Thursday, February 16, 2017

Du xuân Gò Tháp

Địa danh Đồng Tháp Mười lâu nay được dùng 
để chỉ cả vùng bưng rộng lớn với tổng diện tích 6.900km² 
thuộc ba tỉnh Long An, Đồng Tháp, Tiền Giang của Việt Nam 
và tỉnh Svay Riêng của Campuchia. 
"Trung tâm" của Đồng Tháp Mười chính là Gò Tháp - 
địa điểm hiểm yếu mà anh hùng Thiên hộ Dương 
từng chọn làm tổng hành dinh lãnh đạo 
cuộc khởi nghĩa chống Pháp hồi thế kỷ XIX. 
Thời gian qua, cứ vào khoảng năm mới dương lịch, 
nơi đó vẫn diễn ra một lễ hội rất ý nghĩa.

Thiên hộ Dương qua tưởng tượng của hậu thế
Đồng Tháp Mười còn mang tên Đồng Lau Sậy, Đồng Cỏ Lác hoặc Đồng Cỏ Bàng, trong nhiều tài liệu tiếng Pháp thì ghi Plaine des Joncs. Cái tên Đồng Tháp Mười phổ biến nhất, vốn khởi phát bởi một ngọn tháp từng tọa lạc trên giồng đất nổi tiếng địa linh: Gò Tháp.
- Thăm Đồng Tháp Mười mà chưa ghé Gò Tháp, cầm bằng... chưa thăm!
Gặp tôi nơi Cao Lãnh, tỉnh lị Đồng Tháp, một nữ đồng nghiệp duyên dáng ở địa phương nói vậy. Nàng tiếp:
- Muốn tới Gò Tháp, trước tiên anh Phanxipăng phải về thị trấn Mỹ An thuộc huyện Tháp Mười, rồi từ đó luồn sâu vào xã Tân Kiều bằng đường thủy hay đường bộ.
Dù phóng môtô, ôtô, hoặc bơi tắc ráng, vỏ lải, thì điều gây ấn tượng thơ mộng nhất đối với tôi là suốt hành trình luôn thơm ngát "liên hoa chi vị hương". Sen Tháp Mười trổ bông quanh năm, tàn lớp này, hàm tiếu ngay lớp nọ. Đi Gò Tháp, món ăn "đỡ buồn miệng" dọc đường cũng là hạt sen luộc.
Tráng khí Thiên hộ Dương
Phương vị của Gò Tháp được xác định trên bản đồ là 110782 vĩ bắc và 1140984 kinh đông. Năm 1939, học giả Nguyễn Hiến Lê đến đây, rồi sau đấy phát biểu cảm tưởng qua du ký Bảy ngày trong Đồng Tháp Mười (NXB Nguyễn Hiến Lê, Sài Gòn, 1954; NXB Văn Hóa Thông Tin tái bản, Hà Nội, 2002) rằng: "Lòng tôi hơi hồi hộp như lần đầu tiên tôi thấy núi Hùng: con đường ngoằn ngoèo như khi sắp tới núi Tổ. Giồng Tháp (Gò Tháp) tuy không cao, song cũng đứng sừng sững ở trước mặt tôi, nghiêm trang như núi Tổ".
Niên điểm 1939 chưa có đền thờ Thiên hộ Dương và Đốc binh Kiều ở Gò Tháp. Đền được khởi lập năm 1958 và tái thiết khang trang năm 1991. Cổng tam quan đền thờ hiện gắn đôi câu đối:
Gò Tháp địa linh nối chí hùng anh gìn tổ quốc;
Tháp Mười nhân kiệt giương cờ đại nghĩa dựng quê hương.
Bước qua cổng, tôi gặp tượng đài lừng lững giữa sân: Thiên hộ Dương cùng Đốc binh Kiều gươm kiếm tuốt trần, cỡi thuyền, đạp sóng, len lỏi giữa những ngọn dừa nước. Khí thế hào tráng bất khuất lẫy lừng của quá khứ tưởng chừng vẫn hừng hực giữa miệt đồng xa khuất quạnh hiu.

Phanxipăng viếng đền thờ Thiên hộ Dương & Đốc binh Kiều ở Gò Tháp. 
Ảnh: Bùi Quốc Khải
Thiên hộ Dương là ai? Tiểu sử vị anh hùng dân tộc ấy, tiếc thay, đến nay vẫn chưa được nghiên cứu tường tận. Ngay cả họ tên thật của ông, sách vở còn ghi thiếu thống nhất. Phần lớn đề Võ Duy Dương, song có tài liệu viết Võ Di Dương hoặc Nguyễn Duy Dương. Lại chẳng rõ năm sinh, quê quán, hoàn cảnh xuất thân lẫn tình trạng ly trần.
Cuốn Nam kỳ cố sự do Nguyễn Hữu Hiếu sưu tầm và biên soạn (NXB Đồng Tháp, 1997) dựa theo chuyện dân gian truyền khẩu, kể rằng Thiên hộ Dương "sanh ra trong một gia đình nông dân nghèo, cha mất sớm, lúc nhỏ ông đã có tiếng là khỏe mạnh và... ăn nhiều". Du ký Bảy ngày trong Đồng Tháp Mười của Nguyễn Hiến Lê (sđd) thì cho biết: "Võ Duy Dương vốn là một nhà hào phú, bỏ cả sự nghiệp ra mộ được 1.000 quân nghĩa dõng nên được chức Thiên hộ". Địa chí Đồng Tháp Mười do Hội đồng Khoa học xã hội TP. HCM tổ chức biên soạn (NXB Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội, 1996) lại ghi nhận: "Về Võ Duy Dương, người ta không biết quê quán, ngày sinh. Chỉ biết ông là bộ tướng của Nguyễn Tri Phương, xuất thân từ đám 'lính đồn điền'. Có lẽ Dương cũng là cai hoặc phó tổng đồn điền như Trương Định, nên được tôn là Thiên hộ - danh hiệu dành cho ai quy tụ được một 'ngàn nhà' đi khai hoang (...). Khi hay tin ông khởi nghĩa, Tự Đức mật chỉ phong ông làm lãnh binh nên ông còn có tên Lãnh binh Dương. Ông được Thủ khoa Nguyễn Hữu Huân giúp (có lẽ làm tham mưu) trong mấy năm đầu".
Đồng bào Việt Nam hẳn nhớ hoài sự kiện Phan Lâm mãi quốc, triều đình khi dân - tức hiệp ước Nhâm Tuất 1862 đầy tủi nhục do chánh sứ Phan Thanh Giản cùng phó sứ Lâm Duy Hiệp đại diện triều đình nhà Nguyễn nhằm ký kết cắt đất ba tỉnh Gia Định, Định Tường, Biên Hòa và hải đảo Côn Lôn cho Pháp. Sau sự kiện chấn động đó, trên mảnh đất Nam bộ liên tiếp nổi dậy hàng loạt cuộc khởi nghĩa mà bốn cuộc lớn nhất là của Trương Định, Nguyễn Trung Trực, Nguyễn Hữu Huân và Võ Duy Dương. Nghĩa quân dưới trướng Thiên hộ Dương sở trường du kích chiến, lại chọn Đồng Tháp Mười nổi tiếng muỗi kêu như sáo thổi, đỉa lội như bánh canh làm địa bàn chính để hoạt động, buộc giặc Pháp lúng túng. Biên niên Việt Nam những sự kiện lịch sử 1858 - 1918 do Dương Kinh Quốc soạn thảo (NXB Giáo Dục, Hà Nội, 1999) có ghi trận nghĩa quân của Thiên hộ Dương và của Trương Tuệ (con trai của Trương Định) phối hợp với nghĩa quân Campuchia được A Xoa lãnh đạo đã tấn công đồn Pháp ở Tây Ninh, diệt nhiều địch, trong đó có 2 sĩ quan, vào ngày 7-6-1866. Sang tháng 7-1866, nghĩa quân của Thiên hộ Dương phát triển khắp các tỉnh Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên, được nhân dân tích cực ủng hộ khiến Pháp gây áp lực với triều đình Huế, đòi phải truy bắt Võ Duy Dương hòng giao nộp cho chúng. Cuốn sử biên niên này còn nêu chi tiết liên quan đến vị anh hùng đất Gò Tháp. Ấy là từ tháng 4 Tân Dậu (1861), sau khi Gia Định và Định Tường thất thủ, vua Tự Đức cử một đoàn vào các tỉnh phía Nam mộ binh chống giặc. Trong đoàn này có mặt bát phẩm Thiên hộ Võ Duy Dương.
Một tờ trình của quân đội Pháp năm 1865 cho thấy tổng hành dinh của Thiên hộ Dương ở Gò Tháp cực kỳ hiểm yếu. Vào đấy chỉ có 3 con đường mòn, nhưng mỗi năm ngập nước 6 tháng. Thêm nữa, 3 con đường đó có 3 đồn kiểm soát, mỗi đồn thường túc trực 200 - 300 nghĩa quân với nhiều loại vũ khí. Quanh quất còn nhiều đồn nhỏ, mỗi đồn có khoảng 150 nghĩa quân. Đặc biệt, trong lực lượng binh sĩ của Thiên hộ Dương có cả lính Tagal (quân đội Lê dương sau này) và một lính Pháp đào ngũ tên là Linguet.
Đầu năm 1866, đô đốc hải quân De Lagrandière lên kế hoạch quyết "bình định" Đồng Tháp Mười. Tháng 4 năm đó, Pháp tấn công dữ dội và chẳng bao lâu thì phong tỏa căn cứ địa Gò Tháp. "Sau trận ấy, Thiên hộ tuy vẫn tiếp tục hoạt động song không có kết quả; rồi về Trung và có lẽ mang bệnh mà mất" - Nguyễn Hiến Lê viết thế (sđd). Tuy nhiên, biên niên sử của Dương Kinh Quốc ghi khác: "Tháng 10-1866, Võ Duy Dương trên đường ra Bình Thuận, đã bị đắm thuyền và chết ở cửa biển Thần Mẫu". Chi tiết này đáng ngờ. Bởi tương truyền, Thiên hộ Dương là võ sĩ tuyệt luân, sức khỏe siêu phàm. Một mình ông cử nổi 5 trái linh (như quả tạ, mỗi trái linh cỡ 60 cân), hai tay xách 2 trái, hai nách kẹp 2 trái, miệng cắn thêm trái nữa, do đó dân chúng gọi ông là Ngũ linh Thiên hộ. Người đời còn thuật nhiều kỳ tích của ông về công lực phi thân, sử dụng vũ khí, khả năng bơi lội. Vậy há lẽ Thiên hộ Dương chịu chết đuối vì tàu đắm kề cửa biển sao?
Lễ hội tôn vinh lòng yêu nước
Quanh khu vực Gò Tháp, dân cư ít và thưa thớt. Nhưng đến đây, nghe "nguyên người quanh quất đâu xa" kể hàng loạt giai thoại về Thiên hộ Dương, tôi cảm thấy thú vị vô cùng. Nào chuyện ông tha mạng mãng xà, về sau con rắn trả ơn bằng cách... tấn công giặc Pháp. Nào chuyện ông thu dụng nhân tài, mà mỗi vị một tính cách, từ Đốc binh Nguyễn Tấn Kiều đến Thông Phụng, Thủ Chiếu, Phòng Biểu, Nhiêu Chấn, Nhiêu Bá, v.v. Lại thêm chuyện giồng này chứa kho vàng do Thiên hộ Dương trước kia tàng trữ nhằm phục vụ công cuộc kháng Pháp, nên thời gian qua khối tay nổi máu tham hì hục đào bới mãi chẳng thấy gì. Thậm chí, có tay còn luyện chó mực ngửi mùi quý kim, rốt cục cũng công cốc.
Dân gian còn truyền câu hát:
Ai về Gò Tháp mà coi,
Mả ông Thiên hộ trăng soi lạnh lùng.
Bà con đùm đậu quanh vùng,
Tháng giêng, ngày giỗ, xin đừng ai quên.
Thực tế, làm gì có mồ mả Thiên hộ Dương ở Gò Tháp. Hiện ngay sau đền thờ chỉ có phần mộ Đốc binh Kiều mà thôi.

Mộ Đốc binh Kiều
Thủ từ đền bây giờ là Nguyễn Văn Lẫm cho tôi hay:
- Hằng năm, đền thờ này đều trang trọng tổ chức lễ hội tưởng niệm nhị vị anh hùng Thiên hộ Dương và Đốc binh Kiều. Bình thường, ở đây vắng vẻ, dịp lễ hội thì đông chật người. Mỗi kỳ lễ hội có trên dưới 5 vạn khách thập phương.
Theo anh Lẫm, lễ hội gồm hai phần xen kẽ: phần lễ và phần hội. Lễ chính là cúng tế Thiên hộ Dương và Đốc binh Kiều, thêm một số lễ phụ như cầu an, thỉnh sanh. Hội hè náo nhiệt trò chơi dân gian, biểu diễn ca múa nhạc kịch cổ truyền. Điểm đặc sắc là 50.000 lượt khách đến dự lễ hội đều được ăn uống miễn phí. Anh Lẫm cười:
- Dịp lễ hội, bếp ở đây nổi lửa suốt ngày đêm, phục vụ 24/24. Khách nào cảm thấy đói bụng, cứ vào nhà ăn sẽ thấy cơm canh bày sẵn, thoải mái dùng.
Nề nếp phục vụ ấy xuất hiện từ lâu, hình thành trên cơ sở tự nguyện tự giác. Gia đình khá giả xin góp tiền bạc, hoặc giạ thóc, con heo. Người ít hơn thì đưa cặp gà, gánh rau, bó củi. Kẻ không có gì lại hiến công: vo gạo, thổi cơm, chế biến thức ăn, quét tước, v.v. Chẳng thấy ai quản lý, cắt cử, nhưng công việc vẫn chu toàn êm thấm. Vậy mà sau mỗi kỳ lễ hội, riêng ngân khoản quan khách cúng dường lắm khi còn hàng trăm triệu đồng. Số tiền này được dùng để trùng tu, tôn tạo di tích.

Lễ hội Gò Tháp. 
Ảnh: Nhựt Trung
Lễ hội tưởng niệm Thiên hộ Dương và Đốc binh Kiều được tổ chức chính thức trong ba ngày, từ 14 đến 16 tháng 11 âm lịch. Dịp đó thường trùng năm mới dương lịch, nên đông đảo dân chúng gần xa dồn về Gò Tháp như chuyến "du xuân" sớm. Quả thật, đầu năm mà viếng thăm chốn địa linh thấm đẫm hào khí tiền nhân thì ý nghĩa xiết bao!
Được biết khu du lịch văn hóa - lịch sử Gò Tháp đã được tỉnh Đồng Tháp xếp vào dự án ưu tiên kêu gọi đầu tư với vốn dự kiến 2 triệu USD. Thiển nghĩ: việc đầu tư khảo cứu sâu hơn, đầy đủ hơn, hệ thống hơn về vùng đất và con người Gò Tháp cần đi trước một bước.  Phanxipăng

Đã đăng Kiến Thức Ngày Nay 446 (1-1-2003

No comments:

Post a Comment