Saturday, November 19, 2016

Bài viết hay(4150)

Tui đưa con trai vô playground trong McDonald's ở gần Costco Garden Grove chơi. Bất chợt có 1 đứa bé VN khoảng 6, 7 tuổi lại chơi xấu khi cố tình đạp trên đầu và đánh vô bụng con trai tui mới hơn 2 tuổi. Thấy vậy, tui đến nhắc nhở cháu bé và mắng vốn với ông bà của cháu đứng gần đó mà hổng dè ông bà của cháu lại tỉnh bơ cười chứ không thèm dạy cháu. Thất vọng quê nên tui ra gặp manager McDonald's để than phiền và ông ta đến gặp cháu và cả ông bà của cháu để hỏi rõ sự việc và nhắc nhở. Một lần nữa, tui hổng dè ông chửi thề ĐM. rồi te te kêu bà đưa cháu ra xe mà thái độ hầm hừ y như muốn đánh lộn! Văn hoá Bolsa là như vậy sao? Không khá nỗi!
mediaTrump đắc cử, thế giới trở nên vô định 
Nếu như việc cử tri Anh Quốc bỏ phiếu thuận cho Brexit đã là một trận động đất đối với Liên Hiệp Châu Âu, thì việc nhà tỷ phú Donald Trump đắc cử tổng thống là một trận động đất chính trị còn dữ dội hơn đối với toàn cầu, vì nó đưa Hoa Kỳ và cả thế giới vào một thời kỳ vô định.
Trước hết, trong suốt chiến dịch vận động tranh cử vừa qua, ứng cử viên Cộng Hòa không hề nói rõ về các chính sách mà ông sẽ thi hành, đặc biệt là trong lĩnh vực ngoại giao. Nhà tỷ phú New York đúng là đã hứa sẽ tái lập sự hùng mạnh cho Hoa Kỳ, nhưng điều này có nghĩa là phục hồi thịnh vượng cho dân Mỹ, chứ không phải theo hướng để cho cường quốc quân sự hàng đầu thế giới này can dự ra bên ngoài. Nói cách khác, với Trump làm tổng thống, Hoa Kỳ có thể sẽ thu mình lại, đi theo hướng chủ nghĩa biệt lập.
Thật ra thì trong thời gian tranh cử, nhà tỷ phú New York, một người chưa hề có kinh nghiệm về ngoại giao hay quân sự, đã có đưa ra một số ý tưởng chủ đạo giúp chúng ta có thể mường tượng về chính sách đối ngoại của tổng thống tân cử Hoa Kỳ.
Đối với châu Âu, ông Donald Trump, vốn ủng hộ Brexit, vẫn cho rằng Liên Hiệp Châu Âu nên tự lo lấy thân và nhất là tự tài trợ cho phòng thủ của họ, hơn là cứ núp mãi dưới cây dù Mỹ. Nói cách khác, theo ông, khối NATO chỉ có thể vận hành được và Hoa Kỳ có thể ứng cứu một đồng minh bị tấn công, nếu các quốc gia châu Âu tăng ngân sách quốc phòng.
Trong thời gian qua, ông Trump vẫn chỉ trích chính sách can thiệp ra bên ngoài của Hoa Kỳ, cũng như không chấp nhận các chiến dịch quân sự do chính quyền George W. Bush tung ra. Tuy vậy, ông cũng đã tỏ ý muốn gia tăng lực lượng quân đội Mỹ và thề sẽ « hạ nốc ao » quân thánh chiến Hồi Giáo. Có điều tổng thống tân cử của Mỹ không nói rõ ông sẽ làm bằng cách nào.
Mặt khác, tuy nhà tỷ phú New York đã nhiều lần ca ngợi tổng thống Putin, « một lãnh đạo xuất sắc hơn Obama », nhưng chưa ai rõ là nước Mỹ với tân tổng thống Donald Trump sẽ có quan hệ ra sao với nước Nga. Nhưng có lẽ là ông sẽ không dễ dàng bán rẻ các lợi ích của Hoa Kỳ ở châu Âu, cho dù sẽ tìm cách cải thiện quan hệ với Matxcơva.
Đối với các đồng minh của Mỹ ở châu Á, ông Trump cũng đã từng yêu cầu Nhật Bản, Hàn Quốc hãy tự bảo vệ lấy thân, nếu cần sẽ cho các nước này được trang bị vũ khí nguyên tử, hơn là dựa vào sự che chở của Hoa Kỳ. Nhưng ông cũng không nói rõ sẽ có chính sách như thế nào để ngăn chận tham vọng hạt nhân của Bắc Triều Tiên.
Trong thời gian tranh cử, ông Trump cũng đã nhiều lần tuyên bố muốn rút ra khỏi hiệp định Paris về chống biến đổi khí hậu. Chưa biết là tân tổng thống Mỹ sẽ dám làm như thế hay không.
Cuộc vận động tranh cử của nhà tỷ phú New York một phần cũng là đi theo hướng bác bỏ toàn cầu hóa và các hiệp định thương mại quốc tế, mà ông cho là đã góp phần phá hủy việc làm của dân Mỹ. Ông Trump cũng đã tỏ ý muốn tái lập các hàng rào thuế quan đối với hàng hóa Trung Quốc, nhưng đồng thời ông cũng bác bỏ hiệp định tự do mậu dịch Đối Tác Xuyên Thái Bình Dương TPP giữa Hoa Kỳ với các nước châu Á.
Về tranh chấp chủ quyền Biển Đông, ông Trump cũng chưa nói rõ lập trường của ông, trong khi đây là một trong những hồ sơ gai góc nhất trong quan hệ Mỹ-Trung.
Các định chế chính trị Mỹ cho tổng thống nhiều quyền hành động trong chính sách ngoại giao hơn là trong các vấn đề chính trị đối nội, tức là ông Trump sẽ rảnh tay thực hiện đường lối ngoại giao của ông theo hướng chủ nghĩa biệt lập. Tuy nhiên, người ta có thể hy vọng là, giống như trường hợp của Ronald Reagan trước đây, tổng thống Trump một khi bước vào Nhà trắng ngày 20/01 năm tới, đối diện với những thực tế, sẽ có thái độ thực dụng hơn. Điều này còn tùy thuộc còn thành phần êkíp mà ông sẽ thành lập trong thời gian chuyển tiếp. Chỉ sợ là ông Trump sẽ làm theo ý mình hơn là nghe lời các cố vấn!
Obama Kêu Gọi Lương Tâm Do Thái — Obama appeals to Israel’s conscience
Diễn văn của Tổng Thống Obama nói với sinh viên đại học ở Jerusalem là một bài diễn văn hùng hồn, hấp dẫn, đem lại thắng lợi lớn cho tổng thống. Cuối cùng, ông đã thuyết phục Do Thái và những người ủng hộ. Một người gửi e mail cho tôi xác định: “Tổng thống làm được điều ông ước muốn”. Ông là vị tổng thống Hoa Kỳ đầu tiên dám can đảm nóí thẳng cảm nghĩ của mình về tình trạng Do Thái chiếm đóng lãnh thổ Ả Rập, cũng như hoàn cảnh của nước Palestine. Từ trước đến nay chưa có vị tổng thống Mỹ nào dám nói ra điều này. Có lẽ con đường duy nhất có hoà bình là để cho người Palestine có một quốc gia riêng, và kêu gọi lương tâm nước Do Thái. 
Trong suốt 40 năm qua, bất cứ ai tìm cách đẩy Do Thái đến chỗ nhượng bộ, người ấy đều vạch ra những nguy hiểm, đe doạ đang nhắm vào Do Thái. Quốc gia này bị kẻ thù bao vây tứ phía, và con đường duy nhất để có thể giảm bớt thù nghịch là hãy cho người Palestine một mảnh đất để họ có một quốc gia riêng. Có người còn đưa ra lý luận nói rằng phong trào khủng bố Palestine sẽ làm cho người Do Thái mất ngủ bằng cách ngày nào cũng đánh khủng bố, cho đến khi nào người Do Thái chịu cho họ định cư tại một nơi. Những giả thuyết này tạo thành những áp lực buộc Do Thái phải nhượng bộ, và đó cũng là đường lối đi tìm hoà bình của ông Obama trong nhiệm kỳ đầu.
Lý luận như trên phản ảnh trung thực tình hình vùng Trung Đông vào thời thập niên 1980’s và 1990’s. Khi đó Do Thái phải đối phó với một số nước Ả Rập có lực lượng quân đội hùng mạnh – chẳng hạn như Iraq và Syria. Những nước này thề rằng họ sẽ tiêu diệt Do Thái bằng mọi giá. Liên Bang Sô Viêt lúc bấy giờ đứng sau lưng, liên tục yểm trợ những nước Ả Rập bằng tiền bạc, vũ khí. Họ còn kêu gọi thế giới tẩy chay, chống phá Do Thái. Người dân Do Thái sống trong tâm trạng bị quân khủng bố Palestine đe doạ thường xuyên.
Nhưng tình tình thế giới ngày nay hoàn toàn thay đổi về mọi mặt. Liên Bang Xô Viết hầu như đã hoàn toàn chết hẳn. Iraq và Syria đang ở vào cái thế không còn là kẻ thù đáng sợ nữa. Thế giới Ả Rập đã chuyển biến rất nhiều, có nhiều bất trắc, song hầu như nước Ả Rập nào cũng trở nên suy yếu. Bây giờ tất cả những nước này đều chỉ lo tập trung vào những vấn đề riêng ở trong nước như củng cố quyền lực, tạo được sự chính danh đối với dân chúng, và tìm con đường để sinh tồn. Tất cả các nước này đều muốn né tránh, không muốn đối đầu với một nước Do Thái đang ở thế chủ động ở trong vùng.
Tài liệu thống kê mới nhất của Qũi TiềnTệ Quốc Tế chứng minh rõ điều này: Lợi tức tính trên đầu người của Do Thái gấp chín lần Ai Cập, gấp sáu lần Jordan, và gần gấp ba lần Thổ Nhĩ Kỳ, hơn hẳn Ả Rập Sê U gần 50%. Ngân sách quốc phòng của Do Thái lớn hơn tổng số kinh phí quốc phòng của tất cả các nước láng giềng gộp lại. Chưa kể kỹ thuật về quân sự, và khả năng tác chiến của quân lực Do Thái và đồng minh của họ thuộc loại siêu đẳng nhất thế giới. Do Thái còn có những phương pháp chống khủng bố rất hữu hiệu. Họ xây bức tường ngăn cách dân Palestine với dân Do Thái, họ lập ra “vòm trời sắt”, ngăn ngừa đạn pháo kích, khiến cho mọi kế hoạch đánh khủng bố của quân khủng bố Palestine hầu như không ảnh hưởng gì đến dân Do Thái.
Ngay cả điều một vài chính khách Do Thái như Nafiali Bennett gọi là “sự đe doạ về nhân chủng’ cũng không ảnh hưởng gì đến người Do Thái. Tóm lại là người Do Thái đã cai trị hàng triệu người Palestine trong 40 năm, song vẫn không cho người Palestine qui chế công dân. Cho đến nay chưa thấy có dấu hiệu gì thay đổi về qui chế này. Các bức tường, trạm kiểm soát trên trục lộ giao thông đều hoạt động hữu hiệu để cai trị 4 triệu người Palestine cũng như 3 triệu người Do Thái.
Cả hai phe: phe diều hâu, chủ trương Do Thái cần có thái độ cứng rắn, cũng như phe bồ câu chủ trương hoà bình, đều cho rằng ý niệm duy trì tình trạng một nước Do Thái rất nguy hỉểm. Đối với phe Likudniks, tức phe bảo thủ, cực hữu, tình trạng này khiến cho Do Thái gặp nhiều rủi ro, lúc nào cũng cần sự ủng hộ của các nước khác. Phe bồ câu thì cho rằng hoà bình là nhu cầu tât yếu để sinh tồn.
Sức mạnh và nền an ninh của Do Thái làm thay đổi viễn tượng tương lai của đất nước. Xin đừng để ý đến quan điểm cứng rắn từ phía hữu mới hình thành. Bình luận gia Ari Shavit viết trong bài nhận định mới của ông. Trong đó, ông phân tích rằng đất nước Do Thái bây giờ đang chuyển nỗ lực chú tâm từ vấn đề sinh tồn sang vấn đề công bằng kinh tế và xã hội. Kết quả bầu cử tháng Giêng vừa qua xác định xu hướng này. Mới nghe, chúng ta cứ tưởng rằng đây là một vấn đề quốc nội, nhưng thực ra, nó sẽ dẫn đến những quan ngại liên hệ đến công bằng xã hội theo nghĩa bao quát, gồm cả những quyền cơ bản cho người Palestine sống trên phần đất này.
Bài diễn văn của ông Obama kêu gọi yếu tố tâm lý của nước Do Thái. Giá trị đạo đức về công bằng xã hội có nguồn gốc sâu xa trong văn hoá Do Thái. Đạo đức Do Thái khẳng định “Nước Do Thái coi trọng giá trị công bằng xã hội không những trong lịch sử, trong truyền thống của nước này mà còn dựa trên ý kiến tin rằng mọi người sinh ra đều có quyền hưởng tự do trên mảnh đất mình sinh sống.”.Do đó, nếu dùng ý niệm này diễn dịch theo quan điểm của những người chống Do Thái, chúng ta thấy họ thật là có lý. Họ lý luận: “Nếu nhìn theo nhãn quan của người Palestine thì thế giới này bất công với người Palestine. Một đứa trẻ Palestine khi lớn lên không được trưởng thành trong đất nước của mình. Đưá trẻ đó phải sống cả đời của mình trong sự hiện diện của quân đội ngoại quốc. Lực lượng vũ trang đó kiểm soát mọi hành vi của đứa trẻ, của cha mẹ, và ông bà của đứa trẻ. Ngày nào cũng bị theo dõi kiểm soát.”
Tổng thống Obama đã dùng đủ mọi phương cách: thuyết phục, nói cứng, tạo áp lực, và cuối cùng ông áp dụng chiến thuật mới. Đó là kêu gọi lương tâm nước Do Thái. Một quốc gia có thể chế dân chủ cấp tiến, và kêu gọi tấm lòng tử tế, và lương tâm của người dân Do Thái. Về lâu về dài, có lẽ đây sẽ là lộ trình tốt nhất để có hoà bình, và một nước Palestine tự trị.
Obama appeals to Israel conscience – Fareed Zakaria  
Washington Post ngày 27/3/2013
Nguyễn Minh Tâm dịch
www.vietthuc.org 
Khu Định Cư Mới Của "Việt cộng" Ở Quận Cam
https://i.ytimg.com/vi/s2JAbEVAgj4/hqdefault.jpgTrên con đường dài dẫn ra biển Hungtington Beach, Quận Cam, có những khu nhà rất đẹp mà chủ hầu hết là người Việt. Họ là những người rất trẻ, hoặc đó là những gia đình bình thường nhưng sống khép kín. Bạn tôi, một người đã sống ở nơi này, gần bằng thời gian của thế hệ người Việt đầu tiên đặt chân đến Mỹ sau tháng 4/1975, nói rằng đó là những khu định cư mới của “Việt cộng”.


Những ngôi nhà đó được mua rất nhanh trong khoảng vài năm gần đây – mỗi căn từ 450.000 cho đến hơn 1 triệu USD, cho thấy có một nguồn ngoại tệ khổng lồ được chuyển ra khỏi nước Việt Nam, để xây dựng một ước mơ thầm kín và khác biệt bên ngoài tổ quốc của mình. 


Phần lớn những người này đều nói giọng miền Bắc, mới. Họ có một lối diễn đạt thời thượng thật dễ gây ấn tượng. Anh bạn tôi, một người làm real estate – môi giới mua bán bất động sản ở Mỹ – kể lại cuộc trò chuyện với một khách hàng như vậy, và được biết nhà được mua ngay bằng tiền mặt, mà người khách dằn giọng “tiền tươi!”.


Không chỉ ở nơi đó, nhiều năm gần đây, cộng đồng Việt Nam ở Texas cũng hay nói với nhau rằng khu Bellaire đang ngày càng nhiều những người chạy khỏi Việt Nam hợp pháp như vậy. Thậm chí, không chỉ xuỳ tiền nhanh để mua nhà – lớp người này rất nhiều tiền – họ mua luôn các cơ sở thương mại. Từ các tiệm nail với giá vài chục ngàn cho đến các siêu thị giá trên chục triệu USD, một thế hệ khác chính kiến, khác tư duy đang len lỏi vào các cộng đồng Việt Nam chống Cộng để mong an cư và sinh tồn. Nơi quần cư cho tiếng Việt, văn hoá Việt không chấp nhận chế độ cộng sản mà nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng từng gọi là “một Việt Nam bên ngoài Việt Nam”.


Có lẽ vì vậy, mà ở các khu người Việt như vậy, biển quảng cáo của các luật sư di trú ngày càng nhiều. Trên đài phát thanh hay truyền hình cũng ra rả các lời mời tư vấn tìm hiểu cách lấy thẻ xanh để được ở lại nước Mỹ.


Sẽ là một điều chua chát, nếu nhìn lại lịch sử. Dù nước Mỹ vẫn bị gọi là thua trận và bị “đuổi” khỏi Việt Nam theo các văn bản tuyên truyền, nhưng đích đến giờ đây của nhiều quan chức Việt Nam vẫn là nước Mỹ chứ không là đồng minh số một Trung Quốc. Thậm chí các quan chức, giới tư bản đỏ hiện tại của Việt Nam còn bỏ ra rất nhiều tiền để được trụ lại quốc gia thù địch đó, cho mình là cho con cái của mình. 


Nhiều người Việt Nam sống bằng đồng tiền lương thiện ít ỏi của mình tại Mỹ đã ngạc nhiên hỏi rằng “họ là ai, sao giàu vậy”. Thật không dễ trả lời. Trong những người đến Mỹ hay bất kỳ quốc gia phương Tây thù địch nào khác, có những người làm mọi cách như một cuộc tỵ nạn về an sinh, giáo dục… nhưng cũng có những người chạy đi, để âm thầm đào thoát khỏi lý tưởng của mình.


Anh Mến, một người sống ở Kansas chỉ hơn 10 năm, trong một cuộc gặp ngẫu nhiên đã thảng thốt kể rằng anh chứng kiến những người Việt đến Mỹ mua một lúc 2,3 căn nhà. Thậm chí họ còn luôn đón mua hàng chục chiếc Iphone đời mới nhất để gửi về, so với anh đến nay vẫn còn mắng con khi thấy chúng xài viết chì được phân nửa đã vứt đi. “Việt Nam bây giờ dễ kiếm tiền lắm hả anh?”, anh Mến ngơ ngác hỏi.


Thật khó mà giải thích với anh Mến, dù cùng là người nói tiếng Việt với nhau. Vì ngay ở quê hương lúc này, hàng triệu người đang nuốt các bữa ăn công nhân hàng ngày tệ bạc đến mức như công khai bào mòn tuổi xuân của họ. Những vùng quê đói nghèo phải xin gạo trợ cấp mỗi năm, nhưng đầy dẫy các quan lớn vẫn lên nhà cao, tậu xe to và viết các dự án xây tượng đài hàng ngàn tỉ.


Trường St Polycarp ở thành phố Staton, Quận Cam, là một trong những trường tư thục Công giáo mà nhiều gia đình người Việt dù tốn tiền nhưng vẫn hay gửi con vào vì mong chúng học kiến thức, và học được cả đức tin. Thỉnh thoảng, cũng có những gia đình đem con đến và cho con cái làm quen với Jesus thay cho học tin vào một lãnh tụ. Năm ngoái, chiếc xe đỗ trước cửa trường đưa đứa trẻ vào học, có cả ông bà theo để xem nơi học thế nào. Đó là những người vẫn còn mang đậm phong thái cán bộ với quần áo, giày dép vả cả giọng nói. 


Khi gia đình này bước qua sân trước, vòi nước tự động tưới cây bất ngờ bị hư, nên làm tràn ra một vũng nước. Người phụ nữ lớn tuổi bước qua, càu nhàu “Thế này là không được. Phải nói nhà trường xem lại coi chứ thế này thì đi hư hết cả giày”. Thấy tôi là người Việt, đang đứng gần ở nơi bán hàng gây quỹ cho trường, nên bà nói luôn “Anh có làm ở đây không, anh nên nói với ban giám hiệu”.


Tôi nhớ đến Sài Gòn, Hà Nội… nhớ những ngày nước ngập lụt lội đến tận giường. Nhớ đến những mùa nhập học hàng ngàn phụ huynh vật vã, lê lết khắp nơi chạy trường cho con mình, dù phải gửi lót tay. Có lẽ người Việt đã quen sống vất vả và chịu đựng nên mọi thứ quen dần, đến khi tiếp cận với một đời sống tự do và dân chủ, ai cũng hăng hái tìm và thể hiện quyền của mình. Dĩ nhiên vòi nước được sửa ngay sau ấy không lâu, mà ban giám hiệu không đổ thừa cho biến đổi khí hậu hay thiếu tiền ngân sách. Gia đình đó khi quay lại hôm sau, chắc sẽ hài lòng và nghĩ mình được tôn trọng, khác với những ngày tháng mà bao nhiêu người dân ở quê hương giận dữ với hiện trạng nhưng thấy mình luôn bị biến thành trò hề. Bài học của cuộc sống đơn giản hiện rõ trên gương mặt của gia đình đó, mà tôi thấy, là sự tự tin và quyền của con người, có thể rất khác khi họ ở Việt Nam, bị cảnh sát giao thông ngoắc xe vào vô cớ, đã vội móc túi tìm vài trăm ngàn để lướt qua nan đề thật nhanh.


Một trong những câu nói nổi tiếng của nhà văn, diễn thuyết gia John Mason, cũng là tựa đề một quyển sách nổi tiếng của ông, có tựa đề “Bạn được sinh ra như một nguyên bản, vậy đừng chết như một phiên bản” (You were born an original. Don’t die a copy) có lẽ là một trong những động lực thúc đẩy âm thầm nhưng mãnh liệt trong lòng người Việt từ nhiều đời nay. Đã có rất nhiều người ra đi, để được thấy mình và con cái của mình được sống như là chính mình, như một nguyên bản. Nhiều năm sau 1975, vẫn có những dòng người ra đi rất xa khỏi quê hương để tìm lại phần nguyên bản của mình. 



Nghèo khó, họ có thể thành người rơm ở Anh hay bị xua đuổi ở Campuchia. Giàu có, họ trở thành những kẻ lưu vong hoặc nhấp nhổm với cuộc sống mới mà mắt vẫn đau đáu về quê nhà. Lịch sử thế giới chắc sẽ lại phải ghi thêm một chương kỳ lạ. Con người và muông thú lên thuyền ông Noah để gột sạch mình cho một thế giới mới, nhưng người Việt hôm nay lại lặng lẽ lên chiếc thuyền mong cứu chuộc nguyên bản của đời mình, cứu chuộc một cuộc sống đơn giản, thật thà và tự do.


Nhưng tại sao chúng ta không thể là nguyên bản ở quê hương mình? Vì sao chúng ta phải sống không là mình nơi chôn nhau cắt rốn của mình? Tôi đang hình dung người đàn ông có xe hơi đắt tiền không bỏ xe giữa con đường ngập nước ở Sài Gòn mà ông ta cùng nhiều con người nữa đang ướt sủng sẽ đi thẳng đến cơ quan nhà nước để hỏi rằng vì sao? Tôi hình dung gia đình Việt Nam di cư đến Mỹ đó sẽ không chất vấn một ban giám hiệu ngoại quốc về của công, mà sẽ cất tiếng nói như vậy trên chính đất nước mình? Một cuộc sống thật và đơn giản – nguyên bản vì sao đang phải bị đánh tráo bằng những phiên bản vô hồn và nhạt nhẽo?


http://2.bp.blogspot.com/-02NTGHG5X8M/VJEr6kJ2BKI/AAAAAAAAADI/OoYga9RORfM/s1600/ocean-villas.jpgChúng ta được dặn dò hãy chỉ nên lo làm ăn, và đừng quan tâm đến chuyện gì khác. Và nhiều người Việt đã rất mất rất nhiều thời gian để làm được điều đó rồi giật mình nhìn thấy thế giới này không chỉ no đủ là tất cả. Không ít người giàu có, thậm chí quan chức đã dồn tất cả để ra đi và đổi một cuộc sống khác. Thậm chí đó là cuộc sống mà trước đây họ bảo vệ và coi những kẻ từ bỏ, ra đi là thù nghịch.

Cuộc sống đang như vậy. Rất hiện thực. Khi viết một bài trước đây, một bạn trẻ, có khuynh hướng dư luận viên, đã nhắn cho tôi “vậy cứ nghèo đi, nghèo hoài đi”. Dĩ nhiên, đó lại là một khái niệm khác, mà nếu hiểu những gì tôi viết ắt bạn trẻ ấy sẽ không nói như vậy. Vì câu hỏi của tôi rất rõ rằng chúng ta – người Việt, đang cố giàu lên và sau đó là gì?



Nhạc sĩ Tuấn Khanh, viết từ Sài Gòn 
Obama is now alone in Washington While we are consumed with the ups and downs of the bizarre U.S. presidential campaign, Barack Obama will make his last trip to Asia as president. The direct purpose of his trip to China is to attend a meeting of the Group of 20, but perhaps more importantly, the visit is intended to breathe life into one of his big ideas: the pivot to Asia. It is a genuinely important policy, but Obama is now the last man standing willing to push for it.
Foreign policy is consumed with momentary crises — often created by failing states and violent groups. But in the long run, the future is shaped by winners, not noisy losers. And when the flash points of today have passed, the rise of Asia will remain the dominant trend of our time.
The Pacific will be the arena that defines the 21st century. According to the World Bank, in just 10 years, four of the five largest economies in the world will be in the Asia-Pacific region. The United States will be able to shape the 21st century only if it remains a vital Pacific power.
How should Washington approach this region? One central task is obviously to prevent China from dominating it. That job has been made somewhat easier by Beijing’s recent expansionist moves, especially in the South China Sea. These actions illustrate the challenge China faces — it is not rising in a vacuum. Asia is a crowded continent, and every aggressive move by Beijing produces an angry reaction from neighbors such as Vietnam and the Philippines. India, which has resisted any moves that would suggest it is ganging up with the United States against China, has nonetheless moved in that direction in recent weeks. The Obama administration has also enhanced security cooperation with a range of traditional allies such as Japan, Australia and Singapore.
But Washington’s policy is not containment. It can’t be. China is not the Soviet Union but rather the most important trading partner for every country in Asia. The larger project, writes Kurt Campbell, who was until 2013 the State Department’s top Asia hand, in his smart book “The Pivot,” is “to strengthen Asia’s operating system — that is, the complex legal, security and practical arrangements that have underscored four decades of Asian prosperity and security.” That means bolstering freedom of navigation, free trade, multilateral groups and institutions, transparency and accountability, and such diplomatic practices as peaceful resolution of disputes.
The most vital of these right now, Campbell notes, is trade. The Trans-Pacific Partnership is the sine qua non of Washington’s pivot to Asia because it works at many levels simultaneously — economic, political and strategic. It boosts growth, shores up U.S. alliances, sends a powerful signal to China and, most importantly, writes the rules of the 21st century in ways that are fundamentally American. Without it, expect China to begin drafting those rules in ways that will be very different.
And yet the TPP is under assault from every quarter in the United States. Sen. Bernie Sanders (I-Vt.) and Donald Trump flatly oppose it. Hillary Clinton and House Speaker Paul Ryan (R-Wis.) have said that it doesn’t meet their standards anymore. What these standards are, they haven’t specified. Harvard’s Robert Lawrence has noted that for workers, the TPP’s gains far outweigh its losses.
The notion, often peddled by Trump, that the United States comes out badly in trade deals can be asserted only by someone who knows nothing about the topic. The simple reality is that the United States is the country with the largest market. As a result, it has the most leverage and — as foreign officials have often complained to me — it uses it, asking for exemptions and exceptions that few other countries get. The TPP is no different. Asian countries have made most of the concessions. And because their markets are more closed than the United States’, the deal’s net result will be to open them more.
One could argue that Sanders is speaking out of conviction, though it is strange to hear the idealistic socialist viciously denounce trade policies that have lifted hundreds of millions of the world’s poorest people out of poverty. With Trump, who knows what he actually believes? The others — most importantly Clinton and Ryan — are shamelessly adopting positions that they must know are wrong. The Republican Party has now reversed itself entirely on two of its core beliefs, immigration and trade, going from a party of openness to one that wants walls and tariffs.
With the Asia pivot, Obama is pursuing the deepest, most enduring interests of the United States. But in doing so, he is now alone in a Washington that is increasingly awash in populism, protectionism and isolationism.
(c) 2016, Washington Post Writers Group
Posted by Fareed Zakaria on September 1, 2016

No comments:

Post a Comment