Sunday, January 8, 2017

Tướng Nguyễn Cao Kỳ học thú chọi gà ở... trường Bưởi

Tự lái máy bay đi chọi gà, chuyện không lạ ở tướng Nguyễn Cao Kỳ.
Ông Nguyễn Cao Kỳ sinh ngày 8 tháng 9 năm 1930 tại làng Mai Trai, thị xã Sơn Tây. Lúc nhỏ, ông học rất giỏi nhưng ngỗ nghịch. Sau khi học hết bậc tiểu học ở Sơn Tây, ông được gia đình cho về Hà Nội học ở một trường trung học nổi tiếng, dân gian gọi là “trường Bưởi”.
    Các nhà nghiên cứu tin rằng, thú chọi gà của Nguyễn Cao Kỳ không phải có từ nhỏ khi ông còn ở Sơn Tây, cũng không phải khi ông đã theo con đường binh nghiệp rày đây mai đó, mà trò chơi này “ám” vào ông khi ông theo học ở “trường Bưởi” tọa lạc tại làng Thụy Khuê, nơi có truyền thống chọi gà.
    Học sinh trường Bưởi
    “Trường Bưởi” được chính phủ Pháp thành lập vào ngày 9.12.1908, có tên là Trường Thành chung Bảo hộ, tiếng Pháp “Collège du Protectorat” (tương đương trường cấp 2). Trường tọa lạc tại làng Thụy Khuê, vùng Kẻ Bưởi, ven Hồ Tây - Hà Nội. Năm 1931, trường được nâng cấp thành Trường Trung học Bảo hộ, tiếng Pháp “Lycée du Protectorat” (tương đương trường cấp 3). Đến tháng 6 năm 1945, dưới thời chính phủ Trần Trọng Kim, trường được đổi tên là Quốc lập Trung học hiệu Chu Văn An, sau này gọi là trung học Chu Văn An. Tên trường Bưởi được dùng trong dân gian có lẽ từ năm 1908 - 1945, học sinh thời ấy không thích gọi tên trường bằng tiếng Pháp mà gọi là “trường Bưởi”. Ngày nay, đi ngang qua Trường trung học Chu Văn An (số 10, phố Thụy Khuê, Tây Hồ, Hà Nội) nhiều người lớn tuổi thường hay nhìn lại mái trường như nhìn về một biểu tượng thiêng liêng của tuổi học trò. Dù biển tên trường ghi rất to là “Chu Văn An” nhưng với nhiều người, họ cứ nhớ mãi cái tên “Bưởi” của một ngày xa lơ xa lắc.
    Là một ngôi trường nổi tiếng trên đất Thăng Long nghìn năm văn hiến, trường Bưởi từng là nơi học tập của nhiều người nổi tiếng, trong đó có Nguyễn Cao Kỳ - người sau này là Tư lệnh Không quân, Thủ tướng, rồi Phó Tổng thống Việt Nam Cộng hoà. Theo các nhà nghiên cứu về chọi gà, máu mê đá gà của một con người ít khi xuất hiện ở tuổi thơ ấu, bởi khi ấy, một cậu bé theo bẩm sinh bao giờ cũng đầy lòng yêu thương các loài vật, đồ chơi…, chứ chưa có máu bạo lực. Lớn lên một chút, khi đã vào tuổi thiếu niên, lòng hiếu kỳ, máu hơn thua, tính bạo lực… mới xuất hiện nơi những cậu trai trẻ. Đây là giai đoạn hình thành niềm đam mê chọi gà ở hầu hết những người chơi đá gà được khảo sát.
    Ban đầu, những cậu trai chớm tuổi dậy thì cảm thấy hứng thú trước trò chơi dân gian mang chút bạo lực và thường chỉ thích xem đá “gà đòn” chứ không hứng thú với “gà cựa”. Những cậu bé mới lớn giải thích rằng, xem đá “gà đòn” như xem võ sĩ đánh nhau, vốn phù hợp với những cậu bé mới lớn “ngứa chân tay”; còn xem đá “gà cựa” như xem các đấu sĩ chém nhau đầy sự chết chóc, không phù hợp tuổi mới lớn. Sự đam mê “gà cựa” chỉ đến khi con người đã trưởng thành, xem chuyện “chết chóc” không còn quá ghê gớm, cùng lúc với máu mê “đỏ đen” xuất hiện, dẫn đến nạn chọi gà ăn tiền.
    Nguyễn Cao Kỳ khi còn bé ở Sơn Tây là cậu bé rất nghịch ngợm, năm lớp 4 (khoảng 10 tuổi) cậu rời Sơn Tây về “trường Bưởi”, vì vậy không có khả năng máu mê gà chọi đã có khi Nguyễn Cao Kỳ còn là cậu bé ở quê nhà. Với lại, khu vực làng Mai Trai cạnh thành cổ Sơn Tây, nơi Nguyễn Cao Kỳ sinh ra và lớn lên, cũng không có truyền thống chọi gà. Các nhà nghiên cứu về gà chọi cho rằng, thú chơi gà của Nguyễn Cao Kỳ xuất hiện trong thời gian ông đi học tại “trường Bưởi”. Có lẽ, cậu học trò Nguyễn Cao Kỳ hiếu động, sống xa nhà, trong những ngày nghỉ cuối tuần đã đi chơi khu vực quanh trường học và cậu đã thật sự thú vị khi đi chơi làng Thụy Khuê, nơi trường Bưởi tọa lạc, cũng là nơi có thú chơi gà chọi từ xa xưa. Nhiều người mê gà tin rằng, cậu thiếu niên Nguyễn Cao Kỳ từng có lúc trốn học vào các lò độ gà ở làng Thụy Khuê xem đá gà, thậm chí tự tay trồng cựa, ôm gà đi đá. Khoảng 10 năm ở “trường Bưởi” vừa học vừa chơi càng định hình cá tính của Nguyễn Cao Kỳ sau này (phong lưu, ngang tàng, bạt mạng…), trong đó cả thú chọi gà như là nỗi đam mê lớn trong đời ông.
    Tới nay, gần khu vực trường Chu Văn An vẫn còn những điểm bán thuốc xuất xứ từ Thái Lan dùng để “độ” gà chiến khá nổi tiếng. Nhiều sư kê cho rằng, các bài thuốc này ngày xưa làng Thụy Khuê thời Pháp thuộc đã biết sử dụng để làm cho con gà chiến đấu dai sức hơn, dũng mãnh hơn. Có lẽ, nó cũng như một dạng doping mà các vận động viên thường lén sử dụng trong thi đấu thể thao…
    Các nhà nghiên cứu về gà chọi tin rằng, ngày từ khi còn ngồi trên ghế “trường Bưởi”, với máu nghịch ngợm, hiếu kỳ, cộng chút khiếu văn chương, Nguyễn Cao Kỳ đã tiếp cận với những cuốn sách của người xưa nói về chọi gà, bắt đầu hình thành ở ông ý thức nghiên cứu có hệ thống về thú chọi gà cổ kim đông tây. Từ đó mà giới nghiên cứu cho rằng, có lẽ người am hiểu “đạo kê” nhiều nhất cho đến nay ngoài tả quân Lê Văn Duyệt và tướng Tây Sơn Nguyễn Lữ thì Nguyễn Cao Kỳ là hậu duệ được đánh giá cao nhất trong giới chơi gà, nhất là về kiểu chơi, cũng như cách chơi…
    Binh nghiệp và “kê nghiệp”
    Rời “trường Bưởi” bước vào đường binh nghiệp, Nguyễn Cao Kỳ trải qua nhiều môi trường huấn luyện cả trong và ngoài nước, từ Nam Định cho tới Ma Rốc, Pháp… Cùng với con đường nghiệp, “kê nghiệp” của Nguyễn Cao Kỳ cũng dần phong phú, đa dạng, trộn lẫn phong cách các vùng miền nơi ông đã đi qua, tạo nên phong cách chơi gà “không đụng hàng” của Nguyễn Cao Kỳ. Người ta tin rằng, chính Nguyễn Cao Kỳ là người có công đưa thú chơi gà chọi từ hàng “vương giả” trở nên bình dân.
    Có lẽ, tướng Nguyễn Cao Kỳ là người duy nhất dùng máy bay quân sự chở gà đi đá độ và sưu tầm các thế “võ gà” ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Về khoản này, ông là tay chơi số một khi dám bay vào những vùng chiến sự bằng kiểu bay thật nhanh, là là sát ngọn cây để tránh súng trường của du kích. Người ta kể rằng, bất kể là đi công cán hội họp hay thị sát chiến sự ở miền Tây, ông đều tự lái trực thăng riêng và thường chở theo “chiến kê” để có dịp là… chơi liền. Ông không phân biệt giai cấp, từ ông quận trưởng đến anh lính nghĩa quân quèn, khi đá gà thì đều như nhau.
    Người mê gà nói rằng, ông Kỳ là kiểu mẫu của người Châu Á nói chung, không muốn mất mặt với bất kỳ ai cho dù bằng một lý do nhỏ nhặt nhất. Riêng đối với những người nhiễm “đạo kê” thì cái bệnh sĩ càng được nâng lên một bậc. Trong lĩnh vực này thì không kể sang hèn, giàu nghèo gì cũng được, ông Kỳ sẵn sàng bỏ quân phục, quân hàm, mang dép lê ngồi xổm trồng cựa, rồi đá sống đá chết với một nông dân, miễn là ông này có gà ngon để đá lại với ông. Quan trọng là “đối thủ” phải có những “thế võ” lạ, và khi chiến kê nào thắng được gà ông thì ông sẽ tìm cách mua cho bằng được dù giá có cao đến đâu. Khi mua được “bổn” gà quí này, ông sẽ cho nhập trại và giao các sư kê để nghiên cứu, coi những thế võ của chiến kê này thuộc trường phái võ lâm nào để từ đó mà nhân giống cho đàn “hậu duệ kê” càng lúc càng ưu việt hơn. Chẳng hạn như, “chiến kê” có gốc ở Chợ Lách vừa gan dạ, lì đòn thì sẽ cho phối giống với “mẫu kê” có gốc Bà Điểm vừa nhanh nhẹn, kiên nhẫn sẽ cho ra những “hùng kê”, có khi trong đám hùng kê này sẽ xuất hiện một “thần kê”, tới lúc đó thì chiến chinh trận mạc trăm trận trăm thắng.
    Với dân chơi gà nòi, thuở xưa “đạo kê” là văn hoá của giới thượng lưu vì họ phải thông suốt những tài liệu đá gà được viết bằng Hán văn hoặc Hán Việt như “Kê Kinh”. Kinh sách và tài liệu quý báu thường chỉ được lưu truyền giữa những người thượng lưu và có tính cách bí truyền không thoát ra cho người ngoài. Những người trẻ tuổi chập chững bước vào thú chơi đá gà thường "tầm thầy học đạo" trong quan hệ sư phụ và đệ tử. Đối với một sư kê thì nỗi sung sướng và tự hào lớn nhất của họ là khi dòng gà của mình ra trường đá thắng một con gà lừng danh khác đã có tên tuổi trên chốn giang hồ. Những trận gà "để đời" như thế được kể lại và truyền miệng trong giới mộ điệu, tên tuổi của họ được nhiều người nể nang và biết đến.
    Tới thời ông Kỳ thì khác, đạo kê đã thâm nhập vào tầng lớp bình dân. Có thể nói, trong rất nhiều ngón ăn chơi như nhảy đầm, đánh quần vợt, trượt tuyết hoặc nhiều ngón chơi của giới thượng lưu kiểu Tây, ông Kỳ là tay chơi có số. Nhưng trong lĩnh vực đá gà, ông là tay chơi có hạng và không giống ai khi sẵn sàng cáp độ với những tướng lĩnh khác để đá những trận gà trị giá cả gia tài. Cũng con gà đó, ông ta lại có thể cáp độ với một anh nông dân kiểu “đá bắt xác”. Thắng thì thu “chiến lợi phẩm” cho thuộc hạ “giả cầy” nhậu chơi, còn thua thì… thôi.
    Các sư kê còn cho rằng, chữ “nòi” trong “gà nòi” là nói lên bản chất đặc biệt của giống gà ở từng vùng, ví như “nòi” Cao Lãnh là phải lì đòn, không bao giờ chạy, còn sống là còn chiến đấu, chừng nào gục chết mới thôi. Còn “nòi” Bà Điểm thì nhanh lẹ, né đòn rất tài tình, gà này khi lâm trận nghiêng về thế thủ, nhưng khi phản đòn thì vô cùng chính xác, đối thủ không gục cần thì cũng bị thương… Chữ “nòi” còn được hiểu theo bốn chữ "nòi giống anh hùng", tức mang một ý nghĩa sâu đậm về tinh thần thượng võ, hiên ngang bất khuất… Có thể, đó là những lý do mà người Việt ưa thích nuôi gà nòi và ông Nguyễn Cao Kỳ cũng là người tôn sùng “đạo kê”…
    Tướng Nguyễn Cao Kỳ được biết đến như một người phóng túng, ngang tàng, tài hoa… Ông cũng là người có thú chơi lạ đời, đó là rất mê đá gà. Có rất nhiều giai thoại về máu mê đá gà của tướng Kỳ, nào là ông kỳ công nghiên cứu về gà đá cũng như những bậc tiền nhân có cùng sở thích đá gà; nào là ông dày công đi tìm “thần kê” theo truyền thuyết; ông có cả một ban “cố vấn” chuyên chăm lo chuyện đá gà; khi thắng độ gà, ông thường tặng hết cho đàn em, còn thua thì ông chung tiền sòng phẳng…
      Kỳ 1: Tướng Kỳ dày công nghiên cứu lịch sử môn đá gà 
      Trước ông Kỳ, ở miền Nam hầu như chưa có ai nghiên cứu một cách bài bản lịch sử môn đá gà từ cổ chí kim. Mê môn đá gà, ông Kỳ chỉ đạo các “cố vấn” có chút kiến thức lịch sử tìm hiểu, hệ thống lịch sử môn đá gà, làm cho thú chơi chọi gà của ông thêm ý nghĩa.
      Cuộc chiến trên sới gà - một thế giới khác của tướng Nguyễn Cao Kỳ ảnh 1
       Ông Nguyễn Cao Kỳ, một người rất mê đá gà.
      Người xưa cũng mê đá gà
      Tài liệu cổ nhất mà các cố vấn của tướng Kỳ tìm thấy nói đến thú vui đá gà là "Hịch tướng sĩ" của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn. Trong bài hịch hiệu triệu tinh thần yêu nước của binh sĩ, Trần Quốc Tuấn khuyên họ nên chăm chỉ luyện tập binh pháp, đừng ham mê đá gà, bởi cựa gà không thể đâm thủng áo giáp của giặc. Còn tài liệu cổ nhất dạy nuôi gà chọi là “Kê Kinh” của Tả quân Lê Văn Duyệt (1763 - 1832). Ông Kỳ từng rất tự hào, thú vị về tác phẩm “kinh điển” dạy về gà chọi của bậc tiền nhân này. Những “quân sư” của tướng Kỳ cũng bỏ công sưu tầm tài liệu về gà chọi trên thế giới và cho rằng, thú chơi này xuất hiện cách đây hơn 2000 năm. Căn cứ theo bộ “Nam Hoa Kinh” của Trang Tử, kể lại câu chuyện ham đá gà của Tuyên Vương nước Tề thì dân Trung Quốc đã máu mê đá gà từ thời Xuân Thu chiến quốc, tức thế kỷ thứ V trước Công nguyên.
      Theo những tài liệu xưa, ở nước ta, thú chơi đá gà của người xưa thường diễn ra trong những ngày lễ tết và suốt tháng giêng, hai, trường gà được xây tròn giữa sân chợ. Ở đó, các tay chơi gà tứ xứ kéo về tham dự. Người nghèo cuốc bộ, người có tiền thì đi ghe, xuồng, xe ngựa hoặc đi bằng kiệu có người khiêng. Cùng lúc hàng quán tràn ra tận đường, người qua kẻ lại tấp nập. Con gà được chủ ôm trước ngực, nâng trong 2 bàn tay như báu vật sống với thái độ trìu mến, nâng niu và con nào cũng thật oai phong. Chính trên cái khoảnh đất hình tròn này, có bao nhiêu cặp gà nòi so cựa, tung cánh để cuối cùng bên nào cũng mang đầu máu, không chết thì bị thương. Thời đó, chưa có cựa sắt người ta đá bằng cựa chốt (làm bằng ngạnh cá), gà dính cựa không chết mà rất đau đớn, lại càng hăng tiết càng đá dữ, cũng có khi đá bằng cựa thật của gà. Thông thường phải kéo dài đến vài canh giờ mới kết thúc trận đấu. Từ thôn quê tới thành thị, ở đâu cũng có người mê đá gà, lập nhóm, kết băng, ăn thua đủ bằng tiền mặt, bằng đất đai, nhà cửa.
      Ngày xưa, dân ta chơi đá gà chủ yếu là vui, không thấy tài liệu nào nói đá gà ăn tiền. Cho đến thời kỳ Pháp thuộc mới xuất hiện nhiều trường gà lớn, thu hút đông đảo dân chơi đen đỏ, nhiều người sạt nghiệp. Trong lúc hai con vật vô tri, ghét nhau vì tiếng gáy, màu lông, bất chấp “gà cùng một mẹ” lao vào đá, mổ, đâm chém một mất một còn thì những ông chủ cũng thót tim trước mỗi cú ra đòn bởi nó liên quan tới tài sản, tới túi tiền mà họ đang kè kè bên mình. Ngày nay, trường gà dù mang tính chất cờ bạc nhưng có mặt khắp nước, từ thành thị cho tới nông thôn.
      Dân mê gà kể lại, tướng râu kẽm Nguyễn Cao Kỳ có hẳn một trường gà rất chuyên nghiệp, có “thầy gà” chăm sóc và nhân giống những bổn gà đá hay nhất, được tập trung từ khắp mọi miền đất nước. Tuy nhiên, tướng Kỳ cũng là người có kiểu “cáp độ” không giống ai khi sẵn sàng bỏ con gà trị giá cả chục cây vàng chỉ để “đá bắt xác” bất kỳ đối thủ nào. Dù là đá với đại gia hay với nông dân, tướng râu kẽm đều không có sự phân biệt đẳng cấp, địa vị nên dân đá gà rất khoái.
      Sưu tầm những giai thoại về gà chọi
      Dân chơi gà miền Tây Nam bộ kể lại, tướng Kỳ không chỉ mê gà mà còn mê sưu tầm những câu chuyện liên quan tới gà và luận bàn cùng các “chiến hữu”. Các “thầy gà” muốn lấy lòng ông chủ cũng tìm kiếm những giai thoại về gà từ cổ chí kim. Từ đó, họ biết rằng, thú đá gà xuất hiện ở nước Tề thời chiến quốc, vào năm 432 trước Công nguyên, nhưng mãi tới thời Ðường mới thịnh hành và thu hút mọi tầng lớp trong xã hội, kể cả vương hầu khanh tướng, hoàng tử đương triều. Ở kinh đô Trường An, có những đấu trường dành riêng cho bậc cao sang quyền quý, trong đó có anh em, con cháu họ Lý nhà Ðường, tới mua vui bằng những trận cá độ lên tới chục lượng vàng ròng.
      Ngoài ra, khắp kinh thành, đâu đâu cũng có chợ mua bán gà đá rất phát đạt. Ðương thời, nhà thơ Vương Bột - một thi gia nổi tiếng về thơ Ðường, xưa nay vẫn được tôn sùng là đỉnh cao của nền thi ca cổ điển Trung Hoa - đã làm làm bài hịch ca tụng đá gà (Ðấu kê hịch) cho hai vị Vương tử Bái Vương Hiền và Chu Vương Hiển. Ngoài ra, ông còn làm bài phú “Vua gà chọi”, “Anh hùng gà chọi” khi tới trường gà, xem các hoàng thân quốc thích nhà Ðường đấu gà với nhau. Ông bị Ðường Cao Tông quở trách tại sao không cản ngăn việc đá gà mà còn làm bài hịch ca tụng đá gà và đuổi ra khỏi kinh thành. Chán đời, Bột chu du khắp xứ, sau đó tới tận Giao Châu để thăm cha đang làm quan tại đó. Không may, thuyền của Vương Bột bị chìm trên biển, ông chết đuối khi mới 27 tuổi.
      Cũng theo nghiên cứu của các “quân sư” tướng Kỳ, tại Việt Nam, trong tác phẩm “Công dư tiệp ký” của Vũ Phương Ðề - làm quan Ðông Các học sĩ, thời Lê Trung Hưng - cũng có câu chuyện nói về gà. Nội dung câu chuyện kể về đứa con bất hiếu xem mạng gà trọng hơn mạng mẹ ruột. Chuyện kể, xưa có một người đàn ông tính rất vũ phu, động một tý là hắn đánh đập vợ con không tiếc tay. Hắn ham chơi gà chọi, ham đến nỗi ngoài gà ra, hắn cho không còn thú gì tiêu khiển hơn thế được. Lần đó, hắn mua được một con gà thật tốt. Con gà ấy có nước đá rất hay, từng đoạt được nhiều giải. Hắn quý gà vô cùng, chăm sóc từng ly từng tý một.
      Một hôm, hắn đi chơi xa, dặn vợ ở nhà trông nom con gà cho mình. Ngày hôm đó, gà mấy lần chạy ra ăn đỗ phơi ở sân. Người vợ ngồi chặt củi gần đấy đuổi mãi không được. Sẵn con dao chặt củi, chị cầm ném đuổi gà. Không ngờ dao trúng vào cổ, con gà giãy lên đành đạch, một lát thì chết. Thấy con gà cưng của chồng chẳng may vì mình mà chết, người vợ xanh cả mặt. Nghĩ đến những trận đòn của chồng, nàng gạt nước mắt khóc và bảo mẹ chồng: “Con không may đánh chết gà. Chồng con về chắc sẽ không để yên cho con. Nhưng con đã có mang được bốn tháng, biết làm sao bây giờ?". Bà cụ đáp: “Con đừng lo, để mẹ nhận là mẹ ném cho. Chả nhẽ nó lại ăn thịt mẹ nó hay sao".
      Người chồng trở về, vừa bước chân vào nhà đã hỏi vợ về con gà. Người vợ run rẩy chưa kịp đáp thì bà mẹ đã bảo: "Tao nhỡ tay trót ném chết nó. Rồi tao sẽ đền tiền cho mày mua con khác". Gã đàn ông nổi giận đùng đùng, rồi bảo vợ thổi cơm cho mẹ ăn. Cơm nước xong, hắn cầm thuổng đi trước, bảo vợ lấy dây trói tay mẹ lại, dắt đi sau. Ra đến cánh đồng, hắn hì hục đào một cái huyệt, quyết định chôn người đã làm chết con gà quý của mình.
      Ở trên thiên đình, Ngọc Hoàng thấy hết được tội ác của thằng con bất hiếu, liền sai Thần Sét xuống trị tội. Huyệt vừa đào xong, bỗng đâu trời nổi một cơn gió lớn, giữa đồng có một tiếng nổ rất to. Thần Sét nhảy xuống, đánh hắn ngã xuống và thích mấy chữ vào mặt. Thiên hạ nghe tin đồn đổ xô đến xem rất đông. Khi quan về khám, sai lấy dấm bôi vào mặt, thấy nổi lên 8 chữ "Quý gà chôn mẹ, tội ác không tha". Ngày nay, ở vùng Bắc Ninh còn cái bia ghi câu chuyện trên. Câu rủa "Con trời đánh" cũng là do truyện ấy mà có.
      Cũng thời Lê Trung Hưng - Chúa Trịnh ở đàng Ngoài, “đá gà” đã trở thành thú vui tiêu khiển của hàng vương tôn quyền quý, trong đó có các hoạn quan. Ðây cũng là một đề tài để Trạng Quỳnh lấy đó đem ra nhạo báng, những cái hư rởm của bọn ăn không ngồi rồi, chẳng biết làm gì. Bọn hoạn quan nơi phủ chúa rất thích chọi gà. Chúng bỏ rất nhiều tiền mua những con gà chọi nòi, đá hay nhất nước đem về nuôi. Nghe nói Trạng Quỳnh có con gà đá hay, thắng gà nhiều nơi, kể cả gà của sứ Tàu, chúng bèn đến xin Trạng cho gà đấu thử.
      Biết bọn hoạn quan độc ác, thường gây tai họa cho nhiều người, Trạng Quỳnh ghét lắm, quyết làm chúng bẽ mặt một phen. Trạng hẹn chúng đem gà đến chọi và loan tin cho bàn dân thiên hạ trong thành đến xem. Sáng hôm sau, bọn hoạn quan đem gà đến nơi hẹn. Quỳnh ôm một chú gà thiến của người hàng xóm thủng thẳng bước vào trường gà. Con gà trống thiến của Trạng Quỳnh vừa thả ra đã bị gà chọi nòi của viên hoạn quan xông đến mổ vào đầu và đá cho một phát toạc ức ra, giãy đành đạch chết ngay.
      Sau khi đá thắng, chú gà chọi hùng dũng vỗ cánh, vươn cổ gáy một hồi. Bọn hoạn quan nhảy nhót, reo hò. Bấy giờ, Trạng Quỳnh mới thiểu não bước vào, ôm lấy gà của mình, khóc rống lên, kể lể: “Khốn nạn thân mày, gà ơi! Khi chưa bị hoạn, mày rất giỏi giang. Nay bị hoạn mất rồi, sao không biết thân biết phận, còn hung hăng đấu đá, để đến nỗi chết thảm, chết hại như thế này. Khốn nạn thân mày, gà ơi là gà!”. Biết là bị chửi xỏ, bọn hoạn quan vừa tức vừa xấu hổ. Chúng vội vã ôm gà lủi đi giữa tiếng cười giòn giã của dân chúng kinh thành.Sau sự kiện đảo chính Ngô Đình Diệm ngày 1.11.1963, các tướng lĩnh ở Sài Gòn lên lon rất nhanh. Nguyễn Cao Kỳ là một trong số những tướng tá thăng tiến nhanh nhất. Thế nhưng, sau năm 1971, đời binh nghiệp của ông như chiếc xe tuột dốc không phanh. Ông trở thành một vị tướng mồ côi, quyền uy, địa vị mất sạch. Từ đây, có lẽ “đá gà” đã trở thành một trong những niềm vui của vị tướng hết thời này.
        Lên voi xuống… “cẩu” đời binh nghiệp
        Năm 1948, ông Kỳ 18 tuổi, là lúc chiến sự đang diễn ra hết sức ác liệt ở miền Bắc. Lúc này, lực lượng Việt Minh ở phía Bắc đang gây ra những tổn thất nặng nề cho quân Pháp. Để tăng cường lực lượng, người Pháp buộc chính phủ Bảo Đại ban lệnh tổng động viên. Thanh niên có bằng trung học đệ nhất cấp (tú tài 1) gia nhập trường sĩ quan, còn học ít thì làm lính Bảo Hoàng. Thời điểm này, ông Kỳ và nhiều bạn học cùng trường rất sợ phải đi lính cầm súng bắn giết với người Việt kháng chiến. Ông chọn cách ứng xử có phần lạ lẫm với thời cuộc là đi tán gái, đánh lộn, và… đá gà. Cao to, đẹp trai, tính tình có phần ngang tàng, cậu học sinh Nguyễn Cao Kỳ luôn là đầu tàu dẫn nhóm bạn đi tán tỉnh các nữ sinh trường Trưng Vương gần đó. Không đi tán gái thì ông Kỳ đi đá banh, đánh bi da hoặc đá gà giết thời gian.
        Thi rớt trung học đệ nhị cấp (tú tài 2), Nguyễn Cao Kỳ bị gọi động viên ra trường sĩ quan Nam Định nhập học ngay khóa đầu tiên mở vào năm 1952. Nhiều người là bạn thân của ông Kỳ khi vào trường sĩ quan tiếp tục học lên cao, lấy bằng cử nhân này nọ, nhưng ông Kỳ vẫn không thèm học mà đầu tư phần lớn thời gian cho… nhảy đầm, đánh quần vợt, đá banh, đá gà nên đường học vấn chỉ tới đó là hết.
        Sau khóa sĩ quan trù bị, chuẩn úy Nguyễn Cao Kỳ thích “đi mây về gió” nên đăng ký vào Nha Trang học khóa cơ khí không quân. Xong lớp này, ông tiếp tục ghi danh học lái máy bay thám thính L19 Cessna - còn gọi là “máy bay bà già”.
        Lái thành thạo “máy bay bà già”, phi công trẻ Nguyễn Cao Kỳ được “nâng cao nghiệp vụ” bằng khóa thực tập lái máy bay DC-3 tại trung tâm huấn luyện không quân Marrakeck (Ma Rốc). Lái thạo chiếc DC-3, ông Kỳ lại tiếp tục sang Pháp tu nghiệp. Dù thời gian học khá nghiêm ngặt nhưng người ta kể, cái máu phong lưu, ham đá gà của ông vẫn không có gì thay đổi… Ở Pháp, ban ngày học quân sự, buổi tối ông Kỳ và bạn bè kéo nhau đi hộp đêm, nhảy đầm, uống rượu. Những ngày nghỉ cuối tuần, hễ nghe nói dân gốc Phi có tổ chức cáp độ đá gà là bất cứ giá nào ông cũng phải đi xem cho kỳ được.
        Mười năm theo binh nghiệp, ông Kỳ mang lon trung tá không quân vào năm 1963. Thời điểm này, số tướng lĩnh Việt Nam Cộng hòa ở miền Nam chỉ đếm trên đầu ngón tay. Cuộc đảo chính quân sự lật đổ chính quyền của tổng thống Ngô Đình Diệm do các tướng lĩnh VNCH thực hiện dưới sự ủng hộ của Hoa Kỳ vào ngày 1.11.1963 là một bước ngoặc lớn đối với ông Kỳ. Ông được thăng cấp đại tá lúc mới 33 tuổi. Sau cuộc đảo chính, ông Kỳ thăng chức nhanh chóng. Ông trở thành tư lệnh không quân, mang hàm Thiếu tướng và được coi là thủ lĩnh của một phe quy tụ các tướng trẻ. Ngày 19.6.1965, Nguyễn Cao Kỳ, qua sự dàn xếp của Hội đồng Quân lực, trở thành thủ tướng, trên pháp lý là Chủ tịch Ủy ban Hành pháp Trung ương. Ngày 1.9.1967, ông được bầu vào chức Phó Tổng thống VNCH. Và rồi, như một ván cờ, đến lúc con xe, con pháo làm xong nhiệm vụ…, năm 1971, ông bị gạt ra khỏi chính trường, lúc đó ông mới 41 tuổi.
        Vui thú cầm kê lúc hết thời
        Để quên đi những tháng năm huy hoàng trên tột đỉnh quyền uy, từ đây ông Kỳ dành nhiều thời gian cho thú săn lùng gà chiến và cho lai tạo giống gà, điều mà ông tin rằng chỉ có trại của ông mới có đủ điều kiện để sản sinh ra loại “chiến kê đặc biệt” này.
        Một lần, ông Kỳ nghe đám đệ tử xì xầm với nhau rằng, ở làng phế binh Kỳ Son, xã Bình Tâm, thị xã Tân An (nay là cư xá phường 3, thành phố Tân An) có trường gà mới nổi, quy tụ những cao thủ trong giới gà chọi là những thương phế binh đến từ Cao Lãnh, Chợ Lách… Họ đem về đây loại gà “lì kê”, đá chừng nào chết mới thôi, không biết chạy là gì. Thế là ông Kỳ giả dạng một thường dân, đội nón sùm sụp, một mình ôm gà lái xe Honda 67 từ Sai Gòn về Tân An để cáp độ. Trận gà đang tới hồi quyết liệt, “biện gà” chạy tới chạy lui “bớt một thêm hai”, các tay cáp độ la hét ầm trời… Chợt có một thương phế binh kề tai ông hỏi nhỏ: “Thưa Thiếu tướng, lính tráng đâu mà Thiếu tướng đi có một mình?”. Ông giật mình, không nói không rằng, bước nhanh ra bãi để xe, thót lên Honda, nổ máy rồ ga vọt thẳng.
        Kể từ khi mua được con gà của ông Tám H (một chủ trại gà nổi tiếng Bến Lức - Long An) ở lộ Đốc Tơ, các “cố vấn” của tướng Kỳ phát hiện đây là bổn gà vô cùng quý hiếm. Vì vậy, khi rời khỏi bộ máy chính quyền, thời gian rảnh rỗi ông Kỳ thường về đây, khi thì đi bằng xe jeep với đệ tử cũng có lúc ông lái xe đi một mình, để nằn nì mua cho bằng được những con gà chiến do ông Tám H lai tạo. Để tránh phiền phức lôi thôi, ông Tám đành phải bán những chú “chiến kê số một” của mình, dĩ nhiên với giá cao ngất ngưởng. Thời điểm này, bầy gà chiến của ông tướng râu kẽm đã rất nhiều, hầu hết đều là gà giỏi nhưng ông vẫn không bỏ được cái tật, hễ nghe ở đâu có gà hay là phải mua cho bằng được, bất kể giá cả thế nào.
        Các “lò” gà lớn ngày nay đều thuộc nằm lòng định luật di truyền học Mendel để cho ra đời những con gà chọi “có số má”. Một chủ lò cho biết, trước nhu cầu của thị trường, gà chiến thuần chủng như ngày xưa chỉ có nước đem… nấu cháo. Thế nhưng, ngẫm lại thì chính ông tướng râu kẽm mới là người thuộc nằm lòng định luật Mendel. Các sư kê của ông đã phải đi khắp nơi tìm cho bằng được giống tốt, gen quý, về trại lai tạo lấy gen trội rồi cho ra lò những con gà oai phong lẫm liệt, gọi là “bổn gà Nguyễn Cao Kỳ”. Người ta nói, không một ai có thể đem gà ra khỏi trại của ông mà không được phép. Tuy nhiên, vẫn có nhiều chủ lò cho rằng, gà mà họ nuôi ngày nay ít nhiều mang gen của bổn gà ông Kỳ, bởi có một số thầy gà đã lén mang trứng gà ra ngoài, sau đó ấp nở rồi nhân giống. Tuy nhiên, “ăn cắp” gen kiểu lấy trứng thì gà giỏi hay dở còn tùy thuộc vào “hên xui”, bởi có khi là con của cặp bố mẹ siêu đẳng nhưng cả bầy gà con chẳng có con nào đá cho ra hồn.
        Gần 20 năm trước, giới mê gà đã phải “xếp hàng” chờ được mua gà của lò Út T (cháu nội ông Tám H) bởi dân đá độ kháo nhau rằng, gà của lò này được “chích” doping, ra trận dính nhiều cựa hiểm vẫn không chết. Một số tay chơi khác thì cho rằng, trước giải phóng, ông nội của ông Út T từng bán gà cho tướng Kỳ, sau đó được mời làm “cố vấn gà” - hướng dẫn, bàn luận về gà chứ không trực tiếp làm việc trong trại như các sư kê khác nên hẳn nhiên ông có những bổn gà siêu đẳng rồi truyền lại cho con cháu.
        Về nghi vấn “gà doping”, dân chơi đã lầm khi họ làm một thí nghiệm nhỏ: Mua gà Út T về nuôi cách li cả tháng trời, ra trận gà vẫn đá “như lên đồng”, mặc cho cựa của đối thủ đâm ngay tim, ngay phổi. Dân chơi gà “giải phẫu” gà chiến Út T mới phát hiện “điều lạ”: Gan, tim và phổi của những chú gà này nhỏ xíu nên khi bị đâm cựa vào phần nách non, không phạm tim, gan, phổi, vẫn có thể tiếp tục đá. Tìm hiểu, dân mê gà mới vỡ lẽ, mỗi năm ông Út T nhập về Việt Nam hàng trăm con gà Mỹ để “lai” với gà Việt theo kiểu Mendel. Việc nhập không đơn giản, vì phải làm các thủ tục liên quan đến nhập khẩu đúng quy trình, chặt chẽ và tốn kém. Chỉ riêng khâu vận chuyển, mỗi con gà được nhập về đã tốn hàng trăm đôla Mỹ.
        “Gà Mỹ sung sức, mạnh mẽ, đá đòn mạnh như võ sĩ quyền anh nhưng dở là đá không biết né cứ giao thẳng chân. Trong khi đó, gà Việt đá chân đòn không mạnh bằng gà Mỹ nhưng biết tránh đòn, lừa thế phản công, nên khi gà Mỹ lai với gà nòi Việt nhanh lẹ, khôn ngoan sẽ cho ra lớp kế thừa có đầy đủ tố chất của dòng gà vừa khỏe vừa tinh khôn, có đòn hiểm. Còn gà rừng thì do mang những tố chất hoang dã nên mức độ lỳ đòn cũng là điều mà mỗi con gà chiến đều rất cần…”, ông Út T quả quyết.
        Với những lò chuyên nghiệp thì “gà độ” đều phải nuôi theo “dây chuyền” như sản xuất công nghiệp. Theo đó, gà nở được tiêm chủng và cho ăn đầy đủ, gà cỡ 1,2kg là rải đều cho các tay chuyên nuôi thúc. Cứ mỗi người chừng hai ba chục con. Khi gà lớn, lại chuyển cho các tay chuyên huấn luyện để tập đấu. Các “huấn luyện viên” này lo luôn việc “tẩm” gà hằng ngày, “xổ” gà theo lịch, cắt tỉa lông sạch sẽ và theo dõi sức khỏe cùng cân nặng để phân loại và… xếp hạng cân trong thi đấu. Mỗi chú gà đều có mã số để dân chơi biết xuất xứ bố mẹ, chủng loại, cân nặng, độ tuổi… hẳn hoi. Nhiều chủ lò cho biết, công nghệ nuôi gà chiến theo định luật di truyền Mendel, cách đây hơn 4 thập kỷ các sư kê của ông Cao Kỳ đều thuộc nằm lòng, bởi thế “bổn gà ông Kỳ” cho tới ngày nay vẫn là bổn gà trứ danh, ai mê gà cũng biết…
         Cuộc săn lùng “thần kê” của tướng KỳNgoài mê đá gà, tường Kỳ còn rất lịch lãm trước phái đẹp.
        Không chỉ trong giới đá gà ở miền Tây mà cả bên Campuchia từng đồn thổi về một huyền thoại “thần kê” - một con gà bách chiến bách thắng, cho tới chết chưa từng đá thua trận lần nào. Người ta tin rằng, sau khi chết đi, “gà thần” để lại nhiều “hậu duệ” ở vùng Đồng Tháp, Bến Tre, Hậu Giang… Là một người mê đá gà, tướng Nguyễn Cao Kỳ và các “cố vấn” đã dày công săn tìm “hậu duệ” của “thần kê”.Huyền thoại thần kê
        Cũng giống như dân Việt, người dân nước bạn Campuchia từ xa xưa cũng có thú chọi gà, đặc thù là loại gà Tà-Lóc, không có cựa, chỉ đá bằng đôi chân, gọi là gà Ðòn. Gà này cũng đá rất hăng, nên được Việt kiều Campuchia nuôi để đá chơi trong ba ngày Tết Nguyên đán cho đỡ nhớ nhà, chứ không ăn tiền. Mãi tới khi có một số về thăm quê, mua gà nòi đem lên nuôi và mở trường gà lớn Stung Meng Chây, cách thủ đô Phnom Penh 10km, mới bắt đầu có chuyện ăn thua bằng tiền bạc. Và chính việc “đá gà ăn tiền” trên đất Campuchia đã để lại huyền thoại “thần kê” lưu danh hậu thế.
        Các “cố vấn” gà nòi của tướng Kỳ đều thuộc lòng một câu chuyện có thật: Vào cuối thập niên 1930, bỗng nổi lên một Việt kiều nuôi gà nòi nổi tiếng, tên là Lâm Minh Sến, ở xã Vĩnh Lợi Tường, quận Peamchor, tỉnh Prey Veng (Lào), giáp ranh với xã Thường Phước, quận Hồng Ngự, tỉnh Kiến Phong (nay là Đồng Tháp). Vào khoảng năm 1938, một lần đi xem đá gà trong xóm, thấy có con gà trống thật oai phong, ông Lâm Minh Sến bỏ ra số tiền lớn mua về gây giống. Ông chọn con gà mái “ngon lành” nhất bầy để nhân giống với con gà này. Vài tháng sau, lứa gà đầu tiên giữa cặp “tiên đồng ngọc nữ” này nở được 14 con với màu sắc khác nhau.
        Trong số này, có một con rất đặc biệt và dị dạng - lông đen tuyền, không có đuôi. Sến rất thích, đặt tên là Ô Truy, theo điển tích nói về con ngựa hay của Hạng Võ. Cùng một bầy, nhưng con gà đen cụt đuôi rất khác lạ, không chịu ngủ dưới đất mà chỉ ngủ trên cây, tính cô độc, không chơi với ai. Thân hình thì dị dạng, tròn trịa như trái banh và rất ít gáy. Một hôm, có người tên Xả Cập, cũng người làng Vĩnh Lợi Tường, tới thăm nhà ông Sến để coi con Ô Truy. Vốn là tay nuôi gà sành sỏi nên Xã Cập chỉ một lần quan sát gà đã khám phá ra một cái bớt đen nằm giữa cái lưỡi màu hồng lợt của nó. Ngoài ra, gà còn có một cái lông voi, mọc ở giữa cánh; đồng thời còn có thêm một cái vẩy nhỏ, mọc trong kẹt ngón chân giữa - dân chuyên nghiệp gọi là vảy “yểm long”. Theo “kinh kê” (quyển sách về gà nòi của vị tướng triều Nguyễn là Lê Văn Duyệt), đây là một con Thần Kê, loại gà một trăm năm mới xuất hiện một con.
        Khi tới tuổi “chinh chiến”, con Ô Truy đụng độ với con “gà điều” hay nổi tiếng trong vùng. Phe bên kia khinh thường ra mặt, họ tưởng ông Sến khờ nên cá độ rất lớn. Vừa xuất trận, chỉ thấy “cục thịt” màu đen co chân nhảy lên đá nghe cái “rẹt” đã thấy con gà điều giãy giụa rồi chết tốt. Thì ra con Ô Truy đã đâm cựa ngay vào cuống họng đối thủ. Từ đó, tiếng tăm Ô Truy vang dội khắp vùng.
        Một tay chơi ở miền Nam có con gà xám đá rất hay, nghe nói bên Campuchia có “thần kê”, quyết đem “chiến kê” của mình sang tranh tài cao thấp. Tay chơi này là một cự phú đất Cần Thơ nên đã đem rất nhiều bạc vàng sang thách đấu. Ngoài ra, còn có đám đàn em cũng là những tay chơi khét tiếng ôm tiền sang “ăn theo”. Nhìn thấy bộ dạng của Ô Truy, các tay chơi cự phú ôm bụng cười nghiêng ngả, bởi theo họ, con gà này đạp mái còn không nên thân thì kể gì tới chuyện đấm đá.
        Xung trận, cả hai đối thủ gườm nhau rất lâu để thăm dò. Đã thắng nhiều trận nên con gà xám tung chân đá thế liên hoàn. Con Ô Truy cũng tung mình nghênh chiến. Cả hai con gà đá tung bụi mù mịt trong khoảng 2 phút nhưng hầu như không con nào dính đòn của nhau vì các cú ra đòn đều bị đối phương hóa giải. Bỗng dưng, con Ô Truy lùi 3 - 4 bước, gà xám thấy thắng thế lao lên. Ngay lập tức, con Ô Truy phóng vút lên và đá nghe “bịch” một tiếng. Chỉ thấy con gà xám nằm giãy chết, hai mắt lòi ra ngoài vì bị con Ô Truy tung cựa đâm vỡ đầu. Thua sạch tiền nhưng thương con gà nên tay chơi và đám đàn em đem gà về nước chôn cất.
        Bấy giờ ở Nam Vang (Phnom Penh) có vị hoàng thân nuôi được một chiến kê rất dũng mãnh đặt tên Krongpha. Con gà này đá toàn thắng nên được coi là “thần kê hoàng gia”. Nghe tin con Ô Truy dị tướng nhưng đá hay, vị hoàng thân đã đích thân ôm gà về vùng biên giới so tài cao thấp. Chưa đầy một hiệp, “thần kê hoàng gia” đã co giò chạy vì không chịu nổi những cú ra đòn quỷ khốc thần sầu của đối thủ. Vị hoàng thân đã bỏ ra rất nhiều tiền để nhận cái gật đầu đồng ý bán gà của ông Lâm Minh Sến.
        Về hoàng cung, Ô Truy tiếp tục làm mưa làm gió một thời gian dài và chưa thua bất kỳ một đối thủ nào. Khoảng năm 1939, nhận lời mời giao đấu tại một hội chợ ở Manila (Philippines), vị hoàng thân đã ôm gà theo tàu thủy vượt biển du đấu. Nhưng khi tàu ra giữa biển thì gặp bão lớn. Dù là “thần kê” nhưng ra giữa biển cũng chỉ là chú gia cầm nhỏ bé, con Ô Truy không chịu nổi sóng gió nên chết trên tàu và được ông chủ tổ chức “thủy táng” ngay trên biển rồi quay tàu về nước.
        Tướng Kỳ săn lùng hậu duệ của “thần kê”
        Giai thoại “thần kê” cũng kể rằng, vì là “gà thần” nên con Ô Truy không được thoải mái “quan hệ” với gà mái như những con gà nòi thường khác. Cả cuộc đời, con Ô Truy chỉ được làm cái việc duy trì nòi giống có 3 lần. Đó là duyên cớ để dân chơi gà sau này truy tìm hậu duệ của Ô Truy. Vào giai đoạn 1950 - 1970, vùng Đồng Tháp đã sản sinh ra những chiến kê dũng mãnh, người ta tin rằng đó là hậu duệ của thần kê Ô Truy. Hơn ai hết, tướng Kỳ rất quan tâm đến việc tìm hậu duệ của “gà thần”. Về làm chủ sân bay Tân Sơn Nhất (Tư lệnh không quân), rồi thành Thủ tướng chế độ Sài Gòn, tướng Kỳ vẫn dành thời gian săn tìm hậu duệ của thần kê. Tất nhiên, các “cố vấn” gà nòi của tướng Kỳ cũng dày công về vùng Đồng Tháp lùng sục khắp nơi mong tìm được giống gà quý dâng lên chủ tướng.
        Biết tướng Kỳ săn tìm thần kê, các sĩ quan muốn thăng quan tiến chức cho nhanh cũng đổ xô đi tìm thần kê để “hối lộ”. Họ tìm từ Cao Lãnh (Đồng Tháp) qua Chương Mỹ (Hậu Giang) rồi vòng về Chợ Lách (Bến Tre) để kiếm cho được những con gà kỳ hình dị tướng mà họ tin rằng con Ô Truy đã để lại sau 3 lần “truy hoan”. Trại huấn luyện gà của tướng Kỳ trong khu vực sân bay Tân Sơn Nhất ngày càng đông đúc các loại gà đá được săn tìm từ miền Tây đưa về.
        Các “quân sư” gà đá của tướng Kỳ chia gà theo 3 màu lông phổ biến: Ô, tía, xám. Gà màu ô phải là ô ướt hoặc ô toàn sắc; gà tía phải là tía mật ngả màu đen; gà xám phải là xám khô, vì vậy dân gian mới có câu rằng: "Nhứt điều ô, nhì xám khô, ba ô ướt". Trong trại gà khi ấy chỉ có vài con tía ngũ sắc (năm màu lông) chân trắng, đá đâu thắng đó, người ta tin rằng đó đích thực là hậu duệ của thần kê Ô Truy. Các “thầy gà” của tướng Kỳ còn phân loại gà theo loại vảy: Tứ trụ, liên chu, liên giáp nội, đại giáp, tam tài, trường thành, huỳnh kiều, xuyên thành giáp, chân lông vảy loạn, án thiên đệ nhất, án địa (địa phủ), giao long (hai hàng trơn), lục đinh (3 cựa mỗi chân), nếu lục đinh có 2 cựa rung rinh lại càng là gà quý; đặc biệt gà có vảy "đệ nhất thần đao" (linh giáp tử) được gọi là linh kê...
        Có một số đặc điểm đặc biệt của gà mà chỉ có tướng Kỳ và các “quân sư” thân cận mới biết, không để lộ ra bên ngoài, đó là: Gà có vảy "yểm long", vảy này rất nhỏ, nằm núp dưới một vảy của ngón chân nội hoặc ngoại, gà có vảy "yểm long" là gà chiến, có nhiều đòn hiểm; gà có bớt lưỡi (bớt son tốt hơn bớt đen), cũng là gà quý. Những đặc điểm này, các “thầy gà” của tướng Kỳ đúc kết từ sách và từ thực tế con Ô Truy bách chiến bách thắng của ông Lâm Minh Sến đã kể ở trên. Đối với gà dị hình, dị tướng có 5 loại mà các “thầy gà” lùng mua cho bằng được để đem về trường gà của tướng Nguyễn Cao Kỳ.
        Thứ nhất là gà “tử mị”. Loại gà này khi ngủ thì nằm ngay đơ, sảy cánh và xuôi giò; cũng là tử mị nhưng có loại khác khi ngủ thì đôi giò móc lên cây như dơi(!). Thứ hai là gà qui, hình dạng giống như con rùa. Khi nằm, nó giấu chân đi, co đầu lại, thụt đuôi vào, thân như con rùa, chỉ khác một điều là được phủ thêm lớp lông mượt. Thứ ba là gà độc nhãn, độc dao. Lúc mới sinh ra, chỉ có một mắt một cựa. Những con gà loại này thật là hung ác dữ tợn, không bao giờ nao núng trước địch thủ. Đã chọi nhau thì đến chết cũng không chạy. Thứ tư là giống gà mắt ếch mắt mèo. Mắt rất tinh, tránh đòn rất tài và tra đòn rất đúng. Loại gà này rất gan lỳ. Loại dị tướng thứ năm là gà tam nhĩ. Gà có 3 lỗ tai, ở bên trái hoặc bên phải, ngoài lỗ tai thường, còn có một lỗ tai nhỏ. Lỗ tai này thường bị lông phủ kín, người lựa gà phải để ý, vạch lông ra mới thấy được.
        Khi nhìn một con gà, các “cố vấn” thường chú ý ngay đến sắc lông, tướng mạo, dáng đi, tiếng gáy... của nó. Nhiều con gà, đối với những con mắt người thường, chỉ là những con gà bỏ đi. Nhưng đến tay tướng Kỳ và các quân sư thì lại là một con gà có quý tướng. Thông thường, các cố vấn đi săn lùng gà chiến, nhưng cũng có những “ca khó” (chủ gà không chịu bán), đích thân tướng Kỳ phải lái máy bay đi mua hoặc đi đá ở vùng quê xa.Tướng Kỳ lái máy bay đi mua gà và đi đá gà
        Năm 1950, Nguyễn Cao Kỳ vừa tròn 23 tuổi, ông sang Algeria học lái máy bay. Khi ngồi lên những chiếc BC3 cũ kỹ, các phi công của thập niên 1950 hoàn toàn phải tự xoay xở lấy vì hồi đó phi công chưa được sự hỗ trợ của các bộ phận dưới đất như bây giờ. Trong rất nhiều tình huống, họ đã toát mồ hôi hột, cái chết tưởng chừng như trong gang tấc.Sau này, làm Tư lệnh Không quân, rồi Phó Tổng thống VNCH, ông Kỳ có trực thăng riêng, tự lái từ nhà ở sân bay Tân Sơn Nhất đến dinh Độc Lập để làm việc. Rất nhiều lần, ông tự lái trực thăng để đi… đá gà.
        Cục trưởng Cục tình báo CIA Mỹ khiếp đảm
        Trong cuốn hồi ký của mình, ông Nguyễn Cao Kỳ cho thấy sự gắn bó của ông với bầu trời và những chiếc máy bay sâu đậm như thế nào, dù ông chẳng nhắc gì đến chuyện lái máy bay đi mua gà hay đá gà tận những tỉnh miệt vườn sông nước Cửu Long. Có lẽ ông thấy nó chẳng hay ho gì nhưng với dân mê gà thì chuyện ông Kỳ lái may bay, từ kiểu lái làm phi công Mỹ vãi hồn đến kiểu lái tầm thấp tránh rađa để đi… cáp độ gà, đều được “tôn” lên hàng giai thoại. Giai thoại vẫn là giai thoại và không có một tài liệu nào đủ thuyết phục là câu chuyện đó đúng hay sai.
        Ông Kỳ kể trong hồi ký: "Thường thì tôi không có phương tiện trợ lực điều hành, không có thiết bị tự động giúp đỡ, mà phải bay theo quyết đoán của mình, giữa biết bao nguy hiểm và mối nguy hiểm càng tăng khi gặp các trận bão tố hoặc cuồng phong miền nhiệt đới. Những lúc ấy, chúng tôi khó mà biết được ngay một cách chính xác vị trí của sân bay gần nhất để hạ cánh. Thời đó rất ít khi chúng tôi được những người ngồi ở đài kiểm soát dưới mặt đất cho biết phải bay theo đường nào, hoặc với cao độ, hay tốc độ là bao nhiêu”.
        Năm ông 30 tuổi, vừa hạ cánh xuống căn cứ không quân ở Sài Gòn sau một chuyến bay đêm, ông Kỳ gặp một người lạ mặt đang chờ ông. Ông kể: "Tôi còn nhớ lúc mới gặp tôi nghĩ ông ta trông giống như một sinh viên hiền lành thứ thiệt, song ý nghĩ đó nhanh chóng chấm dứt khi tôi phát hiện cặp mắt ở đằng sau đôi kính kia không lúc nào đứng yên, mà luôn luôn liếc qua liếc lại để quan sát mọi cử chỉ và mọi người chung quanh. Ông ta tự giới thiệu một cái tên chẳng có nghĩa gì với tôi cả: William E.Colby". Người đó, Colby, chính là Cục trưởng Cục Tình báo CIA Mỹ. Cuộc gặp gỡ lúc ông 30 tuổi ấy khiến sau này "đã có nhiều tờ báo Mỹ tố cáo rằng tôi đã làm việc cho CIA. Nhưng tôi không khi nào làm việc cho CIA cả".
        Colby có vẻ không tin tưởng lắm vào khả năng của phi công Sài Gòn nên Nguyễn Cao Kỳ đã biểu diễn một kiểu bay mạo hiểm trong chuyến chở Colby ra Đà Nẵng và nói trước khi bay: "Này ông Colby, tôi sẽ biểu diễn cho ông thấy chúng tôi bay thấp điêu luyện đến mức nào". Và ông đã lái máy bay vượt ra biển với cao độ số 0. "Mười phút sau, tôi nhìn lại Colby và các bạn của ông ở phía sau thì thấy mặt của Colby đã trở thành gần như màu xám xịt lúc máy bay của tôi là là cách ngọn sóng chỉ có 5 bộ. Mãi khi đáp xuống Đà Nẵng, ông ta mới nở một nụ cười e thẹn. Thế rồi, khi rời máy bay, mặt ông ta trở nên hơi hồng hơn và quay lại phía tôi, nói: "Kỳ à, lần tới mà ông cho chúng tôi bay khá sát mặt nước như thế thì nên cho chúng tôi biết trước để mang cần câu cá theo nhé".
        Năm 1963, khi cuộc đảo chính Ngô Đình Diệm nổ ra, Nguyễn Cao Kỳ đã khống chế đại tá tư lệnh không quân thời ấy là Huỳnh Hữu Hiền và ra lệnh cho máy bay cất cánh từ Tân Sơn Nhất quần đảo uy hiếp lực lượng phòng vệ của tổng thống: "Tôi ra lệnh bắn một vài hỏa tiễn xuống thành lớn của bộ binh gần dinh Tổng thống. Sau khi bắn, chỉ có hai tên lửa, quân giữ thành của Diệm đầu hàng".
        Mười ngày sau cuộc đảo chính, Nguyễn Cao Kỳ lái máy bay đưa tướng Dương Văn Minh đi dự một cuộc lễ ở vùng ngoại ô Sài Gòn, bước xuống máy bay, Dương Văn Minh quay lại cười và đột ngột nói: "Kỳ à, tôi đã quyết định bổ nhiệm anh làm tư lệnh không quân". Quyết định thăng cấp ấy đã mở đầu một giai đoạn mới trong đời ông và dẫn đến nhiều thay đổi bất ngờ sau đó, nhưng điều không thay đổi vẫn là sự gắn bó của ông với những đường bay...
        Lái máy bay đi săn lùng gà chiến
        Trước giải phóng, các lò gà độ nổi tiếng ở Cao Lãnh (tỉnh Đồng Tháp), Chợ Lách (Bến Tre), Bến Lức (Long An) đều nhẵn mặt ông tướng cao bồi chịu chơi Nguyễn Cao Kỳ. Có lần, ông tướng tự lái trực thăng từ Sài Gòn bay phành phạch xuống sân bay Cần Đốt (TX.Tân An, Long An). Cánh máy bay còn chưa kịp ngừng hẳn, người dân đã nhốn nháo khi thấy mấy chiếc xe nhà binh từ Tân An rú ga chạy ầm ầm về lộ Đốc Tơ (cách sân bay Cần Đốt chừng 10km). Xe dừng ngoài quốc lộ, đám lính chạy rầm rập vô nhà ông Tám H (ông nội của chủ lò Út T bây giờ - vua gà chọi, chuyên cung cấp gà chọi từ Nam chí Bắc). Lúc này, nhà ông Tám H đang nuôi giấu cán bộ, tưởng bị giặc bố ráp nên các đồng chí nhanh chân thoát ra phía sau. Vợ chồng ông Tám H lật đật cầm dao chặt dây võng (giăng cho cán bộ nằm nghỉ), ông Tám ôm đóng võng nhảy ùm xuống ao rồi đạp mớ võng xuống bùn “phi tang”.
        Vào tới sân, đám lính xếp thành hàng nghiêm chỉnh, viên sĩ quan chỉ huy bước ra trước dõng dạc chào và đòi gặp ông Tám H. Khi ông mình mẩy ướt nhẹp lội dưới ao lên, người chỉ huy mới nói gặp ông là để… mua gà nòi cho ông Nguyễn Cao Kỳ. Thì ra, nghe ông Tám H có con gà nòi đá đâu thắng đó, ông Kỳ muốn mua đem về “nhân bản” với bầy gà chiến hàng trăm con của ông. Không muốn bán, ông Tám bèn đưa ra cái giá “trên trời” là “100.000 đồng không bớt một xu”. Không ngờ, viên sĩ quan lệnh cho anh lính xách giỏ tiền ra đếm và trả đủ rồi nhắn: “Chỉ cần gà hay, giá bao nhiêu ông Kỳ cũng mua!”. Nghe nói, con gà này sau khi vô tay tướng Kỳ đá thắng rất nhiều trận, ngay trận đầu đã dư sức “gỡ vốn” nên sau đó “tướng râu kẽm” tiếp tục mua thêm của ông Tám H một “chiến kê” khác mà không cần trả giá…
        Những người mê đá gà kể lại, kiểu đá độ của ông tướng này cũng rất lạ: Đối phương muốn cáp độ bao nhiêu cũng được, ông sẵn sàng đem con gà trị giá cả chục cây vàng để “đá bắt xác”, miễn gà đá hay là được. “Mọi người cứ đồn đoán ông nội tôi có quan hệ mật thiết với nhóm sư kê của tướng Kỳ để bàn luận với họ về cách nuôi gà, cách huấn luyện gà chiến. Kỳ thực là không có, bởi gia đình tôi vốn có truyền thống cách mạng, mình không muốn liên quan với tướng lĩnh chế độ Việt Nam Cộng hòa vì sợ mang tiếng. Hồi đó, bán mấy con gà là trong tình thế chẳng đặng đừng, phải mấy năm sau mới dám kể lại chứ không dám cho hàng xóm biết vì sợ họ chê cười. Ông nội tôi bảo, ông hét giá là để khỏi bán, chứ không phải vì tiền, dè đâu tướng Kỳ giá nào cũng mua, lúc đó mà không bán thì chết với họ…”, ông Út T kể lại.
        Sau đời ông Tám H, cha ông Út T cũng nuôi gà chiến. Tuy nhiên, do mới giải phóng, kinh tế còn khó khăn, mọi người lo tăng gia sản xuất chẳng còn mấy ai chơi gà độ, thành ra nuôi gà chiến chỉ để thỏa đam mê, thỉnh thoảng Tết nhất, lễ lạt thì cáp độ đá văn nghệ văn gừng chứ chẳng tiền bạc gì. Tới thời ông Út T, nhà có đến 10 anh em nhưng rốt cục chẳng ai theo nghiệp đá gà, chỉ duy nhất mình ông, hồi nhỏ lẽo đẽo theo ông nội nên ngấm máu “mê gà” từ lúc mới bi bộ tập nói. “Con tôi bây giờ đi học, chẳng đứa nào mê gà và cũng chẳng biết gì về gà. Coi như nghiệp nuôi gà sắp tới sẽ thất truyền. Thôi thì tôi còn khỏe, cứ nuôi cho thỏa đam mê”, ông Út T nói.
        “Né” rađa, lái trực thăng đi đá gà
        Khi lên làm phó tổng thống, mỗi sáng, ông Nguyễn Cao Kỳ vẫn tự lái một chiếc trực thăng từ nhà riêng của mình ở Tân Sơn Nhất đảo một vòng quanh Sài Gòn rồi đáp xuống bãi cỏ trước dinh Độc Lập...
        Về sau, ông tướng râu kẽm đã dùng “tài” lái máy bay không phải để đi chiến đấu mà… đi đá gà(?). Nhiều tay mê gà kể lại, có lần ông Kỳ về Cao Lãnh để làm việc nhà binh chi đó, xong việc ông hỏi ngay về gà đá. Như gãi đúng chỗ ngứa, mấy ông sĩ quan cấp tá ở Cao Lãnh huyên thuyên nói về gà, rồi bàn luận chuyện cáp độ. Họ kể ở quận Chương Thiện (tỉnh Hậu Giang ngày nay) có những bổn gà rất hay, đang làm mưa làm gió trên đấu trường, làm ông Kỳ ngồi nghe không chớp mắt. Chiều hôm đó, binh lính dưới quyền cứ nháo nhác khi không thấy chủ tướng đâu, liên lạc về Sài Gòn và nhiều căn cứ không quân khác, vẫn không thấy tin tức tướng Kỳ. Đến chập choạng tối, máy bay trực thăng của ông Kỳ mới phành phạch bay về Sài Gòn. Thì ra, khi nghe nói gà Chương Thiện đá hay, ông tướng đã “lén” lái máy bay về đó xem thử thực hư.
        Về sau, nhiều lần ông lấy trực thăng chở gà xuống Chương Thiện cáp độ. Người ta kể, nhiều lần ông Kỳ đi đá gà ở vùng “giáp ranh”, ông phải bay sát ngọn dừa vì sợ rađa của cả hai phe (Cách mạng và Việt Nam Cộng Hòa) phát hiện, nhỡ bắn một phát thì tiêu tùng. Sau này, ông mới hú vía khi nghe thuộc cấp báo lại nhiều chiến sĩ bên “Giải phóng” không cần rađa vẫn có thể bắn hạ máy bay bằng… súng trường.
        Trại huấn luyện “thần kê” của tướng Nguyễn Cao Kỳ
        Với khí phách ngang tàng, tướng Nguyễn Cao Kỳ dường như chẳng coi ai ra gì trong bộ sậu lãnh đạo Việt Nam Cộng Hòa thời bấy giờ. Nhiều lần bị chỉ trích về chuyện bỏ bê chính sự, thậm chí ham đá gà tới mức tự lái trực thăng vào “vùng không an toàn” để săn lùng gà chiến và “cáp độ”, ông tướng râu kẽm vẫn phớt tỉnh ăng lê.Chuyện sáng ở Sài Gòn, trưa lái trực thăng về các tỉnh miền tây “cáp độ”, chọi một trận, chiều trở về Sài Gòn họp hành xảy ra như cơm bữa. Đá gà, một thú đam mê, nó như ngấm vào xương vào thịt của vị tướng không quân ngang tàng và bạt mạng này. Người ta đồn rằng, ông có một trang trại dùng để huấn luyện “thần kê” trong phi trường Tân Sơn Nhất, những “kê sư” nổi tiếng khắp miền lục tỉnh được mời về để huấn luyện cho những “chiến kê” của ông.

        Người phải “học” gà!
        Nói về gà, trong dân gian có một tác phẩm nổi tiếng “Lục súc tranh công” được viết bằng chữ Nôm của một tác giả vô danh. Trong sách tác giả nói về sáu con vật nuôi trong nhà tranh nhau kể công trạng của mình gồm trâu, ngựa, chó, dê, lợn và gà. Trâu thì cho rằng mình làm ăn vất vả, có công tạo ra lúa gạo, bắp khoai. Ngựa thì cho rằng mình có công kéo xe chở chủ, từng xông pha nơi trận mạc, vào sanh ra tử, xem cái chết nhẹ tựa lông hồng. Chó thì rằng coi nhà, giữ trộm, bảo vệ tài sản, là con vật trung thành với chủ nhà. Dê thì bảo mình có công trong những việc lễ hội. Lợn thì bảo là mình có công đầu trong việc quan, hôn, tang, tế. Gà thì rằng có công gáy sáng, xem giờ, có công rất lớn trong việc báo hiệu màn đêm sắp hết và ngày mới bắt đầu… Sáu con cùng nhau tranh luận, người chủ phải can thiệp, dàn hòa mới yên.
        Ðá gà xưa nay, trên nguyên tắc được coi như là môn thể thao. Người mê gà chiến ở bất kỳ nơi nào cũng coi môn này thể hiện tinh thần bất khuất. “Đạo” về đá gà còn cao hơn nhiều môn khác như chọi trâu, đấu bò nhiều bậc. Cũng “chiến trường đổ máu”, ra sân trồng cựa là một mất một còn - hoặc cả hai cùng chết dưới cựa của nhau nhưng môn đá gà vẫn không bị coi là dã man. Trái lại, đầy tính tinh thần thượng võ.
        Hồi đó, nhiều tay chơi gà có tiếng ở Cao Lãnh (Đồng Tháp) và Bến Tre được các “sư kê” của tướng Kỳ mời về trại huấn luyện làm “cố vấn” cho họ. Những người được mời không nhận thù lao cố định mà thường được thưởng lớn sau mỗi trận thắng. Các “sư kê” cho rằng “đại cao thủ” gà đá chính là tả quân Lê Văn Duyệt nên họ sưu tầm tài liệu về nhân vật lịch sử này để… học nghề nuôi gà, huấn luyện “chiến kê”. Theo tài liệu, thuở trẻ, đức tả quân thích đá gà, nuôi gà chọi. Người ta cho rằng ông có trại nuôi gà chiến lên tới 5.000 con. Và ông cũng là người sáng tác ra bản “Kê Kinh” - quyển sách được coi là “gối đầu giường” cho dân mê gà đá.
        Phải nói là đức tả quân Lê Văn Duyệt là người mê đá gà đến phát cuồng, ông từng bị nhà vua Gia Long quở trách về chuyện mê gà chọi mà trễ nải việc nước nhà, ông đã tự biện luận để giải tội, khi đưa ra “ngũ đức” của gà là: Ðầu có mồng như đội mão là “văn”; Chân gà có mang cựa nhọn như gươm giáo là “võ”; Thấy kẻ địch trước mặt vẫn xông vào là “dũng”; Khi kiếm được cái ăn, lập tức phân chia cho đồng loại là “nhân”; Và ngày ngày cứ tới đúng giờ thì cất tiếng gáy là “tín”. Ðây là năm đức tính chẳng những cần cho văn thần võ tướng trong sứ mệnh an dân trị quốc mà còn giúp cho thế nhân hành sử đúng đạo làm người.
        Đối với đức tả quân Lê Văn Duyệt, gà được “nâng tầm” với những đức tính vừa kể ở trên. Đến thời Nguyễn Cao Kỳ, ông cũng là tay chơi gà được xếp vào hàng cao thủ. Những “triết lý” về gà chiến được ông nghiên cứu kỹ hơn, ông có một đội ngũ chuyên môn về gà đá, tức là gà vẫn thuộc hàng “văn võ toàn tài” khiến con người phải nễ phục.
        Nhiều tay chơi gà có tiếng nhận làm “sư kê” cho ông tướng râu kẽm còn quả quyết, ngoài năm đức tính “quý như vàng” (văn, võ, dũng, nhân, tín) thì con gà là bậc tổ sư của… “nhẫn”. Mà đâu chỉ con gà biết “nhẫn”, ngay cả người chơi gà cũng phải lấy chữ nhẫn mà thuộc nằm lòng. Câu “Nuôi quân ba năm dụng một giờ” quả là đúng với những con gà chiến. Thậm chí, nếu luyện được chiến kê vào hàng cao thủ võ lâm thì chỉ trong vài ba cú tung chân là đối phương đã ngã gục, khi ấy không phải “nuôi ba năm dụng một giờ” mà là “nuôi ba năm dụng… một phút”.
        Trung tâm huấn luyện “thần kê”
        Các “sư kê” từng làm việc trong trại gà của ông Nguyễn Cao Kỳ kể lại, gà trong “doanh trại” của ông được huấn luyện “ngon lành” hơn binh sĩ tập trận. Sau khi chọn giống, con gà được nuôi đúng chuẩn đến khi trưởng thành sẽ được đưa vào “trung tâm huấn luyện”, kiểu như các trung tâm huấn luyện vận động viên thể thao. Khâu cơ bản phải cho con gà “chạy lồng”. Một con gà mồi sẽ được nhốt trong cái bội tre, phía bên ngoài chụp thêm một cái bội tre lớn hơn để gà không thể mổ hay cắn lẫn nhau. Con gà bên ngoài sẽ chạy quanh bội gà vì tức khí và muốn tìm cách chui vào bên trong gặp đối thủ. Phương pháp này có thể tập luyện cả giờ và giúp cho gà phát triển bắp thịt nơi đùi và chân. Cả gà bên trong lẫn gà bên ngoài đều gườm nhau, rồi chạy vòng tròn cho đến khi da… tươm mồ hôi y như võ sĩ ép cân. Đây là cách rèn thể lực cho gà mà không hại gì đến thân thể nó. Chạy mệt, gà sẽ nằm thở, khi khoẻ lại đứng dậy, bốn mắt gườm nhau không chớp, cổ giương dài, lông dựng ngược lên và… chạy tiếp, cho đến khi nào “sư kê” bắt ra thì thôi.
        Tất cả gà chuẩn bị ra trường đều được “xoa bóp” nghệ có pha lẫn với các vị thuốc gia truyền mà chỉ có dân độ gà mới biết là thuốc gì, phải xoa thường để giúp cho phần da lộ ra đỏ da thắm thịt mà còn giúp cho lớp da được chai sạn lại để chịu đòn cho khoẻ, kiểu như võ sĩ quyền anh, phải đấm vào cái bao cát cho tay chai đi, phải biết hứng đòn và thật lỳ đòn. Chân gà được ngâm vào một dung dịch thuốc “bí truyền” pha với nước tiểu của những bé trai khỏe mạnh hoặc muối để giúp cho chân gà săn chắc lại gọi là “dầm cán”. Có thể ngâm chân gà ngày hai lần sáng và tối, mỗi lần 30 phút. Phương pháp này giúp cho các ngón chân và quản ống xương chân gà rắn chắc khi ra đòn đá nhanh và mạnh như sấm sét.
        Các “sư kê” của tướng Kỳ tin rằng, sương buổi sớm mai tinh khiết sẽ giúp cho gà khỏe mạnh, nên mỗi sáng khi gà cất tiếng gáy đầu tiên là gà được thả ra sân sớm trong lúc trời còn đang tờ mờ để vươn vai, đập cánh gáy, đi lại nhanh nhẹn trong sân khi sương chưa tan - Phương pháp này họ gọi là “quần sương".
        Gà được tắm rửa và xông hơi hằng ngày bằng khăn ấm với một nồi nước nấu bằng các vị thuốc Nam như trà xanh, gừng, ngải cứu và rất nhiều loại thuốc bí truyền khác gọi là “om gà”. Có “sư kê” kể với đám đệ tử rằng, nếu không may có con gà nào của tướng Kỳ bại trận, họ sẽ cố xin cho được cái xác đem về nấu cháo đậu xanh tẩm bổ cho người già, người bệnh mới khỏi. Đặc biệt nó là bậc… thầy cho đấng mày râu hiếm muộn về đường con cái. Thịt những con gà được “om” bằng thuốc không chỉ bổ dưỡng mà còn là vị thuốc quí như thần dược.
        Cáp độ kiểu Nguyễn Cao Kỳ
        Sau khi gà đã tràn đầy sinh lực, các “sư kê” sẽ cho “xổ gà”. Gà được cáp với gà cùng chạng (đồng cân), cùng tuổi để đá thử sức và tập cho quen dần với cách giao nạp, nhập trận thế và cách làm nước của sư kê. Mỗi lần xổ gà thường là một đến hai hiệp. Gà nòi có bộ xương rất lớn, do đó muốn gà phát triển đúng mức cần phải có thời gian và đủ kiên nhẫn để gà lớn lên một cách bình thường. Trung bình vào một năm tuổi là lúc gà đã cứng cáp và bắt đầu vào chương trình tập luyện chuẩn bị cho việc ra trường. Sau 6 tháng áp dụng những phương pháp huấn luyện trên, khi được 1 năm rưỡi là gà đã rắn chắc, sung mãn, sẵn sàng ra trường xả thân nơi chiến địa. Các sư kê dày dạn kinh nghiệm của tướng Kỳ thường nuôi và tập luyện gà đúng độ mới mang ra thi đấu, trong khi các tay chơi gà trẻ tuổi không có nhiều kinh nghiệm và háo thắng hay ép gà đá non chưa đủ lực, thường chịu thảm bại dưới gà của tướng Kỳ.
        Cách cáp độ gà ở Việt Nam rất khác nhau, tùy theo từng địa phương. Tại miền Nam trước năm 1975, các tay chơi đá gà thường không dùng cân để cân trọng lượng của gà. Tuy nhiên, cũng có sới dùng cân, tỷ như sới gà của cựu Phó Tổng thống Nguyễn Cao Kỳ thì có dùng cân khi qua cổng. Thường thì các tay chơi gà định lượng con gà đối phương bằng cách dùng mắt quan sát để cáp độ. Những tay cáp độ sẽ mang gà ngồi vào “bồ” (vòng), có nơi làm “bồ” sâu xuống đất để làm đấu trường, để so kè chiều cao và bề ngang của lưng gà để bắt chặng.
        Trước năm 1975, hầu hết các trường gà tại miền Nam đều giành riêng cho gà đòn hay gà cựa. Có rất nhiều trường gà nổi tiếng quanh Sài Gòn và các tỉnh lân cận. Các đại gia miền Nam thường thích đá gà cựa hơn vì có kết quả ăn thua nhanh chóng. Tướng Kỳ mê cả gà cửa lẫn gà đòn. Các tay chơi gà ở Sài Gòn rất lấy làm vinh hạnh khi được mang gà vào “trại huấn luyện” của tướng Kỳ để đá. Còn tướng Kỳ, ông không phân biệt giàu nghèo, hèn sang, miễn là nghe ai có gà “chiến” là ông mời vô đá. Các “cố vấn” và “sư kê” từng làm việc tại sới gà của tướng Kỳ cho biết, ông Kỳ là người đại kỵ chuyện gian lận trong việc cáp độ đá gà. Chưa thấy ông “xử” tay gian lận nào nhưng dân mê gà đồn rằng, nếu kẻ nào gian lận bị ông Kỳ hoặc các “sư kê” của ông phát hiện coi như phải bỏ luôn nghiệp đá gà và bị dân chơi gà khinh bỉ. Nhập gia tùy tục, khi vào trường gà của ông Kỳ thì phải theo luật của ông.
         “Đạo kê” và những ngón đòn danh trấn giang hồ

        No comments:

        Post a Comment