Sunday, February 12, 2017

Bài viết hay(4524)

Năm 1992, tui viết bài kêu gọi CSVN hãy tập trung cải thiện đời sống người dân trong nước, nâng cao dân trí thì nhiều người ở Bolsa lập tức chụp nón cối lên đầu tui ngay; trong đó có Võ Thành Đạt phụ trách báo Non Sông của THSVVN. Nam Cali là hùng hổ nhất. Ngay cả ông Lê Đức Anh của Mặt trận Hoàng Cơ Minh tức Việt Tân ngày nay cũng đòi bắn tui ngay giữa Bolsa vì cho rằng tui muốn tiếp tay cho VC.Tiếp theo là hàng trăm nick chống Cộng trên Paltalk hùa vô "bề hội đồng" tui te tua vì họ tin rằng chỉ có cầm súng mới lật đổ được VC cho dù năm 2000 thế giới đã bang giao với VC. 25 năm trôi qua, tui rút khỏi chốn "gió tanh mưa máu" mà cười thầm khi Bolsa lòi mặt thật với những chiếc mặt nạ từ từ lột ra để thách thức tất cả mà cóc thèm sợ ai nữa! Những đứa chống Cộng to mồm lại chính là VC thứ thiệt. Thằng từng chụp mũ người khác lại làm ăn với VC.

Anh Vũ Quang Việt, một người có thẩm quyền về thống kê kinh tế, đã làm Vụ trưởng thống kê của Liên Hiệp quốc, đã giúp Việt Nam đầu các năm 1990 và giúp nhiều nước khác từ Trung Quốc, Philippines, Myanmar, nhiều nước châu Phi về lĩnh vực này. Ông rất thẳng thắn và rất ôn hòa, tuy nhà nước không còn mời ông về giúp từ lâu, song ông vẫn tư vấn công không bằng các bài viết có chất lượng như thế này (nên chính phủ càng không muốn mời; nay ông Phúc nói rất mạnh, xem ông Phúc có mời anh Việt không và đấy có thể là một chỉ báo xem ông có thực lòng hay có thực quyền gì không).
Nguyễn Quang A
*
clip_image002[4]
Nhà máy xơ sợi Đình Vũ đã ngừng hoạt động từ giữa năm 2015, bị âm vốn chủ sở hữu 528 tỉ đồng (tại thời điểm cuối năm 2015), chưa kể nợ phải trả gần 7.000 tỉ đồng.

(TBKTSG) - LTS: Bộ Tài chính đang lấy ý kiến đóng góp cho dự thảo Luật Quản lý nợ công. Trên cơ sở đó, TBKTSG xin giới thiệu bài viết của TS. Vũ Quang Việt như một góp ý cho dự thảo này.
Nợ công của Việt Nam là vấn đề tranh cãi từ lâu. Nợ của Chính phủ và của doanh nghiệp nhà nước (DNNN) chủ yếu dựa vào tín dụng ngân hàng và phát hành trái phiếu. Cả hai loại nợ này có lẽ cho đến nay ít dựa vào đánh giá khả năng trả nợ mà dựa vào kế hoạch chỉ tiêu (hay lệnh) của cơ quan chủ quản. Nợ chính phủ đòi hỏi tăng thuế để trả nợ. Nợ doanh nghiệp đòi hỏi doanh nghiệp phải giảm đầu tư vì áp lực trả nợ. Cả hai đều kìm hãm tăng trưởng trong nền kinh tế.
Một minh chứng điển hình là vấn đề nợ của Nhật Bản trong vài chục năm qua đã làm kinh tế Nhật tiếp tục trì trệ. Nếu không thế, phát hành tiền và tăng tín dụng để tài trợ sẽ gây lạm phát.
Sau một thời gian kìm hãm, nợ công ở Việt Nam có vẻ tăng mạnh, nhất là trong năm 2015 (xem Bảng 3, dựa vào số liệu chính thức).
Thông tin trình bày ở dưới bao gồm nợ của Chính phủ (bao gồm cả nợ doanh nghiệp do Chính phủ bảo lãnh) - mà Bộ Tài chính gọi là nợ công và nợ của DNNN. Số liệu tới năm 2015 dựa vào các nguồn chính thức. Số liệu năm 2016 chủ yếu dựa vào ước tính của tác giả.
Khu vực công (public sector) theo định nghĩa của Hệ thống Tài khoản quốc gia của Liên hiệp quốc 2008 bao gồm cả Chính phủ và DNNN nên có thể coi nợ công là tổng của nợ chính phủ và nợ của DNNN. Thông tin này là cần thiết, dù Việt Nam vẫn chỉ chú ý đến nợ chính phủ (được gọi là nợ công), nhưng nếu DNNN nào phá sản thì việc trả nợ là do Chính phủ chịu trách nhiệm, dù Chính phủ tuyên bố không có trách nhiệm và nếu giả thiết cho phá sản, đất và tài sản công sẽ bị tịch biên và thuộc về chủ nợ. Vì thế khi phân tích về nợ công, không thể bỏ qua nợ của DNNN. Dù không đồng ý về định nghĩa, cách tốt nhất là Bộ Tài chính nên công bố cả nợ của DNNN vào Bản tin nợ công để các nhà phân tích tùy nghi sử dụng.
Số liệu tin cậy được cho thấy nợ chính phủ năm 2015 là 115 tỉ đô la Mỹ, bằng 59,5% GDP và ước tính nợ chính phủ năm 2016 lên tới ít nhất 131 tỉ đô la Mỹ, bằng 63,9% GDP. Nợ chính phủ tăng quá nhanh, ở mức gần 35% năm 2015.
Nợ của DNNN ở đây cho thấy toàn cảnh khoảng 3.200 doanh nghiệp với số nợ theo điều tra của TCTK năm 2014 là 4,9 triệu tỉ đồng (231 tỉ đô la Mỹ), gấp nhiều lần con số 1,5 triệu tỉ đồng mà Bộ Tài chính đưa ra chỉ cho một số tập đoàn và công ty lớn. Ước tính thêm cho thấy năm 2016, nợ của DNNN là 324 tỉ đô la Mỹ, bằng 158% GDP.
Như vậy, cộng cả nợ chính phủ và nợ DNNN sau khi trừ đi phần Chính phủ bảo lãnh trùng lặp, tổng số nợ năm 2016 là 431 tỉ đô la Mỹ, bằng 210% GDP.
Với tỷ lệ nợ lớn như trên, khó lòng nền kinh tế phát triển mạnh. Không những thế thời gian qua, do tăng tín dụng, tăng nợ, lạm phát cuối năm 2016 đã lên đến 4,7% và có khả năng tăng cao hơn trong năm 2017 (xem bảng 4). Điều dễ hiểu là tín dụng tăng mạnh. Lạm phát tăng như trên sẽ đẩy lãi suất lên, có thể tới ít nhất 8%/ năm vào năm 2017, trái ngược với tình hình lạm phát và lãi suất giảm cho đến cuối năm 2015 và những tháng đầu năm 2016. Nợ cao, lãi suất cao, khả năng trả nợ sẽ giảm. Kinh tế khó lòng mà phát triển mạnh, nếu không nói là có thể bị rơi vào khủng hoảng.
Vấn đề nợ, đặc biệt là nợ chính phủ ngày càng tăng là do chi ngân sách ngày càng tăng, đưa đến thiếu hụt ngân sách lớn, khoảng 5-6% GDP một năm. Thông tin trong quá khứ cho thấy thường tỷ lệ chi ngân sách vượt nghị quyết của Quốc hội 30-40% (xem bài trên TBKTSG số ra ngày 29-10-2015), mà tới hai năm sau mới biết. Như thế, khả năng kiểm soát chi gần như không có. Cách tốt nhất để kiềm chế trong một vài năm tới là đóng băng chi, và đóng băng tăng biên chế (dài lâu hay tạm thời), chỉ cho phép thay thế người về hưu ở vị trí cần thiết. Nếu làm được thế, thu ngân sách tăng, ít nhất theo tốc độ tăng trưởng kinh tế (6%), thiếu hụt ngân sách sẽ bị xóa bỏ nhanh chóng. Chỉ có thể kiểm soát chi tiêu nếu thống kê ngân sách cụ thể, cập nhật và theo đúng chuẩn quốc tế.
clip_image004[4]
clip_image006[4]

TS. Vũ Quang Việt

PGS. Nguyễn Thiện Tống: Trước mắt cần mở rộng hết công suất sân bay Tân Sơn Nhất

“Như trong nhiều bài viết phân tích phương án nâng cấp sân bay Tân Sơn Nhất, nếu diện tích đất sân golf được trả lại cho ngành hàng không và di dời đơn vị quân đội trong sân bay, Tân Sơn Nhất có thể nâng công suất 80 triệu hành khách/năm”, PGS. Tống cho hay.
(GDVN) - PGS.TS. Nguyễn Thiện Tống cho rằng, cần mở rộng hết công suất sân bay Tân Sơn Nhất trước khi nghĩ đến việc xây dựng sân bay Long Thành.
PGS.TS. Nguyễn Thiện Tống – Chuyên gia hàng không cho rằng, phương án, kế hoạch phát triển, cải tạo Cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất (sân bay Tân Sơn Nhất) được đơn vị tư vấn trình bày trước lãnh đạo Bộ Giao thông vận tải khá hợp lý.
Cụ thể, với dự báo năm 2017, Tân Sơn Nhất có thể đón 35 triệu hành khách và con số này trong các năm 2018, 2020 sẽ là 45 và 49 triệu khách.
Rõ ràng việc cải tạo, nâng cấp sân bay Tân Sơn Nhất là yêu cầu cấp bách.
Nguyên tắc nâng cấp cải tạo thiếu gì bổ sung xây dựng và sửa chữa cái đó. Sân bay Tân Sơn Nhất hiện nay thiếu nhất là bãi đậu tàu bay. Hiện nay, tại sân bay chỉ có 50 chỗ đỗ trong khi nhu cầu là 67.

clip_image001
Cần định hướng nâng cấp sân bay Tân Sơn Nhất hết mức có thể mới nghĩ đến việc đầu tư, xây dựng sân bay thứ hai - ảnh một góc sân bay Tân Sơn Nhất/ nguồn VnEconomy.
Ngoài ra, cần xây dựng thêm các đường lăn nối giữa đường cất hạ cánh và sân đỗ; xây dựng đường lăn thoát nhanh và đường lăn song song giữa 2 đường cất hạ cánh.
Đầu tư xây dựng thêm nhà ga lưỡng dụng T3, nhà ga hành khách T4 cùng có công suất 10 triệu khách/năm.
Theo đơn vị tư vấn với phương án cải tạo nêu trên chi phí đầu tư chỉ mất khoảng 19.700 tỷ đồng và thời gian xây dựng không quá 3 năm, trong khi vẫn bảo đảm được công suất từ 43-45 triệu hành khách/năm.
Tuy nhiên, trên website của Bộ Giao thông Vận tải từng có thông tin về cuộc họp nghe báo cáo về phương án, kế hoạch phát triển, cải tạo Cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất (ngày 6/2), tại đây có ý kiến yêu cầu tư vấn chốt lại nội dung về chuyện mở rộng nâng công suất sân bay Tân Sơn Nhất. 
Lý do là vì từ năm 2023 đến 2025, sân bay Long Thành đi vào khai thác với công suất 25 triệu hành khách/năm nên có thể san sẻ gánh nặng cho Tân Sơn Nhất.
Trước quan điểm trên, PGS.TS Nguyễn Thiện Tống cho rằng: “Nếu Bộ cho rằng không nên nghĩ đến chuyện mở rộng nâng công suất sân bay Tân Sơn Nhất lên quá 40 triệu hành khách/năm thì thật đáng tiếc và lãng phí bởi Tân Sơn Nhất còn nâng cấp được nữa”.
clip_image002
Theo PGS.TS Nguyễn Thiện Tống cho rằng, cần mở rộng hết công suất sân bay Tân Sơn Nhất trước khi nghĩ đến việc xây dựng sân bay Long Thành để vừa khai thác hiệu quả, lại vừa chống lãng phí. - ảnh H.Lực.
Theo PGS. Nguyễn Thiện Tống, để giải quyết quá tải sân bay Tân Sơn Nhất cần nghĩ đến việc nâng cấp cải tạo lại.
“Bộ Giao thông vận tải đáng nhẽ phải tham mưu Chính phủ về định hướng nâng cấp sân bay Tân Sơn Nhất hết mức có thể mới nghĩ đến việc đầu tư, xây dựng sân bay thứ hai.
Trong khi Tân Sơn Nhất còn rất nhiều đất, rất nhiều tiềm năng để nâng cấp và đáp ứng đón lượng hành khách gấp đôi hiện nay thì tại sao lại hạn chế”, ông Tống đặt câu hỏi.
PGS. Nguyễn Thiện Tống cho rằng, có thể Bộ Giao thông vận tải lo nâng cấp sân bay Tân Sơn Nhất khi sân bay Long Thành hoàn thành sẽ ế khách như vậy khác nào tự biến sân bay Long Thành trở thành dự án không hiệu quả.
Gây thiệt hại kinh tế đất nước
PGS.TS. Nguyễn Thiện Tống cho biết, khi dự án xây dựng sân bay quốc tế Long Thành đã được Quốc hội cho chủ trương thông qua vào năm 2015 nhiều ý kiến cho rằng khi sân bay Long Thành hoàn thành sẽ thay thế sân bay Tân Sơn Nhất.
Vì thế việc cải tạo nâng cấp sân bay Tân Sơn Nhất thực hiện chậm, không đáp ứng được tăng trưởng của ngành hàng không.
clip_image003
clip_image004
clip_image005
“Sân bay Long Thành cần thiết không? Khẳng định là cần, nhưng là ở tương lai chứ không phải bây giờ.
Khi ngành hàng không tăng trưởng mạnh, yêu cầu trước mắt phải giảm tải sân bay Tân Sơn Nhất thì cách duy nhất là cải tạo nâng cấp Tân Sơn Nhất”, ông Tống nêu quan điểm.
PGS. Tống phân tích, theo kế hoạch năm 2019 sân bay Long Thành sẽ khởi công  giai đoạn 1.
Dự định năm 2025 sân bay Long Thành sẽ hoàn thành giai đoạn 1, đưa vào khai thác đồng bộ với công suất 25 triệu hành khách/năm và 1,2 triệu tấn hàng hóa/năm.
Điều này có nghĩa phải chờ ít nhất 8 năm nữa sân bay Long Thành mới hoàn thành. Trong khi theo dự báo năm 2018 đến năm 2020 sân bay Tân Sơn Nhất sẽ phải đón từ 45 đến 49 triệu khách/ năm.
“Đặt lại vấn đề nếu sân bay Tân Sơn Nhất không nên tính việc nâng cấp lên quá 40 triệu hành khách/năm như chỉ đạo của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải thì chắc chắn sân bay Tân Sơn Nhất sẽ quá tải hơn hiện nay rất nhiều”, ông Tống nói.
Trên góc độ kinh tế, theo PGS. Nguyễn Thiện Tống, dự án sân bay Long Thành dù cần thiết nhưng chưa phải cấp bách, bởi sân bay Tân Sơn Nhất vẫn có thể cải tạo nâng cấp. Trong khi để xây dựng sân bay Long Thành cần nguồn vốn lớn.
“Như trong nhiều bài viết phân tích phương án nâng cấp sân bay Tân Sơn Nhất, nếu diện tích đất sân golf được trả lại cho ngành hàng không và di dời đơn vị quân đội trong sân bay, Tân Sơn Nhất có thể nâng công suất 80 triệu hành khách/năm”, PGS. Tống cho hay.
Theo ông Tống, dù sân bay Long Thành sử dụng vốn xã hội hóa, vốn đi vay nhưng vay thì phải trả, nhà nước phải trả, người dân phải trả. Trong bối cảnh ngân sách hạn hẹp cần huy động vốn để tổ chức sản xuất, cần vốn đề kinh doanh thì không nên đưa vốn vào xây dựng dự án chưa cần thiết.
Dư luận vừa qua xôn xao chuyện do hụt thu ngân sách nên phải tăng thuế bảo vệ môi trường xăng dầu. Như vậy nguồn ngân sách hạn hẹp thay vì huy động vốn xã hội vào dự án Long Thành, chúng ta nên huy động vốn vào sản xuất, vào khởi nghiệp để xây dựng phát triển doanh nghiệp.
“Giữa việc nâng cấp, cải tạo sân bay Tân Sơn Nhất với xây mới Long Thành thì rõ ràng cải tạo sân bay Tân Sơn Nhất sẽ nhanh hơn, giảm chi phí hơn.
Sân bay Long Thành có chủ trương đầu tư, nhưng khi chưa đủ lực thì không nên vội làm ngay, tránh lãng phí và gây thiệt hại kinh tế đất nước”, ông Tống nêu quan điểm.
Báo cáo Thủ tướng phương án mở rộng sân bay Tân Sơn Nhất trước 25/2
Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng nêu rõ yêu cầu này tại buổi làm việc làm việc với Công ty Thiết kế và tư vấn xây dựng công trình hàng không (ADCC) thuộc Bộ Quốc phòng, ngày 9/2.
Tại các cuộc khảo sát, làm việc trước đó, Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng đã ra “đề bài” quy hoạch, nâng cấp sân bay Tân Sơn Nhất bảo đảm 40-50 triệu hành khách/năm.
Theo ý kiến các bộ, ngành và các chuyên gia hàng không thì đây là “ngưỡng” mà sân bay Tân Sơn Nhất có thể đáp ứng.
Tổng công suất của sân bay Tân Sơn Nhất đến năm 2020 là 25 triệu, nhưng thực tế đang phải phục vụ 32,5 triệu lượt hành khách/năm.
Tại cuộc họp, Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng nêu rõ 4 yêu cầu đối với việc cải tạo, nâng cấp sân bay Tân Sơn Nhất.
Yêu cầu đầu tiên là phải nhanh để có thể để khắc phục ngay tình trạng ùn tắc “từ trên trời xuống dưới đất, từ trong ra ngoài” như hiện nay.
Không thể chọn phương án thi công kéo dài 3-5 năm hoặc lâu hơn. Mọi công đoạn thực hiện đầu tư nâng cấp sân bay Tân Sơn Nhất phải được thực hiện nhanh nhất, ngay trong năm 2017, để năm 2018 có thể đưa vào sử dụng được.
Yêu cầu thứ hai là phải rẻ nhất, nhưng hiệu quả. Vốn đầu tư công hiện đang rất khó khăn, do đó phải hạn chế ở mức thấp nhất nguồn vốn nhà nước, thay vào đó cần có giải pháp để khuyến khích xã hội hoá, huy động vốn của các doanh nghiệp cho đầu tư, từ đó nâng cao hiệu quả, chất lượng đầu tư, giảm thất thoát.
Yêu cầu thứ ba là phải bảo đảm chất lượng công trình, cả về mỹ quan, cảnh quan, môi trường.
Yêu cầu thứ tư là phải bảo đảm an toàn cả trong quá trình đầu tư xây dựng, khai thác, sử dụng công trình; bảo đảm an toàn, an ninh hàng không.
Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng yêu cầu đơn vị tư vấn khẩn trương hoàn thiện các phương án để báo cáo Thủ tướng Chính phủ trước ngày 25/2/2017 và công khai cho mọi người dân được biết.
Tại cuộc họp ngày 20/1/2017, sau khi nghe đơn vị tư vấn đã trình bày 3 phương án mở rộng, nâng cấp sân bay Tân Sơn Nhất, Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng đã yêu cầu bổ sung thêm các phương án quy hoạch theo hướng mở rộng phát triển về phía Bắc (khu vực sân gôn và một số đơn vị quân đội hiện nay).
Tại cuộc họp này, đơn vị tư vấn đã hoàn thiện 3 phương án đã trình trước đó, đồng thời báo cáo thêm 3 phương án 2B, 2C, 2D theo chỉ đạo của Phó Thủ tướng.
Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng yêu cầu đơn vị tư vấn tiếp tục hoàn thiện các phương án đã báo cáo, từ đó có cơ sở so sánh, lựa chọn một cách chính xác nhất.
“Các phương án phải được xây dựng thực sự khoa học, khách quan, có sự so sánh, đối chiếu một cách rõ ràng để có sự cân nhắc, lựa chọn tối ưu nhất dựa trên các tiêu chí nêu trên”, Phó Thủ tướng yêu cầu.MAI ANH

Khai dân trí – nở hoa “cách mạng Xanh”

Tôi nghĩ một lần nữa, chúng ta sẽ phải đồng ý với tác giả Lãng Anh về con đường đấu tranh tốt nhất vẫn là nâng cao dân trí.
Nhà nước nhỏ đi – xã hội lớn dần
Tác giả Lãng Anh trên facebook cá nhân của mình luôn chia sẻ những tâm tư và trăn trở về hiện tình quốc gia. Gần đây, tác giả có bài viết “Minh định về con đường đấu tranh”, trong đó chỉ ra rằng, sự chờ đợi khủng hoảng kinh tế để lật đổ chế độ bằng bạo lực là một sự “ảo tường và ngu đần”, nó xấu xa “không kém độc tài cộng sản”.
Tác giả dẫn chứng rằng, số lượng cuộc cách mạng diễn ra ở các nước tư bản nhiều gấp 2-3 lần các nước độc tài, lý do nằm ở sự tiến bộ về dân trí và nhận thức. Trong khi đó, Việt Nam vẫn thuộc về nền văn hóa “tiểu nông”, với sức trì của bạo lực và đói nghèo. Và chính điều này khiến cho những người cộng sản duy trì quyền lực độc tài hơn nửa thế kỷ, 40 năm vẫn chưa đủ để cho dân tộc này chuyển sang một trang mới là như vậy.
clip_image002
Rồi một ngày, Việt Nam sẽ diễn ra cuộc "cách mạng" tương tự như ở Hong Kong, Đài Loan nếu đáp ứng điều kiện dân trí.

Tôi không muốn nhắc lại thêm về phong trào “Một lá phiếu, một cái tên” mà tác giả Lang Anh đề cập. Tôi muốn nhắc về một xã hội lớn hơn đang được hình thành, xã hội dân sự với sự ý thức và dũng cảm của người dân. Đó là xã hội của sự tự nguyện, của sự tiên phong. Về mặt nghị trường thì có “Phong trào công khai có gì mà ngại” với mục tiêu "Vì một Quốc Hội minh bạch", cho đến cuộc vận động ứng cử ĐBQH năm 2016 với tiêu chí "Không nên bầu cử cho có, cho xong"; gần đây nhất là chương trình khảo sát và lấy ý kiến về dự thảo Luật Quyền lập Hội của các tổ chức/ nhóm/ cá nhân dân sự đã tác động không nhỏ đến sự cải tiến cho một dự luật sát sườn với quyền tự do của người dân. Ở tầng khác, chúng ta có thể thấy nhóm Cánh Buồm của nhà giáo Phạm Toàn đang ngày đêm “cải tạo” tri thức từ việc biên soạn sách giáo khoa nhân bản hơn – khai phóng hơn, để lớp trẻ tương lai có thể chèo lái quốc gia trên cánh buồm đó. Dưới nữa, là hàng trăm ngàn hội nhóm thiện nguyện, ví như chương trình thiện nguyện mang tên Mùa Én của các bạn sinh viên ngành Marketing (trường ĐH Hoa Sen) nhằm chia sẻ với những mảnh đời vất vả trong cuộc sống,… Tất cả tạo nên một xã hội vô cùng sinh động, nơi hỗ trợ và bổ khuyết xã hội một cách tự nguyện, hoàn toàn không bị chi phối bởi lợi nhuận và nhà nước. 
Tôi cho đó là điều đáng mừng, bởi nó biểu hiện rõ nét nhất quan điểm, khi một xã hội tha hoá và chính quyền bất lực thì sự thức tỉnh xã hội sẽ bắt đầu. Nó là quá trình diễn biến mà Chủ nghĩa Mác đã từng đề cập: Nhà nước sẽ nhỏ đi và xã hội sẽ lớn lên.
Vận động xã hội quyến rũ nhà nước
Nhưng quan điểm gốc của sự thức tỉnh là quá trình của “sự vận động” – xã hội càng vận động tinh thần tham chính, đóng góp tự nguyện cho xã hội nhiều bao nhiêu thì sự thức tỉnh càng được lan tỏa bấy nhiêu. Thậm chí, sự vận động đầy thực tế và ý nghĩa của xã hội dân sự cũng quyến rũ cả những quan chức nhà nước, đưa họ vào guồng “sửa lỗi” cho thể chế nhà nước lẫn xã hội. Tất nhiên, nó sẽ không phải là một quy trình sửa lỗi chắp vá, mà ở đây, nó hoàn toàn lâu dài. Vừa qua, Viện Phan Châu Trinh ra đời tại đô thị cổ Hội An, đây là tổ chức văn hóa dựa trên triết lý nhân văn của nhà cải cách Phan Châu Trinh (khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh). Tổ chức này thực hiện tôn chỉ tiếp thu tinh hoa thế giới và phát huy tinh hoa Việt trên tinh thần khai phóng, nhằm hướng đến "con người, xã hội và môi trường". Nhóm Hội đồng viên không chỉ là những nhân sĩ trong lĩnh vực văn hóa, mà có cả nhóm quan chức đã về hưu như TS. Vũ Ngọc Hoàng – người có những bài viết về chống tha hóa và lợi ích nhóm trong đảng gần đây, hay ông Nguyễn Sự – nhà lãnh đạo có tâm lẫn tầm ở TP. Hội An,…
Sở dĩ tôi phải nhắc về Viện Phan Châu Trinh, vì tôi cho rằng, cải tạo văn hóa – là nòng cốt trong cải tạo con người. Nếu tổ chức này không phải là một tổ chức ra đời để PR cho nhà nước hay tạo một cái nền đẹp cho những người đã từng làm trong khối nhà nước, hay là bình vẽ cho nhà nước thực hiện thứ gọi là “dân chủ giả hiệu” [*] thì nó thực sự rất cần thiết trong xã hội này, và càng nhân rộng ra. Cần nhớ rằng, trong Nghị Quyết số 33-NQ/TW của Đảng cầm quyền hiện nay đã dẫn ra rằng, lĩnh vực văn hóa đã "thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh". Càng nhiều Viện về cải tạo văn hóa, con người ra đời, thì sẽ tạo một cuộc chạy đua tổng thể trong cải tạo con người. 
“Cách mạng Xanh”
Trở lại với vấn đề của tác giả Lãng Anh đề cập, tôi tin rằng, sự vận động của xã hội dân sự sẽ đem lại một cuộc cách mạng ở Việt Nam. Nhưng 2 chữ cách mạng ở đây, đúng như nhà thơ Bùi Minh Quốc, Phó Chủ tịch Hội nhà báo độc lập Việt Nam nhấn mạnh rằng, nó “không liên quan gì đến bạo lực, vũ trang lật đổ, mà chỉ nhằm xác định rõ tính chất và mục tiêu đấu tranh tạo nên một chuyển biến chính trị xã hội sâu sắc triệt để từ chế độ độc tài toàn trị hiện hành sang chế độ dân chủ - thiết lập quyền làm chủ thực sự của nhân dân - bằng phương cách ôn hoà, như Cách mạng Xanh”. Điều đó cho thấy rằng, sự vận động của xã hội về mặt văn hóa và nhận thức sẽ thúc đẩy và cho ra đời một “cuộc cách mạng hoà bình, công khai, hợp hiến, hợp pháp” ngay trong lòng chế độ toàn trị.
clip_image004
Cách mạng xanh sẽ đối nghịch với cuộc cách mạng đỏ của những người Cộng sản.
Tôi nghĩ một lần nữa, chúng ta sẽ phải đồng ý với tác giả Lãng Anh về con đường đấu tranh tốt nhất vẫn là nâng cao dân trí. Và ở đó, sẽ không còn chỗ đứng của nền văn hóa tiểu nông và bạo lực cách mạng.
[*] Sở dĩ tôi phải nhấn mạnh vậy, vì trường ĐH Phan Châu Trinh (Hội An – Quảng Nam) cũng có nhóm người trong hội đồng viên Viện Phan Châu Trinh thành lập, với khẩu hiệu “Canh tân giáo dục”. Nhưng sau nhiều năm hoạt động, trường không những không đạt được nhiều về hiệu quả giáo dục khai phóng, mà càng ngày càng ít sức hút đối với học sinh trong khâu tuyển sinh.Mẫn Nhi

No comments:

Post a Comment