Monday, January 9, 2017

Sự thật cuộc gặp định mệnh giữa Bảo Đại và Nam Phương

Nam Phương (khuê danh Nguyễn Hữu Thị Lan) đặc biệt còn vì con người bà trái ngược với người đàn ông bà lấy làm chồng, thậm chí cá tính và sự sâu sắc của bà được đánh giá cao hơn Bảo Đại rất nhiều. Bởi thế, những yếu tố dẫn đến cuộc nhân duyên giữa họ vẫn luôn được hậu thế quan tâm tìm hiểu.
Cuộc gặp gỡ của vua Bảo Đại và cô gái sau này trở thành hoàng hậu của ông trên chuyến tàu thủy từ Pháp về Việt Nam được cho là có bàn tay của định mệnh. Nhưng sự thực, định mệnh “không có trách nhiệm” trong chuyện này.
Trời xe duyên hay người tính toán?
Trong hồi ký, Bảo Đại viết rằng cuộc gặp gỡ đầu tiên giữa ông và Nam Phương diễn ra tại Đà Lạt vào mùa hè năm 1933 trong bữa tiệc của quan Đốc lý người Pháp.
Hoàng hậu Nam Phương kể: “Hôm đó ông Darle, Đốc lý thành phố Đà Lạt có gởi giấy mời cậu Denis Lê Phát An (cậu ruột hoàng hậu) và tôi đến dự dạ tiệc ở Hotel Palace. Tôi không muốn đi nhưng cậu An tôi năn nỉ và hứa với tôi là chỉ đến tham dự một chút, vái chào nhà vua xong là về nên tôi phải đi một cách miễn cưỡng và cũng chỉ trang điểm sơ sài thôi. Chúng tôi đến trễ nên buổi tiệc đã bắt đầu tự lâu. Cậu tôi kéo ghế định ngồi ngoài hiên thì ông Darle trông thấy, ông ta chạy đến chào chúng tôi rồi nắm tay cậu tôi kéo chúng tôi vào nhà. Vừa đi ông vừa nói ‘ông và cô phải đến bái yết Hoàng thượng mới được".
“Khi cánh cửa phòng khách mở ra, tôi thấy vua Bảo Đại ngồi trên chiếc ghế bành chính giữa nhà. Ông Darle bước tới bên cạnh Vua rồi nghiêng mình cúi chào và kính cẩn nói:
‘Tâu Hoàng thượng, đây là ông Lê Phát An và người cháu gái, cô Marie Thérèse'.
 su that cuoc gap dinh menh giua bao dai va nam phuong - 1
Bảo Đại và Nam Phương
“Nhờ các nữ tu ở trường Convent des Oiseux khi trước từng chỉ dạy nên tôi biết phải làm gì để tỏ lòng tôn kính đối với bậc quân vương, vì vậy tôi đã không ngần ngại đến trước mặt Hoàng đế quỳ gối và cúi đầu sát nền nhà cho đến khi thấy bàn tay cậu tôi kéo tôi dậy mới đứng lên. Vua gật đầu chào tôi đúng lúc tiếng nhạc vừa trỗi theo nhịp Tango, Ngài ngỏ lời mời và dìu tôi ra sàn nhảy rồi chúng tôi bắt đầu nói chuyện”.
“Về sau, khi đã trở thành vợ chồng, Ngài mới cho tôi biết hôm đó Ngày rất chú ý cách phục sức đơn sơ của tôi. Tôi nghĩ rằng tôi được nhà vua lưu ý một phần do trong suốt buổi dạ tiệc chỉ có tôi là người đàn bà Việt Nam duy nhất nói tiếng Pháp và theo cung cách lễ nghi Âu tây đối với ngài”.
Bảo Đại thì kể: “Sau lần gặp đầu tiên ấy, thỉnh thoảng chúng tôi gặp nhau để trao đổi tâm tình… Cũng như tôi, Marie Thérèse (tên Pháp của Nam Phương hoàng hậu) rất thích thể thao và âm nhạc. Cô ta có vẻ đẹp dịu dàng của người miền Nam pha một chút Tây”.
Mấy ngày sau, Bảo Đại về Huế và lập tức tuyên bố cưới Nguyễn Hữu Thị Lan. Các sử gia thì tin rằng, buổi dạ tiệc ấy không phải lần gặp gỡ đầu tiên mà chỉ là cuộc gặp “chốt” để Bảo Đại đưa ra quyết định dứt khoát, và sự thực là hai người đã biết nhau từ một năm trước (1932), từng ở bên nhau khá nhiều ngày trong chuyến hải trình từ Pháp về Việt Nam, khi Bảo Đại kết thúc việc học tập ở “mẫu quốc” để về nước chính thức cai trị, còn cô Nguyễn Hữu Thị Lan cũng hoàn tất 6 năm du học.
Một số tài liệu viết, Bảo Đại 19 tuổi và Nguyễn Hữu Thị Lan 18 tuổi tình cờ cùng có mặt trên chuyến tàu đó mà không gặp mặt nhau, nhưng các nhà sử học tin rằng, họ chẳng những đã gặp gỡ, trò chuyện mà cuộc gặp đó còn không thể là tình cờ, nó là sự sắp đặt rất công phu của người Pháp với mục đích đưa cô gái Tây học đất Gò Công theo đạo Thiên Chúa này lên ngôi hoàng hậu nước Việt, để dễ “nắm đầu” nhà vua.
Tác giả của kịch bản này chính là ông Charles, cựu khâm sứ Pháp, cha nuôi của Bảo Đại, người “bảo trợ” hoàng đế suốt những năm học tập ở Pháp, có quen biết với gia đình Huyện Sỹ (Lê Phát Đạt), một trong những người giàu nhất nước Nam, ông ngoại của Nguyễn Hữu Thị Lan. Charles đã thu xếp với gia đình họ Lê để đôi trẻ về nước trên cùng một chuyến tàu. Được giới thiệu với nhau, hai người trẻ tuổi vốn tiếp thụ văn hóa Tây phương đã dễ dàng chuyện trò, tìm hiểu.
Đôi trai gái này thậm chí được cho là đã gặp nhau trước đó nữa, cũng do sự sắp đặt của Charles. Ông đã thỏa thuận với trường nữ sinh Couvent des Oiseaux tại Paris nơi Nguyễn Hữu Thị Lan theo học để hoàng đế nước Nam đến dự lễ bế giảng năm học 1932 và một nữ sinh người Việt lên tặng hoa cho ngài. Nguyễn Hữu Thị Lan là thiếu nữ được chọn, và vẻ xinh tươi của cô đã khiến vị hoàng đế chú ý.
 su that cuoc gap dinh menh giua bao dai va nam phuong - 2
Nam Phương Hoàng Hậu cùng các con
Các sử gia cho rằng, cô thiếu nữ Nguyễn Hữu Thị Lan có thể không biết về chuyện “mối lái” này trong những lần gặp đầu tiên, nhưng Bảo Đại thì chắc hẳn đã được trao đổi trước về gia thế và bản thân cô gái, đã cảm thấy đây là người vợ phù hợp, và khi gặp mặt thì nhan sắc và cách thể hiện của cô càng khiến nhà vua vừa lòng.
Ông Phạm Khắc Hoè, cựu Đổng lý Ngự tiền Văn phòng của Bảo Đại, đã phân tích về cuộc hôn nhân này trong hồi ký “Từ Triều đình Huế đến Chiến khu Việt Bắc” như sau: “Trong cuộc kết hôn giữa Bảo Đại với Nguyễn Hữu Thị Lan, lý trí nặng hơn tình cảm nhiều. Cô Lan lấy Bảo Đại chủ yếu là để lên ngôi Hoàng hậu. Bảo Đại lấy cô Lan chủ yếu là để đào mỏ.
Về mặt tình cảm, nếu có thì cũng chỉ là bề ngoài: hai người đều khoẻ mạnh, yêu thể thao và quen sống lối phương Tây, còn về tính tình, tâm tư thì hầu như trái ngược nhau. Bảo Đại nông cạn, ngây thơ, nhu nhược, thích ăn chơi hơn là quyền bính. Ông ta có thể phục thiện nhưng rất dễ bị bọn cơ hội lợi dụng. Trái lại, Nam Phương là người kín đáo, trầm tĩnh, sâu sắc, có cá tính, có đầu óc suy nghĩ, thích đọc sách, nguyên cứu hơn là ăn chơi … thích uy quyền và có nhiều tham vọng chính trị”.
Nguyễn Hữu Thị Lan đã đánh bật “tình địch” như thế nào?
Nếu như người Pháp muốn làm mối cho Bảo Đại một thiếu nữ Tây học theo Thiên chúa giáo thì Hoàng tộc Huế, theo truyền thống, lại muốn cưới cho nhà vua con gái của một trong các đại thần, và người được chọn là Bạch Yến, ái nữ của quan thượng thư Nguyễn Đình Tiên. Để chuẩn bị cho vai trò vợ vua, cô Bạch Yến đã được dạy dỗ về đàn ca, thơ phú, cung cách đi đứng, nói năng, giao tiếp, hằng ngày được tắm bằng sữa để có làn da trắng mịn…
 su that cuoc gap dinh menh giua bao dai va nam phuong - 3
Thế nhưng, hoàng đế trẻ tuổi khi trở về đã từ chối lấy Bạch Yến mà đòi cưới Nguyễn Hữu Thị Lan, người mà cha mẹ chẳng những không có chức tước gì mà còn theo Công giáo, lại quen thói tự do của phương Tây, làm sao giữ khuôn phép của một cô dâu hoàng tộc. Nghĩ vậy, Thái hậu Từ Cung và các đại thần, nhất là Tôn Thất Hân, người đứng đầu Viện Cơ mật và Tôn Nhân phủ, kiên quyết ép, còn Bảo Đại liên quyết chống lại. Nhà vua lớn tiếng: “Trẫm cưới vợ cho trẫm chứ có cưới vợ cho cụ Tôn Thất Hân và triều đình đâu!”.
Thuyết phục không nổi, bà Từ Cung và triều đình đành chấp nhận, và lễ cưới được diễn ra vào tháng 3 năm 1934. Vì không ủng hộ đám cưới này nên đoàn nhà trai đi rước dâu chẳng những trễ mất một ngày mà thành viên hoàng tộc còn chỉ lèo tèo có vài người. Họ nhà gái đưa cô dâu đến đèo Hải Vân phải chờ một ngày mới thấy đoàn nhà trai đến đón về Huế.
Về đám cưới, Bảo Đại viết trong hồi ký: “Đây là một lễ cưới đổi mới, trước kia chưa từng có trong cung đình. Lễ cưới được tổ chức ngay trong phòng tiếp tân của điện Cần Chánh. Cũng giống như lễ đăng quang, triều thần đứng sắp hàng dọc theo một tấm thảm đỏ và vàng dành riêng cho Hoàng đế. Lần đầu tiên trong lịch sử triều Nguyễn có một người phụ nữ xuất hiện giữa triều đình.
Nam Phương mặc chiếc áo rộng thùng thình, chân đi hài mũi cong, đầu đội vương miện có đính vàng ngọc châu báu óng ánh. Nàng đi một mình đến giữa tấm thảm, tất cả triều thần cúi chào. Với một vẻ đẹp tuyệt vời nàng đi thẳng vào các phòng lớn, tôi đang ngồi chờ nàng trên một cái ngai thấp ở đó. Nàng đến đứng trước mặt tôi, cúi đầu chào tôi ba lần rồi ngồi ở cái ngai bên phải của tôi. Buổi lễ ngắn ngủi chấm dứt. Hoàng hậu đã ở bên tôi, chúng tôi sánh vai nhau bước đi trong tiếng nhạc mừng qua Tử Cấm Thành vào điện Kiến Trung – nơi ở và làm việc của chúng tôi”.
Ngay sau đám cưới, Bảo Đại ra chỉ dụ phong vợ mình làm Hoàng hậu với tên hiệu là Nam Phương, tức hương thơm của phương Nam. Để Nguyễn Hữu Thị Lan có thể làm vợ một hoàng đế theo đạo Phật, người Pháp xin phép Vatican cho phép đôi vợ chồng này ai giữ đạo riêng của người ấy, nhưng tòa thánh không chấp nhận, và vì đám cưới vẫn được tiến hành nên hoàng hậu Nam Phương bị giáo hoàng Pius XI rút phép thông công, đến khi giáo hoàng kế nhiệm lên ngôi mới tha phạt vạ bà Nam Phương, chấp nhận việc Bảo Đại không cải đạo, nhưng các con của họ đều phải theo Thiên chúa giáo.
Còn cô Bạch Yến, người vợ hụt của Bảo Đại, sau được gả cho ông Phạm Đình Ái, người gốc Quảng Nam, một kỹ sư hoá học được đào tạo ở Pháp về nước. Họ sống bên nhau rất hạnh phúc.
http://eva.vn/tin-tuc/su-that-cuoc-gap-dinh-menh-giua-bao-dai-va-nam-phuong-c73a171689.html
Hôn nhân của bà và vua Bảo Đại gặp rất nhiều rào cản, do một phần bà theo đạo Công Giáo.

Nam Phương Hoàng Hậu tên thật Nguyễn Hữu Thị Lan, 1914 tại Huyện Kiến Hòa, Tỉnh Định Tường (Nay là Xã Gò Công,Tỉnh Tiền Giang), xuất thân trong một gia đình trí thức Tây học  giàu có bậc nhất  nước Việt Nam những năm đầu của thế kỷ 20. Từ nhỏ, bà cùng chị đã được cha mẹ cưng chiều hết mực, có cuộc sống sung sướng an nhàn, trải qua tuổi hoa niên êm đẹp với đầy đủ vật chất và tinh thần.

Cuộc sống viên mãn từ thời hoa niên đến khi làm Hoàng hậu


Năm 12 tuổi bà được gia đình gởi đi Pháp du học tại trường nữ danh tiếng ở Paris thời bấy giờ là Couvent des Oiseaux. Sau khi tốt nghiệp phổ thông, bà trở về Việt Nam và gặp được Vua Bảo  Đại trong một cuộc yến tiệc tại khách sạn La Palace nổi tiếng của Đà Lạt.
Sau lần tương ngộ đó, Bảo Đại rất yêu thích bà. Với Vua Bảo Đại, Hoàng Hậu Nam Phương là một người phụ nữ đúng chuẩn mực Việt Nam, vừa đẹp dịu dàng lại phúc hậu đoan trang vừa lẫn chút kiêu sa của phương Tây, vừa có nét riêng lại thông minh sắc sảo và quyến rũ khôn cùng. Tước vị Hoàng hậu Nam Phương sau này cũng chính do Bảo Đại đặt cho bà.

Hôn nhân của bà và vua Bảo Đại gặp rất nhiều rào cản, do một phần bà theo đạo Công Giáo, lại mang quốc tịch Pháp nhưng cũng nhờ vào sự cả quyết của Bảo Đại, cuối cùng hôn lễ đã được tổ chức trọng thể vào năm 1934 tại kinh thành Huế. Khi đó Bảo đại 21 tuổi còn bà vừa tròn 20.

 bi mat tinh su cua nam phuong hoang hau - 1

 
Khi vua Bảo đại 21 tuổi còn bà vừa tròn 20.

Hoàng Hậu Nam Phương nức tiếng xinh đẹp và thông minh

Cũng cần nhắc đến điều kiện “thách cưới” của họ nhà gái dành cho Bảo Đại khi ông muốn cưới bà. Ngoài những điều kiện để bà vẫn giữ đạo Công Giáo, vua phải tấn phong cho bà làm Hoàng Hậu Chánh Cung ngay ngày cưới, đây là một biệt lệ chưa từng có trước đó của triều Nguyễn.

Sau khi được tấn phong, Nam Phương Hoàng hậu được Bảo Đại ban nhiều đặc ân sánh ngang với vua chúa thời bấy giờ. Bà được tự do phục sức màu Vàng – màu chỉ có vua chúa mới được dùng. Bà dọn về ở điện Kiến Trung cùng vua  -  nơi được tân trang sửa chữa theo kiến trúc Phương Tây, như một kiểu để bà được thấy sự quen thuộc của những năm tháng sống ở Pháp.  Bà cũng được xuất hiện cùng với vua trong những cuộc đón tiếp quan chức ngoại giao. Chính Hoàng hậu là người có công rất lớn trong việc làm lắng dịu không khí căng thẳng, tạo nên hoà khí êm đẹp giữa các tín đồ Công Giáo với triều Nguyễn bấy giờ.

Hai năm sau, Hoàng hậu Nam Phương hạ sinh được một Thái Tử, đó là Đông Cung Bảo Long và 4 người con còn lại lần lượt ra đời nên công việc chủ yếu của bà là nuôi dạy các công chúa hoàng tử. Ngoài ra, bà hay làm từ thiện, tham gia vào việc vận động ủng hộ việc đưa môn nữ công gia chánh vào trường học, động viên, phát thưởng cho các học sinh giỏi,…

 bi mat tinh su cua nam phuong hoang hau - 2

Nam Phương Hoàng Hậu cùng các con
Chết trong cảnh cô đơn nơi đất khách quê người 

Do tình hình chính trị, Bảo Đại phải thoái vị vào năm 1945 và sang Trung Hoa với lý do “thăm viếng” nhưng sau đó thì không trở về.  Năm 1947 Nam Phương hoàng hậu cũng sang Pháp cùng các con, bắt đầu một cuộc sống lưu vong dài đằng đẵng.

Bà sống lặng lẽ tại một làng nhỏ của Pháp. Các con bà có người lần lượt có gia đình, có người đi học xa, họ rời vòng tay mẹ. Thi thoảng Bảo Đại có đến thăm bà dăm ba lần nhưng hầu hết bà phải chịu cảnh cô quạnh. Bà sống khép mình nơi làng mạc, ít khi đi đâu, chỉ mong những dịp hội hè con cái về thăm để nhà có tiếng cười. Năm tháng cứ thế trôi qua, bà sống trong cảnh đợi chờ héo úa, nỗi cô đơn gặm nhắm tâm hồn nên sức lực vì thế cũng hao mòn.

Năm 49 tuổi, bà mất trong cảnh một thân một mình không người thân thích, khi đó Bảo Đại đang số tận miền Nam nước Pháp, bên bà chỉ có hai người giúp việc lạ xa.

Đám tang của một hoàng hậu lưu vong diễn ra trong cảnh ảm đạm buồn thương không khách viếng. Dù bà có quốc tịch Pháp nhưng không một lần được trở về quê hương xứ sở, lại mất nơi trời Tây xa xôi nên cũng được coi chết nơi đất khách. Ngôi mộ đơn sơ của người phụ nữ nhan sắc và tài hoa một thời nằm hắt hiu trong nghĩa trang lạnh lẽo quê người thật khiến người đời sau thương cảm.

Trong lịch sử Việt Nam còn lưu lại, Nam Phương Hoàng hậu chẳng những là một giai nhân được người người yêu mến, bà còn là người tha thiết với nước Nam, là một hoàng hậu thà làm dân một nước độc lập, hơn làm Hoàng hậu một nước nô lệ.Nam Phương Hoàng Hậu tên thật Nguyễn Hữu Thị Lan, 1914 tại Huyện Kiến Hòa, Tỉnh Định Tường (Nay là Xã Gò Công,Tỉnh Tiền Giang), xuất thân trong một gia đình trí thức Tây học giàu có bậc nhất nước Việt Nam những năm đầu của thế kỷ 20. Từ nhỏ, bà cùng chị đã được cha mẹ cưng chiều hết mực, có cuộc sống sung sướng an nhàn, trải qua tuổi hoa niên êm đẹp với đầy đủ vật chất và tinh thần. Năm 12 tuổi bà được gia đình gởi đi Pháp du học tại trường nữ danh tiếng ở Paris thời bấy giờ là Couvent des Oiseaux. Sau khi tốt nghiệp phổ thông, bà trở về Việt Nam và gặp được Vua Bảo Đại trong một cuộc yến tiệc tại khách sạn La Palace nổi tiếng của Đà Lạt.

Nam Phương Hoàng Hậu tên thật Nguyễn Hữu Thị Lan, 1914 tại Huyện Kiến Hòa, Tỉnh Định Tường (Nay là Xã Gò Công,Tỉnh Tiền Giang), xuất thân trong một gia đình trí thức Tây học giàu có bậc nhất nước Việt Nam những năm đầu của thế kỷ 20. Từ nhỏ, bà cùng chị đã được cha mẹ cưng chiều hết mực, có cuộc sống sung sướng an nhàn, trải qua tuổi hoa niên êm đẹp với đầy đủ vật chất và tinh thần. Năm 12 tuổi bà được gia đình gởi đi Pháp du học tại trường nữ danh tiếng ở Paris thời bấy giờ là Couvent des Oiseaux. Sau khi tốt nghiệp phổ thông, bà trở về Việt Nam và gặp được Vua Bảo Đại trong một cuộc yến tiệc tại khách sạn La Palace nổi tiếng của Đà Lạt.
Với Vua Bảo Đại, Hoàng Hậu Nam Phương là một người phụ nữ đúng chuẩn mực Việt Nam, vừa đẹp dịu dàng lại phúc hậu đoan trang vừa lẫn chút kiêu sa của phương Tây, vừa có nét riêng lại thông minh sắc sảo và quyến rũ khôn cùng. Tước vị Hoàng hậu Nam Phương sau này cũng chính do Bảo Đại đặt cho bà.
Hôn nhân của bà và vua Bảo Đại gặp rất nhiều rào cản, do một phần bà theo đạo Công Giáo, lại mang quốc tịch Pháp nhưng cũng nhờ vào sự cả quyết của Bảo Đại, cuối cùng hôn lễ đã được tổ chức trọng thể vào năm 1934 tại kinh thành Huế. Khi đó Bảo đại 21 tuổi còn bà vừa tròn 20.
Cũng cần nhắc đến điều kiện “thách cưới” của họ nhà gái dành cho Bảo Đại khi ông muốn cưới bà. Ngoài những điều kiện để bà vẫn giữ đạo Công Giáo, vua phải tấn phong cho bà làm Hoàng Hậu Chánh Cung ngay ngày cưới, đây là một biệt lệ chưa từng có trước đó của triều Nguyễn.
Sau khi được tấn phong, Nam Phương Hoàng hậu được Bảo Đại ban nhiều đặc ân sánh ngang với vua chúa thời bấy giờ. Bà được tự do phục sức màu Vàng – màu chỉ có vua chúa mới được dùng. Bà dọn về ở điện Kiến Trung cùng vua - nơi được tân trang sửa chữa theo kiến trúc Phương Tây, như một kiểu để bà được thấy sự quen thuộc của những năm tháng sống ở Pháp.
Bà cũng được xuất hiện cùng với vua trong những cuộc đón tiếp quan chức ngoại giao. Chính Hoàng hậu là người có công rất lớn trong việc làm lắng dịu không khí căng thẳng, tạo nên hòa khí êm đẹp giữa các tín đồ Công Giáo với triều Nguyễn bấy giờ.
Bà nổi tiếng là người xinh đẹp, thông minh, sắc nước hương trời, giúp vua Bảo Đại rất nhiều.
Hai năm sau kết hôn, Hoàng hậu Nam Phương hạ sinh được một Thái Tử, đó là Đông Cung Bảo Long và 1 công chúa.
Do tình hình chính trị, Bảo Đại phải thoái vị vào năm 1945 và sang Trung Hoa với lý do “thăm viếng” nhưng sau đó thì không trở về. Năm 1947 Nam Phương hoàng hậu cũng sang Pháp cùng các con, bắt đầu một cuộc sống lưu vong dài đằng đẵng.
Sau đó, 4 người con còn lại lần lượt ra đời nên công việc chủ yếu của bà là nuôi dạy các công chúa hoàng tử. Ngoài ra, bà hay làm từ thiện, tham gia vào việc vận động ủng hộ việc đưa môn nữ công gia chánh vào trường học, động viên, phát thưởng cho các học sinh giỏi,…

No comments:

Post a Comment