Monday, January 9, 2017

Bài viết hay(4389)

Sáng nay Bolsa nói về chuyện Taiwan nhanh chóng chạy theo Trump trong khi Nhật đã qua gặp Trump ngay sau khi có kết quả bầu cử. Tất cả là nhằm đối phó với tham vọng của Bắc Kinh. Cho dù họ đều là người Hoa nhưng họ biết tỏng chiêu trò lưu manh và thói bành trướng bá quyền của một xứ đông dân nhất TG luôn bị đói nghèo đe dọa, Taiwan vẫn khó ngồi chung mâm với Tập vì lý do đơn giản là Tập luôn là vua, Taiwan chỉ là một địa phương "phản động" ly khai từ lâu.Cho dù Bolsa khoái Taiwan nhưng tui vẫn không tin được Taiwan khi thực tế cho tui thấy dân Đài điếm bỏ xừ, rất keo kiệt, ích kỷ, khó chơi được với họ vì họ luôn muốn chơi cha mình chứ không phải là bạn bè ngang hàng gì cả. Bài học Formosa là bằng chứng mới nhất mà VN không thể forgive and forget quá dễ dãi.


Khi Việt gian cắt đất cho phương Bắc, ông cha ta sẵn sàng tuốt gươm

clip_image001
Trước hành động của bọn Việt gian bán đất này thì các vua triều Lý đều rất cương quyết trong việc xử lý. Nếu cần dùng ngoại giao thì các vua Lý sẽ đấu tranh ngoại giao. Khi đàm phán không xong thì phải dùng sức mạnh quân sự

Thời nhà Lý, tình hình nước ta tương đối ổn định. Trong khi đó, nhà Tống thời gian đầu không dám huy động một lực lượng quân đội lớn để thôn tính Đại Việt. Một phần vì nhà Tống lúc này còn đang đau đầu lo đối chọi với các thế lực phương Bắc, hết Liêu lại đến Kim và quan trọng hơn là nhà Tống cũng nếm mùi cay đắng sau chiến dịch quân sự thất bại dưới tay vua Lê Đại Hành.
Mặc dù vậy, nhà Tống vẫn chưa bao giờ thực bụng hòa hiếu với Đại Việt. Thay vì xua quân xâm lược thì triều đình Tống chủ trương cho việc lấn đất theo kiểu tằm ăn dâu. Các quan lại nhà Tống ở biên giới hai nước nghĩ nhiều cách để quấy rối Đại Việt để tiện bề chiếm đất.
Nhà Tống ngầm ủng hộ các nước láng giềng gây sự với Đại Việt mà đỉnh cao là việc quân Đại Lý (Vân Nam) tấn công Đại Việt năm 1014 với quy mô lớn. Đại Việt sử ký toàn thư chép: Giáp Dần, [Thuận Thiên] năm thứ 5 [1014], (Tống Đại Trung Tường Phù năm thứ 7). Mùa xuân, tháng giêng, tướng của người Man là Dương Trường Huệ và Đoàn Kính Chí đem 20 vạn người Man vào cướp, đóng đồn ở bến Kim Hoa, dàn quân đóng trại gọi là trại Ngũ Hoa. Châu mục châu Bình Lâm là Hoàng Ân Vinh đem việc tâu lên. Vua sai Dực Thánh Vương đem quân đi đánh, chém đầu kể hàng vạn, bắt sống được quân lính và ngựa không kể xiết.
Trận này, Đại Việt thắng lớn khiến lân bang kinh hãi và không dám vọng động như trước nữa. Thời gian sau, nhà Tống lại chơi chiêu khác là dụ dỗ các thủ lĩnh vùng biên giới phản Đại Việt để quy hàng dâng đất cho nhà Tống. Nhưng trước hành động của bọn Việt gian bán đất này thì các vua triều Lý đều rất cương quyết trong việc xử lý. Nếu cần dùng ngoại giao thì các vua Lý sẽ đấu tranh ngoại giao. Khi đàm phán không xong thì phải dùng sức mạnh quân sự, thậm chí là đánh thẳng quân đội nhà Tống để cho người Tống biết Đại Việt sẵn sàng nói chuyện bằng binh đao. Nhờ vậy mà trước sau, các vụ truy đuổi Việt gian bán đất đều thành công cả. Cuốn Lược sử ngoại giao Việt Nam các thời trước của Nguyễn Lương Bích có chép lại một số vụ điển hình.
Năm 1034, quan lại nhà Tống dụ dỗ bọn Trần Công Vĩnh ở vùng biên giới đem 600 dân chạy sang theo Tống. Vua Lý Thái Tông cho hơn một nghìn quân sang đất Tống đuổi bắt. Phản ứng mạnh mẽ của nhà Lý có lẽ nằm ngoài dự tính của quan quân nhà Tống. Ngay cả vua Tống lúc đây cũng thấy lo lắng vì sợ chiến tranh với Đại Việt. Rốt cuộc, triều đình Tống phải hạ lệnh cho quan lại địa phương trả lại ta bọn Trần Công Vĩnh và hơn 600 dân.
Tưởng rằng sau vụ đó đã thôi nhưng quan lại biên giới nhà Tống vẫn tiếp tục chơi trò bổn cũ soạn lại 16 năm sau. Năm 1050, viên quan Tống ở Ung Châu dụ dỗ bọn tù trưởng ở châu Tô Mậu của ta đem hơn ba nghìn dân sang với Tống và Tống cho đưa cả vào thành Ung Châu. Vua Lý Thái Tông cương quyết đòi lại bằng đấu tranh ngoại giao. Trước áp lực từ Đại Việt, vua Tống buộc phải cho đem trả tất cả hơn ba nghìn người mà bọn quan lại nhà Tống đã dụ dỗ.
Năm 1059, quan lại nhà Tống lại dụ dỗ một số dân vùng châu Lạng sang Tống. Thân Thiệu Thái là phò mã nhà Lý, cai quản vùng châu Lạng, được lệnh của vua Lý Thánh Tông đã đưa quân lên vùng biên giới dùng áp lực quân sự đòi nhà Tống trả lại dân. Đã có đụng độ và sức mạnh quân sự của Đại Việt đã buộc nhà Tống phải trả lại đất và người.
Năm 1062, quan lại nhà Tống lại dụ dỗ người Tày là Nông Tôn Đán ở phía tây bắc Cao Bằng đem dân, nhường đất, theo về Tống. Nhà Tống lấy vùng đất ấy đặt thành châu Thuận An và bổ dụng cha con Nông Tôn Đán làm quan của nhà Tống. Không chịu mất đất mất dân, vua Lý Thánh Tông cho phò mã Lê Thuận Tôn sang Tống đòi đất, đòi dân. Nhà Tống thua lý buộc lòng phải trả ta vùng đất ấy nhưng lại nham hiểm không trả dân và giữ cha con Nông Tôn Đán làm quan cho Tống. Cần nhớ rằng giữ được dân thì mới giữ được đất, nếu công nhận người dân vùng đó thuộc quyền quản lý của nhà Tống thì sớm muộn những người dân đó lại quay về nhà cũ rồi nhà Tống lấy cớ dân Tống ở đâu, đất Tống ở đó thì cũng phiền.
Do vậy, nhà Lý không đời nào chịu kiểu nhún nhường mà nham hiểm của nhà Tống. Không dùng được ngoại giao, nhà Lý lại dùng sức mạnh quân sự lấy về cả dân lẫn đất mà nhà Tống cũng không dám làm gì.Cuối năm 1073, quan lại nhà Tống lại dụ dỗ Nông Thiện Mỹ, một thủ lĩnh vùng gần Thất Khê (Cao Bằng ngày nay) đem 700 dân chạy sang theo Tống. Đầu năm 1075, triều đình nhà Lý viết thư sang triều đình Tống đòi Tống trả lại ta Nông Thiện Mỹ và 700 dân nhưng lúc này nhà Tống đã sẵn sàng chiến tranh. Năm sau Lý Thường Kiệt mang quân bắc phạt đánh phá Ung châu, Khâm châu rồi đánh bại đạo quân của Quách Quỳ trong trận Như Nguyệt. Chỉ khi thấy sự cứng rắn của Đại Việt thì nhà Tống mới bớt các chiêu trò kích động để lấn đất ở biên giới sau này.Anh Tú

Lũ chồng lũ ở Miền Trung: Còn đến bao giờ?

clip_image002
Lũ lụt ở huyện Hương Khê.
Theo báo cáo của Văn phòng Ban chỉ đạo phòng chống thiên tai, mưa lũ trong Hội nghị trực tuyến ứng phó, khắc phục hậu quả mưa lũ Miền Trung diễn ra tại Hà Nội ngày 17/12, từ giữa tháng 10/2016 đến nay, mưa lũ ở Miền Trung đã làm 111 người chết và mất tích, 121 người bị thương... Ước tính, tổng thiệt hại tài sản lên đến gần 8.600 tỷ đồng. Nguyên nhân được xác định là do mưa lớn cộng với việc xả lũ của các hồ thủy điện.

Hiện tượng mưa lớn thì xưa nay hầu như năm nào cũng xảy ra, song chỉ những năm gần đây, với sự nở rộ của hàng loạt công trình thủy điện đủ loại, mỗi năm các tỉnh Miền Trung mới phải gồng mình gánh chịu hết trận lũ này đến trận lũ khác như vậy. Lũ trước chưa kịp rút thì lũ sau đã tràn đến, thiệt hại về người và tài sản không sao đong đếm xuể. Rõ ràng, mưa lớn là nguyên nhân khách quan, không tránh được, nhưng việc xả lũ của các hồ thủy điện là nguyên nhân chủ quan, do yếu tố con người gây nên. Vì thế, câu hỏi bức thiết không thể không đặt ra ở đây là: Bao giờ người dân Miền Trung mới thoát khỏi nỗi ám ảnh mang tên “thủy điện xả lũ” này?
Để đưa ra lời giải đáp cho câu hỏi trên, chúng ta cần trả lời hai câu hỏi quan trọng là (i) các nhà máy thủy điện ở Miền Trung được quy hoạch như thế nào? và (ii) quy hoạch đó được thực hiện như thế nào?
Theo số liệu của Bộ Công Thương, hiện nay trên cả nước có 306 dự án thủy điện với tổng công suất lắp máy 15.474,3 MW đang vận hành phát điện; 193 dự án (5.662,66 MW) đang thi công xây dựng; 245 dự án (3.006 MW) đang nghiên cứu đầu tư; còn lại 59 dự án (421,88 MW) có quy mô nhỏ, đang được tiếp tục rà soát. Về quy hoạch bậc thang thủy điện trên các dòng sông lớn: đã vận hành phát điện 61 dự án (13.101,10 MW); đang thi công xây dựng 31 dự án (3.580,50 MW); đang nghiên cứu đầu tư 15 dự án (730,50 MW); có 3 dự án (128 MW) chưa được cho phép nghiên cứu đầu tư. Tức là vẫn còn hàng trăm dự án thủy điện đang trong giai đoạn thi công hay nghiên cứu đầu tư, và điều này đồng nghĩa với việc vấn nạn do thủy điện gây ra sẽ còn nghiêm trọng hơn những gì mà người ta đã được chứng kiến.
Đáng quan ngại hơn, các dự án thủy điện đó lại ra đời trong bối cảnh Bộ Tài nguyên và Môi trường, cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên nước, chưa xây dựng được một quy hoạch tổng hợp lưu vực sông nào, trong khi quy hoạch tổng hợp lưu vực sông lại là căn cứ để hoàn thiện, điều chỉnh quy hoạch khai thác, sử dụng tài nguyên nước của các ngành, trong đó có thủy điện, thủy nông.
Theo VOV ngày 12/9/2013 thì vì chưa có quy hoạch tổng hợp lưu vực sông nên ngưỡng giới hạn khai thác nước đối với các dòng sông chưa được xác định và công bố, dẫn đến “bùng nổ”, lạm phát công trình, đặc biệt là những công trình thủy điện trên các lưu vực sông. Trong một năm, có khi có cả chục công trình thủy điện với công suất 30 MW, dung tích hồ chứa trên 500 triệu m3 nước hoặc vài chục công trình thủy điện vừa và nhỏ cùng được khởi công xây dựng. Nhiều nơi có tới 3 đến 5 công trình thủy điện cùng mọc lên trên một lưu vực sông. Căn cứ theo số liệu tổng hợp về số công trình hồ chứa thủy điện, thủy lợi, kể cả các công trình đang vận hành, đang xây dựng và trong quy hoạch thì mật độ trung bình các hồ chứa trên các lưu vực sông ở nước ta là 94 km2/hồ. Nếu chấp nhận chỉ tiêu hợp lý bố trí công trình hồ chứa là khoảng 250-300 km2/hồ của Hội Thủy năng Quốc tế về hướng dẫn thủy điện bền vững thì mật độ công trình hồ chứa ở Việt Nam là thiếu tính bền vững về môi trường và tài nguyên.
Chưa hết, trong quá trình thi công, chủ đầu tư các dự án thủy điện, vì lợi nhuận cùng sự giám sát lỏng lẻo của cơ quan chức năng, đều tìm cách giảm dung tích hồ chứa so với thiết kế ban đầu (vốn dĩ đã không đủ lớn) nhằm giảm chi phí đầu tư. Hậu quả là hầu hết các hồ chứa thủy điện đều không thực hiện được chức năng cắt lũ, giảm lũ, làm chậm lũ vào mùa mưa và bổ sung dòng chảy trên sông vào mùa khô. Chẳng hạn, dung tích phòng lũ các hồ chứa thủy điện bậc thang trên sông Vu Gia - Thu Bồn giảm chỉ còn hơn 145 triệu m3 so với trên 1 tỷ m3 như quy hoạch ban đầu (tức vỏn vẹn hơn 14%). Do vậy, mỗi khi lũ về, thay vì góp phần ngăn lũ thì các nhà máy thủy điện lại (buộc phải) đồng loạt xả lũ ồ ạt, và hậu quả tất yếu là hạ du bị nhấn chìm trong biển lũ.Như vậy, để khắc phục thảm trạng này người ta không còn cách nào khác là phải giảm mật độ công trình hồ chứa trên các lưu vực sông, nhằm đảm bảo tính bền vững về môi trường và tài nguyên, đồng thời tăng dung tích của các hồ chứa còn lại – một đòi hỏi xem ra là rất khó. Ngoài ra, các dự án thủy điện đang trong quá trình thi công hoặc sắp được khởi công cần phải được giám sát chặt chẽ về cả quy hoạch, thiết kế lẫn thi công. Nếu không đáp ứng được những yêu cầu đó, người dân Miền Trung không chỉ phải tiếp tục gánh chịu “kiếp nạn” mang tên thủy điện, mà mức độ thảm hoạ do nó gây ra sẽ ngày càng lớn, năm sau cao hơn năm trước, đặc biệt là trong bối cảnh biến đổi khí hậu đã trở thành mối đe dọa ngày một cấp bách và mang tính toàn cầu.Lê Anh Hùng

Phù sa độc

clip_image001
Phù sa độc, một khái niệm mới thời thủy điện lên ngôi. RFA photo
Câu chuyện lũ lụt tại miền Trung lẽ ra đã khép lại và đã có quá nhiều thông tin về nó. Tuy nhiên, dường như hậu quả do lũ lụt để lại vẫn chưa hề lắng xuống, từ chuyện lương thực của người miền Trung bị ảnh hưởng, mùa màng hư hại cho đến dịch bệnh… tất cả các vấn đề này vẫn còn hoành hành. Và một vấn đề khá mới mẻ sau lũ lụt miền Trung, đó là chuyện phù sa độc.

Hết mong lụt về!
Một nông dân tên Hiên, ở Nghĩa Hành, Quảng Ngãi, chia sẻ: “Phù sa thì năm ni nó độc quá, chẳng còn như mọi năm là làm tốt tươi ruộng đồng. Năm ni nó về hình như các công ty nó thải cái chất xả gì vào sông đó nên làm cho da ngứa ngáy, khó chịu lắm, làm cho da mình mẫn cảm và tấy đỏ hết. Cây cỏ, lúa cũng chết nữa thì người làm sao mà dám lội bùn!.
Ông Hiên chia sẻ thêm là với người nông dân, phù sa là thuốc bổ cho ruộng đồng và mùa màng, không có thứ gì làm vệ sinh cho lòng sông hay ruộng đồng tốt hơn nước lụt. Chính vì tác dụng rất đáng quí của nước lụt mà hầu như với bất kì người nông dân nào, lụt có ý nghĩa rất lớn. Và trong nhiều năm liền, kể từ khi thủy điện đầu nguồn các tỉnh miền Trung hoạt động ruộng đồng thiếu vắng những trận lụt mang phù sa về làm màu mỡ cho đất và giảm lượng sâu bọ, mùa khô thì nắng hạn, thiếu nước trầm trọng, mùa mưa thì không có lụt nhỏ và vừa như trước đây.
Và cũng khác nhiều năm trước đây, từ năm năm trở lại, hầu như mỗi khi có lụt là người nông dân miền Trung trở nên tan hoang, lũ lụt càn quét đi mọi thứ từ mùa màng đến nhà cửa, tài sản và cả mạng người. Dòng nước chảy xiết, dữ tợn và dâng cao một cách bất thường không những phá hoại mọi thứ mà còn để lại hậu quả độc hại.
Ông Hiên nói rằng chưa bao giờ ông lại thấy hiện tượng phù sa độc nặng nề như năm nay. Nghĩa là thay vì phù sa do nước lũ mang về làm cho ruộng đồng tươi tốt, cây cối sum suê thì phù sa của các trận lụt trong mùa mưa năm qua đã làm cho cây cỏ bị khô héo, mọi thứ cây trong vườn đều rụng lá, chết dần chết mòn. Điều này dễ nhận biết nhất với người nông dân trồng hoa và cây cảnh. Hầu như chưa có năm nào mà lụt làm cho các vườn mai, vườn cúc chết trơ gốc nhiều như năm nay.
Ông Hiên than thở với chúng tôi là bùn non năm nay mang theo quá nhiều chất thải, rác rưởi và chất hóa học do các công ty thải ra nên mức độ gây ngứa và lở loét của nó cao một cách khác thường. Một nông dân quen chân lấm tay bùn như ông không dễ gì bị nấm móng và lở loét chỉ vì lội bùn non hai ngày. Thế nhưng sau trận lụt, đi làm đồng, dọn cỏ chuẩn bị cày bừa cho ruộng chưa đầy một buổi, tay chân ông bị ngứa ngáy và nổi mẩn đỏ, cứ nơi nào dính bùn non thì nơi nó nổi mẩn đỏ, ngứa râm ran. Và không riêng gì ông Hiên, những người trong gia đình ông và các nông dân khác, ai bước xuống ruộng cũng bị ngứa và lở loét.
Năm ni nó về hình như các công ty nó thải cái chất xả gì vào sông đó nên làm cho da ngứa ngáy, khó chịu lắm, làm cho da mình mẫn cảm và tấy đỏ hết. Cây cỏ, lúa cũng chết nữa thì người làm sao mà dám lội bùn!.
- Ông Hiên, Quảng Ngãi
Theo một cán bộ thú y tên Sinh ở Hương Khê, Hà Tĩnh, một tỉnh Bắc Miền Trung Việt Nam cho biết thì trâu bò, lợn gà ở Hương Khê cũng bị hiện tượng tiêu chảy, giảm cân và lở loét sau khi kiếm ăn trên các bãi cỏ vừa bị lũ cuốn qua. Điều này chứng tỏ phù sa năm nay quá độc và nguy cơ mất mùa, vật nuôi bị chết vì bệnh sẽ còn kéo dài, kinh tế người nông dân bị ảnh hưởng không nhỏ một chút nào.
Nghiệt nỗi, ngoài những phần quà cứu trợ của các nhà từ thiện, về phía thủy điện vẫn chưa có động thái nào cho thấy họ hối lỗi về điều này và họ vẫn hoạt động bình thường, vẫn hưởng một cái Tết thắng lợi với quà cáp và tiền thưởng không nhỏ. Theo chỗ ông Sinh biết thì tiền thưởng Tết của ngành điện lực ở Hà Tĩnh năm nay khá cao. Như vậy, người nông dân thì đau khổ, thiếu thốn và thiếu cả không khí Tết, điều này khiến ông Sinh cảm thấy bị tổn thương vì trót làm người dân trong một tỉnh có quá nhiều tai ương đến từ biển, từ núi rừng, từ hệ thống quản lý.
Ông Sinh cho biết: “Cái nguồn thu của công nhân viên nhà nước, có vai có vế mới có tiền, còn lại, dân tròn (dân đen) thì không có thu nhập gì, cả năm trúng được chừng 40 triệu tiền bán cây, xong rồi thì không có khoản nào khác. Nhưng cũng không phải nhà nào cũng có được điều đó, có một số gia đình có thôi. Phần lớn thì đi làm thuê tứ xứ, vào Nam làm thuê là chính. Năm nay dù đã tháng Chạp nhưng chưa thấy Tết gì cả. Dường như Tết là của ai chứ không phải của mình. Mọi năm thì Noel xong thì xuống giống, năm nay đến giữa tháng Chạp rồi mà chỉ mới bắt đầu gieo sạ thôi!.
Bốn bề trùng vây
clip_image004
Bùn non tràn ngập mọi nơi ở Nghĩa Hành, Quảng Ngãi. RFA photo
Tình trạng người nông dân bị vây bùa bốn bề, cái đói, nỗi đau mất mát và thiệt hại vẫn chưa nguôi, Tết đang đến sát bên lưng mà vẫn chưa có gì để lo sắm Tết, thậm chí không khí tang tóc vẫn còn quanh quất đâu đó trong các gia đình có người thân thiệt mạng bị lũ cuốn… Một người nông dân ở huyện Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình, tên Vĩnh, chia sẻ: “Giờ hiện tại thì dân mình họ đang sạ, cũng có đám chưa gieo, hiện tại thì khắc phục dần dần. Trâu bò thì thiệt hại vì cỏ không có, rơm bị lụt ngấm nó thối nên không có cho trâu bò ăn, bệnh tật cũng nhiều. Hiện nay chỉ lo cặm cụi mùa màng chứ chưa ai dám nghĩ tới Tết cả!.
Theo ông Vĩnh, tình trạng làm trễ mùa vụ, nguy cơ thiếu lương thực vào thời điểm giáp hạt và khắc phục hậu quả lâu dài, thậm chí chưa kịp khắc phục thì phải nhận chịu tiếp những trận xả lũ của năm tới có vẻ như đang hiện rõ dần trước mắt người nông dân Ba Đồn, Quảng Bình. Vì hiện tại, chỉ còn ngót nghét hai mươi ngày nữa đã là Tết, mà mọi chuyện vẫn còn dang dở. Nhiều gia đình vẫn chưa khắc phục hết hậu quả lũ lụt, nhiều ngôi nhà bị sập vẫn chưa xây dựng lại được vì không có tiền.
Trâu bò thì thiệt hại vì cỏ không có, rơm bị lụt ngấm nó thối nên không có cho trâu bò ăn, bệnh tật cũng nhiều. Hiện nay chỉ lo cặm cụi mùa màng chứ chưa ai dám nghĩ tới Tết cả!
- Một nông dân Quảng Bình
Mọi năm, hiện nay bà con nông dân trồng rau, củ, quả đã chuẩn bị thu hoạch vụ Tết, thậm chí đang thu hoạch vụ Tết sớm để bán ra các tỉnh phía Bắc nhưng năm nay thì mọi chuyện ngược lại. Rau củ quả từ phía Bắc đưa vào bán cho người dân miền Trung với giá cao ngất, một bó rau muống có giá 15 ngàn đồng, tương đương với 1,5 ký gạo hạng ngon. Và các loại củ quả cũng đắt tỉ lệ, có nhiều loại rau muống mua được một bó phải tốn đến 3 ký gạo. Nhưng đáng sợ nhất là hầu hết nguồn rau đều nhập từ Trung Quốc.
Bởi với kinh nghiệm lâu năm của một nông dân chuyên trồng rau, ông Vĩnh dễ dàng nhận ra đâu là rau Trung Quốc, đâu là rau trồng trên cánh đồng Việt Nam. Điểm dễ nhận biết nhất là rau củ quả Trung Quốc được bơm thuốc bảo dưỡng nên để rất lâu vẫn không hư hỏng. Rau do nông dân Việt Nam trồng không có đặc tính này, chỉ cần để qua hai ngày thì hoặc là khô héo, hoặc là úng nhũn.
Hơn nữa, Tết sắp về, người nông dân vừa không có nguồn thu nhập, mùa màng còn dang dở, vừa thiếu lương thực lại vừa phải còng lưng để mua thực phẩm độc hại của Trung Quốc. Mọi chuyện đều là mối nguy khó nói!

No comments:

Post a Comment