Friday, January 6, 2017

Những lễ hội văn hóa độc đáo, đặc trưng miền Tây Nam Bộ


Du lịch miền Tây, chắc hẳn du khách không thể quên những con sông, lạch nối đuôi chằng chịt và những chợ nổi trên sông với đủ loại hàng hóa. Không những vậy, du khách còn cảm nhận được nét văn hóa độc đáo ở đây qua những lễ hội truyền thống của người miền Tây. 

Lễ hội Vía Bà Chúa XứNúi Sam nằm cách thành phố Châu Đốc (tỉnh An Giang) 5 km, là nơi có quần thể di tích lịch sử văn hoá với chùa cổ Tây An, miếu Bà Chúa Xứ, chùa Hang, lăng Thoại Ngọc Hầu... 

Lễ hội Bà Chúa Xứ ( còn gọi là lễ Vía Bà) được tổ chức hàng năm bắt đầu từ đêm 23/4 âm lịch đến 27/4 âm lịch.

Khách hành hương đến lễ hội  có thể đi theo đường bộ từ Long Xuyên lên Châu Đốc theo tỉnh lộ 10, rẽ vào 7km là tới núi Sam; hoặc đi bằng đường thủy từ Cần Thơ, Sóc Trăng lên hay từ Sài Gòn xuống. 
Đêm 23/4 là lễ tắm và thay xiêm y cho tượng Bà. Nước tắm tượng là nước thơm, bộ y phục cũ của Bà được cắt nhỏ ra phân phát cho khách trẩy hội và được coi như lá bùa hộ mệnh giúp cho người khoẻ mạnh và trừ ma quỷ. Tiếp theo là lễ rước bốn bài vị từ lăng Thoại Ngọc Hầu về miếu Bà. Lễ Túc Yết được tổ chức vào lúc 24 giờ ngày 25 rạng ngày 26. Lễ được tiến hành theo trình tự: dâng hương, chúc tửu, hiến trà, đọc văn tế. Sau đó bài văn tế được hoá cùng với một ít giấy vàng bạc. Tiếp ngay sau lễ Túc Yết là đến lễ Xây Chầu - Hát Bội do do một người sành nghi lễ và có uy tín trong ban tế tại miếu Bà thực hiện cùng đào kép hát bội cầu nguyện cho quốc thái dân an, mưa thuận gió hoà. 4 giờ sáng ngày 26/4 lễ Chánh Tế  được tiến hành (lễ nghi được tiến hành giống lễ Túc Yết). Chiều ngày 27/4 bài vị Thoại Ngọc Hầu được đưa về lăng. Chương trình hát bội cũng chấm dứt. Kết thúc lễ cúng vía bà.  

Lễ Vía Bà hằng năm thu hút rất đông khách thập phương. Đến với lễ hội hội họ vừa được tham dự lễ hội dân gian phong phú để xin cầu tài cầu lộc, đồng thời họ có dịp để du ngoạn, chiêm ngưỡng cảnh trí thiên nhiên ở An Giang.

Lễ Cúng Dừa (Hội Thác Côn) – Lễ hội tâm linh của tỉnh Sóc TrăngĐây là lễ hội truyền thống của tỉnh Sóc Trăng vào ngày rằm tháng hai hàng năm. Lễ hội được diễn ra tại xã An Hiệp, huyện Châu Thành. Trong tiếng Khmer thì ” thác côn” có nghĩa là ” đạp cồng”, đây là một trong những sự tích từ xa xưa ở đây. Hội Thác Côn có tục lệ cúng những chiếc bình bông làm bắng dừa trái. Do nét độc đáo này mà người ta gọi đây là “lễ cúng dừa”. Theo quan niệm của những người ở đây thì nước trong trái dừa tinh khiết trong lành là biểu thị cho sự may mắn, an lạc. Đây là lễ hội văn hóa đặc trưng của miền Tây Nam Bộ.Nếu bạn đến đây vào mùa lễ hội cúng dừa Sóc Trăng sẽ hiểu được văn hóa tín ngưỡng của người dân Sóc Trăng nói riêng và của miền sông nước nói chung.Lễ hội Ok Om Bok – Lễ hội có quy mô lớn nhất miền Tây                          Lễ hội Ok Om Bok là lễ hội được trông đợi nhất trong năm của người Khmer. Vào các ngày 14, 15 tháng 10 âm lịch hàng năm các dân làng tiến hành làm lễ cúng trăng ngay trước nhà mình sau đó sẽ tập trung ở chùa để làm lễ chung. Chính vì vậy Ok Om Bok còn có tên gọi khác là “lễ cúng trăng”. Nếu ở Sóc Trăng người ta đến hồ Nước Ngọt, còn ở Trà Vinh thì tập trung về Ao Bà Om để dự lễ. Phần đặc sắc và thu hút nhất của lễ hội Ok OM Bok miền Tây đó chính là đua ghe go. Lễ hội đua ghe miền Tây được sử dụng những chiếc ghe là loại phương tiện phổ biến, ở các vùng sông nước . Những chiếc ghe để đua có phần độc đáo hơn đó là được khoét trong thân cây Sao, hình dáng bên ngoài được tô vẽ sao cho giống hình rắn thần Nagar – linh vật của người Khmer. Mũi và lái được uốn cong và có sức chứa khoảng 40 tay chèo. Những người chèo ghe được chọn lựa kỹ lưỡng, là những trai tráng khỏe mạnh của vùng. Đua ghe ngo là nghi thức truyền thống của vùng đồng bằng sông Cửu Long, nhằm tiễn đưa thần nước sau vụ mùa gieo trồng về với biển cả.Lễ hội đua ghe gho Sóc Trăng


Ngoài đua ghe ngo, thả đèn nước cũng là hoạt động không thể thiếu trong lễ hội Ok Om Bok. Nếu các bạn đi du lịch văn hóa vùng sông nước này vào những lễ hội văn hóa đặc trưng miền Tây này, sẽ được cùng người bản xứ thả những chiếc đèn giấy theo dòng nước và cầu nguyện ước muốn cho bản thân. Không những vậy bạn còn được hòa mình vào không gian văn hóa dân tộc Khmer bởi các loại nhạc cụ, hay những điệu múa mang âm hưởng đặc trưng của người Khmer ở miền Tây.Lễ hội đua bò và Tết Dolta ở tỉnh An Giang Đây cũng là một trong những lễ hội nổi tiếng của tỉnh An Giang, lễ hội được tổ chức hàng năm vào dịp tết Dolta. Dịp tết này được diễn ra vào ngày 29 tháng 8 đến ngày 1 tháng 9 âm lịch, với ý niệm nhớ đến công sinh thành, dưỡng dục của ông bà và nhớ về tổ tiên cội nguồn.Trong những ngày tết này có truyền thống đua bò rất hấp dẫn. Thường được tổ chức luân phiên tại chùa Thamit, chùa Tà Miệt. Đây là lễ hội văn hóa đặc trưng miền Tây hấp dẫn khách du lịch.  Lễ hội đua bò miền Tây mang đậm màu sắc dân gian, hấp dẫn và sôi động, thu hút đông nhân dân trong vùng và du khách tham dự.Lễ Cholchnam Thmay – Ngày tết cổ truyền của người Khmer miền Tây Được tổ chức hàng năm vào 13, 14, 15 tháng 3 âm lịch, lễ Cholchnam Thmay còn được gọi là ” lễ chịu tuổi”. Đây là khoảng thời gian những người Khmer đã xong việc đồng áng nên thỏa sức vui chơi. Phong tục lễ tết này gần giống với tết nguyên đán của người Kinh. Vào những ngày này những người dân Khmer trên các tỉnh của miền Tây đều gói bánh tét, chuẩn bị hoa quả, hương đèn lễ Phật. Đây cũng là một trong những lễ hội văn hóa đặc trưng miền Tây độc đáo, hiếu kỳ cho du khách khi du lịch về đây.Lễ hội Đôn ta                              

Lễ Sen Đôn Ta được biểu hiện dưới hình thức Sen (cúng) là một lễ thức không thể thiếu trong đời sống tâm linh của đồng bào với mục đích là để vừa bày tỏ lòng biết ơn, vừa cầu mong đạt được những điều tốt lành, phước đức của người đang sống đối với người đã chết. Việc Sen chủ yếu nhằm vào 2 đối tượng là vong linh những người đã mất có quan hệ huyết thống với mình và những người có công tạo lập, các vị sư sãi hy sinh vì Đạo pháp dân tộc, các anh hùng liệt sĩ đã hy sinh vì Quốc gia dân tộc. Còn (Đôn nghĩa là Bà, Ta nghĩa là Ông). Lễ hội Sen Đôn Ta được tổ chức tại nhà và Pro - chum - binh (có nghĩa là hội cơm nắm, cơm vắt dùng để cúng vong linh ông bà, tổ tiên quá cố) tổ chức tại chùa. Sen Đôn ta mang màu sắc tín ngưỡng dân gian, còn Pro - chum - binh mang màu sắc tôn giáo. Nhưng Sen Đôn Ta và Pro – chum - binh đã có sự kết hợp hài hòa, tế nhị, sâu sắc và thú vị cho nên, thường được gọi chung là lễ Sen Đôn Ta.

Vào những ngày này khắp nơi trong phum, sóc Khmer nhà nhà đều rộn ràng khí thế Sen Đôn Ta. Đầu tiên đồng bào Sen (cúng) ông, bà đã quá cố; tiếp theo là mừng thọ, thăm hỏi và tặng quà ông bà, cha mẹ còn sống. Xong các phần nghi thức đó là đến bữa cơm sum họp gia đình. Vật dùng để Sen (cúng) gồm các món ăn mặn, bánh trái... khá phong phú, đậm đà hương vị phum, sóc, là những sản vật sẵn có theo mùa ở địa phương do đồng bào tự chế biến như bánh tét, bánh gừng… là phổ biến nhất. Mâm cỗ Sen Đôn Ta của gia đình đồng bào Khmer, dù giàu hay nghèo đều không thể thiếu được nhang đèn, hoa quả, trầu cau, ly nước lạnh, tách trà, ly rượu... Tất cả được bài trí ngăn nắp và đẹp mắt chia thành 2 mâm đặt song song ở nơi trang trọng trong nhà. Những người ông bà, cha mẹ hay người cao tuổi nhất trong nhà sẽ làm chủ bái và đọc bài Sen (cúng) 3 lần có vần, có điệu, có nội dung sâu sắc thể hiện lòng thành kính tri ân đến tổ tiên, ông bà và những người có công đối với cộng đồng dân tộc đã quá cố.

Sáng ngày thứ hai là ngày mùng 01/9 âm lịch (nhằm ngày 15/9 dương lịch) tức ngày cuối cùng của tháng (phot-tro-bot Khmer), đồng bào Khmer sáng thức dậy sớm chuẩn bị các tứ vật dụng cần thiết đi chùa làm lễ Pro-chum-binh và thắp hương bàn thờ tổ tiên cầu mời vong hồn của tổ tiên, ông bà cùng đi theo vào chùa. Pro-chum-binh tại chùa bao gồm kèm theo 3 lễ tiết như sau: Róp bát-Banh-chuôl bai-binh (đặt bát rước cơm vắt, cơm nắm); cuối cùng là Pro-chum-binh (dâng mâm huê vật thực và lễ vật đến các vị chư tăng). Tất cả ba lễ tiết này đều có nguồn gốc từ tín ngưỡng dân gian dẫn đến tích truyện… của Phật giáo Nam tông Khmer nên mang đậm dấu ấn màu sắc tôn giáo.

Cũng trong thời gian diễn ra lễ Sen Đôn Ta tại chùa sẽ có nhiều tiết mục văn nghệ, nhạc ngũ âm, trò chơi vui dân gian, để cho đồng bào có không khí phấn khởi, vui tươi, náo nhiệt trong ngày lễ hội.

Ngày thứ 3 của lễ Sen Đôn Ta vào ngày mùng 02 tháng 9 âm lịch tức ngày mùng 01 của tháng A-Such Khmer (nhằm ngày 16 tháng 10 năm 2012 dương lịch) Đồng bào Khmer tổ chức Sen (cúng) đưa ông bà, tổ tiên về nơi cũ. Những ngày này khắp nơi trong mọi phum sóc, con cháu phải làm lễ cúng tiễn đưa và chuẩn bị mọi phương tiện “thường làm bằng bẹ chuối, kết thành những chiếc thuyền nhỏ trên có trang bị cờ xí, thức ăn, đồ dùng... mang tính tượng trưng rồi đem thả xuống sông, rạch” để đưa ông bà trở về an toàn.

Lễ thể hiện được truyền thống đạo lý “cây có cội, nước có nguồn” của cộng đồng dân tộc Việt Nam nói chung, mang tính nhân văn và tính giáo dục đạo đức sâu sắc. lễ Sen Đôn Ta đã giúp cho thân tộc, gia đình sum họp, đầm ấm, thắt chặt tình đoàn kết thương yêu giúp đỡ nhau trong phum sóc, cũng là dịp để mọi người gặp gỡ nhau thăm hỏi, bàn bạc, trao đổi chuyện tương lai. Nó còn mang một ý nghĩa sâu sắc là sự Đoàn kết giữa 3 dân tộc, Kinh, Khmer, Hoa với tình làng nghĩa xóm, tinh thần đoàn kết nghĩa đồng bào. Tổ chức xong lễ Sen Đôn Ta này cũng có nghĩa là người Khmer đã làm xong bổn phận báo ân với tổ tiên của mình trong năm./.

Kathina lễ hội dâng y tâm thức của đồng bào Khmer
Hiện nay, khi đời sống kinh tế của đồng bào Khmer đã được nâng lên rõ rệt thì các lễ Kathina hằng năm tại các chùa luôn được tổ chức lớn hơn, mang đầy đủ nét văn hóa truyền thống hơn.
Trung bình hàng năm mỗi chùa có từ 3-5 đám rước. Thậm chí còn có nhiều đám rước của Phật tử ở các phum sóc và tỉnh thành lân lận.
Vì là lễ dâng y lên sư sãi của bổn chùa nên việc tiến hành tốn rất nhiều chi phí, mọi thứ phải chuẩn bị kỹ càng từ rất lâu. Muốn được tổ chức lễ Kathina nhiều gia đình phải hợp lực và có sự chung tay của các con cháu, anh em trong tộc họ.

Thế nhưng, chi phí cao không làm họ thui chột đi tinh thần với văn hóa dân tộc, vì với họ, chi phí càng cao đồng nghĩa với việc lễ Kathina của gia đình họ, dòng họ được tổ chức chu đáo và thành công.

Tuy tốn nhiều chi phí như vậy, nhưng không phải gia đình, dòng họ nào trong phum sóc muốn tổ chức là được, điều đó phải có sự đồng ý, chấp thuận của vị sư cả trong chùa, của cả phum sóc.

Có năm, nhiều gia đình, tộc họ nào đó muốn đứng ra tổ chức một đám rước Kathina riêng nhưng cũng chưa chắc được, bởi vì, nếu trong năm đó, phật tử trong bổn sóc có nhiều người muốn được tổ chức thì phải có buổi họp tại hội đồng của chùa, sau đó sẽ đi đến quyết định lễ Kathina năm đó sẽ được rước chung hay do một gia đình, một dòng họ nào đó tổ chức.

Thông thường, khi được tổ chức lễ Kathina, nhiều gia đình sẽ cúng dường thêm cho nhà chùa một kỷ vật nào đó như chiếc giường, bàn ghế, tủ… để ghi nhận thời gian tổ chức, lòng thành kính của họ đối với nhà chùa, cũng như góp phần trang bị vật dụng cho nhà chùa.

Năm nay, gia đình ông Danh Khên ở ấp Bưng Cốc, xã Phú Mỹ (huyện Mỹ Tú) đã đồng tiến hành với 7 hộ khác trong phum sóc.

Hiện, gia đình đang chuẩn bị những nghi thức cuối cùng để tiến hành lễ Kathina tại chùa Bưng Cốc.

Ông Khên cho biết: Muốn tổ chức đám rước Kathina, gia đình ông đã lên kế hoạch và đề nghị với nhà chùa từ nhiều năm trước nhưng phải đến nay mới có vinh hạnh cùng những hộ khác tiến hành lễ. Theo ông, được tổ chức lễ Kathina là niềm tự hào và nguyện ước của mỗi gia đình người Khmer, thỏa niềm ước nguyện của lòng thành kính, lòng sùng đạo của người Khmer với chùa chiền, với văn hóa dân tộc mình.

Với đồng bào Khmer, chùa không những là trung tâm sinh hoạt tôn giáo mà còn là trung tâm sinh hoạt văn hóa của họ. Vì mọi hoạt động văn hóa tinh thần của cả cộng đồng người Khmer trong các dịp lễ hội luôn gắn chặt với ngôi chùa.

Lễ hội chính là nét thể hiện tình cảm, tâm thức của người Khmer đối với ngôi chùa. Trong các lễ hội, lễ Kathina (còn gọi là lễ dâng bông và dâng y cà sa) chính là một trong những dịp lễ thể hiện rõ nhất nét cô kết cộng đồng và sự hết lòng của người Khmer với bổn sóc và ngôi chùa.

Thông thường, vật phẩm dâng lên cho sư sãi trong lễ Kathina phải có những thứ lễ vật truyền thống như áo cà sa, bình bát để sư khất thực, dao lam, đá mài, kim chỉ…

Theo truyền thống, đây là những vật phẩm để sư sãi dùng trong những tháng trường học tập và những đồ dùng trong sinh hoạt hằng ngày. Hiện nay, do việc đi lại dễ dàng nên nhiều gia đình đã cúng dường cho nhà chùa, nhà sư thay vì tự đi mua như trước đây.

Nhưng để tiến hành lễ Kathina đúng nghĩa thì những vật phẩm truyền thống không thể thay thế.

Lễ Kathina của đồng bào Khmer Nam Bộ được tổ chức hằng năm trong vòng một tháng sau ngày mãn hạ (bắt đầu từ ngày 15/9 đến ngày 15/10 Âm lịch), trong vòng 1 tháng này, mỗi chùa sẽ ấn định một ngày cụ thể để cho Phật tử cả trong và ngoài phum sóc tiến hành lễ.

Lễ dâng bông, dâng y cà sa của đồng bào Khmer thường diễn ra trong 2 ngày. Ngày đầu tiên diễn ra tại chùa, các sư sãi đọc kinh cầu nguyện để phum sóc an lành, cầu phúc cho mọi người gặp nhiều may mắn.

Ngày thứ hai, đồng bào Phật tử trong phum sóc sẽ tổ chức một đám rước quanh phum sóc và xung quanh chánh điện như minh chứng cho lòng thành của họ trước khi làm lễ dâng bông và dâng áo cà sa lên sư sãi.

Để tăng thêm phần long trọng cho đám rước, nhiều gia đình còn kết hợp thêm các loại hình nghệ thuật truyền thống vào lễ rước như tổ chức hát, múa Rô băm, Dù kê…

Kathina, một lễ truyền thống góp phần tạo nên sự đa dạng trong văn hóa Khmer, là nét chính thể hiện tâm thức của người Khmer đối với văn hóa dân tộc, sự sùng kính từ trái tim họ với chùa chiền.

Thông qua các hoạt động này giúp con người sống gần gũi và thân thiện, đoàn kết, sống có trách nhiệm và luôn thương yêu đùm bọc lẫn nhau hơn, tính cô kết trong cộng đồng càng được gắn chặt hơn.
Lễ tống ôn- tống gió là một lễ lâu đời của người dân vùng Nam Bộ. Lễ được tổ chức để nhằm xua đi những điều không tốt, xui rủi, tai ương trong năm qua và cầu an cho năm mới tốt lành.
Rằm tháng Giêng năm nay, chúng tôi có dịp được xem lễ tống ôn- tống gió của người dân Cần Thơ sống ở xung quanh bờ sông Hậu, lễ được tổ chức hết sức nhộn nhịp tại miếu Bà (quận Cái Răng).
Miếu Bà trên bờ sông Hậu- nơi người dân Cần Thơ làm lễ tống ôn, tống gió.
Miếu Bà trên bờ sông Hậu- nơi người dân Cần Thơ làm lễ tống ôn, tống gió.
Theo ghi nhận của PV Dân trí, tại buổi lễ, người để một chiếc thuyền trước sân miếu Bà để cúng tế. Đó là một chiếc thuyền có khung bằng tre, dưới đáy thuyền là những cây chuối nhằm để thuyền nổi trên mặt nước; thuyền được dán giấy xung quanh, trên có ghi địa chỉ miếu thờ, biển số và nhiều hình ảnh khác, người ta bỏ lên thuyền nhiều đồ dùng để cúng vái thần linh và cúng những người ở cõi âm.
Sau khi người dân cùng đến cúng vái cầu an. Thuyền được đưa xuống một chiếc ghe rồi diễu hành trên một đoạn sông, theo sau chiếc ghe chở thuyền cúng là hàng chục chiếc ghe khác đi theo sau. Người dân reo hò theo tiếng trống múa lân rộn ràng. Điểm đặc biệt nữa là người ta cùng tóe nước vào nhau như để xua đi những điều không may mắn cho nhau.
Sau khi diễu hành, thuyền được chở đến ngã ba sông rồi được thả xuống nước như để mang theo những điều xui rủi, tai ương đi mất.
Ngày nay, lễ tống ôn- tống gió ít được tổ chức hơn trước nhưng nhiều địa phương vẫn còn duy trì như một nét văn hóa tâm linh của họ.
Người ta làm một chiếc thuyền để cúng vái trong buổi lễ.
Người ta làm một chiếc thuyền để cúng vái trong buổi lễ.
Người ta làm một chiếc thuyền để cúng vái trong buổi lễ.
Người dân địa phương đến cúng vái gửi những xui rủi năm cũ lên thuyền để mang đi xa.
Người dân địa phương đến cúng vái gửi những xui rủi năm cũ lên thuyền để mang đi xa.
Cùng đó, nhiều người dân khác họ cũng đốt muối, gạo trước cửa nhà để xua đi tai ương.
Cùng đó, nhiều người dân khác họ cũng đốt muối, gạo trước cửa nhà để xua đi tai ương.
Múa lân tại lễ hội bên bờ sông.
Múa lân tại lễ hội bên bờ sông.
Đốt những điều xui rủi.
Đốt những điều xui rủi.
Sau các nghi thức lễ, thuyền được mang xuống ghe chở đi diễu hành.
Sau các nghi thức lễ, thuyền được mang xuống ghe chở đi diễu hành.
Sau các nghi thức lễ, thuyền được mang xuống ghe chở đi diễu hành.
Sau các nghi thức lễ, thuyền được mang xuống ghe chở đi diễu hành.
Sau các nghi thức lễ, thuyền được mang xuống ghe chở đi diễu hành.
Thuyền cúng được chở đi diễu hành trên một đoạn sông. Không khí sôi nổi qua tiếng trống múa lần và tiếng reo hò của người dân.
Sau các nghi thức lễ, thuyền được mang xuống ghe chở đi diễu hành.
Theo sau ghe chở thuyền cúng là cả trăm ghe khác. Người ta tóe nước vào nhau như để tắm sạch mình trong buổi lễ.
Sau các nghi thức lễ, thuyền được mang xuống ghe chở đi diễu hành.
Sau các nghi thức lễ, thuyền được mang xuống ghe chở đi diễu hành.
Sau các nghi thức lễ, thuyền được mang xuống ghe chở đi diễu hành.
Thuyền cúng được đưa đến giữa ngã ba sông rồi được thả xuống nước. Thuyền này sẽ mang theo những điều xui rủi, tai ương của người dân về một nơi nào đó. Buổi lễ kết thúc. (Ảnh: Huỳnh Hải)Những lễ hội văn hóa đặc trưng miền Tây là sự thể hiện phong tục, tập quán từ xa xưa của những người bản địa. Do vậy sẽ thực sự thiếu sót nếu bạn du lịch miền Tây mà không tham gia những lễ hội này. Không khí của các lễ hội văn hóa đặc trưng miền Tây hấp dẫn, độc đáo sẽ giúp bạn quên đi sự mệt mỏi trong cuộc hành trình đến với mảnh đất này. Chúc các bạn có những trải nghiệm thú vị khi du lịch văn hóa miền Tây!

No comments:

Post a Comment