Tuesday, February 14, 2017

Bài viết hay(4532)

Hôm nay 14/2 - Valentine Day, chị em ta mừng húm khi thấy đàn ông chúng tôi tặng hoa + quà hay mời đi ăn một bữa tối hết sức lãng mạn và tốn kém. Thiệt tình mà nói lễ hội nào ở Mỹ cũng chỉ có lợi cho con buôn khi họ có dịp tung hàng ra bán nhằm hốt bạc cắc lẫn bạc tỷ. Thứ 2, đàn ông ở Mỹ điếm thúi cực kỳ khi cứ mở miệng ra là khen phụ nữ rối rít khiến chị em ta sướng rên lên mà mù con mắt để rồi chết trong sự ngọt ngào! Thứ 3, sau khi bỏ con tép để bắt con tôm rồi thì nó huề vốn hay có lãi to, chỉ có chị em ta sẽ thấy nhiều thực tế phũ phàng từ những viên đạn bọc chocolate khi làm cái máy đẻ, nuôi con, làm việc nhà như osin... Đàn bà Mỹ hiễu rõ điều này từ khuya; chỉ có phụ nữ VN là còn nhiều người chưa sáng mắt khi cứ khen đàn ông Mỹ ga lăng hơn đàn ông VN; ít ra là Mỹ không có hôi nách hay có mùi mồ hôi khó chịu vì chúng nó tuy lười tắm nhưng sẳn sàng xịt nước hoa y như bọn đĩ đực vậy! Lời chân tình này xin gửi đến chị em ta nhân Valentine Day!

Chính trị và công cụ gieo rắc nỗi sợ hãi

"Đảng Việt Tân", "bạo loạn", "bạo lực" v.v... là những nỗi sợ hãi Đảng CSVN sử dụng để đảm bảo vị thế của mình.
Gieo rắc nỗi sợ là một trong những “kỹ thuật” phổ biến để thu hút ủng hộ đám đông. “Người ta phản ứng với nỗi sợ chứ không phải tình thương” - Richard Nixon từng nói. Nỗi sợ khi được đẩy lên đỉnh điểm có thể làm tê liệt lý trí và mang lại sự tuân phục. Khi sợ hãi, người ta có khuynh hướng xích lại gần nhau. Trong một đám đông sợ hãi, người ta có khuynh hướng tin vào người nào dám thách thức nỗi sợ và có thể mang lại sự bảo vệ trước nỗi sợ. Sự sợ hãi luôn là cảm xúc cực mạnh có thể lấn át mọi cảm xúc khác. Con người luôn có khuynh hướng chú ý dữ dội vào những gì gây sợ hãi. Sự sợ hãi có thể mang đến cảm giác suy sụp tức thời và mong muốn tức thời một sự cứu giúp.
Sử dụng nỗi sợ để cai trị là một trong những cách thức quen thuộc ở các chế độ độc tài. Trung Quốc là bậc thầy về sử dụng “vũ khí” nỗi sợ. “Thế lực thù địch” là cụm từ mà Trung Quốc luôn gieo rắc vào xã hội họ. Để tối ưu hóa “vũ khí” nỗi sợ, người ta sử dụng các công cụ gán ghép, quy chụp và bôi nhọ. Các cuộc biểu tình tại Trung Quốc luôn được cho là có sự kích động từ các “thế lực thù địch phương Tây”. Những người biểu tình được cho là nhận tiền từ các tổ chức nước ngoài. Những luật sư đứng lên vì người dân được cho là “thành phần nguy hiểm” chống đối chế độ.
Trong các hình thức gieo rắc nỗi sợ, thuyết âm mưu luôn là “kỹ thuật” được áp dụng triệt để. Muốn gieo cấy nỗi sợ, phải nhấn mạnh nguyên nhân mang lại nỗi sợ. Người ta kích động sự hoang mang bằng cách cho rằng có những kẻ thù trong bóng tối đang gây hoang mang và bất ổn xã hội. Người Duy Ngô Nhĩ là “kẻ thù” như vậy. Kẻ thù nguy hiểm hơn, thậm chí nguy hiểm nhất, chính là Mỹ! Bộ máy tuyên truyền Trung Quốc chưa bao giờ ngưng quy chụp các vụ “bí mật phá hoại Trung Quốc” của Mỹ. Năm 2013, Đại học quốc phòng thuộc Quân đội Trung Quốc đã tung ra một bộ phim 90 phút miêu tả những nỗ lực của Mỹ trong việc thâm nhập xã hội Trung Quốc, để trà trộn, theo dõi và làm “phân hóa nội bộ”, để “tẩy não chính trị gia chúng ta” nhằm cuối cùng lật đổ đảng cộng sản Trung Quốc. Mỹ, như bộ phim miêu tả, đã dùng những công cụ như chương trình học bổng Fulbright, để đạt được “mục đích đen tối”…
Rất nhiều lần, bằng việc “quỷ sứ hóa” nước Mỹ, Trung Quốc cũng nhấn mạnh đến “thiết chế chính trị bất toàn” của nước Mỹ. Mục đích nhằm chứng minh thể chế chính trị Trung Quốc là “ưu việt”. Mục đích tối thượng hơn là nhằm khẳng định chỉ một nhà nước “ưu việt” như vậy mới có thể bảo vệ người dân. Nhà nước ấy mang lại tất cả cho người dân. Chỉ nhà nước ấy mới có khả năng bảo vệ người dân trước mọi đe dọa. Nhà nước ấy là trên hết. Cho đến thời điểm này, Trung Quốc đã rất thành công trong việc sử dụng vũ khí sợ hãi và vũ khí “thế lực thù địch”. Điều đó không có nghĩa chế độ Trung Quốc “ưu việt”. Điều đó cho thấy vũ khí sợ hãi chỉ là công cụ của những kẻ độc tài không sống trong một hệ thống báo chí tự do và không có một cơ chế “check and balance” bằng tam quyền phân lập.
Mạnh Kim

Đất nước này đâu chỉ của riêng người Công Giáo

Sớm ngày hôm nay 14/02, hàng ngàn người dân thuộc 3 xã Quỳnh Ngọc, Sơn Hải và Quỳnh Thọ, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An đã cùng tuần hành đến tòa án Kỳ Anh, Hà Tĩnh để nộp đơn kiện tập đoàn Formosa xả thải giết chết cả vùng biển miền Trung.
Đại đa số người tham gia khiếu kiện là người Công giáo, đi đầu là Cha JB Nguyễn Đình Thục, Quản xứ Song Ngọc. Cũng như những cuộc biểu tình của ngư dân trước đây, Ban tuyên giáo, dư luận viên, những trang báo lá cải luôn dùng điều này để công kích và xuyên tạc những hành trình đi tìm công lý của người dân miền Trung.
Ngày xưa tôn giáo đã tác động không nhỏ đến việc giành được chính quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam và vì vậy hơn ai hết họ hiểu được sức mạnh của tôn giáo trong lòng xã hội. Điều đó lý giải vì sao khi nắm được quyền hành họ kiểm soát chặt chẽ mọi tôn giáo, đặc biệt là đối với Công giáo, một tôn giáo có cơ cấu tổ chức cộng đồng.
Người Công giáo trở thành công dân hạng 2 trong xã hội Cộng Sản. Giáo lý Công giáo bị biến thiên trong sự tuyên truyền, bị coi là mê tín và luôn bị xem là một Đạo "phản động" bởi tôn chỉ hòa bình và công lý mà nó hướng tới. Nhất là khi mà đất nước rơi vào cảnh bất công khốn khó, thành phần dân chúng đứng lên đa số đều là người Công giáo khiến cho họ càng trở nên "bất hảo" trong mắt những người thiếu hiểu biết cũng như những người bàng quang, vô cảm trước thế sự.
Ngày hôm nay những người dân đau khổ đã tuần hành hàng trăm km kia để đòi hỏi quyền lợi chính đáng cho hàng triệu con người miền Trung, họ lại một lần nữa bị vu khống, xuyên tạc là gây rối là phá hoại, chỉ bởi vì họ là Giáo dân. Hành động hợp pháp của họ bị bóp méo, nỗi đau, sự mất mát của họ bị quên lãng.
Tạo ra cảnh hỗn loạn ngày hôm nay không ai khác chính là nhà cầm quyền nhưng cũng chính họ lại đặt điều cho những người dân miền Trung lam lũ. Đến giờ phút này, sau bao hứa hẹn bằng miệng và những phát ngôn trên trời của những người lãnh đạo, người dân vẫn không nhận được bồi thường thỏa đáng, biển của họ chết, nguồn sống và tài sản mất trắng. Không còn đường sống, người dân Nghệ An muốn đi khiếu kiện trong ôn hòa nhưng lại bị nhà cầm quyền cản trở bằng cách ngăn cản nhà xe chở đoàn đi khiếu kiện. Không từ bỏ, Cha Nguyễn Đình Thục đã bất chấp khổ cực cùng Giáo dân của mình đã quyết định đi bộ từ tỉnh Nghệ An đến tỉnh Hà Tĩnh để nộp đơn khiếu kiện. Thay vì tạo điều kiện để dân hành động theo luật pháp thì cơ quan công quyền lại lạm dụng quyền lực trong tay để đàn áp, đánh đập dân lành trong cuộc tuần hành hết sức ôn hòa.
Điều đáng buồn là rất nhiều người thờ ơ với hiện trạng của đất nước khi nghe Ban tuyên giáo xuyên tạc, tuyên truyền thì vẫn tin rằng những con người đang chịu bất công kia là một đám con Chiên gây rối. Họ hỏi nhau rằng, tại sao lúc nào cũng chỉ có bọn Công giáo lên tiếng, trong khi không tự hỏi mình rằng, họ đã làm những gì khi đất nước rơi vào cảnh khốn cùng, bị tàn phá bởi những thảm họa và cuộc sống của chính họ đang bị đe dọa từng ngày. Đất nước này đâu chỉ của riêng người Công giáo đúng không?
Trịnh Kim Tiến

Viết cho những người không có đạo – như tôi

Tôi không phải người Công giáo. Tôi cũng không phải Phật tử. Tóm lại, tôi không có đức tin tôn giáo nào, và tôi biết điều đó chẳng hay ho gì – con người luôn cần có một cõi nào đó trong tinh thần để hướng họ về cái thiện và ngăn họ làm điều xấu. Không có đức tin thật ra cũng là một sự bất hạnh, nhất là ở hoàn cảnh Việt Nam thời loạn như bây giờ.
Nhưng cũng là vì hoàn cảnh Việt Nam, mà việc thực hành một tôn giáo nào đó trở thành… phức tạp. Chùa nào lớn cũng có chi bộ, có an ninh “hướng dẫn” sinh hoạt. Nhà thờ nào lớn cũng vậy thôi: An ninh chìm nổi lảng vảng tối ngày, camera, thiết bị nghe trộm giăng khắp nơi.
Bên cạnh đó, không thể không kể đến sự hoạt động tích cực của tuyên giáo. Cho đến năm 2003, chính quyền vẫn nhất quán xem tôn giáo như kẻ thù; các sách giáo khoa dạy trong nhà trường đều gọi “tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân”. Từ năm 2003, với Nghị quyết 25-NQ/TW ngày 12/3, đảng Cộng sản mới dịu giọng hơn một chút, bớt hằn thù một chút, chỉ nói “tôn giáo là vấn đề còn tồn tại lâu dài”. Ngay cả câu ấy vẫn hàm ý “tôn giáo là vấn đề đấy nhé, mà đã là vấn đề thì trước sau cũng phải xử lý. Chẳng qua là bọn tao buộc phải chấp nhận chúng mày thôi”.
Chế độ cai trị của cộng sản luôn có đóng góp to lớn của đội ngũ tuyên truyền viên, dư luận viên. Trong hàng chục năm qua, đội ngũ này đã lập thành tích đáng kể trong việc phá hoại về căn bản uy tín của tôn giáo và cách ly, cô lập các cộng đồng tôn giáo với xã hội, nhất là các “đạo của Tây”. Bộ máy tuyên truyền luôn tác động, nhào nặn để dân thường nghĩ về Công giáo, Tin Lành như những tôn giáo vọng ngoại, mất gốc, thời xưa là theo chân thực dân đế quốc bán nước, thời nay là cực đoan, ôm chân Vatican, gây rối…
Cho đến bây giờ, bên lương vẫn nhìn vào bên đạo với ánh mắt e dè, kỳ thị, cảnh giác, hoặc đầy ác cảm.
Cuối năm vừa qua, khi chúng tôi vào Kỳ Anh (Hà Tĩnh) để ghi hình một phóng sự về thảm họa Formosa, phỏng vấn bà con xóm đạo thì không sao nhưng hễ hỏi “nhầm” một người dân ở xóm lương thì ngay lập tức sẽ nhận lại những câu hỏi đầy cảnh giác: “Làm gì đấy?”, “Phóng viên báo nào đấy?”, “Thẻ nhà báo đâu?”.
Chúng tôi hiểu ngay là họ đã được chính quyền địa phương ở đây “giáo dục”, “nắm tư tưởng”, “quán triệt” kỹ lưỡng từ trước rồi. Hẳn là vẫn luận điệu: Hiện nay thế lực thù địch đang lợi dụng sự cố môi trường ở miền Trung để kích động gây rối, lật đổ chế độ, yêu cầu bà con nâng cao cảnh giác, thấy người lạ phải chủ động điều tra và/hoặc báo cáo ngay…
Đảng Cộng sản vẫn luôn như thế. Cho dù họ cũng phải ăn cá như ai, họ cũng phải hít thở không khí và du lịch biển như ai, chưa nói là ngân sách nhà nước (của họ) còn trông chờ vào kinh tế biển, nhưng họ vẫn không tiếc tiền cho công tác chống phá tôn giáo và tuyên truyền, định hướng dư luận, để dư luận phải nghĩ rằng thảm họa biển miền Trung chỉ là một “sự cố môi trường” mà thôi, và những người đi đấu tranh đuổi Formosa thì chỉ là một bộ phận “dân Công giáo” bất mãn, gây rối.
Bôi nhọ tôn giáo, chia rẽ lòng người, phá hoại xã hội dân sự là nghề của đảng rồi.
Tôi cũng đã từng giữ một cái nhìn không mấy thiện cảm với Công giáo và Tin Lành, như hàng triệu người dân khác bị tuyên truyền. Bên cạnh đó, tôi cũng gặp phải một vài người có đạo mà khá bất dung, khiến tôi đã e ngại càng e ngại hơn.
Nhưng muốn bớt sợ ai đó, ta chỉ có một cách là phải hiểu họ hơn. Sự thấu hiểu sẽ mở đường cho cảm thông.
Sau vài năm, tôi cũng không còn cảm giác e dè, sợ sệt khi tiếp xúc với bà con Công giáo, Tin Lành nói riêng và những người có đức tin nói chung nữa.
Và tôi cũng đã được gặp những người mà sau đó, tôi rất yêu mến họ.
Như linh mục Nguyễn Đình Thục.
cha_thuc.jpg
* * *
Cha Thục
Mùa đông năm 2016, khi truyền thông vẫn dồn dập như bão táp với từng sự kiện trôi qua mỗi ngày, và vụ Formosa tưởng như đã chìm xuồng, cha Thục lại một mình lặn lội bên Đài Loan, tìm hiểu về Formosa và vận động giới chức Đài lưu tâm đến thảm họa biển Việt Nam, trong đó Formosa là thủ phạm chính.
Có lần cha gửi cho tôi hình cha chụp một tấm danh thiếp của một quan chức Đài Loan nào đó; cha hỏi tôi chức vụ của ông này là gì, để cha tìm gặp ông ta.
Đó là một nhân vật ở Bộ Ngoại giao Đài Loan. Và cha lúc đó chỉ có một mình ở Đài Bắc, không ai giúp đỡ phiên dịch, mà lại đang cần gấp, nên mới gọi về hỏi tôi.
Tôi thấy muốn khóc: “Trời ơi, xã hội gì mà loạn lạc đến một ông cha xứ cũng phải đi tìm đường cứu dân thế này?”.
Lúc ấy, tự nhiên tôi nhớ đến bác Trần Văn Huỳnh, cha của anh Trần Huỳnh Duy Thức, đi vận động quốc tế cho con trai. Bác mặc áo khoác đen, đi lù rù trong trời tuyết. Tôi không bao giờ quên hình ảnh ông già 77 tuổi loay hoay với chiếc valy, đứng lọt thỏm giữa sân bay rộng mênh mông, sau khi chia tay mọi người ở Mỹ để một mình qua Úc. Trên phi trường nườm nượp người qua lại, trông bác đã nhỏ bé lại càng nhỏ bé thêm, và cô đơn.
Tôi cũng nhớ đến một nhà sư vừa chạy thoát khỏi vụ Bát Nhã. Tôi nhớ cảnh ông ngồi đệm đàn guitar bài "Đưa em tìm động hoa vàng" cho một nhóm thanh niên hát, trong đó có tôi. Một vị hòa thượng đệm đàn cho thanh niên hát tình ca gần suốt đêm, hết sức giản dị và đời thường, dù chính ông chỉ vừa thoát khỏi bàn tay đàn áp của chính quyền cách đó chưa lâu. Với tôi, hình ảnh ấy quá đẹp và thánh thiện, đủ xóa sạch mọi nghi kỵ của tôi về Phật giáo "Làng Mai", "Bát Nhã"...
Tôi cũng không bao giờ quên hình ảnh cha Thục, cha Lai, cha Nam, cha Thanh, và nhiều linh mục khác, trong những cuộc trò chuyện, luôn bồn chồn lo nghĩ về thảm họa môi trường, về cuộc sống, sinh kế và cả tinh thần của hàng trăm nghìn người dân “hậu Formosa”.
Tôi như hình dung ra và sẽ không thể quên hình ảnh cha Thục, cha Hùng lặn lội trên xứ người giữa mùa đông giá rét, tìm đủ mọi cách để cảnh báo giới chức Đài Loan về thảm họa mà Formosa đang gây ra ở Việt Nam.

Ảnh: Bạch Hồng Quyền
Cũng như hôm nay, 14/2/2017, là hình ảnh cha Thục mặc áo chức màu đen, dẫn đầu đoàn người tuần hành từ Nghệ An ra Hà Tĩnh. Vẫn là gương mặt hiền khô ấy, cái nhìn đầy ưu tư ấy. Nếu ở một thể chế khác, một xã hội khác, cha đã có thể chỉ lo việc đạo, chăm lo tinh thần cho con dân xứ mình, chứ đâu phải nặng lòng với những vấn đề môi trường, thực phẩm, sinh kế của dân… như thế này.
Đừng nghĩ rằng các linh mục thích “đội lốt tôn giáo để làm chính trị”, hay là “ăn tiền hải ngoại” để kích động dân làm loạn. Đẻ ra các luận điệu ấy là những kẻ đê tiện, còn nếu tin vào các luận điệu ấy, thì bạn không chỉ đê tiện mà còn ngu xuẩn; bạn không hiểu gì về tôn giáo và rõ ràng là cũng không có ý định tìm hiểu.
Chỉ xin bạn nhớ điều này: Sức mạnh bạo lực của một chính quyền không thể ngăn chặn cái ác, nhưng tôn giáo thì có thể. Chính vì thế, một chính quyền khôn ngoan phải biết khuyến khích tôn giáo hoặc đơn giản là để yên cho tôn giáo chăm sóc đời sống tâm linh và đạo đức của dân chúng.
Ngược lại, một nhà nước đàn áp tôn giáo, chia rẽ nhân dân, thì chắc chắn nó sẽ sụp đổ và đội ngũ lãnh đạo của nó phải trả nghiệp rất thảm khốc.Phạm Đoan Trang
Hòa thượng Thích Viên Lý: "Chính quyền không thể tránh luật nhân-quả"






Đoan Trang -  Thầy Thích Viên Lý, trụ trì chùa Điều Ngự (Westminster, California), khẳng định như vậy khi nói về tình trạng tự do tôn giáo bị chà đạp liên miên ở Việt Nam nhiều năm qua. Ông là đại diện của Tăng đoàn Giáo hội Việt Nam Thống nhất Hải ngoại trong một phái đoàn Phật tử đến trụ sở Liên Hợp Quốc (LHQ) ở New York gần đây để vận động cho nhân quyền Việt Nam.

Hòa thượng Thích Viên Lý thứ ba từ trái sang

Thầy có thể cho biết mục đích chuyến đi vận động của phái đoàn? 

Mục đích của việc vận động là giúp cho những nhân chức của Cao ủy Nhân quyền LHQ hiểu rõ hơn về tình trạng vi phạm nhân quyền ở Việt Nam. Tất nhiên, là một cơ quan đảm trách về bảo vệ nhân quyền, chắc chắn Cao ủy đã tìm hiểu để có thể biết rõ quốc gia nào tôn trọng, quốc gia nào không tuân thủ những gì họ đã cam kết - ví dụ Công ước Quốc tế về Các Quyền Dân sự và Chính trị. Tuy nhiên, về phía người Việt Nam chúng ta, nếu chúng ta là nạn nhân mà lại không trực tiếp trình bày để giới chức LHQ hiểu một cách toàn triệt về những gì đang xảy ra ở Việt Nam thì rõ ràng là ta chưa làm tròn trách nhiệm công dân của mình, lương tâm của chúng ta sẽ vô cùng cắn rứt. 

Quan trọng hơn, đồng bào ta trong nước, nếu bị chà đạp, cũng thấp cổ bé họng không làm sao cho thế giới biết được. Còn cộng đồng người Việt ở đây (California) thì có đầy đủ phương tiện, được tự do ăn nói, tự do đi lại. Cho nên, nếu chúng tôi không làm hết sức để bênh vực cho người trong nước, bảo vệ các quyền mà LHQ đã quy định và chính phủ Việt Nam đã ký cam kết tôn trọng, thì sẽ là vô cùng thiếu sót, không làm tròn bổn phận và trách nhiệm của mình.

Đó là lý do tại sao sau khi có những vụ vi phạm nghiêm trọng quyền tự do tôn giáo xảy ra tại Việt Nam thời gian qua, chúng tôi đã quyết định tiến hành cuộc vận động này. 

“Không bao giờ kỳ vọng quá mức”

Lâu nay có một ý kiến, có lẽ cũng là băn khoăn của nhiều người hoạt động nhân quyền trong nước, là: Chúng ta đi vận động nhiều và lần nào quốc tế cũng quan tâm, nhưng không biết kết quả thực tế được đến đâu?

Mặc dù LHQ là một tổ chức có quyền rất lớn, nhưng họ cũng gặp phải nhiều khó khăn. Đơn cử như chuyện 5 thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an không phải lúc nào cũng đồng thuận. Cho nên chúng tôi luôn hy vọng, nhưng không bao giờ kỳ vọng một cách quá mức để rồi mình lại thất vọng. Đó là điều chúng tôi đã tự rèn cho mình. Dù đi vận động ở bất cứ đâu, cũng đừng bao giờ để tâm thức của mình rơi vào trạng thái thất vọng vì chuyện cơ quan này, tổ chức kia hứa hẹn mà lại không đáp ứng trọn vẹn. 

Qua kinh nghiệm, chúng tôi học được một điều là: Không ai, dù người đó có khả năng thế nào, có thể đáp ứng trọn vẹn nhu cầu của bất kỳ ai. Mình kỳ vọng ai đó đáp ứng tất cả nhu cầu của mình là không thực tế, vì mỗi tổ chức, mỗi cá nhân đều có giới hạn của họ, vả lại họ cũng có những nhu cầu riêng. 

Đức Phật dạy: Cõi ta bà này là cõi bất toại nguyện, bất toại ý. Thành thử, chúng ta không bao giờ nên tìm sự tuyệt đối trong một thế giới tương đối cả. 

Tất nhiên, tôi tin LHQ cũng hết lòng, trong khả năng có thể, để giúp đỡ chúng ta theo các công ước quốc tế, vì đó là bổn phận và trách nhiệm của họ. Nhưng làm được tới đâu, thành tựu thế nào, thì còn phụ thuộc vào mức độ vận động của chúng ta và đối phương. Bởi vì chính quyền Việt Nam có tiền, có nhân sự, có chiến lược và kế hoạch, họ cũng rải người đi khắp nơi vận động chứ không phải chỉ mình chúng ta gõ cửa các trung tâm quyền lực như LHQ.

Nói về kinh nghiệm của việc đi vận động rút ra từ lần này, nếu tự đánh giá hiệu quả thì thầy thấy có gì tốt, có gì cần cải thiện? 

Trước mắt, chúng tôi cảm thấy có một phần nào an lòng, rằng mình đã thể hiện trách nhiệm và bổn phận trước những khổ họa của dân tộc, của đồng bào trong nước. Có lẽ những người dân đang đối diện với bất công, phi lý, bạo lực ở Việt Nam cũng cảm thấy được an ủi, vì bên ngoài có những người đã và đang đồng cảm, tìm cách hỗ trợ họ. 

Bên cạnh đó, ít ra các cơ quan quốc tế đang làm công tác nhân quyền cũng có thêm dữ kiện để đặt vấn đề với các quốc gia đã từng ký kết mà lại vi phạm thường xuyên điều ước quốc tế.

Còn kinh nghiệm rút ra từ chuyến đi mà chúng tôi muốn chia sẻ là: Điều quan trọng không phải chỉ là chúng ta đến tiếp xúc với cơ quan nào, ở thời điểm nào. Vấn đề ở đây còn là trước và sau cuộc tiếp xúc đó, chúng ta làm gì. Chúng ta có chuẩn bị sẵn sàng và đầy đủ trước khi chúng ta tiếp xúc với họ hay không? Và sau cuộc gặp, chúng ta có tiếp tục giữ liên lạc, tiếp tục cung cấp thông tin, tài liệu và nhắc nhở họ thường xuyên không? 

Thế giới hiện nay có rất nhiều vấn đề nóng cần giải quyết, của toàn cầu cũng như của mỗi quốc gia, dân tộc. Vậy thì những tổ chức nhỏ, những cá thể lẻ loi như chúng ta liệu có đủ thu hút sự chú ý của quốc tế trước cả ngàn sự kiện xảy ra mỗi ngày hay không? Làm sao để nhắc nhở thường xuyên, để người ta quan tâm đến những sự việc mình đang quan tâm? Làm sao để người ta có thể xem những gì mình đang xem trọng như là việc của chính bản thân họ? Có nhiều khi ta đến gặp họ, ta trình bày, rồi ta để mọi sự rơi vào khoảng trống của sự quên lãng. Như thế thì vừa mất thì giờ, mất công sức, vừa không đưa dẫn đến những thành quả tốt đẹp như chúng ta mong đợi.

Chùa Liên Trì - cái gai trong mắt chính quyền

Khi trình bày với LHQ về nhân quyền ở Việt Nam, phái đoàn có nhấn mạnh đặc điểm gì của tình hình tự do tôn giáo?

Đã hơn 1 năm kể từ ngày Việt Nam trở thành thành viên Hội đồng Nhân quyền LHQ, tình hình nhân quyền chẳng những không được cải thiện mà còn đen tối hơn. Riêng trong lĩnh vực tự do tôn giáo, có thể kể đến ba trường hợp vi phạm mới nhất: Chùa Liên Trì - cơ sở cuối cùng của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất trước đây tại Sài Gòn - đang bị chính quyền địa phương lên kế hoạch cưỡng chế mà không hỗ trợ di dời tái định cư, cho nên cũng giống như một cách san bằng, xóa sổ. Chùa An Cư (Đà Nẵng) do Đại đức Thích Thiện Phúc trụ trì cũng trong tình trạng tương tự. Và đặc biệt là Đại đức Thích Thiện Tâm ở chùa Phước Bửu (Bà Rịa-Vũng Tàu) bị hành hung thô bạo bởi những công an mặc đồng phục - tôi xin nhấn mạnh là “đồng phục”, chứ không phải là dưới dạng côn đồ hay xã hội đen.

Hiện giờ tình hình cưỡng chế đất đai nhà chùa thế nào?

Chùa Liên Trì của hòa thượng Thích Không Tánh đang ở trong tầm ngắm của chính quyền. Đó là ngôi chùa mà những tổ chức xã hội dân sự gần đây xem như là nơi tụ họp hàng tháng. Đó cũng là nơi mà thương phế binh Việt Nam Cộng hòa, cô nhi, người nghèo đói, bệnh tật thường tìm đến để được giúp đỡ. Tất nhiên, sự giúp đỡ có giới hạn vì chùa chẳng phải là cơ sở kinh doanh giàu có gì. 

Khi chính quyền lên kế hoạch giải tỏa chùa Liên Trì, thật ra đâu phải vì họ cần một mảnh đất để làm khu thương mại. Mà nguyên nhân là vì chùa Liên Trì đã trở thành cái gai trong mắt họ. Đó không chỉ là trung tâm cứu tế mà còn là trung tâm đối kháng, cho nên họ phải tìm cách cưỡng chế. Ngoại trừ một văn bản viết vài điều chung chung, còn lại họ toàn nói miệng để không có bằng chứng nào để ta dựa vào đó mà khiếu kiện.

Hãy đấu tranh vì công lý

Chính quyền Việt Nam thường củng cố một quan điểm thế này: Người tu hành thì cứ lo việc tu thôi chứ lo làm gì việc đời. Nhà nước thu hồi đất thì nhà chùa có nghĩa vụ phải chấp hành, chứ chống đối thì như thế là gây rối, phạm pháp. Thầy nghĩ sao về điều đó?

Quan điểm đó là hoàn toàn sai lầm, nếu không nói là vô minh. Bởi vì, tất cả lãnh đạo các tôn giáo đều hướng dẫn tâm thức của con người về cái thiện, để đạt được cứu cánh tối hậu là sống trong tuệ giác, trong sự hiểu biết. Sức mạnh của đạo Phật là gì? Là từ bi và trí tuệ. Cho nên sứ mệnh của chúng tôi là khai dụng đúng mức sức mạnh nội tại đó để chuyển hóa niềm đau, nỗi khổ của tha nhân. Mình nói hai chữ “từ bi”, nhưng người ta đến cướp đất của dân, mình không có một thái độ nào trước sự bất công, phi pháp đó thì chữ “từ bi” ấy có giá trị và ý nghĩa gì? 

Đất của chùa là đất để thờ phụng. Chúng tôi coi mỗi ngôi chùa như một trung tâm bảo vệ nhân quyền, một trung tâm của từ thiện xã hội, của văn hóa giáo dục. Vậy mà người ta ngang nhiên cướp đi những mảnh đất như thế, thì bổn phận của người trong chùa hoặc của quần chúng có liên hệ trách nhiệm đến ngôi chùa đó, là phải bảo vệ nó. Đất là của nhà chùa, thì nhà nước có trách nhiệm phải bảo vệ theo đúng hiến pháp. Nếu nhà nước đến để chiếm dụng thì là phi pháp. Chính những người đang thực thi công vụ đã giẫm đạp lên hiến pháp mà nhà nước ban hành chứ ai? Người phạm pháp phải bị nghiêm trị, chứ không thể gán hai từ “phạm pháp” cho người bảo vệ tài sản của mình.

Chính quyền nói, sư sãi chống lại chủ trương của nhà nước tức là ủng hộ bạo lực và tạo nghiệp xấu...

Tạo nghiệp là gì? Trước hết phải hiểu nghiệp xuất phát từ đâu. Từ ba nơi, thứ nhất là tâm, tức là ý. Thứ hai là khẩu, tức là lời nói. Thứ ba là hành động. 

Mình không muốn những người cướp đất chùa tạo ra những nghiệp bất thiện, sẽ đọa vào cảnh giới khổ đau. Vì từ bi, thương họ, nên mình phải chặn đứng những hành động tạo ra ác nghiệp. Cái đó mới là tâm từ bi. Còn mình nói từ bi mà thấy người khác phạm pháp, làm việc tội lỗi, chuốc lấy hậu quả khổ đau, mình không ngăn chặn, thì mình đâu phải là người đang hành giáo lý từ bi? 

Tôi lấy ví dụ, thấy một sát thủ cầm súng chuẩn bị sát hại những học sinh vô tội mà mình cứ ngồi “Nam Mô A Di Đà Phật”, chứ không tước lấy khẩu súng đó hoặc không kêu cảnh sát đến cứu các học sinh, thì mình có từ bi hay không? Từ bi nguyên nghĩa là “từ năng dữ lạc, bi năng bạt khổ”. Mình dâng hiến lòng yêu thương đích thực cho tất cả muôn loài chớ không phải là gieo khổ đau, tạo thù oán. Đó là nghĩa của “từ”. Còn “bi”, tức là mình nhổ sạch cội rễ của khổ đau, chứ không phải chỉ trên ngọn. Thấy người khác lâm vào tình cảnh bất công thì mình phải ra tay hành động để cứu thế. 

Dường như người cộng sản không hiểu từ bi là gì, sứ mệnh thiêng liêng cao cả của những tu sĩ Phật giáo như thế nào, tôn giáo có nhiệm vụ ra sao đối với xã hội, đất nước. Hoặc giả họ hiểu đấy, nhưng họ cố ý định hướng sai lạc để dễ bề thao túng quần chúng cho họ muốn làm gì thì làm. 

Chỉ dùng bạo lực, chính quyền không thể trụ được

Nếu có thể dành cho chính quyền một lời khuyên thì thầy khuyên gì chính quyền Việt Nam?

Họ cần ý thức rõ rằng bạo lực không thể chặn đứng cái ác. Nhưng tôn giáo thì có thể. Ở tình trạng lý tưởng, khi con người ý thức rõ được về luật nhân-quả thì không cần có cảnh sát, pháp luật. Tôi lấy thí dụ: Ở Mỹ, dân chúng chạy xe trên xa lộ thường không đi quá tốc độ hay vượt đèn đỏ, vì sợ cảnh sát phạt tiền. Vấn đề là nếu không có vé phạt thì ai nấy có thể tha hồ chạy xe, tạo ra vô số nguy hiểm. Nhưng nếu chúng ta ý thức được hiểm nạn xảy ra đối với bản thân và với người khác thì chúng ta sẽ tự chế. Dù có hay không có cảnh sát nhưng khi đã ý thức được luật nhân-quả, ý thức được nhân là lái xe quá tốc độ, quả là tai nạn, thì chúng ta sẽ đều cố gắng làm sao để bảo vệ chính mình và mọi người. 

Nếu mọi người dân đều hiểu được luật nhân-quả thì họ sẽ không làm điều ác, và như vậy thì xã hội sẽ thái bình, đất nước sẽ ổn định. 

Nếu chính quyền Việt Nam để cho các tôn giáo chăm sóc đời sống tâm linh đạo đức của dân chúng thì xã hội đâu loạn lạc như ngày nay? Nhà nước không tốn gì cho tôn giáo mà lợi ích tôn giáo mang lại cho đất nước rất lớn lao. 

Chúng tôi khuyên họ cố gắng thấy được điều này: Chỉ dùng bạo lực để trấn áp và xem quần chúng như kẻ thù chứ không phải người thân thì họ không thể an ổn được đâu. Nên họ phải tôn trọng nhân dân, lắng nghe ý kiến, tôn trọng truyền thống văn hóa, tâm linh của dân. Họ mà làm được như vậy thì các tôn giáo đâu có lý do gì để chống họ? Đằng này, làm mất lòng dân, đàn áp tôn giáo, để tạo sự bất mãn lớn lao thì chắc chắn chế độ không thể nào đứng vững được. 

Chính quyền phải hiểu rằng họ có thể che đậy nhiều việc nhưng không che đậy được sự thật, họ có thể trốn tránh nhiều thứ nhưng không thể tránh được luật nhân-quả.

Hãy nhìn Tổng thống Saddam Hussein ở Iraq. Đã có thời đến những cái bồn rửa mặt của ông ta cũng dát vàng, ông ta sống trong nhung lụa, quyền lực. Nhưng do tham vọng và tinh thần chấp ngã, ông ta phải trốn chui trốn lủi mà cuối cùng bị treo cổ. Mạng mất, tài sản tích lũy nhiều chục năm cũng tiêu luôn. Đó là tấm gương nhãn tiền cho những người cộng sản không tin luật nhân-quả mà liên tục làm điều ác. Mình thấy mà thương thay cho họ, cho những kẻ vô minh.




Đoan Trang thực hiện

No comments:

Post a Comment