Wednesday, January 11, 2017

Những công trình đá không nói dối về các nền văn minh cổ đại tiên tiến


Vòng tròn đá ở Lewis, Scotland. (ảnh: Shutterstock)
Vòng tròn đá ở Lewis, Scotland. (ảnh: Shutterstock)
Tuy giới khoa học chủ lưu vẫn chưa tuyên bố chính thức, nhưng ngày càng có nhiều bằng chứng rất rõ ràng và thuyết phục cho sự tồn tại của các nền văn minh cổ đại – những chu kì phát triển rực rỡ của con người trước giai đoạn văn minh lần này của chúng ta – vốn bắt đầu vào khoảng 5000 năm trước.
Chuyên đề này tập hợp những chứng cứ thú vị nhất cho thấy trình độ của “người tiền sử”, mức độ “toàn cầu hoá” của họ cũng như những kiến thức đáng kinh ngạc mà họ sở hữu. Tất cả được thể hiện qua các công trình bằng đá – thứ chất liệu xây dựng có thể đứng vững qua hàng thiên niên kỷ.

Bạn có biết, Đảo Phục Sinh, các kim tự tháp Ai Cập, các hình vẽ trên cao nguyên Nazca ở Peru, quần thể đền đài Ăng-co-vát... đều nằm trên 1 đường thẳng? (Ảnh; Internet)
Bạn có biết, Đảo Phục Sinh, các kim tự tháp Ai Cập, các hình vẽ trên cao nguyên Nazca ở Peru, quần thể đền đài Ăng-co-vát... đều nằm trên 1 đường thẳng? (Ảnh; Internet)
Đảo Phục Sinh, các kim tự tháp Ai Cập, các hình vẽ trên cao nguyên Nazca ở Peru, quần thể đền đài Ăng-co-vát (Angkor Wat)… Hãy tưởng tượng một đường thẳng địa lý kỳ bí kết nối nhiều địa danh trọng yếu của thế giới cổ đại. Trên thực tế, khi các địa danh chủ chốt được đánh dấu trên quả địa cầu, một vòng tròn gần như hoàn hảo sẽ xuất hiện, cho thấy một bí ẩn vẫn chưa có lời giải thông qua khám phá khảo cổ.

Đường thẳng địa lý kỳ bí kết nối nhiều địa danh trọng yếu của thế giới cổ đại 
Đường thẳng địa lý kỳ bí kết nối nhiều địa danh trọng yếu của thế giới cổ đại

Một danh sách đáng kinh ngạc các di chỉ văn hóa quý báu của Trái Đất có thể được tìm thấy trên vòng tròn bí ẩn này khi nó đi qua các hòn đảo nhỏ, một số lục địa, và ngay cả các vị trí tiềm năng của những địa danh trong huyền thoại.

Những hình vẽ trên cao nguyên Tassili, ở khu vực trung tâm sa mạc Sahara. (Ảnh: Wikipedia)
Những hình vẽ trên cao nguyên Tassili, ở khu vực trung tâm sa mạc Sahara. (Ảnh: Wikipedia)

Ở châu Phi, vòng tròn này đi qua cao nguyên Tassili trên sa mạc Sahara, các kim tự tháp Ai Cập, và lên phía trên qua các địa danh chủ chốt dọc theo các con sông Tigris, Euphrates và Nin—ba dòng sông có ảnh hưởng lớn nhất thời cổ đại. Khi tiếp tục lần theo đường vòng cung này, bạn sẽ đến kinh đô Persepolis của Đế quốc Ba Tư cổ đại, thành phố cổ Mohenjo-Daro, đền thờ thần Ammon trên ốc đảo Siwa, và thành phố bị thất lạc Petra—một trong bảy kỳ quan mới của thế giới cổ đại.

Thành phố bị thất lạc Petra. (Ảnh: Pixabay)
Thành phố bị thất lạc Petra. (Ảnh: Pixabay)

Tiếp tục đi dọc theo con đường này bạn sẽ đến thành phố Ur của nền văn minh Sumer cổ đại, quần thể đền đài Ăng-co-vát (Angkor Wat) ở Campuchia và Thái Lan, vùng Biển Chết ở gần Địa Trung Hải, dãy núi Himalaya, sông Tiền Đường ở tỉnh Chiết Giang – Trung Quốc, và khu di tích được một số người nhìn nhận là lục địa Atlantis trong huyền thoại. Điều đáng kinh ngạc là đường tròn bí ẩn này đã liên kết các địa danh này trong một khoảng sai số không vượt quá 1/10 của một độ vĩ độ, với tâm vòng tròn đặt ở miền đông nam bang Alaska, Mỹ.
Trong bài viết “Trật tự sắp xếp của các kỳ quan thế giới thời tiền sử”(“The Prehistoric Alignment of World Wonders”), tác giả Jim Alison đã mô tả rất chi tiết nhiều cách hoán vị toán học được tìm thấy bên trong vòng tròn lớn này và các địa danh liên kết với nhau trong đó. Ông viết: “Có thể dễ dàng quan sát trật tự sắp xếp của các địa danh này trên một quả địa cầu mô phỏng Trái Đất thông qua một đường tròn chân trời. Kết nối hai địa danh bất kỳ trên đường tròn chân trời, ta sẽ đồng thời kết nối tất cả các địa danh này trên đường tròn đó. Có thể sử dụng các chương trình phần mềm vẽ bản đồ thế giới 3D để vẽ minh họa vòng tròn lớn này quanh Trái Đất”.

Vậy vòng tròn này biểu thị điều gì?

Nhiều người nói rằng những kết nối này cho thấy người cổ đại đã sở hữu một lượng tri thức rộng lớn hơn nhiều so với hiểu biết hiện nay của chúng ta. Những người khác lại cho rằng vì tâm vòng tròn đặt ở Alaska (trên Canada, gần Bắc cực), nên trật tự sắp xếp của nó có thể đã miêu tả vị trí các cực của Trái Đất trước khi chúng được dịch chuyển đến vị trí hiện tại.
Ngoài các giả thuyết và phỏng đoán, một điểm chung giữa các địa danh này là tại mỗi khu vực đều tọa lạc các công trình kiến trúc rất tinh xảo. Một số địa danh trên vòng tròn này biểu thị một trình độ công nghệ vượt bậc mà cho đến nay các nhà nghiên cứu hiện đại vẫn chưa thể giải thích.

Hình vẽ con chim ruồi trên cao nguyên Nazca. (Ảnh: Wikipedia)
Hình vẽ con chim ruồi trên cao nguyên Nazca. (Ảnh: Wikipedia)

Các kim tự tháp Ai Cập, thành phố Petra, pháo đài Ollantaytambo, và những nơi khác trên vòng tròn này thể hiện những kỹ nghệ điêu luyện tiếp tục làm chấn động và truyền cảm hứng cho nhân loại ngày nay. Hiệu ứng tương tự cũng có thể được tìm thấy trên cao nguyên Nazca, Peru. Ngôi làng cổ đại này vẫn tiếp tục làm chấn động các nhà nghiên cứu trước cách thức và nguyên nhân những thổ dân thời kỳ tiền Colombo tạo ra hơn 300 hình vẽ khổng lồ trên vùng đất Peru. Cũng giống như chính vòng tròn liên kết khổng lồ, các hình vẽ biểu thị các loài khỉ, chim, nhện, và các loài động vật khác được phát hiện trên cao nguyên Nazca nổi tiếng chỉ có thể được quan sát rõ ràng tại một độ cao đáng kể so với mặt đất. Trong hoàn cảnh không có những cỗ máy bay hiện đại, làm thế nào và vì lý do gì những con người cổ đại này đã tạo nên những mẫu hình to lớn đến như thế?

Và những đường thẳng khác…

Vào những năm 1920, nhà sưu tầm đồ cổ nghiệp dư Alfred Watkins đã quan sát thấy các địa danh linh thiêng ở Anh nằm đúng trên một chuỗi các đường thẳng liên kết với nhau, mà ông gọi là “các đường Ley” (“ley lines”). Khi được vẽ trên một tấm bản đồ, các vòng tròn đá, đài tưởng niệm, và các khu vực định cư cổ đại được xếp ngay ngắn thành hàng dọc khắp đất nước. Kết quả quan sát đã khiến một số người tin rằng những đường thẳng này tượng trưng cho một hệ thống phong thủy được con người cổ đại sử dụng để xác định vị trí xây dựng các công trình kiến trúc khác nhau.

Đường Ley St. Michael – một trong những đường Ley lớn nhất tại Anh. (Ảnh: Ancient Wisdom)
Đường Ley St. Michael – một trong những đường Ley lớn nhất tại Anh. (Ảnh: Ancient Wisdom)

Rất giống với các đường kinh mạch trong cơ thể, những người nghiên cứu các đường Ley này đã nhấn mạnh rằng Trái Đất cũng có hệ thống kinh mạch của riêng mình.

Nếu những con người cổ đại đã thực sự sử dụng một hệ thống như vậy để thiết lập vị trí xây dựng, thì bằng cách nào họ xác định được vị trí đặt các đường thẳng? Hơn nữa, phải chăng vị trí của các địa danh được tìm thấy trên vòng tròn lớn này cũng chịu nhận ảnh hưởng của các nguyên lý phong thủy kỳ bí, nhưng trên một phạm vi rộng lớn hơn? Bởi vì các địa danh trên có liên quan đến một số nền văn hóa vốn không đươc biết có bất kỳ mối liên hệ nào với nhau, chúng ta sẽ phải xem xét đến khả năng chúng chỉ đơn thuần phản ứng trước một hệ thống vượt quá sự hiểu biết hiện tại.
Bạn có thể xem vòng tròn đi qua 4 điểm chính: Đảo Phục Sinh, kim tự tháp Ai Cập, các hình vẽ trên cao nguyên Nazca ở Peru, quần thể đền đài Ăng-co-vát rõ hơn trong video dưới đây: (từ đầu đến 2:46)

Leonardo Vintini, theepochtimes.com
Thanh Hải biên dịch

Vòng tròn đá Avebury nhìn từ trên cao, sau khi đã loại bỏ nhà cửa, cây cối... (Ảnh: Internet)
Vòng tròn đá Avebury nhìn từ trên cao, sau khi đã loại bỏ nhà cửa, cây cối... (Ảnh: Internet)
Như các nhà khoa học đã chỉ ra, nếu con người bỗng nhiên biến mất vì một lý do bất hạnh nào đó, mọi vết tích của nền văn minh chúng ta như các công trình, thành phố… có thể biến mất hoàn toàn trong chỉ 10.000 năm. Nhưng các công trình đá thì khác, chúng có thể chống chọi tốt hơn sự khốc liệt của thời gian. Vậy, sẽ ra sao nếu người xưa tạo dựng các công trình đá để gửi tới chúng ta một thông điệp? Hãy cùng tìm hiểu câu chuyện thú vị của vòng tròn đá Avebury, Anh Quốc – một người anh em của vòng tròn Stonehenge nổi tiếng.
Khi mặt trăng tròn nhuốm sắc hồng chầm chậm nhô lên giữa bầu trời đêm, ánh trăng bàng bạc tỏa xuống thấm đẫm vòng tròn đá Avebury, tạo ra những cái bóng mờ sau các tảng cự thạch khổng lồ. Trời đêm đầy sương và sương mù, và bầu không khí tràn ngập một sự kì vọng nào đó. Đột nhiên, một bóng hình ma quỷ chậm rãi bước ra từ đằng sau một tảng đá khổng lồ ở vòng tròn trung tâm, đầu ông ta để lộ những đường nét đáng sợ của loài sói. Đám đông tụ họp trên bờ lớn của vòng tròn đá đang cố gắng hít lấy từng hơi thở nặng nề.

(Ảnh: Avebury Wiltshire)
(Ảnh: Avebury Wiltshire)

Tiếng trống nổi lên theo nhịp, thầy phù thủy di chuyển từng bước nhẹ nhàng từ tảng đá này đến tảng đá khác theo điệu múa vòng tròn, chân ông khuấy đảo những giọt sương bám trên những lá cỏ dài. Đám đông cũng hòa cùng giai điệu, dần trở nên tự tin hơn và tăng dần nhịp lên, nhanh hơn và nhanh hơn nữa, và rồi, bất chợt – ông ta ngừng lại. Thầy phù thủy lôi ra khỏi túi đeo lưng một quả tìm bò … còn tươi, đang rỉ máu, vẫn đủ ấm nóng để tỏa làn hơi nhiệt vào màn đêm lạnh. Thầy phù thủy chầm chậm giơ quả tim lên cao, máu nhỏ xuống mặt nạ của ông và phát ra một tiếng thét dài thê lương đến tận khung trời – Aaaarrrrr!

Ảo tưởng?

Đoạn văn mô tả bên trên có thể khá quen thuộc trong những tài liệu tuyên truyền phổ biến về xã hội thời kỳ Đồ Đá ở Tây Bắc Châu Âu. Nhưng tại sao chúng ta lại cảm thấy thoải mái với cách miêu tả xã hội nguyên thủy sinh sống gần vòng tròn đá Avebury và Stonehenge như vậy? Phải chăng những nghi thức phù thủy tưởng tượng đó quá đỗi xa vời đối với nền văn hóa hiện đại, đến nỗi chúng ta tách giai đoạn này ra, và xếp nó vào một thời quá khứ chậm tiến không có liên hệ gì với cuộc sống hiện đại? Tuy nhiên, hiểu biết định kiến của chúng ta về cuộc sống thời Đồ Đá là hoàn toàn sai lầm. Và bài viết này sẽ chứng minh cho bạn thấy.
Nhưng nếu hiểu biết cơ bản của chúng ta về cuộc sống thời Đồ Đá là sai lầm, vậy chúng ta phải vẽ nên một bức tranh khác như thế nào? Con người cổ đại biết được bao nhiêu về thế giới xung quanh? Hệ thống giáo dục của họ phức tạp đến mức độ nào? Đây là những câu hỏi chúng ta sẽ cố gắng giải thích trong bài viết ngắn này, và câu trả lời từ quá trình này sẽ vô cùng kinh ngạc, nhưng cũng rất khó bác bỏ.
Xuất phát điểm ở đây là những vòng tròn đá. Giống như kim tự tháp Ai Cập, đã có rất nhiều ý tưởng khác nhau về những công trình cự thạch tuyệt vời này. Tại sao con người cổ đại lại dành nhiều thời gian và công sức để xây dựng chúng? Và nếu chúng có vai trò quan trọng, (mà chắc chắn là có), thì chức năng của chúng là gì? Chúng ta không thể trốn tránh những câu hỏi này bằng cách kể những cảnh tượng phù thủy như được miêu tả bên trên. Thực sự, đây sẽ là một sự lảng tránh.

Nếu con người cổ đại biết tại sao những công trình này được xây dựng, vậy tại sao chúng ta không thể?

Có lẽ là do chúng ta chưa có một cái khung nhận thức đúng đắn. Chúng ta đang cố diễn giải những cấu trúc này theo nhận thức của bản thân; cố giải phương trình của họ với cái khung nhân thức cố định của xã hội, lịch sử và tôn giáo. Sai lầm lớn nhất trong phương pháp này là giả định lộ liễu rằng chúng ta biêt nhiều hơn cổ nhân – rằng họ chắc hẳn đã sống trong một thời kỳ man rợ và thiếu tri thức. Nhưng có lẽ chúng ta đã lầm. Có lẽ hiểu biết định kiến của chúng ta về lịch sử là dựa trên các diễn giải sai lệch. Có lẽ quan điểm của chúng ta về khả năng ưu việt giáo dục và công nghệ hiện đại là không đúng.
Sẽ ra sao nếu rất lâu trước đây, một nền văn minh tri thức cao đã biết đến hầu hết khoa học và thiên văn học hiện đại; chính họ đã thiết kế và xây dựng các công trình vĩ đại ở cả Wessex và Ai Cập. Đây có thể là một đề xuất rất khác thường, nhưng hãy cùng xem xét chúng và xem chuyện gì sẽ xảy ra. Câu hỏi sẽ trở thành: một nền văn minh công nghệ cao muốn nhắn nhủ điều gì qua công trình cự thạch hùng vĩ như vậy?

Ảnh mặt bằng vòng tròn đá Avebury. Hãy chú ý đến hai vòng tròn nhỏ hơn bên trong vòng tròn lớn Avebury.
Ảnh mặt bằng vòng tròn đá Avebury. Hãy chú ý đến hai vòng tròn nhỏ hơn bên trong vòng tròn lớn Avebury.

Vòng tròn đá Avebury

Chúng ta hãy cùng xem xét một vài điểm nổi bật của vòng tròn đá Avebury, và xem xem chúng ta có thể tìm ra chức năng và ý nghĩa thực sự của nó hay không. Ở bán cầu trên của vòng tròn lớn có một vòng tròn nhỏ, và ở trung tâm của nó là 3 khối đá lớn được dựng đứng. Nếu không tính đến đài kỷ niệm ở vòng tròn phía nam, thì đây chính là những tảng đá lớn nhất ở di chỉ Avebury, và người ta cho rằng chúng hẳn phải có một vai trò quan trọng nào đó. Ba tảng đá này cũng rất khác với những tảng đá khác trong khu vực: chúng dẹp, có hình chữ nhật và được đặt trên mặt đất thành hình chữ nhật, chứ không phải hình thoi. Chúng có kích thước 5 x 4 m mỗi tảng và được đặt thành một hình cung, nên chúng được gọi là Cove (Khung tò vò).

Ba khối đá tạo nên Khung tò vò trong vòng tròn nhỏ của Vòng tròn đá Avebury. Năm 1828, một khối đá trong đó bị cho nổ bằng thuốc súng do nó chắn giữa lối cổng vào, nên hiện nay chỉ còn 2 khối đá. (Ảnh: avebury-web.co.uk)
Ba khối đá tạo nên Khung tò vò trong vòng tròn nhỏ của Vòng tròn đá Avebury. Năm 1828, một khối đá trong đó bị cho nổ bằng thuốc súng do nó chắn giữa lối cổng vào, nên hiện nay chỉ còn 2 khối đá. (Ảnh: avebury-web.co.uk)
Ảnh hiện trạng của 2 khối đá còn lại tạo nên Khung tò vò trong bán cầu Bắc của Vòng tròn đá Avebury. (Ảnh: megalithic.co.uk)
Ảnh hiện trạng của 2 khối đá còn lại tạo nên Khung tò vò trong bán cầu Bắc của Vòng tròn đá Avebury. (Ảnh: megalithic.co.uk)

Rất nhiều người đã nhìn nhận những khối đá này là một mộ đá – thông thường bao gồm ba tảng đá đứng thẳng và một tảng đá nắp đậy khổng lồ đặt bên trên. Nhưng đây không phải là một mộ đá thông thường: cách đặt các tảng đá thấp là không thông dụng, và không có bằng chứng cho thấy đã từng có một tảng đá nắp.

Mộ đá Paulnabrone ở The Burren, hạt Clare, Ireland. (Ảnh: Wikimedia)
Mộ đá Paulnabrone ở The Burren, hạt Clare, Ireland. (Ảnh: Wikimedia)

Thực ra, vòng cung này có một chức năng hoàn toàn khác biệt. Nó bao gồm ba tảng đá tạo thành hình móng ngựa với đầu mở hướng về phía đông bắc, một hình móng ngựa rào kín bên trong một vòng tròn đá.
Cách miêu tả này nghe có quen thuộc không? Liệu ‘Khung tò vò’ có phải là một phiên bản thu nhỏ của tạo hình trung tâm trên di chỉ Stonehenge hay không? Ở Stonehenge chúng ta có Trilithon, các cặp đá đứng tạo nên hình dạng móng ngựa ở trung tâm của vòng tròn đá sa thạch; cặp đôi đá đứng lớn nhất trong di chỉ, bố cục móng ngựa cũng chỉ về hướng đông bắc. Chẳng phải đây chính xác là những gì chúng ta nhìn thấy trong vòng tròn phía bắc ở Avebury, một phiên bản thu nhỏ của Stonehenge?

Bố cục móng ngựa ở vòng tròn đá Avebury – Bố cục móng ngựa ở vòng tròn đá Stonehenge
Bố cục móng ngựa ở vòng tròn đá Avebury – Bố cục móng ngựa ở vòng tròn đá Stonehenge

Sự tương đồng trong thiết kế giữa móng ngựa của vòng tròn đá Avebury và Stonehenge dường như khá rõ ràng, và hai công trình cự thạch này nằm khá gần nhau trên đồng bằng Marlborough. Nhưng phải chăng sự tương xứng này đã thật sự được lên kế hoạch trước? Nếu như vậy, thì vòng tròn đá Avebury chứa một mô hình thu nhỏ của vòng tròn Stonehenge, hoặc thậm chí có lẽ cả một mô hình hay bản đồ của Stonehenge.
Khái niệm bản đồ có lẽ hơi kì lạ khi đặt trong một di chỉ thời Đồ Đá, nên để tiếp tục cuộc khám phá, chúng ta phải cố gắng gạt sang một bên những kiến thức “nguyên thủy” hay “tiền sử” mà ta đã biết về di chỉ này. Những người thợ thời cổ đại này là những người nam và nữ giống như chúng ta. Nền giáo dục của họ có thể có đôi chút khác biệt, nhưng giới trí thức của họ có lẽ cũng không hề thua kém chúng ta. Hãy nghĩ rằng họ có cùng ý tưởng, và có lẽ cùng kiến thức về thế giới như chúng ta. Rất nhiều người có thể sẽ phản đối một tuyên bố táo bạo thế này, nhưng cũng vì thế mà vòng tròn đá Avebury chưa được nhìn nhận đúng đắn trong một thời gian lâu dài như vậy. Chúng ta cần một tâm trí cởi mở để nhìn thấy bản chất thật sự của Avebury.

Một trong những khối đá sa thạch hình thoi tại Avebury
Một trong những khối đá sa thạch hình thoi tại Avebury

Thiên đường trên Trái đất

Đã đến lúc tiết lộ một trong những bằng chứng đáng kinh ngạc trong quyển sách “Thoth, Kiến trúc sư của vũ trụ”. Avebury – một trong những bí ẩn chủ chốt trong lịch sử Anh Quốc – chính là một công trình mô phỏng Trái đất, một bản mô phỏng khá tốt!

Bản mô phỏng Trái đất của Avebury – Trái đất thực sự
Bản mô phỏng Trái đất của Avebury – Trái đất thực sự

Giả thuyết trên nghe có vẻ phi lý. Chúng ta đang đề cập đến những con người tiền sử vào thời Đồ Đá ở đây, vậy làm thế nào con người thời kỳ Đồ Đá lại có thể biết được hình dạng và độ nghiêng của trục Trái đất? Đây chính là điểm mà các giáo điều định kiến và các tuyên truyền phổ cập sẽ chặn đứng dòng suy luận của chúng ta. Chúng ta phải giữ một tư duy cởi mở, nếu không giả thuyết mới mẻ và cách mạng này sẽ không thể hướng đến kết luận cuối cùng. Hãy cùng xem xét một số bằng chứng ủng hộ giả thuyết này, và có rất nhiều bằng chứng như vậy:
1. Hãy để ý trục đường đông tây cắt xuyên qua vòng tròn Avebury, vì đây có thể được coi là đường xích đạo của Trái đất Avebury.
2. Hãy để ý rằng vòng tròn đá Avebury nghiêng một chút sang bên trái, tạo một góc 23° so với hướng bắc. Đây không phải là kết quả của việc định hướng thiếu chính xác.  Vì đường thẳng nối tâm của hai đường tròn ở bên trong cũng có góc nghiêng tương đối chính xác như vậy, nên công trình này chắc chắn đã được thiết kế như vậy. Tuy nhiên, nếu chúng ta dám nhìn nhận giả thuyết đầy tranh cãi vừa nêu trên, chúng ta sẽ để ý thấy độ nghiêng trục quay hiện tại của Trái đất (so với trục thẳng đứng) là vào khoảng 23,4°.
avebury-va-trai-dat
3. Để ý rằng vòng tròn đá không phải là hình tròn hoàn hảo. Trước đây người ta thường cho rằng đây là do con người cổ đại không biết cách tạo một hình tròn hoàn hảo; nhưng có rất nhiều ví dụ về các vòng tròn đá hoàn hảo ở Anh, bao gồm di chỉ vòng tròn đá Stonehenge và các vòng tròn nhỏ hơn ở Avebury. Tuy nhiên, hiện nay chúng ta đã có một lý do hoàn toàn hợp lý để giải thích tại sao di chỉ Avebury không được thiết kế theo hình tròn, đó là vì Trái đất tự nó không phải là một khối cầu hoàn hảo. Khi quay, Trái đất sẽ phình ra ở xích đạo (và hẹp hơn ở hai cực, giống một quả bí ngô), và đây chính là điều chúng ta phát hiện ở di chỉ Avebury; Chiều đông-tây của vòng tròn đá dài hơn chiều nam-bắc, cũng giống như trên Trái đất trên thực tế.
4. Chúng ta đã nhận dạng được Khung tò vò ở vòng tròn nhỏ phía bắc Avebury là một mô phỏng của vòng tròn đá Stonehenge, nhưng tại sao nó lại lại được đặt ở đó? Câu trả lời hiện giờ đã trở nên rõ ràng, đó là vì Stonehenge nằm ở Bắc bán cầu, cả trên Trái đất thật và trên Trái đất Avebury. Cái chúng ta có ở đây là một bức tranh cự thạch của Trái đất, lơ lửng trong không gian, một bức tranh với Stonehenge được đánh dấu rõ nét để tất cả chúng ta có thể nhìn thấy.

Mô phỏng vòng tròn đá Stonehenge ở Avebury – Vòng tròn đá Stonehenge thật trên Trái đất
Mô phỏng vòng tròn đá Stonehenge ở Avebury – Vòng tròn đá Stonehenge thật trên Trái đất

Đây chắc chắn là một giả thuyết gây chấn động, một giả thuyết có thể làm đảo lộn tất cả những quan niệm định kiến trước đây, không chỉ về vòng tròn đá Avebury mà còn về lịch sử nhân loại. Trong quan niệm của chúng ta, đây chỉ là những con người thời Đồ Đá chỉ biết săn bắn hái lượm, những người vừa mới thoát thai từ lối sống rừng rậm, bắt đầu công việc trồng trọt và sống trong những túp lều nguyên thủy làm từ cây cối và bùn. Thật khó tưởng tượng những con người nguyên thủy này lại có đủ công nghệ và cơ cấu tổ chức cần thiết để kéo các khối đá khổng lồ vào bên trong những vòng tròn đá chi tiết và kỹ thuật cao như vậy, cũng giống như Stonehenge. Ở đây, họ không chỉ làm được điều đó, mà họ còn vẽ ra bức tranh về Trái đất có độ chính xác cao như khi chúng ta quan sát từ không gian.
Những tiết lộ như thế này có thể là không dễ chấp nhận trong tâm trí chúng ta, nên bạn hãy nghĩ về nó một lúc để cho khái niệm này đọng lại và trở nên bình thường hơn.  Tuy nhiên, đây sẽ vẫn chỉ là một giả thuyết đáng kinh ngạc nếu không có một điểm nữa góp phần củng cố nó.

Bức tranh hoàn thiện

Avebury thật sự là công trình mô phỏng Trái đất lơ lửng trong không gian, bằng chứng cho nhận định này nằm trong vòng tròn phía nam của Avebury – vòng tròn nhỏ với tạo hình trăng lưỡi liềm ở bên trong. Trong cuốn sách ‘Thoth, Kiến trúc sư của vũ trụ’, tác giả đã giải thích rõ rằng những khối đá tạo hình trăng lưỡi liềm này chính là quần đảo South Sandwich ở phía nam Đại Tây Dương. Không chỉ vậy, vĩ tuyến của vòng tròn đá Stonehenge và vĩ tuyến của quần đảo hình trăng lưỡi liềm này cũng được đánh dấu chính xác trên vòng tròn Avebury, bởi số lượng chính xác các khối đá được sử dụng.

Quần đảo hình trăng lưỡi liềm South Sandwich ở phía nam Đại Tây Dương. 7 hòn đảo thuộc South Sandwich tương ứng với 7 tảng cự thạch trong vòng tròn phía nam của Avebury. (Ảnh: Wikitravel.org)
Quần đảo hình trăng lưỡi liềm South Sandwich ở phía nam Đại Tây Dương. 7 hòn đảo thuộc South Sandwich tương ứng với 7 tảng cự thạch trong vòng tròn phía nam của Avebury. (Ảnh: Wikitravel.org)

Chờ một chút. Vậy chúng ta đang nói rằng con người thời Đồ Đá không chỉ có thể hiểu và phác họa đường nét của Trái đất, mà cũng có thể đo đạc các đường vĩ tuyến trên Trái đất sao? Chắc chắn điều đó là không thể. Họ đã sử dụng loại phương tiện nào để đo lường cơ chứ?
Tuy rằng vẫn chúng ta vẫn chưa biết dụng cụ đo lường nào đã được sử dụng để tạo ra vòng tròn đá Avebury, nhưng có thể chứng minh được trên thực tế việc con người cổ đại có thể đo lường những đường vĩ tuyến. Trong cuốn sách, tác giả đã chứng minh rằng số nguyên tố 7 là con số thần thánh do có mối quan hệ gần gũi với con số xấp xỉ với số π (Pi) là 22/7, và rằng hai con số 7 và 22 đã được sử dụng nhiều lần trong những di chỉ thần thánh. Tuy nhiên, nếu đường tròn đầy đủ 360° của địa cầu chúng ta được chia làm bảy phần, kết quả sẽ là 51.42857143. Hay nếu chúng ta quy đổi con số chính xác đó ra độ, phút và giây chúng ta sẽ có 51° 25ʹ 43ʺ.
Tuy nhiên:

Vĩ tuyến 51° 25ʹ 43ʺ nằm ở ngay trung tâm của vòng tròn đá Avebury.

Bạn có thể xác nhận nó ngay bây giờ với phần mềm Google Maps.Đầu tiên, hãy chọn chế độ vệ tinh (thay vì chế độ bản đồ) để có thể xem trực tiếp quang cảnh di chỉ này. Trong bảng tìm kiếm, điền vĩ độ (N 51.42857143) kinh độ phù hợp ngay bên cạnh (W 1.8541980).
Hãy để ý xem dấu đỏ chỉ ở đâu, nó ở ngay trung tâm vòng tròn đá Avebury. Xác suất xảy ra khả năng này là khoảng một phần triệu. Cá nhân tôi tin rằng kinh độ chính xác như vậy đã được những kiến trúc sư cổ đại chọn lựa có chủ đích, từ đó cho thấy hệ thống đo lường 360° đã được nhận thức rõ ràng vào thời kỳ đó, và chắc chắn họ cũng nhận thức được về hình dạng khối cầu của Trái Đất.

Và nếu con người thời Đồ Đá biết về hình dạng thực của Trái đất, họ sẽ có thể dễ dàng nhấn mạnh và bảo tồn kiến thức này bằng cách tạo nên một vòng tròn đá có hình dạng Trái đất.

Bằng chứng cách mạng này đã đưa ra một cái nhìn hoàn toàn mới về khả năng của con người thời cổ đại, cũng như trình độ khoa học công nghệ mà họ sở hữu.

Vòng tròn đá Avebury nằm đúng ở vị trí 1/7 chu vi của Trái đất. Con dấu màu đỏ trong bức ảnh này, là con dấu của Google nhằm đánh dấu kinh độ 51° 25ʹ 43ʺ Bắc.
Vòng tròn đá Avebury nằm đúng ở vị trí 1/7 chu vi của Trái đất. Con dấu màu đỏ trong bức ảnh này, là con dấu của Google nhằm đánh dấu kinh độ 51° 25ʹ 43ʺ Bắc.

Tác giả: Ralph Ellis, Ancient OriginsĐăng tải với sự cho phép. Đọc bản gốc ở đây.Quý Khải biên dịch.Những người ghé thăm các đền thờ và công trình cự thạch cổ đại thường miêu tả một loại cảm giác đặc biệt khác lạ. Nhưng người ta lại thường chỉ xua tay cười khẩy, cho rằng đó chỉ là kết quả do ấn tượng mạnh mẽ khi chiêm ngưỡng các công trình cự thạch, ví như các vòng tròn đá, các ngôi đền và kim tự tháp cổ đại.

Những tảng đá còn sót lại của vòng tròn đá Avebury (Ảnh: Flickr CC)
Những tảng đá còn sót lại của vòng tròn đá Avebury (Ảnh: Flickr CC)

Nhưng bằng chứng tổng thể lại cung cấp một cách giải thích khác: rằng các di chỉ cự thạch và các công trình linh thiêng cổ đại khác thực sự đang thâu góp, tồn trữ, và thậm chí sản sinh một trường năng lượng riêng của chúng, từ đó đưa con người tiến nhập vào một trạng thái ý thức biến đổi.
Không cần quá nhiều động lực để kích hoạt hệ thống mạch điện từ của cơ thể con người; trên thực tế một sự thay đổi nhỏ trong môi trường xung quanh cũng là đủ để tạo ra một sự thay đổi trong nhận thức.

Vòng tròn đá Stonehenge (Ảnh: Internet)
Vòng tròn đá Stonehenge (Ảnh: Internet)

Khảo sát chứng minh sự tồn tại của các trường năng lượng

Năm 1983, một nghiên cứu tổng thể đã được kỹ sư Charles Brooker tiến hành để khảo sát từ tính tại các công trình linh thiêng. Đối tượng nghiên cứu là vòng tròn đá Rollright ở Anh.

Vòng tròn đá Rollright ở Anh. (Ảnh: Aerial-Cam)
Vòng tròn đá Rollright ở Anh. (Ảnh: Aerial-Cam)

Kết quả khảo sát từ tính tại khu vực cho thấy một dải lực từ được thâu hút vào vòng tròn thông qua một khoảng trống hẹp giữa các tảng đá – đóng vai trò như cổng vào. Dải lực từ này sau đó sẽ xoắn theo hình trôn ốc hướng vào trung tâm vòng tròn như thể đang hạ xuống một cái hang thỏ.
Hai trong số các tảng đá ở phía tây vòng tròn cũng được phát hiện đang rung động với các vòng tròn dòng điện xoay chiều đồng tâm, tương tự gợn sóng trong một cái ao.

Hình ảnh đã qua chỉnh sửa từ kết quả thăm dò từ tính của Vòng tròn đá Rollright. Nguồn: Bài viết Từ tính và các cột đá (Magnetism and Standing Stones) của tác giả Charles Brooker trên tạp chí New Scientist số ra ngày 13/1/1983
Hình ảnh đã qua chỉnh sửa từ kết quả thăm dò từ tính của Vòng tròn đá Rollright. Nguồn: Bài viết Từ tính và các cột đá (Magnetism and Standing Stones) của tác giả Charles Brooker trên tạp chí New Scientist số ra ngày 13/1/1983

Kết quả phân tích đã khiến tác giả Brooker đặt câu hỏi về cách thức “cường độ trung bình của trường địa từ bên trong vòng tròn là thấp hơn đáng kể so với bên ngoài vòng tròn, như thể các tảng đá đã có tác dụng như một loại tấm chắn”.
Các khám phá này đã giúp chúng ta giải mã mục đích của người cổ đại khi họ xây dựng các công trình cự thạch này. Tại đền thờ Edfu ở Ai Cập có một bức tường miêu tả công thức thiết kế một khoảng không gian sao cho có năng lượng khác biệt với quang cảnh xung quanh — một ngôi đền. Các chỉ dẫn miêu tả một số vị thần sáng thế nhất định, đầu tiên họ tạo ra một mô đất, sau đó ‘đâm xuyên một con rắn’ ngay tại chỗ, và từ đó một lực lượng tự nhiên đặc biệt đã thấm nhuần vào mô đất, dẫn tới quyết định xây dựng đền thờ ngay bên trên.
Trong nhiều nền văn hóa khác nhau, biểu tượng con rắn vẫn luôn là một ký hiệu ẩn dụ cho các đường năng lượng uốn khúc trên Trái Đất, điều được các nhà khoa học gọi là những dòng điện đất, khá tương tự với khái niệm “long mạch” trong phong thuỷ.

Nữ thần Ai Cập khống chế năng lượng rắn
Nữ thần Ai Cập khống chế năng lượng rắn

Nguyên lý tương tự như máy gia tốc hạt hiện đại

Dường như các kiến trúc sư cổ đại đã sở hữu khả năng khai thác hiệu quả các quy luật của tạo hóa, bởi vì theo một nghiên cứu mới đây về các trường năng lượng bên trong và bên ngoài công trình cự thạch Avebury, vòng tròn đá lớn nhất trên thế giới, các tảng đá cự thạch này được thiết kế để thu hút một dòng điện đất vào bên trong.
Các điện cực được lắp đặt ở Avebury hé lộ cách thức rãnh mương hình tròn làm gián đoạn sự truyền dẫn dòng điện đất và dẫn điện vào bên trong khu vực rãnh mương, nên về thực chất đã tích lũy năng lượng và giải phóng nó tại lối vào di chỉ, đôi lúc lên đến gấp đôi mức tỷ lệ năng lượng tại vùng đất xung quanh
Các chỉ số đo lường từ tính tại di chỉ Avebury đã hạ dần về đêm, tại một mức độ lớn hơn rất nhiều so với trong các hoàn cảnh tự nhiên thông thường. Chúng sẽ “sạc lại” vào lúc bình minh, với dòng điện đất từ vùng đất xung quanh được thâu hút về phía vòng tròn cự thạch tương tự như khi các dao động từ tính tại khu vực di chỉ đạt mức tối đa.
Theo các nghiên cứu được thực hiện bởi nhà vật lý quá cố John Burke, vòng tròn đá Avebury được chủ định dựng lập và bố cục để hội tụ các dòng điện từ chảy theo một hướng định trước, theo nguyên lý tương tự như các máy gia tốc hạt hiện đại, trong đó các hạt i-on trong không khí được lái theo một hướng nhất định.

Toàn cảnh di chỉ vòng tròn đá Avebury. (Ảnh: Getty Images)
Toàn cảnh di chỉ vòng tròn đá Avebury. (Ảnh: Getty Images)
Các tảng đá còn sót lại ở di chỉ Avebury. (Ảnh: Freddy Silva)
Các tảng đá còn sót lại ở di chỉ Avebury. (Ảnh: Freddy Silva)

Hiệu ứng hội tụ năng lượng điện từ của các công trình linh thiêng có thể sẽ được tăng cường nhờ loại đá được lựa chọn. Những khối đá được sử dụng trong các công trình cự thạch thường bao hàm một lượng lớn magnetite (một khoáng vật sắt từ), và cũng thường được vận chuyển qua một quãng đường dài. Hai yếu tố này biến các đền thờ thành các cục nam châm yếu, dù sở hữu kích thước lớn.

Những “bình tụ điện” liên hệ trực tiếp với từ trường của Trái Đất

Các trường năng lượng ở các công trình cổ đại có tác động mạnh mẽ đến cơ thể người, đặc biệt là lượng sắt hòa tan lưu chuyển trong các mạch máu, chưa kể hàng triệu hạt magnetite lưu thông bên trong hộp sọ, và tuyến tùng (quả), vốn tự nó rất nhạy cảm với các trường điện từ, và khi được kích thích sẽ sản sinh các chất dẫn truyền thần kinh như pinolene và seratonin. Trong một môi trường mà cường độ trường điện từ bị suy giảm, con người sẽ có thể trải nghiệm các trạng thái tâm linh siêu thường.
Một cuộc điều tra toàn diện đã được tiến hành tại xã Carnac ở Pháp, nơi tập trung khoảng 80.000 công trình cự thạch. Kết quả điều tra đã tiết lộ sự tồn tại của một công nghệ tâm linh tương tự đang hoạt động. Lúc đầu, nhà nghiên cứu chính, kỹ sư điện Pierre Mereux, đã tỏ ra ngờ vực việc các công trình cự thạch có thể sở hữu bất kỳ huyền năng đặc biệt nào.
Kết quả điều tra tại xã Carnac của kỹ sư Mereux cho thấy cách thức các mộ đá khởi tác dụng khuếch đại và giải phóng dòng điện đất vào ban ngày, với cường độ mạnh nhất được ghi nhận vào thời điểm bình minh. Sự dao động điện áp và từ tính có liên hệ với nhau, và theo sau một hiện tượng được biết đến là sự cảm ứng điện.
Theo kỹ sư Mereux, “Các mộ đá đóng vai trò như một cuộn dây solenoid (cuộn dây kim loại quấn quanh một lõi sắt), trong đó các dòng điện được kích hoạt hoặc sản sinh bởi sự dao động, mạnh hơn hoặc yếu hơn, của trường từ tính xung quanh. Nhưng hiện tượng này sẽ không được kích hoạt với bất kỳ cường độ nào trừ khi mộ đá được tạo dựng bằng các tảng đá tinh thể giàu hàm lượng thạch anh, ví như đá granit”.
Các chỉ số đo đạc các cột đá cự thạch đã cho thấy một loại năng lượng dao động tuần hoàn tại phần đáy, mang điện tích dương và âm, lên đến 10 m từ những tảng đá nguyên khối dựng đứng này, một số trong đó vẫn cho thấy hình chạm khắc các con rắn. Các mức dao động cực đại tuần hoàn cứ sau khoảng 70 phút, cho thấy các cột đá cự thạch tích và phóng điện thường xuyên.
Kỹ sư Mereux cũng nhận thấy sự giảm dần cường độ điện áp của các cột đá cự thạch trong bố cục Grand Ménec khi càng đi ra xa khu vực vòng tròn đá, vốn tự nó đóng vai trò như một cái bình tụ điện hoặc một bộ tập trung năng lượng.

Cột đá Carnac: Một trong 80.000 cột đá tại khu vưc xã Carnac. (Ảnh: Freddy Silva)
Cột đá Carnac: Một trong 80.000 cột đá tại khu vưc xã Carnac. (Ảnh: Freddy Silva)

Kết cấu của các tảng đá và khả năng truyền dẫn năng lượng của chúng cũng thu hút kỹ sư Mereux và những nhà khoa học khác. Với thành phần thạch anh rất cao, những tảng đá được lựa chọn đặc biệt là có tính áp điện, nghĩa là chúng sẽ tạo ra điện khi bị nén ép hoặc dao động. Các tảng cự thạch ở xã Carnac, được đặt tại vị trí 31 chỗ đứt gãy của khu vực có hoạt động động đất mạnh nhất ở Pháp, đang trong tình trạng dao động liên tục, khiến các tảng đá phát triển tính điện từ.
Các cột đá đã không được dựng lên ở vị trí này một cách ngẫu nhiên, đặc biệt khi chúng đã được vận chuyển từ một khu vực cách đó 97 km, bởi vì sự hiện diện và định hướng của chúng có mối liên hệ trực tiếp với từ trường của Trái Đất.

Các công trình linh thiêng và các cổng từ tính

Nhiều truyền thống bí ẩn cổ đại trên khắp thế giới đều giống nhau ở một khía cạnh đặc biệt: họ cho rằng một số địa điểm nhất định trên Trái Đất hội tụ một nguồn năng lượng lớn hơn những nơi khác. Những địa điểm này, được thổ dân Hopi gọi là “các vết đốm của nai nhỏ”, rốt cục đã trở thành nền móng của nhiều công trình linh thiêng và đền thờ mà chúng ta quan sát thấy ngày nay.
Điều thú vị là mỗi nền văn hóa đều nói rằng những địa điểm đặc biệt này được kết nối với thiên đàng bằng một cái ống rỗng hoặc thân cây sậy rỗng, và thông qua sự kết nối mang tính trung tâm này linh hồn có thể tiếp cận với thế giới khác trong quá trình thực hiện nghi lễ. Tuy nhiên, nó cũng cung cấp một đường dẫn để thế giới linh hồn có thể tiến nhập vào lãnh địa vật lý này.
Năm 2008 NASA có thể đã vô tình xác nhận tính chính xác của luận điểm này khi cơ quan này đăng tải chi tiết một cuộc điều tra các sự kiện chuyển giao thông lượng (flux transfer events), trong đó miêu tả cách thức Trái Đất được liên kết với Mặt Trời thông qua một mạng lưới các cổng từ mở ra sau mỗi 8 phút.

Một sự kiện chuyển giao thông lượng (flux transfer event – FTE) xảy ra khi một cổng từ mở ra trên từ quyển Trái Đất và thông qua đó các hạt vật chất cao năng lượng từ phía Mặt Trời có thể chảy vào bên trong. (Ảnh: NASA)
Một sự kiện chuyển giao thông lượng (flux transfer event – FTE) xảy ra khi một cổng từ mở ra trên từ quyển Trái Đất và thông qua đó các hạt vật chất cao năng lượng từ phía Mặt Trời có thể chảy vào bên trong. (Ảnh: NASA)

Những phát hiện như vậy đã giúp xác thực, dưới lăng kính khoa học, niềm tin được ôm giữ bấy lâu nay của những người nhạy cảm và các nhà cảm xạ học rằng: các công trình cự thạch và đền thờ cổ đại là những địa điểm tách biệt với thế giới trần tục, nơi một người có thể kết nối với những địa điểm vượt ra xa khỏi phạm vi Trái Đất.
Chắc chắn những thầy tư tế Ai Cập cổ đại đã coi đền thờ như một thứ gì đó vượt quá tổ hợp các tảng đá vô tri vô giác. Hàng ngày vào lúc bình minh họ sẽ đi thức tỉnh mỗi căn phòng bằng những bài kinh trịnh trọng, đối đãi với đền thờ như một sinh vật sống vốn sẽ ngủ nghỉ về đêm và thức dậy vào lúc bình minh.
Tư liệu trong bài viết được dưa trên cuốn sách của tác giả với tựa đề The Divine Blueprint: Temples, power places, and the global plan to shape the human soul, đền thờ vô hình, 2012. Có thể tìm mua cuốn sách này trên trang web của ông: invisibletemple.com.
Tác giả: Freddy SilvaAncient Origins.
Quý Khải biên dịchTrời về đêm oi ả. Thấp thoáng bóng dáng một người đàn ông đang đi dạo trên bãi biển. Ngay khi vừa mới cất bước, ông đã cảm thấy một tiếng vỡ giòn nhẹ dưới chân. Ông dừng lại để xem xét gót giày dưới ánh trăng, và gạt đi xác của loài sinh vật bất hạnh ông vừa dẫm phải. Không mấy để tâm, ông tiếp tục thả bước mà không hề biết rằng dấu chân của mình đã khiến cái chết của sinh linh bé nhỏ kia trở thành bất tử. Vậy rốt cuộc, có gì lạ lẫm khi dẫm phải một con bọ ba thuỳ?
Bọ ba thùy, một loài sinh vật có từ 600 triệu đến 260 triệu năm trước đây. (Ảnh: Wikia)
Bọ ba thùy, một loài sinh vật có từ 600 triệu đến 260 triệu năm trước đây. (Ảnh: Wikia)
Khoảng 320 triệu năm trước, một loài sinh vật nhỏ dạng thuỳ đã bắt đầu sinh sôi nảy nở trong các đại dương trên Trái đất. Có cùng họ hàng với lớp hình nhện biển—tương tự như tôm hùm và cua—loài sinh vật này từng phát triển rất mạnh mẽ, nhưng đã bị tuyệt chủng hoàn toàn vào khoảng 260 triệu năm trước. Dĩ nhiên, chúng ta đang nói đến loài bọ ba thuỳ (hoặc tam điệp trùng).
Loài người, như phần lớn các nhà khoa học hiện nay đã công nhận, xuất hiện như một chủng loại sinh vật cách đây không quá từ 2 đến 3 triệu năm. Và lịch sử nhân loại xét theo thuyết tiến hóa, không vượt quá xa khỏi phạm vi 10.000 năm trước.
Với những số liệu niên đại như vậy, chúng ta có thể kết luận rằng việc con người dẫm lên một con bọ ba thuỳ như thế có thể được coi như một câu chuyện huyễn hoặc thuộc phạm trù khoa học giả tưởng. Con người không thể dẫm lên một loài sinh vật đã tuyệt chủng hàng triệu năm trước, chứ đừng nói đến một người đi giày—một dấu hiệu rõ ràng của nền văn minh. Đây là một chứng tích đi ngược lại lịch sử—một hoá thạch không tưởng.
Dấu chân hóa thạch dẫm lên một con bọ ba thuỳ
Dấu chân hóa thạch dẫm lên một con bọ ba thuỳ
Tháng 6/1968, ông William J. Meister, một nhà sưu tầm hoá thạch không chuyên đã tìm thấy một phiến đá dày 5cm ở Antelope Springs, Utah, Mỹ. Với một nhát búa, ông đập phiến đá để lộ ra một dấu chân hoá thạch của người. Nhưng dấu chân này có một điểm đặc biệt—một con bọ ba thuỳ bị dẫm nát. Không lâu sau khi tin tức này lan truyền trên khắp thế giới, một số nhà nghiên cứu đã đến Antelope Spring, và phát hiện thêm nhiều dấu tích do giày dép thời hiện đại lưu lại trên một địa tầng tương thích với các niên đại vô cùng cổ xưa. Câu chuyện khôi hài dường như đang đùa giỡn với lịch sử này rốt cuộc là gì vậy?

Những khám phá đặt câu hỏi cho lịch sử

Năm 1852, người ta cho nổ mìn để phá một khối đá lớn ở Dorchester, Massachusetts, Mỹ. Sau tiếng nổ, các công nhân tìm thấy một hiện vật kim loại kỳ lạ đã bị vỡ làm đôi trong đống đổ nát. Khi được chắp lại với nhau, hai mảnh vỡ này đã tạo thành một cái bình hình chuông với đế rộng 16,5 cm và chiều cao 11,4 cm. Sau khi phân tích, người ta phát hiện ra rằng chiếc bình này có cấu tạo từ hợp kim bạc. Điều này đã tạo nên chấn động, khi một món hiện vật, vốn dường như được chế tạo với một trình độ công nghệ cao như vậy, lại có vẻ như bị mắc kẹt trong một tảng đá được hình thành từ vài triệu năm về trước—một thời kỳ khi con người thậm chí còn chưa xuất hiện.
chiec-binh-bac-DorchesterChiếc bình hợp kim bạc được tìm thấy trong khối đá hàng triệu năm tuổi ở Dorchester, Massachusetts, Mỹ. (Ảnh: Wikimedia)
Những khám phá kiểu này không phải là hiếm. Trên thực tế, chính vì chúng có khả năng đặt vấn đề nghi vấn về các hiểu biết hiện tại của chúng ta về nguồn gốc loài người, nên các di chỉ khảo cổ đã hết lần này đến lần khác che giấu khá nhiều các hiện vật có vấn đề.
Một trường hợp tương tự đã xảy ra vào những năm 80 của thế kỷ trước, khi một người chủ trang trại ở Colorado khai thác các mảnh than từ một mạch khoáng chất có độ sâu khoảng 91 m. Khi về đến nhà, ông đập vỡ các mảnh than khai thác được và phát hiện thấy một cái đê bằng sắt có hình thù kỳ dị. Tin tức về khám phá này, được biết đến với tên gọi “Chiếc đê của Eva”, đã lan truyền nhanh chóng. Tuy nhiên, do tình trạng ăn mòn và do khách tham quan cầm xem quá nhiều nên chiếc đê đã bị mục rã.
Chúng ta biết rằng đê là một dụng cụ đã được con người sử dụng trong vòng vài nghìn năm trở lại đây. Tuy nhiên, một chi tiết kỳ lạ trong trường hợp này là mảnh than trong đó có chứa chiếc đê đã hình thành từ 70 triệu năm về trước, trong khoảng giữa kỷ Phấn trắng và kỷ Thứ ba. Theo thuyết tiến hóa, vào thời kỳ đó tổ tiên của loài người thậm chí còn chưa là khỉ, mà là một loài động vật nhỏ có vú, với đôi mắt lồi, và chỉ biết đu lượn giữa các cành cây.
“Khối lập phương Salzburg” (hay khối sắt Salzburg) là một thách thức khác đối với lịch sử. Khối lập phương này được công chúng biết đến vào năm 1885 khi một thợ luyện kim người Áo đập vỡ các mảnh than, để lộ ra một hiện vật hình lập phương bằng sắt. “Các cạnh của hiện vật kỳ lạ này được mài thẳng một cách hoàn hảo và sắc nét; 4 mặt xung quanh của khối hộp được làm phẳng, trong khi 2 mặt đối diện còn lại thì lồi ra. Ở giữa khối hộp có một rãnh sâu”, theo ghi chép của Rene Noorbergen, một chuyên gia về các trường hợp như vậy.
khoi-lap-phuong-salsburg-1Khối lập phương Salzburg (hay khối sắt Wolfsegg). (Ảnh: Wikimedia)
khoi-lap-phuong-salsburgKhối lập phương Salzburg (hay khối sắt Wolfsegg). (Ảnh: Internet)
Phân tích hoá học sau đó đã xác định được rằng hiện vật này không chứa thành phần nguyên tố crom (Cr), niken (Ni) hay coban (Co), mà được cấu tạo từ một loại sắt luyện. Thành phần cấu tạo như vậy dường như đã phủ nhận giả thuyết cho rằng “khối lập phương” này là một thiên thạch, như một số người đề xuất. Mảnh than nơi tìm thấy khối sắt này có tuổi là 20 triệu năm.

Thêm các hoá thạch khó chối cãi

Tại bảo tàng Canbrera ở Peru, người ta trưng bày 10.000 hòn đá với kích thước khác nhau. Trên bề mặt những hòn đá này là các hình người, thực vật, động vật và cả những ký hiệu trừu tượng. Hình người trên đó đội mũ, đi giày và mặc quần áo. Một số hòn đá miêu tả những cảnh tượng như truyền máu, cấy ghép nội tạng và mổ đẻ ngày nay. Một số hòn đá có chạm khắc những hình người, tay cầm một chiếc kính viễn vọng đang quan sát các chòm sao, hành tinh và sao chổi.
Quan sát sao chổi: Hòn đá Ica này khắc hoạ một người đội mũ đang quan sát một ngôi sao chổi bằng kính viễn vọng. (Ảnh: Eugenia Cabrera/Museo Cabrera)
Quan sát sao chổi: Hòn đá Ica này khắc hoạ một người đội mũ đang quan sát một ngôi sao chổi bằng kính viễn vọng. (Ảnh: Eugenia Cabrera/Museo Cabrera)
Một số hình vẽ còn trông giống như bọ ba thùy đã tuyệt chủng, những loài cá đã tuyệt chủng, và các loài động vật khác mà chúng ta không quen thuộc.
Tiến sĩ Dennis Swift, nhà nghiên cứu khảo cổ từ Đại học New Mexico (Mỹ), đã ghi chép trong cuốn sách “Những bí ẩn về các hòn đá Ica và những hình vẽ trên cao nguyên Nazca” (Secrets of the Ica Stones and Nazca Lines) những bằng chứng cho thấy những hòn đá này đã có niên đại từ thời tiền Columbus (tức trước khi phát hiện ra châu Mỹ).
Tuy ngành sinh học và di truyền học đang hàng ngày đưa ra cho chúng ta xem những nghiên cứu mới nhằm khẳng định [giả thuyết về] nguồn gốc chung của muôn loài, nhưng những hoá thạch mới vẫn không ngừng xuất hiện—thêm những dấu tích về một quá khứ đã từng phát triển rất phồn thịnh vào thời kỳ xa xưa.
Theo thời gian, những phát hiện này đã góp phần ủng hộ giả thuyết cho rằng nguồn gốc con người còn xa xưa hơn rất nhiều so với các mốc niên đại được nhìn nhận rộng rãi hiện nay.
Có lẽ mẫu hoá thạch gây nhiều tranh cãi nhất trong những năm gần đây là mẫu hóa thạch được tìm thấy bởi một nhà địa chất từ Đại học Jadaypur, Calcutta, Ấn Độ. Một phiến đá màu đỏ, có niên đại 1.100 triệu năm được tìm thấy ở Madhya Pradesh, Chorhat đã làm các nhà khoa học chấn động. Trên phiến đá có các hình zíc-zắc ngoằn ngoèo giống như do bị sâu bò.
Hoá thạch cổ xưa nhất loại này được biết đến hiện nay nằm ở Namibia và Trung Quốc, và các dấu vết được cho là của các loài sinh vật đa bào, vốn xuất hiện trong quá trình tiến hoá khoảng 600 triệu năm trước đây. Nếu phát hiện ở Ấn Độ được diễn giải một cách chính xác, thì sẽ cần phải nghiêm túc xem xét lại nền tảng căn bản của thuyết tiến hoá của Darwin, khi cần phải lùi lại một giai đoạn niên đại khổng lồ (400 hoặc 500 triệu năm) giữa hoá thạch này và các hoá thạch tìm thấy ở Namibia và Trung Quốc.
“Nếu bạn từng thấy các sinh vật có kích thước vài cm nhưng lại không thấy chúng trong 400 triệu năm tiếp theo, thì có rất nhiều khúc mắc cần lý giải”
– Nhà cổ sinh vật học Andrew Knoll, ĐH Harvard.
Sau khi các dấu tích mới được tìm thấy trên những tảng đá tương tự, nhiều nhà khoa học có uy tín đã buộc phải phân tích lại niên đại của các tảng đá này. Nhưng những mẫu vật này (tinh thể zirconium) vẫn tiếp tục cho thấy những điều không tưởng, khiến vấn đề trở nên “thậm chí còn thú vị và hoang đường hơn”, theo nhà cổ sinh học Adolph Seilacher từ Đại học Yale.
Ông Seilacher tin rằng, theo vốn hiểu biết được chấp nhận rộng rãi ngày nay, những dấu vết hóa thạch này không thể bắt nguồn từ các loài động vật. Tuy nhiên, ông bổ sung: “Đồng thời, tôi cũng phải ghi nhận những bằng chứng này. Tôi chưa tìm thấy, hay nghe thấy từ ai khác, môt lời giải thích phù hợp cho điều này. Liệu có bất cứ cách giải thích phi sinh học nào cho các dấu vết này hay không?”. Nghiên cứu này được công bố trên tạp chí Khoa học (Science) số ra ngày 2/10/1998.
Trên thực tế, tồn tại nhiều hoá thạch đang thách thức hiểu biết đương đại của chúng ta về lịch sử. Một dấu hằn của một bàn tay người đầy đủ (có cả móng tay) đã được tìm thấy trong một tảng đá vôi 110 triệu năm tuổi ở Glen Rose, Texas; một ngón tay hoá thạch với niên đại 100 triệu năm tuổi (hoá thạch số hiệu DM93-083), và sau khi chụp X-quang đã cho thấy đầy đủ cấu trúc xương, đã được tìm thấy trên đảo Axel Heiberg ở Canada; các phát hiện nổi tiếng về những dấu chân người khổng lồ bên cạnh các dấu chân khủng long ở Rio Paluxy, Texas; ngoài ra còn nhiều ví dụ khác. Tính vững chắc của các lý thuyết hiện thời đang bị lung lay mỗi khi một “hoá thạch không tưởng” được đưa ra ánh sáng.
Dấu hằn của một bàn tay người đầy đủ được tìm thấy trong tảng đá vôi 110 triệu năm tuổi ở Glen Rose, Texas, Mỹ. (Ảnh: paleo.cc)
Dấu hằn của một bàn tay người đầy đủ được tìm thấy trong tảng đá vôi 110 triệu năm tuổi ở Glen Rose, Texas, Mỹ. (Ảnh: paleo.cc)
Trên: Ngón tay hoá thạch với niên đại 100 triệu năm tuổi (hoá thạch số hiệu DM93-083) được tìm thấy trên đảo Axel Heiberg ở Canada. Dưới: Ảnh chụp X-quang ngón tay hóa thạch cho thấy rõ cấu trúc xương bên trong. (Ảnh: paleo.cc)
Trên: Ngón tay hoá thạch với niên đại 100 triệu năm tuổi (hoá thạch số hiệu DM93-083) được tìm thấy trên đảo Axel Heiberg ở Canada. Dưới: Ảnh chụp X-quang ngón tay hóa thạch cho thấy rõ cấu trúc xương bên trong. (Ảnh: paleo.cc)
Leonardo Vintini, Epoch Times
Hoàng Sâm biên dịch

No comments:

Post a Comment