Wednesday, November 30, 2016

Bài viết hay(4195)

Tự dưng tui ao ước sao Phong trào XHDS sẽ có được một nhân tài như con rể của Trump, Jared Kushner biết tận dụng internet để tạo ra thành công bất ngờ như Trump. Giá như có một Jared Kushner quyền biến, "thần sầu quỷ khốc" thì hay biết mấy nhỉ? Phong trào XHDS nổi lên ở VN bắt đầu từ những người là Đảng viên trung kiên, cán bộ nồng cốt đã từng một thời đi theo Đảng. Nếu như một ngày nào đó, những kẻ đã từng làm bồi bút, nâng bi bợ đít Đảng, hay làm "dư luận viên" của Đảng học được từ Phong trào XHDS để sớm giác ngộ và quay về với người dân thì họ sẽ sám hối, ăn năn như thế nào?
Báo chí Mỹ sẽ phải đối phó thế nào với những tuyên bố sai sự thật của vị tổng thống đắc cử?
Đôi lời: Ở Việt Nam, mọi chuyện điều nằm dưới sự lãnh đạo của đảng, không có tự do báo chí, nên mới có chuyện ông Huỳnh Đức Thơ, Chủ tịch UBND TP Đà Nẵng trực tiếp hỏi cung nghi phạm Mạc Văn Nhân. Trong khi báo chí ở VN đưa tin, xem đó là chuyện bình thường.Nhưng ở Mỹ thì khác, báo chí là quyền lực thứ tư, sau tam quyền phân lập: hành pháp, lập pháp và tư pháp. Báo chí giám sát hoạt động của ba cơ quan quyền lực cao nhất này. Do vậy, mấy tuần qua, các nhà báo đã không thể chịu được khi ông Donald Trump, tổng thống mới đắc cử, liên tục có những phát biểu sai sự thật, thậm chí vi hiến… Họ không xem đó là chuyện bình thường và họ đã lên tiếng.
Tổng thống đắc cử Donald Trump. Ảnh: internet
Tổng thống đắc cử Donald Trump. Ảnh: internet
Đây là một câu hỏi mà giới báo chí chưa từng phải đối phó với điều này trước đó: làm thế nào để đối phó với một tổng thống mới đắc cử và cuối cùng sẽ trở thành tổng thống, ông ta là người thường xuyên đưa ra những tuyên bố sai sự thật và đáng sợ trên Twitter?
Bởi bản chất của chức vụ, khi một tổng thống nói điều gì đó, thường là tin tức. Những lời nói có thể thay đổi thị trường, bắt đầu cuộc chiến tranh, thay đổi các chính sách lớn về đối nội và đối ngoại. Và đó là lý do vì sao hầu hết các tổng thống hạn chế và thận trọng với các lời tuyên bố trước công chúng của mình.
Không chỉ Donald Trump. Đó là một trong những điều mà những người ủng hộ ông ta thích ông ta và những người chỉ trích ông ta thì coi thường. Và bất cứ ai nghĩ rằng Trump đã thay đổi sau cuộc bầu cử, tục ngữ có câu, quá khứ có vẻ như là giai đoạn khởi đầu.
Nhưng trong báo chí có phần thảo luận chuẩn bị về những cái Tweet kia [của ông Trump] mang ý nghĩa gì và xử lý chúng như thế nào. Bởi vì cho dù ông Trump Tweet về buổi hòa nhạc Hamilton, chương trình Saturday Night Live, đưa thông tin sai khi nói rằng ông ta đã thắng phiếu phổ thông, thay đổi Hiến pháp về việc đốt cờ (cái Tweet mới nhất của ông ta đưa ra hôm nay), những tuyên bố này chắc chắn lấn át chu kỳ tin tức. Trong khi đó, có rất nhiều câu chuyện khác quan trọng nhưng không nhận được sự chú ý của công chúng – như những cuộc điều tra Trump về khả năng xung đột lợi ích từ những việc làm mờ ám trong kinh doanh của ông ta hoặc một số chức vụ quan trọng đã được nhận bởi sự lựa chọn nội các của ông.
Một số lời bình luận trên các tờ báo và các ý kiến mà tôi đã đọc trên trang này, đưa ra giả thuyết rằng, Trunp sử dụng Twitter như một nước cờ xuất sắc để đánh lạc hướng sự chú ý của công luận về những câu chuyện có khả năng gây nguy hại hơn cho ông ta. Những ý kiến khác cho thấy rằng, càng có nhiều các phương tiện truyền thông sử dụng Twitter, những người ủng hộ Trump (nghĩ rằng báo chí có thành kiến khi bắt đầu) càng bị chọc tức và thông điệp của Trump càng chi phối các cuộc thảo luận công khai. Tôi có thể nhìn thấy giá trị của tất cả các quan điểm này.
Trong khi đó, Tổng thống Hoa Kỳ đưa ra lời nói dối trên Twitter, đe dọa người dân và các tổ chức, để lộ một nỗi ám ảnh với các thuyết âm mưu – tất cả những điều này cũng là tin tức. Và quan trọng là báo chí không được xem những chuyện này là bình thường.
Trên trang này, tôi sẽ cố gắng giữ sự cân bằng giữa việc mang sự chú ý đến Tweets khi tôi nghĩ rằng những tin tức đó đủ quan trọng để đưa ra, nhưng tôi không cho phép những bài của tôi chi phối những tin tức quan trọng khác. Nó sẽ là một quá trình để hiểu ra và tôi hoan nghênh những ý kiến của các bạn và tiếp tục tham gia khi chúng ta trải qua giai đoạn này.
Vào thời điểm như thế này, đôi khi tôi cố tưởng tượng không biết người anh hùng báo chí của tôi, ông Edward R. Murrow sẽ phải làm gì. Trường hợp này, tôi có thể tưởng tượng ông ấy sẽ nhún vai và lắc đầu trong sự hoài nghi. Ông ấy có thể nói: “Con trai, cha thấy rất nhiều điều trong đời của cha, nhưng cha chưa bao giờ nhìn thấy bất cứ điều gì như thế này. Chúc may mắn, nhưng cha e rằng con sẽ phải tự đối phó với nó“.

Tu chính án số 1 Hiến pháp Hoa Kỳ đã bị ông Trump xé bỏ?

29-11-2016
3h55′ sáng hôm nay, ở miền Đông nước Mỹ, Donald Trump đã đưa lên twitter câu này: “Không ai được phép đốt cờ Mỹ. Nếu họ đốt, họ phải nhận lãnh hậu quả, hoặc mất quyền công dân hoặc phải ở tù cả năm”.
Nguyên văn: “Nobody should be allowed to burn the American flag — if they do, there must be consequences — perhaps loss of citizenship or year in jail!”
Trong lịch sử nước Mỹ, Tối cao Pháp viện đã 2 lần khẳng định quyền đốt cờ là một hình thức thể hiện quyền tự do ngôn luận, trong những vụ kiện ra tòa năm 1989 và 1990.
Năm 1984, ông Gregory Johnson đã đốt cờ Mỹ bên ngoài Đại hội đảng Cộng hòa ở Dallas, bang Texas, để bảo vệ các chính sách của TT Ronald Reagan. Ông Johnson bị bắt và bị tòa án Texas kết tội đốt cờ, ông bị phạt $2.000 và một năm tù ở.
Năm 1989, ông Johnson kháng án lên Tối cao Pháp viện, lập luận rằng, hành động đốt cờ để nói lên tiếng nói bất đồng của ông là quyền Hiến định, được ghi trong Tu chính án số 1.
Kết quả là, Tối cao Pháp viện đã lắng nghe tiếng nói của ông, đa số các thẩm phán cho rằng hành động đốt cờ của ông Johnson là hành động thể hiện quyền tự do ngôn luận, được bảo vệ bởi Tu chính án số I của Hiến pháp Hoa Kỳ. Tối cao Pháp viện không thấy ông Johnson có tội. Vụ án kết thúc. Johnson vô tội.
Bây giờ ông Trump nói câu đó, phải chăng ông nghĩ rằng ông có quyền đứng trên Hiến pháp Mỹ?
Mời đọc thêm: Trump: Burn the flag, go to jail (CNN).
Tác giả: Dan Rather
Dịch giả: Ngọc Thu
29-11-2016

Cựu tổng biên tập Lao động 'hối tiếc vì làm công cụ của Đảng'


clip_image001
Ông Tống Văn Công tuyên bố từ bỏ Đảng năm 2014
Cựu tổng biên tập Lao động trả lời phỏng vấn BBC Tiếng Việt nhân cuốn hồi ký 'Đến già mới chợt tỉnh - Từ theo cộng đến chống cộng' của ông vừa được phát hành tại Mỹ.
Nhà báo Tống Văn Công, cựu tổng biên tập Lao động (1989 - 1994), từng được biết đến với những bài phản biện trên báo lề trái và 'thư góp ý với Đảng' và từng bị tờ Quân đội Nhân dân có bài công kích năm 2013.
Năm 2014, ông tuyên bố từ bỏ Đảng và hiện nay đang định cư tại Hoa Kỳ.
BBC: Thông điệp mà ông muốn chuyển tải qua cuốn hồi ký vừa được Người Việt Books ấn hành tháng 11/2016?
Tống Văn Công: Tôi muốn góp một phần nhỏ vào cuộc đấu tranh của người dân, trong đó có nhiều đồng chí cũ của tôi đòi dân chủ hóa đất nước, thực hiện các quyền dân sự và chính trị, tự do ngôn luận, tự do lập hội, nhà nước pháp quyền với tam quyền phân lập.
Chúng tôi dễ thống nhất với nhau rằng: Cản ngại chính là những người lãnh đạo Đảng Cộng sản hiện nay. Cuối đời nhìn lại, tôi nhận ra trách nhiệm của chính mình đã góp phần xây dựng nên lực lượng cản ngại này: Đó là di sản của chính chúng tôi!
Tôi dùng người mà chỉ dựa vào vào năng lực và nhiệt tâm của người đó đối với tờ báo, không phân biệt anh em ở chế độ cũ và người bị tù cải tạo - nhà báo Tống Văn Công
Những điều gì thôi thúc ông từ tuyên bố từ bỏ Đảng năm 2014 đến cuốn hồi ký phát hành năm 2016?
Luật sư Lưu Nguyên Đạt cho rằng "Quyết định bỏ Đảng của Tống Văn Công không quyết liệt, không sáng sủa như qua lời phát biểu của Lê Hiếu Đằng. Nó không đanh thép bằng lập trường thô bạo của một Dương Thu Hương".
Sở dĩ như vậy là vì tôi nghĩ rằng mình không thể phát ngôn như một kẻ vô can.
Khi nhận ra chế độ Đảng trị đưa tới hai hiểm họa cho đất nước là tham nhũng và lệ thuộc ngoại bang, tôi đã mạnh dạn góp ý xây dựng, kiên trì góp ý xây dựng, chỉ đến khi không thể xây dựng được nữa, tôi mới tuyên bố từ bỏ Đảng.
Mục đích của việc từ bỏ Đảng đúng như nhà báo Hồ Ngọc Nhuận nhận định:"Nó đóng góp cho dân chủ hóa đất nước". Quyển hồi ký này tiếp tục thực hiện mục đích đó.
Trong cuộc đời làm báo, làm tổng biên tập tại Việt Nam, ông hối tiếc nhất điều gì và ngược lại điều gì khiến ông cảm thấy hãnh diện nhất?
"Hối tiếc nhất điều gì" ư? Đó là tự nguyện làm công cụ của Đảng chứ không phải thực hiện quyền tự do báo chí,tự do ngôn luận của nhân dân.
Còn hãnh diện? Từ này quá cao đối với tôi. Nhưng cũng xin trả lời thế này: Tôi đã cùng anh em báo Lao động đưa tờ báo từ chỗ chỉ bán cho Công đoàn mua bằng tiền nhà nước, đến chỗ đưa ra bán ở các sạp báo cả nước với số lượng cao nhất so với các tờ báo trung ương hồi đó.
Tôi nghĩ, cũng đáng "hãnh diện" khi bị cho nghỉ hưu với các lý do mà Ủy viên Bộ chính trị Phạm Thế Duyệt cho tôi biết: "Tổ chức bộ máy nhân sự làm cho cơ quan an ninh không yên tâm".
Đó là do tôi dùng người mà chỉ dựa vào vào năng lực và nhiệt tâm của người đó đối với tờ báo, không phân biệt anh em ở chế độ cũ và người bị tù cải tạo.
Từ khi tôi làm Tổng biên tập có nhiều loạt bài khiến Bộ Chính trị lo lắng. Thậm chí có lần trong một tháng, tờ báo của tôi có bài phê bình bốn Bộ trưởng.
clip_image003
Cuốn hồi ký của ông Tống Văn Công vừa được Người Việt Books ấn hành tháng 11/2016
Nhìn tình hình báo chí trong nước với một loạt Tổng biên tập bị cách chức, báo bị Bộ Thông tin - Truyền thông Việt Nam xử phạt, ông có bình luận gì?
- Tình trạng này phản ánh sự khủng hoảng của thể chế và mâu thuẫn giữa các phe phái trong Đảng cầm quyền.
Theo đánh giá của ông thì đến bao giờ Việt Nam mới có tự do báo chí?
- Ông Frederich Douglass, một nhà đấu tranh cho quyền bình đẳng giữa các dân tộc có nói: "Trong các quyền con người, quyền biểu tỏ ý kiến là nỗi kinh hoàng của các hôn quân, bạo chúa, là thứ quyền mà chúng phải ra tay triệt hạ đầu tiên".
Do đó tự do báo chí chỉ được thực hiện trong một thể chế dân chủ như Tổng thống Obama nói: "Một chính phủ lấn lướt báo chí, một chính quyền không phải đối mặt với giới truyền thông cương trực và mạnh mẽ không phải là sự lựa chọn của nước Mỹ".
Thách thức lớn nhất đối với những người đang tâm huyết với nghề báo tại Việt Nam là gì?
- Là không có quyền tự do báo chí. Báo chí phải viết theo chỉ đạo của Ban Tuyên huấn Đảng Cộng sản.
Năm 2008, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tuyên bố "Kiên quyết không để tư nhân hóa báo chí dưới mọi hình thức".
Dù Việt Nam có báo chí tư nhân nhưng nếu vẫn bị Ban Tuyên huấn chỉ đạo thì vẫn không có tự do báo chí.
Cách đây hơn 150 năm, ông Rober Lowe, một chính khách người Anh cho rằng: "Chúng ta nhất định phải nói lên sự thật, đúng như chúng ta nhìn thấy, không sợ mọi hậu quả, nhất định không cung cấp chỗ ẩn náu thuận tiện cho những hành vi bất công hay áp chế mà phải lập tức giao chúng cho sự phán xét của thế giới".
Câu nói đó vẫn đang thách thức lương tâm và năng lực các nhà báo Việt Nam.
Ông đã phải trả những cái giá nào trong cuộc đời làm báo của mình ở Việt Nam?
- Xin trích mấy câu trong Hồi ký Không tên của nhà báo Lý Quý Chung, Tổng thư ký tòa soạn báo Lao động cho câu hỏi này: "Con đường phát triển độc đáo của tờ báo - một tờ báo mang tính đột phá về nghề nghiệp ở thời điểm đó - bị khựng lại giữa lúc đầy phấn khởi. Anh được cho về hưu vào cái lúc anh thành đạt nhất trong sự nghiệp báo chí của mình".
Cái giá phải trả còn vượt xa ngoài bản thân tôi. Hơn 20 anh em nhà báo tài năng cùng bỏ việc như Lý Quý Chung, họa sĩ Chóe, cây bút phiếm luận nổi tiếng Ba Thợ tiện (Hoàng Thoại Châu), cây bút điều tra nổi tiếng Lưu Trọng Văn...
B.N. thực hiện
Nguồn: http://www.bbc.com/vietnamese/vietnam-38141485Ben Ngô /BBC Tiếng Việt
Nỗi đau mất đất
Nếu dân vẫn còn đất thì sẽ vẫn còn nhiều, rất nhiều Cấn Thị Thêu. Vì nói như Tố Hữu, cộng sản vốn là “khoai sắn”:
Ngày xưa khoai sắn sống lang thang
Bãi cát cồn khô mé núi hoang
Không hỏi đòi chi hồn giản dị
Quanh năm bè bạn chị em làng.
Một buổi cờ son lên nối ngôi
Sao thiêng nghiêng xuống luống cày tồi
Sắn khoai hăm hở về dinh chiếm
Làm rối trên miền đám cỏ hôi.
Cộng sản gia Tố Hữu nói như đinh đóng cột: dinh thự là mục tiêu đầu tiên khoai sắn “hăm hở” tiến vào để chiếm bằng được một khi đã nắm được “cờ son” trong tay. Nhưng chiếm xong dinh thự rồi thì tất nhiên phải quay sang chiếm đất, vì không có đất thì “khoai sắn” biết lấy gì mà ăn? Ở trong lâu đài mà không “có thực” thì làm sao mà “vực được đạo” cộng sản dậy? Bởi thế mới nẩy ra số phận bi thảm của những người như Bà Nguyễn Thị năm thời CCRĐ, và những người như Cấn Thị Thêu ngày nay.
Ai còn khăng khăng nghĩ rằng cộng sản không tham đất là điều ngốc nghếch đến ngu xuẩn. Chắc trước khi chết Bà Nguyễn Thị Năm thánh thiện cũng đã nhận rõ sự thực thê thảm này. Có thế linh hồn Bà mới thảnh thơi yên nghỉ được.
Bauxite Việt Nam
Bà Cấn Thị Thêu vẫn 20 tháng tù, y án sơ thẩm.
clip_image001
Cả phiên toà phúc thẩm chỉ có bà Thêu có mặt, 2 nhân chứng quan trọng nhất thì có mặt trước cửa phòng xử (phải qua cửa an ninh mới vào được), nhưng lại không vào phòng xử tham gia mà nhởn nhơ trước công lý và coi thường luật pháp. Viện kiểm sát còn coi đó là đièu không quá quan trọng. Hội đồng xét xử cho rằng đã qua phần thủ tục nên không xem xét lại, trong khi chúng tôi không thấy báo họ vắng mặt nên mặc nhiên coi là họ tham dự phiên toà hôm nay.
Thiếu nhiều chứng cứ buộc tội và nhiều chứng cứ vô giá trị. Kiểm sát viên còn không đối đáp hết các quan điểm của tôi xoáy sâu vào biên bản bắt quả tang mà có dấu hiệu được tạo nên vì hai nhân chứng trực tiếp không gặp nhau tại công an phường Láng Hạ khi lập biên bản, và bắt từ 11h30 nhưng tới 19h20 mới lập biên bản bắt quả tang???
Hai nhân chứng ung dung ngồi trước cửa phòng xử và cố ý vắng mặt, tôi yêu cầu có mặt theo thủ tục dẫn giải theo điều 192 Bộ luật Tố tụng hình sự, nhưng không được đáp ứng.
Các chứng cứ và tình tiết vụ án đã được nêu bật ở sơ thẩm nhưng kiểm sát viên ở phúc thẩm đã chỉ dựa hoàn toàn vào hồ sơ có sẵn từ cơ quan điều tra mà không bổ sung phần yêu cầu của tôi ở cấp sơ thẩm là phải có biên bản xử phạt hành chính thì các quyết định xử phạt hành chính mới có giá trị pháp lý mà làm mặt cấu thành khách quan. Vì một phiên toà không thể coi một nửa sự thật là thứ hợp pháp để dùng nó vào việc buộc tội. Nhưng gần như mọi thứ đều thiếu vắng và các video còn không được trình chiếu như ở cấp sơ thẩm (mặc dù trình chiếu ở cấp sơ thẩm là cắt đoạn các clip và rất ngắn).
Bản án sơ thẩm đã ghi nhận tình tiết tắc đường chênh lệch đến 20 phút (vào lúc 12h) so với clip mà họ dựa vào đó để trích xuất rằng việc ách tắc diễn ra từ 11h24 đến 11h43, mặc dù video này không đảm bảo giá trị chứng cứ do không được giám định hợp pháp (không đảm bảo theo Điều 66 BLTTHS nên không thể sử dụng làm chứng cứ). Biên bản phiên toà cấp sơ thẩm đã ghi rõ những mâu thuẫn trong lời khai của các nhân chứng và kể cả việc không đối đáp được của kiểm sát viên ở phiên toà này. Vậy mà không được đối chất và làm rõ, thẩm tra các chứng cứ tại phiên toà (điều 241 BLTTHS).
Các cơ quan tiến hành tố tụng có nghĩa vụ và trách nhiệm phải làm rõ sự thật, toàn diện và cả chứng cứ buộc tội lẫn gỡ tội, trong khi cả đám đông tới 50-60 người đi khiếu kiện lại chỉ nhằm vào bắt bà Thêu thì quả thực vô lý hết sức. Mà việc bắt bà Thêu là có chủ đích khi cảnh sát khu vực đã theo dõi và kiểm soát bà Thêu trong suốt thời gian trước đó cũng như tại ngày bắt bà Thêu vào 08.04.2016. Và rõ ràng là việc người mặc thường phục mà được coi là công an làm nhiệm vụ chính trị bắt người lên xe bus mới gây ra xáo trộn trên đường bằng việc dừng chiếc xe bus chình ình bên đường. Hơn nữa, người mặc thường phục mà bắt dân một cách tự tiện thì có phải là đang làm trái luật về thủ tục bắt người theo Hiến pháp và Bộ luật TTHS hay không?
Phiên toà lỏng lẻo và thiếu cơ sở thế này, tôi phát biểu tại phiên toà hôm nay, thì quả thực bất an và nguy hiểm quá vì bất cứ ai trong chúng ta cũng có thể bị bắt và xét xử trong tình trạng thiếu chứng cứ và cố tình buộc tội như vậy. Tôi chỉ cần vị đại diện Viện kiểm sát thực hiện đúng luật, chỉ cần đảm bảo đúng luật chứ không cần sáng tạo gì cả để bảo đảm rằng việc xét xử vụ án được khách quan, đầy đủ và toàn diện, vì chỉ có những người lâm vào cảnh đi khiếu kiện đòi quyền lợi ròng rã 10 năm trời mới thấm thía được nỗi khổ của họ.
Đúng là, luật pháp ở quanh ta nhưng công lý ở rất xa.
LS Lê Văn Luân
Tòa xử phúc thẩm bà Cấn Thị Thêu
clip_image001
Bà Cấn Thị Thêu được nhiều người biết đến là một nhà hoạt động vì các quyền đất đai và môi trường.
Phiên tòa xử phúc thẩm bà Cấn Thị Thêu, một nhà hoạt đấu tranh vì quyền đất đai từng bị kết án 20 tháng tù hồi tháng 9, diễn ra ngày 30/11 tại Hà Nội.
Phó Giám đốc bộ phận châu Á của Tổ chức Theo dõi Nhân quyền Phil Robertson cho biết trong một thông cáo: “Công lý thực sự mà Tòa Phúc thẩm có lẽ phải dành cho bà Cấn Thị Thêu là bác bỏ các cáo buộc không có thật và phóng thích bà ngay lập tức”.
Ông cho biết thêm, việc bỏ tù bà Thêu không làm thay đổi thực tế rằng biểu tình ôn hòa phản đối việc tịch thu đất đai không thể được coi là phạm tội.
“Chính phủ Việt Nam cần khẩn trương sửa đổi luật đất đai và các quy trình khiếu nại để bảo vệ quyền lợi của người nông dân, không phải để trừng phạt họ vì đã lên tiếng và đòi hỏi hành động trước những yêu cầu của họ”, ông nói.
Bà Cấn Thị Thêu và nhiều người dân ở Dương Nội, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội cách đây 2 năm đã đấu tranh, phản đối việc nhà chức trách thu hồi đất của dân để giao cho một doanh nghiệp tư nhân để kinh doanh bất động sản. Họ cho rằng qui trình thu hồi đất không đúng pháp luật, điều này sau đó đã được Thanh tra Chính phủ xác nhận.
Vì hoạt động đấu tranh của mình, bà Thêu và chồng đã bị bắt một lần vào cuối tháng 4/2014 và phải nhận án tù 15 tháng. Họ mới mãn án vào cuối tháng 7 năm ngoái.
Theo HRW, VOA
Tham khảo thêm một bài từ 2012:
Chế đ đđai Vit Nam: Sai đếđâu sđến đó
Nguyễn Quốc Khải
clip_image003
Hình (giaoduc.net.vn): Hai anh em ông Đoàn Văn Vươn (phải) và Đoàn Văn Quý (trái), nạn nhận của vụ cướp đất tại huyện Tiên Lãng, Hải Phòng.
Trong thời gian gần đây người ta bàn cãi rất nhiều về những mưu toan tịch thu đất đai của người dân ở Huyện Cờ Đỏ thuộc tỉnh Cần Thơ và Huyện Tiên Lãng ngoại thành Hải Phòng mà bà Trần Ngọc Sương và ông Đoàn Văn Vươn là hai nạn nhân chính. Trước đây đã có hàng trăm ngàn trường hợp nông dân bị ức hiếp như vậy vì họ đều cùng ở trong cùng cảnh ngộ như Bà Sương hay ông Vươn. Trong nhiều trường hợp hàng trăm dân oan kéo về Hà Nội và Saigon để khiếu kiện về đất đai trong hơn mười năm vừa qua. Một tai nạn này đã gây xúc động mãnh liệt trong nước cũng như ở hải ngoại xẩy ra vào cuối năm 2005 liên quan đến đất đai và bà Phạm Thị Trung Thu là một nạn nhân. Tuyệt vọng vì khiếu kiện đòi nhà đất bị tịch thu tại Đà Lạt không có kết quả, bơ vơ không nơi nương tựa và uất ức vì bị đối sử bất công, Bà Phạm Thị Trung Thu đã ra Hà-Nội tự thiêu ngay tại nhà tiếp dân ở Quận Ba Đình. Bà bị phỏng nặng nhưng được cứu sống 1/ và chữa trị bằng một phần tiền của một số người hảo tâm mà Bà không hề quen biết ở nước ngoài gửi về giúp.
Đất đai là một tài nguyên khan hiếm, một tích sản quý giá và là một vấn đề quan trọng liên quan đến tất cả 90 triệu người Việt Nam. Ai cũng cần có một mái nhà trên một mảnh đất để ở. Nhưng đất đai còn là một phương tiện sinh sống thiết yếu của 63 triệu người dân nông thôn. Nhà nước đụng đến đất đai là đụng đến an sinh của cả 90 triệu dân. Gần nửa thế kỷ vừa qua, Cộng Sản Việt Nam CSVN) đã dùng đất đai và nhà ở làm phương tiện để sách động và kiểm soát dân. Chính sách đất đai và hộ khẩu cũng như cải cách ruộng đất vào giữa thập niên 1950, đều là những thứ vay mượn của Trung Quốc. Chúng đã cản trở việc phát triển đất nước và gây ra không biết bao nhiêu đau thương và bất công trong xã hội.
Chế độ đất đai tại Việt Nam phản ảnh trung thực mưu đồ tối tăm và tầm nhìn thiển cận của cấp lãnh đạo.
Chính sách tập thể hóa đất đai
Trong thời gian chưa nắm được quyền hành, CSVN phát động đấu tranh giai cấp, đấu tố địa chủ, lấy đất chia lại cho dân, “trả ruộng cho người cầy” để lôi kéo nông dân. Đến khi có được quyền hành trong tay, CSVN thâu hồi lại đất đai và bắt dân làm mướn. Chính sách tập thể hóa đất đai kéo dài không được bao lâu vì nông dân chống đối mạnh mẽ, đặc biệt tại miền Nam Việt Nam. Tính đến năm 1986, chỉ có 5.9% nông dân ở đồng bằng Sông Cửu Long, 20% ở miền Đông Nam phần, và 85% ở vùng đất thấp của miền Trung gia nhập các hợp tác xã. Số lượng nông phẩm sản xuất giảm xuống nhanh chóng khiến Việt-Nam bị đe dọa bởi nạn khan hiếm thực phẩm nghiêm trọng. Nạn thiếu đói này làm người ta liên tưởng đến chính sách bắt dân trồng đay thay vì lúa gạo để làm nguyên liệu cho việc sản xuất quân trang, quân phục của quân phiệt Nhật vào năm Ất Dậu 1945. Hậu quả là một triệu dân Việt bị chết đói.
Để giải quyết nạn đói đe dọa, CSVN đã phải nương tay để mặc dân chúng tự sản xuất nông phẩm trên những mảnh đất quanh nhà hay bỏ hoang. Vào năm 1981, CSVN ban hành Chỉ Thị 100, thiết lập hệ thống “khoán sản phẩm” để chính thức hoá tình trạng “xé rào” ở cả hai miền Nam Bắc. Theo chỉ thị này đất đai vẫn thuộc về toàn dân và do nhà nước quản trị, nhưng nông dân được trao cho một số nguyên liệu và được khoán cho làm một số công việc sản xuất trên mảnh đất được nhà nước chỉ định, được trả công trên số giờ làm, và được giữ số lượng nông phẩm thăng dư trên số lượng ấn định phải nộp cho nhà nước. Nhờ vậy số lượng nông phẩm tăng lên.
Chính sách này có nhiều khuyết điểm như tiền công trả cho nông dân không dựa trên lượng và phẩm của nông sản do gia đình nông dân sản xuất. Ngoài ra việc phân phối đất đai không công bằng đã gây ra nhiều kiện tụng. Tuy nhiên Chỉ Thị 100 là bước đầu quan trọng đưa đến những cải tổ rộng lớn với chính sách “Đổi Mới” vào cuối năm 1986. Sau thời điểm này CSVN ban hành nhiều luật đất đai và tu chính nhiều lần khác nhau theo kiểu vá víu “sai đến đâu sửa đến đó”.
Luật Đất Đai 1988
Để giải quyết tình trạng kiện tụng về đất đai mỗi ngày một nghiêm trọng, CSVN đã ban hành luật đất đai lần đầu tiên vào năm 1988 sau khi chiến tranh chấm dứt tại Việt-Nam. Đất được phân phối cho dân chúng sử dụng, nhưng việc mua bán, thuê mướn đất đai, thay đổi mục tiêu sử dụng hoàn toàn bị cấm đoán. Cũng vào năm này, nhà nước ra Nghị Quyết số 10, chính thức hủy bỏ hệ thống sản xuất nông phẩm tập thể.
Luật Đất Đai 1988 có những điểm chính sau đây: 1) Đất đai thuộc quyền sở hữu chung đặt dưới sự quản lý của nhà nước; 2) Nhà nước cho cá thể và các tổ chức thuê đất để sử dụng lâu dài; 3) Người sử dụng đất có thể bán những sản phẩm gặt hái từ miếng đất đã sử dụng; 4) Mua bán đất bị cấm đoán; 5) Tranh chấp về đất đai sẽ được xử theo luật lệ; 6) Đất không được phép cho thuê lại; và 7) Không được thay đổi cách sử dụng đã mô tả.
Luật Đất Đai 1993
Luật đất đai thứ 2 ban hành vào năm 1993. Luật mới tiến bộ hơn, cho phép người sử dụng đất được quyền chuyển nhượng, mua bán, cho thuê, thừa kế hoặc thế chấp. Trong việc áp dụng luật mới năm 1993 có sự khác biệt đáng kể giữa các vùng khác nhau. 2/ Luật Đất Đai 1993 có rất nhiều hạn chế cản trở việc thực hiện các quyền trên. Trước tiên, chính phủ không ban hành bất kỳ sắc lệnh nào giải thích việc áp dụng các quyền này. Thứ 2, luật quy định diện tích đất nông nghiệp trồng cây hàng năm tối đa mà mỗi hộ miền Nam được phép sử dụng là ba mẫu hectare – ha) còn ở ngoài Bắc là hai mẫu. Đối với đất trồng cây lâu năm, giới hạn tương ứng là 10 mẫu đất đồng bằng và 30 mẫu đất đồi núi. Thứ 3, thời gian sử dụng đất trồng cây hàng năm là 10-15 năm và gia hạn thêm. Thứ 4, cấm chuyển đổi đất trồng lúa sang trồng các loại cây khác. Thứ 5, việc chuyển nhượng đất lâu dài bị hạn chế bởi các trường hợp cụ thể đi ra khỏi vùng, không có khả năng sử dụng mảnh đất riêng) và đòi hỏi phải có giấy phép của chính quyền địa phương. Thứ 6, không cho phép cho thuê hay cho thuê mướn đối với đất trồng cây hàng năm hoặc đất nuôi trồng thủy sản quá ba năm, trừ khi có giấy phép của chính quyền. Thứ 7, việc mua bán trao đổi đất đều phải nộp thuế. Thuế suất áp dụng là 50% giá trị đất nếu là đất trồng lúa của một hộ gia đình sang tên cho một hộ gia đình khác và để trồng các loại cây khác. Thuế suất là 30% trong trường hợp đất xây dựng cơ sở công nghệ.
Luật Đất Đai 1993 đã được tu chính lại hai lần vào năm 1998 và 2001. Tu chính 1998 cho phép khoảng 100,000 mẫu đất nông nghiệp được dùng cho mục tiêu khác mỗi năm. 3/ Tình trạng đất đai ngày càng rắc rối với số đơn khiếu nại và kiện cáo ngày càng gia tăng. Mỗi năm riêng Viện Giám Sát Nhân Dân nhận được 5,000-7,000 khiếu nại. Tính đến cuối năm 2003 đã có khoảng 120,000 tranh chấp liên quan đến đất đai. 4/ Những biến loạn lớn ở Cao Nguyên Trung Phần đã xẩy ra vào 2001 và 2004 chỉ vài tháng trước khi Luật Đất Đai 2003 bắt đầu có hiệu lực một phần liên quan đến việc xâm chiếm đất đai của đồng bào thiểu số.
Trong một số trường hợp, cuộc tranh chấp về đất đai trở nên sôi nổi khiến dân chúng trở thành hung bạo. Vào cuối năm 1998, dân chúng thuộc làng Thổ Hà thuộc tỉnh Bắc Giang đã dùng liềm, giáo mác, gậy, cuốc, và dao dựa tấn công mãnh liệt và làm bị thương một số viên chức chính quyền khi họ đến viếng thăm một địa điểm được thu hồi từ nông dân để xây sân gôn trong một dự án hợp tác với Daewoo Group của Đại Hàn. Trước đó thỉnh thoảng cũng đã xẩy ra những cuộc xô sát có tính cách bạo lực như vậy. Dân chúng liên hệ chấp nhận đất của họ bị thu hồi nhưng họ đòi hỏi bồi thường hợp lý. 5/
Vào cuối năm 2002 trước khi CSVN họp đại hội, hàng trăm nông dân đã đụng độ với công an tại quận Hoài Đức ở miền bắc của tỉnh Hà Tây, chỉ cách Hà Nội 20 km. Khi nhân viên công lực hợp lực với công nhân dùng võ lực buộc khoảng 190 người thuộc 38 gia đình phải dời khỏi một vùng bị giải tỏa để xây khu công nghiệp, một cuộc xô sát đã xẩy ra. Một số viên chức nhà nước đã bị thương, một chiếc xe hơi bị đập phá. Hai công an và một viên chức bị dân chúng bắt giữ. Tại đại hội đảng, Tổng Bí Thư Nông Đức Mạnh có nhắc nhở các đảng viên rằng những xáo trộn xã hội sẽ gây ra những bất ổn, mặc dù ông không đề cập rõ ràng đến sự kiện ở Hà Tây. Ông phê bình rằng cuộc cải tổ hành chánh tiến hành chậm chạp, tội ác và đồi trụy lan rộng, và ông cũng nhận thấy tình trạng tham nhũng của một số đảng viên và viên chức chính quyền. 6/
Luật Đất Đai 2003
Luật mới này thay thế Luật Đất Đai 1993, những tu chính và bổ túc 1998 và 2001 cũng như những sắc lệnh và nghị định liên hệ và bắt đầu có hiệu lực kể từ ngày 1/7/2004.
Luật 2003 tái xác nhận rằng đất đai không thuộc quyền sở hữu tư nhân mà là của toàn dân do nhà nước quản lý. Nhà nước bao gồm Quốc Hội, Chính Phủ, và Ủy Ban Nhân Dân cấp tỉnh và huyện. Luật Đất Đai 2003 có những điểm chính sau đây được giải thích rõ hơn so với luật cũ:
1. Đất được chia ra làm 3 loại: đất nông nghiệp, đất phi-nông nghiệp, và dất bỏ hoang Trước đây đất được phân làm 6 loại: đất nông trại, đất rừng, đất nông thôn, đất thành thị, đất dùng cho mục đích đặc biệt, và đất hoang). Trong mỗi loại đất lại chia ra nhiều thứ khác nhau tùy theo mục tiêu sử dụng như đất dành cho khu công nghệ, đất dùng cho khu kỹ thuật cao, đất dùng cho khu kinh tế, đất dành xây công sở, v.v.
2. Một điều khoản trong Luật Đất Đai 2003 ấn định về giá đất, hủy bỏ bao cấp, đấu thầu đất, khảo giá bao gồm quyền sử dụng đất, thu hồi đất chậm trễ sử dụng, v.v.
3. Người sử dụng đất có quyền chuyển nhượng, chỉ định, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng, thế chấp, bảo đảm, và góp vốn đối với quyền sử dụng đất.
4. Một số điều khoản nằm trong Luật Đất Đai 2003 quy định quyền lợi và bổn phận của người Việt hải ngoại, các tổ chức và người ngoại quốc đối với việc sử dụng đất tại Việt-Nam. Các công ty tư nhân nội địa được phép cho các nhà đầu tư nước ngoài thuê mướn lại quyền sử dụng đất dài hạn của mình với sự chấp thuận của cơ quan chính quyền đã cấp quyền sử dụng dất đai cho các công ty tư nhân này và thời hạn cho thuê không được quá hơn thời hạn đã ghi trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đai. 7/
Luật Đất Đai 2003 được coi như là một bộ luật tỉ mỉ nhất từ trước đến nay bao gồm 6 chương và 146 điều. Tuy nhiên sau hơn một năm áp dụng Luật Đất Đai 2003 đã để lộ ra một số thiếu sót. Theo Bộ Tài Nguyên Thiên Nhiên và Môi Trường, cơ quan chính phụ trách thanh tra việc thi hành luật đất đai, những khiếu nại của dân chúng là hợp lý và có những lý do khác nhau như số tiền bồi thường quá thấp, xin chứng chỉ khai phá đất khó khăn, v.v. Mặt khác, các toán thanh tra của Bộ Tài Nguyên Thiên Nhiên và Môi Trường báo cáo một than phiền và khiếu nại khác của dân chúng như nhân viên quản lý đất đai thiếu khả năng, trình độ hiểu biết luật kém, một số nhiệm vụ của các cơ quan địa phương trùng hợp nhau, việc cấp phát chứng chỉ sử dụng đất chậm trễ v.v. Ngoài ra việc thi hành luật đất đai rất chậm, đặc biệt đối với những dự án xây cất, kế hoạch sử dụng đất lớn. Trong khi đó việc thu hồi những đất bỏ hoang tiến hành chậm.
Luật Đất Đai 2003 vẫn giữ nguyên hạn chế diện tích dành cho mỗi hộ nông dân như Luật Đất Đai 1993. Điều này có nghĩa là hai mẫu ở miền Bắc và ba mẫu ở miền Nam dành cho cây hàng năm, 10 mẫu đất đồng bằng và 30 mẫu đất đồi núi dành cho cây lâu năm. Nhưng trên thực tế có dân được giao cho sử dụng tới 40 mẫu đất như ở Long An. Ông Võ Quan Huy ở huyện Đức Hòa tích tụ được tới 550 mẫu vì nhờ người đứng tên giùm. 8/
Một điểm quan trọng hơn cả là luật đất đai 2003 vẫn không thừa nhận quyền sở hữu của người dân. CSVN giải thích rằng “Đất đai là kết quả của một quá trình chế ngự thiên nhiên, chống giặc ngoại xâm của cả dân tộc chứ không của riêng ai. Tách khỏi những điều kiện của nhà nước, của cộng đồng, thì không một cá nhân nào có thể khai phá và giữ gìn bất cứ mảnh đất nào để rồi sau đó nói nó hoàn toàn là của mình. Có chăng, ở đây họ chỉ có công khai phá và sử dụng nó.” 9/ Tuy nhiên nguyên nhân sâu sa vẫn là tham vọng độc quyền không thay đổi từ xưa đến nay của CSVN về cả hai mặt chính trị và kinh tế. Với cùng một tư duy thiển cận và phản quốc hại dân này, hơn 10 năm qua CSVN vẫn không dứt khoát cải tổ các xí nghiệp quốc doanh mặc dù đa số những công ty này thua lỗ, phung phí tài nguyên quốc gia, và cũng là nơi nuôi dưỡng bè phái, tham nhũng. Điển hình là trường hợp Tập Đoàn Công Nghiệp Tàu Thủy Việt Nam Vinashin.
Chính vì có những thiếu sót nghiêm trọng sau nhiều lần sửa đổi, Luật Đất Đai 2003 vẫn không làm giảm được sự bất mãn và ngăn chặn được những cuộc khiếu nại tập thể. Vườn hoa Mai Xuân Thưởng ở Hà Nội là nơi hàng trăm dân khiếu kiện ở các nơi đổ về tập trung hàng ngày để mong Văn Phòng Tiếp Dân của nhà nước giải quyết nỗi oan ức mất nhà mất đất của họ. Phóng viên Diễm Hương của Đài Tiếng Nước Tôi có mặt tại Hà Nội tường thuật rằng vào cuối năm 2005, những người dân khiếu kiện đã gởi ra hải ngoại một lá thư kêu cứu có 44 người ký tên cùng với 900 gia đình ở thôn Phú Thượng, quận Tây Hồ; Hà Nội, và 560 gia Đình ở xã Lai Vũ, Hải Dương, 100 gia đình ở tỉnh Thái Bình và 200 gia đình ở tỉnh Bắc Giang. Tất cả cũng thường xuyên có mặt tại vườn hoa Mai Xuân Thưởng. 10/
Trước sự kiện là ngày càng có nhiều biểu tình Ông Nông Đức Mạnh, Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản Việt-Nam đã phát biểu như sau: “Chế độ dân chủ của chúng ta ngày càng loạn.” 11/ Hai năm sau nhà nước Việt Nam ban hành Nghị Định số 38/2005/NĐ-CP vào ngày 18/3/2005 với tựa đề là “Nghị Định Của Chính Phủ Quy Định Một Số Biện Pháp Bảo Đảm Trật Tự Công Cộng” bao gồm những luật lệ ngăn chặn những cuộc biểu tình của dân chúng vì nhiều lý do khác nhau liên quan đến nhà đất, thuế, tham nhũng, nhân quyền và tôn giáo. Thông Tư số Số: 09/2005/TT-BCA của Bộ Công An nêu rõ rằng những cuộc tập trung từ năm người trở lên đều bị cấm.
Theo Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn, khoảng 376,000 mẫu trồng lúa đã bị thu hồi làm một triệu nông dân bơ vơ trong khoảng thời gian 2001-2006. Luật Đất Đai 2003 nhắm đơn giản hóa thủ tục làm các các hợp đồng lớn, nhưng cũng lại tăng tốc độ nông dân mất đất. Khoảng 70% của 31,000 đơn khiếu nại trong năm 2007 không được đền bù thỏa đáng. 12/
Chính sách quy hoạch đất đai
Quy hoạch đất đai là lấy đất bỏ hoang hay thu hồi đất do dân chúng đang sử dụng, dời dân đi nơi khác để lấy đất dùng cho các dự án có lợi ích công cộng. Mục tiêu đề ra rất hợp lý, nhưng việc thực thi chính sách này gây ra nhiều kiện tụng và tạo ra căm phẫn trong dân chúng. Hiện tượng này hầu xẩy ra ở khắp 61 tỉnh và thành phố trên toàn quốc.
Luật đất đai có nhiều kẽ hở và mù mờ, nên dễ bị lạm dụng. TS Nguyễn Thanh Giang tại Hà Nội mới đây vừa phát biểu với phóng viên của đài Radio France International RFI) rằng “cái gọi là sở hữu toàn dân là nguồn gốc gây ra nhiều tham nhũng, làm tăng khoảng cách giàu nghèo, làm giảm năng suất nông nghiệp và nói chung là cản trở sự phát triển của đất nước. Thực chất sở hữu toàn dân là gì? Là sở hữu của Nhà nước. Mà sở hữu của Nhà nước là sở hữu của chính phủ. Mà sở hữu của chính phủ là của các quan chức. Cho nên có một thực tế là một giám đốc nhỏ như giám đốc một công ty chế biến cây trồng nông nghiệp đã biếu không 700 hectare đất công ở huyện Bến Cát, Bình Dương. Một ông giám đốc nhỏ như vậy mà có thể biếu 700 hectare đất, vậy thì những ông quan lớn hơn 5, 7 bậc có thể biếu không đến bao nhiêu hectare đất?” 13/
Trường hợp thông thường là dân bị lấy lại đất nhưng không được bồi thường theo giá thị trường hoặc không được đền bù gì cả vì không có giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất đai. Dân có những trường hợp khiếu nại nghiêm trọng mà nhà nước không giải quyết nhanh chóng. Có trường hợp kiện cáo kéo dài 15 năm rồi mà vẫn chưa kết thúc. 14/ Đất bị nhà nước thu hồi, “giải phóng mặt bằng”, rồi được phân lại thành các lô và rao bán lại với giá cao gấp nhiều lần cho những người giầu có để xây biệt thự hay các mục tiêu khác mà “chủ cũ” không đủ điều kiện thực hiện. Một nông dân ở Củ Chi, Trảng Bàng được đền bù 15 triệu đồng US$951) cho một miếng đất rông ½ mẫu. Nhưng giá thị trường gấp 10 lần tức là 150 triệu VNĐ US$9,510). Với một số tiền ít oi như thế, một nông dân không được huấn luyện để có nghề khác, vì nhà nước không có đủ ngân sách, chẳng bao lâu sẽ trở thành kẻ vô sản thuần tuý. 15/ Một số nông dân trồng rau ở Đà Lạt bị đuổi ra khỏi khu đất đang sinh sống, xin đất ở nơi khác để tiếp tục sống về nghề trồng rau, nhưng không được chấp thuận. Nhà nước tính đưa số nông dân vào ở trong chung cư. Xưa nay chỉ biết cầm cuốc, cầm sẻng, họ lo sợ vì không biết làm gì khác để sống.
Nguyên nhân của tình trạng quy hoạch hỗn loạn này là do nhà nước không có một chính sách đất đai rõ ràng, không có sự giám sát hữu hiệu và sự lạm dụng địa vị của các quan chức nhà nước ở địa phương cũng như tại trung ương. “Trên bảo dưới không nghe. Địa phương tự tung, tự tác, muốn làm gì thì làm; vượt ra ngoài vòng kiểm soát của chính phủ.” 16/ Ngoài ra một số cán bộ kiểm tra việc thi hành luật lại không hiểu rành rẽ về luật lệ đất đai. Các dự án phát triển cần quy hoạch đất đai được soạn thảo một cách thiếu minh bạch. Có những dự án quy hoạch được thiết kế giả tạo để làm tiền dân chúng.
Giải pháp
Việt Nam cần phải gia tăng diện tích đất sử dụng trong nông nghiệp (hạn điền) cho mỗi hộ nông dân để họ có thể cơ giới hóa sản xuất và gia tăng năng suất. Theo ông Nguyễn Tử Cương, Ủy Viên Thường Vụ Trung Ương của Hội Nghề Cá, Việt Nam hiện có 14 triệu hộ nông dân nhưng có tới 70 triệu mảnh đất trên 10 triệu hec ta đất nông nghiệp. 17/ Như vậy mỗi mảnh đất trung bình chỉ có 1,429 thước vuông. Trong tình trạng này, phát triển nông nghiệp một cách quy mô không thể thực hiện được một khi Việt Nam muốn phát động một cuộc đổi mới thứ hai.
Quan trọng hơn nữa, thời gian sử dụng đất cần được kéo dài hơn để nông dân yên tâm làm ăn, sẵn sàng bỏ vốn cải thiện đất đai và có đủ thời gian kiếm lời và thu hồi số vốn đã đầu tư. Theo Luật Đất Đai 2003, thời hạn cho thuê đất trồng cây hàng năm, đất nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng là không quá hai mươi năm; thời hạn cho thuê đất trồng cây lâu năm, đất rừng sản xuất cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng là không quá năm mươi năm. Việc ấn định thời gian sử dụng đất đai từ 1 – 20 năm thuộc quyền sinh sát của chính quyền địa phương. Những lổ hổng của luật đất đai là những cơ hội giúp cho các quan chức dễ dàng bóc lột dân vô tội vạ một cách hợp pháp. Theo cuộc điều tra của báo Tuổi Trẻ, các xã ven biển của huyện Tiên Lãng, các hộ dân được giao đất với thời hạn khác nhau: từ 4 năm đến 15 năm. Không ai được sử dụng đất đến 20 năm. 18/
Việc cấp bách là nhà nước phải bồi thường thiệt hại cho dân chúng bị trưng thu ruộng đất và nhà cửa theo giá thị trường. Luật này cần phải có hiệu lực hồi tố đối với những trường hợp trưng thu tài sản từ khi có Luật Đất Đai 1993 đến nay. Dân chúng phải được quyền khiếu nại tại địa phương cũng như tại các cấp cao hơn kể cả trung ương. Trung ương không thể phủi tay đổ lỗi hết cho địa phương. Những Biện pháp này không những vì lý do công bằng mà còn là cách để ngăn chặn nạn đầu cơ, tham nhũng, bóc lột những kẻ thân cô thế cô và giúp rút ngắn thời gian chờ đợi của các nạn nhân.
Những biện pháp trên chỉ có tính cách ngắn hạn. Để giải quyết vấn đề đất đai tận gốc, Việt Nam cần phải sửa đổi hiến pháp, trả lại quyền sở hữu đất đai cho người dân. CSVN cần phải học bài học nông trường tập thể và hợp tác xã nông nghiệp để cấp bách kết thúc chính sách “đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước quản lý”. Một khi có quyền sở hữu đất đai, người dân mới có động lực và tự do để tăng gia sản xuất và phương tiện để vay vốn để phát triển. Nạn tham nhũng đất đai sẽ chấm dứt để người dân nông thôn thấp cổ bé miệng được yên ổn làm ăn.
Theo ông David Brown, một nhà ngoại ngoại giao Hoa Kỳ trước đây phục vụ lâu năm tại vùng Đông Nam Á, nay đã về hưu, nhờ sửa đổi luật đất đai sản lượng nông nghiệp của Việt Nam đã tăng hơn 100% trong khoảng thời 1993-2008 và Việt Nam đã trở thành một trong những quốc gia xuất cảng nông phẩm lớn nhất trên thế giới về gạo, cà phê, hạt điều, hột tiêu và hải sản… Ông Brown nhận xét thêm rằng luật đất đai hiện nay của Việt Nam là một quả bom nổ chậm. Nó sẽ nổ vào năm 2013 [khi thời hạn cho sử dụng đất 20 năm chấm dứt] – nếu không có một cuộc cải tổ căn bản thì những thảm kịch như thứ bất ngờ xẩy đến cho ông Đoàn Văn Vươn sẽ đe dọa một nửa dân số. 19/
Kết luận
Nếu Việt Nam thực hiện một cuộc đổi mới thứ hai, tạo điều kiện dễ dãi cho tư nhân làm ăn, nông dân tự do cầy cẫy, tiềm năng sẵn có sẽ giúp Việt Nam tiến mạnh hơn nữa để dân Việt có cơ hội ngửa mặt lên với thế giới, chứ không còn phải đi bán thân xác và sức lao động ở nước ngoài. Có sức mạnh kinh tế mới có thể có sức mạnh quân sự để bảo vệ giang sơn.
Kể từ ngày ban hành luật đất đai đầu tiên kể từ sau 1975 đến nay đã được 24 năm, một thời gian khá dài. Sự oan ức của dân chúng mỗi ngày một tích lũy nhiều hơn trước sự vô cảm của nhà nước. Tình trạng này đã đưa đến sự chống cự bằng võ lực mới nhất tại Tiên Lãng. Tuy nhiên đây cũng sẽ không phải là phát súng cuối cùng. CSVN xem ra chưa sẵn sàng từ bỏ độc quyền về đất đai để chấp nhận cho nó một cuộc cải tổ toàn diện nhằm giải phóng nông dân, cũng như hiện nay họ cũng chưa sẵn sàng giải phóng những xí nghiệp quốc doanh như tờ tạp chí nổi tiếng trên thế giới The Economist nhận định. 20/
Trong cuộc họp liên bộ tại văn phòng Thủ Tướng ở Hà Nội về vụ việc cưỡng chế thu hồi đất tại huyện Tiên Lãng, Hải Phòng vào chiều 10-02-2012, ông Nguyễn Tấn Dũng nhận định rằng cả việc giao đất và thu hồi đất đối với trường hợp của ông Đoàn Văn Vương đều không làm đúng theo pháp luật. Việc tổ chức thưc hiện cưỡng chế có nhiều sai sót và đã gây ra hậu quả nghiêm trọng. Nguyên do là sự yếu kém của chính quyền huyện Tiên Lãng trong công tác quản lý nhà nước về đất đai. Chủ Tịch và Phó Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân Huyện Tiên Lãng bị đình chỉ công tác. Thủ tục khởi tố việc phá nhà ông Vươn bắt đầu được tiến hành. UBND Huyện Tiên Lãng không hành động đơn phương. Tuy nhiên không một viên chức nào ở cấp tỉnh bị xử lý. Trái lại họ còn được trao cho trách nhiệm kiểm điểm toàn bộ sự việc. Nói tóm lại Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng chỉ phê phán về sự sai trái trong việc thi hành luật lệ đất đai mà không đề cập gì đến nội dung của bộ luật. Nhưng đây mới thật sự là nguồn gốc của những rắc rối làm nông dân mất ăn mất ngủ bấy lâu nay.
Đất nước vẫn sẽ tiếp tục bị kìm hãm bởi những chính sách phi lý của CSVN để không thể vươn lên trừ phi có một sự thức dậy đồng loạt của toàn dân. 21/
Chú thích:
1/ Việt Hùng, “Tình Trạng Hiện Nay Của Bà Phạm Thị Trung Thu Sau Khi Tự Thiêu,” RFA, 12-01-2006.
2/ Rita Liljestrom và các cộng sự , “Thuận lợi và khó khăn của nông thôn Việt Nam: kẻ mất người được trong công cuộc đổi mới”, Curzon Press, United Kingdom: 1998.
3/ Tran Dinh Thanh Lam, “Factories Grabbing Land From Farmers,” Inter Press Service, Ho Chi Minh City: June 3, 2004.
4/ Financial Times Information, “Vietnam’s Legislators Call for Lower Land Prices,” October 28, 2003.
5/ Reuters, “Villagers Attack Vietnam Officials in Land Dispute,” Hanoi, Oct. 21, 1998.
6/ Reuters, “Vietnam Land Dispute Turns Violent As Party Meets,” Hanoi, Nov. 8, 2002.
7/ National Assembly, Socialist Republic of Vietnam, “Law on Land, No. 13-2003-QH11, March 31, 2004.
8/ Q. Vinh – Vân Trường, “Bất Cập Trong Luật Đất Đai,” Tuổi Trẻ, 07-02-2012.
9/ Đỗ Thúy Hường, “Tôi Tìm Hiểu Luật Đất Đai,” 25-03-2008.
10/ Diễm Hương, “Tiếng Kêu Cứu Của Người Dân Khiếu Kiện,” Đài Tiếng Nước Tôi, 14-01-2006.
11/ Deutsche Presse-Agentur, “Land Protest in Vietnam’s Capital,” Hanoi: June 26, 2003.
12/ David Brown, “Vietnam’s Contentious Land Law,” Asia Sentinel, Feb 3, 2012.
13/ Thanh Phương, “Luật Đất Đai Phải Công Nhận Quyền Sở Hữu Tư Nhân,” RFI, 10-01-2012.
14/ Tiền Phong, “Đà Nẵng: Một Vụ Khiếu Kiện 15 Năm Chưa Kết Thúc do UBNDTP Tiền Hâu Bất Nhất,” 10.10.2005.
15/ Tran Đinh Thanh Lam, “Factories Grabbing Land From Farmers,” Inter Press Service, Ho Chi Minh City: June 3, 2004.
16/ Chu Vũ, “Đất Đai: Vấn Đề Nóng Bỏng Hiện Nay ở Việt-Nam,” 16.09.2005.
17/ Nam Nguyên, “Sửa Luật Đất Đai Để Tránh Những Vụ Tiên Lãng,” RFA, 07-02-2012.
18/ Xuân Long – Đức Bình, “Tiên Lãng – Nơi Luật Đất Đai Bị Bóp Méo,” Tuổi Trẻ, 03-02-2012.
19/ David Brown, “Vietnam’s Contentious Land Law,” Asia Sentinel, Feb 3, 2012.
20/ The Economist, “Rulers Pass Up The Chance To Deal With Mounting Economic Problems,” Hanoi, Jan. 6, 2011.
21/ Bài phân tích này một phần dựa vào tài liệu “Chính Sách Đất Đai Tại Việt Nam” của cùng tác giả phổ biến ngày 29-11-2005.

No comments:

Post a Comment