Monday, November 28, 2016

Cổng làng xưa và nay

(Dân Việt) Cổng làng có vị trí rất quan trọng trong đời sống thực và đời sống tâm linh của người Việt.Cánh cổng làng dù hiện hữu hay vô hình vẫn là nỗi nhớ, là hình ảnh mang hai tiếng “quê hương” trong tâm trí của những người con xa xứ. Cổng làng không chỉ tạo nên hồn quê đất Việt mà qua dáng vẻ kiến trúc còn thể hiện chiều sâu văn hóa mỗi ngôi làng.
Tại Nghệ An, hiện còn khá nhiều cổng làng cũ. Cùng với đó, ngày càng có nhiều cổng làng mới được xây dựng từ nguồn xã hội hóa của mỗi địa phương...
 cong lang xua va nay hinh anh 1
Cổng làng Cần ở xã Hưng Tân, huyện Hưng Nguyên.
 cong lang xua va nay hinh anh 2
Cổng Phủ Tương ở xã Xá Lượng, huyện Tương Dương với hàng trăm năm tuổi.
 cong lang xua va nay hinh anh 3
Cổng làng Cần ở xã Hưng Tân, huyện Hưng Nguyên.
 cong lang xua va nay hinh anh 4
Cổng làng đình Phù Xã ở xã Hưng Xá, huyện Hưng Nguyên.
 cong lang xua va nay hinh anh 5
Cổng làng Quỳnh Đôi, công trình mới được hoàn thành với tổng giá trị gần 3 tỷ đồng.
Ngày nay, khi về các vùng nông thôn, hay thành phố... đâu đó ta vẫn bắt gặp những cổng làng xưa cũ, cổ kính, gợi hồi tưởng về một thời làng lên phố, phảng phát hương lúa, hương cau...Chẳng thế mà hình ảnh chiếc cổng làng Mông Phụ với lớp ngói phủ màu xưa cũ bên cây đa cổ, bến nước xưa gợi một thời xưa cũ đã ám ảnh biết bao thế hệ người Việt. Nhưng có lẽ, khi ta bắt gặp những chiếc cổng làng bé nhỏ nằm lọt thỏm trên những ngôi nhà cao tầng trong phố lại miên man hồi tưởng về một thời làng lên phố. Dường như còn phảng phát đâu đây hương lúa, hương cau; giếng làng nằm đâu đó dưới lớp bê tông hay  tiếng trống chèo còn văng vẳng bên tai.
 buoc qua nhung cong lang xua cu hinh anh 1
Cổng cuối làng Cựu, xã Vân Từ, Phú Xuyên, Hà Nội.
Ngày còn nhỏ, khi lang thang qua các dãy phố mới được mở rộng của Hà Nội, tôi cứ bị ám ảnh bởi những cổng làng xưa cũ ấy. Thoạt nhìn chúng chỉ là những hình hài sứt mẻ với lớp vữa nhiều khi đã bong trơ ra những viên gạch đỏ rêu mốc. Hình dáng, kích thước chiếc cổng ấy như chẳng còn tương thích với những xe cộ cồng kềnh, những dòng người nườm nượp qua lại trong tất tả mưu sinh. Chẳng phải vô tình mà có lúc mải miết đi về người ta ước đập cái cổng cũ kĩ vô dụng ấy đi cho làng thông thoáng. Giữa cái thời mỗi căn nhà tìm cách cơi nới, kiên cố như một pháo đài, chiếc cổng chẳng có cánh, có tường bao kia dường như lạc thời, vô ích.
Nhưng cứ mỗi dịp đi xa, lại thấy tự hào về cái cổng làng cũ kĩ ngay đầu ngõ nhà mình khi từ phố trở về. Chẳng cầu kì, hiểm trở nhưng bước qua chiếc cổng ấy như lời nhắc ta về kí ức của làng. Những con chữ đắp trên chiếc cổng dù đã trở thành xa lạ với con người hôm nay nhưng vẫn thân quen ám ảnh con người. Dường như cái nút thắt của giao thông ấy khiến người ta bước chậm lại. Cũng có nghĩa là sống chậm hơn, nghĩ kĩ hơn về một điều gì đó trong cuộc đời.
Tôi từng bắt gặp hình ảnh một bà cụ tóc trắng như cước ngồi bán nước bên chiếc cổng như thế. Ngọn đèn leo lét trong những tối mùa đông như một nốt trầm sâu lắng trước những xô bồ của đường phố. Nhấp môi chén nước trà nóng, được nghe cụ giảng giải về cái tên được đắp trên cổng làng, về một thời lóc cóc tiếng xe ngựa, về những gánh hát chèo đã qua chiếc cổng này trong hồi ức từ thời ấu thơ của cụ mà thấy thời gian như ngừng lại bên chiếc cổng ấy.  
Rồi năm tháng sẽ đi qua, có những chiếc cổng làng xưa hẳn sẽ không còn trụ lại được trước nắng mưa mài mòn, hay bị phá bỏ nhường chỗ cho  một đời sống mới. Khi ấy, những  chiếc cổng làng xưa sẽ chỉ còn vẹn nguyên trong ký ức.
Mỗi người con xa quê khi nhớ về quê hương là nhớ về hình ảnh cổng làng thân thương bên gốc đa, giếng nước...

   
Cổng làng là một loại hình kiến trúc văn hoá rất phổ biến ở đồng bằng và trung du Bắc Bộ. Ngày xưa, hầu như làng nào cũng có cổng làng. Nhiều làng có tới 2, 3 cổng trên các lối đi chính vào làng.
Tỉnh Hà Tây (cũ) bao gồm dải đất từ phía Sơn Tây xứ Đoài về phía nam - mạn Hà Đông, còn khá nhiều làng cổ mang đậm giá trị lịch sử, văn hóa với các quần thể kiến trúc độc nhất vô nhị. Hà Tây có gần 1500 làng, do đó số cổng làng xưa là rất lớn. Trải qua thời gian, chiến tranh và nhiều yếu tố khác, rất nhiều cổng làng đến nay đã không còn dấu vết.
Theo tư liệu văn hóa của tỉnh, trước khi nhập về TP Hà Nội, tỉnh Hà Tây chỉ còn hơn 100 cổng làng. Hầu hết những cổng này được xây dựng trước năm 1945. Có thể gọi đó là những cổng làng truyền thống.
Cổng làng ra đời từ rất sớm, gắn liền với sự hình thành phát triển của làng. Ở các vùng quê xưa đồng bằng Bắc Bộ, cùng với sự phát triển của dân cư, làng được xây dựng theo một cấu trúc chặt chẽ với lũy tre và lạch nước, ao sâu bao bọc quanh làng. Người đi vào làng nhất thiết phải qua những cổng làng. Tại mỗi cổng có các Tuần đinh trông coi an ninh trật tự trong làng, ngoài đồng. Người đứng đầu các Tuần đinh là Thủ phiên…
Đường đi qua cổng làng phải là đường trục chính, rộng rãi, thường được lát gạch nghiêng. Dọc hai bên đường trục là các lối xóm, ngõ đổ ra theo kiểu chân rết (hay xương cá). Đầu các ngõ xóm cũng có cổng. Nhà dân trong xóm ở liền kề nhau như bát úp và từng hộ gia đình lại có cổng riêng cùng với tường bao quanh, tạo nên một hình thái đặc trưng của nông thôn xưa là “kín cổng cao tường”:
Làng ta phong cảnh hữu tình
Dân cư đông đúc như hình con Long…
(Ca dao)
Có thể ban đầu cổng làng chỉ là những cái cổng sơ khai làm bằng tre, cửa chắn bằng phên, dong nhiều gai nhọn để ngăn cản thú dữ vào làng phá phách. Về sau, cổng làng mới được xây dựng ngày càng bền vững bề thế hơn, mang những giá trị nghệ thuật kiến trúc từ các loại vật liệu xây dựng phổ biến ở nông thôn ta như đá ong, gạch ngói, vôi vữa…
Qua tìm hiểu, phần lớn cổng làng truyền thống ở vùng Hà Tây được xây dựng ở thời Nguyễn thế kỷ XIX đến 1945. Song cũng có nhiều cổng được xây dựng từ thời Lê thế kỷ XVII, như cổng làng Mông Phụ ở Đường Lâm-Sơn Tây, cổng làng Chi Quan ở Thạch Thất, cổng làng Ước Lễ ở Thanh Oai.
Về kiến trúc, cổng làng truyền thống là những công trình kiến trúc cổ, có sự đan xen giữa kiến trúc đình, chùa. Thông thường, cổng làng có 4 mảng kiến trúc nhưng không rời rẽ mà cấu kết với nhau, tạo nên sự bền vững, hài hòa.
Vòm cổng thường xây cuốn hình vòm parapol. Tuỳ theo vị trí, địa thế, điều kiện của mỗi làng mà vòm cổng có quy mô bề thế khác nhau, nhưng đều phải hài hòa đảm bảo đi lại thuận tiện cho cả làng.
Liên kết với vòm cổng là hai trụ cổng, xây thẳng đứng, đắp vẽ rất công phu. Trên hai trụ thường đắp nổi câu đối. Liên kết với vòm cổng và trụ cổng là mặt cổng, trang trí đắp nổi những chữ đại tự là tên của làng, hoặc các cụm chữ hàm chứa ý nghĩa súc tích, thể hiện phương châm xử thế và mang cốt cách của làng.

Phần trên cùng là mái lợp. Mái cổng xưa thường lợp ngói che chắn cho cổng và che mưa cho người qua cổng. Nhiều nơi có cổng làng lớn như Uớc Lễ (Thanh Oai), Thượng Hội (Đan Phượng), Tảo Khê (Ứng Hoà)… trên cổng còn có Vọng lâu với 2, 3 lớp mái, mỗi góc mái đều có đầu đao, dáng dấp như những ngôi đình chùa cổ.
Có thể nói cổng làng truyền thống rất phong phú, đa dạng về kiểu dáng và chất liệu, đã tồn tại hàng trăm năm, là những công trình kiến trúc cổ ngoài giá trị về lịch sử văn hóa, nó còn thể hiện được hồn quê, cốt cách của mỗi làng xã Việt Nam, cần được bảo tồn và lưu giữ.
Làng quê xưa khi nước có giặc, cổng làng, luỹ tre xanh trở thành những chiến luỹ. Khi thanh bình, cổng làng mang ý nghĩa khẳng định chủ quyền địa giới của địa phương, góp phần bảo tồn bản sắc văn hoá riêng như gương mặt của làng. Mỗi người con xa quê khi nhớ về quê hương là nhớ về hình ảnh cổng làng thân thương bên gốc đa, giếng nước:
Chiều hôm đón mát cổng làngGió hiu hiu đẩy mây vàng êm trôi…”
(Bàng Bá Lân)
Hiện nay, các làng quê Việt Nam và các làng xã ngoại ô thành phố đang nở rộ “phong trào” phục chế lại hay xây dựng mới các cổng làng theo kiểu truyền thống. Đó là một nét đáng mừng. Nhưng có lẽ, niềm vui sẽ trọn vẹn hơn nếu sau mỗi cổng làng ấy là cuộc sống người dân luôn no ấm, yên bình và đậm đà bản sắc “Mỹ tục khả phong” (Phong tục tốt đẹp) riêng.
Khách vào thăm ngôi làng cổ Chi Quan - nay thuộc thị trấn Liên Quan, huyện Thạch Thất, TP.Hà Nội hẳn sẽ đặc biệt ấn tượng với những bức tường xây cất bằng đá ong nối liền với chiếc cổng nhà, chạy dài hun hút theo lối đi, tạo nên một chiều sâu không gian thú vị và ấm áp sắc màu cho từng ngõ xóm…
Từ hàng nghìn năm trước, cư dân vùng đất cổ phía Tây ngoại thành Hà Nội đã biết sử dụng đá ong như một vật liệu truyền thống để xây cất nên nhà cửa, đình, chùa, miếu, từ đường, cổng nhà, cổng làng, thành giếng, tường thành, bờ lũy… Trong đó phải kể đến ngôi Làng cổ Chi Quan với những công trình rất “đặc trưng xứ Đoài”.
Ngôi làng cổ Chi Quan nay còn giữ lại được chiếc cổng làng hơn 200 năm tuổi rất độc đáo, được xây bằng loại đá ong đỏ quý hiếm, khai thác ở làng Kim Quan bên cạnh. Loại đá ong này có mầu đỏ tươi, càng phơi sương gió cùng năm tháng trông càng thấy đẹp.
Ngoài cổng làng, Chi Quan còn có rất nhiều những công trình xây bằng đá ong mới và cũ, như các cổng vòm cũ của các gia đình, những thành giếng cổ nằm rải rác, bên những công trình tín ngưỡng chưa hoặc mới được phục dựng…
Khách vào làng, đặc biệt ấn tượng với những bức tường xây cất bằng đá ong nối liền những chiếc cổng nhà, cứ chạy dài hun hút theo lối đi, tạo nên một chiều sâu không gian thú vị và ấm áp sắc màu cho từng ngõ xóm…
Dân Việt xin giới thiệu chùm ảnh về các công trình xây bằng đá ong ở ngôi làng cổ Chi Quan.
 cong va tuong da ong “giao duyen” noi lang co… hinh anh 1
 cong va tuong da ong “giao duyen” noi lang co… hinh anh 2
 cong va tuong da ong “giao duyen” noi lang co… hinh anh 3
 cong va tuong da ong “giao duyen” noi lang co… hinh anh 4
 cong va tuong da ong “giao duyen” noi lang co… hinh anh 5
 cong va tuong da ong “giao duyen” noi lang co… hinh anh 6
 cong va tuong da ong “giao duyen” noi lang co… hinh anh 7
 cong va tuong da ong “giao duyen” noi lang co… hinh anh 8
 cong va tuong da ong “giao duyen” noi lang co… hinh anh 9
 cong va tuong da ong “giao duyen” noi lang co… hinh anh 10
 cong va tuong da ong “giao duyen” noi lang co… hinh anh 11
 cong va tuong da ong “giao duyen” noi lang co… hinh anh 12
 cong va tuong da ong “giao duyen” noi lang co… hinh anh 13
 cong va tuong da ong “giao duyen” noi lang co… hinh anh 14
 cong va tuong da ong “giao duyen” noi lang co… hinh anh 15
Theo Nguyễn Bình, Bích Huệ/ Báo Tin tức/TTXVN
Cổng làng - miền ký ức của những đứa con xa quê
Không phải làng quê nào cũng có cổng làng đối với những người con đi xa, nhưng hình bóng quê nhà vẫn in đậm trong tâm trí. Quê đối với họ là hình bóng đa, giếng nước đầu làng, là cây gạo đỏ rực mỗi tháng Ba sang...Ai đi trên đường 12/9, qua địa phận xã Hưng Xá (Hưng Nguyên, Nghệ An) cũng thấy một chiếc cổng cổ kính nằm đối diện với trụ sở UBND xã. Theo các cụ cao niên ở đây thì đây là cổng đình Phù Xá, cũng chính là cổng làng Phù Xá xưa. Đây cũng là nơi thành lập chi bộ Đảng đầu tiên của phủ Hưng Nguyên.
Trải qua nhiều biến thiên lịch sử và sự khắc nghiệt của thời gian, mưa nắng dấu tích còn sót lại của cổng đình làng Phù Xá là một chiếc cột nanh và chiếc cổng phủ đầy rêu phong. Giữa cột nanh và cổng đình Phù Xá trở thành lối vào của một quán cà phê. Cổng làng xưa giờ chỉ còn là phế tích với những mảng tường lở lói, nham nhở, rêu mốc, cỏ dại che lấp chân tường cũng với những bát hương vương vãi nền đất.
Thảng hoặc những người già nhớ về làng cũ vẫn dừng lại bên đường ngắm chiếc cổng rêu mốc, buông tiếng thở dài tiếc nuối hồn cốt ngày xưa rồi lầm lũi bước đi. Có lẽ bởi đứng trơ trọi bên đường nên nó không phải chịu chung số phận của nhiều cổng làng cũ khi bị “xóa sổ” để xây những cổng làng hiện đại, đồ sộ và hoành tráng.
Một cụ già tiếc nuối ngắm chiếc cổng làng xưa...
Một cụ già tiếc nuối ngắm chiếc cổng làng xưa...
Quỳnh Đôi (huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An) nơi có cổng làng bạc tỷ vào loại hoành tráng nhất Nghệ An xưa vốn dĩ chẳng có cổng làng. Trong ký ức của những người làng Quỳnh xưa cũ ấy vẫn hằn nguyên bóng cây đa, cây gạo sừng sững nơi mảnh đất đầu làng ấy.
Cây đa, cây gạo ấy trồng từ bao giờ chẳng ai biết, có lẽ nó có từ thửa khai cơ lập làng. 4 mùa mưa nắng, cây đa, cây gạo trở thành chứng tích, chứng kiến sự phát triển của làng, trở thành một phần cuộc sống tinh thần, trở thành điểm tựa của người con xa quê. Các cụ cao niên ở đây vẫn nằm lòng câu nói “bóng cây đa, hoa cây gạo” là khi nói về làng xưa xóm cũ. Người đi xa về, chỉ nhìn thấy cây đa xum xuê tỏa bóng hay những bông hoa gạo đỏ rực tháng Ba là biết rằng mình đã về đến nơi “chôn nhau cắt rốn”.
Sau nhiều năm bôn ba khắp chốn để thực hiện lý tưởng giải phóng dân nghèo, giành độc lập dân tộc, năm 1946, nhà cách mạng Hồ Tùng Mậu - người con làng Quỳnh trở về thăm quê. Bước chân về đến đầu làng, ông ngơ ngác khi cây gạo đã biến mất. Hỏi thì được biết trong quá trình làm trường học, do thiếu gỗ để đóng bàn ghế nên lãnh đạo địa phương quyết định đốn hạ cây gạo để lấy gỗ.
Bóng cây đa, hoa cây gạo - khi đi xa về, nhìn thấy bóng cây đa sum suê hay hoa gạo đỏ rực tháng ba, những người con xa quê biết rằng mình đã về đến quê cha đất tổ (ảnh Cảnh Yên)
"Bóng cây đa, hoa cây gạo" - khi đi xa về, nhìn thấy bóng cây đa sum suê hay hoa gạo đỏ rực tháng ba, những người con xa quê biết rằng mình đã về đến quê cha đất tổ (ảnh Cảnh Yên)
“Không còn cách chi nữa à? Cây gạo quý lắm, từ khi khai cơ lập làng đến nay là mấy trăm năm rồi, thế mà bây giờ các anh chặt đi, các anh làm được cái gì mà các anh chặt cây của ông cha?”. Nói đến đấy, ông Hồ Tùng Mậu bật khóc…
Năm 1952, kháng chiến chống Pháp bước vào giai đoạn ác liệt, ông Phan Hữu Thịnh khi đó là Thường vụ Đảng ủy xã Quỳnh Anh (gồm xã Quỳnh Đôi, Quỳnh Thanh và Quỳnh Yên ngày nay) đã đề ra chủ trương chặt tỉa bớt cành đa để làm hầm trú ẩn, vừa tránh việc cây đa trở thành mục tiêu ném bom của địch. Nhưng ông không thể ngờ được rằng, chính những vết chặt đó đã giết chết cây đa làng Quỳnh. Mưa xuống, nước ngấm vào vết chặt, dần thối cả cành, thối vào tận thân cây. 3 năm sau thì cây đa làng Quỳnh - chứng tích duy nhất còn sót lại từ thủa lập làng cũng không còn.
Cây đa tỏa bóng, ôm ấy lấy cổng phủ Tương (xã Xá Lượng, Tương Dương, Nghệ An)
Cây đa tỏa bóng, ôm ấy lấy cổng phủ Tương (xã Xá Lượng, Tương Dương, Nghệ An)
Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, bôn ba khắp chốn để rồi ở cái tuổi xưa nay hiếm, khi trở về làng sinh sống ông Phan Hữu Thịnh vẫn day dứt khi những vết tích của làng xưa không còn giữ được. Quê hương phát triển thịnh vượng, là một người dân ông mừng chứ, nhưng bóng cây đa, cây gạo vẫn in hằn trong ký ức của ông.
Để rồi, không một ai trách cứ nhưng ông đã đứng lên trong một cuộc họp ở Quỳnh Đôi, đau đớn thốt lên rằng: “Đó là sai lầm của tôi. Tôi xin chịu trách nhiệm trước lịch sử về số phận của cây đa làng Quỳnh”!
Lịch sử sẽ không phán xét ông, con cháu làng Quỳnh cũng không vì thế mà trách cứ ông nhưng trong lòng ông, sai lầm ấy thật khó mà tự mình tha thứ dẫu rằng cái quyết định của hơn 50 năm về trước cũng vì an toàn của làng, của hàng trăm người dân làng Quỳnh trước bom đạn kẻ thù.
Tuổi thơ lớn lên bằng nhưng trò chơi bên cổng làng, dưới bóng cây đa, cây gạo...
Tôi nhờ đến cái lắc đầu của cụ Phạm Mai Khôi – một người con làng Quỳnh khi nói về chiếc cổng làng của mình: “To thật đấy, đẹp thật đấy nhưng người đi xa về, nhìn thấy chiếc cổng làng không có được cái cảm giác là về quê. Người xa quê về làng, người ta mong được nhìn thấy chiếc cổng làng cổ kính, mộc mạc hay gốc đa, giếng nước, mái đình. Nơi ấy ngày còn nhỏ chúng tôi vẫn cùng nhau nô đùa, nơi mẹ tôi ngả nón những trưa hè làm đồng về qua, nơi cha tôi vác cày đi làm đồng vẫn cố nán lại nói dăm ba câu chuyện phiếm, nơi mẹ già tiễn con ra trận rồi mòn mỏi đợi con trở về…”.

Loay hoay giữ cổng làng
Những chiếc cổng làng xưa cũ vẫn đứng vững với thời gian nhưng không còn phù hợp với xu thế phát triển của người dân. Những chiếc ô tô lớn nhỏ đủ kích cỡ không thể đi qua những chiếc cổng để vào làng. Giữ cổng làng nhưng vẫn đáp ứng được nhu cầu đi lại của nhân dân là một bài toán khó.Người dân xứ Nghệ nói chung, cũng như những người hâm mộ túc cầu ắt hẳn không thể quên cổng thành sừng sững uy nghiêm trên đường dẫn vào “chảo lửa” thành Vinh. Đây cũng là điểm nhấn thu hút khách du lịch về với thành phố "Đỏ" này. Thành cổ Vinh được xây dựng từ đầu thế kỷ XIX, gồm 3 cửa: cửa Tiền ở phía Nam, cửa Tả ở phía Đông, cửa Hữu ở phía Tây.
Cổng thành Vinh được khôi phục lại như một nét quê giữa phố, trở thành một điểm nhấn du lịch thành phố Vinh.
Trải qua nhiều biến cố của lịch sử và sự phá hoại của chiến tranh, di tích Thành cổ hầu như không còn lại gì, chỉ còn lại 3 cổng thành và khu hồ bao quanh. Sau một thời gian dài “trơ gan cùng tuế nguyệt”, 2/3 cổng thành Vinh đã được trùng tu lại. Mặc dù theo một số nhà nghiên cứu các cổng thành đã được khôi phục chưa hoàn toàn đúng với nguyên bản nhưng những chiếc cổng này đã trở thành một chứng tích lịch sử, một điểm nhấn văn hóa, du lịch của tỉnh Nghệ An nói chung. Cổng thành Vinh là một nét cổ xưa, một nốt lặng giữa phố thị ồn ào, như một nét quê giữa phố.
Làng Vĩnh Yên (Diễn Lộc) có lẽ là là ngôi làng hiếm hoi của huyện Diễn Châu (Nghệ An) vẫn đang giữ được cổng làng cổ. Theo các cụ cao niên trong làng, cổng được xây vào năm 1937 (Đinh Sửu), do thực dân Pháp xây dựng. Cụ Nguyễn Thị Thung (105 tuổi, làng Vĩnh Yên) nhớ lại, vào những năm 30 của thế kỷ trước, làng Vĩnh Yên gần với ga Yên Xuân – ga đường sắt lớn nhất thời bấy giờ. Trong làng có một bộ phận quan lại phong kiến thân Pháp nên các quan Pháp vẫn thường ghé làng chơi. Về sau, các quan Pháp quyết định xây cổng cho làng Vĩnh Yên, gồm một cửa trước và một cửa sau.
Cổng làng Vĩnh Yên (Diễn Lộc) là chiếc cổng làng cổ hiếm hoi còn sót lại ở huyện Diễn Châu (Nghệ An).
“Cửa này chỉ dành cho các quan lại người Pháp và quan lại, địa chủ phong kiến ta đi lại thôi. Còn dân thường như chúng tôi sớm mai đi cắt cỏ tranh, cắt rành rành hay đi làm đồng phải đi bằng lối khác, có khi là rẽ qua bụi cây để đi. Bên cạnh cổng có điếm canh và trống canh, mỗi khi có giặc, trộm thì người ta đánh mấy hồi trống và đóng cửa lại”, cụ Thung kể.
Sau gần 1 thế kỷ, làng Vĩnh Yên chỉ còn một chiếc cổng ở phía trước. Cổng được xây bằng gạch sò, kết cấu khá đơn giản nhưng chắc chắn. Đỉnh cổng có tên làng được đắp nổi bằng tiếng Việt cách điệu, được điểm thêm những cành hoa, phía dưới là dòng chữ “Laporte Dentree”. Mặt sau là dòng chữ Đinh Sửu Niên (năm Đinh Sửu) - thời điểm xây dựng chiếc cổng. Hiện cổng chỉ còn hai trụ đá và mái vòm, cánh cổng bằng gỗ chỉ còn lại dấu tích là hai chiếc “bản lề” đục thẳng vào đá. Chiếc điếm canh và trống canh cũng không còn.
Cổng làng Vĩnh Yên đang đứng trước yêu cầu phải cải tạo hoặc xây mới phù hợp với nhu cầu đi lại, vận chuyển hàng hóa của nhân dân.
Sau nhiều lần nâng cấp đường thì khoảng cách từ mặt đất lên cổng chỉ còn khoảng gần 2m, chiều rộng khoảng 1,5m. Ông Nguyễn Văn Thủy xóm Vĩnh Yên cho biết: “Giờ con em đi ra làm ăn cũng sắm được cái ô tô nhưng cổng hẹp quá, ô tô không vào được hay ngàymùa, việc vận chuyển lúa bằng xe cơ giới gặp nhiều khó khăn. Nhiều người cũng đề đạt ý kiến xây dựng cổng mới hoặc cải tạo cổng cũ cho đủ rộng nhưng dân làng yêu cầu cổng mới phải đúng nguyên bản cổng cũ.
Sau nhiều lần thiết kế và cũng như bàn bạc, mọi người vẫn chưa chấp nhận phương án cải tạo cổng làng vì nếu mở rộng cổng mà yêu cầu giữ như nguyên bản thì rất khó, gần như không thực hiện được vì cổng được gắn bằng những tảng đá sò, kết lại với nhau bằng vôi và mật mía. Giờ đang tính đến phương án tôn cao cổng lên”.                                                               
Trong khi đó, cổng phủ Tương (xã Xá Lượng, Tương Dương, Nghệ An) giờ cũng chỉ là còn là những bức tường lở lói. Từ chiếc cổng thể hiện uy quyền của quan lại ngày trước thì nay, chiếc cổng phủ Tương trở thành cổng phụ của Trường THCS Xá Lượng. Nếu không có hệ thống rễ cây đa chằng chịt bao phủ bảo vệ, có lẽ chiếc cổng cổ này cũng đã không thể chịu được sự tác động của thời gian và biến thiên lịch sử cũng như tác động của khí hậu khắc nghiệt nơi đây.
Cổng phủ Tương (Tương Dương, Nghệ An) mặc dù đã được đưa vào kế hoạch trùng tu, bảo vệ nhưng hiện chính quyền địa phương vẫn chưa tìm được nguồn kinh phí thực hiện.
Nói về việc bảo vệ, trùng tu cổng cổ này, ông Vi Sắc Son – Trưởng phòng Văn hóa huyện Tương Dương cho biết, hiện công trình này đã được đưa vào danh mục trùng tu bảo vệ, tôn tạo. Tuy nhiên hiện tại huyện cũng chưa bố trí dược nguồn nên cũng chưa có kế hoạch cụ thể. Bởi vậy, trong khi “chờ” nguồn thì số phận của cổng cổ này cũng chưa biết sẽ ra sao.
Ngoại trừ thành cổ Vinh, những chiếc cổng cổ hiếm hoi còn lại ở Nghệ An vẫn chưa được quan tâm, trùng tu, bảo vệ đúng mức. Với sự phát triển nhanh cùng với công cuộc “bê tông hóa” các làng quê như hiện nay, nếu không có những biện pháp căn cơ thì những chiếc cổng cổ còn sót lại chẳng chóng thì chầy cũng sẽ biến mất. Và rồi, những chiếc “cổng làng trong tre”, những chiếc cổng cổ - chứng tích một thời kỳ lịch sử của làng quê xứ Nghệ chỉ còn lại trong ký ức, trong những câu thơ hoài niệm mà thôi.
Cổng làng đồ sộ - cuộc đua ngầm giữa các làng quê?
Những chiếc cổng làng sừng sững có giá trị từ dăm trăm triệu đến vài tỉ đồng đã không còn hiếm có ở các làng quê Nghệ An. Dù không nói ra nhưng dường như đã có những cuộc đua ngầm trong việc xây dựng khi cổng làng xây dựng sau lại càng hoành tráng hơn những cổng làng trước đó.Cổng làng "phải to mới đẹp"
Nhà nghiên cứu văn hóa Phan Hữu Thịnh (xã Quỳnh Đôi, Quỳnh Lưu, Nghệ An) đã lắc đầu không vui khi chúng tôi đề cập về những chiếc cổng làng đồ sộ, hoành tráng mọc lên ngày càng nhiều ở các vùng quê Nghệ An. Từng bôn ba khắp hơn 30 tỉnh thành, từ Tây Bắc xa xôi đến Kinh Bắc cổ kính, từ đồng bằng lên miền ngược, không khó để hiểu vì sao ông lại đau đáu khi những chiếc cổng làng xưa cũ đang dần chỉ còn trong ký ức những người “cổ lai hi” như ông.
Nhà nghiên cứu Phan Hữu Thịnh đau đáu khi những chiếc cổng làng xưa cũ đang dần chỉ còn trong ký ức.
“Cổng làng ra đời từ rất sớm, gắn liền với sự hình thành phát triển của làng quê Việt Nam. Ngoài ranh giới phân chia, cổng làng thể hiện rõ tính đóng và mở - tính cách, hồn cốt của làng. Ngày xưa cổng làng được dựng lên để chống giặc ngoại xâm, để bảo vệ làng khi có giặc giã, trộm cướp. Cổng làng được dựng bằng tre, nối liền với những lũy tre bao bọc quanh làng. Bên cạnh cổng làng có điếm canh, ngày cổng mở để dân làng đi lại, đêm làng cử người canh ở điếm, kiểm tra người lạ vào làng.
Giờ người ta xây cổng làng to quá. Cổng không đơn thuần là nơi thông báo cho người khác về địa giới hành chính của làng nữa mà dường như người ta khoe khoang là nhiều hơn…”, người đàn ông gần 90 tuổi ngậm ngùi về một nét xưa cũ chỉ còn trong ký ức.

Cổng làng Xuân Nho (Diễn Lộc, Diễn Châu, Nghệ An) trước khi là cổng chùa. Theo những vị cao niên trong làng thì trước đây trong làng có ngôi chùa thiêng, cổng chùa cũng chính là cổng làng. Trải qua biến thiên của lịch sử, nhất là sau thời kỳ chuyển đổi ruộng đất vào thập niên 60 của thế kỷ trước, chùa làng đã không còn vết tích. Chiếc cổng chùa cũng nằm chung số phận.
Giờ chiếc cổng năm xưa đã được thay thế bằng chiếc cổng bê tông sừng sững. Cổng làng Xuân Nho được xây dựng vào năm 2010, kinh phí không được tiết lộ nhưng theo thông tin in trên bảng gắn vào cổng thì toàn bộ kinh phí xây dựng do dân làng Xuân Nho, kể cả những người mới di cư vào làng cũng như con em của làng đang sinh sống trên mọi miền Tổ quốc đóng góp. Theo đó, mức đóng góp bình quân là 150 nghìn đồng 1 người. Cán bộ, hưu trí thì mức đóng góp cao hơn, từ 200 nghìn đến 1 triệu đồng.
Để xây cổng làng Xuân Nho (hay còn gọi là cổng Cửa Chùa) người dân trong làng đóng góp bình quân 150 nghìn đồng 1 người, cán bộ, hưu trí đóng góp từ 200 nghìn đến 1 triệu đồng.
Để xây cổng làng Xuân Nho (hay còn gọi là cổng Cửa Chùa) người dân trong làng đóng góp bình quân 150 nghìn đồng 1 người, cán bộ, hưu trí đóng góp từ 200 nghìn đến 1 triệu đồng.
Ông Hoàng Quyền - người dân làng Xuân Nho tự hào về chiếc cổng làng của mình: “Cổng to đẹp, đường rộng rãi chứng tỏ đời sống người dân trong làng cũng khấm khá, làng có nhiều con cháu thành đạt đang công tác khắp cả nước. Cổng làng còn là sự cộng đồng kết nối, là sự đoàn kết của các thế hệ người dân trong làng”.
Cổng làng Cần (xã Hưng Tân) xây dựng vào cuối năm 2014, đầu năm 2015 được xem là cổng làng to nhất huyện Hưng Nguyên (Nghệ An). Theo ông Nguyễn Hữu Thống - Phó Chủ tịch UBND xã Hưng Tân thì cổng làng Cần được mô phỏng theo cổng Làng Sen (Nam Đàn) nhưng nhỏ hơn, kinh phí xây dựng 460 triệu đồng. Cổng làng Cần được xây dựng theo lối cổng tam quan, ở giữa là cổng chính, lớn nhất, hai bên là cổng phụ. Cổng là sự kết hợp giữa lối kiến trúc cổ kính và hiện đại với mái vảy, trên đỉnh mái có rồng, nghê, giữa cổng có mặt âm dương, hai bên cổng có câu đối.
Cổng Làng Cần được xây dựng với tổng kinh phí 460 triệu đồng, được xem là cổng làng lớn nhất huyện Hưng Nguyên.
Cổng Làng Cần được xây dựng với tổng kinh phí 460 triệu đồng, được xem là cổng làng lớn nhất huyện Hưng Nguyên.
Nắm giữ kỷ lục về độ hoành tráng, đồ sộ có lẽ phải kể đến cổng làng Quỳnh Đôi (xã Quỳnh Đôi, Quỳnh Lưu, Nghệ An). Theo thiết kế, khuôn viên công trình là 3.000m2, điểm cao nhất của cổng là 14m, rộng 22m. Cổng làng Quỳnh Đôi cũng được xây dựng theo lối tam quan, vòm cửa chính cao 6,9m, rộng 7m, cột cổng rộng 4m... Theo thông tin chúng tôi có được thì kinh phí xây cổng là vào khoảng 3 tỷ đồng, phần lớn là do con em xa quê đóng góp.
Ông Hồ Quang Tuấn - Chủ tịch UBND xã Quỳnh Đôi cho biết, trước khi xây dựng, bản thiết kế của cổng làng đã được đưa ra lấy ý kiến của nhân dân trong xã và tổ chức hội thảo để con cháu xa quê cũng như các cụ cao niên và các nhà nghiên cứu góp ý kiến. Theo ông Tuấn, Quỳnh Đôi là địa phương có nhiều con cháu thành đạt, hiện cơ sở hạ tầng của xã cũng đã cơ bản hoàn thiện, Quỳnh Đôi là “1 xã cũng là 1 làng” nên phải xây cổng “hoành tráng và xứng tầm”.
Với kinh phí gần 3 tỷ đồng, cổng làng Quỳnh Đôi hiện là cổng làng hoành tráng và đồ sộ nhất Nghệ An.
Với kinh phí gần 3 tỷ đồng, cổng làng Quỳnh Đôi hiện là cổng làng hoành tráng và đồ sộ nhất Nghệ An.
“Ý kiến này nọ là do nhận thức của từng người. Cổng làng là có sự thống nhất cao của người dân và bà con làng Quỳnh xa quê. Đây là công trình phúc lợi của quê hương, phải tránh cả lạc hậu sau này nữa”, ông Hồ Quang Tuấn lý giải về chiếc cổng đồ sộ của quê hương mình.
Có cần quy chuẩn về cổng làng?
Hưng Nguyên có gần 50% làng trong toàn huyện đã xây dựng được cổng làng. Tuy nhiên các cổng làng này không có sự thống nhất về kích thước, kiểu dáng. Việc xây dựng cổng làng thường tùy thuộc vào tiềm lực kinh tế của người dân và những người con xa quê tuy nhiên những cổng làng làm sau thường cố gắng để to hơn, đẹp hơn các làng khác.
Cổng làng là công trình thể hiện sự thịnh vượng, phát triển của làng?.
Cổng làng là công trình thể hiện sự thịnh vượng, phát triển của làng?.
“Cổng làng cũng như nhà văn hóa (ngày xưa thì có đình làng) nó mang cốt cách của làng, để cho người con xa quê nhớ về nguồn cội. Bởi vậy khi làm người ta cũng muốn cho thế hệ sau biết là vào thời kỳ đó làng phát triển thịnh vượng, người dân đoàn kết, đồng sức xây dựng”, ông Nguyễn Xuân Thủy - Trưởng phòng Văn hóa thông tin huyện Hưng Nguyên cho biết.
Trong bộ 19 tiêu chí về xây dựng nông thôn mới thì không đề cập đến tiêu chí về cổng làng. Việc xây dựng cổng làng như ông Nguyễn Xuân Thủy thừa nhận thì đến thời điểm hiện tại cũng chưa có quy định nào cụ thể. Bởi vậy, việc xây dựng cổng làng vẫn đang ở tình trạng tự phát và mạnh ai nấy làm. Chính vì việc chưa có một quy định “cứng” thống nhất về mẫu mã, kích thước nên đã xảy ra “cuộc đua ngầm” để xây dựng những chiếc cổng làng hoành tráng, đồ sộ “xứng tầm” với sự phát triển của quê hương mình.
Cổng làng Thượng Yên (xã Quỳnh Yên, Quỳnh Lưu, Nghệ An)được xây dựng với kinh phí lên đến cả tỷ đồng đang trên đà hoàn thiện (ảnh Hồ Đình Chiến).
Cổng làng Thượng Yên (xã Quỳnh Yên, Quỳnh Lưu, Nghệ An)được xây dựng với kinh phí lên đến cả tỷ đồng đang trên đà hoàn thiện (ảnh Hồ Đình Chiến).
Nói về việc xây dựng cổng làng, mặc dù chưa có tiêu chí cụ thể nhưng ông Nguyễn Xuân Thủy cũng cho rằng: “Xét về góc độ văn hóa thì cổng làng không cần phải phô trương. Cổng làng xây dựng thường mang hồn cốt, dáng dấp của làng, không có nghĩa là phải to, phải đồ sộ, hoành tráng”. Tuy nhiên, chính ông Thủy cũng thừa nhận hiện tại, ngành chức năng, đặc biệt là đơn vị quản lý văn hóa “rất khó quản lý” trong việc các làng đua nhau xây cổng làng và nếu “có góp ý người ta cũng không nghe”.
Về hình mẫu cổng làng, nhà nghiên cứu Phan Hữu Thịnh lại cho rằng: “Việc xây dựng những cổng làng đồ sộ, hoành tráng và tốn kém là không cần thiết. Cổng làng chỉ cần xây dựng một cách đơn giản, có bảng ghi tên làng, tốt hơn hết là nên làm bằng thép để lúc cần thiết có thể di chuyển. Theo tôi việc xây dựng những cổng làng lên tới hàng tỷ đồng là hết sức lãng phí dù đó là tiền con em quê hương thành đạt đóng góp. Chỉ cần vài ba trăm triệu là có thể xây dựng được những chiếc cổng làng đơn giản và đẹp rồi”.
Cổng làng Trung (xã Hưng Tân, Hưng Nguyên, Nghệ An) được đánh giá là đơn giản, thẩm mỹ và phù hợp với không gian làng quê.
Đi dưới những chiếc cổng làng bê tông đồ sộ, tôi chợt nghĩ đến những câu thơ của Bàng Bá Lân “Ngày nay dù ở nơi xa/ Nhưng khi về đến cây đa đầu làng/ Thì bao nhiêu cảnh mơ màng/ Hiện ra khi thoáng cổng làng trong tre”. Có lẽ những chiếc “cổng làng trong tre” chỉ còn là ký ức của Bàng Bá Lân và những người hoài cổ như tôi mà thôi?
Hoàng LamTrong tâm thức của mỗi người Việt, cổng làng có một ý nghĩa hết sức quan trọng bởi sau đó là cộng động, gia tộc, là tình làng nghĩa xóm bền chặt. Thăm lại những chiếc cổng làng xưa, gợi cho chúng ta nhiều ký ức. Và cả những nỗi nao nao, khi biết rằng, dấu xưa đã phai nhạt rất nhiều...
Ngam mot so cong lang xua va nay o xu Nghe - Anh 1
Cổng làng của làng Vĩnh Yên được xây dựng vào năm Đinh Sửu 1937. Đây là một trong những cổng làng cũ hiếm hoi còn giữ được tại xã Diễn Lộc, huyện Diễn Châu. Trước cổng có một dòng chữ bằng Tiếng Pháp.
Ngam mot so cong lang xua va nay o xu Nghe - Anh 2
Cổng được xây bằng đá sò, loại đá vốn đã được đông kết sẵn ở dưới đất. Người dân trong xã kể rằng, trước đây người Pháp xây dựng trong làng 2 cổng, cổng trước và cổng sau. Và chỉ những người thuộc tầng lớp quan lại mới được đi qua chiếc cổng này. Bên cổng, còn có một chiếc điếm để lính canh gác.
Ngam mot so cong lang xua va nay o xu Nghe - Anh 3
Đây là một trong những chiếc cột còn sót lại của cổng đình làng Phù Xã ( xã Hưng Xã, huyện Hưng Nguyên).
Ngam mot so cong lang xua va nay o xu Nghe - Anh 4
Người dân nơi đây vẫn chưa quên được những năm 20 của thế kỷ trước, đây chính là nơi thành lập chi bộ cộng sản đầu tiên của phủ Hưng Nguyên. Ngày 12/9/1930, hơn 8.000 nông dân Hưng Nguyên tập trung tại đây, trước khi kéo ra phủ Hưng Nguyên để đòi quyền lợi cho dân cày - khởi đầu cho phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh 1930 - 1931.
Ngam mot so cong lang xua va nay o xu Nghe - Anh 5
Dấu thời gian đã phủ đầy trên di tích cũ.
Ngam mot so cong lang xua va nay o xu Nghe - Anh 6
Cổng phủ Tương ở xã Xá Lượng, huyện Tương Dương là một công trình kiến trúc cổ còn giữ lại được ở huyện miền núi này. Cổng được xây bằng gạch nung, mặt hướng ra ngã 3 sông- địa điểm hợp lưu của dòng Nậm Nơn và Nậm Mộ.
Ngam mot so cong lang xua va nay o xu Nghe - Anh 7
Ngày nay, nhiều làng khôi phục xây lại cổng làng như nhắc nhở con cháu về quê hương, dòng tộc. Mỗi chiếc cổng được thiết kế với những hình dáng khác nhau. Tùy vào điều kiện của mỗi địa phương, giá trị của những chiếc cổng cũng hết sức khác biệt. Cổng làng Cần là một trong những cổng làng lớn nhất của huyện Hưng Nguyên với giá trị gần 500 triệu đồng.
Ngam mot so cong lang xua va nay o xu Nghe - Anh 8
Đồ sộ hơn cổng làng Quỳnh Đôi vừa khánh thành đầu năm 2016.
Ngam mot so cong lang xua va nay o xu Nghe - Anh 9
Những chiếc cổng làng, xưa và nay gợi cho chúng ta nhiều kỷ niệm về quá khứ, kết nối với hiện tại và tương lai để gìn giữ, phát huy giá trị văn hóa...
Song Hoàng

No comments:

Post a Comment