sự chênh lệch giá cả giữa hai loại thực phẩm hữu cơ và không hữu cơ là rất lớn.
Trong cùng ngày Thứ Tư, 5 Tháng Chín, nếu ở chợ Á Ðông, Westminster, bán loại cà chua có cả cuống với giá 33cents/pound, chợ Stater Bros bán $1.99/pound, thì tại chợ Whole Foods Factory, nơi chuyên bán thực phẩm “organic,” giá loại cà chua này là $2.99/pound.
Một bó hành lá tại Whole Foods Factory là $1.49, tại Stater Bros là 89 cent, và tại chợ Thuận Phát giá chỉ có 33 cents.
Một pound mướp Nhật mua tại chợ Thuận Phát là 79 cents, ở Stater Bros là 99 cents, và nếu muốn mua mướp này loại “organic” tại Whole Foods Factory, góc đường Beach và Edinger, thì người mua phải trả giá cao gấp hai rưỡi hay gấp ba lần, tức khoảng $2.49/pound.
Trong khi người tiêu dùng có thể trả $1.79 cho một pound thịt gà nạc ức “non-organic” tại chợ Á Ðông, thì cũng với loại thịt đó nhưng “organic” được bán với giá $6.99 tại Whole Foods Factory.
Một pound sườn “cốt lết” tại các chợ Việt Nam quanh vùng Orange County được bán với giá trên dưới $2, thì tại chợ Whole Foods Factory, thịt này có giá $8.99/pound.
Tương tự như vậy, những người chuộng thực phẩm “organic” phải bỏ ra $4.99 cho một pound dâu tây (strawberries), $5.99 cho một hộp “blueberries” nhỏ xíu chưa đầy nửa pound, hay phải mua sườn non với giá $12/pound.
Giá đắt, nhưng liệu đó có phải thực sự là đồ “organic” không cũng là vấn đề khiến người tiêu dùng băn khoăn.
Cô Tứ Hải Nguyễn nói, “Mỗi tuần tôi đi chợ Ðà Lạt, giảm giá cái gì tôi ăn cái đó chứ không đi tìm đồ 'organic.' Nhưng mới đây trên mạng phanh phui ra đồ 'organic' ở Whole Foods toàn là 'made in China' không hà, thành ra tôi khỏi ngó đến đồ 'organic' luôn.”
Với cô Vân Nguyễn thì “giá thực phẩm 'organic' đắt hơn nhiều so với thực phẩm không 'organic,' nhưng mình đâu có biết là nó có 'organic' thiệt hay không.”
Ngay cả ông Andy là người ủng hộ chuyện dùng thực phẩm “organic” cũng khuyên “tùy loại mà dùng, chứ không phải cái gì 'organic' cũng xài, vì nhiều khi đó là giả nhãn hiệu 'organic.'”
Kết quả nghiên cứu của bà Smith-Spangler và các cộng sự của bà cho thấy ngoài việc ít thuốc trừ sâu và vi khuẩn kháng sinh, thực phẩm “organic” không chứa vitamin và chất dinh dưỡng nhiều hơn thực phẩm “non-organic.”
Nếu hơn một phần ba các sản phẩm thông thường được phát hiện có dư lượng thuốc trừ sâu thì chỉ có 7% các sản phẩm “organic” bị trường hợp này, và khả năng nhiễm khuẩn của thịt heo thịt gà thường cao hơn 33% so với loại thịt heo thịt gà “organic.”

Giá một số loại thịt gà “organic” tại Whole Foods Factory. (Hình: Ngọc Lan/Người Việt)
Nếu có tiền, nên dùng 'organic' một cách chọn lọc

Tuy chưa ngã ngũ vấn đề thực phẩm “organic” có thật sự cần thiết hay không, nhưng nhiều người vẫn cho rằng “thực phẩm 'organic' có vẻ ngon hơn.”
Cô Vân Nguyễn chia sẻ, “Nếu mua đồ 'organic' thì tôi sẽ chọn mua thịt cá. Vì thực phẩm mà người nuôi sử dụng để cho gia cầm ăn sẽ có tác dụng lên chất lượng của miếng thịt miếng cá. Hay nhà tôi có trồng cây hồng giòn, mặc dù trái nhỏ nhưng rất thơm và ngọt, ăn trái hồng 'organic' này ở nhà rồi đến khi ăn trái hồng mua ở ngoài chợ thấy không ngon bằng. Hoặc là có lần ngoài chợ giảm giá chuối 'organic,' mua về ăn thấy ngọt hơn.”
Với ông Khương Diệp thì “trái cây 'organic' không để lâu được, rất là mau hư so với những loại rau trái thường. Nhưng với thịt thì tôi thấy có vẻ ngon hơn, nhất là thịt gà, nó dai hơn đôi chút chứ không có bở bột như gà thường.”
Do suy nghĩ “sức khỏe quan trọng hơn tiền bạc,” nên dù biết là đắt, gia đình ông Khương vẫn dùng thực phẩm “organic.” Tuy nhiên, hiện tại gia đình ông Khương không còn sử dụng thực phẩm “organic” nữa bởi vì “tình cờ đọc một bài báo có nói về thực phẩm hữu cơ và thực phẩm hóa học cũng không khác nhau về mặt dinh dưỡng, hơn nữa vấn đề thực phẩm có cơ quan FDA kiểm soát, nên không còn ngại như lúc trước.”
Thế nhưng, ông Khương lại cho rằng, “Nếu giá cả hơn nhau chút đỉnh thì có thể tôi sẽ nghĩ lại, đổi qua thực phẩm hữu cơ cũng không chừng.”
Ông Andy Nguyễn thì cho rằng “nếu điều kiện kinh tế khá thì nên xài 'organic.'” Hiện tại, những thứ “organic” mà ông Andy thường mua về cho gia đình dùng là trái cây, rau xà lách, cá “wild caught,” gà đi bộ, sữa và đậu hũ.
Trong khi đó, cô Tứ Hải Nguyễn vẫn nhất định, “Không tin được đồ nào thật đồ nào giả thành ra không nghĩ tới, chỉ quan tâm là đồ ăn lành mạnh và không phải sản xuất tại Trung Quốc mà thôi.”
Cô Vân Nguyễn cho rằng, “Thực phẩm 'organic' không cần thiết, đồ ăn nào cũng vậy, ăn vừa phải, đừng lạm dụng thì sẽ tốt cho sức khỏe. Dùng đồ 'organic' mà ăn uống không đúng cách thì cũng sinh ra bệnh tật thôi, mặc dù một số đồ ăn 'organic' có thể sẽ ngon hơn.”
Chính từ suy nghĩ này mà cô dứt khoát “nếu điều kiện kinh tế khá giả thì tôi cũng chỉ mua đồ 'organic' nếu như ăn thấy ngon hơn đồ không 'organic,' còn nếu ăn thấy ngon như nhau thì vẫn mua đồ không 'organic' thôi.”
“Ngay cả khi điều kiện kinh tế đầy đủ, tôi vẫn không nghĩ dùng 'organic' là cần thiết, bởi theo nghiên cứu y khoa, vẫn chưa có gì rõ ràng chứng tỏ thực phẩm 'organic' là tốt hơn các loại thông thường.” Cô Ngân Ðoàn khẳng định.Tác giả: NgocLan@nguoi-viet.com

BBC: Ngân hàng VN kìm hãm tăng trưởng kinh tế

Phân tích gia của hãng Moody’s nhận định ngân hàng yếu của Việt Nam là trở ngại chính cho việc cải thiện tăng trưởng kinh tế.
Nhận định này được đăng trên tạp chí Asiamoney vào ngày 15/09.
Theo hãng đánh giá tín nhiệm Moody’s, tăng trưởng kinh tế đang chững lại và nhu cầu nội địa không tăng.
Lạm phát của Việt Nam được khống chế nhưng tăng trưởng tiếp tục chững lại, và khu vực ngân hàng yếu vẫn không muốn cho vay.
Đây là yếu tố mấu chốt làm ảnh hưởng tới tác động tới quyết định hạ lãi suất, theo Moody’s.
“Mây đen vẫn chưa tan, với tăng trưởng tín dụng yếu làm vô hiệu hóa ảnh hưởng của quyết định hạ lãi suất đưa ra trước đó”, Katrina Ell, phân tích gia của Moody’s được dẫn lời.
Việt Nam dự báo tăng trưởng 6.2% vào đầu năm nhưng nay đã sửa lại xuống còn 5.2%.
Trong nửa đầu của năm, nền kinh tế tăng trưởng 4.4%, thấp hơn hẳn mức 5.9% vào năm ngoái và mức bình quân 7% trong vòng 10 năm trở lại đây.
Cảnh báo lạm phát
Tăng trưởng giảm do chính phủ có các biện pháp quyết liệt nhằm giảm lạm phát (từ mức 23% vào tháng Tám năm ngoái còn 5% trong tháng Tám năm nay).
Phân tích gia của Moody’s khuyến cáo chính phủ Việt Nam cẩn trọng trong nỗ lực kiềm chế không cắt thêm lãi suât nữa bởi làm như vậy có thể lại châm ngòi cho lạm phát.
“Lạm phát có thể lại tăng trong các tháng tới sau khi tăng giá điện vào tháng Bảy và giá thực phẩm toàn cầu có xu hướng tăng”, Katrina Ell được dẫn lời.

Việc tăng giá điện và xăng có thể lại châm ngòi cho lạm phát trở lại.
Một trong những ly do của việc Việt Nam quyết định để mức tăng trưởng tín dụng thấp 1.1% (thấp hơn hẳn so với chỉ tiêu 6-8%), theo Moody’s “một phần do các khoản vay không trả được nợ”
Chính phủ thừa nhận nợ xấu cao tới 10% tổng các khoản dư nợ trong khi có các nguồn khác nói phải cao tới 15%.
Phân tích gia Ell nhận đinh khu vực ngân hàng yếu của Việt Nam là trở ngại chính để cải thiện tăng trưởng kinh tế.
“Khối ngân hàng đóng vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế bởi đây là trung tâm điều tiết tín dụng qua vai trò là bên cho vay, là nhà cung cấp thanh khoản cũng như dịch vụ thanh toán.
Tuy nhiên việc các ngân hàng trong nước không muốn cho vay đã làm u ám nỗ lực biến bước đi hạ lãi suất thành hoạt động kinh tế và đầu tư mạnh mẽ hơn”, phân tích gia Ell nói thêm.
Cố Thủ tướng Việt Nam Phạm Văn Đồng
Tuyên bố 14/9/1958 của ông Phạm Văn Đồng tiếp tục gây các bàn cãi sau 54 năm

BBC: Nhìn lại Công hàm Phạm Văn Đồng 1958

Ngày 14/9 năm nay đánh dấu 54 năm công hàm ngoại giao do Thủ tướng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ông Phạm Văn Đồng ký để phúc đáp tuyên bố của CHND Trung Hoa hôm 04/9 năm 1958 về hải phận 12 hải lý của nước này.
Công hàm của cố Thủ tướng Bắc Việt Nam khẳng định Chính phủ ở miền Bắc Việt Nam "ghi nhận và tán thành" tuyên bố của Chính phủ Trung Quốc quyết định về hải phận này và "sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm" của Việt Nam "triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý" của Trung Quốc.
Văn kiện này, vẫn được Trung Quốc coi là "cơ sở pháp lý" hậu thuẫn cho lý lẽ của Trung Quốc trong tranh chấp biển đảo với Việt Nam, tiếp tục gây tranh luận trong công luận trong và ngoài nước ở Việt Nam.
Nhân dịp này, BBC giới thiệu bài viết của học giả Pháp, bà Duy Tân Joële Nguyễn, chuyên gia chính trị học và luật quốc tế, người đã có nhiều nghiên cứu về tranh chấp trên Biển Đông, để bạn đọc tham khảo:
Quyền lợi quốc gia trên biển
Với Grotius, luật gia Hà Lan vào thế kỷ 17, biển thuộc về tất cả mọi người. Đồng thời, trong một phân tích có liên quan mà có thể được mô tả như là tiên báo, Sir Walter Raleigh, đã viết: "Ai nắm giữ biển là nắm giữ sự giàu có của thế giới, ai nắm giữ sự thịnh vượng của thế giới nắm giữ thế giới."
Từ giữa thế kỷ 20, nhiều quốc gia giáp biển đã tán thành phân tích này. Các vấn đề địa chiến lược và kinh tế cũng đã trở nên ngày càng tường minh.
Hai ông Phạm Văn Đồng và Hồ Chí Minh
Trong 'Công hàm Phạm Văn Đồng' lãnh đạo VNDCCH không nhắc tới Hoàng Sa, Trường Sa
Công ước LHQ về Luật Biển, có hiệu lực vào tháng 11/1994, thừa nhận chủ quyền của các quốc gia trên lãnh hải của họ nhưng đặc biệt là quyền khai thác các vùng nước, đất đai và tầng ngầm trên một khu vực đặc quyền kinh tế 200 hải lý (370 km) tính từ bờ biển của họ.
Quy định quyền sở hữu theo luật pháp quốc tế về nguồn lợi thủy sản, khoáng sản, dầu khí đã dẫn đến sự xuất hiện của vô số các cuộc xung đột giữa các quốc gia ven biển.
Vì vậy, Cuốn 'Bản đồ địa chính trị về không gian hàng hải' (
Atlas géopolitique des espaces maritimes) đã viết vào năm 2010 rằng:
"Trong vòng 50 năm qua, hàng chục triệu cây số vuông vùng biển trước đây tự do về chủ quyền đã bị các nhà nước kiểm soát , điều đã dẫn đến cuộc đại chinh phục lãnh thổ lớn nhất mọi thời đại."
Các quốc gia từ đây đều tính toán đến các được mất có tính chiến lược quân sự để bảo vệ các vùng cung cấp tài nguyên và để đảm bảo các tuyến đường thương mại và cung cấp các nguồn lực.
Trung Quốc, nhận thức các quyền lợi mà nước này có thể thấy được, đơn phương tuyên bố chủ quyền đối với phần lớn biển Đông (la Mer orientale), bao gồm cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, bởi một tấm bản đồ được gọi là "đường lưỡi bò" và viện dụng sức mạnh (chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa từ năm 1974 sau một trận chiến trên biển, trái với Hiến chương của Liên hợp quốc, và có các hành vi thù địch thường xuyên từ đó tới nay).
Chính trong bối cảnh này, chứ không phải trong bối cảnh tồn tại vào năm 1958, cần phân tích cuộc xung đột giữa Trung Quốc và các nước có chung biên giới trên Biển Đông, trong đó có Việt Nam, về chủ quyền đối với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và đặc biệt hơn, trên khía cạnh pháp lý, theo quy định của pháp luật quốc tế, về tuyên bố của Thủ tướng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Phạm Văn Đồng vào ngày 14/9/1958.
Hành động chính trị trong bối cảnh
Ngày 14/9/2012 tròn 54 năm việc Thủ tướng Phạm Văn Đồng phúc đáp một tuyên bố của Trung Quốc ngày 4/9/1958, thiết lập phạm vi 12 dặm về lãnh hải từ đất liền của nước này, bao gồm hai quần đảo nói trên.
Ông lưu ý "ghi nhận và tán thành" trong bản tuyên bố về quyết định của Trung Quốc. Ông bổ sung trong công hàm rằng: "Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẽ tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc, trong mọi quan hệ với nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa trên mặt bể."
Đối với Trung Quốc, bản tuyên bố 1958 này phải được xem xét như sự công nhận pháp lý của Việt Nam về chủ quyền của Trung Quốc trên hai quần đảo này (Hoàng Sa, Trường Sa.)
Mớ các xung đột trong khu vực này kể từ đầu thế kỷ 20 làm cho việc phân tích trở nên vô cùng phức tạp đối với bản tuyên bố này, vốn chỉ là một hành động chính trị và ngoại giao mà không công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo.
1. Khi Trung Quốc lập bản tuyên bố ngày 04 tháng 9 năm 1958, nước này đang ở trong một bối cảnh xung đột cao với Hoa Kỳ. Lại có cuộc chiến Triều Tiên năm 1950. Các cuộc tấn công các đảo Quemoy và Matsu năm 1954-1955 và năm 1958 để giải phóng Đài Loan, đã dẫn đến phản ứng của Hoa Kỳ bảo vệ Đài Loan.
Công hàm Phạm VĂn Đồng
Trung Quốc muốn dùng công hàm 1958 để ép Việt Nam công nhận chủ quyền của mình trên Biển Đông
Vì Trung Quốc không phải là thành viên của Liên Hiệp Quốc vào lúc các cuộc thảo luận phát triển luật biển khởi đầu, bằng tuyên bố này, Trung Quốc đã khẳng định chủ quyền đối với Đài Loan và giành quyền tuyên bố của mình trên hai quần đảo thuộc về Việt Nam.
Nhưng theo luật pháp quốc tế, rõ ràng việc khẳng định chủ quyền này không có cơ sở. Tại Hội nghị San Francisco năm 1951, trong Hiệp ước Hòa bình với Nhật Bản, 46 tiểu bang đã từ chối công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với các hòn đảo, bất chấp các phản đối của Trung Quốc. Đây là chủ quyền mà Trung Quốc không tuyên bố khi ký kết hiệp ước hòa bình song phương với Nhật Bản. Ngoài ra, Hiệp định Genève năm 1954 quy định việc tuân thủ của các quốc gia ký kết, bao gồm cả Trung Quốc, đối với: "nền độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam."
2. Tuy nhiên, trong tình huống này, và vì lý do các mối quan hệ đặc biệt đã tồn tại giữa Trung Quốc và Bắc Việt Nam, Thủ tướng Phạm Văn Đồng chỉ có thể phúc đáp. Tuy nhiên, với rất nhiều thận trọng và ngoại giao, không có thời điểm nào, bản tuyên bố nhắc tới hai quần đảo, vốn là chủ đề hiện nay về xung đột tuyên bố chủ quyền giữa Trung Quốc và Việt Nam.
Hậu thuẫn của Trung Quốc, trong 19 năm xung đột giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Hoa Kỳ, đã "đánh bẫy" chính phủ, như sự thừa nhận sau đó của ông Phạm Văn Đồng.
Hành động chính trị không hợp luật quốc tế
Đây là lập luận hậu thuẫn nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, bác bỏ nguyên tắc theo luật pháp quốc tế được viện dẫn bởi Trung Quốc bắt buộc Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với các quần đảo.
Trước hết, vào năm 1958, khi ông Phạm Văn Đồng thực hiện tuyên bố này, ông không đề cập các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, ông đã thực hiện một tuyên bố đơn phương. Ông không liên đới Việt Nam vào đó, điều mà ông không thể làm. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không phải là Chính phủ có thẩm quyền đối với vùng lãnh thổ: "Chúng tôi không thể từ bỏ cái gì mà chúng tôi không có thẩm quyền".
Cần phải nhớ rằng Trung Quốc chỉ quan tâm đến các quần đảo này vào đầu thế kỷ 20 (1909) trong khi nó đã được tìm thấy từ thế kỷ 18, Vương quốc An Nam đã quản lý có hiệu lực các quần đảo này; sau đó, trong thời kỳ thuộc địa, Pháp đã quản lý chúng, và sau Hiệp định Genève, Nhà nước Nam Việt Nam, cho đến tận năm 1975, luôn luôn khẳng định và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam trên các quần đảo này.
Bác bỏ nguyên tắc ngăn chặn
Trong pháp luật quốc tế, ngăn chặn là một nguyên tắc theo đó một nhà nước phải được coi như liên hệ với hành vi của nó trong quá khứ, và do đó không thể khẳng định một tuyên bố mới, không thể tuyên bố hoặc hành động mâu thuẫn với những gì mà nhà nước đó đã tuyên bố hoặc thực hiện từ trước, để bảo toàn tính chất chắc chắn pháp lý và sự tin cậy giữa các quốc gia. Tuy nhiên, ngăn chặn không có nghĩa là một nhà nước bị ràng buộc bởi tất cả những gì mà nhà nước đó đã tuyên bố.
Theo lý luận, có bốn điều kiện phải được đáp ứng.
(i) Tuyên bố hoặc quyết định phải được thực hiện bởi một cơ quan có thẩm quyền một cách rõ ràng và không lập lờ nước đôi.
(ii) Nhà nước tuyên bố "ngăn chặn" phải chứng minh rằng nhà nước này đã có được lòng tin trong cam kết mà nhà nước này đã thực hiện và hành động đúng theo;
(iii) Nhà nước phải chứng minh rằng quốc gia của mình đã bị thiệt hại hoặc quốc gia kia đã hưởng lợi.
(iv) Nhà nước đã cam kết phải thực hiện nhất quán và luôn luôn nhất quán.
Kết quả là, nhà nước phải bày tỏ ý định quả quyết muốn được ràng buộc bởi cam kết này và sẽ tôn trọng nó.
Phân tích của chúng tôi đối với tuyên bố của ông Phạm Văn Đồng thấy nó không hội đủ nguyên tắc ngăn chặn nói trên, một số điều kiện còn thiếu, đặc biệt, dự định nhằm công nhận chủ quyền của Trung Quốc trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa không hề được trình bày một chút nào trong bản tuyên bố này.
Những tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc không còn phải là những tuyên bố của năm 1958. Các lợi ích địa chiến lược và kinh tế đang chi phối chính trị Trung Quốc.
Sự thể hiện ý chí về quyền lực, dựa trên sự hồi sinh của các giá trị Khổng giáo, vốn là phương thức phục hồi chủ nghĩa quốc gia dân tộc trong người dân Trung Quốc cũng đang gặp lại sự đáp ứng đối lại từ lòng yêu nước của người dân Việt Nam.
Tất cả những nhân tố này, không nghi ngờ gì, sẽ làm cho việc giải quyết tranh chấp về chủ quyền ở Biển Đông trở nên vô cùng khó khăn.  Duy Tân Joële Nguyễn

Thử thách lớn nhất đối với Trung Quốc: không phải là Hoa Kỳ, mà chính là Trung Quốc


Anka Lee - Bản tiếng ViệtNguyễn Quốc Khải
Vào tháng Hai vừa qua, tại bữa tiệc danh dự để khoản đãi ông, Phó Chủ Tịch (PCT) Nhà Nước Trung Quốc Tập Cận Bình (Xi Jinping) đã nâng ly chúc mừng Tiểu Bang Iowa một cách cảm động theo như tờ báo Des Moines Register mô tả. Cách đây một phần tư thế kỷ, Ông Tập Cận Bình đã đến thăm Iowa với tư cách là một viên chức địa phương. Năm nay ông trở lại đây với tư cách một nhà lãnh đạo quốc gia với chủ đích nới rộng sự quen biết quốc tế. Trước sự hiện diện của các nhân vật lãnh đạo của Iowa, PCT Tập Cận Bình chia xẻ những kỷ niệm thời trẻ như đọc truyện của Mark Twain và sự đam mê dòng sông Mississippi. Trong chuyến đi mới nhất này, một lần nữa ông rất vui thích được ngắm nhìn mặt trời mọc ở thành phố Muscatine. Ông Tập Cận Bình, người đã thu hút được cảm tình của vùng đất trung tâm của nước Mỹ, sẽ chính thức trở thành chủ tịch nhà nước của Trung Quốc tại Đại Hội Đảng lần thứ 18 ở Bắc Kinh vào tháng 10 sắp tới.
Trong khi vóc dáng quốc tế của Trung Quốc ngày càng lên cao cùng với tầm mức quan trọng về chính trị và kinh tế, người ta có thể kết luận rằng dân chúng Trung Quốc trông đợi Ông Tập Cận Bình sẽ có một vóc dáng cao hơn trên sân khấu quốc tế. Là một nhà lãnh đạo của một cường quốc thế giới, Ông Tập Cận Bình sẽ phải dành nhiều thời gian cho bang giao quốc tế, chủ xướng những cuộc thảo luận về những vấn đề thế giới, tiếp súc với những khán thính giả ngoại quốc như công dân Iowa, trình bầy rõ ràng vai trò và ảnh hưởng của Trung Quốc. Tuy nhiên trên thực tế, Ông Tập Cận Bình sẽ có thể bị bận bịu với những thử thách kinh tế và xã hội mà Trung Quốc sẽ rất có thể phải đối phó trong 10 năm sắp tới.
Là một nhà lãnh đạo kế tiếp của Trung Quốc, một trong những quan tâm của của Ông Tập Cận Bình là việc quản trị những thử thách về kinh tế đang bắt đầu xuất hiện. Đặc biệt, ông sẽ phải hướng dẫn Trung Quốc qua một giai đoạn hỗn loạn nhất trong tiến trình chuyển tiếp từ một nền kinh tế tập trung vào xuất cảng qua một nền kinh tế dựa vào tiêu thụ trong nước. Trong 30 năm vừa qua, những công nhân trẻ, khỏe mạnh, hưởng lương thấp đã giúp cho khu vực công nghiệp phát triển.
Tuy nhiên trong những năm gần đây, hệ thống kinh tế của Trung Quốc ngày càng có nhiều vấn đề. Khi những người tiêu thụ ở Âu Châu, Nhật Bản, và Hoa Kỳ phải giảm tiêu thụ vì những khó khăn kinh tế trong nước, một nền kinh tế tập trung vào xuất cảng đã chứng tỏ không thể bền vững được với những hàng hóa không bán được – từ đồ chơi cho đến xe hơi — ứ đọng trong các xưởng chế tạo và phòng trưng bầy trên khắp nước. Lương bổng thấp, từng là một tích sản lớn nhất của Trung Quốc giúp lôi cuốn đầu tư vào ngành công nghiệp, đã tăng trong nhiều năm nay khiến cho môt số người, như Boston Consulting Group, tiên đoán rằng ngành công nghệ sẽ phục hưng tại Hoa Kỳ. Trong khi đó, nếu tình trạng tiếp tục tồi tệ hơn và nạn thất nghiệp gia tăng trên toàn quốc, chính quyền Trung Quốc sẽ đặc biệt phải lo ngại về bất ổn xã hội, như đã xẩy ra trong thời gian đầu của cuộc khủng hoảng tài chánh 2008.
Trong trung hạn, thử thách kinh tế của Trung quốc sẽ gây ra bởi yếu tố nhân chủng …. Như tạp chí The Economist đã tường thuật, những con số thống kê mới nhất của chính phủ Trung Quốc cho thấy rằng mức tăng trưởng dân số trung bình hàng năm của Trung Quốc là 0.57% trong thập niên đầu tiên của thế kỷ 21, giảm xuống từ mức tăng trưởng trung bình của thập niên 1990 là 1.07%. Kết quả là dân số Trung Quốc già đi. Người ta nghĩ rằng sở dĩ có sự thử thách này là do chính sách một con của Trung Quốc hoặc một sự kiện là khi quốc gia hiện đại hóa và trở nên giầu hơn, người dân có khuynh hướng sống lâu hơn và có ít con hơn. Dù bất cứ vì nguyên nhân nào, khi dân số Trung Quốc già trước khi nước giầu, nhà nước sẽ cần phải kiếm cách để tài trợ hệ thống an sinh tốt hơn và những nhu cầu gia tăng khác của lớp người lớn tuổi.
Khi Ông Tập Cận Bình, cùng với nhóm người lãnh đạo mới, đối phó với những thử thách này và dần dần cải tổ hệ thống kinh tế để đáp ứng những diễn tiến về xã hội, kinh tế, chính trị, và nhân chủng ở trong và ngoài nước, họ cũng sẽ phải đương đầu với toàn thể nhân dân Trung Quốc ngày càng quyết tâm đòi hỏi và bảo vệ quyền lợi sau 30 năm phát triển một cách nhanh chóng nhưng thô bạo và thường thiếu bình đẳng. Nhân dân Trung Quốc có thể không đòi hỏi chế độ thay đổi, nhưng chắc chắn họ sẽ đòi chính quyền hiện nay đáp ứng những nhu cầu của họ nhiều hơn.
Nói tóm lại, Ông Tập Cận Bình và nhóm lãnh đạo sắp tới sẽ thừa kế một nước Trung Hoa giữa một giai đoạn chuyển tiếp tế nhị. Hệ thống kinh tế tập trung vào xuất cảng mà những nhà lãnh đạo Trung Quốc đã dựa vào trong nhiều thập niên vừa qua đã đem lại nhiều lợi ích lớn lao cho đất nước của họ. Tuy nhiên trong tiến trình này, nó cũng làm xã hội Trung Quốc căng thẳng một cách đáng kể. Hậu quả của tình trạng này nay chỉ mới bắt đầu ló rạng. Sức ép gia tăng từ bên trong, cộng với một sự thực là những nền kinh tế đã phát triển không còn chống đỡ nổi hệ thống kinh tế tập trung vào xuất cảng của Trung Quốc. Điều này có nghĩa là cần phải có những cố gắng để tái lập cân bằng ở trong nước và tiếp đến là ở quốc ngoại.
Mức quan trọng của những thử thách nội bộ đã được thảo luận công khai tại Trung Quốc. GS Cui Liru, Giám Đốc Viện Nghiên Cứu Bang Giao Quốc Tế của Trung Quốc có liên hệ với chính quyền, trong một bài tiểu luận, đã xác nhận rằng nhiệm vụ sắp tới của Bắc Kinh rất là lớn lao và sẽ đòi hỏi những cố gắng tích cực của cả chính quyền lẩn dân chúng. GS Cui lập lập rằng việc chính quyền chuyển hướng xây dựng một hệ thống an sinh xả hội và cải thiện phúc lợi của dân chúng sẽ là những thí dụ cụ thể để chứng minh rằng chính quyền giữ những lời hứa về công lý, công bằng xã hội, phồn thịnh, và hòa hợp. Ông nói tiếp rằng đó cũng chính là những yếu tố cấu tạo thành nền tảng pháp lý cho sự cai trị lâu dài của Đảng Cộng Sản Trung Quốc.
Như tôi đã từng tranh luận trong quá khứ rằng những nhà hoạch định chánh sách của Hoa Kỳ cần phải định lượng những thử thách nội bộ của Trung Quốc một cách thực tế nếu họ muốn hiểu ý định, sự bất an, ảnh hưởng của chính sách của Trung Quốc đối với kinh tế thế giới, bang giao với Washington, và sau cùng là vị trí quyền lực của Trung Quốc trong hệ thống quốc tế hiện hữu. Vấn đề quan hệ nhất không phải là khả năng trình diễn của Ông Tập Cận Bình về chính ông và Trung Quốc ở nước ngoài — mặc dù điều này chắc chắn quan trọng — mà chính là ông sẽ thành công như thế nào trong việc hướng dẫn Trung Quốc qua những chuyển tiếp khó nhọc nhưng cần thiết trong 10 năm sắp tới. Trong lãnh vực này tất cả những quốc gia đều không có gì khác biệt cả: như một chính trị gia nổi tiếng [Tip O’neill] đã từng nói “tất cả chính trị là địa phương.”
Anka Lee (Diplomat)
September 02, 2012
Bản tiếng ViệtNguyễn Quốc Khải
© Đàn Chim Việt

No comments:

Post a Comment