Sunday, November 20, 2016

Bài viết hay(4156)

Cho dù tui đã mất dạy từ lâu rồi nhưng hễ đến ngày 20/11 là tui bồì hồi nhớ lại những ngày còn lên bục giảng với phấn trắng, bảng đen... Nghề giáo bạc bẽo lắm khi cứ như người chèo đò đưa khách sang sông mà có mấy ai nhớ về con đò cũ, bến sông xưa... Đọc tin mấy cô giáo Hà Tĩnh hầu rượu giúp vui cho các quan đỏ mà tui chỉ biết lắc đầu ngao ngán. Khốn nạn nhất là thằng bộ trưởng giáo dục mở miệng ra nói những câu lếu láo ngu chưa từng thấy ai ngu hơn nó!
 Sao phải buồn vì một chuyện bình thường?
Khi nói về phong trào dân chủ, rất thường xuyên, trong và ngoài phong trào có những người viết trên facebook những câu đại loại: “Chán”, “Chẳng còn biết tin vào ai bây giờ”, “Thế này thì bao giờ mới thắng được cộng sản”, “Buồn”…
Không tính đến những dư luận viên không bao giờ làm bất kỳ điều gì để thúc đẩy dân chủ, tự do ở Việt Nam mà chỉ chăm chăm theo dõi phong trào đấu tranh và hể hả, sung sướng mỗi khi “bọn nó đánh nhau”, có thể thấy những người chia sẻ các ý kiến như trên là có thiện ý, thành thật mong công cuộc vì dân chủ, nhân quyền thành công, và các bạn đau khổ khi giới hoạt động có biểu hiện mất đoàn kết, lục đục, chống phá lẫn nhau.
Tuy nhiên, có lẽ các bạn cũng là những người quan niệm và mong muốn rằng mọi cuộc đấu tranh vì chính nghĩa đều phải đẹp rực rỡ, mọi cá nhân dự phần ở bên chính nghĩa đều phải can đảm, trong sáng, đoàn kết và yêu thương nhau. Các bạn muốn phong trào phải đẹp, người hoạt động phải thánh thiện, đạo đức (thì mới xứng đáng để được gọi là nhà đấu tranh cho dân chủ).
Và, chắc là các bạn không hiểu, hoặc không chịu thừa nhận rằng mâu thuẫn là đặc điểm tất yếu, không thể thiếu trong mọi xã hội. Chính trị là tiến trình người ta học cách chung sống với nhau, để cùng hạn chế tác hại của mâu thuẫn, nếu có, chứ không phải triệt tiêu hoàn toàn mâu thuẫn. Một xã hội, một môi trường chính trị không có mâu thuẫn, là một xã hội, một môi trường chính trị hết sức bất thường.
Những tranh cãi, đấu đá kiểu như trong phong trào dân chủ ở Việt Nam cũng đã xảy ra trong phong trào đối kháng ở tất cả các nước khác trước chuyển đổi – Miến Điện, Ai Cập, Tunisia, Đông Âu cũ… Trước khi có những diễn biến dân chủ hóa, Miến Điện có hàng nghìn tổ chức xã hội dân sự độc lập với nhà nước (tức là “phản động”, “thế lực thù địch”, nói như ngôn ngữ của công an và dư luận viên Việt Nam). Họ cũng đánh phá nhau loạn xạ, hết chia tách lại sáp nhập, rồi công kích lẫn nhau. Một “đồng chí” rất thân thiết của lãnh tụ Aung Suu Kyi là nhà hoạt động lưu vong Khin Ohmar thì đến tận bây giờ vẫn còn lưu vong, không về nước được. Riêng chiếc logo hình con công của NLD cũng là chủ đề tranh cãi và nhiều nhóm "chửi" nhau ỏm tỏi về chuyện ai là chủ nhân của ý tưởng đó.
Và, bạn tin không, những người cộng sản Việt Nam đời đầu thật ra cũng thế. Họ cũng giành giật quần chúng, tranh cướp từng xu tài trợ nước ngoài hay tiền của các nhà hảo tâm hỗ trợ cách mạng. Họ cũng nói xấu, chơi bẩn, cắn xé lẫn nhau, Như Lý Thụy đã từng bán đứng Phan Bội Châu cho mật thám Pháp. Như Trần Phú đã ký giấy bắt Hồ Chí Minh. Thậm chí, họ có chuyện này còn tệ hại hơn các nhà dân chủ bây giờ nhiều, đó là họ giết nhau, nghĩa đen. Kẻ nào bị chi bộ nghi ngờ là phản bội đồng chí, hay là kẻ thù của cách mạng, kẻ đó sẽ bị cách mạng buộc phải “đền tội”: bắn, chém, bỏ rọ trôi sông…
So với những nhà hoạt động chủ trương đấu tranh ôn hòa bây giờ, cộng sản thời xưa kinh khủng hơn nhiều, vì họ sẵn sàng dùng bạo lực và hoàn toàn không có khái niệm "nhân quyền" hay "dân chủ" trong đầu. Họ chẳng đẹp đẽ như trong sách báo, phim ảnh tuyên truyền đâu.
Mà suy cho cùng thì con người là thế và xã hội là thế. Mâu thuẫn, cạnh tranh, đấu đá giữa các cá nhân, các phe phái sẽ tồn tại mãi mãi, ngay cả khi Việt Nam đã dân chủ hóa. Chỉ có cái khác là khi Việt Nam tương đối có dân chủ, tự do, nhà nước pháp quyền, chúng ta sẽ có cơ chế để hạn chế những tác hại của mâu thuẫn và cạnh tranh.Đoan Trang
 Căn bệnh nan y và cận kề cái chết
 Ngày 30/10/2016, tại hội nghị lần thứ tư (khóa XII) đánh dấu sự kiện ban chấp hành trung ương Đảng CSVN thừa nhận mắc 27 lỗi “Suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tự diễn biến, tự chuyển hóa” (trích nguyên văn từ ngữ của Nghị quyết số 04-NQ/TW do ông Nguyễn Phú Trọng ký ban hành).
Theo tuyên giáo trung ương và báo chí trong nước phân tích và nhận định, so với các nghị quyết trước thì lãnh đạo đảng CS kỳ này được cho là dám nhìn thẳng (mắt thấy), nói rõ (để tai nghe) và đánh giá (cầu thị) đúng “sự thật” bản chất của tập thể, cá nhân cán bộ đảng viên trong thời gian vừa qua trước áp lực của dư luận quần chúng.
Nhìn lại hơn 10 năm trước, cũng tại Nghị quyết cùng số 04/NQ-TW ban hành ngày 21/8/2006 do ông Nông Đức Mạnh ký thì quan điểm “ba sự thật” không được nêu lên. Văn kiện trước chỉ tập trung vào công tác phòng chống tham nhũng và lãng phí. Đến văn kiện lần này, đảng CS mới “mạnh mẽ” chấp nhận “sự thật” của vấn đề là nội bộ đảng đang có sự chia rẽ, mất đoàn kết, thiếu sự đồng thuận cao từ trên xuống dưới đe dọa nghiêm trọng đến sự tồn vong của chế độ. Tham nhũng và lãng phí không còn là vấn đề trọng tâm. Cái chính yếu là nội tại của đảng đang ngày càng thối nát và mục ruỗng.
Ngoài điểm khác biệc trên, tất cả nội dung còn lại đều xoay quanh vấn đề lý luận, tư tưởng mà các văn kiện trước cũng đã nêu ra. Nguyên nhân không chủ quan thì khách quan. Đổ lỗi cho các thế lực thù địch và đối tượng chống phá vẫn tận dụng chiêu bài “diễn biến hòa bình” xem ra còn hiệu quả. Rồi “một bộ phận không nhỏ” tiếp tục là những con sâu làm rầu nồi canh vì bản tính “ăn” (tham nhũng) tạp, “ăn” không chừa thứ gì gây mất uy tín đảng trong mắt dân. Cuối cùng đảng đưa ra 29 nhiệm vụ, giải pháp để khắc phục “căn bệnh nan y” của mình.
Nếu để ý, mọi người sẽ thấy có sự trùng hợp đến ngạc nhiên là CSVN rất thích con số 4. Họ gắn những văn kiện quan trọng, mang tính đột phá hay nói như từ ngữ đảng thường dùng là bước ngoặc lịch sử vận hết vào con số này. Nhắc đến điều 4 Hiến pháp là mọi người biết ngay đến vai trò lãnh đạo của đảng CSVN, hai nghị quyết của hai nhiệm kỳ liền kề gần đây cũng lấy con số 4 làm trọng tâm. Không rõ các thành viên Bộ chính trị có duy tâm hơn duy vật và theo thuyết phong thủy ra sao nhưng luôn cảnh báo nhắc nhở khéo đảng viên về tứ (bốn) tức là “tử”. Xóa bỏ nó đảng chết ngay.
Đảng muốn nghị quyết đi vào đời sống từng người dân. Nhưng ngược lại, rất nhiều người dân trong đó có thành phần đảng viên cựu trào, số người mới “thoát” đảng đang ngao ngán đến tận cổ hai từ “Nghị quyết”. Bởi lẽ đã có rất nhiều văn kiện như vậy của ban chấp hành trung ương đảng ban hành nhưng kết cuộc đâu vẫn hoàn đó, tồn tại hình thức và lâu lâu được nhắc lại thông qua tuyên truyền để đảng viên không bị “quên” bài.
Dân ngao ngán vì dân quá hiểu đảng. Có thời gian đầu dân lầm tưởng đảng là vĩ đại, là vì dân. Nhưng về sau niềm tin này nhạt dần theo năm tháng. Phải sống cùng đảng mới hiểu đảng muốn gì, đúng với câu sống trong chăn mới biết chăn có rận. Đảng nói tập thể “mất đoàn kết, thiếu đồng thuận” là nên hiểu ngược lại. Thực tế, đảng viên rất “đoàn kết” bao che cho nhau nhằm tránh phát hiện sai phạm. Cùng tham nhũng, cùng diễn biến, cùng chuyển hóa, cùng suy thoái như nhau thì phải có một chủ trương “đồng thuận” (đồng lòng) từ trên xuống.
Xin thưa các ông và các bà đảng viên, các người đừng giả mù, giả điếc, giả câm nữa. Hãy hỏi bất kỳ người dân để nghe họ trả lời thế nào: “biết rồi, khổ lắm cứ nói mãi”, “họp chi mô, cũng rứa cả”, “họp cho có”... đầy đủ ngữ văn đối đáp của cả ba miền đất nước. Thử hỏi còn mấy ai tin vào đảng? Còn mấy ai tin vào đường lối? Còn mấy ai tin vào “đầy tớ” của dân?
Không cần phương tiện kỹ thuật hiện đại, đảng tự chẩn đoán được ngần ấy chứng bệnh mắc phải thì chỉ có nước cáo chung. Một cơ thể khi nhận ra cái chết gần kề, họ sẽ nói thật ra hết những điều thầm kín để ra đi thanh thản đó là: suy thoái tư tưởng chính trị, suy thoái về đạo đức, lối sống và tự diễn biến, tự chuyển hóa.Thiên Thanh
Nếu còn sống chị ở đâu?
"Tôi là Nguyễn Văn Biên, lái xe, thuộc công ty X. Bộ Lâm nghiệp. Cách đây hai mươi ba năm, vào một đêm trời mưa to cuối tháng chín năm 1967, trên đường từ Châu Yên tới Sơn La, có một cô gái vẫy tay xin đi nhờ xe. Lúc ấy trời đã khuya, rừng núi vắng vẻ. Cô gái trạc hai mươi tuổi, đầu đội nón, tay xách chiếc túi nhỏ, quần áo ướt sũng, nói đi nhỡ đường gặp mưa bị cảm. Tôi cho cô lên xe. Trên xe chỉ có mình tôi. Đi được một quãng, tôi dừng xe định giở trò cưỡng đoạt cô gái. Cô cương quyết chống đỡ. Tôi dọa nếu không chịu, sẽ đuổi xuống. Cô gái khóc, van xin đừng làm thế vì cô đang ốm, có thể chết. Thấy tôi vẫn một mực không thay đổi ý kiến, cô vùng ra được và nhảy xuống đường. Tôi ngồi trên xe, đoán cô không dám ở lại một mình vì chỗ có người gần nhất cách đấy cũng hơn hai mươi kilômét. Nhưng cô gái vẫn ôm mặt khóc dưới trời mưa tầm tã, người run lên vì lạnh... Cuối cùng tôi cho xe chạy tiếp. Đêm ấy tới trạm, bình tĩnh trở lại, tôi rất ân hận việc làm của mình, nhất là việc vì tôi cô có thể chết. Vì vậy tôi quay xe lại tìm nhưng không thấy cô đâu. Sau này nhiều lần tôi đến các nông trường và bản lân cận tìm cô, tuy nhiên, mọi cố gắng của tôi đều vô ích.
Nay cô ở đâu, nếu còn sống, xin báo cho tôi ở số nhà... phố Long Châu, Hà Nội, để tôi tìm đến cô xin tha thứ cho việc làm tội lỗi kia của tôi.
Nguyễn Văn Biên".
Bà Bảo Châu đặt tờ giấy xuống bàn, ngả lưng vào chiếc ghế da rồi không hiểu sao ngồi thờ thẫn hồi lâu. Đang giờ nghỉ trưa, mỗi người một nơi. Trong phòng chỉ còn lại Bích Phương, cô thư ký xinh đẹp vừa ăn xong đang ngồi soi gương sau chiếc máy chữ.
Bà liếc qua những tờ tiếp của tập giấy được xếp ngay ngắn trước mặt, rồi hỏi:
- Ý kiến mọi người thế nào về tin của ông lái xe này?
Bích Phương còn bậm môi, dướn mắt thêm lần nữa trước gương rồi mới ngẩng đầu đáp:
- Dạ thưa cô, anh em nói đây là trường hợp khác thường nên chờ ý kiến cô xem có nên phát không, sau mới trình lên Ban duyệt. Các tin khác không có gì đặc biệt, chú Đại đã ký thay cô.
Mấy ngày vừa rồi bà Bảo Châu đi công tác xa nên đương nhiên ông Đại phó phòng thay bà quản lý phòng này, phòng Thông tin kinh tế xã hội của Đài phát thanh. Im lặng một chốc, bỗng Bích Phương quay sang bà, nói:
- Cái ông lái xe Biên này kể cũng lạ, cô nhỉ? Giận mà cũng thương ông ta...
- Bề ngoài trông ông ta thế nào? - Bà Bảo Châu hỏi. - Khi đến đưa tin, cô có gặp ông ta không?
- Dạ không, tin này được đăng ký từ sáng hôm kia, lúc ấy cháu có việc đi vắng... Thế cô đồng ý cho phát chứ ạ?
- Để cô xem đã. - bà Bảo Châu lơ đễnh đáp.
Rồi bà đứng dậy, thong thả đi xuống căng-tin ăn trưa.
Bà Bảo Châu năm nay đã ngoài năm mươi, không thể gọi là xinh nhưng có vẻ ngoài đẫy đà, phúc hậu. Tóc bà còn đen và rất dài, những hôm nóng nực, bà buộc thành một túm to sau gáy. Bà về làm việc ở Đài ngay sau khi tốt nghiệp khoa văn trường Tổng hợp. Suốt nhiều năm bà làm phóng viên, đi đây đi đó rất xông xáo. Gần đây phần vì có tuổi, phần vì không còn ai thích hợp hơn, bà được điều sang phụ trách phòng này. Tuy mới thành lập nhưng công việc ở đây khá bận rộn. Ngày nào đến cơ quan, bà cũng thấy có nhiều người đến xin đăng ký quảng cáo hàng hóa cho xí nghiệp mình, hoặc quảng cáo các lớp ngoại ngữ, khiêu vũ, âm nhạc... Một phần không nhỏ trong số họ đến nhờ bà giúp tìm trẻ lạc, tìm người tâm thần bỏ nhà lang thang, đặc biệt là tìm lại những người thân bị lưu lạc nhiều năm về trước. Chính những người này làm bà yêu thích công việc.
Hàng ngày đọc các tờ đăng ký, bà cảm thấy như được đưa trở lại quá khứ đau buồn, nhiều khi đến mức không thể tin nổi. Trước mắt bà hiện lên những đoàn người rách rưới, gầy còm, dắt díu nhau đi xin ăn rồi ngã gục chết bên vệ đường, những cảnh cho con, vứt con, những cảnh ra đi vì uất hận, vì miếng ăn và vì nhiều lý do khác. Tai họa như cơn bão khủng khiếp ập xuống đầu những số phận đáng thương, dập vùi họ, đưa họ đi xa mỗi người một nơi. Rồi hàng chục năm sau đó họ sống trong lo lắng, dằn vặt và thương nhớ... Họ vất vả tìm đến nhau, muốn biết ai còn, ai mất, muốn được bộc lộ lòng mình... nhưng không biết phải làm gì, nhờ ai. Nay bỗng xuất hiện cái phòng của bà, thế là người ta bám lấy bà như người chết đuối bám cọng rơm nhỏ, dù chẳng mấy hy vọng nhưng còn hơn không có gì để bám. Còn bà, không hiểu sao bà thấy như mình cũng phần nào có lỗi trong những bi kịch ấy của quá khứ. Bà tự cho mình có trách niệm phải giúp họ, phải góp phần hàn gắn những mảnh vỡ cuộc đời họ. Một bé gái mười tuổi cầm đồng bạc duy nhất đi chợ đong gạo cho mười miệng ăn trong gia đình, không may để mất tiền, sợ về nhà mẹ mắng, bố đánh, nên em đã bỏ đi biệt tăm. Nếu còn sống, nay em đã gần sáu mươi. Em ở đâu? Các anh chị và bà mẹ của em đang nhờ bà Bảo Châu tìm hộ.
Có hai ông già từ tỉnh xa đến gặp bà, kể rằng vào năm 1945 không nỡ nhìn con chết đói, họ phải đem cho đứa bé kháu nhất trong số bốn người con của mình. Nó là một cậu bé bốn tuổi, khôi ngô (vì khôi ngô mới đem cho, xấu sẽ chẳng ai nhận). Hôm ấy nó được tắm rửa sạch sẽ, được cả nhà nhường cho ăn một bữa thật no. Rồi ông bà đem ra chợ huyện, đặt nó ngồi ngay trước cổng chợ, bên cạnh cắm tấm biển với dòng chữ "xin các ông, các bà làm phúc nuôi hộ". Còn họ thì nấp trong bụi cây cách đó không xa, kiên nhẫn chờ cho đến lúc có người mang nó đi mới ra về. Hai ông bà đứng nhìn theo, nước mắt giàn giụa... Bây giờ họ đến Đài tìm bà Bảo Châu kể lại những điều trên và nhờ bà tìm hộ. Bà đã làm tất cả những gì có thể làm. Bà cho phát qua Đài bảy lần, mỗi lần cách nhau ba ngày. Thật không ngờ, chưa đầy một tháng sau có một trung tá không quân đến gặp bà, nói rằng ông chính là đứa bé nọ. Thay mặt bố mẹ đẻ và bố mẹ nuôi, ông trịnh trọng tặng bà một bó hoa thật to và hai gói kẹo, hai bao thuốc lá, một lạng chè tặng anh em trong phòng. Hôm ấy là một ngày đáng ghi nhớ. Nhìn người sĩ quan cao to, đẹp đẽ và tràn đầy hạnh phúc, có lẽ trong nhiều năm, đây là lần đầu bà cảm thấy mình làm được điều gì đấy đích thực tốt đẹp và có ích cho đời.
Thỉnh thoảng bà cũng nhận được thư từ các tỉnh xa, báo tin rằng nhờ Đài, họ đã tìm lại được người thân của mình. Tuy nhiên, những trường hợp may mắn như thế không nhiều, nhưng đây là công việc đáng làm và bà làm một cách say sưa...
Còn câu chuyện ông lái xe Nguyễn Văn Biên này là thế nào?
Suốt buổi chiều hôm ấy và cả ngày hôm sau, bà Bảo Châu luôn bị ông ta ám ảnh. Đây là trường hợp đặc biệt từ trước tới nay chưa hề gặp, vì vậy bà muốn để lại suy nghĩ thêm trước khi cho phát. Trước mắt bà lúc nào cũng hiện lên hình ảnh một cô gái mảnh mai, người sốt hầm hập, đứng một mình dưới trời mưa tầm tã trong rừng giữa đêm khuya. Cô sắp ngất, cô sợ chết, sợ ma, nhưng có một điều cô sợ hơn tất cả những điều ấy, là sự nhục nhã. Cô không thể chấp nhận điều kiện của tên lái xe vô lại, nhưng chiếc ca-bin khô ráo, ấm áp kia lại thuộc về hắn. Hắn là người duy nhất có thể cứu cô nhưng hắn đòi trả công... Không! Cô thà chết không chịu làm theo lời hắn. Và cô gái tiếp tục đứng dưới trời mưa, hai tay ôm mặt khóc. Sau đó... Sau đó cô đi bộ một mình hàng chục cây số? Cô được chiếc xe khác mà người lái xe chưa mất hết tính người cho đi nhờ đến thị xã? Hay sau đó do dầm mưa, cơn sốt nặng thêm và cô chết, xác nằm còng queo bên đường?
Còn lái xe, cái gã Nguyễn Văn Biên khốn nạn ấy thì sao? Ừ, mà anh ta là người thế nào nhỉ? Một người đang tâm gây nên tội lỗi ghê gớm như thế lại biết hối hận ư? Đến mức suốt nhiều năm sau đã bỏ công tìm kiếm cô gái kia như anh ta nói? Hay anh ta phịa để tự bào chữa cho mình? Mà rồi nếu quả bị lương tâm cắn rứt, không lẽ sau ba mươi năm anh ta không nguôi ngoai chút nào, để bỗng dưng bây giờ không ai bắt, tự mình phơi bày sự đểu cáng của mình? Không phải với một, hai người mà với tất cả! Qua Đài! Một việc làm nên gọi dũng cảm hay điên rồ?...
Bỗng nhiên bà Bảo Châu rất muốn được gặp con người này. Để làm gì thì chính bà cũng không rõ.
Theo địa chỉ, bà tìm đến một ngôi nhà xinh xắn có hàng rào gạch bao quanh. Ra mở cửa là một người đàn bà gầy quắt có đôi mắt buồn và mái tóc điểm bạc.
- Thưa chị, đây có phải là nhà anh Biên, anh Nguyễn Văn Biên lái xe không ạ?
- Vâng, - người đàn bà kia đáp, ngạc nhiên nhìn khách.
Thấy thế, bà Bảo Châu vội nói luôn:
- Tôi có chút việc muốn nói chuyện với anh ấy...
Bà kia càng ngạc nhiên hơn, nhưng do dự một chốc rồi đáp:
- Mời chị vào.
Căn phòng rộng và trống trải, chắc chỉ dùng để tiếp khách vì không thấy có giường. Sát tường là chiếc bàn trà thấp và bốn ghế xa-lông gỗ dán cáu bẩn. Bà Bảo Châu ngồi xuống một trong những chiếc ghế ấy, yên lặng chờ chủ nhà sang phòng bên chuẩn bị nước mời khách. Không hiểu sao bà cứ hình dung lái xe Biên bà sắp gặp là người to béo, có ria mép, da ngăm đen và nhất thiết phải mặc áo phông sọc to. Bà định sẽ vào đề luôn, rằng bà từ Đài đến, muốn hỏi thêm đôi điều trước khi cho phát cái tin ông ta yêu cầu...
Bà chủ nhà quay ra, đặt khay nước lên bàn rồi ngồi xuống chiếc ghế đối diện, nhìn khách chờ đợi.
- Dạ, anh Biên đâu ạ? - bà Bảo Châu ngạc nhiên hỏi vì mãi không thấy chủ nhà xuất hiện. - Tôi đến đây nhân cái tin anh ấy xin phát qua đài...
Bà kia khẽ thốt lên:
- Thế ra cô là "cô ấy"? - Bà mở to mắt chăm chăm nhìn bà Bảo Châu, nét mặt gần như hốt hoảng.
Bà Bảo Châu cũng lặng lẽ nhìn bà hồi lâu.
- Không, tôi là người làm ở Đài phát thanh. Tôi đến đây muốn biết thêm đôi điều trước khi cho phát tin ấy. Hôm nay anh ấy không có nhà ạ?
Bà kia cúi đầu không nói gì, lúc sau mới thở dài đáp:
- Nhà tôi không còn nữa. Anh ấy chết đã được năm năm...
Giờ đến lượt bà Bảo Châu ngạc nhiên:
- Còn cái tin kia? Hóa ra không phải anh ấy đem nó đến Đài?
- Vâng. - Bà chủ nhà nói. - Tôi đã đến chỗ chị... Số là trước khi chết, anh ấy nhờ tôi sau này, nếu có thể, tìm gặp cô gái kia để thay mặt anh ấy xin lỗi hộ. Tôi đã hứa với anh ấy trong giờ hấp hối, tuy không biết sẽ làm điều đó bằng cách nào. Gần đây có mục nhắn tin qua đài, tôi mới nhờ chị. Nội dung cái tin ấy do tôi viết nhưng đúng sự thật và như chồng tôi mong muốn... Không sao chứ ạ? – Chủ nhà nhìn khách lo lắng hỏi thêm: - Không lẽ vì thế mà các chị không cho phát?
- Không, không vấn đề không phải chỗ ấy, - bà Bảo Châu đáp. - Có điều từ trước tới nay quả chúng tôi chưa gặp trường hợp nào như của anh chị.
- Tôi hiểu, chắc chị thấy khác thường nên muốn xem hư thực thế nào. Chị yên tâm. Những điều tôi viết trong tin đều đúng sự thật. Chồng tôi đã nhiều lần kể tôi nghe chuyện này ngay khi mới xảy ra...
Bà khẽ thở dài, ngồi im một chốc rồi nói tiếp:
- Nhà tôi là người thật lạ lùng. Anh ấy vốn ngang tàng, sống bừa bãi và nói thật với chị, chuyện rượu chè, trai gái có cả. Thế mà thật không ngờ, sau chuyện đó, anh ấy thành người khác hẳn. Đến tôi là vợ mà cũng không hiểu nổi, nhưng quả đúng thế. Anh ấy bị một cú sốc mạnh, trở nên ngơ ngác như người vừa ốm dậy. Anh ấy ít nói hẳn, chú ý nhiều hơn tới vợ con, đặc biệt không bao giờ uống rượu nữa. Tôi biết anh ấy đang đau khổ, hối hận và luôn nghĩ tới cô gái đáng thương nọ. Anh ấy sợ cô ta đã chết, chết vì anh ấy. Tôi tìm cách an ủi, thậm chí có lần còn theo lên các nông trường vùng Mộc Châu, Yên Châu tìm cô...
Bà chủ nhà đột ngột ngừng lời, đưa chén nước mời khách. Bà cũng cầm một chén, nhấp nháp từng ngụm nhỏ.
- Chị nghĩ phát qua Đài thế này, có hy vọng cô ấy sẽ lên tiếng không, tất nhiên nếu còn sống, - bà hỏi.
- Thỉnh thoảng chúng tôi có nhận được tin báo lại rằng nhờ Đài, họ đã tìm được người cần tìm. - Bà Bảo Châu đáp một cách chung chung.
- Tôi thì tôi không tin cô ấy sẽ lên tiếng và tự tìm đến, nhưng dù sao vẫn nhờ chị phát hộ cho. Chả là nhà tôi muốn thế, tôi đã hứa... Trước lúc chết, nhà tôi có để lại bức thư, dặn tôi nếu gặp thì đưa cho cô ấy.
Bà lại bỏ vào buồng trong, lấy ra một phong thư không dán.
- Nếu muốn, chị cứ đọc.
Rồi bà bước ra khỏi phòng để khách được tự nhiên. Bức thư không dài, được viết bằng nét chữ nắn nót kiểu học trò:
"Suốt nhiều năm nay tôi tìm chị khắp nơi nhưng không thấy. Tôi đang bệnh nặng và chắc chỉ ít ngày nữa sẽ chết. Trước khi chết tôi viết mấy dòng để nếu lúc nào đó, nhờ phép lạ, người thân của tôi gặp được, sẽ đưa cho chị. Tôi biết tôi không đáng được tha thứ, nhưng lúc này, đang hấp hối, tôi xin chị hãy tha thứ cho tôi. Nếu chị đã chết, xin linh hồn chị tha thứ cho tôi. Tôi đã chịu quá nhiều đau khổ, đã bị trừng phạt quá đủ cho hành động đểu cáng ấy của mình. Có lẽ trong đời ai cũng có những giây phút đen tối, những giây phút vô thức dẫn tới một việc làm tội lỗi để sau này phải luôn day dứt, ân hận vì nó.
Một lần nữa xin chị hãy tha thứ cho tôi!"
Ba ngày sau, bà Bảo Châu cho phát qua Đài tin lái xe Nguyễn Văn Biên, công ty X. cách đây 35 năm, vào một đêm trời mưa to...
Buổi tối, đến phần thông tin xã hội, bà lại gần chiếc đài, khoanh tay chăm chú ngồi nghe. Vô tình, bà với tay vặn to đài. Bà chợt nảy ý muốn lạ lùng là tất cả đàn ông trong nước, trên toàn thế giới, phải nghe tin này. Tất cả không trừ một ai, tất nhiên trong đó có chồng bà, một người vẻ ngoài lịch sự, nhân hậu nhưng thực chất là kẻ ích kỷ, thô lỗ mà bà phải chịu đựng bao năm nay.
Đang đọc báo ở chiếc ghế bên cạnh, ông chồng bà chỉ lặng lẽ đứng dậy vặn bé chiếc đài, nhìn bà với vẻ khó hiểu rồi lại ngồi xuống, chúi đầu vào tờ báo.
Thái Bá Tân
Hà Nội, 1989

No comments:

Post a Comment