Monday, February 13, 2017

NỘI


– Nội xuống kìa!
– Nội  xuống! Ê! Nội xuống!
– Nội xuống!
          Bầy con tôi reo mừng, chạy ùa ra ngõ. Ngoài đó, tiếng xích lô  máy cũng vừa tắt.
          Trong buồng, vợ tôi gom vội mấy giấy tờ hồ sơ nhét vào xắc   tay, nhìn tôi, im lặng.Tôi hiểu: bà già xuống như vậy, làm sao giấu được chuyện  tôi và hai đứa lớn sẽ vượt biên? Sáng sớm mai  là đi rồi …
Tôi choàng tay ôm vai vợ tôi, siết nhẹ:
– Không sao đâu. Để anh lựa lúc nói chuyện đó với  má.
          Khi vợ chồng tôi bước ra hiên nhà thì bầy nhỏ cũng  vừa vào  tới sân. Đứa xách giỏ, đứa xách bao, đứa ôm gói, hí hửng vui mừng. Bởi   vì mỗi lần bà nội chúng nó từ Gò Dầu xuống thăm đều có mang theo rất  nhiều đồ  ăn, bánh trái thịt thà… Những ngày sau đó, mâm cơm dưa muối  thường ngày được  thay thế bằng những món ăn do tay bà nội tụi nó nấu  nướng nêm-nếm. Nhờ vậy, mấy  bữa cơm có cái phong vị của ngày xưa thuở mà miền Nam chưa mất vào tay Việt  Cộng… Mấy con tôi thường gọi đùa bà Nội bằng «trưởng ban hậu cần»  hoặc chị «nuôi» và lâu lâu  hay trông có bà nội xuống. Và lúc nào câu chào mừng của chúng  nó cũng đều giống như nhau: «Nội mạnh hả Nội? Nội có đem gì xuống ăn không   Nội?» Mới đầu, tôi nghe chướng tai, nhưng sống trong sự thiếu thốn  triền miên  của chế độ xã hội chủ nghĩa, lần hồi chính bản thân tôi cũng chỉ nghĩ đến miếng ăn thôi!
           Con gái út tôi, mười một tuổi, một tay xách giỏ trầu của bà  nội, một tay cặp-kè với bà nó đi vào như hai người bạn. Bà nó cưng  nó  nhứt nhà. Lúc nào xuống, cũng ngủ chung với nó để nghe nó kể chuyện. Nó thích  bà nội ở điều đó và thường nói:  «Ở nhà này chỉ có nội là thích nghe em kể chuyện thôi!» Thật ra, nó có lối kể chuyện không đầu không đuôi làm mấy anh  mấy chị nó bực. Trái lại, bà nó cho đó là một thi vị của tuổi thơ, nên hay biểu  nó kể chuyện cho bà nghe, để lâu lâu bà cười chảy nước mắt.
           Tôi hỏi má tôi:
– Sao bữa nay xuống trưa vậy nội?
           Vợ chồng tôi hay gọi má tôi bằng «nội» như các  con. Nói  theo tụi nó, riết rồi quen miệng. Lâu lâu, chúng tôi cũng có gọi bằng «má» nhưng sao vẫn không nghe đầm-ấm nồng-nàn bằng tiếng «nội» của các con.  Hồi cha tôi còn sống, tụi nhỏ còn gọi rõ ra «ông nội» hay «bà  nội». Cha tôi  mất đi, ít lâu sau, chúng nó chỉ còn dùng có tiếng «nội» ngắn gọn để gọi bà  của chúng nó, ngắn gọn nhưng âm thanh lại đầy  trìu mến.
           Má tôi bước vào nhà, vừa cởi áo bà ba vừa trả lời:
– Thôi đi mầy ơi!… Mấy thằng công an ở Trảng  Bàng mắc dịch! Tao lên xe hồi sáng chớ bộ. Tới trạm Trảng Bàng tụi nó xét thấy  tao có đem một  lon ghi-gô mỡ nước, vậy là bắt tao ở lại. Nói phải quấy bao nhiêu  cũng  không nghe. Cứ đề quyết là tao đi buôn lậu!
           Rồi má tôi liệng cái áo lên thành ghế bàn ăn, nói  mà tôi có cảm tưởng như bà đang phân trần ở Trảng Bàng:
– Đi buôn lậu cái gì mà chỉ có một lon mở nước   Ai đó nghĩ coi! Nội  tiền xe đi xuống đi lên cũng hơn tiền lon mỡ rồi. Đi buôn  kiểu gì mà  ngu dại vậy hổng biết
– Ủa? Rồi làm sao nội đi được? Bộ tụi nó giữ lại lon mỡ hả nội? Con gái lớn tôi chen vào.
– Dễ hôn! Nội đâu có để cho tụi nó «ăn» lon  mỡ, con! Mỡ heo nội thắng đem xuống cho tụi con chớ bộ.
Ngừng lại, hớp một hớp nước mát mà con út vừa đem  ra, xong bà kể tiếp, trong lúc các con tôi quây quần lại nghe:
– Cái rồi … cứ dan ca riết làm nội phát ghét, nội đổ lì, ngồi lại đó đợi tụi nó muốn giải đi đâu thì giải.
           Nghe đến đây, bầy con tôi cười thích thú. Bởi vì  tụi nó từng nghe ông nội tụi nó kể những chuyện «gan cùng mình» của bà nội hồi   xưa khi cùng chồng vào khu kháng chiến, nhứt là giai đoạn trở về hoạt động ngầm ở thành phố sau này, trước hiệp định Genève…
Con út nóng nảy giục:
– Rồi sao nữa nội?
– Cái rồi… lối mười một mười hai giờ gì đó nội  hổng biết nữa. Ờ… cở đứng bóng à. Có thằng cán bộ đạp xe đi ngang. Nó đi qua  khỏi rồi chớ, nhưng chắc nó nhìn thấy nội nên hoành xe lại chào hỏi: «Ũa? Bà  Tám đi đâu mà ngồi đó vậy?» Nội nhìn ra là thằng Kiểu con thầy giáo Chén ở Tha-La, tụi bây không biết đâu. Kế nội kể hết đầu đuôi câu chuyện cho nó nghe.  Nó cười ngất. Rồi nhờ nó can thiệp nên nội mới đi được đó. Lên xe thì đã trưa  trờ rồi… Ti! Kiếm cây quạt cho nội, con!
           Ti là tên con út. Cây quạt là miếng mo cau mà má  tôi cắt,  vanh thành hình rồi đem ép giữa hai tấm thớt dầy cho nó bớt cong. Má   tôi đem từ Gò Dầu xuống bốn năm cây quạt mo phân phát cho mấy cháu, nói: «Nội  thấy ba má tụi con gỡ bán hết quạt máy, nội mới làm thứ này đem  xuống cho tụi  con xài. Kệ nó, xấu xấu vậy chớ nó lâu rách.»
Con út cầm quạt ra đứng cạnh nội quạt nhè nhẹ mà  mặt mày tươi rói : tối  nay nó có «bạn» ngủ chung để kể chuyện! Vợ tôi đem áo  bà ba của má  tôi vào buồng mấy đứa con gái, từ trong đó hỏi vọng ra:
– Nội ăn gì chưa nội?
– Khỏi lo! Tao ăn rồi. Để tao têm miếng trầu rồi  tao với mấy đứa nhỏ soạn đồ ra coi có hư bể gì không cái đã.
           Rồi mấy bà cháu kéo nhau ra nhà sau. Tôi nhìn  theo má tôi mà bỗng nghe lòng dào dạc. Từ bao nhiêu năm nay, trên người má tôi  chẳng  có gì thay đổi. Vẫn loại quần vải đen lưng rút, vẫn áo túi trắng ngắn  tay  có hai cái túi thật đặc biệt do má tôi tự cắt may: miệng túi cao  lên tới ngực  chớ không nằm dưới eo hông như những áo túi thường thấy.  Mấy đứa nhỏ hay đùa: «Cha… bộ sợ chúng nó móc túi hay sao mà nội làm  túi sâu vậy nội?» Má tôi  cười: «Ậy! Vậy chớ túi này chứa nhiều thứ quí lắm à bây.» Những thứ gì không  biết, chớ thấy má tôi còn cẩn thận ghim miệng túi lại bằng cây kim tây!
           Tôi là con một của má tôi. Vậy mà sau khi cha tôi  chết đem  về chôn ở Gò Dầu, quê tôi, má tôi ở luôn trên đó. Nói là để châm sóc mồ mả và vườn tược cây trái. Thật ra, tại vì má tôi không thích ở Sài Gòn,  mặc dù  rất thương mấy đứa cháu. Hồi còn ở chung với vợ chồng tôi để tránh pháo kích – dạo đó, Việt cộng hay bắn hỏa tiễn vào Gò Dầu về đêm – má tôi thường chắc lưỡi  nói: «Thiệt… không biết cái xứ gì mà ăn rồi  cứ đi ra đi vô, hổng làm gì ráo.» Cái «xứ» Sàigòn, đối với má tôi, nó «tù chân tù tay» lắm, trong lúc ở Gò Dầu  má tôi có nhà cửa đất đai rộng rãi, cây trái xum xuê, và dù đã cao niên, má tôi   vẫn thường xuyên xách cuốt xách dao ra làm vườn, làm cỏ. Vả lại chung  quanh đất  má tôi, là nhà đất của các anh bà con bên ngoại của tôi,  thành ra má tôi qua lại  cũng gần. Các anh chị bà con tới lui thăm viếng giúp đỡ cũng dễ. Cho nên, dù ở một mình trên đó, má tôi vẫn không thấy  cô đơn hiu quạnh. Lâu lâu nhớ bầy con  tôi thì xuống chơi với chúng nó  năm bảy bữa rồi về. Má tôi hay nói đùa là «đi đổi gió»!
Mấy năm sau ngày mất nước, cuộc sống của gia đình  tôi càng ngày càng bẩn  chật. Cũng như thiên hạ, vợ chồng tôi bán đồ đạc trong  nhà lần lần để ăn. Má tôi biết như vậy nên xuống thăm mấy đứa nhỏ thường hơn, để mang «cái gì để ăn» cho chúng nó. Nhiều khi nằm đêm tôi ứa nước mắt mà nghĩ rằng lẽ ra tôi  phải nuôi má tôi chớ, dù gì tôi cũng mới ngoài bốn mươi lăm còn  má tôi  thì tuổi đã về chiều. Vậy mà bây giờ, mặc dù là công nhân viên nhà nước  xã hội chủ nghĩa với lương kỹ sư «bật hai trên sáu», tôi đã không  nuôi nổi má  tôi, mà trái lại chính má tôi phải cắt-ca cắt-củm mang đồ  ăn xuống tiếp tế cho  gia đình tôi, giống như má tôi mớm cơm đút cháo  cho tôi thuở tôi còn thơ ấu!  Thật là một «cuộc đổi đời» (Việt Cộng  thường rêu rao: «Cách mạng là một  cuộc đổi đời»). Nhưng cuộc đổi đời của mẹ con tôi thì thật là vừa chua cay vừa  hài hước!
           Lắm khi tôi tự hỏi: «Rồi sẽ đi đến đâu?» Bấy  giờ tôi đã trở thành «trưởng ban văn nghệ» của cơ quan, một lối đi «ngang» mà  nhờ đó tôi còn được ở lại với sở cũ. Bởi vì mấy chục năm kinh nghiệm  trong  nghề nghiệp chánh của tôi, nhà nước cách mạng cho là vô dụng,  không «đạt yêu  cầu». Thành ra, tối ngày tôi chỉ lo cho đoàn «nghiệp  dư» của cơ quan tập dượt  hát múa. Thật là hề. Còn về phần các con tôi, tương lai gần nhứt là đi đánh giặc  Kampuchia, tương lai xa hơn thì  thật là mù mịt!
           Trong lúc tôi không có lối thoát thì một người  bạn đề nghị giúp chúng tôi vượt biên, nhưng chỉ đi được có ba người. Vậy là  chúng  tôi lấy quyết định cho hai đứa lớn đi theo tôi. Chuyện này, chúng tôi  giấu  má tôi và mấy đứa nhỏ, kể cả hai đứa đã được chọn. Phần vì sợ đổ bể, phần vì sợ má tôi lo. Ai chẳng biết vượt biên là một sự liều lĩnh vô cùng. Rủi đi không  thoát là bị tù đày chẳng biết ở đâu, may mà đi  thoát cũng chưa chắt là sẽ đến bờ  đến bến. Người ta nói trong số những  người đi thoát, hai phần ba bị mất tích  luôn. Thành ra, «vượt biên» là đi vào miền vô định…
Theo chương trình thì sáng sớm ngày rằm cha con  tôi đi xe đò xuống Cần Thơ rồi từ đó có người rước qua sông ông Đốc để xuất hành  ngay trong đêm đó. Tôi thắc mắc hỏi: «Tổ chức gì mà đi chui nhằm ngày rằm cha  nội?» Bạn tôi cười: «Ai cũng nghĩ như anh hết. Tụi Việt Cộng cũng vậy.  Cho  nên hể có trăng sáng là tụi nó nằm nhà nhậu, không đi tuần đi rỏn  gì hết. Hiểu  chưa?»
Bữa nay là mười bốn ta nhằm ngày thứ bảy, vợ chồng tôi định không nói gì  hết, chờ sáng sớm mai gọi hai đứa lớn dậy đi với tôi  xuống Cần Thơ. Như vậy là chúng nó sẽ hiểu. Và như vậy là kín đáo nhứt, an toàn  nhứt. Rồi sau đó vợ tôi sẽ liệu cách nhắn tin về cho má tôi hay. Chừng đó thì «sự đã rồi»…
Bây giờ thì má tôi đã có mặt ở đây, giấu cũng  không được .Đành phải nói  cho má tôi biết. Nhưng nói lúc nào đây? Và nói làm  sao đây? Liệu má  tôi có biết cho rằng tôi không còn con đường nào khác? Liệu  má tôi có  chấp nhận cho tôi không giữ tròn đạo hiếu chỉ vì lo tương lai cho các  con? Liệu má tôi… liệu  má tôi… Tôi phân vân tự đặt nhiều câu hỏi để chẳng thấy ở đâu câu trả lời…
Tôi ngồi xuống thềm nhà, nhìn ra sân. Ở đó, bờ cỏ lá gừng xanh mướt ngày  xưa đã bị chúng tôi đào lên đấp thành luống để trồng chút đỉnh khoai mì, một ít khoai lang, vài hàng bắp. Không có bao nhiêu nhưng vẫn phải  có.  Cho nó giống với người ta, bởi vì nhà nào cũng phải «tăng gia» cho đúng «đường lối của nhà nước». Thật ra, trồng trọt bao nhiêu đó, nếu  có… trúng mùa đi nữa, thì cũng không đủ cho bầy con tôi «nhét kẻ răng»! Vậy mà tên công an  phường, trong một dịp ghé thăm, đã tấm tắc khen: «Anh chị công tác tốt đấy  chứ. Tăng gia khá nhất khu phố đấy! Các cháu tha hồ mà ăn». Anh ta không biết  rằng mấy nhà hàng xóm của tôi, muốn «tăng gia», họ đã phải đào cả sân xi-măng  hoặc sân lót gạch, thì lấy gì để «làm tốt»?
Khi tôi trở vào nhà thì con út đang gãi lưng cho  nội. Nó vén áo túi nội  lên đến vai, để lộ cái lưng gầy nhom, cong cong và hai  cái vú teo  nhách. Tôi tự hỏi: «Lạ quá! Chỉ có mình mình bú hồi đó mà sao làm   teo vú nội đến như vậy được?» Rồi tôi bồi hồi cảm động khi nghĩ rằng chính  hai cái núm đen đó đã nuôi  tôi lớn lên với dòng sữa ấm, vậy mà chẳng bao giờ nghe má tôi kể lể công lao. Tôi cảm thấy thương má tôi vô cùng. Tôi len lén từ phía sau lòn  tay măn vú má tôi một cái. Má tôi giựt mình, rút cổ lại:
– Đừng! Nhột!Thằng chơi dại mậy!
           Rồi má tôi cười văng cốt trầu. Con Ti la lên:
– Má ơi! Coi ba măn vú nội nè!
           Tôi cười hả hê thích thú. Trong khoảnh khắc thật  ngắn ngủi đó, tôi bắt gặp lại những rung động nhẹ nhàng sung sướng khi tôi măn  vú mẹ thuở tôi mới lên ba lên năm…Và cũng trong khoảnh khắc đó, tôi đã  quên mất  rằng má tôi đã gần tám mươi mà tôi thì trên đầu đã hai thứ tóc! Và cũng quên  mất rằng từ ngày mai trở đi, có thể  tôi sẽ không bao  giờ còn gặp lại má tôi  nữa, để măn vú khi bất chợt thấy má tôi nhờ cháu nội gãi lưng như hôm  nay…
Chiều hôm đó, khi ngồi vào bàn ăn, mắt bầy con  tôi sáng rỡ. Bữa cơm thật  tươm tất, đầy đủ món ăn như khi xưa. Có gà nấu canh  chua lá giang, một  loại giây leo có vị chua thật ngọt ngào mà hình như chỉ ở miệt quê tôi  mới có. Món này, bà nội mấy đứa nhỏ nấu thật đậm đà. Bà thường nói: «Canh chua phải nêm cho cứng cứng nó mới ngon». Mà thật vậy. Tô canh  nóng  hổi, bốc lên mùi thơm đặc biệt của thịt gà lẫn với mùi chua ngọt  của lá giang,  mùi mặn đằm thấm của nước mắm và mùi tiêu mùi hành… Húp  vào một miếng canh chua,  phải nghe đầu lưỡi ngây ngây cứng cứng và chân tóc trên đầu tăng tăng, như vậy  mới đúng. Nằm cạnh tô canh chua là tộ cá kèo kho tiêu mà khi mang đặt lên bàn ăn  nó hãy còn sôi kêu lụp-bụp, bốc mùi thơm phức  vừa mặn vừa nồng cay lại vừa béo,  bỡi vì trong cá kho có tóp mỡ và  trước khi bắt xuống, bà nội có cho vào một  muỗng mỡ nước gọi là «để cho nó dằn» ! Đặc biệt, khi làm cá kèo, bà không mổ bụng cá, thành ra  khi cắn vào đó, mật cá bể ra đăng đắng nhẹ nhàng làm tăng vị bùi của  miếng cá lên gấp bội. Ngoài hai món chánh ra, còn một dĩa măng luộc, tuy  là một món phụ nhưng cũng không kém phần hấp dẫn nhờ ở chỗ sau khi  luộc rồi măng được chiên lại với tỏi nên ngã màu vàng sậm thật là đậm đà…
Sau khi và vài miếng, vợ tôi nhìn tôi rồi rớt  nước mắt. Nội hỏi:
– Bộ cay hả?
Vợ tôi “dạ”, tiếng “dạ” nằm đâu trong cổ. Rồi buông đũa,  mếu máo chạy ra  nhà sau. Tôi hiểu. Bữa cơm này là bữa cơm cuối cùng, bữa cơm mà  cả gia đình còn xum họp bên nhau. Rồi sẽ không còn bữa cơm nào như vầy nữa. Gia đình sẽ chia hai. Những người đi, rồi sẽ sống hay chết? Còn những người ở lại,  ai biết sẽ còn tan  tác đến đâu? Tôi làm thinh, cắm đầu ăn lia lịa như mình đang đói lắm.  Thật ra, tôi đang cần nuốt thật nhanh thật nhiều, mỗi một miếng nuốt   phải thật đầy cổ họng… để đè xuống, nén xuống một cái gì đang trạo trực  từ dưới  dâng lên. Mắt tôi nhìn đồ ăn, nhìn chén cơm, nhìn đôi đũa, để khỏi phải nhìn má  tôi hay nhìn bầy con, ngần đó khuôn mặt thân yêu mà  có thể tôi sẽ vĩnh viễn  không còn thấy lại nữa. Trong đầu tôi chợt hiện ra hình ảnh người đang hấp hối,  trong giây phút cuối cùng lưỡi đã cứng đơ mắt đã dại, vậy mà họ vẫn nhìn nuối  những người thương để rồi chảy nước mắt  trước khi tắt thở. Rồi tôi thấy tôi cũng  giống như người đang hấp hối,  không phải chết ở thể xác mà là chết ở tâm hồn,  cũng một lần vĩnh biệt, và cũng sẽ bước vào một cõi u-minh nào đó, một cõi thật  mơ hồ mà mình  không hình dung được, không chủ động được!
           Má tôi gắp cho tôi một cái bụng cá to bằng ngón tay cái:
– Nè! Ngon lắm! Ăn đi! Để rồi mai mốt hổng chắc gì có  mà ăn!
           Ý má tôi muốn nói rằng ở với Việt Cộng riết rồi đến loại  cá  kèo cũng sẽ khan hiếm như các loại cá khác. Nhưng trong trường hợp của  tôi,  lời má tôi nói lại có ý nghĩa của lời tống biệt. Nó giống như: “Má cho con ăn  lần này lần cuối. Ăn đi con! Ăn cho ngon đi con!” Tôi ngậm miếng cá mà nước  mắt trào ra, không kềm lại được. Nếu không có  mặt bầy con tôi, có lẽ tôi đã cầm  lấy bàn tay của má tôi mà khóc, khóc  thật tự do, khóc thật lớn, để vơi bớt nỗi  thống khổ đã dằn vật tôi từ bao nhiêu lâu nay… Đằng này,  tôi không làm như vậy được. Cho nên tôi trạo trực nuốt miếng cá mà cảm  thấy như nó thật đầy xương xóc!
           Má tôi nhìn tôi ngạc nhiên:
– Ủa? Mày cũng bị cay nữa sao?
           Rồi bà chồm tới nhìn vào tộ cá. Các con tôi nhao nhao lên:
– Đâu có cay, nội.
– Con ăn đâu thấy cay. Hai có nghe cay hôn Hai?
– Chắc ba má bị gì chớ cay đâu mà cay.
– Con ăn được mà nội. Có cay đâu?
           Các con tôi đâu có biết rằng cái cay của tôi không nằm  trên đầu lưỡi, mà nó nằm trong đáy lòng. Cái cay đó cũng bắt trào nước mắt!
           Tôi đặt chuyện, nói tránh đi:
– Hổm rày nóng trong mình, lưỡi của ba bị lở, nên ăn cái  gì mặn nó rát.
           Rồi tôi nhai thật chậm để có thời gian cho sự xúc động  lắng  xuống. Miếng cơm trong miệng nghe như là sạng sỏi, nuốt không  trôi…
Sau bữa cơm, bà cháu kéo hết vào buồng tụi con gái để chuyện trò. Thỉnh  thoảng nghe cười vang trong đó. Chen trong tiếng cười trong  trẻo của  các con, có tiếng cười khọt khọt của nội, tiếng cười mà miếng trầu đang  nhai kềm lại trong cổ họng, vì sợ văng cốt trầu. Những thanh âm đó toát ra một  sự vô tư, nhưng lại nghe đầy hạnh phúc. Lúc này, có nên nói  chuyện vượt biên với  má tôi hay không? Tội nghiệp bầy con, tội nghiệp  nội… Ngoài phòng khách, tôi đi  tới đi lui suy nghĩ đắn đo. Vợ tôi còn  lục đục sau bếp, và cho dù vợ tôi có mặt ở đây cũng không giúp gì tôi được với tâm sự rối bời như mớ bòng bong. Tôi bèn  vào buồng ngủ, trải  chiếu dưới gạch-từ lâu rồi, vợ chồng tôi không còn giường tủ gì hết- rồi tắt đèn nằm trong bóng tối, gác tay lên tráng mà thở dài…
Thời gian đi qua… Trăng đã lên nên tôi thấy cửa sổ được vẽ những lằn ngang  song song trắng đục. Trong phòng bóng tối cũng lợt đi. Không còn  nghe  tiếng cười nói ở phòng bên và tôi nghĩ chắc đêm nay vợ tôi ngủ với hai đứa  lớn ngoài phòng khách, để trằn trọc suốt đêm chờ sáng.
           Bỗng cửa phòng tôi nhẹ mở, vừa đủ để tôi nhìn thấy bóng má  tôi lom khom hướng vào trong hỏi nhỏ:
– Ba con Ti ngủ chưa vậy?
           Tôi hơi ngạc nhiên, nhưng cũng trả lời nho nhỏ vừa đủ nghe:
– Dạ chưa, má.
           Má tôi bước vào đóng cửa lại, rồi mò mẫm ngồi xuống cạnh  tôi, tay cầm quạt mo quạt nhè nhẹ lên mình tôi, nói:
– Coi bộ nực hả mậy?
– Dạ. Nhưng rồi riết cũng quen, má à.
           Tôi nói như vậy mà trong đầu nhớ lại hình ảnh tôi và thằng   con trai hè hụi tháo gỡ mấy cây quạt trần để mang đi bán. Im lặng một  lúc. Tay  má tôi vẫn quạt đều. Rồi má tôi hỏi:
– Tụi bây còn gì để bán nữa hông?
– Dạ…
Tôi không biết trả lời làm sao nữa. Chiếc xe hơi bây giờ chỉ còn lại cái  sườn, không ai chịu chở đi. Trong nhà bây giờ chỉ còn bộ bàn ăn,  cái tủ thờ nhỏ và bộ xa-long mây “sứt căm gãy gọng”. Ngoài ra, trên tường có   chân dung “Bác Hồ” dệt bằng lụa và nhiều “bằng khen”, “bằng lao động tiên tiến”… những thứ mà nhà nào cũng có hết, cho, chưa chắc gì có ai thèm  lấy! Bỗng tôi  nhớ có một hôm tôi nói với bầy con tôi: “Ba tự hào đã  giữ tròn liêm sỉ từ mấy  chục năm nay. Bây giờ, đổi lấy cái gì ăn cũng  không được, đem ra chợ trời bán  cũng chẳng có ai mua. Sao ba thấy thương các con và tội cho ba quá!” Lúc đó,  tôi tưởng tượng thấy tôi đứng ở chợ trời, dưới chân có tấm bảng đề “Bán cái liêm  sỉ, loại chánh  cống. Bảo đảm đã hai mươi năm chưa sứt mẻ.” Thật là khùng nhưng  cũng  thật là chua chát!
           Nghe tôi “dạ” rồi nín luôn, má tôi hiểu, nên  nói:
– Rồi mầy phải tính làm sao chớ chẳng lẽ cứ như vầy hoài à? Tao thấy bầy tụi bây càng ngày càng trõm lơ, còn mầy thì cứ làm thinh tao rầu  hết sức.
           Má tôi ngừng một chút, có lẽ để lấy một quyết định:
– Tao xuống kỳ này, cốt ý là để nói hết cho mầy nghe. Tao  già rồi, mai  mốt cũng theo ông theo bà. Mày đừng lo cho tao. Lo cho bầy con mầy  kìa. Chớ đừng vì tao mà bắt mấy đứa nhỏ phải hy sinh tương lai của tụi nó.  Mầy  liệu mà đi, đi! Kiếm đường mà kéo bầy con mầy đi, đi! Ở đây riết rồi chết cả chùm. Không chết trận  trên Miên thì cũng chết khùng chết đói. Thà tụi bây đi để tao còn thấy  chút đỉnh gì hy vọng mà sống thêm vài năm nữa. Mày hiểu hôn?
           Nghe má tôi nói, tôi rớt nước mắt. Chuyện mà bao lâu nay  tôi không dám nói với má tôi thì bây giờ chính má tôi lại mở ngỏ khai  nguồn. Và  tôi thật xúc động với hình ảnh bà mẹ già phải đẩy đứa con duy nhứt đi vượt biên để vui mà sống với ít nhiều hy vọng! Thật là ngược đời: có người mẹ nào lại  muốn xa con? Chỉ có ở chế độ xã hội chủ nghĩa mới xảy ra những chuyện “đổi đời” như vậy!
           Tôi nắm bàn tay không cầm quạt của má tôi, lắc nhẹ:
– Má à! Lâu nay con giấu má. Bây giờ má nói, con mới nói.  Sáng sớm mai này, con và hai đứa lớn sẽ xuống Cần Thơ để vượt biên.
           Tôi nghe tiếng cây quạt mo rơi xuống gạch. Rồi yên lặng.  Một lúc lâu sau, má tôi mới nói:
– Vậy hà…
Tôi nghe có cái gì nghẹn ngang trong cổ. Tôi nuốt xuống  mấy lần, rồi cố gắng nói:
– Con đi không biết sống hay chết. Con gởi má vợ con và ba đứa nhỏ, có bề gì xin má thương tụi nó …
Nói tới đó, tôi nghẹn ngào rồi òa lên khóc ngất. Tôi nghe  có tiếng quạt  phe phẩy lại, nhanh nhanh, và bàn tay má tôi vuốt tóc tôi liên tục   giống như hồi nhỏ má tôi dỗ về tôi để tôi nín khóc.
           Một lúc sau, má tôi nói:
– Thôi ngủ đi, để mai còn dậy sớm.
           Rồi bước ra đóng nhẹ cửa lại. Sau đó, có tiếng chẹt diêm   quẹt rồi một ánh sáng vàng vọt rung rinh lòn vào khuôn cửa, tôi biết má  tôi vừa  thắp đèn cầy trên bàn thờ. Tiếp theo là mùi khói nhang, chắc bà nội mấy đứa nhỏ  đang cầu nguyện ngoài đó.
Tôi thở dài, quay mặt vào vách, nhắm mắt mà nghe chơi vơi, giống như  đang nằm trong một cơn mộng…
Năm giờ sáng hôm sau, má tôi kêu tôi dậy đi. Hai con tôi đã sẵn sàng, mỗi đứa một túi nhỏ quần áo. Chúng nó không có vẻ gì ngạc nhiên hay  xúc động hết. Có lẽ mẹ tụi nó đã gọi dậy từ ba bốn giờ sáng để giảng giải và  chuẩn bị tinh thần. Riêng tôi, thật là trầm tĩnh. Nước mắt đêm qua đã  giúp tôi  lấy lại quân bình. Thật là mầu nhiệm!
           Tôi vào buồng hôn nhẹ mấy đứa nhỏ đang ngủ say, xong ôm vợ tôi, ôm má tôi. Hai người thật là can đảm, không mảy may bịn rịn.
Tôi chỉ nói có mấy tiếng:
– Con đi nghe má!
           Rồi bước ra khỏi cổng.
-oOo-
Lần đó, tôi đi thoát.
           Rồi phải ba bốn năm sau, tôi mới chạy chọt được cho vợ con   tôi rời Việt Nam sang sum họp với tôi ở Pháp. Má tôi ở lại một mình.
           Mấy ngày đầu gặp lại nhau, vợ con tôi kể chuyện “bên nhà” cho tôi nghe, hết chuyện này bắt qua chuyện nọ. Bà Nội được nhắc tới nhiều nhứt  và những chuyện về bà nội được kể đi kể lại thường nhứt.
           Tụi nó kể:
“Ba đi rồi, mấy bữa sau cơ quan chỗ ba làm việc cho người đến kiếm. Tụi con trốn trong buồng, để một mình nội ra. Nội nói rằng nội nhờ ba  về Tây  Ninh rước ông Tư xuống bởi vì trên đó đang bị Cao Miên pháo kích tơi  bời,  tới nay sao không thấy tin tức gì hết, không biết ba còn sống hay chết nữa. Nói  rồi, nội khóc thật mùi-mẫn làm mấy cán bộ trong cơ quan  tin thiệt, họ an ủi nội  mấy câu rồi từ đó không thấy trở lại nữa.”
Rồi tụi nó kết câu chuyện với giọng đầy thán phục: “Nội  hay thiệt!”
Nghe kể chuyện, tôi bồi hồi xúc động. Tôi biết lúc đó má  tôi khóc thiệt chớ không phải giả khóc như các con tôi nghĩ. Bởi vì, trong hai  trường hợp dù sự việc xảy ra có khác nhau, nhưng hoàn cảnh sau đó vẫn giống nhau  y hệt. “Ba con  Ti đi không biết sống hay chết” vẫn là câu hỏi lớn đè nặng tâm tư của má tôi. Bề ngoài má tôi làm ra vẻ bình tĩnh để an lòng con dâu và cháu  nội,  nhưng là một cái vỏ mỏng manh mà trong khi kể chuyện cho các cán  bộ, nó đã có  dịp bể tung ra cho ưu tư dâng đầy nước mắt…
          “Rồi sau đó -tụi con tôi kể tiếp- nội ở lại nhà mình để chờ tin tức và cũng để ra tiếp chuyện hàng xóm và chánh quyền địa phương,  chớ má thì  ngày nào cũng đi chùa, còn tụi con nội sợ nói hé ra là mang  họa cả đám. Lâu lâu,  nội về Gò Dầu bán đồ rồi mua thịt thà đem xuống tiếp tế cho tụi con. Thấy nội  già mà lên lên xuống xuống xe cộ cực nhọc quá,  tụi con có can ngăn nhưng nội nói  nội còn mạnh lắm, nội còn sống tới  ngày con Ti lấy chồng nội mới chịu theo ông  theo bà!”
Tôi biết: má tôi là cây cau già – quá già, quá cỗi – nhưng vẫn cố bám lấy đất chỉ vì trên thân cây còn mấy dây trầu… Hình ảnh đó bỗng  làm tôi ứa  nước mắt. Thương má tôi và nhớ cả quê hương. Cái quê hương tuyệt đẹp   của tôi mà Việt Cộng đã cướp mất. Cái quê hương mà trên đó tôi không còn quyền  sống như ý mình muốn, phát biểu những gì mình nghĩ, ca tụng những gì mình thích. Ở đó, ở quê hương tôi, tôi còn bà mẹ già, bà  mẹ tám mươi đã cắt ruột đuổi con đi, bỏ quê hương mà đi, để bà còn chút  gì hy vọng sống thêm vài ba năm nữa! Bây  giờ, vợ con tôi cũng đã đi  hết. Má tôi còn lại một mình. Thân cây cau giờ đã  nhẵn dây trầu, thêm  tuổi đời một nắng hai mưa. Tôi biết ! Má ơi! Con biết: cây  cau già  bây giờ đang nhớ thắt thẻo mấy dây trầu non…
Theo lời các con tôi kể lại, hôm tiếp được điện tín của  bạn tôi ở Pháp đánh về báo tin tôi và hai đứa lớn đã tới Mã Lai bình yên, cả nhà  tưng bừng  như hội. Tụi nó nói: “Nội vội vàng vào mặc áo rồi quì trước bàn thờ Phật gõ chuông liên hồi. Đã giấu không cho ai biết mà nội gõ chuông  giống như báo tin vui cho hàng xóm!”
          “Mấy hôm sau, bỗng có công-an phường lại nhà. Công an đến  nhà là lúc nào cũng có chuyện gì đó cho nên nội có hơi lo. Thấy dạng tên  công an  ngoài ngõ, trong này nội niệm Phật để tự trấn an. Sau đó, nội  cũng kể chuyện ba  về Tây Ninh rồi nội kết rằng ba đã chết ở trên đó.  Rồi nội khóc…”
Mấy con tôi đâu biết rằng đối với má tôi, dù tôi còn sống,  sống mà vĩnh  viễn không bao giờ thấy lại nhau nữa thì cũng giống như là tôi đã  chết.
“Sau đó nội than không biết rồi sẽ ở với ai, rồi ai sẽ nuôi  nội, bởi vì má buồn rầu đã bỏ nhà đi mất.” Nghe vậy, tên công an vội vàng an ủi:
– Bà cụ đừng có lo! Rồi chúng cháu sẽ đem bà cụ về ở với  chúng cháu. Cứ yên chí!” Sau khi tên công an ra về, nội vào buồng kể lại  chuyện đó  cho tụi con nghe, rồi nói: “Nội nghe thằng công an đòi đưa nội về nuôi  mà nội muốn xỉu luôn! Không phải vì cảm động mà vì sợ! Ở với tụi nó,  thà  chết sướng hơn!”
Vợ con tôi được đi chánh thức nên hôm ra đi bạn bè thân  quyến đến chia  tay đầy nhà. Lúc mẹ con nó quì xuống lạy má tôi để giả biệt -hay đúng ra để vĩnh biệt- tất cả mọi người đều khóc. Đó là lần cuối cùng mà má tôi  khóc với bầy  cháu nội. Và tôi nghĩ rằng má tôi khóc mà không cần tìm hiểu tại  sao  mình khóc, chỉ thấy cần khóc cho nó hả, chỉ thấy càng khóc thân thể gầy  còm  càng nhẹ đi, làm như thịt da tan ra thành nước mắt, thứ nước thật  nhiệm mầu mà  Trời ban cho con người để nói lên tiếng nói đầy câm lặng.
           Bầy bạn học của các con tôi đứng thành hai hàng dài,  chuyền  nước mắt cho nhau để tiễn đưa tụi nó ra xe ngoài ngõ. Tôi hình dung thấy  những cặp mắt thơ ngây mọng đỏ nhìn các con tôi đi mà nửa hồn tê-dại, không biết  thương cho bạn mình đi hay thương cho thân  phận mình, người ở lại với đầy chua  xót…
Mấy con tôi nói: ”Nội không theo ra phi trường. Nội ở nhà để gõ chuông cầu nguyện.”
                                              
Tôi làm việc ở Côte d’Ivoire ( Phi Châu ), cách xa vợ con  bằng một lục địa, và cách xa mẹ tôi bằng nửa quả địa cầu. Những lúc buồn trống  vắng, tôi hay ra một bãi hoang gần sở làm để ngồi nhìn biển cả. Mặt nước vuốt ve  chân cát, tiếng sóng nhẹ nghe như thì thào… những thứ đó làm như chỉ dành cho  riêng tôi. Tự nhiên tôi cảm thấy như được dỗ về an ủi.  Những lúc đó, sao tôi nhớ má tôi vô cùng. Trên đời này má tôi là người  duy nhứt an ủi tôi từ thuở tôi còn ấu thơ cho đến khi trên đầu tôi đã hai thứ tóc. Ngay đến đêm cuối cùng trên quê  hương, cũng  chính trong vòng tay khẳng khiu của má tôi mà tôi khóc, khi gởi vợ gởi  con… Lúc nào tôi cũng tìm thấy ở má tôi một tình thương thật rộng rãi  bao  la, thật vô cùng sâu đậm, giống như đại dương mà tôi đang nhìn  trước  mặt.
           Bây giờ tôi hiểu tại sao tôi hay ra ngồi đây để nhìn biển  cả…Tiểu Tử

No comments:

Post a Comment