Wednesday, January 11, 2017

10 nhạc khúc nổi tiếng Trung Hoa cổ đại


10 nhạc khúc nổi tiếng Trung Hoa cổ đại - Kỳ I: Cao sơn lưu thủy
Cổ nhạc Trung Hoa bao gồm những nhạc khúc cổ, tiêu biểu của nền văn hóa truyền thống, gắn liền với những điển tích, điển cố khác nhau. Đằng sau mỗi nhạc khúc đều là các giai thoại thú vị. Nghe nhạc khúc mà không biết câu chuyện đằng sau, thì tất yếu không thể đi đến tận cùng cái đẹp của khúc ý, cũng không thể thưởng thức được trọn vẹn cái hay của khúc nhạc. Trong loạt bài này, hãy cùng Trí Thức VN tìm hiểu về “Trung Hoa thập đại danh khúc” – 10 khúc nhạc nổi tiếng trong lịch sử Trung Hoa.
Ngày nay, những bài cổ nhạc Trung Hoa đã dần dần biến mất trong cuộc sống hiện đại. Điều đó một phần là do sự phát triển của âm nhạc hiện đại, với trào lưu nhạc nhẹ, nhạc trẻ, và một phần quan trọng hơn là do những bài cổ nhạc rất khó cảm thụ, rất kén người nghe. Những giá trị văn hóa truyền thống cũng không còn được lưu truyền lại một cách đầy đủ, khiến cho việc thưởng thức các nhạc khúc này càng ngày càng trở nên khó khăn hơn.
Trung Hoa cổ đại có lưu truyền “Thập đại danh khúc“, chính là 10 khúc nhạc nổi tiếng nhất thời bấy giờ, bao gồm:
  1. Cao sơn lưu thuỷ
  2. Thập diện mai phục
  3. Bình sa lạc nhạn
  4. Mai hoa tam lộng
  5. Quảng lăng tán
  6. Tịch dương tiêu cổ
  7. Ngư tiều vấn đáp
  8. Hồ gia thập bát phách
  9. Hán cung thu nguyệt
  10. Dương xuân bạch tuyết.
Trong kỳ này, hãy cùng tìm hiểu về “Cao sơn lưu thủy” cùng hai điển cố đằng sau khúc nhạc này. Điển cố thứ nhất là về tình tri âm của Bá Nha và Tử Kỳ, còn điển cố thứ hai là sự tích về cây đàn Dao cầm.

Tình tri âm của Bá Nha và Tử Kỳ

Câu chuyện Bá Nha gặp Tử Kỳ bắt đầu khi ông đang trên thuyền ở cửa sông Hán Dương, sau khi phụng chỉ vua Tấn đi sứ nước Sở trở về. Nhân lúc đêm Trung Thu trăng sáng, phong cảnh hữu tình, Bá Nha đặt hết tâm hồn đàn một khúc nhạc trầm bổng réo rắt. Tuy nhiên, khúc nhạc chưa dứt thì bỗng đàn đứt dây. Bá Nha giật mình tự nghĩ, hẳn là có người nào đang nghe lén tiếng đàn, bèn chuẩn bị cho quân lính lên bờ tìm hiểu.
10 nhạc khúc nổi tiếng Trung Hoa cổ đại - Kỳ I: Cao sơn lưu thủy
Lúc này, trên bờ mới vọng lên tiếng nói của một gã tiều phu trấn an và ngợi ca tiếng đàn của người trên thuyền. Đó chính là Tử Kỳ. Đôi bên đối đáp không lâu thì Bá Nha nhận ra, Tử Kỳ tuy thân phận thấp hèn, nhưng lại có thể hiểu thấu tiếng đàn của ông. Bá Nha sinh lòng kính phục, mời Tử Kỳ lên thuyền đàm đạo.
10 nhạc khúc nổi tiếng Trung Hoa cổ đại - Kỳ I: Cao sơn lưu thủy
Ngồi đàm đạo không lâu, Bá Nha lại thử tài Tử Kỳ một lần nữa. Ông nối lại dây đàn, tập trung đến chốn non cao, đánh lên một khúc, Tử Kỳ khen rằng: “Thiện tại hồ cổ cầm, nguy nguy hồ nhược Thái Sơn” (Nghĩa là: Đánh đàn hay thay, vời vợi tựa Thái Sơn). Bá Nha ngưng thần, ý tại lưu thủy, khảy lên một khúc nữa, Tử Kỳ lại khen rằng “Đăng đăng hồ nhược lưu thủy” (Nghĩa là: Cuồn cuộn như nước chảy). Sung sướng vì tìm được tri âm, Bá Nha sai người bày tiệc đối ẩm, rồi sau đó lại kết nghĩa anh em với Tử Kỳ. Cả hai hẹn ước vào ngày Trung thu năm sau sẽ lại gặp nhau ở ghềnh đá chân núi Mã Yên…
Tuy nhiên, trời không chiều lòng người, Tử Kỳ qua đời trước dịp hẹn ước. Tuy nhiên, ông chưa bao giờ quên lời hứa với người anh em kết nghĩa của mình. Tử Kỳ di ngôn lại rằng xin được mai táng ở chân núi Mã Yên để hoàn thành lời hẹn ước với Bá Nha.
10 nhạc khúc nổi tiếng Trung Hoa cổ đại - Kỳ I: Cao sơn lưu thủy
Ngày hẹn ước, Bá Nha tìm đến nơi thì nghe được tin dữ. Ông đau lòng đến viếng Tử Kỳ, và sau đó sai người mang cây Dao cầm tới, dốc hết tâm lực đàn khúc “Thiên thu trường hận“. Tấu xong khúc nhạc, Bá Nha vái cây Dao cầm một vái, đoạn tay nâng đàn lên cao, đập mạnh vào phiến đá trước mộ Tử Kỳ. Dao cầm vỡ tan, trục ngọc phím đồng rơi lả tả.
Sau đó Bá Nha ngâm bốn câu thơ nói rằng:
Dao cầm đập nát đau lòng phượng,
Ðàn vắng Tử Kỳ, đàn với ai?
Gió Xuân khắp mặt bao bè bạn,
Muốn kiếm tri âm, ôi khó thay!
Thời Tiên Tần là giai đoạn bách gia tranh minh, nhân tài rất nhiều. Rất nhiều kẻ sĩ thời đó quan niệm rất đơn giản, hoàn toàn không nhất thiết phải trung thành với nước chư hầu mình sinh sống. Việc lưu động kẻ sĩ giữa các nước nhiều không kể xiết, họ luôn mong ngóng tìm được sự tri ngộ, tri âm. Đó cũng chính là mơ ước chung suốt mấy ngàn năm của người đọc sách. Nhưng mà có thế đạt được mục tiêu ấy có mấy người? Khúc “Cao sơn lưu thủy” được người đời sau coi trọng như vậy, là vì đằng sau nó còn ẩn chứa cả một câu chuyện về cuộc gặp gỡ kỳ diệu và cảm động giữa hai con người tri kỷ, Bá Nha và Tử Kỳ.

Sự tích về cây Dao cầm

Nói về khúc “Cao sơn lưu thủy” thì không thể không nhắc tới cây Dao cầm. Tương truyền khi xưa, vua Phục Hy thấy tinh hoa của năm vì sao rơi xuống cây ngô đồng, chim phượng hoàng liền đến đậu. Vua Phục Hy biết ngô đồng là gỗ quí, hấp thụ tinh hoa Trời Ðất, có thể làm đồ nhã nhạc, liền sai người đốn cây ngô đồng xuống, cắt làm ba đoạn để phân Thiên, Ðịa, Nhân. Ðoạn ngọn thì tiếng quá trong mà nhẹ, đoạn gốc thì tiếng quá đục mà nặng, duy đoạn giữa thì tiếng vừa trong vừa đục, có thể dùng được, liền đem ra giữa dòng sông nước chảy ngâm 72 ngày đêm, rồi lấy lên phơi khô, chọn ngày tốt, thợ khéo Lưu Tử Kỳ chế làm nhạc khí, bắt chước nhạc Cung Dao Trì, đặt tên là Dao cầm.
10 nhạc khúc nổi tiếng Trung Hoa cổ đại - Kỳ I: Cao sơn lưu thủy
Dao cầm nầy dài 3 thước 6 tấc, án theo 360 độ chu Thiên , phía trước rộng 8 tấc án theo Bát tiết, sau rộng 4 tấc án theo Tứ Tượng, dầy 2 tấc án theo Lưỡng Nghi, đầu như Kim đồng, lưng như Ngọc Nữ, trên chạm Long Phụng, gắn phím vàng trục ngọc. Ðàn ấy có 12 phím tượng trưng 12 tháng, lại thêm một phím giữa tượng trưng tháng nhuận, trên mắc 5 dây, ngoài tượng Ngũ Hành, trong tượng Ngũ Âm: Cung, Thương, Giốc, Chủy, Vũ.
Vua Thuấn khảy Dao cầm, ca bài Nam phong, thiên hạ đại trị. Vua Văn vương bị Trụ vương giam cầm nơi Dũ Lý, con trưởng Bá Ấp Khảo thương nhớ không nguôi, nên thêm một dây nữa gọi là dây Văn (Văn huyền), đàn nghe thêm ai oán.
Võ vương đem quân phạt Trụ, thêm vào Dao cầm một dây phấn khích gọi là dây Võ (Võ huyền).
Như thế, Dao cầm lúc đầu có 5 dây, sau thêm 2 dây Văn và Võ nữa thành 7 dây, gọi là Thất huyền cầm.
10 nhạc khúc nổi tiếng Trung Hoa cổ đại - Kỳ I: Cao sơn lưu thủy
Ðàn ấy có Sáu kỵ, Bảy không, Tám tuyệt:
  • Sáu Kỵ là: Rét lớn, nắng lớn, gió lớn, mưa lớn, sét lớn, tuyết rơi nhiều.
  • Bảy Không là: Nghe tiếng bi ai và đám tang thì không đàn, lòng nhiễu loạn thì không đàn, việc bận rộn thì không đàn, thân thể không sạch thì không đàn, y quan không tề chỉnh thì không đàn, không đốt lò hương thì không đàn, không gặp tri âm thì không đàn.
  • Tám Tuyệt là: Thanh cao, kỳ diệu, u uất, nhàn nhã, bi đát, hùng tráng, xa vời, dằng dặc.
Ðàn ấy đạt đến tận thiện tận mỹ, hổ nghe không kêu, vượn nghe không hú, một thứ nhã nhạc tuyệt vời. Chính vì vậy, cây Dao cầm là một báu vật của trời đất. Bá Nha vì Tử Kỳ có thể không tiếc cây Dao Cầm, cũng là tận tình tri kỷ. Giống như Nhạc Phi từng nói trong Tiểu trùng san: “Người tri âm thực ít, đàn không đứt thì biết lấy ai nghe“…

Nhạc khúc “Cao sơn lưu thủy

Bản “Cao sơn lưu thủy” lưu truyền ngày nay chủ yếu là bản do Xuyên Phái đời Thanh gia công và phát triển, được Đường Di Minh đời nhà Thanh ghi lại trong “Thiên văn các cầm phổ” (năm 1876). Ông đã hết sức phát huy các thủ pháp cổn, phất, xước, chú, khiến hình tượng núi cao, nước chảy thêm rạng rỡ, nên mới có danh xưng “Thất thập nhị cổn phất lưu thủy“.
Khúc nhạc này được phân thành 9 đoạn và một vĩ thanh, cụ thể là 4 bộ phận lớn: khởi, thừa, chuyển và hợp (gần giống như bố cục một bài thơ Đường Luật). Qua tìm hiểu, tính chất và ý nghĩa các đoạn được nhiều người nhận định như sau:
  • Phần khởi (đoạn 1 đến đoạn 3), thông qua giai điệu thâm trầm, hồn hậu, uyển chuyển và âm bội sáng rõ, đã biểu hiện được những cảnh tượng kì diệu của núi cao trùng điệp, suối chảy khe sâu một cách rõ ràng, tươi sáng.
  • Phần thừa (4 và 5), dàn trải không dứt, giai điệu đậm màu sắc ca hát, giống như những giọt nước chảy trong khe suối tập hợp thành dòng nước mạnh.
  • Phần chuyển (6 và 7), nhờ vào khúc điệu có thứ tự bội âm đi xuống và âm giới của 5 thanh đi lên, âm hóa với xung động mạnh, kết hợp với các thủ pháp cổn, phất, như một dòng thác chảy ào ạt xuống, dồn vào sông biển cuộn trào sóng lớn.
  • Phần hợp (đoạn 8 và vĩ thanh), vận dụng một phần âm điệu của phần thừa và phần chuyển tạo thành hiệu quả hô ứng, tạo nên dư âm như sóng trào trên sông biển, khiến người nghe có thể cảm nhận dư vị hết sức ngỡ ngàng, thú vị.
Thời nhà Đường, “Cao sơn lưu thủy” phân ra thành hai khúc, không phân đoạn. Đến thời Tống lại phân cao sơn thành 4 đoạn, lưu thủy thành 8 đoạn, thiên về lưu thủy, khiến cho người nghe có cảm giác biển lớn đang vỗ sóng bên tai, âm vang mãi không thôi.
Mời các bạn thưởng thức khúc “Cao sơn lưu thủy”:

Cổ nhạc Trung Hoa bao gồm những nhạc khúc cổ, tiêu biểu của nền văn hóa truyền thống, gắn liền với những điển tích, điển cố khác nhau. Đằng sau mỗi nhạc khúc đều là các giai thoại thú vị.
Nghe nhạc khúc mà không biết câu chuyện đằng sau, thì tất yếu không thể đi đến tận cùng cái đẹp của khúc ý, cũng không thể thưởng thức được trọn vẹn cái hay của khúc nhạc. Trong loạt bài này, hãy cùng Trí Thức VN tìm hiểu về “Trung Hoa thập đại danh khúc” – 10 khúc nhạc nổi tiếng trong lịch sử Trung Hoa.
10 nhạc khúc nổi tiếng Trung Hoa cổ đại – Kỳ II: Thập diện mai phục
(Ảnh: Theo saimonthidan.com, soha.vn)
Như đã giới thiệu ở kỳ trước, kỳ này chúng ta cùng tìm hiều nhạc khúc thứ hai trong “Trung Hoa thập đại danh khúc” là “Thập diện mai phục”. Ra đời vào năm 202 TCN, “Thập diện mai phục” được biết đến như là một bản hùng ca miêu tả về cuộc chiến Hán Sở giao tranh. Mang theo âm hưởng gấp gáp, mãnh liệt, dữ dội và bi thương của chiến trận, nhạc khúc được lưu truyền cho đến tận ngày nay mà không ai biết được về nguồn gốc tác giả của nó.
10 nhạc khúc nổi tiếng Trung Hoa cổ đại – Kỳ II: Thập diện mai phục
(Ảnh minh họa: Theo soha.vn)
Thập diện mai phục” còn có tên là  “Hoài Âm bình Sở”, lấy trận chiến ở Cai Hạ của Lưu Bang, Hạng Vũ làm chủ đề, vận dụng kỹ xảo riêng của đàn tỳ bà để miêu tả cảnh binh lính giao tran khiến tâm linh của người nghe chấn động. Vậy trận Cai Hạ bi tráng đã diễn ra như thế nào?

Trận Cai Hạ, Ngu Cơ tự vẫn, Hạng Vũ phá vây cùng 28 kỵ binh

Năm 202 TCN, Lưu Bang cùng quân của chư hầu đánh quân Sở thắng Hạng Vũ một trận quyết liệt ở Cai Hạ. Riêng cánh quân Tề của Hàn Tín đã có 30 vạn người, ngoài ra Khổng tướng quân ở cánh trái, Phí tướng quân ở cánh phải, Lưu Bang ở phía sau, Chu Bột, Sài Vũ ở sau lưng Lưu Bang. Toàn thể quân Hán có đến năm sáu chục vạn. Quân của Hạng Vũ chỉ vào khoảng 10 vạn, lực lượng rất chênh lệch. Tuy nhiên Hàn Tín cầm quân Tề đánh đầu tiên cũng không thắng nổi, phải rút lui. Khổng tướng quân và Phí Tướng quân đem quân đến giúp. Quân Hán quá đông nên quân Sở không thắng được. Hàn Tín nhân lúc ấy lại tiến lên đánh quân Sở đại bại ở Cai Hạ phải rút vào thành.
Hạng vương đóng quân ở trong thành Cai Hạ, binh ít, lương hết. Quân Hán và quân chư hầu bổ vây mấy vòng. Đang đêm, Hạng vương thức dậy nghe quân Hán ở bốn mặt đều hát giọng Sở, Hạng vương kinh hoàng, nói: “Hán đã lấy được Sở rồi sao? Sao mà người Sở lại đông như thế?
10 nhạc khúc nổi tiếng Trung Hoa cổ đại – Kỳ II: Thập diện mai phục
Hạng Vũ và Ngu Cơ (Ảnh minh họa: Theo saimonthidan.com)
Đêm đó Hạng vương uống rượu trong trướng cùng mỹ nhân Ngu Cơ. Hạng vương đau đớn cảm khái làm bài thơ, được đời sau gọi là bài “Cai Hạ ca”:
Lực bạt sơn hề, khí cái thế,
Thời bất lợi hề, Truy bất thệ
Truy bất thệ hề khả nại hà,
Ngu hề, Ngu hề nại nhược hà.
Dịch:
Sức dời núi, khí trùm trời,
Ô Truy chùn bước bởi thời không may!
Ngựa sao chùn bước thế này?
Ngu Cơ, biết tính sao đây hỡi nàng?
Hạng vương ca mấy lần, Ngu Cơ múa kiếm, hát hòa theo, lời ca rằng:
Hán binh dĩ lược địa,
Tứ diện Sở ca thanh.
Trượng phu ý khí tận,
Tiện thiếp hà liêu sinh.
Dịch:
Quân Hán lấy hết đất,
Khúc Sở vang bốn bề.
Trượng phu chí lớn cạn,
Tiện thiếp sống làm chi.
Rồi Ngu Cơ tự vẫn. Tương truyền nơi máu bà đổ xuống mọc lên một thứ cỏ hễ có rót rượu gần bên thì cỏ múa lả lướt như Ngu Cơ trong tiệc rượu của Hạng Vũ. Người ta gọi cỏ ấy là “Ngu mỹ nhân thảo”.
10 nhạc khúc nổi tiếng Trung Hoa cổ đại – Kỳ II: Thập diện mai phục
Ngu Cơ tự vẫn (Ảnh minh họa: Theo soha.vn)
Hạng vương lên ngựa, tráng sĩ cưỡi ngựa ở dưới cờ chỉ còn hơn 800 người, đang đêm phá vỡ vòng vây xông ra phía nam, phi ngựa chạy. Đến tảng sáng, quân Hán mới biết, sai kỵ tướng là Quán Anh mang năm ngàn kỵ binh đuổi theo.
Hạng Vương vượt qua sông Hoài, quân kỵ theo kịp chỉ còn hơn trăm người. Hạng Vương đến Âm Lăng lạc đường, hỏi một cụ già làm ruộng. Cụ già nói dối, bảo ông đi qua bên trái. Hạng Vương rẽ qua bên trái, sa vào trong đồng lầy, cho nên quân Hán đuổi kịp. Hạng Vương lại đem quân đi về phương đông, đến Đông Thành, bấy giờ chỉ còn 28 kỵ binh. Kỵ binh Hán đuổi theo mấy ngàn.
10 nhạc khúc nổi tiếng Trung Hoa cổ đại – Kỳ II: Thập diện mai phục
(Ảnh: Theo factindream.blogspot.com)
Hạng Vương tự liệu chẳng thoát được, bèn trổ tài oai dũng, phá vòng vây, chém tướng, chặt cờ. Hạng Vương phi ngựa xuống, quân Hán đều giạt ra một bên, ông mặc sức tung hoành trong quân địch, đi lại như chốn không người, giết một viên tướng Hán, một viên đô úy cùng vài trăm binh lính. 28 kỵ binh thấy vậy đều vô cùng khâm phục.
Hạng Vương đi sang phía đông. Người ngựa chạy đến bờ sông Ô Giang thì cùng đường. Có người đình trưởng Ô Giang cắm thuyền đợi, bảo Hạng Vương: “Giang Đông tuy nhỏ, nhưng đất hàng ngàn dặm, dân vài mươi vạn, cũng đủ làm vương. Xin đại vương mau mau vượt sông. Nay chỉ một mình thần có thuyền, quân Hán đến không có cách gì vượt qua.
Hạng Vương cười nói: “Trời hại ta, ta vượt qua sông làm gì! Vả chăng Tịch này cùng tám ngàn con em Giang Đông vượt Trường Giang đi về hướng tây, nay không còn lấy một người trở về! Dù cho các bậc cha anh ở Giang Đông thương ta, cho ta làm vương, ta cũng còn mặt mũi nào mà thấy họ nữa. Dù họ không nói, Tịch này há chẳng thẹn trong lòng sao?
10 nhạc khúc nổi tiếng Trung Hoa cổ đại – Kỳ II: Thập diện mai phục
(Ảnh: Theo soha.vn)
Rồi ông bảo người đình trưởng: “Ta biết ông là bậc trưởng giả, ta cưỡi con ngựa này, năm năm nay đi đến đâu cũng vô địch, thường một ngày đi ngàn dặm, ta không nỡ giết, xin biếu ông.
Quân Hán đến, Hạng Vương sai kỵ binh đều xuống ngựa đi bộ, cầm khí giới ngắn để tiếp chiến. Một mình Hạng Vũ giết mấy trăm quân, thân bị hơn 10 vết thương. Ông quay lại thấy kỵ binh tư mã của Hán là Lã Mã Đồng vốn là tướng cũ của mình, bèn bảo Đồng: “Ta nghe vua Hán mua đầu ta ngàn vàng, phong ấp vạn hộ. Ta làm ơn cho nhà ngươi đây.
Nói rồi, Hạng Vương tự đâm cổ chết. Năm đó ông 31 tuổi, ở ngôi Tây Sở Bá vương được 5 năm (206 – 202 TCN).

Khúc “Thập diện mai phục

Có gi chép bằng văn tự liên quan đến khúc “Thập diện mai phục” trong “Tứ chiếu Đường tập Thang tỳ bà truyện” của Vương Du Định đời Minh rằng, Thang Ưng Tăng (khoảng 1585-1652) được người đời gọi là “Thang tỳ bà đàn khúc tỳ bà Hán Sở”, họ Thang đàn hơn 110 bản mà hay nhất là khúc “Hoài Âm bình Sở” này.
“Giữa lúc đôi bên quyết chiến, tiếng sát long trời lở đất, ngói trên mái nhà dường như rung rinh; lại có tiếng vang, tiếng trống, tiếng cung kiếm, tiếng người ngựa gào thét; lâu lâu có nỗi oan khó tỏ bày là tiếng Sở ca thê lương mà hùng tráng, là tiếng Hạng Vương từ biệt Ngu Cơ; ở đầm lớn có tiếng quân kỵ đuổi theo; đến Ô Giang có tiếng Hạng Vương tự vẫn, tiếng gió ngựa giày đạp của quân kỵ tranh xác Hạng Vương, khiến người nghe hưng phấn rồi kinh hoàng, cuối cùng bật khóc mà bàng hoàng, sự cảm động lòng người của nó đến độ như vậy”.
10 nhạc khúc nổi tiếng Trung Hoa cổ đại – Kỳ II: Thập diện mai phục
Hạng Vũ tự vẫn bên bờ Ô Giang (Ảnh: cultural-china.com)
Có người đem giai điệu của đoạn đầu “Thập diện mai phục” so với khúc thứ năm lớp thứ bảy “Ca khúc cổ điển” ở biên giới phía Bắc của sắc tộc Duy Ngô Nhĩ, phát hiện âm điệu cốt lõi, dấu lặng và khí vị của hai cái hết sức giống nhau, nhân đó mà cho rằng “Thập diện mai phục” hấp thu được tinh hoa âm nhạc của sắc tộc thiểu số Tây Bắc. Thang Ưng Tăng đúng là đã từng đến chiến trường Tây Bắc như Gia cốc quan, Trương dịch, Tửu tuyền v.v… có đủ điều kiện để sáng lập “Thập diện mai phục”. Nhưng, Vương Du Định, người giao du thân mật và kết làm tri kỷ với Thang Ưng Tăng, trong “Thang tỳ bà truyện” lại không nói việc Thang sáng tác “Thập diện mai phục”, mà đem nó liệt vào loại “cổ khúc”.
Nhiều người cho rằng các cổ khúc tỳ bà đều phát sinh từ dân gian, rồi trải qua diễn xuất luyện tập của mấy đời nghệ nhân nên ngày càng chín chắn, hoặc đến cao độ thuần phục, là kết tinh của trí tuệ tập thể. “Thập diện mai phục” có thể cũng lại như vậy chăng?
Đại thi hào Nguyễn Du trong tác phẩm Chuyện Kiều cũng nhắc đến danh khúc này Khi Kiều đàn cho Kim Trọng nghe.
Khúc đâu Hán Sở chiến trường
Nghe ra tiếng sắt tiếng vàng chen nhau
Mời các bạn hãy cùng thưởng thức danh khúc nổi tiếng này:

Cổ nhạc Trung Hoa bao gồm những nhạc khúc cổ, tiêu biểu của nền văn hóa truyền thống, gắn liền với những điển tích, điển cố khác nhau. Đằng sau mỗi nhạc khúc đều là các giai thoại thú vị.
Nghe nhạc khúc mà không biết câu chuyện đằng sau, thì tất yếu không thể đi đến tận cùng cái đẹp của khúc ý, cũng không thể thưởng thức được trọn vẹn cái hay của khúc nhạc. Trong loạt bài này, hãy cùng Trí Thức VN tìm hiểu về “Trung Hoa thập đại danh khúc” – 10 khúc nhạc nổi tiếng trong lịch sử Trung Hoa.
10 nhạc khúc nổi tiếng Trung Hoa cổ đại - Kỳ III: Bình sa nhạn lạc
(Ảnh: Baidu)
Bình sa lạc nhạn” là một khúc nhạc du dương trầm bổng, ẩn hiện như cánh nhạn lưng trời. Nó bao hàm trong mình cái phóng khoáng của trời đất, cũng phảng phất tiếng nhạn đập cánh trên không trung. Tuy vậy, khi được đàn lên thì khúc nhạc này còn ẩn chứa một nỗi buồn tiếc nuối, bởi vì nói đến “Bình sa lạc nhạn” thì không thể không nói đến câu chuyện của Vương Chiêu Quân.

Lạc nhạn Vương Chiêu Quân

Vương Chiêu Quân là một trong tứ đại mỹ nhân nổi tiếng của lịch sử Trung Hoa, được tuyển vào cung thời Hán Nguyên Đế. Lúc bấy giờ, hậu cung của vua rất đông, nên vua thường sai người họa hình là Mao Diên Thọ vẽ lại chân dung các cung tần mỹ nữ rồi xem hình để chọn người. Ai cũng lo đút lót cho Mao Diên Thọ để được vẽ đẹp hơn, riêng Vương Chiêu Quân là không có tiền nên y chỉ vẽ cho nàng một bức chân dung xấu xí. Chính vì thế dù có tài sắc nhưng Vương Chiêu Quân lại không được nhà vua đoái hoài.
10 nhạc khúc nổi tiếng Trung Hoa cổ đại - Kỳ III: Bình sa nhạn lạc
Khoảng thời gian này cũng là lúc nội bộ Hung Nô chia rẽ nên đã bị nhà Hán liên minh với người Ô Hoàn đánh bại. Năm 51 TCN, Hô Hàn Tà đầu hàng và chịu triều cống nhà Hán. Trong một lần đích thân đưa cống phẩm đến Trường An, thiền vu Hô Hàn Tà cầu thân Hán Nguyên Đế, xin được gả công chúa. Hán Đế ngỏ ý tới các cung nữ rằng ai đồng ý lấy thiền vu thì sẽ được đối xử như công chúa. Tuy nhiên ai cũng lấy làm lo sợ khi phải sống ở nơi đất khách quê người, chỉ duy có mình Vương Chiêu Quân tình nguyện.
Khi thấy dung mạo của Vương Chiêu Quân, Hán Đế mới ngẩn người tiếc nuối hiểu ra rằng mình đã bị Mao Diên Thọ lừa dối và lợi dụng để kiếm tiền. Phẫn nộ, Hán Đế ra lệnh xử trảm Mao Diên Thọ. Tuy nhiên, vì đã lỡ nhận lời với thiền vu Hô Hàn Tà, nên Hán Đế cũng không còn cách nào khác là để Vương Chiêu Quân đi cùng thiền vu về Hung Nô.
10 nhạc khúc nổi tiếng Trung Hoa cổ đại - Kỳ III: Bình sa nhạn lạc
(Ảnh: Baidu)
Mặc dù nhận lời đi cùng thiền vu, nhưng thực chất Vương Chiêu Quân vẫn rất đau lòng khi phải đi tới tận vùng đất khách quê người, sống trong một dân tộc với nền văn hóa khác biệt. Trên đường ra Nhạn Môn Quan, đi tới một hoang mạc, Vương Chiêu Quân đã dừng chân để gảy một khúc đàn bi thiết. Tiếng đàn bi ai động lòng người khiến cho các thành viên trong đoàn không cầm được nước mắt. Tương truyền là, một con nhạn lạc bầy đã bị tiếng đàn u uất tác động mà rơi xuống mặt đất. Đó cũng chính là lý do vì sao khúc “Bình sa lạc nhạn” ngày nay lại có cái man mác nhớ nhung, da diết không muốn rời.
Vương Chiêu Quân ở với Hô Hàn Tà sinh được hai trai một gái thì thiền vu qua đời. Theo tục lệ của người Hung Nô, nàng phải sống với thiền vu tiếp theo là con trai lớn của Hô Hàn Tà, sinh thêm được hai người con gái nữa.

Khúc “Bình sa lạc nhạn”

Bình sa lạc nhạn” có giai điệu du dương, trầm bổng, ẩn hiện như cánh nhạn lưng trời. Bản nhạc bắt đầu với những thanh âm ngắt quãng, không liền mạch, nốt trầm nốt bổng, tựa như nỗi sầu cố nhân năm nào đang nuốt thầm những giọt nước mắt thương nhớ quê hương. Tiếng đàn nghe như ai oán, xót thương rồi đều dần đều dần lên, tựa hồ xuất hiện một hơi thở, một cánh nhạn bay giữa lưng chừng không gian, chao liệng đầy tâm trạng.
10 nhạc khúc nổi tiếng Trung Hoa cổ đại - Kỳ III: Bình sa nhạn lạc
(Ảnh: Tinhhoa.net)
Trong điệu khúc dập dìu, ta nghe thấy cả tiếng nhạn đập cánh, khi thì ngập ngừng, khi lại tĩnh lặng đến tuyệt đối, như một nét chấm phá tĩnh trong bức tranh với vạn vật đang chuyển động không ngừng. Bất chợt, sau cái chao nghiêng ngập ngừng, cánh nhạn quay đầu lại, ngắm cảnh, ngắm vật, và ngắm cố nhân trong nỗi tiếc nhớ khôn nguôi. Như thể sau cái ngoái đầu này, mọi vật sẽ xa rời tầm mắt vĩnh viễn, như cố nhân ngày nào suốt bao năm chẳng được một lần thăm lại quê cũ.
Ấy là cái đẹp luôn đi song hành với cái bi. Giây phút này còn ở đây, còn lưu luyến cảnh sắc này, biết ngày mai sẽ đi đâu về đâu giữa dòng đời phiêu bạt gian truân? Khúc nhạc có cái phóng khoáng rộng lớn của đất trời, có cái bao trùm của một tâm tư buồn nhớ. Bức tranh Vương Chiêu Quân xuất hiện rõ lên trước mắt…
10 nhạc khúc nổi tiếng Trung Hoa cổ đại - Kỳ III: Bình sa nhạn lạc
(Ảnh: Historyandwomen.com)
Những cánh nhạn cứ bay liệng trên không trung, ngập ngừng, tần ngần, muốn dừng lại như chính tâm trạng của con người trong cái thời khắc ấy. Ưu tư, hoài cổ, xót xa và tiếc nuối – những mạch tâm trạng đan xen vào từng nốt nhạc, điệu phách. Và phải chăng, điều này đã làm nên một bản đàn bất hủ?
Mời bạn cùng thưởng thức nhạc khúc có nhắn gủi nỗi niềm của nàng Vương Chiêu Quân ngày nào với những thăng trầm của cuộc đời qua danh khúc:

Cổ nhạc Trung Hoa bao gồm những nhạc khúc cổ, tiêu biểu của nền văn hóa truyền thống, gắn liền với những điển tích, điển cố khác nhau. Đằng sau mỗi nhạc khúc đều là các giai thoại thú vị.
Nghe nhạc khúc mà không biết câu chuyện đằng sau, thì tất yếu không thể đi đến tận cùng cái đẹp của khúc ý, cũng không thể thưởng thức được trọn vẹn cái hay của khúc nhạc. Trong loạt bài này, hãy cùng Trí Thức VN tìm hiểu về “Trung Hoa thập đại danh khúc” – 10 khúc nhạc nổi tiếng trong lịch sử Trung Hoa.
10 nhạc khúc nổi tiếng Trung Hoa cổ đại – Kỳ IV: Mai hoa tam lộng
Nhạc khúc “Mai hoa tam lộng” thuộc loại “tá vật vịnh hoài”, mượn hình ảnh tinh khiết, sự thơm ngát và sức kiên cường chống chọi với cái lạnh của hoa mai để tán tụng những người có tiết tháo cao thượng. Chính vì vậy, “Mai hoa tam lộng” gắn liền với điển cố về sự khoáng đạt của người xưa.

Địch thượng tam lộng

Theo sử sách ghi lại thì tác giả của khúc “Mai hoa tam lộng” là Hoàn Y, tự Thúc Hạ, tên lúc nhỏ là Tử Dã. Ông sinh ra vào thời Đông Tấn, là một nhà quân sự, một danh sỹ, một nhà âm nhạc tài hoa. Tương truyền rằng khi Hoàn Y đi ngang qua bến Thanh Khê thì có một vị khách trên thuyền nhận ra ông, bèn trầm trồ rằng: “Đây là Hoàn Dã Vương”. Tình cờ, trong thuyền có danh sĩ Vương Huy Chi (con của Vương Hi Chi), vốn là một thư pháp gia thời bấy giờ, đang trên đường về kinh. Vương Huy Chi bèn truyền lời rằng: “Nghe danh ngài giỏi thổi địch, xin vì ta mà tấu một bản”.
10 nhạc khúc nổi tiếng Trung Hoa cổ đại – Kỳ IV: Mai hoa tam lộng
Khi ấy Hoàn Y là quý tộc, vốn đã vinh hiển, nhưng không hề phật ý, mà đứng trên bờ thổi một bản địch khúc ba điệu. Tiếng thổi địch du dương vô cùng, tương truyền chính là khúc “Mai hoa tam lộng”. Thổi xong, Hoàn Y lập tức lên xe mà đi. Song phương chủ khách không nói với nhau một lời. Đúng là khoáng đạt rộng rãi, quang minh không bộ dạng, cũng tỏ rõ cái phong thái của hoa mai ngạo nghễ trong sương tuyết. Đây chính là điển cố “Địch thượng tam lộng”.
Liên quan tới điển cố này, còn một câu chuyện khác về Nhân Hồng Hạo vào thời Nam Tống. Ông vốn là một người được sai đi sứ nước Kim nhưng rốt cuộc bị bắt lại mất hơn mười năm. Trong thời gian đó mặc dù liên tục bị kẻ địch uy hiếp dụ dỗ, nhưng Nhân Hồng Hạo vẫn bảo trì phong thái cao thượng. Rốt cục, khi nhận được tin mình được thả về Nam Tống, ông đã không kìm được tâm tình mà diễn tấu một khúc “Mai hoa tam lộng”, đem lòng kiên trinh bất khuất của mình đến sánh với hoa mai ngạo nghễ sương tuyết, cũng là lấy bản nhạc này để thể hiện tâm tình hoài niệm của mình với triều đình Nam Tống.

Khúc “Mai hoa tam lộng”

Trong “Thần kì bí phổ” của Chu Quyền đời nhà Minh, có chép bản đàn (cầm khúc) “Mai hoa tam lộng”. Ông ta cho rằng đây vốn là bản địch do Hoàn Y sáng tác, người đời sau đã cải biên, rồi thay bằng đàn. Nhạc khúc có lúc du dương, thanh khiết gợi lên sự cao quý và trạng thái tĩnh tại, an tường của hoa mai; cũng có lúc gấp gáp biểu hiện sự kiên cường và ngạo nghễ của hoa mai trước sương tuyết.
10 nhạc khúc nổi tiếng Trung Hoa cổ đại – Kỳ IV: Mai hoa tam lộng
Hoa mai là biểu tượng quan trọng của văn hóa truyền thống Trung Hoa. Là một “người bạn của mùa đông”, hoa mai biểu thị sinh động nhất giá trị của sự phóng khoáng ngạo nghễ xem thường khó khăn. Trên suốt quãng đường đời, khó khăn rồi cũng qua đi theo thời gian, cũng như hoa mai vẫn nở trong sương tuyết.
Hương thơm của hoa mai “sinh ra từ sự khắc nghiệt của cái lạnh”. Chính vì thế, hoa mai gợi lên một cái nhìn sâu sắc về nhân sinh: tâm hồn được tôi luyện trong khó khăn của cuộc sống, từ đó đạt được sức mạnh nội tâm và lòng dũng cảm kiên cường.
Mời các bạn thưởng thức khúc “Mai hoa tam lộng”:

Thanh Phong/Quang Minh tổng hợp

No comments:

Post a Comment