Thursday, February 16, 2017

Chiếc bàn đã mất

Dễ chừng quá nửa đêm, điện thoại nhà tôi đổ chuông. Tôi giật mình - điện vào giờ này thường là tin dữ - vội nhấc cái máy cầm tay đặt ở đầu giường. Tiếng người con gái sụt sùi:
- Vợ chồng em ly hôn rồi!
Có lẽ người này gọi nhầm chăng? Tôi hỏi lại:
- Cô là ai, liên quan gì đến tôi mà thông báo vậy?
Tiếng người con gái giận dỗi:
- Vì anh mà vợ chồng người ta chia tay… Lại còn vờ vịt…
Nhận ra tiếng Phương từ Hà Nội gọi vào, tôi chống đỡ yếu ớt:
- Vợ chồng bạn không muốn sống chung với nhau nữa thì chia tay, tôi làm sao phải gánh chịu hậu quả ấy được?
- Anh đừng chối nữa, tội của anh lớn lắm. Có lẽ anh chưa quên câu nói của anh ở quán ốc hấp thuốc bắc bên hồ Tây?
Tôi ấp úng tìm lời lẽ thanh minh nhưng đầu kia đã cúp máy thật nhanh, dội đến tôi một tiếng khô khốc như chấm dứt lời phán quyết đanh thép.
Tôi ân hận thật sự, đâu dè một câu nói vô tình của mình để rồi khi gia đình ấy tan vỡ họ lại vận vào. Hai người là bạn của tôi từ thuở gạo bài trên giảng đường đại học. Cũng như tôi, Mau từng là lính chiến trường nhiều năm. Anh học nông nghiệp, rất say mê nghiên cứu các giống lúa mới. Dân nước mình chỉ cần có đủ ngày ba bữa cơm là mọi việc ổn cả, anh bảo vậy. Mà đúng thế, anh sinh ra ở vùng quê gió Lào nung nấu đến đất đai tưởng hóa sành; những trái núi, quả đồi cằn trơ như những chum vại khổng lồ úp ngược; và những nổng cát trắng lóa mắt hắt hơi nóng khiến thân chuối trong làng khô xác, dân phải lấy khoai làm lương thực chính. Bên cái bàn ăn ở ký túc xá, Mau thường kể bố anh làm nghề chống đò ngang, đến mùa mưa lũ mới có khách, còn mùa nắng nước cạn người ta lội qua được đành neo đò, cho nên anh thường mong mưa, mưa thật lớn, có lũ càng hay, để có cơm ăn. Những câu chuyện ôn nghèo, kể khổ ấy của Mau khiến một cô sinh viên cùng lớp người Hà Nội động lòng: đó là Phương. Phương có vóc người mềm mại, mắt sắc nhưng vẫn toát ra vẻ đôn hậu. Trong những bữa liên hoan có bia, có rượu - tất nhiên ngày ấy chỉ là bia hơi, rượu đế - khi xỉn vì hơi mem là Mau đập vỡ ly chén. Uống dứt là ném thật mạnh xuống nền gạch, tiếng thủy tinh, tiếng sành sứ vang lên làm hắn bừng tỉnh. Rồi Mau hối hận, lắm khi khóc như đứa trẻ. Dần dà, bạn bè mới hiểu đó là do tác hại của chiến tranh, Mau đã từng sống nhiều năm dưới bom đạn, chắc ảnh hưởng đến tâm lý hay do bị ám ảnh điều gì đó. Cũng là phỏng đoán thế thôi, chỉ biết rằng cứ sau mỗi bận liên hoan, lớp phải góp tiền để bồi thường ly chén cho bà bán quán. Nhưng có người thương Mau, muốn cùng chia sẻ nỗi đau đó với anh là Phương. Những chiều cuối tuần, hai người thường đến chỗ tôi ở, chúng tôi cùng đi chợ, nấu nướng. Phương làm bếp khéo, Mau và tôi phụ nhặt, rửa rau, nhưng rồi Phương phải làm lại. Tôi chưa thấy ai chế biến các món ăn cẩn thận như cô gái Hà Nội này. Nhận bằng tốt nghiệp, họ tổ chức cưới. Bố Phương hồi môn cho con gái căn hộ gồm một phòng khách lớn, một phòng ngủ và một phòng ăn. Ngoài ra còn có một cái bàn ăn bằng gỗ lim, đường kính rộng hơn một mét, dày đến ba bốn tấc, mặt liền, lên nước bóng loáng. “Cái bàn này sẽ gắn chặt vợ chồng, con cái chúng bay với nhau. Dù xã hội có thay đổi, chúng bay cũng phải giữ cái bàn ăn này”, ông già nói.
Cú điện thoại quá nửa đêm ấy khiến tôi băn khoăn cả tuần. Không chừng mình đã mất một lúc hai người bạn. Kiếm được bạn đã khó, để mất một lúc hai người bạn, đau quá.
Gia đình ấy còn là chỗ dựa tinh thần của tôi. Sống ở phương Nam, nhưng lúc buồn tôi lại gọi điện thoại ra, lắm lúc cũng chẳng có gì quan trọng, chỉ để nghe họ nói vài câu. Lần nào tôi ra Hà Nội, họ cũng kéo bằng được về nhà ăn một bữa cơm gia đình. Tính đến Phương, dòng họ Phạm ấy đã có mười hai đời dựng nghiệp ở đất Tràng An. Phương chế biến được nhiều món, tôi đặc biệt khoái món bún chả. Những miếng chả do cô nướng chín đều, thậm dậy. Chén nước mắm cũng rất tuyệt. Tôi thích nhìn cô bên dàn bếp có ngọn lửa bện lấy đáy nồi, vẻ mặt thanh tú của cô ửng lên thật đẹp. Bữa cơm gia đình thật ấm cúng, chúng tôi nhắc lại thời sinh viên lúc nào cũng thèm ăn, trêu chọc nhau, người như trẻ lại.
Bẵng đi hai năm, tôi mới được ra Hà Nội. Hai vợ chồng mời tôi đến nhà dùng cơm vào chiều thứ bảy. Tôi đồng ý cấp kỳ và tưởng tượng đã có một bữa cơm thật đầm ấm quanh cái bàn tròn gỗ lim lên nước bóng loáng. Tôi đến sớm để cùng được vợ chồng họ đi chợ. Cũng như nhiều gia đình ở Hà Nội, căn nhà này đã thay đổi nhiều, với nhiều đồ đạc, tiện nghi sang trọng. Mau đã mập và có bụng, mặc đồ bộ sọc xanh, tay không rời máy điện thoại, như một ông chủ xí nghiệp hoặc là giám đốc, chứ đâu phải là tay môi giới xây dựng. Phương mặc áo ngắn, váy hoa, tay ôm con mèo tam thể, cũng là cách học đòi quí phái, và mùi phấn sáp, nước hoa ngào ngạt.
Ngồi trò chuyện với tôi, hai người cứ nói về giá đôla, giá các tiện nghi, cuối chiều vẫn không thấy chợ búa gì cả. Đến khi đồng hồ chỉ vào con số năm giờ, chồng mới đứng lên: “Mời cậu đi nhà hàng với vợ chồng tôi”. “Sao không nấu ăn ở nhà cho ấm cúng?”. “Nhà này bây giờ còn bếp nữa đâu, ăn ở hàng quán”. Người vợ nói thêm: “Sáng trên đường tới cơ quan, ai thích gì vào quán ấy; trưa, dùng cơm hộp ở cơ quan; chiều, anh Mau thường nhậu nhẹt với bạn bè đến khuya mới về, nếu không hai vợ chồng ăn hàng, cơm bụi hoặc gà tần, bún thang, tùy thích”. Tôi tò mò: “Còn cái bàn gỗ lim ấy?”. Anh chồng cười: “Khen cho trí nhớ của cậu còn nhớ cái bàn cổ lỗ ấy, tôi thải nó đi từ năm ngoái rồi, căn nhà bếp và phòng ăn được tân trang lại để làm phòng vi tính”. Anh chồng đẩy cánh cửa vào phòng bếp dạo nào. Tôi sững sờ, một căn phòng sơn nước màu kem, gắn máy điều hòa nhiệt độ, hai dàn máy vi tính hiện đại đặt song song nhau. “Giá mỗi dàn hơn hai ngàn đô đó cậu”, bằng giọng hào hứng anh nói với tôi như thế. Họ gọi taxi cùng tôi lên quán ốc Bố Già bên hồ Tây. Bữa ốc hấp thuốc bắc ngon vì lạ miệng. Cuối bữa, tôi nói ra cái điều đáng ra không nên nói, trong đời đâu phải các dự báo về sự thật đều được chấp nhận. Tôi nhớ lúc ấy cả hai vợ chồng nhìn nhau âu yếm cười diễu tôi. Anh chồng rút tiền thanh toán, miệng càu nhàu: “Đến kiếp sau chúng tôi vẫn cứ là vợ chồng. Cứ đợi đấy”. Đâu dè, lời nói của tôi đã thành sự thật để rước họa vào thân.
Tôi đâm ra sợ những cú điện thoại nửa đêm về sáng. Thôi thì, trước lúc đi ngủ rút phích ra khỏi máy là hơn, ai có việc gì mai liên hệ. Nhưng từ khi có cú điện thoại của Phương, tôi thấy khó ngủ. Tôi lấy sách ra đọc và bỗng nghĩ lẩn thẩn, giá như có đứa bạn nào không ngủ muốn gọi điện cho mình thì sao? Ờ, giá bây giờ có thằng bạn nào kêu điện đến tán dóc thì đỡ quá. Tôi đành cắm phích vào.
Lướt được dăm trang sách, mắt tôi trĩu xuống và trong lúc mơ mơ màng màng chuông điện thoại đột ngột reo. Tôi choàng dậy nhấc máy. Đằng kia tiếng Mau:
- Vì cậu mà vợ chồng tôi ly hôn?
- Thì… thì tôi cảnh báo vậy thôi… À, mà hiện nay cô Phương vẫn ở đấy chớ?
- Cô ấy về nhà bố mẹ đẻ rồi. Chúng tôi đang chờ tòa án chia tài sản. Trước mắt căn nhà này phải ngăn đôi. Sau này cô ấy đền bù để tôi mua căn hộ khác.
Tôi cảm thấy nhói ở ngực. Tiếng Mau trầm xuống, ngắt quãng:
- Cậu biết đấy, đời sống vợ chồng tôi đâu phải nghèo, giàu có là đằng khác, vậy mà sao lúc nào cũng bức bối và dẫn tới tan vỡ.
Mau nói rất thật. So với những cặp vợ chồng cùng trang lứa ở Hà Nội, vợ chồng anh thuộc loại khá giả. Mau tháo vát, khi thấy công việc nghiên cứu cây lúa không kiếm được nhiều tiền và vất vả vì phải đến với đồng ruộng, tiếp xúc với nông dân; anh quay sang nghề môi giới xây dựng, nghĩa là chạy đi xin thầu những công trình lớn rồi sang lại cho người khác để hưởng phần trăm. Nhờ tài ăn nói, anh kiếm được khá nhiều công trình, nào là xây dựng trụ sở làm việc, rải nhựa cho các đường… Có nhiều tiền, Mau muốn xóa đi cái gốc gác nông dân của mình. Và anh nhập cuộc sống trưởng giả. Tháng tư năm ngoái, tôi gọi điện ra, Mau trả lời và nói: “Cậu gọi chậm một chút nữa là không có ai ở nhà”. “Thế vợ chồng ông chuẩn bị đi đâu đấy?”. “Cậu không biết hôm nay là ngày gì sao?”, “Ngày 14 tháng hai”. “Cũng có nghĩa là ngày Valentin, ngày tình yêu. Bây giờ mình đi đón vợ mình ở tiệm uốn tóc về rồi đi mua hoa hồng về tặng”.
Sự thật tôi mừng cho họ. Đất nước đã thanh bình, phát triển, mọi người có quyền sống theo nhu cầu, ý thích của mình. Còn Phương tỏ ra hãnh diện, có lần qua điện thoại cô cho tôi hay, “anh Mau của em bây giờ đã đổi khác rồi, mỗi khi say xỉn anh ấy không đập vỡ ly chén nữa”. Tôi thật sự mừng cho họ, ngờ đâu giờ đây…
Ra Hà Nội là tôi tìm đến nhà họ. Phía ngoài cửa đã có hai nút chuông, một để Phương, một để Mau. Tôi bấm gọi Mau nhưng không có người, đành gọi Phương.
Phương mở cửa, người cô gầy, da xanh, mắt u buồn. Tôi hỏi để xua đi im lặng:
- Bây giờ tôi là khách của ai đây?
Phương nhìn tôi rồi quay mặt:
- Tội của anh lớn lắm.
Tôi vào nhà, căn phòng rộng đã được ngăn đôi bằng ván ép mỏng, buồn và lạnh tanh như nhà trọ. Trước đây, căn nhà đầy ắp tiếng cưới nói, rồi những ánh mắt âu yếm nhìn nhau, đùa bỡn, nịnh nhau, nào ngờ giờ đây vắng đến thế. Mà phải thôi, một gia đình vừa tan vỡ làm sao vui được.
- Anh chàng hôm nay đi đâu nhỉ?
- Không biết. Tôi không còn quản lý ông ấy.
- Phải có mâu thuẫn thế nào mới dẫn đến cơ sự này chớ?
- Anh xem, ngày nào anh ấy cũng đi từ sáng đến khuya mới về, người nồng hơi rượu và còn đánh em.
- Đánh cô?
- Vâng, em khuyên anh ấy đừng nhậu say là anh ấy đánh. Rồi anh ấy cặp bồ cùng với một cô đã bỏ chồng làm việc cơ quan. Nhiều buổi chiều thứ bảy anh ta đến nhà cô ấy ở khu tập thể Thành Công để hai người nấu nướng bù khú với nhau. Con bạn thân của em ở cùng dãy nhà ấy nên phát hiện.
- Và rồi cô cũng bồ bịch để trả thù chứ gì?
- Không. Em đâu phải là người thế.
- Là hỏi vậy thôi. Cô biết không, khi ở nhà không còn bếp lửa và bàn ăn nữa thì sớm muộn gì người đàn ông cũng phải đi tìm ở nơi khác.
Phương cúi xuống và bật khóc.
Sau mấy ngày ở Thái Bình về, tôi được cơ quan cho hay có người đàn ông tên Mau tới tìm mấy lần. Tôi liền tới nhà họ ngay.
Hà Nội đang tiết mưa bụi. Lạnh đến run người. Lúc này người ta chỉ mong có một mái nhà mà chui vào. Chỉ có Phương ở nhà. Ở góc phòng của cô đã có bếp dầu, bếp điện và giàn để bát đũa.
Tôi ngồi trò chuyện với Phương được một lúc thì có tiếng chân người lên cầu thang. Tôi nhận ra là Mau. Bước đi của anh vội vã và cộc cằn, đã quen thuộc với tôi từ hồi sinh viên mỗi khi anh lên cầu thang để vào phòng tôi. Bước chân cũng thể hiện được tính nết người.
Tôi bước ra:
- Mời ông qua bên này uống nước luôn.
Mau chỉ lừ đôi mắt đỏ vằn nhìn tôi rồi đi một mạch vào phòng mình. Anh đang bị hơi men luộc nhừ. Một lát, có tiếng cốc ly ném xuống sàn nhà. Mảnh thủy tinh bắn sang cả bên này. Lại một tiếng đồ sứ nữa vỡ.
Phương nói nhỏ:
- Mỗi lần anh ta say xỉn về nhà lại đập vỡ vài cái ly chén. Sống với em đã mất thói quen ấy, nay lại tái phát.
Tôi biết Mau đang sống trong bi kịch của người cô đơn.
Tiếng Mau lè nhè:
- Này, các người đừng nói xấu tôi nhé!
Dứt lời, anh ta đổ vật xuống và nôn thốc. Tôi chạy qua đỡ Mau lên giường và dọn dẹp.
Một lát sau tôi qua bảo Phương nấu cho Mau một bát cháo. Phương ngần ngừ một lúc rồi nói:
- Thôi thì vì anh mà em nấu, đây là lần cuối cùng đấy nhé.
- Lại nói gở!
Tôi quát nhưng mừng lắm. Vậy là họ vẫn còn thương nhau, vẫn còn có thể hàn gắn được.
Một lúc sau, Phương bưng bát cháo sang. Tôi đón lấy và đỡ Mau dậy. Mau đã tỉnh nhưng người vẫn lả đi vì mệt.
Tôi dìu Mau ra cái bàn nhỏ. Phương vẫn đứng ở góc phòng. Đâu ngờ tôi lại dại dột gợi chuyện:
- Này, thú thật tôi chẳng còn nhớ hôm ở quán ốc bên hồ Tây mình đã nói câu gì?
Phương nhìn tôi, cắn môi rồi ngó ra cửa sổ. Mau lừ mắt chằm chằm vào tôi:
- Cậu tính chối à? Cậu đã rủa rằng: “Khi cái bàn ăn không còn thì tình nghĩa vợ chồng cũng thay đổi. Cứ kéo tình trạng cơm hàng, phở quán thì vợ chồng nhà này trước sau cũng ly hôn”.
NGUYỄN QUỐC TRUNG

No comments:

Post a Comment