Tuesday, February 14, 2017

CA DAO VỀ TÌNH YÊU LỨA ĐÔI

NHÓM I

I.    Dẫn nhập
Nói về ca dao, thật khó phân biệt đâu là mực thước, hoặc, ca dao được sáng tác theo thể lệ hay luật mẹo nào của thi ca, …thật khó mà xác định được. Cho nên, người ta khó có thể đưa ra một định nghĩa nào cho thỏa đáng về tất cả các yêu cầu của ca dao. Nếu có đi nữa, thì cũng chỉ nhằm hiểu được phần nào về ca dao Việt Nam.
Trong Đại Từ Điển Tiếng Việt, thì: "Ca dao là thể thơ dân gian, được lưu truyền dưới dạng câu hát, có ý nghĩa sâu sắc và là thể loại lục bát, có dạng ca dao"[1].Còn theo Vũ Ngọc Phan thì:"Ca dao là một loại thơ dân gian có thể ngâm được như các loại thơ khác và có thể xây dựng thành các điệu ca dao.[2]
 Qua hai định nghĩa trên, chúng ta thấy, không có sự khác biệt nhiều lắm giữa thơ và ca dao. Nhưng với Ca dao Việt Nam thì ta có thể khẳng định ngày rằng: ca dao là kho tàng văn hoá của người Việt, được xem là viên ngọc lấp lánh, thời gian qua đi, viên ngọc càng thêm toả sáng. Qua ca dao, giá trị truyền thống và tâm hồn người Việt Nam được thể hiện và lưu giữ  một cách rõ nét nhất. Trong các chủ đề được ca dao đề cập đến thì tình yêu đôi lứa là một đề tài rất rộng và có nhiều hình thức diễn bày.
Bằng những tình yêu lành mạnh, tình cảm tự nhiên được miêu tả một cách sinh động trong ca dao Việt Nam. Cũng qua đó đã cho ta thấy sự hà khắc của lễ giáo phong kiến trước đây. Không những thế, một số bài ca dao đã phản ánh tinh thần đấu tranh để bảo vệ tình yêu chân chính của các bạn thanh niên thời bấy giờ.
Để làm rõ nội dung ca dao về tình yêu đôi lứa, chúng ta sẽ lần lượt tìm hiểu thông qua các góc độ cũng như giai đoạn trong tình yêu. Theo Hoàng Tiến Tựu thì ca dao về tình yêu đôi lứa trong ca dao được trình bày qua bốn thể loại nhỏ biểu trưng cho các giai đoạn trong tình yêu: ca dao tỏ tình, ca dao tương tư, ca dao thề nguyền, ca dao hận tình.
II.     Nội dung
Tình yêu đôi lứa - tình yêu nam nữ là chủ đề được thể hiện sâu sắc nhất và cũng rõ nhất trong Ca dao - Tục Ngữ,  vì tình yêu đôi lứa luôn là đề tài muôn thưở của kiếp người. Trong ca dao tục ngữ  Việt Nam, tình yêu được thể hiện thật ý nhị, uyển chuyển, nhưng cũng có lúc thật chân thành mộc mạc; một thứ tình yêu mộc mạc chân quê, pha trộn hương đồng cỏ nội, thênh thang như đồng lúa và uyển chuyển nhẹ nhàng như đòn nước lững lỡ nhè nhẹ êm trôi của những dòng sông. Trong sự phát triển ấy, tình yêu được phát triển theo các giai đoạn sau.
1. Ca dao tỏ tình.
          Đời sống được gắn liền với những hoạt động nông nghiệp thì diều kiện để tình yêu nảy nở và gắn liền với những hình ảnh đồng ruộng, cái cày, con trâu.v.v. Khi những buổi chiều tà, lúc mặt trời đã gác non đoài, với những đoàn trai gái trong làng vác cày rửa hái để trở về mái nhà tranh sau một ngày làm việc. Những làn khói cơm chiều lan tỏa vươn trong giải mây tím hòa lẫn với tiếng hát của trẻ mục đồng đang dắt trâu trở về, đã phác họa cho chúng ta hình ảnh một miền quê êm ả thanh bình.
             Trên trời dưới nước, thấp thoáng sau lũy tre xanh, quanh co bên bờ đê ấp yêu ruộng đồng, rì rào bên sóng lúa chín vàng, mênh mang trong tiếng sáo diều vi vu... tất cả những hình ảnh đẹp đó đã gợi nên những vần thơ trao hỏi ý tình giữa trai gái trong làng. Có nhiều cách tỏ tình; có thể là xa xôi, vòng vo, đưa đẩy.v.v. nhưng tất cả đều thể hiện được tính chất lãng mạng, yêu đời.
             Hãy nghe chàng trai mở đầu, hỏi người thôn nữ bằng một câu hỏi ỡm ờ, gợi ý xa xôi:
 Hôm qua tát nước đầu đình
 Để quên chiếc áo trên cành hoa sen
 Em được thì cho anh xin
 Hay là em để làm tin trong nhà.
              Người con trai thật sự chưa chắc đã để quên cái áo, nhưng chàng cố ý gài người thôn nữ vào thế phải trả lời khi tỏ ý ngờ rằng nàng đã giữ cái áo của mình để làm tin. Cũng có khi chỉ là một câu hỏi bâng quơ nhưng diễn đạt bằng những câu thơ thật trữ tình của một đêm trăng sáng, chàng trai có nhiều hi vọng để được cô gái trả lời:
                                       Hỡi cô tát nước đầu làng
                                       Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi
Hoặc có lúc chàng trai mạnh dạn hơn:
                                       Cô kia cắt cỏ một mình
                                       Cho tôi cắt với chung tình làm đôi
                                       Cô còn cắt nữa hay thôi
                                        Cho tôi cắt với làm đôi vợ chồng.
Không phải lúc nào các chàng trai tỏ tình  một cách mạnh bạo như vậy, có những lúc các chàng trai ấy tỏ tình, dọ hỏi một cách nhẹ nhàng hơn và có vẻ thơ mộng hơn:
                                               Hỏi xa anh lại hỏi gần
                                               Hỏi em phỏng độ đương xuân thế nào
                                               Thấy em là gái má đào
                                               Lòng anh chỉ muốn ra vào kết duyên
               Trong khi các chàng trai thường mạnh bạo và chủ động hơn trong việc tỏ tình làm quen thì các cô gái không phải lúc nào cũng e lệ yên lặng, mà đôi khi cũng rất bạo dạn để ngỏ lời trước:
                                              Hỡi anh đi đường cái quan
                                              Dừng chân đứng lại em than vài lời.
Sự bạo dạn cũng xuất hiện nơi các cô gái ấy những đầy hồn nhiên:
                                              Vào vườn hái quả cau xanh
                                               Bổ ra làm sáu mời anh xơi trầu
Cử chỉ mời trầu đó không có tính cách lơi lả, mà chỉ chứng tỏ rằng người thôn nữ muốn sống thành thật với chính mình. Hai chữ “cau xanh” chỉ mối tình son trẻ, hai chữ “xơi trầu” có ý nghĩa trân trọng. Và bốn chữ ghép lại thành hai chữ “trầu cau” chỉ sự mong ước cho một mối duyên Tấn Tần. Người con trai chắc chắn không thể nào không nhận miếng trầu mời bởi người con gái trong cái cung cách lịch sự ấy.
             Những lời tỏ tình của các cô gái đôi khi cũng mang nhiều nỗi niềm, bởi không biết lời tỏ tình ấy của mình không biết có được đáp trả lại hay không, hoặc sợ tình yêu của mình đến chậm chăng; nên đôi lúc các cô cũng quanh co rào trước đón sau:
Anh đà có vợ con chưa
Mà anh ăn nói ngọt ngào có duyên
Mẹ già anh ở nơi nao
Để em tìm vào hầu hạ thay anh.
             Những câu tỏ tình như đã kể trên thường chỉ là những câu mà trong lúc vắng vẻ, hai người đã hỏi ý cùng nhau. Tất cả đều là những câu mộc mạc chân   tình, nhưng không kém vẻ lãng mạn trữ tình.
              Trong những dịp hội hè có hát đối giữa hai nhóm trai gái của hai làng kế cận, những câu tỏ tình được gợi ra thật nhẹ nhàng bóng bẩy, như có chất thơ.
Bên con trai hỏi:
                                         Bây giờ mận mới hỏi đào
                                         Vườn hồng đã có ai vào hay chưa

Bên con gái đáp:
 Mận hỏi thì đào xin thưa
 Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào
Hay lãng mạn hơn:
                                         Thân em như tấm lụa đào
                                          Phất phơ trước gió biết vào tay ai
              Thật là những câu đối đáp hết sức thi vị, mượn ngoại cảnh để nói lên nỗi lòng. Bảo rằng văn chương bình dân, nhưng nhiều khi còn trữ tình và thơ mộng đâu kém văn chương bác học. Chẳng hạn như nói tới lứa tuổi đôi mươi của người thôn nữ, phong cảnh đồng nội hữu tình đã được lồng trong ước mộng vàng son của lứa đôi:
 Ngọc còn ẩn bóng cây tùng
Thuyền quyên còn đợi anh hùng sánh vai.
               Người con gái cũng như bông hoa còn đang giấu nhụy để chờ ngày khoe sắc với chàng bướm lang quân.
2. Ca dao tương tư -  yêu đương.
           Sau giai đoạn tỏ tình là đến giai đoạn tương tư – yêu; và, đây là quãng thời gian hết sức thơ mộng nhất cũng như đầy thử thách nhất. Nào yêu thương, nào nhớ nhung, nào giận hờn, nào xa cách, nào đợi chờ...
Hãy nghe chàng và nàng thủ thỉ bên nhau những lời âu yếm:
                                            Thương anh, em để ở đâu
                                            Để trong cuốn sách để đầu trang thơ
                                            Thương em, anh để ở đâu
                                             Để trong tay áo lâu lâu lại dòm.
Khi phải tạm xa nhau, chàng trai luyến tiếc những giây phút cận kề:
                                           Còn đêm nay nữa mai đi
                                            Lạng vàng không tiếc, tiếc khi ngồi kề.
Trời đã sáng, những gặp gỡ hàn huyên đêm qua giờ chỉ còn là kỷ niệm mong manh để làm hành trang cho cuộc đăng trình. Còn nàng thôn nữ thì cũng nức nở trong ngấn lệ đầy vơi:
                                        Có đêm thơ thẩn một mình
                                        Ở đây thức cả năm canh rõ ràng
                                         Có đêm tạc đá ghi vàng
                                        Ngày nào em chả nhớ chàng, chàng ơi.
                 Đi đâu, làm gì, nàng đều cảm thấy nỗi nhớ đeo đẳng và vương dấu tích khắp nơi khiến xao lãng cả công việc thường ngày:
                                          Chiều chiều mang giỏ hái dâu
                                           Hái dâu chả hái, nhớ câu ân tình
        Những nhớ nhung đó đã đong đầy thêm tình yêu, để khi gặp lại thì hai người vội vã ước hẹn cho những mộng ước mai sau:
Nàng thì:
                                           Ước gì chung mẹ chung thầy
                                         Để em giữ cái quạt này làm thân
Và tình tứ hơn nữa:
Chải đầu chung cái lược ngà
Soi gương chung cả cành hoa giắt đầu

Còn chàng thì cũng dùng cái quạt để xẻ chia hương nồng:
Quạt này anh để che đầu
Đêm đêm đi ngủ chung nhau quạt này
Hay vẽ ra những âu yếm trang trọng mà chàng sẽ dành cho nàng:
Ước gì ta lấy được nàng
Để ta mua gạch Bát Tràng về xây
Xây dọc rồi lại xây ngang
Xây hồ bán nguyệt cho nàng rửa chân
Thật là cao sang, cầu kỳ và thơ mộng. Rồi thì cuối cùng cả hai cùng cầu nguyện cho một ngày vui mau pháo đỏ nhuộm đường:

Nấu chè van vái Nguyệt hà
Khiến cho sum hiệp một nhà phụng loan.

          3. Ca dao thề nguyền
Tình yêu vốn có nhiều cung bậc, có buồn vui, ngọt bùi, đắng cay…và cũng có sự bất hạnh nữa. Nếu tâm hồn con người có bao nhiêu “nốt nhạc thăng trầm” thì tình yêu cũng thế! Và như vậy, bên cạnh những lời tỏ tình, trao duyên không thể thiếu, thì những lời thề nguyền gắn bó keo sơn lại càng không thể thiếu được. Nó được xem như là chất keo dính, là một sự khẳng định cho tình yêu đôi lứa. Lời thề nguyền ấy nhằm thể hiện ý chí, nghị lực của hai bên nhằm làm động lực vượt qua chông gai thử thách để mong ước được đến với nhau. Nói khác hơn, lời thề nguyền ấy có tính chất lằm tăng sức mạnh cho hai người trong việc hướng về lý tưởng cả hai cùng đang thêu dệt.
Sau những lần “e ấp làm quen”; sau những lời tỏ tình vừa dễ thương, hóm hỉnh, hài hước, thôn minh, tài tình, táo bạo và cũng không kém phần tha thiết như thì cả hai cùng hướng về một tương lai thật đẹp. Để củng cố niềm tinh và tăng thêm sức mạnh, cả hai cùng muốn thể hiện tấm chân tình của mình; và những lời thề đã được thốt ra.
Chàng trai nói một cách mạnh mẽ:
Yêu nhau mấy núi cũng leo
Mấy sông cũng lội mấy đèo cũng qua
Yêu nhau chẳng ngại đường xa
Một ngày không đến thì 3-4 ngày”
Tình yêu là tâm sự muôn đời và tâm lý chung của những người đang yêu, là niềm khao khát gìn giữ cho tình yêu bất tử. Ca dao xưa cũng mang trong mình tinh thần nhân bản ấy, khi có rất nhiều câu, bài thể hiện ước nguyện gắn kết  của tình yêu chung thuỷ trọn đời. Và cái đích cuối cùng mà những lời thề nguyền hướng tới: ấy là khát khao một tình yêu chung thuỷ, gắn bó keo sơn, một sự gắn kết bền vững giữa những trái tim yêu thương. Nên câu ca dao sau mang đậm ý nghĩa ấy:
 Nước non non nước khơi chừng,
 Ái ân đôi chữ xin đừng xa nhau
Hay:                
Thương nhau tạc một chữ tình
Trăm năm thề quyết bạn mình có nhau
Hoặc:
Cũng liều cắn ớt nhai gừng
Chua cay mặn ngọt, ta đừng quên nhau.

Có quan niệm cho rằng, khi yêu người con gái thường hay nhạy cảm, tình yêu của họ mãnh liệt đến vô cùng. Cho nên nhu cầu gắn kết hoặc mong muốn một tình yêu bất diệt luôn thường trực trong họ:
Trót lời đã bén duyên chàng
Dù cho nát đá phai vàng mới thôi
Hòn đá cách Hàn xếp đổ lò nôi
Cạn lòng con sông cái
Thì tôi mới quên nghĩa chàng”
Hay:
Một lời thề không duyên thì nợ
Hai lời thề không vợ thì chồng
Ba lời thề khơi núi lấp sông
Em quyết theo anh đi cho trọn đạo  
 Kẻo luống công anh chờ.
Có khi thề nguyền một cách quyết liệt dứt khoát như một sự kiên định về tình yêu chung thuỷ suốt đời không đổi thay.
Chừng nào núi Bụt hết cây
Lại Giang hết nước, dạ này hết thương.
Cây núi Bụt, nước sông Giang thì không thể nào hết và không thể xác định hay cân, đo, đong, đếm được. Và như thế, đem tình cảm của chính mình ra mà thề nguyền là một minh chứng rõ nhất, đáng quý nhất của tình yêu đôi lứa.Thứ tình cảm ấy là tình cảm gắn cốt ghi tâm, khắc sâu vào trong da thịt của người con gái. Dù cho vật đổi sao dời, dù cho thế giới xoay chuyển, vận thế đổi thay nó cũng không hề xê dịch.
Vì thế:
Trăm năm lòng gắn dạ ghi
Dù ai đem bạc đổi chì cũng không
Trăm năm quyết chí một chồng
Dầu ai thêu phụng vẽ rồng mặc ai
Dầu cho đá nát vàng phai
Trăm năm duyên nợ chẳng phai chút nào
Trăm năm không bỏ người chồng
Vải thưa nhuộm lấy màu đen
Vải thưa mặc vải màu xinh khen màu
Trăm năm tạc một chữ đồng
Dầu ai thêu phụng vẽ rồng cũng không
Trăm năm trăm tuổi một chồng
Dầu ai thêu phụng vẽ rồng mặc ai…
Người con gái thề nguyền trong tình yêu là vậy. Còn chàng trai thì sao? Chàng trai cũng mạnh mẽ không kém, dù biết rằng trong tình yêu không có khái niệm: ai yêu ai nhiều hơn. Chính vì vậy, để đáp lại ân tình của người con gái, chàng trai thường đưa ra những lời thề thốt, hứa hẹn một tương lai cho mối tình của họ.
Chừng nào cho sóng bỏ gành
Cù lao bỏ biển, anh đành bỏ em
Bao giờ cạn lạch Đồng Nai
Nát chùa Thiên Mụ mới phai lời nguyền
Biển đông sóng gợn cát đùa
Sánh đôi không đặng lên chùa anh tu
Hay:
Chừng nào hòn chữ bể tư
Cửa Nha Trang cạn nước, anh mới từ nghĩa em
Và cũng như người con gái, chàng trai đem cả tính mạng của mình ra để thề nguyền.
Cùng nguyền một tấm lòng son
Anh dẫu có phụ keo sơn có hồi
Sống dương gian hai đứa hai nơi
Thác xuống âm phủ cũng lời thề xưa
        Lời thề nguyền của chàng trai không chỉ là minh chứng cho tình yêu chung thuỷ của chàng trai đối với  người con gái ở kiếp này, mà sức mạnh của tình yêu nó làm cho lời thề nguyền ấy có sức lan toả đến cả kiếp sau và mãi mãi. Chính vì vậy mà ta có thể bắt gặp những câu ca dao thể hiện sự thề nguyền chung của hai người; lời thề đó không thể tách biệt rõ ràng ai thề với ai, bởi lúc này cả hai người con trai và người  con gái như hoà làm một, ở họ chỉ còn chỗ cho một tiếng nói chung. Đó là tiếng nói của tình yêu.
Thương nhau cắt tóc mà thề
Khó nghèo cũng chịu chớ hề bỏ nhau
Thương nhau tạc một chữ tình
Trăm năm thề quyết, bạn mình có nhau.
         Đó là lời nhắn nhủ của đôi lứa yêu nhau.
Nước non non nước khơi chừng
Ái ân đôi chữ xin đừng xa nhau
Trăm năm lòng gắn dạ ghi
Dầu ai đem bạc đổi chì mặc ai
Trăm năm ai chớ bỏ ai
Chỉ thêu nên gấm, sắt mài nên kim

          Có khi trong lời thề nguyền ấy, vừa là một sự nhắc nhở, vừa có phần khuyên răn, song hết sức ý nhị, tinh tế mà chàng trai và cô gái thầm gửi đến nhau. Nó như một bức thông điệp nhỏ về tình yêu đôi lứa vậy:
Giếng khơi gầu múc lưng chừng
Nếu mà vụng liệu xin đừng trách đây
Cầm đàn mà bỏ quên dây
Bỏ công ao ước, bỏ ngày ước ao
Sông sâu em sẽ cắm sào
Miếu thiêng em sẽ tìm vào cắm nhang
Vì dù không lấy được này
Mang thân đi xuống suối vàng cho xong
Yêu nhau cho trọn chữ tròn
Kẻo mai thẹn với nước non ở đời
Thà rằng thác xuống giếng khơi
Còn hơn sống ở trên đời xa nhau…

Ta nhận thấy trong ca dao tình yêu yếu tố vĩnh cửu của tình yêu là nhu cầu của mọi kẻ yêu đương. Dưới cặp mắt của họ, những con số tưởng như khô cằn, cứng nhắc bỗng trở nên mềm mại xiết bao, và một điều tưởng như không thể nó cũng đã đi vào trong những lời thề nguyền.
Một thuyền, một bến, một dây
Ngọt bùi ta hưởng, đắng cay chịu cùng
          Bài ca dao nghe như một khúc tâm tình. Phải chăng đó là lời thủ thỉ ân tình của đôi lứa đang yêu, lời thề nguyện về một tình yêu thuỷ chung, bền chặt
4. Ca dao hận tình
Khi bao nhiêu mộng ước không thành, đôi lứa không đến được với nha thì một trong hai trách móc, hận thù nhau;hoặc đã đến được với nhau nhưng không tìm thấy được hạnh phúc trong đời sống hôn nhân như những mộng ước thật đẹp mà hai người trước kia hằng mơ ước. Hận trách đó, có khi trách móc Ông trời, trách móc ông Tơ bà Nguyệt, ông mai bà mối và luôn có một một thức nhất định: trách người…trách ai… tiếc công..v.v.
Một tình yêu đẹp với bao viễn cảnh nên thơ cả hai người đang hướng đến tại sao đến đây trở nên hờn trách, hận thù với nhau như vậy? Nếu là một tình yêu đi đến kết thúc hôn nhân; cả hai cùng cố gắng xây dựng một cuộc sống gia đình ấm no hạnh phúc. Hãy nhìn những hình ảnh thật đẹp của một đôi vợ chồng luôn có nhau trong cuộc sống:
                          Trên đồng cạn dưới đồng sâu
                       Chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa.
Hình ảnh đó đã phản ảnh lời cùng nhau hứa hẹn khi đang chuẩn bị cho cuộc hôn nhân
                            Làm sao nên nghĩa phu thê
                            Đó chồng đây vợ ra về có đôi.
hoặc sự hòa thuận xẻ chia gánh nặng đường đời:
                                Thuận vợ thuận chồng
                                 Tát bể đông cũng cạn.
         Nhưng để đi đến hạnh phúc ấy, cả hai vợ chồng đều phải nương cậy và nhường nhịn lẫn nhau:
                                Tay bưng dĩa muối chấm gừng
                          Gừng cay muối mặn xin đừng bỏ nhau.
Nhất là người vợ, với ảnh hưởng của nền luân lý đạo Nho, đạo Khổng:
                              Chồng ta áo rách ta thương
                       Chồng người áo gấm xông hương mặc người.
           Chiều chồng và lo lắng món ăn thức uống cho chồng cũng là đức tính của người phụ nữ Đông phương. Họ cảm thấy đó là niềm vui, là bổn phận tự nguyện và xa hơn nữa, là hạnh phúc:
                                     Đốt than nướng cá cho vàng
                             Đem tiền mua rượu cho chàng uống chơi.

Hoặc                              Dẫu cho đá nát vàng phai
                            Trăm năm duyên nợ chẳng phai chút nào.

Nếu một tình yêu mà do sự ngăn cấm của cha mẹ hay bị chèn ép nặng nề bởi những lễ giáo phong kiến; cụ thể là con cái không có được quyền quyết định trong việc hôn nhân mà tùy vào quyết định của các bậc làm cha làm mẹ thì mộng ước vỡ dẫn đến trách hận nhau:
                                  Mẹ em ham thúng xôi dền
                      Tham con lợn béo tham tiền Cảnh Hưng
                                Bây giờ kẻ thấp người cao
                          Như đôi đũa lệch so sao cho bằng.
Sự phụ bạc là một đặc tính luôn tồn tại trong tình yêu, nó có thể là chủ quan hoặc khách quan. Nhưng bằng cách nào đi chăng nữa thì nỗi đau để lại một trong hai người thì vô cùng lớn. Sự tiếc nuối cho những gì cả hai cùng vun đắp, nhưng bây giờ đã thành mây khói, hoặc có người khác xuất hiện, hưởng trọn thành quả đó.
Tiếc công anh đắp đập be bờ
Để ai quậy đó mang lờ đến đơm
Hoặc
Tiếc công đan giỏ bỏ cà
Giỏ thưa cà lọt công đà uổng công
Cầm vàng mà lội qua sông
Vàng rơi không tiếc tiếc công cầm vàng
Hay, sau khi đã thành vợ thành chồng thì người chồng bỗng sinh thói ‘trăng hoa’, bỏ bê vợ con trong nỗi cô đơn mong chờ:
                                  Gió đưa bụi chuối sau hè
                                Anh mê vợ bé bỏ bè con thơ.
Cũng đôi khi do tại người chồng bỗng nhiên va phải những thói hư tật xấu như cờ bạc hay rượu chè khiến hạnh phúc gia đình chỉ còn là hình ảnh đã phôi pha:
Chồng em nó chẳng ra gì
Tổ tôm xốc đĩa nó thì chơi hoang.
Và, những lời thở than, hận trách về những cuộc hôn nhân không đẹp mà hiện tại chỉ là một gánh nặng. Lời than trách ấy không phải của một riêng ai, mà là cả hai cùng than trách khi không tìm thấy hạnh phúc trong cuộc sống hôn nhân:
                                         Gái có chồng như gông đeo cổ
                                          Trai có vợ như nhợ buộc chân
Hay:
Chồng gì anh, vợ gì tôi
Chẳng qua lá cái nợ đời chi đây
III. Kết luận.
               Tình yêu và hôn nhân cũng như tất cả các hiện tượng trong cuộc đời đều có tính hai mặt. Tuy nhiên, cái không đẹp đó không phải là tất cả, mà chỉ là một phần nhỏ. Cuộc sống của chúng ta là sự nỗ lực, cố gắng khắc phục vượt qua nó. Chính việc nỗ lực ấy càng làm cho cuộc sống chúng ta có ý nghĩa và tốt đẹp hơn.
Qua ca dao, tình yêu được thể hiện một cách lãng mạn và trữ tình, những lời tở tình thật dễ thương và ý vị nhưng không kém phần mạnh mẽ.
Thấy em đẹp nói đẹp cười
Đẹp người đẹp nết ra vào đoan trang
Vậy nên anh gửi thư sang
Dù sao anh quyết lấy nàng mà thôi.
             Khi đã thành vợ thành chồng thì các đức tính nhường nhịn, hòa thuận và thủy chung được đề cao và thường xuyên nhắc nhở nhau trong cuộc sống; nhằm hướng đến một cuộc sống ấm no hạnh phúc.
Em ơi chua ngọt đã từng
Non xanh nước bạc ta đừng quên nhau
hay:
Trăm năm lòng gắn dạ ghi
Dẫu ai đem bạc đổi chì cũng không.
Tuy không phải mối tình nào cũng kết thúc có hậu, nhưng không phải vì thế mà con người mất niềm tin vào cuộc sống. Chính tình yêu và bao mộng ước thật đẹp nơi tương lai là động lực, là nguồn sống để con người vượt qua và hướng đến cái đẹp ấy. Và, con đường đi nếu toàn là thảm đỏ thì người đi sẽ không ý thức được bước chân của mình như thế nào; con đường đi ấy phải có  nhiều chông gai để từ đó phát huy được sự nỗ lực, tinh thần cầu tiến của mỗi con người. Cho nên, dù có trắc trở, hờn trách nhau thế nào thì tình yêu vẫn là một tiếng nói khát vọng hạnh phúc của con người từ xưa cho đến ngàn sau, mà điều ấy đã được ông cha ta thể hiện một cách rõ nhất qua những câu ca dao thật đẹp chan chứa tình người.
SÁCH THAM KHẢO


1.     Tục ngữ ca dao Việt Nam, Nxb Văn Hóa Thông Tin, 1999.
2.     Bộ Giáo Dục và Đào Tạo, Đại Từ Điển Tiếng Việt, Nxb Văn Hóa Thông Tin, 1999.
3.     Dương Quảng Hàm, Việt Nam Văn Học Sử Yếu, Hà Nội, 1951.
4.     Vũ Ngọc Phan, Tục Ngữ Ca Dao Dân Ca Việt Nam, Nxb Văn Học, 2000.
5.     Nguyễn Xuân Kính và Phan Đăng Nhật, Kho Tàng Ca Dao Người Việt, tập 4, Hà Nội, 1995.


[1]
Bộ Giáo Dục và Đào Tạo, Đại Từ Điển Tiếng Việt, NXB Văn Hóa Thông Tin, 1999, tr. 219.
[2] Vũ Ngọc Phan, Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam, NXB Văn Học, 2000, tr. 36.

duyen-no-va-tinh-yeu-cua-trai-gai-nong-thon-qua-ca-dao 
Phần nhiều những bài ca dao của ta đều là những bài thơ trữ tình, những bài "tình ca", mà tác giả hầu hết là trai, gái nông thôn Việt Nam thời xưa. 
Thơ trữ tình là tiếng nói của lòng người khi tâm tình bị xúc động, bất bình, đau khổ. Người đau khổ thường thấy cần phải bộc lộ nỗi lòng u uất của mình ra. Đó là một nhu cầu khẩn thiết như bất cứ mọi nhu cầu nào khác! 
Kinh Thi xưa có câu: "Tâm chi ưu hĩ, ngã ca thả dao", nghĩa là "lòng có sự buồn, ta vừa ca vừa hát". Hàn Dũ đời Đường cũng xác nhận: "Vật bất đắc kỳ bình tắc minh", nghĩa là "vật không được vừa lòng thì ắt phải kêu lên". Tiếng kêu lên đó là văn thơ. 
Ngày nay, các nhà văn học Tây phương cho rằng: 
"Con người đau khổ. Hát lên cái khổ đau của mình, con người sẽ vượt qua cái đau khổ ấy". (1) 
Rồi chính ca dao ta cũng nói rõ ràng: 
Chim xanh ăn trái xoài xanh,
Ăn no tắm mát đậu cành cây đa.
Cực tấm lòng em phải nói ra,
Chờ trăng trăng xế, chờ hoa hoa tàn.
 
Qua các câu ca dao trữ tình ấy, dân gian đã đúc kết các thành tố chính yếu của những rung cảm, suy tư về "tình yêu" giữa trai gái nông thôn, vào mấy danh từ "Duyên, Nợ, Tình". Trong ngôn ngữ hằng ngày, khi người ta bàn đến vấn đề Yêu Thương, mấy từ nầy đã được lặp đi lặp lại biết bao nhiêu lần.
Một duyên, hai nợ, ba tình,
Chiêm bao lẩn quất bên mình năm canh.
... Răng đen ai khéo nhuộm cho mình,
Để duyên mình đẹp, cho tình anh yêu.
Trăm con ống sợi chỉ điều,
Trăm con chỉ ấy buộc vào tay anh.
Một duyên, hai nợ, ba tình...
 
Dân gian thời trước cho rằng yêu nhau, lấy nhau, được hay không là do "duyên số". Theo tích Vi-Cố xưa, một đêm trăng đi dạo, gặp một ông lão ngồi xe các sợi tơ đỏ với nhau. Hỏi, thì đáp là đang xe những cặp trai gái ở thế gian nầy lại cho thành vợ chồng. Vi Cố tỏ ý muốn biết vợ của y sẽ là ai? Ông lão chỉ một đứa bé, con mụ ăn mày ở xó chợ gần đó. Vi Cố xấu hổ, tức giận, cho người giết đứa bé, rồi sợ tội, bỏ trốn. Mãi về sau Vi Cố cưới được con gái nhà quan, không dè đó lại là con gái mụ ăn mày trước kia bị Vi Cố giết hụt, mẹ đem bỏ ngoài chợ, một ông quan đi ngang qua gặp được, thương hại đem về nuôi. Cho nên, gặp nhau, trai gái nông thôn thường tự hỏi: 
Vừa đi là gặp em đây,
Một là duyên kỳ ngộ, hai là trời xoay đất vần.
…Sông sâu nước hiểm làm vầy,
Ai xui em đến chốn nầy gặp anh?
 
Nhưng dân gian ta lại thêm từ "nợ" vào, cho rằng vì kiếp trước có nợ nần nhau, nên kiếp nầy phải gặp lại thành vợ chồng, để đền trả cho xong. 
Đôi ta là nợ hay tình,
Là duyên là kiếp, đôi mình kết giao
Em như hoa mận hoa đào
Cái gì là nghĩa tương giao hỡi chàng?
 
Hoặc ... 
Chồng gì anh, vợ gì tôi,
Chẳng qua là cái nợ đời chi đây !
Mỗi người một nợ cầm tay,
Ngày xưa nợ vợ, ngày nay nợ chồng. 

Vậy "duyên nợ" là một từ kép bao gồm hai mặt tích cực và tiêu cực của thuyết "nhân quả" áp dụng vào phạm vi hôn nhân và tình yêu đôi lứa. Nói một cách khác, dân gian ngày xưa cho rằng hôn nhân thành hay không, là tùy theo trai gái có "phải duyên" hay "trái duyên" với nhau không? 
Phải duyên, áo rách cũng màng,
Không phải duyên, áo nhiễu, nút vàng chẳng ham
Chẳng tham nhà ngói bức bàn (gỗ),
Trái duyên, coi cũng bằng gian chuồng gà
Ba gian nhà lá lòa xòa,
Phải duyên, coi tựa chín tòa nhà lim.
... Đẹp như tiên, không phải duyên không tiếc,
Xấu như ma mò, duyên hiệp anh thương

Như vậy, dân gian đã công nhận rằng hễ "phải duyên" hay có "duyên nợ" với nhau thì xấu đẹp gì trai gái cũng đi đến chỗ thương yêu nhau. 
Và dân gian cũng khẳng định "đảo lại" rằng: Hễ xấu đẹp gì mà cũng thương nhau, tức là đã "phải duyên", trai, gái quả đã có "duyên nợ" với nhau rồi. 
Khẳng định đảo lại nầy đã dẫn trai gái nông thôn đến một quyết định táo bạo hơn: 
Số em giàu, lấy khó cũng giàu,
Số em nghèo, chín đụn mười trâu cũng nghèo.
Phải duyên, phải kiếp thì theo,
Thân em có quản khó nghèo làm chi.
Chữ nhân duyên thiên tải nhất thì
Giàu ăn, khó chịu, lo gì mà lo.
 
"Phải duyên, phải kiếp thì theo" cụ thể có nghĩa là: nếu trai gái quả đã cảm thấy "thương yêu nhau", tức là "phải duyên", nghĩa là đã có " duyên nợ" với nhau, thì cứ theo nhau, lấy nhau, thành vợ thành chồng, bất chấp sang hèn, giàu khó, hay bất chấp cả sự cản trở của cha mẹ, họ hàng. Phải chăng đó là một quyết định táo bạo đối với xã hội ta ngày xưa ! Mà ngày nay, trái lại có thể coi như là một quan niệm về tình yêu và hôn nhân có tính cách tự do và hiện đại ! 
Ở thời phong kiến, những tục "cha mẹ đặt đâu ngồi đó" và "nam nữ thụ thụ bất thân" vốn là của Nho giáo phụ quyền, từ Trung quốc du nhập vào nước ta, và thịnh hành trong các từng lớp quan lại, phú thương, trưởng giả. Nhưng ở nông thôn, Nho giáo chỉ được phổ biến một cách hời hợt thông qua các hàn Nho sống rải rác trong xóm làng, và một khi lắng sâu vào quần chúng, thì cũng đã dần dần bị Việt hoá đi. 
Riêng đối với thanh niên nông thôn, tình yêu lại còn là lẽ sống của một cuộc đời cần lao lam lũ. Ngoài tình yêu ra, còn có gì để có thể an ủi họ được nữa đâu. Cho nên, bao nhiêu Lễ giáo của đạo Nho khi xuống đến nông thôn, cũng phải nhân nhượng trước tình yêu đôi lứa của họ: 
Mình về, ta chẳng cho về,
Ta nắm vạt áo ta đề câu thơ
Câu thơ ba chữ rành rành:
Chữ Trung, chữ Hiếu, chữ Tình là ba.
Chữ Trung thì để phần cha,
Chữ Hiếu phần mẹ, đôi ta chữ Tình. 

Hơn nữa, xã hội nông thôn trước đây vẫn còn chịu ít nhiều ảnh hưởng di sản của mẫu hệ, nên trong việc cưới hỏi, cha mẹ không mấy khi ép buộc con cái: 
Ép dầu ép mỡ, ai nỡ ép duyên
... Xưa kia ai cấm duyên bà,
Bây giờ bà già, bà cấm duyên tôi !
 
Rồi thỉnh thoảng nếu có trường hợp bị cha mẹ ép duyên, thì trai gái nông thôn sinh ra liều lĩnh: 
Tiếc răng, tiếc rứa, tiếc ri,
Liều mình bỏ xứ mà đi cho rồi
Liều mình, giả như đứa đứt tao nôi, (a)
Giả như cha với mẹ không sinh ra đôi đứa mình. 

Chú giải - (a) Đứt tao nôi (tao: sợi giây, nôi: đồ đan bằng tre để trẻ nhỏ nằm) Câu nầy ý nói: Coi như chúng mình khi còn bé đã bị đứt tao nôi,mà chết non đi. 
Nhưng tục "không được cưỡng duyên" vốn đã phổ biến từ xưa trong dân gian. Trong bộ Luật Hồng Đức, đời Lê Thánh Tông, cũng có trường hợp cấm ép duyên như thế: "Con gái hứa gả chồng mà chưa thành hôn, nếu người con trai bị ác tật, phạm hình án, hoặc phá tán gia sản, thì cho phép con gái được kêu quan mà trả đồ lễ... Trái luật (nghĩa là con trai ấy cứ ép con gái phải lấy mình) thì bị xử phạt 80 trượng (b)." (2) 
Chú giải: (b) Trượng: ngày xưa cây gậy bằng gỗ được gọi là trượng. 
Về sau, nếu tình yêu bị gián đoạn, đổ vỡ, hôn nhân không thành, người xưa cho là tại "duyên số" dở dang, và tự an ủi rằng: 
Khi nào gánh nặng anh chờ,
Qua cầu anh đợi, bây giờ em quên.
Kiếp nầy đã lỡ làng duyên,
Kiếp sau xin hẹn cửu tuyền gặp nhau.
 
Như đã nói trên, ở các tầng lớp quan lại, phú thương chịu ảnh hưởng Nho giáo, phong kiến, thì nhất luật "nam nữ thụ thụ bất thân". Trái lại ở nông thôn, trai gái, vì nhu cầu sinh hoạt nông tác nên thường có nhiều dịp gặp nhau: trong một vụ cấy mạ, một tối giả gạo, một chuyến đò ngang, một buổi hát giao duyên, hát trống quân, hát phường vải, một ngày chợ phiên, một lễ hội trong làng... và được tự do chuyện trò, hò hát trêu ghẹo, đưa tình với nhau 
Ăn chơi cho hết tháng hai
Để làng gióng đám cho trai dọn đình.
Trong thời đánh trống rập rình,
Ngoài thời trai gái tự tình với nhau. 

Ngày xưa, các buổi gặp gỡ hò hát nầy thường đưa trai gái nông thôn đến việc "nên vợ nên chồng" một cách nghiêm túc: 
Con cò lấp ló bụi tre,
Sao cò lại muốn lăm le vợ người ?
Vào đây ta hát đôi lời
Để cho cò hiểu sự đời ở ăn.
... Một đàn cò trắng kia ơi!
Có nghe ta hát những lời nầy không?
Hát câu đẹp cốm tươi hồng,
Hát câu nên vợ nên chồng, cò ơi ! 

Chính các thân hào đã đứng ra tổ chức những đám "hát phường vải", "hát trống quân", "hát quan họ", "hát giã gạo", hát giao duyên"... để trai gái hát hò, gặp gỡ, kết "bạn văn nghệ" với nhau, dưới sự kiểm soát kín đáo của các bậc đàn anh: 
Ai có chồng, nói chồng đừng sợ,
Ai có vợ, nói vợ đừng ghen.
Tới đây hò hát cho quen,
Rạng ngày, ai về nhà nấy, há dễ ngọn đèn hai tim.
 (c) 
Chú giải - (c) Đèn hai tim = Đèn nhà quê ngày xưa đổ dầu phụng vào dĩa, dùng một sợi vải làm tim đốt. "Đèn hai tim" chỉ trai có 2 vợ. 
Cũng ở thôn quê ta ngày xưa, thường con gái lại đứng lên tỏ tình và tìm đến gặp con trai trước. Một tâm tình say đắm, "lãng mạn" phi Nho giáo! Không cần biết sẽ có nên vợ, nên chồng hay không, nhưng gặp nhau, thương nhau thì cứ "xơi năm ba miếng trầu" với nhau đã... "kẻo lòng nhớ thương". 
Sớm mai gánh nước mờ mờ,
Đi qua ngõ giữa tình cờ gặp anh.
Vào vườn hái quả cau xanh,
Bổ ra làm tám mời anh xơi trầu.
Trầu nầy ăn thật là say,
Dù mặn dù lạt, dù cay dù nồng.
Dù chẳng nên vợ nên chồng,
Xơi năm ba miếng kẻo lòng nhớ thương.
Cầm lược thì nhớ tới gương,
Cầm trầu nhớ túi, nằm giường nhớ nhau. 

Ở đây, trai gái nông thôn chỉ cần hưởng thụ trong hiện tại, không cần biết đến "duyên nợ" sẽ đưa đến đâu ? Một hành động, mà ngày nay có thể coi như là "lãng mạn" hay "hiện sinh"! 
Và tính cách "lãng mạn" ấy còn gặp lại trong cái nhìn đắm đuối, rụt rè của những mối tình vô vọng: 
Ngó em chẳng dám ngó lâu 
Ngó qua một chút đỡ sầu mà thôi! 
"Lãng mạn" còn ở trong cử chỉ nâng niu, săn sóc đứa con nhỏ của cô gái vừa mới lừa dối mình, mà oái ăm thay, đó lại là cô gái mà ta đã lỡ yêu: 
Mình nói dối ta mình chửa có con,
Ta đi qua ngõ thấy con mình bò.
Con mình những trấu cùng tro,
Ta đi xách nước rửa cho con mình. 

Về sau, khi chế độ xã hội đã chuyển sang phụ hệ, với ảnh hưởng của Nho giáo, thì các cuộc hẹn hò riêng tư "thân mật, mùi mẫn" giữa trai và gái như thế tất nhiên phải kín đáo, lén lút hơn xưa: 
Đêm nằm thao thức vào ra,
Chờ cha mẹ ngủ, lén qua thăm mình.
Tôi than hết sức, tôi dứt hết tình,
Thiếu điều cắn ruột trao mình, mình ơi!"
... Gió đưa cành mận, gió lận cành đào,
Vì em anh phải ra vào tối tăm.
Tối tăm thì mặc tối tăm,
Chờ cho cha mẹ đi nằm sẽ hay.
Cầm tay, anh nắm cổ tay,
Em đừng hô hoán sự nầy mà to.
 
Đã yêu nhau rồi, tức là đã "phải duyên", đã có "duyên nợ" với nhau rồi, thì "phải theo"... lén lút theo ! 
Qua các câu ca dao trữ tình, chúng ta nhận thấy có một sự tranh đấu dằng dai qua bao nhiêu thế kỷ giữa hai nền văn hóa địa phương và ngoại lai: 
Giữa chế độ mẫu hệ Lạc Việt và chế độ phụ hệ Nho giáo Trung quốc, giữa lòng tin vào số mệnh trong tín ngưỡng nguyên thủy Việt-Nam với thuyết nhân duyên trong Phật giáo, giữa bản tính đa tình, lãng mạn của dân quê ta với các lễ tục khắc nghiệt của chế độ phong kiến... 
Công cuộc tranh dấu gay go, đầy đau thương, nước mắt, nhằm giải phóng con người ra khỏi mọi áp bức, để đem lại tự do yêu thương, tự do kết hôn... Có thể có những khuynh hướng lãng mạn, hưởng thụ, hiện sinh, nhưng vẫn không "lăm le vợ người" và không nhận "ngọn đèn hai tim", không hề xa rời "đạo đức tự nhiên" của ông cha! 
Một cuộc tranh đấu không bài ngoại tuyệt đối, mà có tính cách hòa nhập trong thế quân bình. Đó chính là sức mạnh sinh tồn ngàn năm của dân ta ! 
Tác giả: Võ Thu Tịnh

No comments:

Post a Comment