Sunday, November 27, 2016

Bài viết hay(4184)

  Cà phê Bolsa sáng nay vui hơn khi có nhà báo trẻ lên tiếng xúi Hùng Cửu Long nộp đơn kiện Police và City of Westminster về 3 tội: còng tay giải về bót với lý do không chính đáng, xâm phạm quyền tự do ngôn luận và thị trưởng gốc Việt đã về hùa với những người chống Cộng như Ngô Kỷ mà phân biệt đối xử; nhất là khi Hùng CL đến Bolsa với thiện chí hoà hợp hoà giải dân tộc chứ đâu có gây hấn? Giá như Hùng CL đừng hối hả về nước mà thuê luật sư kiện thì vui lắm nhỉ? 

Giải mã chính sách Châu Á của Trump: “Hoa Kỳ trước tiên” có ý nghĩ gì cho trật tự khu vực

Các học giả tự cho rằng mình đã biết chắc chắn dù thế nào về chính sách đối ngoại Tổng thống đắc cử Donald Trump của Hoa Kỳ rồi cũng chỉ sẽ kết tinh thành những lời tiên tri mong manh. Khi họ và các đối tác quốc tế của Hoa Kỳ đang căng thẳng để xác định các đường ranh của các kế hoạch của mình, tuy nhiên, có ít nhất hai nhóm nguồn nguyên liệu mà họ có thể dùng để phác họa đường ranh. Đầu tiên là những tuyên bố của Trump về chính sách đối ngoại trong chiến dịch của mình; thứ hai là các tác phẩm của các cố vấn an ninh quốc gia gần nhất với ông.
Khi nói đến cách tiếp cận của tổng thống mới đắc cử với Châu Á, có hai nhóm những chứng cớ đi theo các hướng khác nhau: một về phía “đắp lủy, xây thành” [containment] và hướng khác là chủ nghĩa đơn phương [unilateralism]. Tuy nhiên, những tầm nhìn khác nhau đó lại có một cái gì chung quan trọng. Tất cả lời kêu gọi cho một chính sách đối ngoại đều tập trung vào các các liên minh, quy tắc và chuẩn mực đã củng cố sự lãnh đạo quốc tế của Hoa Kỳ từ năm 1945. Cùng với những bất ổn sâu sắc xung quanh những mục tiêu của Trump về Châu Á và những công cụ mà ông đã đề nghị là sẽ sử dụng để theo đuổi chúng, là sự vắng mặt của sự lãnh đạo có nguyên tắc và có thể dự đoán được của Mỹ có thể dẫn đến một sự thay đổi gây mất ổn định trong cán cân quyền lực của các khu vực trong tương lai gần.

Dự đoán tương lai

Chính sách đối ngoại, đặc biệt khi nó liên quan đến Châu Á, đã đóng một vai trò tương đối nhỏ trong chiến dịch tranh cử của Trump. Lúc chủ đề về chính sách của Hoa Kỳ đối với Châu Á phát sinh, Trump có xu hướng sử dụng các cơ hội để nhấn mạnh thế giới quan “Hoa Kỳ trước tiên” mà ông thông qua từ chủ nghĩa biệt lập của Charles Lindberg, chửi bới việc giao dịch thương mại [quốc tế] và đầy hứa hẹn trả đũa kinh tế đối với những người phá hoại lợi ích của Mỹ. Thật vậy, trong quá trình tranh cử của mình, Trump ra mặt xem các quốc gia Châu Á chủ yếu là dưới lăng kính kinh tế, thường với quy tắc là kẻ phá luật chơi là xứng đáng bị trừng phạt.
Giống như Hillary Clinton, Trump phản đối Đối tác xuyên Thái Bình Dương trong chiến dịch của mình. Nhưng ông cũng đả kích thỏa thuận thương mại tự do rộng rãi hơn, thề sẽ thay đổi mạnh mẽ một số quan hệ kinh tế quốc tế của Hoa Kỳ. Trump hứa sẽ gọi Trung Quốc là nước thao túng tiền tệ trong thời gian 100 ngày đầu tiên nhậm chức của mình; một đe dọa có thể không mang lại hậu quả gì có ý nghĩa và cũng đã lỗi thời, khi mà hiện nay Bắc Kinh đang giữ đồng tiền của mình cao một cách giả tạo. Đáng ngại hơn là cam kết của Trump muốn áp đặt một mức thuế 45 phần trăm trên nhập khẩu từ Trung Quốc. Chính sách này khởi động một cuộc chiến thương mại, dẫn đến một cuộc suy thoái lớn, loại bỏ hàng triệu việc làm ở Hoa Kỳ, và làm tổn hại nền kinh tế của một số đồng minh thân cận của Mỹ, gồm cả Nhật Bản và Hàn Quốc. Các cố vấn trong chiến dịch tranh cử của Trump đã làm nhỏ đi kích thước của mức thuế đề xuất, nhưng không ai đã cố gắng để hoàn toàn bỏ nó đi.
Khi nói đến vấn đề an ninh ở Châu Á, Trump không đưa ra tầm nhìn tốt nhưng đã luôn ủng hộ trừng phạt kinh tế như một công cụ của chính sách đối ngoại. Ông đã nói rằng chính sách thương mại của Mỹ có thể buộc Trung Quốc phải rút lui ở Biển Nam Trung Hoa và đã lập luận rằng Hoa Kỳ cần phải sử dụng đòn bẩy kinh tế để gây áp lực với Trung Quốc nhằm kiềm chế Bắc Triều Tiên là một “vấn đề” mà Trump nói rằng Bắc Kinh có thể giải quyết “với một cuộc gọi điện thoại. “ Trump tin rằng sự ủng hộ một thuế quan đối với hàng hóa Trung Quốc là xứng với hy vọng cải thiện quan hệ với Bắc Kinh của mình.
Trump đã lộ ác cảm sâu sắc đối với các cam kết của Hoa Kỳ từ lâu đời tại Châu Á, bao gồm cả việc giải trừ vũ khí hạt nhân (thực vậy, ông đã khuyến khích Nhật và Hàn Quốc theo đuổi vũ khí hạt nhân của riêng mình) và an ninh của các đồng minh trong khu vực. Trong nhiều trường hợp, ông đã kêu gọi Nhật và Hàn Quốc phải trả toàn bộ chi phí triển khai của quân đội Hoa Kỳ trong biên giới của họ, nói rằng nếu họ không làm như vậy, Hoa Kỳ có thể rút xuống quân. Những lo ngại về gánh nặng chia sẻ trong liên minh của Mỹ là không có gì mới, nhưng những lời chỉ trích của Trump đã các đồng minh Châu Á của Hoa Kỳ lo lắng vì những gì họ bị phản bội: Trump dường như không ý thức được thực tế là Nhật và Hàn Quốc là những nơi ít đắt đỏ nhất trên thế giới (trong đó có Hoa Kỳ) để đặt các căn cứ cho quân đội Mỹ vì những đóng góp tài chính của Tokyo và Seoul; ông đã chứng minh rằng ông không quan tâm đến giá trị kinh tế và chiến lược của mối quan hệ của Hoa Kỳ với các quốc gia cho đặt căn cứ Mỹ; và ông đã không tỏ ra tôn trọng đồng minh của Mỹ đủ để thảo luận về gánh nặng-chia sẻ một cách riêng tư sau cuộc bầu cử thay vì công khai trong chiến dịch.
Tóm lại, chính sách Châu Á của Trump phản ánh một sự pha trộn gây sửng sốt của tân chủ nghĩa biệt lập (*) và tân chủ nghĩa Jacksonian (**), cùng với lòng sùng mộ gần như giáo lý không thể tiên đoán được gì và xu hướng ủng hộ trừng phạt kinh tế như một công cụ cho chính sách đối ngoại. Cố vấn Châu Á thân cận nhất của Trump, tuy nhiên, có mặt để xác nhận một cách tiếp cận khác hẳn.

Những gì mà Trump giữ

Cố vấn Châu Á của Tổng thống mới đắc cử đã có xu hướng nghi ngờ sâu sắc Trung Quốc và đã ủng hộ một chính sách đối ngoại đơn phương cơ bắp trong khu vực của Hoa Kỳ. Viết một ngày trước khi cuộc bầu cử trong tập san Foreign Policy, Alex Grey và Peter Navarro, hai cố vấn của Trump, đã khớp nối tầm nhìn của ứng cử viên của họ về Châu Á - tầm nhìn mà họ so sánh với sức hấp dẫn của Ronald Reagan: “hòa bình thông qua sức mạnh”. Họ kêu gọi chấm dứt việc ngân sách cô lập về quốc phòng, một sự mở rộng của Hải quân Mỹ lên tới 350 tàu, và một sự hiện diện quân sự mạnh hơn ở Châu Á hơn so với chính quyền hiện nay dưới chiến lược “tái cân bằng” của mình trong khu vực. Grey và Navarro nhắc lại hoài nghi của Trump về vai trò trung tâm của thương mại quốc tế trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ và nói rõ rằng các đồng minh của Hoa Kỳ sẽ được yêu cầu một cách “tôn trọng” là phải trả thêm tiền cho quốc phòng của họ. Với một bước đi về hướng “đắp lủy, xây thành” của Trump, tuy nhiên, họ đã đưa ra tầm nhìn về một sự hiện diện của Mỹ tại Châu Á-Thái Bình Dương như kẻ “đầu lĩnh” [primacist], mà một ưu thế quân sự bền vững của Washington sẽ hạn chế các mối đe dọa rõ ràng gây ra bởi Trung Quốc.
Sau cuộc bầu cử, Trump đã nói chuyện qua điện thoại với Tổng thống Hàn Quốc Park Geun-hye và Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe và đã tái khẳng định cam kết quốc phòng Hoa Kỳ đối với Hàn Quốc và Nhật Bản. (Ông cũng đã gặp Abe tại New York vào ngày 17.) Những cuộc đối thoại dường như đã tiến hành suôn sẻ. Câu hỏi thực sự cho các đồng minh hiệp ước của Mỹ, tuy nhiên, không phải là liệu Trump sẽ bãi bỏ các cam kết an ninh của Washington; điều đó sẽ gặp sự phản đối dữ dội từ phía Quốc hội, quân đội, công chức và điều đó sẽ khó xảy ra. Thay vào đó, câu hỏi là liệu Trump sẽ kéo ý nghĩa liên minh với Hoa Kỳ bằng cách giảm đi sự hợp tác giữa Hoa Kỳ với các đối tác đến mức mà họ cảm thấy họ đã bị [Mỹ] bỏ rơi.
Cuộc gọi điện thoại đầu tiên của Trump với Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình, vào ngày 14 tháng 11, cũng đã để lại nhiều câu trả lời. Hai nhà lãnh đạo cam kết sẽ hợp tác và tăng cường mối quan hệ, nhưng tuyên bố trong thời gian chiến dịch ứng cử của Tổng thống mới đắc cử đã có thể rời khỏi những cảnh giác của Trung Quốc. Gộp chung với thái độ hoài nghi của Trump đối với các đồng minh của Mỹ và những lời đề nghị của Trung Quốc làm cho đồng minh Châu Á của Washington có lý do lo ngại rằng Tổng thống Mỹ tiếp theo có thể theo đuổi một cuộc sống chung lớn với Bắc Kinh: một loại sắp xếp G2 trong đó lợi ích của các quốc gia nhỏ hơn sẽ bị phá vỡ hoặc gạt đi. Khuynh hướng đụng chạm với Trung Quốc của Trump và chủ nghĩa đơn phương mà các cố vấn của ông theo đuổi dường như đã làm chuyên này là khó xảy ra, nhưng không có lý do gì mà chính quyền Trump không thể trừng phạt Trung Quốc về kinh tế và không xây dựng sự hiện diện quân sự của Hoa Kỳ trong khu vực, cùng lúc cũng nhượng bộ cho những sáng kiến về một số vấn đề an ninh cho Bắc Kinh. Tất nhiên, Trump có thể thay đổi vị trí của mình về hợp tác Trung Quốc và Hoa Kỳ khi ông nhậm chức. Nhưng ngay cả khi mà việc Hoa Kỳ-Trung Quốc chung sống toàn diện là không thể xảy ra, thực tế là đồng minh của Hoa Kỳ có lý do để lo sợ một nghiêm trọng rất lớn. Có gợi ý rằng các tuyên bố đồng bóng của Trump đã làm hư hại uy tín của Hoa Kỳ.

Châu Á khi suy nghĩ lại?

Như một số học giả về chính sách nước ngoài đã lưu ý, có thể sẽ mất vài tháng cho chính quyền mới để phát triển một chiến lược cho Châu Á. Với sự tận tâm không thể tiên đoán của mình, Trump có thể không vạch ra một chiến lược như vậy ở tất cả: thay vào đó ông có thể lựa và chọn từ một thực đơn từ tân chủ nghĩa Jacksonian, tân chủ nghĩa đơn phương, để quyết định những gì là “Mỹ trước tiên” nghĩa là gì trong khi hoàn cảnh đang thay đổi.
Nếu các tính năng tích cực của tầm nhìn của Trump cho Châu Á vẫn còn chưa rõ ràng, thì khoảng cách của chúng là hiển nhiên. Các báo cáo của Trump và các cố vấn của ông đã không đề cập các tổ chức quốc tế như Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) hoặc diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á-Thái Bình Dương, họ cũng không nêu lên nhân quyền hay tôn trọng luật pháp như các nguyên tắc chính sách đối ngoại. Trump và các cố vấn của ông chỉ đưa ra ít ỏi [thông tin] về việc họ có tin rằng liên minh với Hoa Kỳ không chỉ là những giao dịch, hay rằng Hoa Kỳ cần phải hợp tác chặt chẽ với các quốc gia Châu Á thay vì chỉ nhảy vào khu vực khi được lợi ích của mình sai khiến. Trong ngắn hạn, các tổng thống đắc cử và các cố vấn của ông đã đưa ra vài dấu hiệu cho thấy họ có ý định đóng một vai trò xây dựng trong trật tự quốc tế: các mạng lưới hiệp ước, chế độ, định mức, và luật pháp mà Hoa Kỳ đã giúp xây dựng từ năm 1945. Nếu bảo thủ truyền thống cuối cùng lấp đầy chính quyền Trump, họ có thể giúp cải thiện tình trạng thiếu sót này. Nhưng điều đó sẽ không thay đổi thực tế rằng đây là lần đầu tiên kể từ năm 1945, Hoa Kỳ một Tổng thống đắc cử đã có vẻ ít quan tâm trong việc đưa ra những đóng góp tích cực cho hệ thống đã duy trì vai trò lãnh đạo toàn cầu của Hoa Kỳ.
Nếu Hoa Kỳ không duy trì trật tự quốc tế, nó có thể gây ra nhiều biến động bất lợi trong cán cân quyền lực ở Châu Á. Đầu tiên, các nước đã hợp tác với Hoa Kỳ mà còn duy trì quan hệ chặt chẽ với Trung Quốc có thể nghiêng về phía Bắc Kinh. Xu hướng này có thể sẽ là mạnh nhất trong khu vực Đông Nam Á, nơi mà nhiều quốc gia hy vọng sẽ gặt hái được nhiều lợi ích từ các mối quan hệ kinh tế với Trung Quốc; Malaysia và Philippines đã bắt đầu theo logic này. Các quốc gia mà bao gồm ASEAN có thể kết luận rằng Washington đang “đào hào đắp lũy” về ngoại giao và thể chế, nếu không phải là quân sự, và không còn đứng lên chống lại Trung Quốc về các vấn đề như xây dựng đảo và xây dựng các quy tắc ứng xử cho Biển Đông. Mỹ do đó có thể bị mất những đối tác chính trị, khả năng quân sự nâng cấp của mình phải có sức mạnh để bảo vệ.
Với sự tin cậy lâu dài của họ về các cam kết an ninh của Mỹ, đồng minh hiệp ước của Washington có thể sẽ thận trọng hợp tác với chính quyền tiếp theo. Như các chi tiết của phương pháp tiếp cận của Trump để liên minh Hoa Kỳ trở nên rõ ràng hơn, họ có thể chọn để tăng tính độc lập an ninh của họ, việc đẩy mạnh chi tiêu quốc phòng và hợp tác quân sự với nhau. Họ cũng có thể cố gắng để trám một số lỗ hổng còn lại của vai trò giảm sút của Hoa Kỳ trong các lĩnh vực như hỗ trợ an ninh cho các quốc gia Đông Nam Á. Thậm chí nếu Trump cần mẫn tìm cách tán tỉnh các đồng minh hiệp ước lâu đời của Mỹ, tuy nhiên, ông phải đối mặt với một trận chiến khó khăn: những thiệt hại do những phát biểu quan trọng của mình và cố vấn của ông và những xác nhận của chủ nghĩa đơn phương và không thể tiên đoán sẽ không dễ dàng để sửa chữa.
Hy vọng lớn nhất đối với Trung Quốc là Tổng thống đắc cử sẽ chứng minh ông sẽ là người giao dịch như ông cho biết trong chiến dịch, sẵn sàng bỏ rơi các đối tác của Hoa Kỳ và thương lượng với Bắc Kinh. Trường hợp xấu nhất là Trump sẽ tiến hành chính sách quân sự không thể đoán trước và những chiến lược kinh tế đầy hận thù, gây mất ổn định trong khu vực. Trung Quốc chắc chắn sẽ tiếp tục tăng cường quân sự riêng của mình và tìm cách để củng cố lợi ích chính trị gần đây trong mối quan hệ của họ với Malaysia, Philippines, và các quốc gia khác trong khu vực. Nhưng dường như [Trung Quốc] khó có thể có những hành động khiêu khích trong những ngày đầu của chính quyền theo Trump, ví dụ, tuyên bố một vùng xác định phòng không hoặc chiếm giữ một rạn san hô ở biển Nam Trung Hoa- bao lâu mà triển vọng của một phản ứng trừng phạt từ Washington còn đóng vai trò như một vật cản trong ngắn hạn. Bắc Kinh có thể sẽ đánh giá cẩn thận chính quyền mới trước khi thực hiện bất kỳ chuyển động nào.
Mặc dù các chi tiết cụ thể của chiến lược của Trump cho Châu Á là vừa đủ, một vài thứ có vẻ rõ ràng. Một tương lai không chắc chắn đang chờ đợi một khu vực đã trở nên quen thuộc với sự lãnh đạo của Hoa Kỳ có nguyên tắc và chủ yếu là dự đoán được. Trong môi trường mới này, bạn bè và các đối thủ như nhau nên không thể đổ lỗi cho kết luận rằng họ không thể dựa vào Washington như khi họ có trong quá khứ. Các đồng minh của Mỹ nên chuẩn bị thế đứng đầy khó khăn để chống lại chính sách của Hoa Kỳ khi cần thiết và để giữ Washington phải trách nhiệm về cam kết của mình. Nghĩa quốc tế ở cả hai đảng chính trị sẽ tìm cách trấn an các đối tác là Hoa Kỳ sẽ tiếp tục cam kết của mình, nhưng sự gia tăng và chiến thắng tuyệt đẹp của Trump lại kể một câu chuyện khác nhau.
Có một sự mỉa mai đau đớn để được tìm thấy trong các hậu quả có thể có của cuộc bầu cử của Trump cho Châu Á. Tái cân bằng của chính quyền Obama, mặc dù có sai sót, đã tìm cách chứng minh tới khu vực rằng sự trỗi dậy của Trung Quốc không là sự suy giảm của Hoa Kỳ. Chiến thắng của Trump và Chính sách đối ngoại “Mỹ trước tiên” còn phôi thai của đội ngũ của ông có thể thuyết phục các quốc gia Châu Á bỏ Washington. Nhưng những điều đó vẫn không nhiều hơn gì là tiên đoán thông tin tại một thời điểm biến động chính trị mang tính thời đại. Người ta hy vọng rằng họ là không đúng: Châu Á là quá quan trọng đối với Hoa Kỳ, và Hoa Kỳ cho Châu Á, không có điều gì làm nó khác đi.
Foreign Affairs
Bích Đăng dịch
__________
(**) Andrew Jackson là Tổng Thống thứ 7 của Hoa Kỳ . chủ nghĩa dân chủ theo quan điểm Jackson là áp dụng khái niệm về dân chủ càng rộng chừng nào khi nó vẫn còn khả thi ....Trong trường hợp chính sách ngoại giao tôi hiểu có nghĩa là “lấn tới lúc nào còn lấn tới được” như “mềm tấn rắn buông”
(*) Chủ nghĩa tân biệt lập tạm mô tả như đối kháng với chủ nghĩa toàn cầu. Mời đọc thêm “Tìm hiểu lôgíc kinh tế trong chính sách đối ngoại của Mỹ” để hiểu thêm về hai tân chủ nghĩa trên trong http://sachhiem.net/THOISU_CT/ChuN/NguyenDinhLuan.php
Dịch giả gửi BVN.

Một bản tuyên ngôn chống giặc nội xâm đầu thế kỷ XVII
Trong lịch sử văn hoá-tư tưởng nước ta, có những bản tuyên ngôn nổi tiếng tới muôn đời: đó là bản tuyên ngôn lập quốc đầu tiên bằng “Thiên đô chiếu” do đức Lý Thái Tổ viết, bản tuyên ngôn chiến trận đời Trần bằng “Hịch tướng sĩ văn” tương truyền của Đại vương Trần Quốc Tuấn thảo, bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước Đại Việt bằng áng thiên cổ hùng văn “Bình Ngô đại cáo thiên hạ” do vị Anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi chấp bút, bản tuyên ngôn độc lập thời hiện đại của nước VNDCCH do Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt quốc dân đồng bào đọc… Nhưng, ở đầu thế kỷ XVII, có một bản khải văn cũng mang tầm vóc của một bản tuyên ngôn rất đáng đi vào lịch sử thì còn được ít người biết đến. Đó là bản khải văn có thể gọi tên: “Lấy dân làm gốc”(1).
Lần đầu tiên được đọc bài khải văn do nhà văn Hoàng Quốc Hải giới thiệu, tôi thấy sững sờ, và có cảm giác rõ rệt: dường như tác giả đã viết nó cho cả ngày hôm nay nữa! Đây là một luận văn chính trị sắc bén, chứa đựng những suy nghĩ thấu đáo về thời cuộc, tràn trề xúc cảm, chan chứa tình thương dân, hôi hổi tính thời sự, theo tôi rất đáng được chọn đưa vào SGK phổ thông trung học!
Vào thời xuất hiện bản khải văn, chính quyền Lê-Trịnh tuy đã tương đối ổn định, trong nước đã tạm yên bình, nhưng cuộc nội chiến với nhà Mạc lên miên suốt mấy chục năm đã khiến cho sản xuất nông nghiệp đình đốn, làng xóm tiêu điều, nhiều năm mất mùa liên tiếp, trong khi đó nạn nhũng nhiễu dân lành của quan lại đã trở thành hiện trạng nhức nhối có nguy cơ làm nổ tung cơ cấu xã hội, đưa cả dân tộc tới chỗ diệt vong… Trước tình hình đó, vào tháng 9 năm 1612, Thiêm đô ngự sử Nguyễn Duy Thì (NDT) cùng Giám sát ngự Phạm Trân và các đồng liêu đã dâng lên Bình An vương (tức chúa Trịnh Tùng) bài khải bộc lộ mối quan tâm của các ông trước hiện tình triều chính, đồng thời nêu lên “những việc chính sự cấp thiết phải tu chỉnh để chuyển tai họa thành điềm lành, trên hợp với ý trời, dưới thuận với lòng người”.

Toàn bộ văn bản bài khải như sau(2):
“Dân là gốc của nước, đạo trị nước chỉ là yên dân mà thôi. Lại nghĩ rằng trời với dân cùng một lẽ, lòng dân vui thích tức là được ý trời rồi. Cho nên người giỏi trị nước, yêu dân như cha mẹ yêu con, thấy họ đói rét thì thương, thấy họ lao khổ thì xót, cấm hà khắc bạo ngược, ngăn thuế khoá bừa bãi, để cho dân được thoả sống mà không còn tiếng sầu hận oán than. Thế mới là biết đạo trị nước, biết cách sai dân. Nay Thánh thượng (chỉ chúa Trịnh) để ý tới dân, thi hành một chính sách cốt để nuôi dân, ban ra một mệnh lệnh, cũng nghiêm răn nhiễu dân. Lòng yêu dân đó, thực là lượng cả của trời đất, cha mẹ vậy.
Nhưng kẻ thừa hành thì chưa biết thể theo đức ý của bề trên, chỉ chăm làm điều hà khắc bạo ngược, đua nhau xa xỉ, coi một huyện thì làm khổ dân một huyện, coi một xã thì làm khổ dân một xã, mọi việc nhiễu dân, không điều gì không làm, khiến dân trong nước, con trai thì không có áo, con gái thì không có váy, tiệc hát xướng không còn, lễ cưới xin không đủ, sống nuôi chết đưa không trông cậy vào đâu, ăn uống chi dùng hàng ngày mọi bề đều thiếu, dân mọn nghèo hèn cho đến sâu bọ cỏ cây đều không sống nổi.
Vì thế, cảm động đến đất trời, khiến cho lòng trời ở trên không thuận, tai hoạ lũ lụt tràn ngập quá mức thường, chắc là có quan hệ với chính sự hiện nay, há chẳng nên sợ hãi, tu tỉnh, nghĩ đến tội lỗi gây nên thế sao? Nếu biết thi hành chính sách bảo vệ dân thì dưới thuận lòng người, trên hợp ý trời, và chuyển tai hoạ thành điềm lành, lúa được mùa luôn, người người no đủ, trong nước thái bình, cơ nghiệp ức muôn năm của nước nhà từ nay cũng do đó mà bền vững lâu dài vậy”(3).
Danh nhân Nguyễn Duy Thì (1571-1651), tác giả chính của bài khải trên, là một trong những nhân vật nổi tiếng của vùng đất Yên Lãng, Bình Xuyên, Vĩnh Phúc. Sau đây là vài dòng tiểu sử của cụ do một nhà nghiên cứu đúc kết: Năm 1598, khi 27 tuổi, Nguyễn Duy Thì thi đỗ Hoàng giáp. Tên tuổi của ông được khắc trên bia đá tại Văn Miếu-Quốc Tử Giám… Là một trí thức có vị trí và vai trò quan trọng trong xã hội Việt Nam thời Lê Trung Hưng, Nguyễn Duy Thì đã đem hết sức mình cống hiến cho sự ổn định tình hình chính trị đất nước ở buổi đầu thời Lê Trịnh, trong thì giữ yên chính trị, ngoài thì trấn áp phản loạn, khôi phục mối bang giao hữu hảo với phía Bắc, giữ gìn tình cảm truyền thống người Việt với nhà Nguyễn ở phía Nam; một lòng trung quân, ái quốc, thương dân. Ông được người đời nhờ cậy và tôn trọng trong suốt 30 năm; Phủ đường nơi ông làm việc khi về quê, sau khi ông mất, nhân dân sử dụng làm nơi hương đăng thờ phụng, tưởng nhớ công lao của ông suốt hơn 350 năm nay. Nhà sử học Phan Huy Chú đã xếp ông vào hàng 38 vị phù tá có công lao tài đức của nhà Lê Trung Hưng.
Xin trở lại với bài khải.
Mở đầu bài khải, bằng sự khôn khéo tỉnh táo của một chính trị gia chuyên nghiệp, cụ NDT đã đưa ra những chân lý không ai chối cãi nổi: “Dân là gốc nước, đạo trị nước là yêu quý dân mà thôi. Trời và dân theo một lẽ, lòng dân vui thích tức là được ý trời. Vì thế người giỏi trị nước phải yêu dân như cha mẹ yêu con, thấy dân đói rét thì thương, thấy họ lao khổ thì xót, cấm hà khắc bạo ngược, ngăn thuế khoá bừa bãi, để cho dân được thoả sống mà không còn tiếng sầu hận oán than. Thế mới là biết đạo trị nước, biết cách sai dân”. Những điều này-như là cái lẽ Trị quốc An dân sáng tỏ tựa mặt trăng mặt trời mà người cầm quyền của một quốc gia cần lấy làm lòng thì đã được nhiều người trước cụ Nguyễn Duy Thì nói đến, tiêu biểu là danh nhân Nguyễn Trãi… Nhưng ngay ở đoạn mở đầu có tính chất đặt nền tảng như trên, ta có thể thấy trái tim cụ NDT đã rớm máu thế nào, những lời thốt ra không chỉ là kinh điển Nho gia mà chính là đòi hỏi của Lương tri thông thường lẫn đòi hỏi của Sứ mệnh “chăn Dân” được đặt trong tình thế kêu gọi thiêng liêng!
Với cái tiền đề nặng đầy lý trí và tràn trề cảm xúc như vậy, cụ NDT đã khéo léo đưa ngưòi cầm đầu QG vào cuộc: “Nay Thánh thượng (chỉ chúa Trịnh) để ý tới dân, thi hành một chính sách cốt để nuôi dân, ban ra một mệnh lệnh, cũng nghiêm răn nhiễu dân. Lòng yêu dân đó, thực là lượng cả của trời đất, cha mẹ vậy”. Tháng 4 năm Quý Tỵ (1593), vua Lê Thế Tông trở về Thăng Long, đánh dấu sự phục hưng của triều Lê nhưng chỉ là trên danh nghĩa, còn thực quyền đã nằm trong tay chúa Trịnh. Còn kể từ năm 1527, khi Mạc Đăng Dung đoạt ngôi triều Lê, chế độ quân chủ Đại Việt lâm vào cuộc khủng hoảng toàn diện, những cuộc tranh giành quyền lực gây nên nội chiến Lê-Mạc, Trịnh-Nguyễn chia cắt đất nước. Khắp nơi, nông dân nổi dậy chống lại chế độ quân chủ áp bức tàn bạo. Vài nhà nghiên cứu lịch sử đã có nhận định khá thống nhất: các vua Lê thời đó đều trẻ người non dạ trước tiền đồ của giang sơn xã tắc, và Trịnh Tùng, muốn giữ vững ngôi vị, ngoài tài năng cai trị và cầm quân, buộc phải trở thành người cứng rắn, quyết đoán và thậm chí tàn nhẫn; với tài năng sẵn có trong thời loạn, ông đã trở thành kẻ gian hùng khuynh đảo triều chính nhà hậu Lê… Những dòng văn khải trên có tác dụng một mũi tên trúng hai đích: vừa để nhấn mạnh cái phần tài năng trị quốc, khẳng định mặt tích cực trong các chính sách của Trịnh Tùng; đồng thời cũng ngầm đem cái sức mạnh nguyên thuỷ của “Thiên đạo” (khái niệm của Lão Tử) diễn đạt theo cách dân dã và Việt hoá là: “lượng cả của trời đất, cha mẹ” để răn dạy bậc cầm quyền; điều đặc biệt có ý nghĩa là cụ đã lồng vào cái “Thiên đạo” xa lạ kia bằng nội dung “Lòng yêu dân”! Là một trí thức tỉnh táo, ông thừa hiểu bản tính của con người là ham lợi, là khát khao quyền lực, là ước nguyện đè nén người khác, như triết gia Hàn Phi đời Chiến Quốc đã khái quát- nhất là chúng lại nằm ở một người đứng trên đầu cả thiên hạ như Trịnh Tùng! Nhưng, trong cái thời loạn đó, cụ NDT cũng hiểu hơn ai hết, cần phải có người có đủ bản lĩnh, tài năng và quyết đoán như Trịnh Tùng để giữ sự bình yên cho Đất nước. Nhà sử học Phan Huy Chú đã viết về Trịnh Tùng như sau: “Ông tính khoan hậu, yêu người, khéo vỗ về tướng sĩ… dùng binh như thần… Ông thực sự làm chúa cầm quyền chính, công lao sự nghiệp danh vọng lừng lẫy…”(4). Dù Phan Huy Chú là sử gia đương thời bắt buộc phải nói sao cho đẹp lòng quân vương, song rõ ràng cũng phải có ít nhiều sự thật trong những dòng sử trên! Và khác với nhà triết học chính trị người Ý N. Machiavelli, người đã khuyên bậc quân vương rằng: “Quân vương phải biết học hỏi từ bản tính của dã thú, biết kết hợp sức mạnh của sư tử với sự tinh ranh của cáo. Sư tử không thể tự bảo vệ mình tránh các cạm bẫy còn cáo thì không chống lại được sói”, cụ NDT nước ta, sống sau Machiavelli gần hai thế kỷ, đã khuyên bậc quân vương của mình điều hệ trọng bậc nhất: Cần phải yêu Dân, quý Dân thực sự, bởi lẽ Dân là gốc của nước; và yêu quý Dân chính là cái gốc của đạo trị Dân. Dân không phải là kẻ thù, nên không thể xử sự với Dân như loài dã thú đã làm! Điều này, ta có cảm tưởng cụ NDT đang nói trực tiếp với những người Việt Nam của thế kỷ XXI!
Những cuộc khởi nghĩa nông dân, những cuộc đấu đá huynh đệ tương tàn vì quyền lực và đất đai giữa các thế lực chính trị, mối đe doạ ngoại xâm thường trực từ phương Bắc…, tất cả đều nguy hiểm cho an ninh quốc gia, song đều không nguy hiểm bằng hoạ nội xâm do sự thối nát tự bên trong chính quyền, những kẻ “ăn lộc của dân” nhưng lại “đền ơn kẻ cấy cày” bằng sự cướp đoạt trắng trợn mồ hôi nước mắt của dân! Cụ NDT biết rõ điều này, và bằng mọi cách để Trịnh vương cũng phải giật mình cảnh giác. Vì thế, trong tâm trạng bức xúc đến cuồng nộ, tiếp theo, tác giả tờ khải cấp báo và lên án gay gắt tình trạng đe doạ sự tồn vong của Đất nước hiện thời, đó là chính sự hà khắc, quan lại bạo ngược, nạn tham nhũng hoành hành, kẻ “phụ mẫu chi dân” từ trên xuống dưới thì bất chấp đạo lý, luật pháp và vơ vét tận máu mủ dân lành: “Chỉ vì kẻ thừa hành chưa biết thể theo đức ý của bề trên, chăm làm sự hà khắc bạo ngược, đua đòi xa xỉ. Coi một huyện thì làm khổ dân một huyện, coi một xã thì làm khổ dân một xã”. Những điều đó đã dẫn tới sự bần cùng hóa của tầng lớp “dân đen con đỏ”: “khiến cho dân trong nước, con trai thì không có áo, con gái thì không có váy, tiệc hát xướng không còn, lễ cưới xin không đủ, sống nuôi chết đưa không trông cậy vào đâu, ăn uống chi dùng hàng ngày mọi bề đều thiếu, dân mọn nghèo hèn cho đến sâu bọ cỏ cây đều không sống nổi”.
Rõ ràng là, dù cụ NDT không nói ra, song người đương thời và người hôm nay đều có thể hiểu rằng, những kẻ có quyền hành mà tha hoá, tham lam, “phàm những việc nhiễu lạm, không việc gì không làm”, “ăn không chừa thứ gì của Dân” (theo cách nói của một người có chức quyền hiện nay), thì chúng chẳng khác gì giặc nội xâm hiểm độc nhất, chúng tàn phá tài nguyên đất nước, huỷ hoại lòng tin của mọi người đối với hệ thống công quyền, thiêu huỷ máu xương của bao thế hệ người đã đổ xuống cho Tổ quốc, bần cùng hoá người dân- những người đang nai lưng làm ra của cải xã hội và đóng thuế để nuôi sống bộ máy cai trị! Nhà nho giàu tâm hồn thi sĩ NDT hiểu thấu nỗi khổ ải cùng cực của người dân lành trước tai hoạ nội xâm đó và hình tượng hoá chúng một cách sinh động trong những dòng văn rung động nỗi xót xa thương cảm lạ thường, hiếm thấy trong văn chương trung đại.
Phần cuối của bài khải nói tới luật nhân quả nhỡn tiền, kể ra những thiên tai khủng khiếp mà lũ lụt là tiêu biểu, theo tác giả, đó là ông trời giáng họa xuống nhân gian, bởi trời và người vốn có mối giao cảm với nhau (“Thiên nhân tương cảm”, theo quan niệm của Nho giáo). Sử đã ghi lại chuyện “núi Tản Viên bị lở đến hơn 12 trượng”, một huyện ở Hà Bắc “trời mưa máu suốt một ngày một đêm”(5)… Những hiện tượng thiên tai này có liên quan đến nhân tai, đến chính sự hà khắc, lục đục, thối nát, dân lầm than đói khổ, oán thán ngút trời. Và trời đã gieo tai họa như để thức tỉnh người cầm quyền cần phải thay đổi đường lối chính sách kíp thời, cần hành động sao để cái ác, cái xấu buộc phải chùn tay, nếu không, Đất nước sẽ phải chịu những hậu quả nặng nề hơn nữa! Tờ khải viết tiếp: “Vì thế cảm động đến đất trời, khiến cho lòng trời ở trên không thuận, tai họa lũ lụt tràn ngập quá mức thường, chắc là có quan hệ đến chính sự hiện nay, há chẳng nên sợ hãi, tu tỉnh, nghĩ đến tội lỗi gây nên thế sao?”. Phải chăng, đây cũng là những lời bộc trực thẳng thắn, trực tiếp khuyên nhủ, nhắc nhở chúa (ở đây là Trịnh Tùng): “hãy nên sợ hãi, tu tỉnh, nghĩ đến tội lỗi” của mình! Ai dám bạo gan như cụ NDT? Bạo gan hơn, cụ còn thay mặt đạo trời đạo người vạch ra cái đòi hỏi cấp bách của thời cuộc cho người cầm quyền tối cao: “Nếu biết thi hành chính sách bảo vệ dân thì dưới thuận lòng người, trên hợp ý trời, và chuyển tai hoạ thành điềm lành, lúa được mùa luôn, người người no đủ, trong nước thái bình, cơ nghiệp ức muôn năm của nước nhà từ nay cũng do đó mà bền vững lâu dài vậy”.
Kết quả là: “Triết vương (Trịnh Tùng) khen và nhận lời. Năm Bính Thìn (1616) ông được đổi sang Đô ngự sử, rồi lại thăng Tả thị lang bộ Lễ”(6). Điều quan trọng nhất là chúa không chỉ lắng nghe, khen ngợi, thăng chức cho cụ, mà còn từ đó có những hành động cụ thể góp phần thay đổi chính sự. May thay, chính thể của chúa Trịnh Tùng đã không trở thành “con quái vật máu lạnh”-theo cách nói của một triết gia phương Tây là Nietzsche về một nhà nước dửng dưng với mọi tâm tư nguyện vọng của các tầng lớp dân chúng và chỉ lo giữ cho sự tồn tại của chính mình! Sử cũ ghi rằng, năm sau, tức khoảng cuối năm 1613, “Mùa đông tháng 11, sai triều thần chia nhau đi các xứ xét hỏi nỗi đau khổ của dân gian. Người phiêu dạt thì tha tạp dịch ba năm để về an cư phục nghiệp”(7). Sức mạnh của những lời nói chân thực và chứa đựng chân lý của kẻ sĩ đối với người cầm quyền thật màu nhiệm, tuy không phải là nhiều trong lịch sử xưa nay…
Ngày hôm nay, đọc lại và ngẫm nghĩ về bài khải văn trên, chúng ta có thể dễ dàng trực tiếp liên hệ tới thời cuộc nóng bỏng, và có thể dễ dàng chỉ ra các hoạ nội xâm là gì, những kẻ nội xâm là ai… đang tàn phá khủng khiếp Đất nước này! Còn riêng tôi thì nhớ ngay đến một bài viết còn chưa ráo mực cũng của một nhà sử học, nói về 5 điều ngụy biện của những quan chức “vì dân”- nói trắng ra đang là kẻ nội xâm nguy hiểm: “Những người phụ trách các đập thủy điện xả lũ vô trách nhiệm, coi cuộc sống, sinh mạng của người dân như cỏ rác phải bồi thường và phải bị truy cứu trách nhiệm nghiêm khắc. Những cơ quan lập ra dự án, tạo ra vô số tai ương cho đất nước cũng phải chịu trách nhiệm tương tự. Không thể có một đất nước mà mọi sai lầm đều đổ hết lên đầu dân còn quan chức cứ cò cưa ngụy biện vòng quanh, ngang nhiên ve vẩy những nụ cười thỏa mãn vô lương”(8).
Và có rất nhiều bản “khải văn” tâm huyết thời hiện đại nhiều năm qua kêu gọi việc “thi hành chính sách bảo vệ dân” một cách xứng đáng và tử tế đã được dâng lên các “chúa thượng” kiểu mới, liệu chúng đã/sẽ được lắng nghe tới đâu? Đáng mừng là những phát súng lệnh đã khai mở ròn rã để tiêu diệt giặc nội xâm. Mới đây nhất, Phó thủ tướng Chính phủ Trương Hoà Bình đã nói: tình trạng tham nhũng và lãng phí hiện nay đang đe doạ đến sự phát triển của đất nước. Tham ô, lãng phí và quan liêu là kẻ thù của nhân dân, mà đấu tranh chống tham ô, lãng phí là đấu tranh chống “kẻ địch bên trong” (cũng có nghĩa là nội xâm)(9).
Toàn dân Việt trong nước và nước ngoài đang chờ đợi, và hy vọng.
Hà Nội, đầu tháng 11. 2016
Mai An Nguyễn Anh Tuấn

Mai Khôi, một thông điệp của cuộc sống
…Thật xúc động được nghe các bài hát do chính Mai Khôi sáng tác (…). Chúng không chỉ đem đến cho người nghe cảm xúc âm nhạc sâu lắng, mà còn đánh thức lương tri con người…
Xưa nay tôi không hề tốn giấy mực về các hiện tượng Obama hay Trump, mặc dầu rất ngưỡng mộ nhân cách và trí tuệ của Barak Obama hoặc rất bị sốc về chiến thắng của Donald Trump.
Tôi viết về những người Đức bình dị như Ruppert Neudeck, Harald Jäger, mà tôi coi là tiêu biểu cho số phận, cho lương tri nước Đức, quê hương lựa chọn của tôi. Càng tự hào về quê hương này bao nhiêu, tôi càng lo lắng cho số phận quê hương chôn rau cắt rốn bấy nhiêu và chỉ mong người Việt hãy tự nắm lấy vận mệnh của mình, đừng đặt hy vọng vào các cường quốc Tây phương, vào Obama hay Trump.
Tôi chỉ gửi gắm niềm tin vào những người đang đấu tranh cho một Việt Nam công bằng và dân chủ như Cấn Thị Thêu, Đoàn Văn Vươn, Bùi Thị Minh Hằng… những người không còn gì để mất, cùng hàng ngàn người bị cướp cả đất cũng như quyền sống, phương tiện sống.

Đổi mới kinh tế cũng đã tạo nên một tầng lớp người có quá nhiều thứ để mất: địa vị, danh vọng, tiền tài, cuộc sống ấm no và hạnh phúc gia đình. Nhưng chỉ một số nhỏ trong đó dám chấp nhận hy sinh các lợi ích trên, chỉ để bảo vệ những giá trị mà họ ôm ấp: Tự do, Công bằng và Bác ái. Những người trẻ hơn tôi cả một thế hệ còn chấp nhận một thiệt thòi lớn lao hơn: Hy sinh cả tuổi thanh xuân.
Tôi được may mắn làm quen với ca sỹ trẻ Đỗ Nguyễn Mai Khôi sau khi trên mạng có một số dư luận xấu về cô(1). Mai Khôi tin ở tôi nên đã thổ lộ việc cô sang Đức biểu diễn. Tin vào sự trong sáng của Mai Khôi, tôi đã làm hết sức mình, cùng các bạn trẻ quanh tôi giúp Mai Khôi đưa những ca khúc trong Album “Trói vào Tự do” đến với cộng đồng ở Köln và Praha(2), bất chấp mọi lời can ngăn, dị nghị.
clip_image002
Một số báo chí phương Tây đã viết về Mai Khôi với đại ý: “Lady Gaga Việt Nam lên tiếng thách thức” hoặc “Lady Gaga Việt Nam quan tâm đến chính trị”(3). Trước khi đề cập đến những thông điệp chính trị của Mai Khôi, các bài báo này thường so sánh phong cách biểu diễn đầy khiêu khích của cô ca sỹ trẻ Việt Nam với siêu sao âm nhạc Mỹ.
Mai Khôi cho rằng: Người ta so sánh vậy có thể vì trước đây Mai Khôi có phong cách biểu diễn hơi khác thường, từ cách ăn mặc, từ màu tóc đến cách thể hiện khá táo bạo, làm như vậy để giúp cho khán giả quen dần với việc xóa bỏ các định kiến. Chúng ta sống trong một xã hội quá nhiều định kiến, giải phóng thanh niên khỏi các định kiến cũng là giải phóng tư tưởng. Chính vì vậy mà Khôi đã sáng tác nhạc dance, sử dụng nhạc dance để truyền tải các thông điệp xã hội. Ví dụ như trong bài “Selfie orgasm” Khôi đã mô tả hành vi tự sướng và thái độ tiếp nhận, chia sẻ thông tin không chín chắn, thiếu suy nghĩ đang ngự trị trong thanh niên Việt, làm tê liệt ý chí vươn lên của họ. Chính người Việt mình đã phát minh ra khái niệm “Selfie Orgasm (Tự sướng)” để đặt tên cho căn bệnh xã hội của mình. Giới trẻ là những người giữ trọng trách làm cho đất nước thay đổi và làm cho đất nước phát triển, nếu cứ suốt ngày “tự sướng” thì thời gian đâu để suy nghĩ cho đất nước.
Tôi coi sự so sánh Mai Khôi với Lady Gaga là rất khiên cưỡng. Khác biệt cơ bản: Lady Gaga của nước Mỹ có thể tự do làm mọi việc mà không sợ bị ảnh hưởng đến cuộc sống, điều mà Mai Khôi ở Việt Nam không thể có.
Hợp với suy nghĩ của tôi, ngày 24.10.16, báo tiếng Đức Asienzeitung đã đem những hoạt động xã hội của Mai Khôi để so sánh ngược lại rằng: giờ đây, ngay cả Lady Gaga của nước Mỹ cũng đã bắt đầu quan tâm đến chính trị, khi cô lên tiếng về nạn bạo hành của cảnh sát chống người da mầu(4).
Trong ba ngày Mai Khôi là khách của gia đình tôi ở Köln, vợ chồng tôi, ngoài việc được chứng kiến tài năng âm nhạc của một nghệ sỹ trẻ đầy nhiệt huyết, còn khám phá được một trái tim lớn bên trong một phụ nữ nhỏ bé, kiều diễm. Mai Khôi đã làm chúng tôi thật sự cảm động, khi cô tìm cách quan tâm đến một cậu fan trẻ tuổi có số phận rất đáng thương mà trong khuôn khổ bài viết này không thể kể chi tiết.
Vì ca sỹ Jazzy Dạ Lam ở Munich bận, không tham gia cùng Mai Khôi trong buổi biểu diễn tại Köln, tôi phải mời cặp vợ chồng Phương Hoa, Lê Hùng, hai nghệ sỹ nhạc dân tộc Việt Nam ở Berlin cùng tham gia để “chia lửa” cho Mai Khôi trong suốt gần 3 giờ trên sân khấu. Hai bạn Hoa, Hùng đã vui vẻ nhận lời, không lấy tiền thù lao. Vợ chồng Hoa, Hùng đã chở toàn bộ nhạc cụ, thiết bị âm thanh đến Köln giúp đỡ. Không ngờ sự tham gia của hai bạn Hoa, Hùng đã tạo nên một sự kết hợp rất thành công giữa nhạc pop hiện đại và nhạc dân gian cổ truyền Việt Nam, làm nức lòng tất cả khán giả Đức Việt có mặt hôm đó.
Thật xúc động được nghe các bài hát do chính Mai Khôi sáng tác: “Những chuyến xe Bus”, “Tiếng lòng tôi”, “Trói vào tự do”… Chúng không chỉ đem đến cho người nghe cảm xúc âm nhạc sâu lắng, mà còn đánh thức lương tri con người. Mai Khôi được thừa hưởng của cha, của gia đình cái “gen” âm nhạc là điều tôi biết, nhưng cái gì đã nuôi dưỡng nên ý thức xã hội và lòng nhân ái của một người nghệ sỹ? Không phải nhạc sỹ nào khi nhìn thấy những người vô gia cư nằm ngủ bên ngoài các tòa nhà trống đều có thể hét lên câu hỏi: Vì sao lại có sự bất công đó? Không phải người Việt nào khi nhìn thấy những chiếc xe buýt bắt người biểu tình cũng cất lên tiếng thét xé lòng như Mai Khôi.
clip_image004
Trong lúc hát bài “Những chuyến xe bus”, không hiểu có phải vì cảm xúc mạnh trước hình ảnh đàn áp và máu chảy trên mặt đường mà Mai Khôi đã đánh đứt dây đàn. Khán giả xúc động, vỗ tay cổ vũ cô hát tiếp.
Mai Khôi cho biết, cô thừa hưởng năng khiếu âm nhạc từ cha. Ông đã dạy cô chơi nhạc từ bé và đem cô theo ông đi biểu diễn nhạc đám cưới từ lúc cô 12 tuổi. Các cảm xúc trong cuộc sống thì được hình thành từ một gia đình giàu lòng nhân ái, trong đó người mẹ góp phần không nhỏ. Mẹ Khôi dạy văn nên thường truyền lại cho các con những suy nghĩ và cách hành xử rất nhân văn, những mẩu chuyện về tình thương. Do đó Khôi thường có những cảm xúc rất mạnh về xã hội, về thân phận con người. Từ nhỏ, bé Khôi đã hay khóc khi nhìn thấy những người nghèo khổ ngoài đường, hay bảo vệ các bạn yếu thế (những bạn hay bị bắt nạt) trong trường, lớp của mình.
Lớn lên, Khôi cũng hiểu được những diễn biến chính trị đã làm ảnh hưởng đến xã hội Việt Nam như thế nào thông qua lời kể, lời dạy của ông bà và cha mẹ cô, những người đã trải qua các cuộc chiến. Rồi Khôi run rủi yêu Ben, một thanh niên Úc làm việc trong một dự án quốc tế về chống bạo lực học đường tại Việt Nam. Ben hay trao đổi với cô về trách nhiệm xã hội của những người trí thức, của người nghệ sỹ trước bạo lực, truớc đói nghèo, trước bất công. Tất cả các yếu tố đó đã thổi ngọn lửa vào tâm hồn, tạo cho Mai Khôi tầm nhìn trong cuộc sống và trong ca nhạc.
Thưởng thức các sáng tác song ngữ Anh-Việt qua giọng hát mạnh mẽ của Khôi, bằng một thứ tiếng Anh rất rõ ràng, tôi thực sự ngạc nhiên về khả năng tư duy và phong cách thể hiện phá bỏ không gian của một cô gái 33 tuổi, sinh ra, lớn lên và được đào tạo trong một xã hội đầy khuôn phép như Việt Nam. Với câu niệm chú “Om Mani Padme Hum” của kinh Phật Tây Tạng, Khôi muốn gửi niềm tin vào tôn giáo hàng đầu Á châu, đang thịnh hành trong dân tộc, song cũng bày tỏ niềm thất vọng rằng niềm tin đó đã không giải phóng được cô ra khỏi những thực tế đắng cay trên quê hương. Một bài thơ mộc mạc chứa đựng tính triết lý.
clip_image006
Mai Khôi cùng ban nhạc Lotus của Phương Hoa, Lê Hùng tại Köln hôm 06.11.2016
Ngược lại, với bài hát vui “You’ve Been A Bad Bad Boy” mà cô định hát tặng Tổng thống Obama trong buổi gặp mặt hôm 24.5 tại Hà Nội, Mai Khôi đã tận dụng khả năng châm biếm của nghệ thuật để qua lời độc thoại rất đời thường với vị Tổng thống đáng kính nọ, gửi một thông điệp tới giới chính khách: Đừng quá say trong những trò chơi chính trị mà làm mất đi lòng tin của người dân!
Đáng tiếc là trong buổi gặp đầy sóng gió đó(5), Mai Khôi không có cơ hội để hát tặng Obama. Nhưng nếu có, chắc chắn người đàn ông thông minh và hào hiệp kia sẽ rất hạnh phúc đón nhận sự phê phán ngọt ngào của Khôi.
Tôi chợt tự hỏi: Một người có những tư chất như Mai Khôi thừa thông minh để nhìn ra con đường thênh thang truớc mắt, nếu cô biết tận dụng thế mạnh về chất giọng, về nhạc cảm, về kiến thức phối âm, về tư duy sáng tác độc đáo, và quan trọng hơn nữa là về ngoại hình, về phong cách biểu diễn để chinh phục công chúng qua các sáng tác giải trí. Vậy cái gì đã tạo ra buớc ngoặt, khiến Mai Khôi quan tâm đến các đề tài tiến bộ xã hội, dân chủ, nhân quyền và bất chấp mọi nguy hiểm, tìm mọi cách đưa chúng vào âm nhạc?
Ngày hôm sau, trong một quán cà phê dưới chân tượng đài Beethoven ở thành phố Bonn, Mai Khôi tâm sự với tôi:
- Ngay từ khi bắt đầu biết sáng tác nhạc, Mai Khôi đã quan tâm đến công bằng xã hội. Nhưng có lẽ chỉ từ khi nghe anh Quang A tuyên bố đứng ra ứng cử Quốc hội thì cô mới bắt đầu thực sự đi tìm các câu trả lời về sự bế quan tỏa cảng trong sáng tác nghệ thuật, về sự kiểm duyệt vô nguyên tắc. Rồi Khôi nhận ra rằng việc người nghệ sỹ không có quyền tự do sáng tác cũng chính là việc người dân không có quyền được nói lên tiếng nói của mình. Vậy nên cô quyết định đứng ra ứng cử đại biểu Quốc hội. Tất nhiên với việc làm đó, cô mong muốn thức tỉnh giới trẻ hãy quan tâm hơn đến chính trị, hơn là mong mình được vào Quốc hội.
Đối với Khôi, việc trở thành một ca sĩ giải trí với hàng trăm ngàn người hâm mộ chưa bao giờ là ước mơ của cô. Khôi luôn luôn muốn được sáng tạo ra gì đó mới mẻ. Khi thấy ca sĩ giải trí đã nhan nhản khắp nơi, trong khi con người đang lạc trong mê hồn trận tiêu khiển, cô không muốn trở thành một thứ giải trí nữa. Khôi không thể nào chịu nổi, không thể nào ngồi im, không thể nào mua vui, khi thấy người dân bị ức hiếp, bạn bè anh em bị bỏ tù vô tội, bị đánh, bị cướp quyền đi lại….Vậy hãy biểu đạt những điều Khôi nghĩ, những điều Khôi thấy, những điều Khôi muốn, chính là bằng âm nhạc, sức mạnh duy nhất mà Khôi có.
- Gia đình Mai Khôi phản ứng ra sao trước sự lựa chọn đó? tôi hỏi.
- Ba mẹ Khôi luôn vun xới cho sự nghiệp của Khôi và tất nhiên ông bà rất mừng về con đường âm nhạc của Khôi. Sau khi Khôi đứng ra tự ứng cử đại biểu Quốc hội, địa phương có cử người đến gia đình nhắn nhủ. Mẹ Khôi lo lắng lắm. Khôi nghe mẹ than thở nhưng không muốn bàn chuyện đó qua điện thoại. Khôi về tận quê giải thích cho mẹ nghe, để mẹ hiểu rằng Khôi không hề làm điều gì sai trái, Khôi đang làm đúng nghĩa vụ công dân như mẹ đã dạy dỗ Khôi. Mẹ nghe ra và trở nên vững tâm. Còn ba Khôi thì ủng hộ Khôi ngay từ đầu và ông chính là một trong những nguồn động viên Khôi. Ben, chồng Khôi cũng là người vô cùng tâm huyết với những vấn đề xã hội, đặc biệt là xã hội Việt Nam. Ben đã sống ở Việt Nam 7 năm, đưa chương trình giáo dục về chống bạo lực và bất bình đẳng giới vào các trường học cấp hai nhằm mục đích giải quyết bạo lực và định kiến giới ở tận gốc. Dĩ nhiên, Ben rất vui sướng khi có người đồng tư tưởng với mình, đó là mong muốn và làm hết sức mình cho một xã hội tốt đẹp hơn.
Trong buổi biểu diễn ở Köln, các nghệ sỹ luôn nhận được những tràng pháo tay vang dội của khán giả, dù sao chỉ là của khoảng 100 người, trong một hội trường nhỏ, bố trí đơn sơ, lắp đặt vội vàng. Tôi nghĩ một người đã nổi tiếng như Mai Khôi, với 40.000 người hâm mộ (Followers) trên Facebook, đã từng đứng dưới hào quang của các sân khấu lớn, liệu có bị hụt hẫng trong hoàn cảnh khiêm tốn như hiện tại?
Mai Khôi nói rằng, đó là một sự ngộ nhận: Khôi xưa nay, kể cả lúc thành đạt nhất, chưa bao giờ đi tìm ánh hào quang. Chính vì vậy cô rất ít khi xuất hiện ở những sân khấu lớn. Điều quan trọng của Khôi là tình cảm thực sự của khán giả, là sự gắn bó của khán giả đối với các sáng tác của mình, chứ không phải sự cuồng nhiệt vì giá trị giải trí của các show. Do vậy trước hay sau khi bị gây khó dễ bởi các hoạt động xã hội của mình, những khán giả yêu mến Khôi vẫn luôn bên cô. Khôi không hề bị hụt hẫng. Ngược lại tình cảm của bà con tại các buổi biểu diễn ấm cúng ở Đức, ở Tiệp mấy hôm vừa qua, đã làm cho Khôi hết sức xúc động. Điều duy nhất làm cho Khôi buồn là một số bạn bè thân thiết của Khôi, không biết vì quá lo lắng cho Khôi, hay cho bản thân mà họ đã khuyên can Khôi từ bỏ con đường Khôi đã lựa chọn, có những người thậm chí đã xa lánh Khôi.
Sau buổi biểu diễn, một cô gái Việt, cùng tuổi với Mai Khôi, đã đặt câu hỏi rất đơn giản cho mọi người Việt, nhưng lại rất khó hiểu cho những người Đức tại hội truờng: Liệu những hoạt động xã hội của Mai Khôi có trở thành nguy cơ đe dọa sự nghiệp âm nhạc của một nghệ sỹ có tài hay không?
Mai Khôi: Tùy quan niệm của mọi người về hai chữ “sự nghiệp”. Đối với Khôi, sự nghiệp âm nhạc không chỉ là các nốt nhạc, các lời ca, mà chính là các thông điệp chính trị chứa đựng trong đó. Do vậy nếu sáng tác âm nhạc mà không gắn bó với các vấn đề nóng bỏng của xã hội thì không thể coi đó là sự nghiệp.
Mặt khác, Khôi thấy, mức độ phát triển sự nghiệp của một người nghệ sỹ có tài thường tỉ lệ thuận với những rủi ro, nguy khốn, những thử thách. Do vậy nếu muốn phát triển phải chấp nhận những thử thách.
Khi được hỏi liệu cô có sợ bị khó khăn khi quay về nước? Mai Khôi nói: Khôi không nghĩ như vậy. Khôi không chống lại Nhà nước. Khôi chỉ muốn Nhà nước nghe được dân đang nghĩ gì, đang cần gì. Khôi yêu Việt Nam và muốn Việt Nam cũng phát triển như những nơi mà Khôi đã đến. Ở tất cả những nơi nơi đó, người dân và chính phủ luôn đối thoại bình đẳng với nhau.
Với sáng tác, với giọng hát và cây đàn của mình, Mai Khôi muốn cổ vũ giới trẻ: Hãy quan tâm đến chính trị, đến quyền được nói, quyền được yêu, được ghét, quyền tự do sáng tác, quyền được ứng cử của mình và hãy đấu tranh để bảo vệ chúng. Cũng chính bằng âm nhạc, Khôi muốn nhắc nhở chính quyền phải tôn trọng các quyền thiêng liêng đó của người dân, vốn đã ghi trong Hiến pháp.
Tiễn Mai Khôi tại nhà ga, nhìn cô đeo chiếc đàn guitar bước lên tàu hỏa, tôi tâm đắc về thông điệp của cô gái nhỏ bé này: Mỗi con người hãy gửi gắm những ước mơ đẹp của mình vào sự nghiệp. Đối với cô, đó là âm nhạc.
Köln 11.2016
X.T.
__________
(1) Sau cuộc gặp với Tổng thống Obama hôm 24.05.16, có một số ý kiến trên mạng cho rằng Mai Khôi đã không hề phát biều gì về tự do ngôn luận, tự do biểu diễn, về nhân quyền trong cuộc gặp này, mặc dầu cô khẳng định là có. BBC cũng đưa tin như vậy và sau này đã lên tiếng cải chính. Blogger Anh Gấu Phạm, người phiên dịch cho phái đoàn Mỹ gần đây cũng khẳng định là Mai Khôi đã kể đúng những gì cô phát biểu trong cuộc gặp.
(2) Tôi đã liên hệ với hai nhà Việt Nam học ở Praha là Jan Komarek và Ondra Slowik. Hai bạn giúp tổ chức buổi biểu diễn của Mai Khôi tại Jam Club Praha hôm 30.10.16.
(5) Nhà Trắng dự định mời khoảng 10 người đại diện cho các tổ chức Xã hội Dân sự Việt Nam đến gặp Tổng thống Obama, nhưng nhiều người trong số đó bị chặn hoặc bị bắt cóc. Đến giờ chót số ghế trống mới được dọn đi.
Xuân Thọ

No comments:

Post a Comment