Tuesday, January 10, 2017

Bài viết hay(4391)

Sáng nay Bolsa nói về bài diễn văn từ biệt của ông Obama, bài viết của TS Nguyễn Xuân Nghĩa chê bai Obama và chuyện Trump đang làm cho TQ lo sợ muốn té đái trong quần vì chưa biết Trump chơi chiêu gì. Bolsa khen Trump quá giỏi khi tách Nga ra khỏi TQ để tập trung tỉa thằng Chệt xong mới tính sổ Putin. Tui hổng tin Trump là minh quân tài ba như vậy mà rõ ràng là Mỹ tập trung xoay trục qua châu Á với chủ trương cứng rắn hơn mà phe diều hâu muốn khẳng định sức mạnh của Mỹ là cường quốc số một. Thay vì phân tán khắp TG, Mỹ đang tập trung vào những mục tiêu cụ thể hơn. Trump chỉ là speaker cho chiến lược mới của Mỹ trên bàn cờ thế giới trong giai đoạn sắp tới sau khi Obama xong phim; chưa kể là phải sắp xếp lại nội bộ trong nhà khi mà Mỹ chia rẻ vì màu da, đảng phái và sẳn sàng giải quyết bất đồng bằng súng đạn thừa thải.

Vì sự phát triển một nền nông nghiệp Việt Nam an toàn và bền vững

Hiện nay, nhu cầu tối thiểu và rất cấp bách của con người nói chung và người Việt Nam nói riêng, đối với sản phẩm nông nghiệp, là an toàn và có thể truy xuất được nguồn gốc sản phẩm khi cần thiết (xảy ra sự cố).
An toàn trước hết cho người tiêu dùng, cho người sản xuất nông nghiệp và an toàn cho môi trường sống. Nhu cầu cao hơn là nông phẩm không chỉ an toàn mà còn phải ngon hơn theo khẩu vị của mỗi sắc tộc, cộng đồng người, thậm chí từng cá thể người. Đó là nền nông nghiệp hữu cơ.
Lưu ý là nông nghiệp sạch mới chỉ có nghĩa bảo đảm tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm cho người tiêu dùng (food safety), chưa bao hàm nội dung tiêu chuẩn an toàn cho người sản xuất và cho môi trường sống.
Và đương nhiên, nền nông nghiệp an toàn hiểu theo nghĩa nói trên sẽ là cơ sở để có một nền nông nghiệp phát triển bền vững. Mặt khác, trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng với các hiệp ước thương mại tự do thế hệ mới (FTA), mà trước tiên là hiệp định thương mại tự do của cộng đồng kinh tế các nước ASEAN đã có hiệu lực từ ngày 01/01/2016, nền nông nghiệp VN còn phải đáp ứng tiêu chuẩn an toàn của thị trường khó tính, như EU, Nhật Bản, Bắc Mỹ. Theo đó, mỗi thị trường này có những tiêu chuẩn khác nhau, được coi là những hàng rào kỹ thuật khắt khe đối với nông sản nhập khẩu từ các nước như Việt Nam. Nếu không, nông sản Việt Nam sẽ không thể xuất khẩu mang lại giá trị gia tăng cao mà thậm chí còn có thể “thua ngay trên sân nhà”. Riêng đối với Việt Nam, do diện tích đất nông nghiệp bình quân đầu người vào loại thấp nhất thế giới (khoảng 0,8ha/hộ nông dân; 0,3 ha/ 1 hộ nông dân đồng bằng sông Hồng), nên chỉ tiêu hiệu quả kinh tế - xã hội quan trọng nhất là doanh thu và thu nhập tính trên 1 ha đất nông nghiệp, chứ không phải tính trên 1 đồng vốn đầu tư hay trên 1 người lao động nông nghiệp như các nước có nhiều ruộng đất (Canada, Mỹ, Australia, New Zealand…). Do vậy, nhu cầu phát triển nền nông nghiệp an toàn phù hợp với các hiệp ước thương mại tự do thế hệ mới lại càng trở nên cấp bách hơn. Lưu ý là xây dựng một nền nông nghiệp an toàn, không phải chỉ là nền nông nghiệp sạch, càng không phải chỉ là xây dựng các khu nông nghiệp an toàn.

1. Phương hướng phát triển
Trên tầm quản lí vĩ mô, Việt Nam phải hoạch định chiến lược phát triển nông sản quốc gia cho mỗi vùng nông nghiệp sinh thái có định hướng phân khúc thị trường rõ rệt. Trên cơ sở đó, quy hoạch xây dựng cơ sở vật chất và xác định các giải pháp kinh tế - kỹ thuật cho mỗi vùng nông nghiệp sinh thái.
Một vài gợi ý cụ thể như sau:
Ø Vùng núi và trung du phía Bắc (cả Đông Bắc và Tây Bắc) và Tây Nguyên do có khí hậu khắc nghiệt, nên đã sinh ra những sinh vật (trước hết là cây) có dược tính cao. Các sắc tộc ít người sinh sống lâu đời ở đây đã có những bài thuốc theo y học cổ truyền rất đáng quý. Vì vậy, chiến lược sản xuất ở vùng này là khôi phục và phát triển các cây và con làm thuốc và thực phẩm chức năng bằng nền nông nghiệp hữu cơ, đầu tư công nghệ chế biến dược phẩm hiện đại, theo các bài thuốc cổ truyền sẵn có. Chỉ có sản xuất theo kỹ thuật hữu cơ thì các sinh vật (cây và con) mới có dược tính cao. Thị trường trong và ngoài nước đối với dược phẩm và thực phẩm chức năng được chế biến từ nông sản hữu cơ là rộng lớn, mang lại giá trị gia tăng rất cao, có thể làm thay đổi căn bản đời sống kinh tế - xã hội của các sắc tộc thiểu số ở vùng này.
Ø Vùng đồng bằng sông Hồng có thể sản xuất rau, củ, quả muà đông theo tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm Nhật Bản để xuất cho các nước vùng Đông Bắc Á, nơi có mùa đông giá lạnh kéo dài. Công nghệ cao trong chế biến, bảo quản rau quả cần được áp dụng để nâng cao giá trị gia tăng và khả năng thâm nhập thị trường Nhật Bản và các nước khác ở Đông Bắc Á. Nhờ đó, tuy với mức bình quân ruộng đất quá thấp, nông dân vùng đồng bằng sông Hồng vẫn có thể làm giàu nhờ phát triển nông sản hướng ra xuất khẩu cho vùng Nhật Bản và các nước khác ở Đông Bắc Á.
Ø Ở tất cả các vùng nông nghiệp sinh thái, đều có các giống cây, con mang gene bản địa, như gà Đông Tảo, H’mông, khoai sọ Lệ Phố, nếp Tú Lệ, nếp Cái Hoa Vàng, gạo Di Hương, bưởi Da Xanh, Năm Roi… Nếu được phục tráng giống và sản xuất theo kỹ thuật hữu cơ, các loại nông sản này có thể phục vụ phân khúc thị trường của những người có thu nhập cao hiện nay.
Ø Sản xuất lúa gạo, thủy sản, trái cây là lợi thế của đồng bằng sông Cửu Long.
Nhưng nếu không xuất khẩu được thì sẽ dư thừa, buộc phải bán với giá quá rẻ như gạo đang xuất cho Philippines hiện nay. Điều này dẫn đến càng sản xuất và xuất khẩu, đời sống của nông dân càng khó khăn và môi trường sinh thái càng xuống cấp. Do vậy, phải định hướng thị trường trong và ngoài nước rõ ràng và sản xuất phải đáp ứng tiêu chuẩn an toàn của các nước nhập khẩu nông sản, trước hết là các nước ASEAN. Nếu không, dân trung lưu VN sẽ ăn gạo Campuchia hay Thái Lan, còn dân Philippines ăn gạo Việt Nam với giá rẻ hơn giá gạo loại trung bình ở thị trường Việt Nam (điều này đã và đang diễn ra).
Ø Các loại nông sản khác như café, hồ tiêu, cao su, hạt điều ở các vùng Tây Nguyên, Đông Nam Bộ cũng vậy. Là sản phẩm xuất khẩu chiến lược quốc gia, nên chúng cần được sản xuất theo các tiêu chuẩn của thị trường các nước phát triển, từ khâu canh tác đển chế biến, bảo quản, phân phối đến nước nhập khẩu và người tiêu dùng.
Ø Các loại nông sản chủ yếu tiêu dùng nội địa ở phân khúc thị trường khách hàng bình dân cũng cần phải đảm bảo tiêu chuẩn an toàn như VietGap hay GlobalGap. Đó là yêu cầu tối thiểu.
Nếu nhà chức trách chỉ quan tâm và xác nhận một số vùng sản xuất nông nghiệp và cửa hàng bán nông sản an toàn thì có nghĩa là đồng thời thừa nhận phần lớn các vùng sản xuất nông nghiệp ở nước ta hiện nay là không an toàn và được tồn tại một cách hợp pháp. Tuy nhiên, không hy vọng xây dựng được nền nông nghiệp an toàn trong thời gian ngắn, và phải trải qua một lộ trình, từ sản xuất theo tiêu chuẩn VietGap, tiến tới GlobalGap, để rồi đạt tiêu chuẩn an toàn của các nước phát triển. Nhưng đối với cây con làm thuốc và thực phẩm chức năng, phải áp dụng ngay kỹ thuật sản xuất hữu cơ, các nông sản xuất khẩu chủ lực sang các nước phát triển cũng phải sản xuất theo tiêu chuẩn an toàn của các thị trường này.
2. Giải pháp
Để có một nền nông nghiệp an toàn và hiệu quả cao như nêu trên, cần phải xây dựng lại, tạo ra các yếu tố cấu thành mới của một hệ thống mới hoàn toàn, chứ không phải là tái cấu trúc. Bởi vì, tái cấu trúc chỉ là sự sắp xếp lại các yếu tố hiện hữu cấu thành hệ thống nông nghiệp một cách hợp lý hơn, để có thể nâng cao hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường. Điều này chỉ có thể thực hiện được khi và chỉ khi các yếu tố cấu thành hiện hữu của nền nông nghiệp còn “dư địa” phát triển. Nhưng theo tôi, hiện nay, các yếu tố đang cấu thành nền nông nghiệp Việt Nam đã đạt đến ngưỡng cực đại. Vì thế phải tạo ra các yếu tố cấu thành mới về chất để tạo ra nền nông nghiệp an toàn và đạt hiệu quả cao cả kinh tế, xã hội và môi trường, nhờ ứng dụng công nghệ cao trong tất cả các khâu của chuỗi giá trị sản xuất nông nghiệp từ trang trại đến bàn đến bàn ăn đối với từng mặt hàng nông sản ở mỗi vùng nông nghiệp sinh thái.
2.1. Quản trị sản xuất theo chuỗi giá trị ngành hàng nông sản
Có nhiều chủ thể tham gia chuỗi giá trị này, nhưng hai chủ thể quan trọng nhất là nhà nông (sản xuất nông phẩm trong các khâu mang tính sinh học), nhà doanh nghiệp thực hiện các khâu chế biến, bảo quản, tiêu thụ nông sản trên thị trường trong và ngoài nước, trực tiếp hay gián tiếp (liên kết với bên thứ 3) cung ứng dịch vụ đầu vào (giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thú y, khuyến nông…) bảo đảm chất lượng, đủ số lượng, kịp thời cho nhà nông.
Nhà nông với tư cách là chủ thể trang trại gia đình thực hiện các khâu sản xuất mang tính sinh học luôn là lực lượng chủ yếu sản xuất nông sản hàng hóa cho xã hội, ngay cả ở những nước phát triển như Mỹ, Pháp, Canada, Nhật… Muốn đạt các tiêu chuẩn sản xuất an toàn, từ đơn giản như VietGap, rồi GlobalGap, đến các tiêu chuẩn sản xuất an toàn cao của các nước phát triển nhất, hay của nền nông nghiệp hữu cơ, phải tạo dựng được các trang trại gia đình qui mô lớn để có thể ứng dụng công nghệ cao, thông qua tiến trình tích tụ và tập trung ruộng đất theo cơ chế thị trường. Để quản lý các trang trại này lại cần có những nông dân chuyên nghiệp, một tầng lớp “thanh nông tri điền” được đào tạo căn bản, thay thế cho nông dân “cha truyền con nối”, “lão nông” rồi mới “tri điền”.
Nhà doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ nông sản trên thị trường trong và ngoài nước bằng công nghệ cao phải là người lãnh đạo, là “nhạc trưởng” của mỗi chuỗi giá trị ngành hàng nông sản ở mỗi vùng nông nghiệp sinh thái. Bởi vì có 3 vấn đề của kinh doanh nông sản mà chỉ có nhà doanh nghiệp mới giải quyết được là: (i) thị trường và thương hiệu, (ii) công nghệ sản xuất, (iii) vốn kinh doanh (từng nhà nông không bao giờ tự giải quyết được 3 vấn đề này). Bởi vì doanh nghiệp có trách nhiệm, khả năng nắm bắt được nhu cầu của từng thị trường cụ thể đối, với từng loại nông sản, trước hết là về tiêu chuẩn sản xuất an toàn. Trên cơ sở đó, nhà doanh nghiệp “đặt hàng” sản xuất nông sản nguyên liệu với nhà nông, đầu tư xây dựng cơ sở chế biến, bảo quản, phân phối nông sản bằng công nghệ cao, cung cấp (trực tiếp, hay gián tiếp bằng cách liên kết với các đơn vị khác) các dịch vụ đầu vào cho nhà nông để bảo đảm sản xuất theo tiêu chuẩn an toàn của thị trường tiêu thụ, như giống (chủng loại, số lượng, chất lượng), các loại vật tư nông nghiệp, khuyến nông hướng dẫn cho nông dân kỹ thuật sản xuất an toàn theo đặc điểm của mỗi loại giống và phù hợp với yêu cầu của công nghệ chế biến và thị trường tiêu thụ; tạm ứng vốn cho nhà nông dưới hình thức cung ứng dịch vụ đầu vào trả sau, khi thu hoạch nông sản, ký kết hợp đồng tiêu thụ nông sản với các donah nghiệp bán buôn, bán lẻ trên thị trường trong và ngoài nước. Nhờ quản lý chuỗi giá trị nông sản chặt chẽ như vậy, doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ nông sản mới dần tạo dựng được thương hiệu nông sản Việt Nam trên thương trường.
Nhà nông tuy có quyền tự chủ sản xuất trong các khâu mang tính sinh học, nhưng trong chuỗi giá trị, họ trở thành người sản xuất gia công, cung ứng nguyên liệu nông sản cho doanh nghiệp chế biến.
Mặt khác, nhà doanh nghiệp và nhà nông phải thỏa thuận cơ chế phân phối lợi ích theo nguyên tắc “2 bên cùng thắng”. Giá bán nông sản của nhà nông cho nhà doanh nghiệp chế biến phản ánh sự phân chia lợi ích và rủi ro giữa 2 bên. Nhà nông chịu rủi ro và hưởng lợi ích từ các khâu sản xuất mang tính sinh học. Còn nhà doanh nghiệp chế biến hưởng lợi ích và rủi ro trong khâu chế biến và tiêu thụ nông sản. Giá này không phải là giá giao sau trên thị trường kỳ hạn hay giá giao ngay (thời giá), càng không phải là giá cả hình thành theo cơ chế “nước lên, thuyền lên”. Giá này được ấn định bằng hợp đồng ở đầu vụ sản xuất hay trước vài vụ sản xuất, tùy từng trường hợp.
Hợp tác xã trong nông nghiệp cũng có vai trò ngày càng quan trọng trong chuỗi giá trị ngành hàng. Trong gian đoạn đầu, hợp tác xã là khâu trung gian kết nối giữa nhà doanh nghiệp và nhà nông, nhất là với nhà nông có qui mô sản xuất nhỏ lẻ, thực hiện các dịch vụ đầu vào – ra của sản xuất nông nghiệp. Khi lớn mạnh, nhất là khi các thành viên của hợp tác xã phần lớn là các chủ trang trại gia đình có qui mô lớn, hợp tác xã sẽ có đủ khả năng thực hiện khâu chế biến và tiêu thụ nông sản cho nhà nông. Lúc đó, hợp tác xã trở thành đối thủ cạnh tranh hay đối tác có khả năng mặc cả với doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ nông sản. Nhờ đó, lợi ích của nhà nông sẽ gia tăng đáng kể.
Quản lý theo chuỗi giá trị ngành hàng nông sản phải là yếu tố mới về chất cấu trúc nên nền nông nghiệp an toàn, ứng dụng công nghệ cao và đạt hiệu quả cao cả về kinh tế, xã hội và môi trường.
2.2. Hình thành và phát triển thị trường đất nông nghiệp đích thực
Tiến trình tích tụ và tập trung ruộng đất nông nghiệp theo cơ chế thị trường để tạo dựng các trang trại sản xuất hàng hóa qui mô lớn chỉ có thể diễn ra lành mạnh khi có thị trường ruộng đất đích thực. Muốn thế phải tạo dựng 3 yếu tố: nguồn cung, nguồn cầu và khung pháp lý của hoạt động mua bán, cho thuê quyền sử dụng đất nông nghiệp.
Nguồn cung ruộng đất chỉ có thể hình thành khi phần lớn nông dân đã trở thành thị dân, an cư lạc nghiệp ở các khu đô thị văn minh. Khi đó, họ mới sẵn lòng bán hoặc cho thuê lâu dài đất nông nghiệp ở quê nhà. Trên thực tế, các khu công nghiệp được hình thành và phát triển trong hơn 30 năm qua mới chỉ tạo ra việc làm có mức thu nhập thấp. Các ngành công nghiệp lắp ráp, gia công mang lại giá trị gia tăng thấp, chỉ cần sử dụng sức lao động giản đơn, thời gian đào tạo ngắn. Do đó, người lao động có thu nhập thấp, không đủ sống, buộc phải làm thêm giờ, tăng ca. Sức lao động của họ bị vắt kiệt, ở độ tuổi từ 30 – 40 đã bị giới chủ sa thải, đành phải trở về quê chia lại phần việc và ruộng đất vốn đã quá ít ỏi. Mặt khác, bên cạnh khu công nghiệp, không có khu dân sinh, với các khu nhà ở xã hội, nhà trẻ, trường học, bệnh viện, chợ cũng như các tiện ích công cộng khác của một đô thị văn minh (điện, nước, đường giao thông, internet…), tức là không có những cơ sở vật chất tối thiểu của đô thị. Khi có con, họ phải gửi chúng về cho ông bà ở quê nuôi dạy và học “đúng tuyến”. Còn các gia đình công nhân trở thành công dân hạng 2, sống trong các khu nhà ổ chuột. Do đó, rời bỏ đồng ruộng, người nông dân không thực sự trở thành thị dân. Vì thế, nguồn cung đất nông nghiệp không thể hình thành và phát triển. Do vậy, cần thay đổi căn bản chiến lược phát triển công nghiệp và đô thị ở mỗi vùng kinh tế sinh thái để biến đại bộ phận nông dân thành thị dân văn minh. Chỉ có như vậy, nguồn cung cho thị trường đất nông nghiệp mới có thể hình thành và phát triển.
Nguồn cầu trên thị trường đất nông nghiệp chỉ hình thành và phát triển khi có một đội ngũ nông dân chuyên nghiệp, biết kinh doanh nông nghiệp, đủ khả năng quản trị các trang trại gia đình có qui mô lớn, ứng dụng công nghệ cao, biết liên kết với nhau để xây dựng và quản lý hợp tác xã của mình (liên kết ngang) và liên kết với các doanh nghiệp nghiệp (liên kết dọc) theo cấu trúc chuỗi giá trị ngang hàng như nêu trên. Muốn vậy, phải có chính sách đầu tư đào tạo miễn phí con em nông dân trở thành tầng lớp “thanh nông tri điền”, những nông dân chuyên nghiệp.
Khác với ngành công nghiệp và dịch vụ, đối tượng sản xuất trong nông nghiệp là sinh vật (cây, con). Vì thế trong nông nghiệp, sản xuất theo “nhất thì, nhì thục” phải được tôn trọng nghiêm ngặt, nhất là trong điều kiện ứng dụng công nghệ cao, tuân thủ triệt để các tiêu chuẩn sản xuất an toàn như đã nêu ở trên. Do vậy, chỉ có những trang trại gia đình mới có thể thực hiện được điều này. Do lợi ích của cả gia đình đều gắn bó trực tiếp với kết quả cuối cùng của quá trình sản xuất mang tính sinh học diễn ra trên từng thửa ruộng, vườn cây, chuồng nuôi gia súc, gia cầm, ao nuôi trồng thủy sản… nên họ có trách nhiệm cao trong việc thực hiện “nhất thì, nhì thục”, theo tiêu chuẩn của nền nông nghiệp an toàn hay nông nghiệp hữu cơ. Mặt khác, muốn có khả năng thực hiện “nhất thì, nhì thục”, qui mô của trang trại gia đình được giới hạn trong phạm vi tầm hạn quản trị của họ như một tất yếu kinh tế. Do đó qui mô tích tụ và tập trung ruộng đất, đầu gia súc, gia cầm chỉ gia tăng nhờ cơ giới hóa, tự động hóa và tin học hóa trong sản xuất và quản trị, chứ không thể nhờ yếu tố kéo dài chuỗi quản trị với nhiều cấp trung gian bằng cách thuê người lao động quản lý như trong công nghiệp, dịch vụ.
Trang trại là một đơn vị kinh doanh nông nghiệp tự chủ, chủ yếu thực hiện các khâu sản xuất mang tính sinh học, theo cơ chế kinh tế thị trường. Tích tụ ruộng đất là sự gia tăng qui mô canh tác của trang trại bằng cách trang trại dùng vốn tích lũy được hay đi vay để mua hay thuê quyền sử dụng đất (theo luật Việt Nam). Còn tập trung ruộng đất là sự gia tăng qui mô canh tác của trang trại bằng cách sáp nhập vài trang trại nhỏ thành một trang trại lớn, một cách tự nguyện theo cơ chế thị trường.
Doanh nghiệp chế biến nông sản cũng có thể mua hay thuê lâu dài ruộng đất để tổ chức sản xuất nhằm chủ động nguồn cung nông sản nguyên liệu cho nhà máy chế biến và thực hiện các tiêu chuẩn sản xuất an toàn. Tuy nhiên, để có hiệu quả, các khâu sản xuất nông nghiệp mang tính sinh học vẫn phải được doanh nghiệp giao khoán cho các hộ nông dân, tạo ra các trang trại gia đình dự phần (affiliated farm household). Còn doanh nghiệp chỉ đóng vai trò lãnh đạo chuỗi giá trị, cung ứng dịch vụ đầu vào – đầu ra cho các trang trại như nêu ở trên.
Để cung – cầu về ruộng đất gặp nhau theo cơ chế thị trường, “thuận mua, vừa bán”, phải xây dựng khung pháp lý cho việc mua bán, cho thuê đất nông nghiệp. Theo đó, quyền sử dụng đất nói chung và đất nông nghiệp nói riêng, phải là quyền tài sản, là hàng hóa được tự do mua bán, cho thuê theo luật định. Vì thế, để có thị trường đất đai đích thực, luật pháp phải hủy bỏ ngay quyền của các cơ quan nhà nước trong việc thu hồi quyền sử dụng đất, đền bù giá trị quyền sử dụng đất theo khung giá do cấp chính quyền quy định như hiện nay. Và vì thế, luật qui định về hạn điền đối với nông hộ trở nên không cần thiết.
Trên thực tế, người nông dân không bao giờ tích tụ ruộng đất quá khả năng quản lý của mình. Hơn nữa đối với tổ chức (doanh nghiệp), luật lại không qui định hạn điền, nên nhiều nông hộ đã thành lập công ty TNHH một thành viên để tích tụ và tập trung ruộng đất theo khả năng của mình. Còn trong công nghiệp, việc tích tụ, tập trung đất không có giới hạn và việc mua bán, cho thuê quyền sử dụng đất đương nhiên được thực hiện theo cơ chế thị trường.
Thị trường đất nông nghiệp đích thực được hình thành phát triển là một yếu tố mới cấu trúc nên nền nông nghiệp an toàn.
2.3. Chính sách vĩ mô
Để thúc đẩy nhanh sự phát triển của mô hình quản trị theo chuỗi giá trị ngành hàng nông sản và thị trường đất nông nghiệp như nêu trên, cần sự tác động mạnh của các chính sách vĩ mô, đặc biệt là chính sách tài chính – tín dụng. Sau đây là một vài gợi ý.
· Không thu thuế thu nhập doanh nghiệp và tài trợ kinh phí khuyến nông cho các doanh nghiệp đóng vai trò “nhạc trưởng” trong chuỗi giá trị ngành hàng nông sản trong 3 năm đầu.
· Tài trợ kinh phí (trong 2 – 3 năm) cấp giấy chứng nhận cho các doanh nghiệp, hợp tác xã, trang trại thực hiện sản xuất nông nghiệp an toàn theo tiêu chuẩn VietGap hay GlobalGap, đặc biệt là nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp an toàn theo tiêu chuẩn của các thị trưởng khó tính (như Nhật, EU, Bắc Mỹ, Australia…),
· Tài trợ 50% lãi suất tín dụng bằng vốn của ngân hàng phát triển cho các dự án ứng dụng công nghệ cao, thực hiện nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp an toàn theo tiêu chuẩn của các thị trường khó tính.
· Tài trợ kinh phí nghiên cứu và triển khai (RSD) cho các đề tài ứng dụng công nghệ cao theo các tiêu chuẩn nông nghiệp an toàn cho các cá nhân và tổ chức thực hiện (có thu hồi vốn và không tính lãi)
· Không đánh thuế chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp trong quá trình tích tụ, tập trung đất nông nghiệp, không đánh thuế chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp thành đất xây dựng cơ sở chế biến nông sản ứng dụng công nghệ cao, xây dựng các cơ sở tiện ích công cộng đô thị (nhà ở xã hội, nhà trẻ, trường học, bệnh viện, đường giao thông…) phục vụ cho đời sống của công nhân ở các khu công nghiệp, thu hút, sử dụng lâu dài sức lao động nông nghiệp dôi dư.
· Chính sách tài trợ phải đi đôi với việc lập kế hoạch tài khóa hàng năm và 5 năm để bảo đảm tính khả thi về mặt tài chính.
· Đánh giá lại việc thực hiện các chính sách hiện có, trước hết là Nghị định 210CP ngày 19/12/2013 về ưu đãi doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, loại bỏ những điều bất hợp lý trong Nghị định số 109CP ngày 04/11/2010 về điều kiện xuất khẩu gạo; xây dựng lại hệ thống chính sách đồng bộ, phù hợp với bối ảnh hội nhập kinh tế quốc tế và với yêu cầu của việc xây dựng lại nền nông nghiệp theo tiêu chuẩn an toàn, phát triển bền vững, hiệu quả cao cả về kinh tế, xã hội và môi trường, theo cơ chế thị trường.
Nội dung của việc phát triển nền nông nghiệp an toàn, bền vững, hiệu quả cao, chính là nội dung quan trọng nhất của tiến trình xây dựng nông thôn mới (không phải là 2 khái niệm đồng đẳng như báo chí thường nói là kết hợp 2 nội dung trên). Phấn đấu vì sự nghiệp phát triển nông nghiệp Việt Nam an toàn (không phải chỉ là nông nghiệp sạch như báo chí thường nêu) phải là ưu tiên hàng đầu trong chiến lược phát triển đất nước hiện nay.Vũ Trọng Khải,Chuyên gia độc lập về kinh tế nông nghiệp và PTNT

GS Đặng Hùng Võ: Quy hoạch theo chiều hướng lợi ích của nhà đầu tư hơn là vì lợi ích chung


clip_image001
Chỉ 5ha nhưng có tới 12 chung cư cao tầng tại Linh Đàm
Quy hoạch đô thị thiếu khoa học đang được nhắc đến như một trong những lý do chính để giải thích cho hàng loạt vấn đề của đô thị hiện nay. Cái “giá rất đắt” mà các nhà quản lý cũng như các chuyên gia nói tới thực ra đã ngay trước mắt.

Linh Đàm "thất thủ"
Tại hội nghị tổng kết công tác của Bộ Xây dựng ngày 6.1, ông Trần Trọng Tuấn, Giám đốc Sở Xây dựng TP. HCM cho rằng, tình trạng gia tăng ùn tắc giao thông tại hai thành phố Hà Nội và TP. HCM hiện nay có một phần nguyên nhân do việc phát triển ồ ạt các khu nhà ở, chung cư cao tầng trong khi chưa có chương trình phát triển hạ tầng giao thông tương xứng.
Đề cập cụ thể hơn về vấn đề quy hoạch, Bộ trưởng Bộ Xây dựng Phạm Hồng Hà nêu rõ, quy hoạch đô thị của Việt Nam vẫn còn những lỗ hổng, khiếm khuyết mà hiện chưa có công cụ quản lý kiểm soát chặt chẽ vấn đề này. Quy hoạch lần đầu thường được cơ quan quản lý, chuyên môn xem xét sát sao, kỹ lưỡng. Tuy nhiên, đến lúc điều chỉnh quy hoạch thì chỉ có một vài cơ quan, một nhóm cán bộ thực hiện nên chất lượng không đảm bảo.
"Như các khu đô thị ở khu vực bán đảo Linh Đàm ban đầu quy hoạch rất tốt, đúng kiểu mẫu, không khác gì các nước khác trên thế giới. Tuy nhiên, sau đó qua nhiều lần điều chỉnh thì hiện trạng bây giờ đã quá tải", Bộ trưởng Hà nói.
Bộ trưởng cũng chia sẻ, khi vào một toà chung cư cao tầng giá rẻ tại khu Linh Đàm, đi thang máy từ tầng 1 lên tầng 20 mất… 25 phút, khi xuống thì cũng mất 15 phút chen chúc. Đây là trách nhiệm của cơ quan quản lý. Chúng ta cần tiếp tục có những mô hình đổi mới về nhà ở xã hội, nhà ở cho người thu nhập thấp khác chứ không thể tiếp tục nhét dân vào những khu nhà như vậy.
clip_image005
12 chung cư của Tập đoàn Mường Thanh tại Linh Đàm (Hoàng Mai - Hà Nội) - Ảnh: Zing
Cũng lấy ví dụ về khu đô thị Linh Đàm, ông Trần Ngọc Chính, Chủ tịch Hội quy hoạch Phát triển đô thị Hà Nội cho biết, đây là một trong những dự án được coi là "kiểu mẫu" một thời nhưng đến nay bị băm nát bởi vì hàng loạt bất cập trong quy hoạch đô thị.
"Một khu đô thị từng được giải thưởng quốc gia về thiết kế kiểu mẫu nhưng vài năm trở lại đây cho một doanh nghiệp vào xây dựng nhà giá rẻ với 5 ha mà xây 12 tòa nhà cao tới 40 tầng. Vị lãnh đạo phường phải kêu với chúng tôi rằng chỉ tính riêng khu ấy dân đã đông hơn cả phường trước đây. Chúng ta không thể phát triển nhà giá rẻ bằng mọi giá. Ai cho phép ký quy hoạch này. Tôi cho rằng đây là một điều cần phải xem xét", ông Chính nói.
12 tòa nhà cao tầng trong phạm vi 5 ha là dự án của Tập đoàn Mường Thanh. Việc xây dựng các tòa nhà với mật độ quá dày đã khiến dư luận xôn xao và bày tỏ lo ngại từ nhiều năm nay. Ước tính số lượng dân cư tại các tòa nhà có thể bằng dân số của cả phường Hoàng Liệt (Q. Hoàng Mai), gây áp lực, quá tải lớn về hạ tầng.
Trao đổi với báo điện tử Một Thế Giới, GS Đặng Hùng Võ, nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường cho rằng quy hoạch của Hà Nội đang có rất nhiều vấn đề. Trong đó nổi cộm là việc điều chỉnh quy hoạch, gây nên chất tải không gian nhiều nơi quá nặng, hạ tầng không đáp ứng được cho số lượng dân cư tại đó.
“Quy hoạch đang phát triển theo chiều hướng vì lợi ích tư nhân và nhà đầu tư nhiều hơn là cho lợi ích chung, trong đó có việc xây dựng các chung cư quá lớn, quá cao tầng, làm tăng số lượng dân cư quá lớn so với hạ tầng”, GS Đặng Hùng Võ nhấn mạnh.
Chung cư cao tầng không phải nguyên nhân chính?
Chia sẻ với báo điện tử Một Thế Giới, ông Trương Xuân Danh, Phó tổng giám đốc Tập đoàn Mường Thanh cho rằng chung cư cao tầng không phải là nguyên nhân chính gây nên tình trạng tắc nghẽn giao thông.
“Chúng ta phải làm rõ hai việc, một là khái niệm, hai là vấn đề thực tiễn. Trước hết phải khẳng định chung cư cao tầng mọc lên hàng loạt không phải là nguyên nhân chính gây nên tình trạng tắc nghẽn giao thông. Cái đó thực tiễn trên các thành phố đông dân trên thế giới đã chứng minh rồi. Xu thế chung của các thành phố là trung tâm kinh tế, thương mại du lịch lớn đều mọc rất nhiều nhà cao tầng, nhưng họ vẫn không tắc đường như chúng ta” – ông Danh nói.
Thứ hai, theo ông Danh, nếu công bằng mà nói khu nội đô Hà Nội rất ít nhà cao tầng (trên 27 tầng theo quy hoạch). Chúng ta chỉ đếm đầu ngón tay, tòa cao nhất Lotte 65 tầng, tòa nhà điện lực EVN, tòa Ngân hàng BIDV, Vietcombank, chung cư chỉ có tòa Vincom Bà Triệu, tòa Golden Westlake (Tây Hồ) xấp xỉ hơn 30 tầng. Như thế là rất ít, vậy thì nguyên nhân tắc đường nằm ở chỗ khác.
“Doanh nghiệp là các đối tượng thụ động, bị điều chỉnh về mặt chính sách, nên nếu có biết trước cũng không đủ khả năng làm được điều gì” – ông Danh nhấn mạnh.
clip_image007
Ông Trương Xuân Danh, Phó tổng giám đốc Tập đoàn Mường Thanh - Ảnh: Tuổi trẻ
Theo ông Danh, nguyên nhân chính của tình trạng tắc nghẽn giao thông ngày càng trầm trọng là do không kiểm soát được lượng người nhập cư, dân số cơ học tại nội đô. Tức là không khống chế lượng người sống trong nội đô cân bằng tỉ lệ với hạ tầng tương ứng. Ví dụ bao nhiêu người dân thì tương ứng với một mét vuông đường giao thông, bao nhiêu người thì có một bệnh viện, một trường học. Việc này dẫn đến tình trạng mọi người đều đổ vào nội đô, nhưng hạ tầng, đặc biệt hạ tầng giao thông lại không đáp ứng được, dẫn đến quá tải, tắc nghẽn là chuyện đương nhiên.
Được đề nghị đưa ra một số giải pháp cho tình trạng tắc nghẽn giao thông, Phó tổng giám đốc của Tập đoàn Mường Thanh cũng chia sẻ rằng, thực ra các nhà quản lý không phải là không nhìn thấy điều này và họ đã có nhiều giải pháp.
Đó là đưa các trường học, bệnh viện, các cơ sở dịch vụ… quá tải ra khỏi nội đô, để từ đó kéo một lượng người trong nội đô ra ngoài thành phố, giảm tải áp lực giao thông. Nhưng đến nay giải pháp này đang trong quá trình thực hiện nên chưa có kết quả.
Giải pháp thứ hai, theo ông Danh là hạn chế phương tiện giao thông cá nhân, tăng các phương tiện công cộng. Giải pháp này cũng đang trong quá trình thực hiện. Nếu thực hiện được thì tình trạng tắc nghẽn giao thông nội đô sẽ được cải thiện dần.
Công sở, trường học chưa đi, chung cư đã tới
"Tại 2 thành phố lớn là Hà Nội và TP. HCM, bệnh viện, trường học không những không được di dời ra khỏi trung tâm mà còn tiến hành xây dựng nhiều thêm, rồi tăng khối, tăng tầng, tăng giường bệnh... cho nhu cầu trước mắt. Còn những cơ sở được di dời thì nhà đầu tư đã nhanh tay xây dựng ngay lập tức các cơ sở khác với mức độ cao hơn, dày hơn".
Ông Trần Ngọc Chính, Chủ tịch Hội Quy hoạch và phát triển đô thị Hà Nội
"Hiện nay đang thiếu một cơ chế đặc thù cho các đô thị vệ tinh để có thể thu hút các trường học, bệnh viện, công sở, nhà đầu tư… vào đó. Muốn trường học, bệnh viện di dời ra đô thị vệ tinh thì phải có những cơ chế đặc thù, khuyến khích họ thì họ mới có thể đi. Cùng với đó, phải có được mạng lưới hạ tầng kỹ thuật để kết nối đô thị vệ tình với đô thị trung tâm, đặc biệt là hạ tầng giao thông".
KTS Đào Ngọc Nghiêm, Phó chủ tịch Hội Quy hoạch và phát triển đô thị Hà Nội
"Cần kiện toàn lại quy định của pháp luật về quy hoạch, thay đổi tư duy trong làm quy hoạch, nhất là vấn đề điều chỉnh quy hoạch phải rất chặt chẽ. Chỉ nên chấp nhận điều chỉnh quy hoạch trong những trường hợp có thay đổi lớn về chủ trương phát triển, có những đột biến, những trường hợp bất khả kháng về mặt thiên tai địch họa".
GS Đặng Hùng Võ, nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trườngTrí Lâm

Trump lên tiếng, Trung Quốc rút lui

Chính quyền Bắc Kinh hiện đang đau đầu tìm giải pháp đối phó với vị tổng thống mới đắc cử của Hoa Kỳ, cũng như cách ăn nói mạnh miệng của ông.
Kể từ sau khi Donald Trump đắc cử tổng thống, quan chức ngoại giao Bắc Kinh vẫn giữ im lặng tuyệt đối, mặc dù ông này đã đưa ra cảnh báo rằng chính phủ của ông sẽ theo đuổi chính sách gây bất lợi cho Trung Quốc.
Một số người nghĩ lãnh đạo Trung Quốc đang chờ thời cơ phản công lại nhưng có nhiều dấu hiệu cho thấy phía Trung Quốc đã bị Trump phục kích và vẫn chưa tìm ra cách đối phó. Hồi tháng trước, sau khi Trump nhận điện thoại chúc mừng từ tổng thống Đài Loan Tsai Ingwen, biên tập viên Erin Burnett của CNN đã phát biểu, “Chưa có ai dám đối đáp với Trung Quốc theo kiểu đó. Và Trung Quốc vẫn chưa nghĩ ra bất cứ kế sách nào để giải quyết chuyện này.”
Trước đây các lãnh đạo Trung Quốc đã có kế sách rất thành công. Đầu tiên, họ cứ để các ứng viên tổng thống Mỹ chửi bới Trung Quốc thỏa thích, sau đó họ sẽ thách thức trở lại trong vài tháng đầu nhiệm kỳ của vị tổng thống đó, khiến các vị tổng thống này không kịp trở tay và phải giữ mối quan hệ hòa hữu suốt thời gian còn lại của nhiệm kỳ.
Ví dụ, tổng thống George W. Bush đã rơi vào khủng hoảng vào tháng Tư năm 2001 khi một chiếc máy bay quân sự Trung Quốc va chạm với máy bay trinh thám EP-3 của Hải quân Hoa Kỳ trên không phận vùng biển Đông. Ngay sau đó, chính quyền Bắc Kinh đã bắt giam 24 phi công trong 11 ngày, yêu cầu Hoa Kỳ phải công khai xin lỗi và bồi thường. Thậm chí, Trung Quốc còn sỉ nhục Hoa Kỳ bằng cách tách thiết bị điện tử nhạy cảm trong chiếc máy bay đó ra và bắt buộc Hoa Kỳ phải phá hủy nó.
Chính quyền Bắc Kinh đã tiếp tục sử dụng thành công kế sách này khi tấn công vào hai tàu thăm dò của hải quân Hoa Kỳ là Impeccable và Victorious, tại vùng biển Đông và biển Vàng vào đầu tháng Ba. Việc Trung Quốc cố tình cắt rời bộ cảm biến thủy âm của tàu Impeccable nghiêm trọng đến mức đây được xem là hành động khiêu chiến với Hoa Kỳ chứ không đơn giản là tấn công tàu bè đơn thuần.
Tổng thống Bush và Obama đều đưa ra những giải pháp sai lầm khi cố gắng giảm thiểu tối đa các hành động của Trung Quốc. Hai vị tổng thống này tránh đối đầu thêm với chính quyền Bắc Kinh và trong suốt nhiệm kỳ của mình, họ hành động như thể họ đang bị đe dọa vậy. Suốt thời gian đó, Trung Quốc liên tục phá họa hòa bình và ổn định trong khu vực trong khi Hoa Kỳ không hề đưa ra bất cứ lệnh trừng phạt nào cho hành vi đó.
Với tư cách là tổng thống mới đắc cử, Trump không để cho Trung Quốc có cơ hội thách thức mình. Vào ngày 2 tháng Mười Hai vừa qua, Trump đã thể hiện điều đó qua cuộc điện đàm từ tổng thống Đài Loan Tsai.
Trump thậm chí còn tấn công Trung Quốc trước cả khi tuyên thệ nhậm chức. Cuộc đối thoại với tổng thống Đài Loan không hề ngẫu nhiên nhưng kết quả lại có lợi cho cả đôi bên.
Trong khi nhiều người chỉ ra rằng, cuộc gọi đó đã phá hủy chính sách suốt hơn 4 thập kỷ qua của Trung Quốc thì Trump lại nói rằng ông nhận thức rõ tầm quan trọng của những lời mình đã nói. “Tôi hoàn toàn hiểu chính sách một-đất-nước-duy-nhất của Trung Quốc nhưng cái tôi không hiểu ở đây là tại sao chúng lại bị ràng buộc bởi chính sách đó.”
Phần thú vị nhất trong chuỗi sự kiện này chính là phản ứng của Trung Quốc, hay chính xác hơn là hai hành động thiếu nhất quán từ phía Trung Quốc. Đầu tiên, vào ngày 10 tháng Mười Hai vừa qua, không lực Trung Quốc đã bay vòng vòng quanh Đài Loan. Đó là lần thứ hai trong vòng hai tuần không lực Trung Quốc bay tại đây, lần đầu tiên là để cảnh cáo tổng thống Tsai không được gọi cho Trump. Sau đó, vào tháng trước, tàu sân bay duy nhất của Trung Quốc, Liêu Ninh, cùng năm tàu hộ tống khác đã đi từ Thanh Đảo đến Hải Nam, ở phía đông của đảo Đài Loan.
Hơn nữa, nhiều người cho rằng, việc Trung Quốc chiếm tầu thăm dò không người lái của Hải quân Hoa Kỳ vào tháng trước tại hải phận quốc tế của biển Đông chính là lời đáp trả cho cuộc gọi của tổng thống Tsai. Sau đó Trump đã viết trên Twitter rằng Trung Quốc có thể giữ luôn chiếc tàu thăm dò đó cũng được. Gợi ý kỳ lạ này của Trump gần như chắc chắn là một nỗ lực để làm lá bài bắt giữ tàu thăm dò của Trung Quốc mất tác dụng.
Những hành động khiêu khích của quân đội Trung Quốc, vốn là một phần trong chính sách đối ngoại vài năm gần đây, đã bị phản ứng từ các lãnh đạo nước này làm cho suy yếu. Mới đây, Trump vẫn không tiếc lời nhiếc móc Trung Quốc trên mạng Twitter, trong khi tờ South China Morning Post lại chỉ ra rằng, “Chính quyền Bắc Kinh đang rất kiềm chế trong việc không chỉ trích cá nhân ông Trump, dù ông ta có rất nhiều lời bình luận dành cho Trung Quốc.”
Các nhà lãnh đạo Trung Quốc không mấy vui vẻ với chướng ngại vật chưa từng có trong tiền lệ này bởi họ “vẫn chưa quen với phong cách đối ngoại không chính thống của Trump.”, giáo Liu Weidong thuộc Học viện Khoa học Xã hội Trung Quốc cho biết. “Trump cứ nghĩ rằng ông ta chỉ đang đưa ra vài câu bình luận vu vơ, nhưng chính quyền Bắc Kinh để ý rất kỹ đến các phát ngôn đó bởi nó gây cản trở cho các tính toán của Bắc Kinh.”
Hành động của Donald Trump không hề giống với bất cứ tổng thống tiền nhiệm nào trước đó. Và mặc dù nhận được rất nhiều chỉ trích, thì điều này cũng mang lại hiệu quả tích cực trong việc gửi lời cảnh báo đến các quan chức Trung Quốc đã quá quen đi đêm với các tổng thống Hoa Kỳ trước đây.
Các quan chức này thấy việc Trump sử dụng Twitter là cực kỳ phiền toái. Tất cả các lãnh đạo Trung Quốc, được lựa chọn bởi những người đồng chí trong Đảng Cộng sản, bị ép phải lên nắm quyền chứ không chỉ đơn giản là bị thuyết phục.
Trong khi đó, người đồng cấp với Trump là Tập Cận Binh chỉ có đúng một bài đăng trên mạng xã hội trong suốt sự nghiệp của mình, và nó được đăng tải bởi một cơ quan truyền thông của Đảng có tên là PLA Dail. Tập Cận Bình cũng không có tài khoản Weibo (một mạng xã hội giống Twitter). Ngoài việc ra các tuyên bố quan trọng, ông này cũng không có ảnh hưởng nhiều trên phương tiện truyền thông trực tiếp.
Mặc dù Trump không ngừng đưa ra ý định của mình, Tập Cận Bình và cấp dưới vẫn chưa hề chuẩn bị gì cả. Theo Thời báo Tài chính, chính quyền Bắc Kinh đã “vô cùng bất ngờ” khi Peter Navarro được bổ nhiệm là chủ tịch Hội đồng Thương mại Quốc gia.
Giới lãnh đạo Trung Quốc đã kỳ vọng rằng Trump sẽ giảm bớt các phát ngôn chống Trung Quốc sau khi nhậm chức. Nhưng với việc bổ nhiệm Wilbur Ross và Robert Lighthizer, Trump đã chính thức tuyên bố rằng đối phó với Trung Quốc là việc cần phải thực hiện đầu tiên khi trở thành tổng thống.
Cũng có một lý giải khác cho hành động chậm chạp từ phía Trung Quốc như sau: Hiện tại, giới lãnh đạo Trung Quốc đang phải đau đầu đối phó với những kẻ đầu cơ bán khống đồng nhân dân tệ.
Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc đã tiêu tốn hàng chục tỉ USD trong mấy ngày vừa qua để hậu thuẫn cho “đồng tiền đỏ” (redback), vốn đã giảm đến 6.95% giá trị so với đồng dollar tại thị trường nội địa. Có lẽ Bắc Kinh đang muốn mặc kệ Trump để Trump khỏi bới móc chuyện Trung Quốc đang cố gắng ổn định tình hình trong tuyệt vọng.
Hiện Trung Quốc đang đẩy giá đồng nhân dân tệ lên, chứ không phải xuống như Trump suy đoán. Nhưng chính quyền Bắc Kinh không hề muốn tham gia vào cuộc chiến trên mạng Twitter bởi họ biết họ không thể thắng nổi Trump.
Chiểu theo tình hình hiện tại, có vẻ như Trung Quốc đã gặp phải đối thủ cực kỳ khó nhằn.
Nguồn: http://nationalinterest.org/feature/trump-tweets-china-retreats-18971Gordon G. Chang
Athena chuyển ngữ



No comments:

Post a Comment