Wednesday, January 11, 2017

Bài viết hay(4397)

Sáng nay Bolsa nói về vụ Nga can thiệp vào chuyện bầu cử tại Mỹ trong đó có tin cho rằng Nga nắm được bí mật chơi gái của Trump nên Trump phải ngoan ngoãn chạy theo Putin. Mặc dù tui không ưa Trump nhưng tui thấy câu chuyện hết sức tào lao khi Bolsa cứ thích chui xuống gầm giường mà bêu xấu người ta. Điều mà tui quan tâm là liệu Trump có phải là con cờ trong tay Putin hay không? Quyền lợi đất nước là tối thượng mà lãnh tụ bị ngoại bang giựt dây thì thua to. Những bài học từ VN còn sờ sờ ra đó mà người VN lẫn Mỹ còn nhớ hay đã quên? Có lẽ là lú thôi. 
Dân chủ nửa vời
Ai đã từng hâm mộ ban nhạc ABBA của Thụy Điển từ những năm 70 của thế kỷ trước hẳn đã một lần nghe bài hát Waterloo, cô gái trong bài hát dùng hình ảnh bại trận của Napoleon tại đây để so sánh tình cảnh thất bại trong tình yêu của mình. Lời bài hát được bắt đầu thế này:
“My My
At Waterloo Napoleon did surrender
Oh yeah
And I have met my destiny in quite a similar way…”
Tạm dịch:
“My My (Là một dạng thán từ chỉ cảm xúc cũng giống như …dữ hôn, lạ chưa…vv)
Napoleon đã đầu hàng ở Waterloo
Oh Yeah.
Và em cũng gặp số phần tương tự...”
Theo lịch sử ghi lại thì Napoleon Bonaparte, sau khi vượt ngục trở về từ đảo Elba, đã nhanh chóng hồi phục binh quyền và sống mái một trận tại Waterloo với liên quân do Thống Chế Arthur Wellesley, Công Tước thứ nhất của Wellington chỉ huy. Kết quả là Napoleon đại bại, trận bại chiến này chấm dứt luôn sự nghiệp oai hùng của Napoleon.
Nhắc một chút đến nhà độc tài Napoleon chỉ để nói đến cuộc Cách Mạng Dân Chủ Pháp, nếu so sánh với cuộc cách mạng khá thành công ở Mỹ, thì cuộc cách mạng ở Pháp là một cuộc cách mạng nửa vời. Nửa vời là vì trong cuộc cách mạng Pháp có quá nhiều những trí thức cơ hội lợi dụng cách mạng để thâu tóm quyền lực,trả thù riêng, cũng như có quá nhiều bạo loạn cướp phá từ giới cùng đinh khiến cuộc cách mạng dần vựợt quá giới hạn kiểm soát và xa rời mục đích tốt đẹp ban đầu của nó.
Một thí dụ như việc Jean-Paul Marat, tác giả của những câu thơ rất hay
“Họ cao lớn bởi vì ngươi quỳ xuống
Có gì đâu ngươi cầu khẩn van lơn
Có gì đâu ngươi nuốt mãi căm hờn
Hãy đứng dậy ngươi có quyền vui sống”,
đã trả thù bằng cách kết tội khống nhà hóa học nổi tiếng thời bấy giờ là Lavorsier chỉ vì Lavorsier trước đó đã bác bỏ thuyết “Nước Hóa Đất” của ông ta. Lavorsier trước khi bị xử tử đã xin được hoàn thành nốt một thí nghiệm quan trọng nhưng quan tòa nói rằng: “Nền cộng hòa không cần các nhà khoa học hay hóa học”.
Một thí dụ khác là Maximilien Robespierre với cái Ủy Ban An Ninh Quốc Gia của ông ta đã tạo ra một thời kỳ chém giết đẫm máu gọi là Reign of Terror (Thời kỳ khủng bố). Những phiên toà chuột túi được mở ra để kết tội là chính kiểu như Tòa Án Nhân Dân xứ mình, những phiên toà này kết tội Phản Cách Mạng với bất cứ ai bị quy chụp, dẫn đến việc gần 1200 người phải bước lên đoạn đầu đài mà trong đó rất nhiều người bị oan.
Bên cạnh những quan chức, trí thức cơ hội lợi dụng cách mạng để kiếm chức kiếm quyền, thì giới cùng đinh cũng như đầu trâu mặt ngựa lợi dụng tình trạng lộn xộn để cướp bóc đốt phá kiếm miếng ăn. Tình trạng lộn xộn vô luật pháp kéo dài mới tạo cơ hội cho nhà độc tài Napoleon trẻ tuổi nhưng bạo gan, người không ngần ngại ra lệnh nã đại bác vào những kẻ nổi loạn, leo lên nắm dần quyền lực. Để kết cục là người Pháp chém đầu Vua Louis XVI với mong muốn xóa bỏ quyền lực tuyệt đối của giới hoàng gia, để rồi cuối cùng lại dựng lên một hoàng đế Napoleon quyền lực siêu tuyệt đối sau khi dân chúng Pháp đã đổ không biết bao nhiêu là máu và tiền.
Nhắc chút lịch sử để nói chuyện xứ Việt hôm nay, chúng ta hiện cũng có đầy đủ những yếu tố cho một cuộc Dân Chủ Nửa Vời kiểu như nước Pháp thời đó, hay Mùa Xuân Á Rập mới đây. Mức độ xung đột giữa các thành phần trong xã hội Việt hiện đã lên đến đỉnh, sự vô pháp thì ngoài sức tưởng tượng, một tầng lớp trí thức cơ hội mà trong đó thầy giáo thì ít nhưng thầy dùi thì đông như kiến, một tầng lớp cai trị đang cố bám víu lấy quyền lực, và một đám đông những người cùng khổ bị chèn ép đang chờ có cơ hội là vùng lên để trút cho thỏa những cơn giận dữ.
Làm sao để công cuộc dân chủ hóa đất nước chí ít cũng được nhẹ nhàng như Myanmar, chứ không phải đầy hỗn loạn như nước Pháp hôm xưa, và đẫm máu như Syria hôm nay? Đây là một vấn đề nghiêm túc cần được đưa ra để mọi người bàn bạc cẩn thận đến từng chi tiết nhỏ, bởi đây là chuyện hệ trọng có liên quan đến số phận của tất cả chúng ta.
Viết đến đây thì thấy bài thực đã quá dài đối với một status trên FB nên xin được dừng để người nào có muốn nghe lại trọn vẹn bài hát Waterloo thì đây, xin mời:
My my
At Waterloo Napoleon did surrender
Oh yeah
And I have met my destiny in quite a similar way
The history book on the shelf
Is always repeating itself
Waterloo I was defeated, you won the war
Waterloo promise to love you for ever more
Waterloo couldn't escape if I wanted to
Waterloo knowing my fate is to be with you
Waterloo finally facing my Waterloo
My my
I tried to hold you back, but you were stronger
Oh yeah
And now it seems my only chance is giving up the fight
And how could I ever refuse
I feel like I win when I lose
Waterloo I was defeated, you won the war
Waterloo promise to love you for ever more
Waterloo couldn't escape if I wanted to
Waterloo knowing my fate is to be with you
Oh, oh Waterloo finally facing my Waterloo
So how could I ever refuse
I feel like I win when I lose
Waterloo couldn't escape if I wanted to
Waterloo knowing my fate is to be with you
Waterloo finally facing my Waterloo
Waterloo knowing my fate is to be with you
Oh, oh Waterloo finally facing my Waterloo
Waterloo knowing my fate is to be with youTrần Thức

Hiện tượng Facebook: Ngôn ngữ đang giãy chết?

"In the beginning was the Word." (John I)
Ở đầu thế kỷ trước, con người ngôn ngữ tây phương, như là một hiện tượng nhân văn sau cùng, được khai sinh. Ở giờ phút bắt đầu đó, hắn tuyên bố rằng tất cả các vấn nạn tôn giáo và triết học chỉ là vấn đề của ngôn ngữ. Không hề có vấn đề chân lý tự bản chất - những câu hỏi và khúc mắc siêu hình, nhìn kỹ ra, chẳng qua là sự hiểu lầm về ngôn từ. Ngôn ngữ bắt đầu tất cả. Và cũng chính ngôn ngữ sẽ chấm dứt toàn diện các hiện tượng nhân văn.
Chúng ta hãy nhìn lại. Con người xưa cũ mang ý chí lập danh, nay hắn chỉ muốn lập ngôn. Hắn thấy được rằng nhân loại sống chết theo ngôn từ. Nói như Foucault thì con người chỉ biết yêu sau khi đọc văn chương về yêu đương. Văn thơ làm say đắm, tạo nên hình ảnh, thần tượng. Những thế hệ kế tiếp viết tuyên ngôn và xách động cách mạng. Biết bao tầng lớp thanh niên đã bỏ nhà, gia đình bà con thân thích, lên đường đi vào cõi máu xương gian khổ vì tiếng gọi của khái niệm ngôn từ. Ngôn từ sáng tạo. Ngôn từ huỷ diệt. Văn chương nâng cao tinh thần và đày đọa ý chí. Ngôn ngữ và văn chương là cơn sóng cho con thuyền hiện hữu đi qua biển thế gian vô cùng.
Con người là con vật biểu tượng. Ngôn ngữ không những chỉ là biểu tượng - mà là của những nhánh cây xa cành từ một gốc rễ huyền nhiệm sâu xa. "Tự khởi thuỷ là ngôi Lời (the Word). Chân lý đã được hình thành và trở nên thực thể, ngôi Lời trở nên thân xác, và ngôi Lời chính là Chân Lý sống giữa chúng ta, mà chúng ta không biết” (John I). Và khi mà chân lý đến với những cá nhân khao khát tinh thần "quây quần bên nhau" lắng nghe vị thầy phát ngôn về sự Thật (Vedas), mỗi lời nói của vị Thầy chính là Chân lý. Đạo chính là Lời - là "Logos."
Thế giới của ngôi Lời có rất ít lời nói. Con người ở đó chỉ nói khi có nguời biết lắng nghe. Trong sinh hoạt của cuộc sống hằng ngày, thiên nhiên nói và ca hát cho nhân loại. Khi mở miệng nói, người ta chỉ muốn đối thoại với Trời và Đất. Con người ít nói chuyện với nhau nếu không cần thiết - vì càng nói thì giữa người và người sự hiểu lầm càng tăng cao. Im lặng, vì thế, là phương cách thông hiểu phổ quát cho gia đình và tập thể.
Cho đến khi nhân loại chuyển sang một thời quán mới của tâm thức, văn viết xuất hiện và dần dần chiếm vai trò của văn nói. Nhưng con người cũng chỉ sử dụng văn tự, chữ viết, cho những nguyên tắc đạo lý sâu xa và vĩnh hằng - còn những gì liên quan đến chuyện thường nhật thì chỉ sử dụng tới lời nói mà không cần văn bản, ấn ký. Văn viết là chiếc cầu của ngôi Lời, bắt nhịp từ Đạo lý, qua sự thuyết giảng và "quây quần lắng nghe," đến một thế giới văn nói chỉ quan tâm đến những vấn đề truyền thông hằng ngày. Nhưng khi chữ viết đã trở nên quá phổ biến, con người ngôn ngữ đã trở nên những trí thức vốn sống nhiều về lý tính qua chữ viết. Người có học, từ đó, theo giòng thời gian càng viết nhiều hơn là nói, đọc nhiều hơn là nghe. Cái học từ đó đồng nghĩa với cái đọc.
Tuy nhiên, vốn là con người sống giữa trần gian, kẻ đọc sách đối diện với một khoảng trống không mới. Đó là sự trống vắng giữa hai bờ của sách vở, vốn viết về chuyện lâu dài, sâu xa, đối với những mẫu đàm thoại hằng ngày trong cuộc sống đời thường. Đây là lúc một chiếc cầu truyền thông mới xuất hiện: Báo chí. Và gần đây hơn là các mạng xã hội online - như Facebook (FB).
Khi từ giã thế giới tư tưởng từ sách vở, người thành phố thời nay thay vào khoảng trống đó bằng báo chí. Khi hắn từ giã làng xóm ở nông thôn với thiên nhiên để lên thành thị sống trong khung cảnh nhân tạo, tình yêu trần gian đã trở nên niềm đam mê báo chí. Mỗi trang báo là một ly cà phê đánh thức tri thức và tình cảm về với một thực tại đang đi qua mà chính hắn không muốn dấn thân trực tiếp. Khi đọc báo, hắn chỉ tiếp xúc với biến cố trần gian qua ký hiệu ngôn ngữ in trên giấy. Thân xác của người đọc báo chỉ tiếp xúc với hiện tượng bằng hai cơ năng của tay cầm tờ báo và mắt để đọc. Trong tất cả lục năng tạo nên hiện tượng, tờ báo chỉ cần "sắc" và "pháp" và lại bỏ ra ngoài "thanh, hương, vị, xúc." Thế gian được người đọc báo tiêu thụ qua ngôn ngữ một cách thụ động. Để rồi người thành thị mỏi mệt với phố chợ, với báo giấy, hắn trở nên cô đơn để chuyển qua đời sống online với các mạng lưới xã hội. FB trở nên thực tế trần gian cho con người thành thị bây giờ. Nói ngắn gọn: FB chính là thế gian. Lòng khát sống với thế gian này chính là ý chí muốn trang trải tâm tư vào từng khung FB.
Nhưng thế gian mà FB dọn ra cho độc giả là một mặt hồ nông nỗi, lung linh phản chiếu rất mơ hồ một thực tại không có chiều sâu - chỉ vì ngôn ngữ của các tâm hồn duy phản ứng (reactive souls) chỉ phản ảnh một hiện tượng ngôn ngữ không có nội dung nguyên lý lâu dài vượt qua khỏi tính bất thường và giảo hoạt của biến cố và cảm nhận cá nhân nhất thời. Mỗi post trên FB là một hoạt cảnh cho một thực tại tuỳ theo góc cạnh tiếp thu và sự trình bày của người tham dự. FB của ai thì ngôn ngữ đó. Ngôn ngữ nào, thực tại đó. Con người ngôn ngữ của FB thời nay đánh mất chiều sâu nguyên lý, của ngôi Lời khi hắn đắm chìm vào thế giới online.
Trong thế giới ngày hôm nay, ngôi Lời không có nơi trú ngụ. Con người báo chí, của FB, của text messaging, twitter, snapchat, đang độc chiếm diễn đàn. Chữ viết và trang báo giấy, cùng chia số phận của sách in, nay cũng đang chết dần mòn. Chữ viết đã xuống ngôi từ lúc nó bị môi trường truyền thông mới của internet hạ bệ. Khi chữ viết xuất hiện trên màn ảnh vi tính, hay trên điện thoại, nó không còn trang trọng để được tôn trọng. Nó không có một sự hiện hữu lâu dài như là trên trang sách, trang báo giấy. Ngôn ngữ báo chí từ internet thì cũng như là lời nói trên điện thoại hay là trên truyền hình. Chữ nghĩa cứ như gió thổi, như mây bay, như nước chảy qua cầu. Chúng xuất hiện và chúng tan đi ngay như bèo bọt của không gian ảo tuỳ theo từng cái click của bàn tay nhấn vào con chuột trên mặt bàn. Thế giới báo chí của internet không những chỉ là ảo, mà là bạc bẽo và vô vị.
Và đó là bản chất của trần gian bây giờ. Mọi người đều thi nhau nói rất nhiều nhưng không có điều gì đáng để lắng nghe; mọi người thi nhau viết thật nhiều nhưng không có điều gì đáng để đọc. Khi ngôn ngữ không còn nội dung chân lý để chuyên chở, không có cái Đạo để cưu mang, thì tất cả chữ viết của báo chí, dù ở phương tiện nào, rồi cũng bị đi vào phận ảo và bạc. "Con chồn có hang, con chim có tổ, nhưng đứa con của con Người (son of Man) - tức là ngôn ngữ - không có nổi chiếc gối để tựa đầu." (Luke IX). Người thời nay, khi họ đã không còn tìm kinh sách, đâu còn tin vào lời lẽ, chữ viết của thánh hiền. Chân lý chỉ là ảo tưởng, ít ai còn tin vào chữ Đạo. Sách vở cũng chẳng mang giá trị nào - huống chi là ngôn ngữ báo chí.
Hễ khi sách vở và báo chí đã không còn là một cưu mang cho lý tưởng, không còn là con đường cho nguyên tắc, không là hiện thân cho ý chí cá nhân và tập thể, thì văn viết đã bị mất chỗ đứng tự trong lòng người đọc. Nguyên nhân của sự xuống dốc này không phải là vì nội dung, lập trường hay là khả năng của người viết, nhà văn hay nhà báo. Mà trái lại. Sách vở và báo chí đã chết khi con người ngôn ngữ thời đại đã không còn tin vào ngôn ngữ nữa.
Cái chết của văn hóa đọc, từ sách vở đến báo chí, và song song với nó là vấn đề tự do báo chí và tư tưởng, ngôn luận - như trường hợp ở Việt Nam bấy lâu nay - phát xuất từ sự sụp đổ giá trị của văn viết. Khi cả một dân tộc không còn tin vào và coi trọng văn viết thì tự do tư tưởng, ngôn luận, báo chí tự nó chỉ là một trò ảo, để rồi sẽ không có những con người hay tập thể nào chịu dấn thân tranh đấu cho lý tưởng tự do này.
Trong cảnh chợ chiều của nhân loại, khi mà ngôn ngữ đang bày ra tràn ngập nhưng không ai coi trọng chúng nữa, chữ viết dù có cho không cũng không ai thèm nhận. Ngôn ngữ không còn là biểu tượng và tự chính nó nay đã là hư không. Văn viết đã mất hồn; văn nói không còn nghĩa. Ngôn ngữ đã chết - vì trong trái tim của nhân loại đương thời thì ngôi Lời đã tắt lửa tự thưở nào.Nguyễn Hữu Liêm

Xuất cảng Chủ nghĩa Độc đoán



Trong nhiều thập niên, chủ nghĩa tư bản được mong đợi sẽ làm cho Trung Hoa giống Tây Phương hơn. Có cái gì đó ngược lại đang xảy ra.
Một trong những chuyện mỉa mai nhất của lịch sử gần đây là Trung Hoa sẽ gần như chắc chắn dân chủ hơn và tuân theo các giá trị của Tây Phương nếu những cuộc biểu tình ủng hộ dân chủ rầm rộ ở Thiên An Môn, Bắc Kinh vào năm 1989 không bao giờ xảy ra – hay, ít nhất, nếu những người biểu tình trở lại trường học trước khi các lãnh tụ Cộng sản nghiền nát phong trào của họ bằng xe tăng và súng tự động. Việc đó đã trực tiếp đưa đến việc hạ bệ một lãnh tụ cấp tiến táo bạo chưa từng thấy khỏi vị trí chóp bu trong thứ bậc của Đảng Cộng sản Trung Hoa, Tổng bí thư đảng Triệu Tử Dương. Ông bị quản thúc tại gia và khả năng cải tổ dân chủ cũng bị nhốt chung với ông.

Đặng Tiểu Bình và Triệu Tử Dương [Ảnh: Internet]
Ngày đàn áp, 4 tháng 6 năm 1989, trong cảm giác này, đánh dấu một tầm quan trọng quyết định cho lịch sử lâu dài của Trung Hoa. Nhưng chuyên viên người Sweden về Trung Hoa Johan Lagerkvist đi xa hơn trong “Hồi tưởng Thiên An Môn: Sự thật hiển nhiên về Trật tự Thế giới Tự do Bành trướng (Tiananmen Redux: The Hard Truth about the Expanded Neoliberal Worl Order)”. Đối với Lagerkvist, Thiên An Môn không chỉ là đưởng phân thủy trong lịch sử Trung Hoa mà còn của thế giới, ảnh hưởng vĩnh viễn của nó quan trọng hơn những gì xảy ra cùng thời khi Bức tường Bá Linh sụp đổ và sự tan rã của Liên Xô. Nền tảng của lập luận của ông là: Kết cuộc đầy bạo lực của những cuộc biểu tình ở Thiên An Môn làm cho việc gì đó nghiêm trọng thêm chính là việc nhổ tận gốc bất cứ sự chống đối nào đối với uy quyền của nhà nước độc đảng. Nó cũng cho phéo lãnh tụ tối cao Đặng Tiểu Bình tăng tốc trong việc biến đổi Trung Hoa từ một quốc gia theo chủ nghĩa Mao nghèo đói thành một quốc gia tư bản giàu có và hùng mạnh. Cái quan trọng nhất trong sự sắp xếp của Ông Lagerkvist là Thiên An Môn đã cho phép một ông Đặng 84 tuổi làm áp lực với các đồng lãnh tụ rụt rè trong đảng của ông trong một chương trình kinh tế tự do, một thứ chủ nghĩa tư bản dã man với đồng lương thấp, làm giảm các lợi ích xã hội và tạo nên cách biệt giữa người giàu và người nghèo. Vì thế, tất cả những điều xấu của toàn cầu hóa được được quảng bá rộng rãi bắt nguồn cho quyết định của Trung Hoa chạy theo sự tăng trưởng kinh tế nhanh bằng mọi giá.

Biểu tình ở Thiên An Môn [Ảnh: Internet]
Điều này sanh ra chuyện mỉa mai khác. Trong nhiều thập niên, sự hy vọng và mong đợi lan rộng bên ngoài Trung Hoa cho rằng chủ nghĩa tư bản sẽ làm cho quốc gia này giống chúng ta hơn. Như Ông Lagerkvist cho thấy, cái gì đó ngược lại đã thật sự xảy ra. Thay vì Trung Hoa bị Tây Phương hóa, Tây Phương đang bị Trung Hoa hóa. Ông viết, “Đó là điều khinh suất khi bỏ qua sự kiện là thế giới, quả thật, có thể trở nên độc đoán hơn và có tinh thần quốc gia địa phương mặc dù, hay chính xác là vì, những ảnh hưởng của toàn cầu hóa tự do thương mại”.
Rất khó để tưởng tượng một viễn cảnh bi quan và lo sợ hơn, nhưng nó có vững chắc không? Và tất cả những điều này có phải xảy ra vì thảm kịch Thiên An Môn? Phân nửa cuốn sách của Ông Lagerkvist bao gồm lịch sử đầy chi tiết say mê của sự kiện Thiên An Môn 1989, ám ảnh người đọc về những gì đã xảy ra. Các thủ lãnh sinh viên đã không hiểu rằng việc họ từ chối chấm dứt phong trào trước khi các xe tăng đến nơi đã tạo thuận lợi cho những kẻ giáo điều và gây phương hại chết người cho Triệu. Và chính Tổng bí thư đảng cũng bị lèo lái bởi Lý Bằng, xuất hiện như một người hung ác đầy mánh khóe và dối trá ở đàng sau cuộc đàn áp.

Lý Bằng [Ảnh: Internet]
Hậu quả trầm trọng theo kiểu Lenin trong bản chất. Trong khi Tây Phương chờ đợi Trung Hoa trở nên cởi mở và dân chủ hơn, một quốc gia trong đó nhà nước kiểm soát cuộc sống của người dân (Orwellian state) được hình thành ở Trung Hoa, kể cả cái mà tác giả Louisa Lim gọi một cách thông minh là “Cộng hòa nhân dân hay quên (People’s Republic of Amnesia)” – việc đàn áp ký ức của công chúng về Thiên An Môn, Vạn Lý Tường lửa, việc xóa bỏ cái khái niệm cho rằng có một sự thật bên ngoài sự kiểm soát của đảng. Bất cứ khao khát nào cho tự do cá nhân đều được chuyển hướng mạnh mẽ vào khao khát làm giàu cá nhân. Ông Lagerkvist nói, “Tự do dường như chỉ đạt được qua việc tiêu thụ hàng nhập cảng độc quyền”.

Sinh viên chặn đường xe tăng ở Thiên An Môn [Ảnh: Internet]
Ông Lagerkvist xem tầm quan trọng trong trứng nước của Thiên An Môn như một vấn đề niềm tin, nói và lặp lại trong quyển sách mang tiếng xấu vì sự lặp đi lặp lại – và vì phẩm chất quanh co với khá nhiều cú pháp vụng về và lỗi chính tả. Không cần tất cả các sự kiện phù hợp với cái thật sự là một lý thuyết. Thí dụ, Ông Lagerkvist nhắc đến sự chống đối của một số lãnh tụ lão thành của đảng đối với chương trình cải tổ của Đặng và khẳng định rằng Thiên An Môn khiến cho sự chống đối hình thành và giúp cho Đặng vượt qua – nhưng không có bằng chứng cho bất cứ khẳng định nào của ông.

Tượng Nữ thần Dân chủ ở Thiên An Môn [Ảnh: Internet]
Những câu hỏi tương tự được nêu lên khi Ông Lagerkvist nói đến các ảnh hưởng của tất cả những cái này đối với Tây Phương, nhất là tranh luận của ông cho rằng chủ nghĩa tự do và bình đẳng (liberalism) của Tây Phương đã đổi hướng sang độc đoán vì thảm sát năm 1989 ở Trung Hoa. Rằng việc Tây Phương đổi hướng như vậy có thể tranh cãi, rằng nó do Thiên An Môn nhiều hơn. Ông Lagerkvist trích dẫn hồ sơ theo dõi điện thoại công dân Mỹ của NSA để minh chứng việc làm thế nào “các nước Tây Phương nay có tội cho cùng tội của những chế độ độc tài chối bỏ những giá trị [của Tây Phương]”. Ông có quyền với cái khái niệm căn bản đó, nhưng ông không cung cấp những lý do thuyết phục để tin rằng chương trình của NSA không làm được gì nhiều với những ảnh hưởng bất chính của “trật tự thế giới kinh tế tự do bành trướng”.
Nhưng Ông Lavervist đúng vì “một ngọn gió độc đoán đang thổi qua thế giới”, và rằng nó phát xuất từ Trung Hoa. Tây Phương không bị hủy diệt như ông nghĩ, nhưng những tổ chức của nó đã nhượng bộ những đòi hỏi chánh trị của Trung Hoa – như các lãnh tụ Âu Châu từ chối gặp Đạt Lai Lạt Ma hay Yahoo trao tin tức của các bloggers cho nhà cầm quyền Trung Hoa. Thách thức của Trung Hoa không chỉ là việc bành trướng ở Biển Đông hay mối bang giao với Bắc Hàn. Nó cũng là một thách thức đối với nhửng giá trị và thực hành dân chủ cấp tiến, đối với tự do, và Ông Lagerkvist đáng được ca ngợi qua việc trình bày một cách mạnh mẽ và cấp bách.Nguồn bản gốc: Wall Street Journal – 3 tháng 1 năm 2017
Sơ lược về tác giả
Ông Berstein là tác giả cuốn sách mới nhất, “Trung Hoa 1945: Cách mạng Mao và Sự chọn lựa Quyết định của Mỹ (China 1945: Mao’s Revolution and America’s Fateful Choice)”.Richard Bernstein
Nguyễn Chính Đại chuyển ngữ

No comments:

Post a Comment