Sunday, January 8, 2017

Nhớ Tết quê xưa

Chở Xuân ra chợ. Ảnh: Thế Sáng

Năm tôi còn nhỏ, hàng năm từ dạo tháng 6 hay tháng 7 âm, thấy ở vệ vườn có cái mộc nhĩ nào là bầm tôi lại xiên vào cái lạt treo lên gác bếp và "để đến Tết ăn". (Đặng Thế Sáng, Berlin)

Báo ngày, báo tuần, báo tháng là chuyện cơm bữa! Báo Tết y như làm cỗ, phải ngon, nhiều món, năm nay phải khác (hoặc hay hơn) năm ngoái. Vừa "dí' bàn phím gửi thư đi tôi bắt đầu lo lo,"túi" chưa có chữ nào về Tết. Chuyện thường ngày của những người xa xứ cũng đang bù đầu: năm nay kinh doanh lẹt đẹt, không gặt hái như những năm trước, cạnh tranh tăng hơn, đua nhau giảm giá, người mua bị chia sẻ, khách hàng cũng không rủng rỉnh tiền như vài năm trước đây.

Nhưng nỗi lo thường trực vẫn là chuyện học hành của con cái, tụi nhỏ học tốt còn đỡ, chứ điểm kém đem về thì thể nào trong nhà cũng có "chiến sự" xảy ra. Nhưng đó chỉ là chuyện "trong nước", bao nhiêu chuyện từ quê hương phải bận lòng như nhà hàng xóm vừa xây nhà làm nứt tường nhà mình, ông bố đang nằng nặc nhất định đòi về quê tận Thanh Hóa, kiểu gì cũng không ở Hà Nội nữa.
Lại thêm thằng cháu ở quê (đã có vợ rồi) vừa chơi số đề thua 400 triệu đồng, chuyện cứ dày lên như nấm gặp mưa, làm sao có tâm hồn lộng gió để làm thơ, viết tiểu phẩm? Ngày nộp bài đến nơi rồi, Tết sắp đến nơi rồi, nhìn những cành cây trụi lá như những cái chổi xể dựng ngược quét lên trời, tự nhiên nỗi nhớ quê trở nên da diết. Tết ngày xưa ào về.
Ngày xưa là từ bao giờ chả ai quy định cụ thể, chục năm, trăm năm, nghìn năm, trước Công nguyên? Sau Công nguyên? Nhưng có lẽ ai cũng nghĩ ngày xưa là lâu rồi. Ngày xưa của tôi là khi tôi còn bé, còn học lớp 1 ở xóm Lầy, lớp học nhờ nhà bà Văn, căn nhà lợp lá đơn sơ, vài cái bàn bằng gỗ sung, ghế là những đoạn tre ghép lại như những chiếc cầu ao vớt về đây. Phải đi qua bãi ngô rộng hơn cả chục sân bóng đá mới tới lớp, chủ nhiệm là cô giáo Ngọ, tóc cô dài, cô giảng bài giọng nhè nhẹ, không quát học sinh và không bao giờ lấy thước vụt vào mu bàn tay học trò như năm vỡ lòng mà cụ giáo làng vẫn thẳng thừng với chúng tôi, lý luận của cụ là "già đòn, non lý sự". Ngày xưa của tôi như vậy!
Nhưng ngày giáp Tết xưa lại găm vào tôi nhiều nhất, bây giờ ở trời Tây, khi lá thu trút những cánh cuối về với đất, trơ lại cành khẳng khiu, lòng người tự nhiên nôn nao, đếm ngón tay còn bao nhiêu tuần nữa là đến Noel, bao nhiêu ngày nữa là đến Tết ta? Con đường làng, bụi tre, khóm chuối, cây rơm, những tiếng gọi con khi trời xẩm tối hiện về như đoạn phim cũ, bị mốc mà vẫn thích xem! Bùi ngùi, thoáng buồn, cảm giác thấy chạnh lòng, tủi thân nữa là mình sinh ra ở quê. Từ ngày "thoát ly" xa quê, lại thấy vui hơn vì quê có nhiều chuyện ngày xưa hơn ở phố (chẳng biết đúng vậy không?).
Năm tôi còn nhỏ, hàng năm từ dạo tháng 6 hay tháng 7 âm, thấy ở vệ vườn có cái mộc nhĩ nào là bầm tôi (quê tôi gọi mẹ là bầm) lại xiên vào cái lạt treo lên gác bếp và "để đến Tết ăn". Ngày gần Tết vui lắm, nhưng nhớ lâu nhất có lẽ là mùi thịt nướng tỏa ra ngào ngạt từ mái bếp của các hộ của làng tràn ra đê, chao ôi sao mà thơm thế, cả làng tưng bừng, rôm rả, nhà nào cũng có chất tươi. Ngày ấy cứ vào dịp 29 Tết , từ gà gáy lần hai là xóm trên, xóm dưới đồng loạt eng éc tiếng chọc tiết lợn. Hợp tác xã mổ lợn chia cho xã viên theo nhân khẩu, nhà tôi con đàn, nhưng ít công điểm nên được chia không nhiều, thông thường phải "ăn đụng" nhà khác.
Thường thì 5 nhà ăn chung con lợn 35-40 cân móc hàm, chiều 29 Tết bánh chưng đã gói xong, củi gốc tre, củi xoan, để nỏ, luộc bánh chưng sôi ùng ục từ chiều, vui nhất là gói và luộc bánh chưng, nhưng vui hơn nữa là được bánh chưng con. Nhớ có lần xin bầm 1 miếng thịt nạc chừng nửa lạng, xiên vào xiên tre, hơ sát than của nồi bánh chưng, thịt vừa chín tới, bay hơi ghi ngút, thơm lừng… chén ngay!
Miếng thịt đó theo tôi đến tận bây giờ. Cuộc sống ngày nay thật đầy đủ, trẻ con phải ép ăn, mà lạ thật mỗi khi nhớ đến miếng thịt của Tết ngày xưa tôi vẫn ứa nước miếng!
Có lẽ tôi chẳng bao giờ quên đựợc không khí tấp nập của những ngày giáp Tết ở giếng làng, bộ đội, công nhân, giáo viên, học sinh, người ở xa, người ở gần… đều tranh thủ gánh cho nhà đầy bể nước để ăn Tết, nhiều đôi lứa cũng nên duyên từ giếng làng, nhà tôi ở ngay gần giếng, những câu chào, lời hỏi thăm: về bao giờ? Bao giờ đi? Cứ râm ran cả chiều Tết, vẳng bên tôi mãi mãi.
Vui nhất là phiên chợ 30 Tết, chợ họp gần tới ngõ nhà tôi. Vội như 30 Tết, các cụ nói không sai, người mua thêm cành đào, bó hoa, kẻ khó lo đủ cỏ cho trâu trong rõi, người thì tất tưởi lo trả nốt những món nợ trong năm!
Chiều 30 Tết bao giờ tôi cũng được giao trọng trách là lấy chổi cọ (chổi làm bằng lá cọ) quét mạng nhện trên kèo, dui, mè, quá giang… và không quên quét nhà thật sạch (ngày mùng 1 không được quét nhà, mất lộc!). Xong việc đi tảo mộ và bữa cơm chiều 30 bắt đầu khi mẹ tôi đã hóa vàng xong. Bao giờ mẹ cũng dặn anh em tôi là sáng mùng một không cãi nhau, sẽ dông cả năm!
Những dòng này tôi viết để tham dự "Xuân quê hương". Trong căn hộ tầng 11 tại Berlin, ở đâu đó xa lắm lại vẳng lên tiếng đòi nợ không âm thanh, nghe quen quen cất lên ở đầu ngõ làng ngày nào: "…ơi! Có tiền trả chưa? Tết rồi! Trả nốt nợ đi chứ!". Tiếng đòi nợ (tiền đong chịu gạo) của bà Dậu điếc, từ ngày xưa lại vang vọng trong tôi trong những ngày giáp Tết! Tết ngày xưa!
Đặng Thế Sáng



No comments:

Post a Comment