Wednesday, November 30, 2016

RESVERATROL, Cứu tinh của hai loại bịnh Tiểu Đường và ung thư Prostate?

Resveratrol có công thức là trans 3,5,4'-trihydroxystilbene, hay 3,4',5-Stilbenetriol; hay trans-Resveratrol; hay (E)-5-(p-Hydroxystyryl) resorcinol là một polyphenolic phytoalexin.
Về phương diện hóa học, đó là chất stilbenoid, do từ chất stilbene, là nột chất không màu, tan trong benzen, tan trong rượu: 50mg/mL, không tan trong nước hay tan nhưng rất ít:~0.03 mg/mL , nóng chảy ở nhiệt độ cao là 124oC, có khối lượng phân tử (molar mass): 228.25, thường dùng sản xuất thuốc nhuộm, và làm chất tẩy trắng mà tên thương mãi gọi là diphenylethylene, toluyene. Nhưng trong thiên nhiên, chất nầy có được là do cây tự sản sinh với sự xúc tác của một enzyme stilbene synthase.
Thường thì chất trên ở dưới hai dạng cis và trans. Trong tờ Journal Agri. Food. Chem , Lamuela Raventos 1995, dùng HLPC để phân giải cis và trans của resveratrol, thì thấy rằng khi chất resveratrol ở dạng trans form lại gặp nhiệt, hoặc tia tử ngoại cực tím ultraviolet, thì nó biến ra cis-form (Lamuela-Raventos, RM.,1995).. Thật vậy, Mozzon, (2007), đã đo hàm lượng cis resveratrol trung bình là 0.5 tới 1.9 mg/L trong rượu nho đỏ, còn trong rượu nho trắng chúng chỉ có tối đa 0.2 mg/L mà thôi.
Resveratrol được tìm thấy do nhiều cây trong thiên nhiên, mà những tính chất dễ thấy nhất của nó là chống nấm (antifungal properties). Trong những cây có thể cho ta nhiều chất resveratrol có được như là: nho grapes,raspberries, mulberries và plums, peanuts, berries gồm có blueberries, bilberries và cranberries, và còn thấy nữa trong một vài loại thông như Scots pines và eastern white pine. Ông Jang và các cộng sự viên (1997) nghiên cứu về tính cách chống viêm rất hữu hiệu khi trích chất resveratrol từ cây PeruvianPeruvian legume Cassia quinquangulata . Đây là thứ thuốc được bào chế từ cây kể trên được thấy trong các sách pharmacology. 
Resveratrol được nhìn thấy nhiều nhất ở các loại nho. Các loại nho trên resveratrol được thấy có nhiều nhất nơi vỏ và hột. Các loại nho tươi thường cho từ 50-100 ug resveratrol cho mỗi gram. Còn loại nho gọi là muscadine grapes, thì vỏ và hột của chúng d̃ế nghiền nát thì cho một hàm lượng resveratrol đâm đặc nhiều cả trăm lần. Tuy nhiên hàm lượng resveratrol lấy được nơi vỏ nho thay đổi tùy theo giống nho, tuỳ theo thổ nhưỡng nơi trồng và còn tùy theo tính khả năng đề khán nấm của chúng. Nghĩa là giống nho trên nếu ít bị nấm nghĩa là hàm lượng resveratrol cao hơn loại bị nấm. Khi nho được lên men, thì hàm lượng thời gian lên men luôn cả vỏ nho, cả hai đều cho hàm lượng tối đa resveratrol trong nước rượu nho.
Hàm lượng resveratrol có trong rượu nho và được thấy trong nước giải khát 
Beverage Total resveratrol                   (mg/L)
Muscadine Wines                               14.1 - 40
Red Wines (Global)                        1.98 - 7.13
Red Wines (Spanish)                       1.92 - 12.59
Red grape juice (Spanish)                1.14 - 8.69
Rose Wines (Spanish)                         0.43 - 3.52
Pinot Noir                                           0.40 - 2.0
White Wines (Spanish)                       0.05 - 1.80 
Còn trong rượu nho Tuscan wine thì hàm lượng trans- resveratrol tập trung trong 40 loại rượu Tuscan wine có được từ 0.3 tới 2.1mg/L trong 32 loại nho đỏ, còn tuscan wines làm bằng nho trắng hàm lượng trung bình trong 8 thứ rượu nho trắng chỏ có 0.1mg/L. 
Nếu xem bảng ghi hàm lượng resveratrol của mustadine grapes thì ta thấy rằng chính mustadine grape wines cho một hàm lượng lớn nhất hơn tất cả các loại nho làm rượu. Như cis resveratrol của mustadine grape có được vào khỏang 9.2 và 31.9 mg/L, còn trans resveratrol thì trong khoảng 4.9 và 5 13.4 mg/L.
Như trên tôi đã nói rằng trong peanut cũng có resveratrol, trong một ounce của raw peanuts là 146g có chứa tới 0.1-0.26 mg resveratrol, còn peanuts boiled nấu chín nặng 180 g có chứa tới 0.32-1.28 mg revesratrol; peanut butter một ounce nặng 258g có chứa tới 0.04- 0.13mg resveratrol. Tóm lại, trong một ounce của peanuts thì có hàm lượng resveratrol là 79.4ug/ounce bằng phân nửa của rượu ̣đỏ đo được 160 ug/ounce. Tuy nhiên, trong peanut có chứa hàm lượng fatty acid là saturated fatty acid của thực vật rất cao nên peanuts hay peanut butter đều là không tốt cho sức khoẻ nếu tiêu thụ nhiều. Thêm nữa, khi peanuts bị nhiễm thì nấm Aspergillus flavus xâm nhập tạo thành các bào tử làm nhiễm độc trong hột đậu, tạo thành aflatoxins. Chính chất nầy gây ung thư cho một vài súc vật và có thể gây ra ung thư gan cho con người ở vùng nhiệt đới, vì các nơi đó thường các ngũ cốc được tồn kho không kiễm soát độ ẫm đúng, gây nên nhiễm độc bởi nấm (David E.M, 2000) 
Còn blueberries thì lại chứa hai lần hàm lượng resveratrol như bilberries, nhưng cả hai có hàm lượng resveratrol kém hơn nho là 10% Lyons MM, et al (2003). Lyons et al., (2003), Frémont L., (2000) , cho biết nếu ta dùng nhiệt nấu thì hàm lượng resveratrol lại giãm đi tới phân nửa. Còn nếu ta ăn resveratrol vào thì chúng sẽ mau biến đổi và cũng mau được bài tiết ra ngoài.
Tóm lại ta được biết các tính chất c̉ua resveratrol là chống nấm, chống viêm, chống nhiều thứ nguy hiễm khác mà ta sẽ thấy sau, nó có nhiều trong loại nho đỏ có tên là mustadine grape hơn các loại nho xanh khác, và khi làm rượu thì rượu mang tên là mustadine grape wines. 
Nghiên cứu cơ chế của Resveratrol
1- Làm sao khi insulin bị lờn trở lại hoạt động như trước? Chìa khóa của thành công. 
Trong quyển sách được xuất bản vào tháng Octobre, (2007) là Cell Metabolism do nhà xuất bản Cell press xuất bản, thì các nhà nghiên cứu nói rằng, với liều lượng nhỏ c̉ua một chất hoá học được thấy có nhiều trong vỏ của nho đỏ hay trong rượu nho đỏ có tên gọi là resveratrol, có khả năng cải thiện kích thích tố insulin của các chú chuột được dùng vào thí nghiệm. Chất đó cũng có tiềm lực mạnh trong việc điều trị để ngăn ngừa hai loại tiểu đường. Các nhà nghiên cứu thấy rằng trong chất resveratrol lại có một diếu tố enzyme gọi là SIRT1, chính enzyme nầy có công dụng là hồi phục DNA, điều chỉnh sự tiết ra insulin, và sự cải thiện sự nhạy cãm tốt hơn của insulin trong các chú chuột được dùng làm thí nghiệm. Nên resveratrol lại được coi như là một enzyme SIRT1 đầy năng động trong nhiệm vụ kể trên. 
Ông nói thêm, diabetes mellitus, là hầu như do sự rối loạn của tuyến nội tiết, mà hiện tại có trên 170 triệu người đang mắc phải, và dự đoán cho đến năm 2030 thì con số nầy tăng lên tới 530 triệu người. Còn trong hai loại bịnh tiểu đường thì có hơn 90% của người mắc bịnh là do sự lờn insulin của các tế bào của cơ thể đến sự kích thích của các kích thích tố insulin. Insulin trong máu được gọi là tốt là vì đường hấp thụ vào dễ dàng khi phần lớn chúng tích tụ trong các bắp thịt của xương, các tế bào mỡ, và cũng bởi do sự ức chế do sự sản xuất đường trong gan tiết ra. Vấn đề hiện tại là làm sao giãm bớt đi sự ù lì hay lờn insulin là chià khoá đạt tới để điều trị hai loại bịnh tiểu đường. Trong các cuộc nghiên cứu gần đây thì giữa SIRT1 và chu trình biến đổi của đường glucose cùng sự tiết ra chất insulin thì cho biết rằng chính chất SIRT1 là chất tham dự trực tiếp vào sự mẫn cãm của insulin trở lại như trước đang đóng một vai trò lớn mà ít nhà nghiên cứu nào biết. 
Bây giờ, các nhà nghiên cứu cho hay rằng hàm lượng chất SIRT1 nếu được gia tăng thêm thì chính nó làm giãm đi tính chất ù lì hay lờn của insulin (insulin resistance). Thêm nữa, gia tăng sự hoạt động của SIRT1 tức là cải thiện sự mẫn cảm hay độ nhạy của insulin. Insulin là một hormone có nhiệm vụ kiễm soát đường. Khi mà trong cơ thể con người khi insulin trở thành kém nhạy, thì insulin kém nhạy đó, được gọi là insulin resistance,hay gọi là insulin ù lì hay gọi là lờn insulin. Và khi cơ thể trở thành mập qúa tải, hay kém nhạy cãm của insulin đối với sự qúa tải đó sau một thời gian dài, thì insulin kém nhạy đó được gọi là insulin resistance, là đầu mối dẫn đến hai lọai tiểu đường. (When the body becomes “overloaded” or less sensitive to insulin, that’s called insulin resistance, a condition that can lead two types of diabetes). Còn đối với những người không bịnh, khoẻ mạnh, thì hormone insulin kiễm soát đường trong cơ thể được coi là rất hữu hiệu. 
Đó là kết qủa được rút ra do các nhà khoa học thí nghiệm có được và xác định resveratrol- với liều lượng là 2.5mg/kg/day-thì sẽ làm gia tăng độ nhạy của các tế bào insulin. Hay nói một cách khác, nếu giãm đi hàm lượng resveratrol thì có nghĩa là cũng làm giãm luôn tính lờn của insulin trong các con thú được thí nghiệm khi cho chúng ăn những thức ăn có nhiều mỡ (fatty acid) trong đó.
Nhà khoa học Zaid nói, chính chất SIRT1 cải thiện sự nhạy cãm tốt hơn của insulin, đặc biệt trong những trường hợp khi chất insulin-ù lì hay lờn insuln. Thêm nữa, nhóm của Ông cũng nhận thất rằng chất resveratrol, với một hàm lượng nhỏ nếu so sánh với nhiều cuộc th́i nghiệm trước, thì cũng cải thiện sự mẫn cãm hay độ bén nhạy của insulin qua enzyme SIRT1. 
Năm 2006, vào tháng August, nhiều nhà nghiên cứu tại Boston University cũng đã khám phá thấy rằng chính chất resveratrol làm tăng cường sự hoạt động hữu ích của insulin trong con chuột thí nghiệm. Lý do là việc lờn insulin đóng vai trò quan trọng trong hai bịnh tiểu đường. Còn nhóm nghiên cứu Ấn độ cho thêm resveratrol trong thức ăn của các chú chuột mắc ḅinh tiểu đường thì giúp cho thận chúng hoạt động tốt hơn và làm giãm đi hàm lượng oxyt gia tăng. 
Năm 2007, vào tháng July, nhóm Biotech của Sirtris Pharmaceuticals cho biết chính chất resveratrol đã làm giãm lượng đường trong máu và đồng thời gia tăng của sự nhạy cãm của insulin gấp nhiêu lần đối với hai bịnh tiểu đường. Và nhóm trên xuất ra trên 60 triệu dollars trong việc bào chế loại thuốc trị hai bịnh tiểu đường. Nhóm nầy cùng với Dr David Sinclair, một nhà nghiên cứu tại HarwardUniversity, đã cć công tìm ra resveratrol từ năm 2003. 
Thêm nữa, cuộc nghiên cứu do trường đại học Harward School of Public Health từ năm 2003 đến 2007, và công bố ngày 19-April-07, cho các phụ nữ tuổi từ 25, nếu tiêu thụ mỗi ngày từ 1-tới 2 ly rượu thì có được 58% ít bị hai loại bịnh tiểu đường hơn là những người không biết uống rượu. Các nhà nghiên cứu đưa ra ý kiến rằng tiêu thụ rượu sẽ giúp insulin nhạy cãm trở lại và hàm lượng đường trong máu điều độ. Cần lưu ý rằng, trong rượu đỏ có chấ́t resveratrol, nghĩa là dùng resveratrol là tạo insulin mẫn cãm như trước khi bị bịnh. Cũng vậy, trong tờ Annals of Internal Medecine nhận thấy rằng đối với những người dùng rượu đỏ, thì bịnh tim mạch lại giãm đi tới 55% thấp hơn cho những bịnh nhân bị bịnh tiểu đường đang dùng rượu đỏ điều độ 
Thêm nữa, Ông Qiwei Zhai (2007) người Trung Hoa, trong viện Hàn Lâm khoa học , có đề nghị thêm rằng vì có vai trò của rượu trong việc uống rượn nho đỏ, là vấn đề là cần quan tâm đối với sức khỏe nhiều người, nên Ông ta đề nghị cách tốt nhất là tìm các loại thực phẫm thiên nhiên có nhiều chất resveratrol nhất mà dùng. Ông cho ví dụ như trong ngành y học của hai nước Trung hoa và Nhật bản thường dùng loại cây gọi là Polygonum cuspidatum. Nghĩa là dùng resveratrol không phải nhất thiết là phải dùng với rượu.
Nhóm cũng đề nghị cho những ai tiêu thụ rượu đỏ với mục đích là để cải thiện sức khỏe khi tiêu dùng chất resveratrol trong rượu thì nên nhớ là nghĩ tai hại của rượu trước và nếu uống thì trước nhất nên uống rượu rất ít. Từ các cuộc thí nghiệm trên các con chuột thì có thể trả lời rằng bà con có thể uống nhiều litres rượu đỏ mỗi ngày để có đủ hàm lượng resveratrol cần thiết cải thiện sức khoẻ. Nhưng Ông ta cũng nói thêm, là theo sự tìm thấy của Ông thì nếu bà con uống khoảng 3 litres red wine/ mỗi ngày th̀i trong cơ thể có được 15 mg chất trên, gọi là có được phản ứng sinh hoá hữu ích. 
Tuy nhiên, sau một thời gian dài, lúc đó người uống có lẽ say xỉn rồi! Theo tôi, uống như thế thì sẽ trở thành người nghiện rượu, và tiền mua rượu cũng không kham nổi đoạn đường dài. Tiểu đường chưa hết, lại thêm bịnh nghiện, và gan cũng sẽ bị ung thư, thì mau thấy cái lẽ sinh bịnh và tử mà không một ai tránh khỏi. Vậy thì nên chọn một giải pháp thích hợp nhất đối với sức khỏe của chính mình. 
2- Rượu nho đỏ mang nhiều sức khỏe đến cho con người. 
Chính vì vỏ nho và hột nho chứa nhiều chất là antioxidant được gọi là flavonoids. Chính fkavonoids làm giãm LDL cholesterol xấu, gia tăng HDL cholesterol tốt, và làm giãm đi hiện tượng máu đông cụt (blood clotting). Ngoài ra, một chất antioxidant khác nữa, là resveratrol, trong vỏ và hột, làm ức chế mọi bướu tumors và một vài loại ung thư cancers. Và chúng cũng giúp trong việc ngăn ngừa các tế bào thần kinh bị nguy hại,và giúp điều trị hai bịnh là Alzheimer’s và Parkinson’s. Philippe M (2005) và Olson (2005) báo cáo trong Journal Biological Chemistry và American Journal Physio Heart rằng ch́inh resveratrol giúp cho các tế bào thần kinh kém hoạt động, hay bị tật như Alzheimer’s được phục hồi. Báo cáo từ Northeastern Ohio Universities College of Medecine và Ohio Stae University, do Olson et al và nhóm nghiên cứu của Ông (2005) rằng chính resveratrol tham dự trực tiếp vào việc ức chế tác dụng của cardiac fibroblasts và cũng ức chế sự bành trướng của cardiac fibrosis (tim bi xơ hóa) .
Năm 2006, các báo cáo của các nhà nghiên cứu khoa học trước hết là các nhà khoa hoc̣ Pháp thì khi thêm resveratrol vào thức ăn cho các chú chuột dùng thấy rầng sức chịu đựng của chúng gia tăng thêm tới 100%, nếu so với các chú chuột không dùng resveratrol. Không những thế, resveratrol lại giúp chúng không trở thành lên cân, mập phì. Còn các nhà nghiên cứu người Mỹ tại Harvard University thì dùng resveratrol cho vào thức ăn của các chú chuột mập phì thì các chuột mập phì nầy kéo dài tuổi thọ lâu hơn tới 30% nếu so với các chuột không dùng resveratrol rong thức ăn của chúng. 
Năm 2007, vào tháng June, nhóm khoa học nghiên cứu tại Mayo Clinic khi cho 30mg/day hàm lượng trong thức uống dùng cho chuột thì thấy gene CD38 chính là gene mà các nhà khoa học tin rằng chính hắn gia tăng sự béo phì, và cho chúng ăn thức ăn có nhiều chất béo trong 2 tuần. Nhóm nghiên cứu kết luận: chuột uống resveratrol thì lại giãm béo phì nếu so với chuột không dùng resveratrol thì độ béo phì gia tăng thêm. 
Còn theo các nhà khoa học Canadian thì chất antioxidant của rượu nho đỏ giúp cho răng và lợi gọi là bịnh nha chu (periodontal) khỏi bịnh.
Thêm nữa, theo sự nghiên cứu của Dr Ceriollo và các công sự của Ông (2006) thì chất flavonoids trong nho đỏ hay các thứ trái cây khác, thì chính nó điều hòa các tế bào tăng trưởng, công dụng như chất antioxidants, làm giãm đi sự tổn thương của cơ thể và cũng ngăn ngừa được chứng máu đông (blood clots). Còn đối với hai loại bịnh tiểu đường, thì Dr Ceriollo và phụ tá của Ông cho những dữ kiện cụ thể là nếu tiêu dùng mỗi ngày từ 2 toi 5 ounce ly rượu đỏ trong bửa cơm thì 2 loại bịnh của người tiểu đường giãm đi các thành phần nguy hại trong các phần ăn mà họ đang nuốt vào bụng, làm giãm đi sự nguy hại của thành động mạch do tác động của cái gọi là sự gia tăng oxýt. Cần biết là sự oxidation của chất mỡ xấu LDL hay gọi là bad cholesterol khi chất nầy gây nên hiện tượng mỡ xấu bám vành động mạch ( Frémont L, et al 1999) Khi chất mỡ xấu lại gặp free radical thì radical sẽ tàn phá mỡ xấu nhanh chóng hơn gấp 50 sự tàn phá không có mỡ xấu và đâm xuyên qua mạch máu tạo ra chứng đứt mạch máu. 
3- Reveratrol cải thiện về thận tốt hơn 
Trong quyển Pharmacology, November,2005, of the University Institute of Pharmaceutical Sciences at Panjab University in Chandigarh, India, .có cho biết thêm là resveratrol trong nho đ̉o hay trong rượu nho đỏ,là một hợp chất polyphenolic phytoalexin có tính chất chống oxýt hoá (antioxidant properties), lại làm cho thận hoạt động tốt hơn. Trong cuộc thí nghiệm kéo dài 6 tuần, trên 3 loại chuột: một không, một bị bịnh diabetes, và một bị bịnh tiểu đường (diabetic rats) với việc dùng resveratrol khoảng 5 và 10 mg. Sau 6 tuần lễ, xem kết qủa so sánh về thận của loại chuột bị bịnh mà thận bất bình thường thì nhận thấy: lượng creatinine giãm xuống và nước tiểu trong, chất proteinuria gia tăng hơn là do chính resveratrol tạo ra hiện tượng cơ học antioxidants (antioxidative mechanism) giúp cho thận loại chuột bị bịnh tiểu đường thận hoạt động tốt. 
Tính chất của Resveratrol đã được xếp vào phytoalexin (“phyto” chỉ thực vật, “alexin” chỉ những thành phần bổ (complement), mà nghĩa complement là những thành phần khác nhau giúp vào việc đề kháng khi có sự xâm nhập của kháng nguyên khác vào cơ thể, hay do từ cơ thể tạo ra chất khác. Nó tham dự vào sự phân hũy, kêt tụ,ổn định của tế bào lạ. Complement cũng còn tham dự vào miễn dịch (immunity). Nhờ miễn dịch nên cơ thể mới chống chỏi hay đề kháng với bịnh tật (Martinez J and Moreno JJ., 2000). Vì thế resveratrol mang đến chúng ta nhiều lợi ích cho sức khoẻ, chẳng hạn như: chống ung thư, chống virus antiviral, neuroprotective, anti-aging, anti-inflammatory và life prolonging, mà tất cả các bịnh trên đều được phổ biến trên các báo chí, trên các Journal Science vv khắp nơi trên thế giới (Cao G, and Prior RL., 2000, Colin D, et al 2005). 
Vai trò của thực phẫm có chứa resveratrol đang được bán khắp nơi. Như ta đã biết, resveratrol đươc̣ thấy trong rượn nho prapes vines (Vitis vinifera L) , nó hiện diện trong rễ, hạt, thân cây stalks, nhưng nhiều nhất là vỏ của trái nho và hạt của nó. Rượu nho đỏ chứa resveratrol nhiều, còn nho trắng thì ít lắm. Sở dĩ có sự khác nhau nhiều giữa hai loại nho về resveratrol là do cách chế biến mà ra. Rượu nho đỏ, trong chu kỳ chế biến, võ và hạt được nghiền và tất cả đều dùng để lên men. Còn nho trắng thì lên mem rượu do từ nước nho juice mà hạt và võ lại không dùng nghiền nát để làm juice vì khẩu vị (taste). Trong giai đoạn lên men, ngoài resveratrol, lại còn có polyphenols, kể cả quercetin, catechins, gallocatechins, procyanidins và cả prodelphidins là nơi chứa nhiều chất chát tannins, tất cả được trích ra từ võ nho trong chu trình gọi là điều chế gọi là ngâm sau khi làm nát và để lên men (maceration) thành rượu. Khi rảnh, tôi sẽ viết một chu trình làm rượu đỏ nổi tiếng của Úc, kỹ thuật làm rượu của Úc không dùng đường bỏ thêm vào, mà giá trị dinh dưởng và giá trị trị bịnh thuộc vào hạng tốt. Đó là khác biệt về kỹ thuật giữa Úc và Pháp. 
Thêm nữa, resveratrol cũng được coi là rất hữu dụng trong việc chống lại các tế bào trung tâm không hoạt động đúng chức năng, và các tế bào chết và chống lại mọi sự thoái hoá như Huntington’s disease ( Arango et al 2005) và Alzheimer’s disease (Phillip M, 2005, Philippe Marambaud et al., 2005) .
4- Cẩn trọng trong vịêc dùng rượu. 
Hiệp Hội Tim Mạch Mỹ ( The American Heart Association) (AHA) khuyến cáo người dân có bịnh tiểu đường nên cẩn trọng nhìều về việc uống rượu. Nếu có uống, dùng trong bửa ăn, nên dùng vừa phải. Nếu thái quá, ngược lại mọi kết qủa mong đợi là rượu làm cho máu trong đường xuống thấp ở mức độ nguy hiễm. (Otherwise, alcohol can lower blood sugar to dangerous levels). 
Hội AHA đề nghị rằng qúy Ông có dùng thì nên dùng hai lần trong ngày, còn qúy bà thì một lần trong ngày. Mỗi lần nên uống four ounce glass mà thôi. Nếu uống quá nhiều rượu đỏ, thì không hưởng những ích lợi gì từ rượu đỏ mang đến trong việc ićh lợi cho sức khỏe. Còn nếu cứ li bì sai men rượu, thì sẽ nhận nhiều vấn đề mới sẽ xãy ra rất tai hại liên quan đến sức khỏe. 
Nếu không biết uống, thì đừng uống. If you don't drink, don't start. Nếu đừng khởi đầu, thì ṿan sự không có xãy ra. Bởi vì hãy nghĩ đến những trái cây và rau cải, cũng như nho đỏ, tất cả có chứa nhiều antioxidant, chứ đâu phải tìm từ rượu đỏ. Cứ ra các market mua về và ăn là được. Dù rằng rượu đỏ làm cho HDL tốt lên cao đấy, nhưng nếu chúng ta năng tặp thể dục một cách điều hoà, ăn uống vừa đủ no, thức ăn chọn lọc về phẫm dinh dưởng tốt tươi, thì kết qủa cũng như nhau. Nếu vừa uống, vừa ăn và vừa năng tập thì tuyệt. Thay vì nghĩ về rượu, nên quay về các phương pháp cổ điển, là kiễm soát sức nặng, thể dục đều đặng, và ăn uống bằng những thực phẫm tốt cho sức khoẻ, thì ít cần gặp mặt Bác sĩ làm gì, phải không qúy vị. Tại Úc, nơi tôi đã sống, tại Nhật nơi tôi đã tới, người dân giàu của nước đó thường dùng rau cải, trái cây tomato, ớt, cà, đậu vv trồng bằng phân hữu cơ organic compounds, và họ ăn cá tươi bắt ở biển cả. Sức khoẻ của họ cải thiện thấy rõ. Còn dân trung bình và nghèo tại Úc thi ăn rau cải và trái cây bón bằng phân hóa học (chemical compounds), vừa rẽ vừa nhiều. Còn tại Việt Nam, mọi rau cải hầu như bị nhiễm chất độc, và nhiễm ký sinh do việc tưới tiêu, gà vịt thì nhiễm H5 N1, heo, bò thì lỡ mồm, quay xanh vv. Cái chân lý mà mọi người phải nhận là nơi nào chũ nghĩa Marx tới và ngụ, nơi nào chũ nghĩa Cộng sản thành hình, thì các nước nơi đó đều trở thành địa ngục bất hạnh nhất ở dưới trần thế nầy. 
Tại Đại học California, USA, Nhóm nhiên cứu của Ông Davis về các giống nho khác nhau để tìm hàm lượng flavonoids có trong đó. Theo nhóm thì rượu đỏ có nhiều nhất flavonoids hơn loại rượu trắng. Nhóm lại kết luận: rượu nào có nhiều vị ngọt hơn thì rượu đó có hàm lượng flavonoids thấp hơn. Còn đối với grape juice, thì các loại nước uống làm bằng nho có màu tím purple thì có khả năng ngăn ngừa máu đóng cụt (blood clotting). Dù, khác với rượu, nước nho cũng không làm cho LDL là cholesterol xấu thấp hơn đi. Còn việc dùng rượu thì rượu làm hư gan, tụy tạng và tế bào thần kinh. Và nghiên cứu cũng cho biết thêm rằng chính rượu gia tăng thêm nhiều cơ hội cho qúy bà dễ mắc bịnh ung thư vú (breast cancer). Còn qúy vị có những bịnh sau đây, thì không nên dùng rượu. Những bịnh đó là: high triglycerides, viêm tụy (pancreastitis), suy gan (liver disease), uncontrolled hypercontrolled, depression, và congestion heart failure. 
Uống nhiều rượu thì làm gia tăng thêm hàm lượng của chất fats trong máu (triglycerides), thì dẫn đến gia tăng mạch huyết áp, tim bị hư và cũng gia tăng nhiều năng lượng tiêu thụ cao. Gia tăng qúa nhiều năng lượng tiêu thụ thì có nghĩa là dẫn đến sự béo phì và có lại có nhiều rủi ro cao dẫn đến sự phát triển bịnh tiểu đường. Uống qúa nhiều rượu dẫn đến voệc tai biến mạch máu não. Những biến chứng nghiêm trọng khác có thể xãy ra là có thể chết vì rượu, bịnh cơ tim, bịnh sai loạn nhịp tim và tim ngừng chết thình lình (cardiomyopathy, cardiac arrhythmia and sudden cardiac death) .
5- Prostate cancer và lợi ích do rượu đỏ red wine 
Tại Boston, tháng June. 2007, Harward’s Men Health Watch cho biết rằng các khoa học nghiên cứu thấy rằng giữa prostate cancer và rượu đỏ có sự liên hệ với nhau, là nếu uống trên 4-7 ly trung bình cho mỗi tuần thì triệu chứng bịnh prostate cancer giãm đi tới 52%, nếu so với những người không uống rượu đỏ. Rượu đỏ có tác dụng đặc biệt trong việc bảo vệ để chống lại sự lớn mạnh và xâm chiếm do ung thư. 
Các nhà nghiên cứu tại Seattle tổng hợp nhiều yếu tố có ảnh hưởng mạnh đến prostate cancer của các Ông tuổi từ 40-64 tuổi, trong đó kể cả các Ông dùng rượu hay không dùng rượu. Thì họ ngạc nhiên nhận thất rằng uống rượu lại làm giãm đi prostate cancer, đó là khi dùng rượu đỏ hơn là rượu trắng. Kể cả khi dùng hàm lượng gọi là ít cũng mang đến nhiều lợi ích thiết thực, khi dùng thêm vài ly rượu đỏ mỗi tuần thì tỷ lệ tương đối của bịnh prostate cancer lại giãm đi 6% (Castellon EA et al ,. 2006) .
Để giải thích tại sao lại phải dùng rượu đỏ bởi vì tính chất hoá học của rượu đỏ, như chứa flavonoids và resveratrol, mà các rượu khác không tìm có. Đó là những tính chất antioxidants mạnh, và làm cân bằng kích thích tố nam androgens, chất hormone của các Ông làm kích thích tuyến prostate. 
Nhiều bác sĩ rất miễn cưỡng khuyên bịnh nhân dùng rượu vì vấn đề liên quan đến sức khoẻ vì sợ rằng đó là cái cớ đưa đến việc dùng thái qúa là không tốt hay trở nên ghiền rất nguy hiễm. Trái lại, nếu dùng có chừng mực, có trách nhiệm, và đều đặng thì mang đến nhiều lợi ích trong việc như là làm giãm đi heart attack, stroke, diabetes và cardiac death chết vì tim ngừng đập 
Năm 2007, vào tháng Sept, Các nhà nghiên cứu tại University of Alabama at Birmingham công bố kết qủa các cuộc thí nghiệm như sau: các chuột cho dùng trong thức ăn có chứa resveratrol, thì hơn 87% chuột bị bịnh prostate cancers dường như kém phát triển trong khi chuột không dùng resveratrol thì prostate cancers lại tiến nhanh và đưa đến cái chết nhanh chóng. Hơn nữa, chuột cho ăn thức ăn có resveratrol thì hầu như việc phát triển prostate cancer lại phá triển kém nguy hơn dưới dạng bướu kém độc và có hơn 48% hay hơn là hầu như các bướu nầy lớn chậm và ngưng hẳn, nếu so với chuột không dùng resveratrol trong thức ăn của chúng. Cùng tháng nầy, tại Uni Harvard Men’s Health báp cáo cho biết các Ông dùng nhiều hàm lượng red wine rượu đỏ, khoảng 4-7 ly mỗi tuần, thì phân nửa các Ông có bị prostate cancer, còn trái lại, cùng thí nghiệm nhưng không dùng rượu đỏ và kết qủa trái hẵn, tất cả đều bị prostate cancer chỉ vì chỉ dùng rượu trẵng (white wine). Thế nên trong rượu đỏ, trong đó hợp chất của antioxidant như resveratrol, là chất có nhiều ích lợi trong việc điều trị và ngăn ngừa prostate cancer. 
Từ năm 1991, nhóm khoa học gia nghiên cứu tai Houston’s MD Anderson Cancer Center đã nhận thấy rằng resveratrol có rất nhiều công dụng khác nhau giúp cho sức khoẻ con người, trong việc chống lại nhiều loại ung thư cho con người. Duy chỉ có một chất đơn giản như resveratrol mà trong đó có những hormones, chính chúng có nhiều cơ chế làm chận đứng mọi phá triển của các tế bào cancer gấp nhiều lần, và cũng có khả năng để hũy diệt các tế bào ác tính đó. Lúc đầu, resveratrol dùng trong việc trợ giúp tim để chống lại mọi suy thoái với chính nó. Thêm bởi tính các tác dụng của antioxidant và chống viêm, nên resveratrol được để ý trong việc chống ung aniticancer thư ra sao? Cuộc thị nghiệm từ năm 1990, các nhà nghiên cứu tại University of Wisconsins tìm ra 6 yếu tố để có cho việc chống ungthư hữu hiệu là: 1- là không để lại những ảnh hưởng của chất độc trong các tế bào tốt. 2 -là không tạo ra những loại ungthư khác. 3- Có thể dùng để uống . 4- được hiểu rỏ cơ chế của tác dụng của nó. 5- Không qúa đắt đỏ. 6-được áp dụng chính cho con người. Kết luận: Resveratrol lại hội đủ 6 điều kiện kể trên.
Tuổi tác, những hoá chất, những phóng xạ, và những yếu tố khác có thể lấn áp mọi khả năng của cơ thể chống lại (counteract) của các tế bào bình thường, khi chúng bị sự tấn công của ung thư một cách âm thầm. Mọi cái không thấy biết được của ung thư là vấn đề quan trọng. Cái tốt nhất chống lại ung thư là việc ngăn ngừa (prevention). Bằng cách thêm vào cơ thể những sản phẫm tự nhiên, những cơ chế tái tạo tế bào để không những ngăn ngừa trong việc hình thành và phá hoại tức thì những tế bào ung thư. Resveratrol là một hoá trị liệu ngăn ngừa “chemicalpreventive” phụ giúp ngăn ngừa DNA nguy hại, và lại phá hũy mọi tế bào ung thư từ sớm nhất cho tới giai đoạn sau cùng nhất trong con người và cả trong các con thú dùng để làm mẫu thí nghiệm. Jang, M. et al (1997) cho biết có một điều đáng để ý là chính resveratrol là một chất rất là độc cho các tế bào ung thư nhưng lại không làm hư hại mọi tế bào tốt nào khác có trong cơ thể. Thật vậy, khi duǹg resveratrol để chống lại prostate cancer thì cũng giúp cho cơ thể trong nhiều phương diện khác là mang đến nhiều lợi ích về cho tim mạch. Mặt khác, resveratrol trong thiên nhiên lại có với những chất khác như polyphenols như quercetin trong các cây nho. Vì quercetin là chất giúp cho resveratrol gia tăng nổi bật khả năng sinh hóa của nó để tiêu diệt ung thư hữu hiệu. Nhiều loại cây được trích ra chất indole-3- carbinole, hay 13C, có thể phối hợp với resveratrol trong việc giết các tế bào ung thư bởi vì 13C là chất làm ngưng sự lớn của tế bào tại một điểm trong chu kỳ của tế bào trong khi resveratrol thì ngưng điễm khác. Nhiều nhà vật lý cùng đồng tình trên quan điễm nầy khi phối hợp hoá học xạ trị và thuốc uống cho bịnh nhân. Vì mỗi thứ thuốc đều làm cho các tế bào ung thư dừng lại không lớn được tại mỗi thời điễm của chu kỳ lớn của tế bào. 
Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng lấy được chất resveratrol và quercetin trong cây nho mustadine grapes là một tiến bộ lớn lao trong việc điều trị tế bào prostate cancer dù cho nó mới khởi đầu gặm nhắm vào cơ thể con người. Tại University of Colorado, các nhà nghiên cứu đồng kết luận rằng sự phối hợp từ sự trích ra từ thiên nhiên chất giết cancer cytokine là yếu tố làm chết bướu có thể đóng góp thêm nhiều tính chất hữu hiệu và ít độc tố xạ trị trong bịnh viện để điều trị bịnh prostate cancer. Một sự nghiên cứu khác cho rằng có nhiều loại tế bào prostate cancer, nhưng resveratrol là một trong trong những polyphenols tốt nhất được công nhận trong việc chống lại các tế bào ung thư prostate cancer. 
Còn các nhà nghiên cứu người Úc cho rằng resveratrol tác động như cơ chế của tamoxifen–like để khoá lại các tế bào có khả năng gởi các tính hiệu đến những phần khác của cơ thể trong con người, và resveratrol có khả năng ngăn ngừa sự trải rộng ung thư tới xương. (Colin D, et al 2005). Trong khi resveratrol chính nó với sức mạnh của polyphenol, phối hợp với những chất trích từ hợp chất từ các cây khác càng làm gia tăng độ mạnh của nó. Các nhà nghiên cứu đang phát triển hơn bằng cách đòi hỏi ngân khoản nghiên cứu về sự phối hợp hợp chất của quần thảo thực vật phytocompounds (Roy, H. and Lundy, S. 2005).
Related imageProstate cancer và chế độ ăn uống 
Nhiều bằng chứng hiển nhiên cho biết rằng chính chế độ ăn uống xác quyết rằng con người đã có giao kèo với bịnh prostatte cancer hay sẽ khỏi phải bịnh khi đã bị bịnh. Thực vật cung cấp thức ăn cho con người ngăn ngừa ung thư, còn thức ăn từ động vật thì có khuynh hướng tạo thành ung thư. Thế nên suy nghĩ hơi tiêu cực một chút đối với thức ăn do động vật để bù lại thức ăn do thực vặt cung cấp. Những người đến trước thường dùng trái cây, rồi sau nầy ho tiêu thụ qúa nhiều những sản phẫm có hằng ngày, nên tỷ lệ prostate cancer cao hơn. Cuộc nghiên cứu được công bố trong Journal Cancer rằng những người tiêu thụ từ ba ly sữa và hơn mỗi ngày thì có tỷ lệ gấp đôi về triệu chứng prostate cancer nhiều hơn. Những nghiên cứu khác thì cho biết rằng chính hormones của cây trồng cung cấp cho gia súc trong việc di truyền và khoẻ mạnh thì mạnh hơn hormone tự nhiên của con người. Tiêu thụ và bổ khuyết có thể chưa đủ vượt qua các hoá chất được trình bày. Một điều thú vị là vitamin D3, được đề nghị dùng trị prostate cancer, thì có tác dụng đối nghịch với ảnh hưởng của cây trồng cho gia súc. 
Tại Pháp và Switzerland, các loại cây trồng cung cấp hormone cho gia súc đều bị cấm dùng, thì kết qủa là bịnh liên quan đến prostate cancer lại giãm đi tới 50% nhỏ hơn tại Mỹ, còn tại Ý và Greek, thì tỷ lệ là 75% thấp hơn nước Mỹ. Người Ý và Greek, thường uống rượu đỏ, red wine, nguồn resveratrol tốt nhất. 
Resveratrol, có tác dụng chống prostate cancer hữu hiệu. Nó làm ngưng sự trưởng thành của hormone dương hay âm của ung thư, và nó có nhiều chức năng cơ học, để làm ngưng bặt các tế bào ung thư khi chúng nhân lên để tăng trưởng, và nó có hiệu qủa ngưng mọi phát triển ung thư lúc sớm nhất hay ở giai đoạn sau của ung thư, nó lại che chở DNA kh̉oi bị hư hại, và nó cũng ức chế mọi di căn (metastasis). Khi được phối hợp với quercetin và sức mạnh chống hormone 13C, resveratrol có thể coi là phương pháp ngăn ngừa ung thư hữu hiệu nhất cho đến ngày hôm nay.
6- Resveratrol gia tăng tuổi thọ. 
Dr David Sinclair có công bố sự nghiên cứu của Ông trong Journal Natre (2003) rằng chính chất resveratrol có ý nghĩa thật sự trong việc kéo dài tuổi thọ một cách có ý nghĩa đối với loại yeast Saccharomyces cerevisiae , nên Ông thấy trong Sirtris Pharmaceuticals đã nghĩ đến việc thương mãi chất resveratrol hay những hợp chất của nó để gia tăng tuổi thọ (Horvath Z, et al, 2005 ). Còn đối với côn trùng, như loại sâu, gium Caenorhabditis elegans và ruồi giấm Drosophila melanogaster (Lancon A, et al 2005, Bass, BM 2007), vì đây là loại ruồi được dùng làm đối tượng trong việc di truyền. Resveratrol lại còn gia tăng tuổi thọ cho các loại cá có tuổi thọ qúa ngắn như loài Nothobranchius furzeri, tới 59%, và cho những loài cá có tuổi thọ trung bình tới 56%. Thêm nữa, chính resveratrol gia tăng khả năng bơi , khả năng nhận thức, trở nên tốt hơn khi khả năng thần kinh bị suy thoái. Sau cùng, báo caó do the journal Nature from Sinclair's laboratory and the Laboratory of Experimental Gerontology at the National Institute, 2006, thì hợp chất của resveratrol luôn cải thiện đến sức khoẻ và sự sinh tồn của loài chuột với chế độ dinh dưởng cao (a high calorie diet). Cơ chế về gia tăng tuổi thọ cũng chưa được hiểu tận tường vì người ta luôn nghĩ đến hiệu qủa của ảnh hưởng sinh hóa (biochemical) liên quan đến giới hạn năng lượng. Nghĩa là ức chế lipase, là tuyến tụy và các tuyến trong ruột non tiết ra có tác dụng phân hũy các chất béo thành glycerol và các loại acid béo trong tiêu hoá, nên giãm đi mọi sự hấp thụ chất fat qua các màng ruột. Thêm nữa, các nghiên cứu gần đây thì resveratrol SIRT1 và sự giới hạn calories có liên quan với nhau (Sinclair D et al 2004, Terzibasi et al, 2006). Bằng cứ hiển nhiên là do thí nghiệm của Dr Sinclair trong the National Institude on Aging, November 2006, trên hai loại chuột béo phì, một thì cho ăn với resveratrol th̀i tuổi thọ trung bình tăng thêm 15% lâu hơn nếu so sánh với loài chuột ăn uống không có chất đó. Trong trường hợp nầy người ta thấy chính trans resveratrol mà phân tử của chúng tác dụng trên những gene di ruyền của các loài thú có vú cái diếu tố SIRT1 được thấy trong các ống nghiệm. 
7- Resveratrol cũng hữu ích cho các lực sĩ 
Tại viện the Institute of Genetics and Molecular and Cell Biology in Illkirch, France) tháng 12/2006 có ghi lại rằng Johan Auwerx và các cộng sự viên của Ông báo cáo trên tờ in the journal CELL in Nove/ 2006 rằng các chú chuột cho tiêu thụ resveratrol trong 15 tuần thì khả năng chịu đựng dẽo dai tốt hơn nếu so với các chú chuột không có tiêu thụ resveratrol. Đó là nhờ sự tác động của SIRT1 của resveratrol. Vì chính do resveratrol tác dụng và cải thiện công dụng của Mitochondrial bằng cách chống lại mọi sự biến đổi suy thoái là chính nhờ sự tác động của SIRT1 và PGC-1α . Trong khi hàm lượng resveratrol tiêu thụ tuỳ theo sức nặng của con người, ví dụ như nặng 80kg (176 lb) dùng 400mg/kg/day hay lớn hơn càng tốt vì tạo nên sức dẽo dai và chịu đựng tốt. Trong cuộc khảo sát trên 123 người Phần lan được dùng SIRT1với hàm lượng khác nhau thì các cơ phận biến đổi trong cơ thể của họ trở nên nhanh hơn và việc tiêu thụ năng lượng hũu hiệu hơn (. Sinclair et al, 2006). 
8- Kết luận. 
Resveratrol là một ân nhân của nhân loại? Và nó được thấy nhiều nhất trong nho đỏ, có tên là muscadine grapes. Chất nầy cũng có thể tìm thấy ở nơi nhiều loại thực vật khác, không nhất thiết phải là nho. Tôi đã có ý chụp hình để cho qúy vị khỏi lầm lẫn khi mua nho không đúng tên. Nếu mua đúng tên thì hàm lượng resveratrol được coi là tối hảo. Tôi cũng nêu lên vấn đề tại hại của rượu, để qúy vị tránh. Tôi nghĩ chất resveratrol tạo ra enzyme SIRT1 mà còn có nhiều công dụng hữu ích hơn khác nữa mà khoa học chưa tìm ra hết, và chính bài nầy tôi cũng chưa biên khảo ra hết những hữu ích của nó để cho qúy vị biết mà dùng. Có nhiều lợi ích và lắm lý thú của resveratrol đành để cho lần tới. Dù sao, khi insulin ù lì hay bị lờn không còn được dùng nữa, nay Enzyme Resveratrol SIRT1 làm cho nó khỏe lại, hoạt động lại, có tính mẫm cãm nhạy bén tốt hơn, hay bằng như xưa và khi mà các nhà khoa học đã và đang tuyên bố tiểu đường là bịnh bất trị, thì phải nói hơi lạc quan một chút là resveratrol là vị cứu tinh của hơn 150 triệu người đang khổ vì nó ( 90% của 2 loại bịnh tiểu đường do insulin resistance). Resveratrol gia tăng tuổi thọ, sức dẽo dai bền bĩ, giúp thận tốt hơn, chống phì nộm, trị cả bịnh nha chu vv.. Và biết bao người cũng khổ vì prostate, nhất là các Ông vừa khổ đau vô cùng khi mặt thì đỏ kè thất thểu tưởng như gần chết cũng vì prostate, với biết bao giọt mồ hôi đầm đầy trên trán,làm ngập lụt hết các vết nhăn trên mặt già nua và nhấn chìm những dấu vết chân chim ở tuổi về chiều. Nhưng chính nó lại giúp cho các Ông chống lại căn bịnh khổ sở ấy, để vui vì đời vẫn mãi là đời.
Ai cũng kỳ vọng vào Resveratrol SIRT1 như vị cứu tinh! Kỳ vọng có lẽ đây là giai đoạn gọi là duyên hợp trong giáo lý duyên khởi của nhà Phật về các bịnh bất trị. 
BUÌ THẾ TRƯỜNG 
Sydney, 20-11 my birthday 


Arango M et al, 2005. Resveratrol rescues mutant polyglutamine cytotoxicity in C. elegans and mammalian neurons. Nature Genetics pp: 349-50.
Bass, BM (2007). "Effects of resveratrol on lifespan in Drosophila melanogaster and Caenorhabditis elegans.". Mechanisms of ageing and development.
Cao G, and Prior RL., 2000. Red wine in moderation: Potential health benefits independent of alcohol. Nutr Clin Care.;vol 3,pp:76-82
Castellon EA et al ,. 2006. "Mechanisms involved in Resveratrol-induced apoptosis and cell cycle arrest in prostate cancer-derived cell lines". Journal of Andrology.
Cell, December (2006). Resveratrol Improves Mitochondrial Function and Protects against Metabolic Disease by Activating SIRT1 and PGC-1α . In Cell, Vol 127, pp:1109–1122,
Colin D, et al 2005 " Resveratrol as a chemopreventive agent: a promising molecule for fighting cancer". Current Drug Targets vol 4.
Davis E M. 2000, Biochemistry, The chemical Reactions of Living cells, Academic Press Public. pp: 982
Frémont L., 2000. Biological effects of resveratrol Life Sci.vol 66pp:663-673.
Frémont L, et al 1999. Antioxidant activity of resveratro and alcohol-free wine polyphenols related to LDL oxidation and polyunsaturated fatty acids. Life Sci. vol64. pp:2511-2521
Jang, M. et al 1997. "Cancer chemopreventive activity of resveratrol a natural product derived from grapes" pp: 218–220
Horvath Z, et al., 2005"Antitumor Effects of 3,3',4,4',5,5'-Hexahydroxystilbene in hl-60 Human Promyelocytic Leukemia Cells". Nucleosides Nucleotides Nucleic Acids 25 (9).
http://www.ajevonline.org/cgi/content/abstract/47/1/57
Lancon A, et al 2005 " Resveratrol as a chemopreventive agent: a promising molecule for fighting cancer".
Lamuela-Raventos, RM (1995). "Direct HPLC Analysis of cis- and trans- Resveratrol and Piceid Isomers in Spanish Red Vitis vinifera Wines". Journal. Agric. Food Chem. (43)pp: 281–283. http:// www. pubs.acs.org.
LeBlanc, Mark Rene 200̃7. Cultivar, Juice Extraction, Ultra Violet Irradiation and Storage Influence the Stilbene Content of Muscadine Grapes (Vitis Rotundifolia Michx.)
Lyons MM, , et al (2003). " Resveratrol in raw and baked blueberries and bilberries". Journal. Agric. Food Chem. 51 (20): 5867–5870.
MartinezJ and MorenoJJ., 2000. Effect of resveratrol, a natural polyphenolic compound, on reactive oxygen species and prostaglandin production. Biochem Pharmacol.vol 59 pp:865-870.
Mozzon, M. (2007). " Resveratrol content in some Tuscan wines". In Ital.Journal. food Sci. 8 (2) pp:145–152.

Olson ER, et al 2005. Inhibition of cardiac fibroblast proliferation and myofibroblast differentiation by resveratrol. Americain Journal Physiol. Heart. Circ .Physiol pp 1131-1138
Philippe M. 2005 .Resveratrol promotes clearance of Alzheimer's disease amyloid-beta peptides. Journal of Biological Chemistry pp:37377-82
Philippe M., 2005. Study of Alzheimers Disease and Memory Disorders. Journal of Biological Chemistry November 11
Roy, H. and Lundy, S. 2005, Resveratrol Pennington Nutrition Series
Sinclair D et al 2004 . "Sirtuin activators mimic caloric restriction and delay ageing in metazoans”
Sinclair DA. et al 2006 " Resveratrol improves health and survival of mice on a high-calorie diet" In Nature Advanced publication
Sun, C. 2007. Cell Metabolism, vol 6: pp 307-319.
Sun et al. 2007.: "SIRT1 Improves Insulin Sensitivity under Insulin-Resistant ." Publishing in Cell Metabolism 6,pp: 307-319.
http://www.cellmetabolism.org/
Recommended Reading: 
1- Resveratrol prevents blood clots. Blood Coagulation Fibrinolysis Sep 2004; 2- Resveratrol inhibits kidney cancer. Cancer Biology Therapy Sep 2004;

No comments:

Post a Comment