Saturday, February 11, 2017

Phim lịch sử: Bài toán của sự thật và hư cấu

Phim truyện là mảnh đất của hư cấu. Chất liệu lịch sử đưa vào, trong đó có nhân vật, không khỏi bị thay da đổi thịt theo “góc nhìn và cảm hứng sáng tạo nghệ thuật của tác giả”.
Với cách nói có vẻ cao xa và mông lung này, các nhà làm phim, chủ yếu là biên kịch và đạo diễn, cho mình quyền được tô vẽ, nhào nặn, tạo ra các hình tượng nhân vật lịch sử theo ý mình, làm nảy sinh những luồng tranh cãi không dứt với các nhà sử học.
Trước hết, xin đặt câu hỏi: Ai nắm giữ sự thật của các nhân vật lịch sử? Những ghi chép có được trong sử sách về các danh nhân lịch sử không khỏi bị biên tập qua từng biến chuyển của thời cuộc. Tiểu sử của họ hiếm khi được truyền lại một cách trọn vẹn, đôi khi một vài sự việc hoặc tình tiết được thêm vào hay rút ra, nâng cao hoặc hạ thấp tầm vóc nhân vật để phù hợp với những mục đích nào đó. Ngay cả cách giải thích, xét đoán, đánh giá những tính cách và hành động của họ cũng không phải trước sau như một, mà có thể thay đổi bởi muôn ngàn lý do. Xung quanh cuộc đời họ thường có những câu chuyện thực hư thêu dệt, lớn dần thành những giai thoại, huyền thoại được ghi vào sử sách lẫn lộn với những sự kiện có thật, khiến người đời sau khó nhìn ra con người thật của họ.
Nhìn thấy kẽ hở đó, người làm phim khi đưa một nhân vật lịch sử vào phim, cũng thấy có chỗ cho mình khám phá, len lỏi vào từng ngóc ngách để tìm cách giải thích những gì còn bí ẩn. Tướng Trần Khắc Chung giải cứu Huyền Trân Công Chúa là một sự kiện lịch sử, nhưng họ có là tình nhân của nhau không, là một dấu hỏi lớn. Luôn thắc mắc đặt câu hỏi với những gì được ghi trong sử sách là một phương cách tích cực và cần thiết để khám phá về một con người.Hẳn nhiên, người làm phim không phải nhà sử học, và bộ phim truyện lịch sử họ làm không phải là một tấm gương sử liệu phản chiếu lịch sử một cách chính xác. Nhưng họ cần giải mã những tình tiết bao quanh cuộc đời của một nhân vật lịch sử với góc nhìn nhân văn, nhằm soi rọi kỹ hơn con người này, để rồi đưa ra phương án của riêng mình, tạo nên một hình tượng đáng tin cậy.
Lấy ví vụ về một trong các vị vua nhà Nguyễn. Vua Thành Thái có những hành động điên loạn là một sự việc được ghi trong chính sử, nhưng giải thích tại sao, điên thật hay giả, với mục đích gì, là một câu hỏi đầy hứng thú cho người làm phim về cuộc đời của vị vua yêu nước này. Quan văn Nguyễn Văn Tường là một quân sư tài giỏi đã cùng với võ tướng Tôn Thất Thuyết dấy binh chống Pháp dẫn đến việc kinh đô thất thủ, phải đưa vị vua trẻ Hàm Nghi trốn lánh trong rừng sâu. Động cơ nào khiến ông trở về đầu hàng quân Pháp, có phải vì hèn yếu hay vì một kế hoạch bất thành? Đó là những vỉa khai thác dành cho sự sáng tạo của người làm phim truyện mà không sợ đụng chạm đến chính sử.
Người làm phim phải đặt câu hỏi về những chứng cứ lịch sử là một việc, còn phải đặt câu hỏi về những giai thoại thêu dệt và cả những tình tiết đang nằm trong trí tưởng tượng của mình về nhân vật mình muốn mô tả. Những hư cấu thêm vào có ý nghĩa gì, có tác dụng gì với hình tượng nhân vật, có áp đặt vô lý và trái ngược với tầm vóc của họ trong lịch sử?
Jeanne d’Arc là một vị anh thư và nữ thánh của nước Pháp, đã dấy quân chống lại quân xâm lược Anh vào đầu thế kỷ 15 lúc mới 17 tuổi. Dưới áp lực của thần quyền thời bấy giờ, tiểu sử Jeanne d’Arc ghi lại là chính Thượng đế giao cho cô nông dân nhỏ bé này sứ mạng giải cứu dân tộc. Đã có nhiều bộ phim mô tả động cơ của nhân vật lịch sử này theo chiều hướng đó. Nhưng khán giả ngày nay không còn hứng thú với các thế lực siêu nhiên, họ chỉ thích bạo lực, tình dục và những cảnh hoành tráng. Họ cũng chán ngấy những nhân vật nữ nhu mì, thánh thiện. Vì thế đạo diễn Luc Besson làm phim Sứ giả, trong đó ông mô tả cặn kẽ Jeanne d’Arc là một cô gái đầy căm thù vì những người thân trong gia đình bị quân Anh chém giết, hãm hiếp, nên cương quyết nổi loạn trả thù nhà, với những đại cảnh chiến trận đẫm máu. Như vậy, đạo diễn giới thiệu một nhân vật lịch sử với các sự kiện có thật, nhưng xây dựng lại tính cách, xử lý các tình tiết cho phù hợp với luồng tư tưởng hiện tại. Lịch sử được uốn nắn theo cách nhìn mới, dựng lên những “sự thật” mới.
Các nhân vật lịch sử là đề tài ưa thích của đại văn hào William Shaquespeare. Ông thường đặt các nhân vật và các sự kiện lịch sử vào không gian và thời gian mình mong muốn, do tự mình sắp đặt. Có thể nói các vở kịch của ông là sản phẩm của trí tưởng tượng, chỉ dựa một cách phóng khoáng vào các nhân vật lịch sử. Ông chỉ chăm chú rút ra từ lịch sử những xung đột kịch tính giữa các nhân vật và các sự kiện. Shaquespeare dồn nén thời điểm các sự kiện lịch sử, phóng đại tính cách các nhân vật và các tình tiết để phát triển tối đa kịch tính. Vì cho dù viết về lịch sử, sử dụng các sự kiện và các nhân vật lịch sử, nhưng chủ yếu ông uốn nắn cho hợp với bầu khí chính trị, xã hội và thị hiếu khán giả ở thời điểm mình đang sống.
Sống dưới triều đại nữ hoàng Elizabeth, vốn quy phục quyền lực của thánh thần, Shaquespeare xây dựng hình tượng công tước Bolingbroke như là người được Thượng đế chọn, hiền lành, đức hạnh, tài giỏi. Ngược lại, vua Richard, đối thủ của ông ta, lại là người độc ác, ích kỷ. Và kết cục làm vừa lòng mọi người, từ triều đình đến dân chúng, là Bolingbroke đánh bại Richard để lên ngôi vua, Henri IV. Tất cả chỉ vì Shaquespeare muốn phát triển câu chuyện theo kịch tính mình muốn kể. Ông không trình bày các nhân vật lịch sử theo những gì đã được ghi chép, mà bi kịch hóa cuộc sống của họ theo cảm nhận của thời đại ông đang sống.
Qua hai quan điểm trình bày nhân vật lịch sử của hai bậc thầy đó, chúng ta thấy chất liệu lịch sử như một mớ bòng bong phải tuyển lựa đánh bóng lại cho phù hợp với người xem hiện tại. Họ thà làm sai lệch lịch sử hơn là tạo ra những tác phẩm khô cứng, vô hồn. Vì ngay cả đối với các nhân vật lịch sử thời cận đại thì những giai thoại vẫn lan truyền như một mạch sử ngầm. Vì cho dầu các sử gia có nghiên cứu đầy đủ đến đâu đi nữa, thì cũng chỉ mô tả hiện tượng bên ngoài, còn bản chất bên trong vẫn chỉ là suy đoán. Độ tin cậy của sự việc lịch sử luôn cần được đào xới theo nhiều góc nhìn khác nhau. Mỗi cuộc đời nhân vật đều tồn tại những vấn đề khó hiểu. Mỗi sự việc xảy ra có ngụ ý gì đối với họ. Những người làm phim chúng ta phải tìm hiểu những gì xảy ra sau cánh cửa đóng kín của căn nhà họ. Đó mới chính là phần quan trọng của nhân vật phim truyện mà khán giả quan tâm. Đó mới là những con người thực, nơi họ vất bỏ vỏ bọc để trở thành một con người bình thường như mọi người.
Để tìm hiểu cặn kẽ các nhân vật lịch sử, ta có thể lần theo những dấu vết của xã hội nơi họ được sinh ra và lớn lên. Tính cách nhân vật thành hình và phát triển thông qua hoàn cảnh, qua những biến cố họ phải đương đầu trong cuộc sống. Mỗi vĩ nhân cũng chỉ là một cá nhân nhỏ bé nổi trôi giữa dòng chảy xã hội và lịch sử. Họ được chọn làm tiền cảnh cho cả một toàn cảnh lịch sử. Các nhân vật anh hùng của chúng ta như Kim Đồng, Nguyễn Văn Trỗi, Võ Thị Sáu… có thể tiêu biểu cho dạng nhân vật lịch sử này.
Có những nhân vật lịch sử chỉ tình cờ hoặc may mắn bám vào một cơ hội thuận lợi nào đó để vượt qua sóng gió và nổi bật lên như một nhân vật lịch sử. Có khi họ không có giá trị gì đặc biệt, chỉ là chứng nhân của một hoàn cảnh lịch sử, và được dùng như là vật mẩu nhỏ nhoi để thông qua đó nói lên cả một hoàn cảnh lịch sử. Vua Bảo Đại trong Ngọn nến hoàng cung hoặc cậu bé hoàng tử Puyi, nhân vật chính của bộ phim Vị hoàng đế cuối cùng của đạo diễn Bernardo Bertolluci chẳng hạn. Việc hư cấu thêm bớt các tình tiết quanh các nhân vật này không hề ảnh hưởng, trái lại còn tạo cơ hội cho các tác giả tô đậm thêm sự khốc liệt của một giai đoạn lịch sử.
Tới đây, không tránh khỏi có người băn khoăn: Vậy thì những hư cấu thêm thắt về một sự kiện hoặc nhân vật lịch sử trong phim có ảnh hưởng gì đến nhận thức của người xem về sự thật lịch sử? Xin thưa, đối với số khán giả chỉ muốn đắm mình một lúc vào khung cảnh của quá khứ, nhìn ngắm bối cảnh, phục trang, lối sống xảy ra cách mình hàng trăm năm, thì không hề phàn nàn. Còn đối với các nhà sử học hoặc các khán giả muốn nghiên cứu nghiêm chỉnh lịch sử, xin đừng mất công xét nét những tình tiết được cho là không thật, mà nên tìm hiểu những khác biệt so với chính sử đó được các nhà làm phim đưa vào có hiệu quả gì, từ đó rút ra được những hiểu biết thú vị. Việc đối chiếu giữa nhân vật trong phim qua xử lý của nhà làm phim với những gì được ghi trong sử sách để cùng trao đổi sẽ thúc đẩy việc nghiên cứu lịch sử sống động, xác thực hơn. Có lẽ chúng ta nên thay thế khái niệm “hư cấu” bằng khái niệm “giải mã” lịch sử.
Người xem không cần quan tâm tới việc hai nhân vật sống cách nhau hàng chục năm sao lại cùng có mặt, hoặc trong thời điểm lịch sử đó chưa xảy ra sự kiện này, sao tác giả lại đưa vào. Vấn đề là vai trò và ý nghĩa lịch sử của các nhân vật, các sự kiện này vẫn được tôn trọng, thế là đủ. Sự kiện chiến hạm Pa-chôm-kin xảy ra tại Odessa năm 1905, các thủy thủ nổi loạn và bị dìm trong biển máu khiến họ phải cho tàu chạy qua Rumani tị nạn. Sự thật lịch sử này không ngăn cản đạo diễn Sergueï Eisenstein thực hiện bộ phim về cuộc nổi loạn này với thắng lợi cuối cùng, như là một nối kết với thắng lợi của cách mạng tháng mười 1917.
Nhưng quyền hư cấu trong phim lịch sử không phải là không có giới hạn. Như bất cứ công trình nào dính dáng đến lịch sử, chuyện phim phải được xem xét theo những hiểu biết đã có về quá khứ. Nó phải nằm trong nhìn nhận chung của các thành phần khác về tầm quan trọng của sự kiện và ý nghĩa lịch sử. Đưa các nhân vật lịch sử vào phim một cách có trách nhiệm, tức công nhận các khái niệm truyền thống về ý nghĩa và vai trò của họ với lịch sử. Mọi thay đổi và sáng tạo phải thích hợp với ngữ cảnh chung của hoàn cảnh lịch sử bộ phim mô tả.
Hẳn nhiên, phim truyện không thay thế hoặc bổ sung cho chính sử, mà có vị trí và vai trò riêng trong việc phản ánh lịch sử. Đã đến lúc các sử gia phải công nhận phim lịch sử như một định dạng mới ghi lại và truyền bá lịch sử, song hành với sử viết hoặc truyền khẩu, hoặc như các thi sĩ đọc thơ sử trong các phiên chợ xưa. Một lịch sử được kể dưới dạng nghe nhìn có sự cuốn hút đặc thù của nó.
Tuy nhiên, sự khắt khe trong hư cấu các nhân vật và sự kiện lịch sử của dư luận ở nước ta khiến chúng ta khó có thể thực hiện được những phim lịch sử hay. Chúng ta e ngại khi muốn thêm “chất con người” viết thường vào các nhân vật lịch sử. Họ được hình dung xây dựng theo một hình mẫu chỉnh tề được mặc nhiên quy định, từ cử chỉ đến lời ăn tiếng nói, khô cứng và lạ lẫm. Với thời tiết nóng bức của Huế, chúng ta có thể hình dung các vua chúa đôi khi cũng phải ở trần mặc quần cụt mới chịu nổi, hoặc gặp mùa lụt, nước ngập cả kinh thành, sẽ thật thích nếu quay được cảnh vua và các quan lội nước lụt. Xem phim về nhân vật Nguyễn Tất Thành trong giai đoạn đi học ở Huế, nói vô phép, tôi rất thèm có cảnh chú cùng các bạn học nhảy tắm sông Hương hoặc dầm mình đi dưới trời mưa Huế.
Tôi cứ nghĩ, tại sao đạo diễn Martin Scorsese lại cả gan làm phim Cơn cám dỗ cuối cùng của Chúa, trong đó có cảnh chàng Giêsu trẻ tuổi đi nhà thổ để rồi làm quen với cô gái điếm Madalena, người phụ nữ theo Ngài đến giây phút cuối cùng dưới chân thập giá. Thực sự là xem xong bộ phim này, một người công giáo như tôi tìm ra được một góc nhìn về các vĩ nhân gần gũi hơn, hiệu quả hơn.
THEO THẾ GIỚI ĐIỆN ẢNH
Phim lịch sử Việt Nam: Bao giờ có phim hay? 
Sức hấp dẫn của nhiều bộ phim lịch sử Trung Quốc với khán giả nước ta rất mạnh mẽ. Thực tế này đặt ra những câu hỏi với các nhà làm phim Việt Nam về phim lịch sử Việt Nam. 
Vì sao phim lịch sử TQ hay? 
Làm phim lịch sử có hai dạng: Lịch sử theo chính sử và lịch sử theo dã sử (theo những lưu truyền của dân gian). Đã có hàng chục bộ phim về Võ Tắc Thiên - một nhân vật lịch sử Trung Quốc (TQ) và mỗi phim khai thác một khía cạnh riêng của nhân vật. Phim "Võ Tắc Thiên" đang chiếu trên VTV3 hấp dẫn khán giả vì nhiều nguyên nhân.
Những yếu tố về bản thân sức hấp dẫn của nhân vật và kỹ thuật làm phim còn có thể bắt gặp ở hàng loạt phim lịch sử TQ chiếu trên truyền hình trước đó về các vị vua Càn Long, Khang Hy, Chu Nguyên Chương, Hán Vũ Đế... hay một trong tứ đại mỹ nhân của TQ: Vương Chiêu Quân. Trong đó, sự hoành tráng của lực lượng diễn viên, về đạo cụ, đặc biệt là trang phục mà nhìn trang phục là biết ngay đời nhà Minh, nhà Hán, hay nhà Thanh... là rất rõ! Đó mới là phim truyền hình TQ, còn những phim điện ảnh bom tấn TQ như "Đại chiến Xích Bích" thì xem xong nhiều khán giả thừa nhận: Điện ảnh Việt trong hàng mấy chục năm nữa cũng chưa thể làm nổi.
Vì sao phim lịch sử, cổ trang còn thiếu?
(Cinet)- Nền điện ảnh Việt Nam những năm gần đây đã có những bước tiến vượt bậc. Nhiều bộ phim không chỉ được biết đến rộng rãi trong nước mà còn được phát sóng tại một số quốc gia trên thế giới. Đặc biệt hơn có những bộ phim đã được chọn để tham dự các Liên hoan phim quốc tế. Tuy có nhiều khởi sắc nhưng Điện ảnh Việt Nam vẫn còn trống những bộ phim về đề tài lịch sử.
Bộ phim Lý Công UẩnBộ phim Lý Công Uẩn
Thật vậy, nếu nhìn vào nền điện ảnh Việt Nam mà cụ thể là dòng phim lịch sử, cổ trang sẽ thấy số lượng phim này còn quá ít, chỉ đếm trên đầu ngón tay. Điện ảnh là kênh công cụ hữu hiệu để truyền bá văn hóa, lịch sử cho mọi thế hệ tuy nhiên người Việt hiện nay đang biết đến lịch sử của Trung Quốc, Hàn Quốc qua phim ảnh nhiều hơn lịch sử nước nhà. Đặc biệt ở tầng lớp giới trẻ, thể hiện qua kết quả của kỳ thi tốt nghiệp trung học môn lịch sử vài năm trở về đây đã minh chứng cho thấy điều này.
Theo thống kê thì Việt Nam hiện nay có khoảng 50 hãng phim của nhà nước và tư nhân đang hoạt động vậy nhưng kể cả những Hãng phim và Đài truyền hình thuộc hệ thống Nhà nước cũng không mấy mặn mà với việc sản xuất một bộ phim lịch sử dân tộc bởi còn nhiều  những nguyên nhân...?
Cảnh trong phim Đêm hội Long Trì ( ảnh trên ) và Lý Công Uẩn (ảnh dưới)
Quay ngược dòng thời gian, cách đây hơn 20 năm, cũng đã có khá nhiều nhà làm phim thử sức với dòng phim dã sử, lịch sử, cổ trang với sự ra đời của những Thăng Long đệ nhất kiếm, Lửa cháy thành Đại La, Tráng sĩ Bồ Đề... Đặc biệt, bộ phim Đêm hội Long Trì sản xuất năm 1989 do NSND Hải Ninh đạo diễn được chuyển thể từ cuốn tiểu thuyết lịch sử cùng tên của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng đã thực sự tạo nên một ấn tượng mạnh về dòng phim lịch sử Việt Nam. Nhưng cũng từ đó đến nay, trải qua hai thập kỷ, dòng phim này dường như bị ngủ vùi trong sự quên lãng khiến nó trở nên bị lép vế. Trong khi đó có một nghịch lý quá rõ là tại các hệ thống rạp chiếu và Đài truyền hình trên cả nước vẫn không ngưng phát hành, phát sóng những bộ phim lịch sử, dã sử của Trung Quốc, Hàn Quốc…
Trước thực trạng đáng báo động về thế hệ trẻ xem và biết sử Trung Quốc, Hàn Quốc nhiều hơn sử ta, Bộ VHTTDL đã có những định hướng và ưu ái dành riêng cho dòng phim lịch sử, cổ trang. Việc thế hệ trẻ không thuộc lịch sử đất nước không chỉ là lỗi riêng của ngành điện ảnh do thiếu phim  mà còn do nhiều nguyên nhân và yếu tố khác nữa. Song không thể phủ nhận được việc quảng bá văn hóa, lịch sử qua phim ảnh có sự ảnh hưởng rộng lớn. Chẳng thế mà trong nhiều cuộc hội thảo, nhiều nhà nghiên cứu đã nói: "Lịch sử là hồn phách, là cái gốc hình thành con người, hiểu lịch sử để tự hào về nguồn gốc của mình, khơi dậy tính tự tôn, niềm tự hào dân tộc". Nếu như những bài học khô khan gói gọn trong trang sách mà được thay thế bằng những đoạn phim ngắn giới thiệu về lịch sử làm công cụ trực quan sinh động qua các phương tiện giải trí, truyện tranh, phim ảnh thì có lẽ sẽ cũng có nhiều người biết, thuộc và yêu lịch sử.
Phim lịch sử Trung Quốc
Trong gần 20 năm qua, mở đầu là Thủy Hử, Hồng Lâu Mộng rồi hàng loạt các phim lịch sử, võ thuật Trung Quốc được trình chiếu. Đến khi Hoàn Châu Cách Cách được phát sóng cách đây khoảng chục năm thì một cơn sốt phim lịch sử, cổ trang Trung Quốc được khơi dậy. Vậy là trong vòng 1 thập kỷ: Từ Thanh, Tần, Hán, Đường, Minh, Tống…từ chuyện binh nghiệp đến chuyện hậu cung của Trung Quốc được người Việt Nam dần dần “học thuộc”. Một thập kỷ - người Việt Nam đã tiêu thụ một khối lượng khổng lồ phim lịch sử mang thương hiệu Trung Quốc ( Made in China). Thậm chí còn hào hứng với cả các bộ phim nói về việc Trung Quốc xâm lăng Việt Nam mà không hề hay biết. Có thể thấy tiêu biểu như trong phim Hán Vũ Đế được phát sóng trên khung giờ vàng Đài Truyền hình Việt Nam đã có đoạn Hán Vũ Đế đưa quân sang thuần phục các xứ phía Nam trong đó có nước Nam Việt. ( Mà ở đây Nam Việt chính là tên hiệu của nước ta dưới thời Triệu Đà).
Chưa kể đến năm 2004 khi bộ phim Nàng Dae Jang Geum của điện ảnh Hàn Quốc được phát sóng, một cơn bão lịch sử Hàn Quốc lại đổ bộ vào Việt Nam để từ đây trở đi nào là Truyền thuyết Jumong, nào là Vua Jung Jong, nào là Dong Yi…từ từ “ càn quét” và đi sâu vào tâm trí người dân Việt.
Chỉ sơ qua như vậy đã thấy ở cả hai khía cạnh lịch sử, văn hóa đặc biệt là sự tuyên truyền, quảng bá lịch sử qua phim ảnh, truyền hình thì Việt Nam đã bị yếu thế hơn rất nhiều dù vẫn biết thực tế là do nhiều nguyên nhân.
Bộ phim Nàng Dae Jang Geum của Hàn Quốc
Việc nên đầu tư cho điện ảnh tham gia sản xuất những bộ phim về đề tài lịch sử của Dân tộc cũng sẽ là một kênh tuyên truyền quảng bá rất sinh động, giáo cụ trực quan trong giáo dục về lịch sử hiện có. Hơn nữa việc phát sóng trên các kênh truyền hình cũng chính là phương tiện truyền thông hữu hiệu nhất khi có đến 2/3 người dân Việt vẫn thường xuyên sử dụng truyền hình như là phương tiện giải trí hàng ngày.
Muốn thay đổi và hiện thực hóa được những vấn đề đã nêu, có lẽ Việt Nam cần có một ngành công nghiệp sản xuất phim lịch sử, cổ trang xứng tầm, khỏa lấp một thị trường lớn đang để ngỏ và quan trọng hơn là đáp ứng lại sự mong mỏi của người dân cũng như thực hiện một nhiệm vụ vô cùng to lớn đó là tuyên truyền lịch sử hào hùng của cả dân tộc. (còn tiếp)
- See more at: http://cinet.vn/articledetail.aspx?articleid=18805&sitepageid=418#sthash.raa1SspV.dpufSố lượng sản xuất phim lịch sử, cổ trang của Việt Nam còn ít, đầu ra thị trường gặp nhiều khó khăn do sức hấp dẫn, thị hiếu hiện tại. Cùng tìm hiểu nguyên nhân và một phần lời giải vì sao...?
Cảnh trong phim Cảnh trong phim " Thiên Mệnh anh hùng".
Theo ý kiến của GS Đinh Xuân Dũng - Ủy viên thường trực hội đồng lý luận phê bình Văn hóa Nghệ thuật Trung Ương từng chia sẻ thì: Điện ảnh không chỉ đơn thuần là một nghệ thuật, nó là một nền công nghiệp. Nhiều người không hiểu được điều này nên cũng khó để trả lời được câu hỏi vì sao Việt Nam làm phim chưa hay và vì sao dòng phim lịch sử cổ trang còn thiếu... ? Một bộ phim không chỉ phụ thuộc vào diễn viên hay đạo diễn mà để có một bộ phim hay là phải phụ thuộc vào cả một nền công nghiệp điện ảnh với dây chuyền công nghệ đồng bộ, hiện đại gồm một nền khoa học hiện đại với những kỹ thuật tiên tiến nhất…Điều này ở Việt Nam hoàn toàn chưa có.
Như đã nói cách đây khoảng 20 năm, Điện ảnh Việt Nam đã có thời kỳ có những bộ phim lịch sử hay nhưng sau đó dòng phim này lại chìm vào quên lẵng cho đến năm 2010, cùng với sự kiện 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, một loạt các dự án phim lịch sử, cổ trang được lên kế hoạch thực hiện, Người dân Hà Nội nói riêng và cả nước nói chung rất hào hứng, chờ đợi để được thưởng thức phim lịch sử Việt Nam. Song khi đại lễ 1000 năm Thăng Long kết thúc thì những dự án phim đó cái thì đang thực hiện dở, cái thì đã hoàn thành song không được phát sóng, cái thì phải sửa đổi nội dung…Cuối cùng thì phim lịch sử, cổ trang lại một lần nữa chìm vào hư không. Vì đâu như vậy?
>Những nguyên nhân tác động bên ngoài
Trước Đại lễ hầu như hãng phim được tham gia dự án sản xuất phim đều rất hăm hở cố gắng hết mình để kịp tiến độ. Chưa nói đến kinh phí sản xuất, riêng sức lực và tâm huyết bỏ ra cho một bộ phim lịch sử cũng khó mà cân đo, đong, đếm được. Chính vì thế các hãng phim đều chờ đón ngày “ những đứa con tinh thần” của mình được ra mắt công chúng. Công chúng cũng vô cùng háo hức để đến ngày được thưởng thức “sản phẩm lịch sử Việt Nam”. Nhưng sự chờ đợi đó đã nhanh chóng trở thành sự tiếc nuối và thất vọng vì có quá nhiều sự cố xẩy đến với các dự án phim lịch sử. Phim thì dính kiện cáo khi chưa kịp công chiếu; phim khởi quay được một nửa thì suýt bị dừng, phim phải sửa kịch bản năm lần, bảy lượt để được lên sóng; phim thì chưa công chiếu đã bị dư luận phản đối; phim thì ồn ào vì thay đổi diễn viên….
Long Thành Cầm Giả Ca trở thành đề tài đàm tiếu của nhiều nhà văn hóa khi “ mâm cỗ ngàn năm” chỉ có độc một cô đào hát.
Cảnh trong phim Long Thành Cầm Giả Ca
Lý Công Uẩn – đường tới thành Thăng Long là bộ phim lịch sử cổ trang dài 19 tập do công ty Cổ phần truyền thông Trường Thành đầu tư, sản xuất. Đây có thể xem là bộ phim gặp nhiều sóng gió và tác động bên ngoài nhất. Dù mới chỉ đang trong thời gian quay, bộ phim đã bị dư luận ồn ào phê phán, đòi tẩy chay..do bị các nhà sử học chê và phê phán về một vài yếu tố sai lịch sử cũng như tinh thần của bộ phim.
Bên cạnh đó việc dư luận, báo chí mổ xẻ đến từng chi tiết nhỏ nhất của phim, rồi những bài báo chụp cảnh hâu trường bộ phim được tung lên các trang mạng theo đó là sự chỉ trích, bình luận theo hướng tiêu cực của dư luận khiến cho nhiều nhà sản xuất phim muốn “ bỏ của chạy lấy người”.
Phim Lý Công Uẩn - Đường tới Thăng Long...Bộ phim bị phản đối dữ dỗi từ phía công chúng và các nhà sử học.

>>Những khó khăn, vướng mắc bên trong
Mặc dù những chuyện lùm xùm với nhiều dòng dư luận gây nhiều ảnh hưởng đến việc sản xuất phim nhưng vẫn chưa thấm tháp vào đâu so với những khó khăn vướng mắc từ bên trong ngành sản xuất phim. Với những dự án phim lịch sử cổ trang, đoàn làm phim nào cũng kêu trời vì thiếu trường quay. Phim nào cũng phải dựng bối cảnh từ đầu, đa phần phải di chuyển đến nhiều địa phương để quay. Phim Thái sư Trần Thủ Độ và phim Lý Công Uẩn – Đường tới Thăng Long phải sang Trung Quốc thuê trường quay. Chính vì thế kinh phí bị đội lên gấp nhiều lần. 
Một góc cung nhà Tần tại Trường quay Hoành Điếm, Trung Quốc được dựng với kích thước gần như thật.

Tiếp đến câu chuyện lỗ, lãi cũng là một trong những vướng mắc của các dự án phim lịch sử. Nếu như các phim truyền hình lấy bối cảnh hiệu đại, mức giá trung bình thường dao động từ 200-300 triệu đồng cho 1 tập. Nhưng với phim lịch sử thì khác, giá cho mỗi tập phim rẻ là 450 triệu còn không thì phải lên đến 1,5 tỉ đồng cho một tập phim. Nếu như phim phải thuê trường quay tại Trung Quốc thì giá cho một tập phim lên đến 5 tỉ đồng.( như phim Lý Công Uẩn – Đường tới Thăng Long). Với chi phí cao gấp cả chục lần mức giá bình thường áp dụng cho các phim truyền hình hiện nay thì có thể nói đầu tư cho phim truyền hình lịch sử là cuộc chơi quá mạo hiểm. Đó là chưa kể đến so với các phim thị trường thì dạng phim lịch sử rất khó hút khách. Phim truyền hình đã vậy phim nhựa chiếu rạp còn thê thảm hơn nhiều khi kinh phí bỏ ra thì lớn song thu về thì vô cùng gian nan. Với những phim được nhà nước đầu tư như Long Thành Cầm Giả Ca thì bài toán lỗ lãi có lẽ it phải nghĩ đến nhưng với những phim do tư nhân bỏ tiền như Khát vọng Thăng Long thì tiền thực sự là vấn đề. Chi phí cuối cùng của một bộ phim cũng như doanh thu của phim chưa được hãng phim nào công bố nhưng cứ nhìn vào thời gian ra rạp ngắn ngủi của phim ai cũng có thể đoán được phim có thu hồi nổi vốn hay không.
Bên cạnh đó, với lịch sử hào hùng của Dân tộc hơn 4000 năm song kịch bản phim dành cho dòng phim này quá ít, các tư liệu lịch sử liên quan cũng thiếu ...Công cụ hỗ trợ để dựng phim và đóng phim lại càng thiếu, các đoàn làm phim lịch sử đều phải tự tìm cách đặt hàng trang phục và đạo cụ. Trong khí đó ở nước ngoài không chỉ trường quay mà cái gì cũng có sẵn. Lấy ví dụ như ở trường quay Hoành Điếm – Trung Quốc có hẳn 1 cái làng lớn chuyên làm các đạo cụ phục vụ làm phim như súng, gươm, đao, trang phục từ vua đến dân…Ngựa thì lúc nào cũng sẵn hàng trăm con để cho thuê, người dân trong làng ai cũng có thể vào vai diễn viên quần chúng…
Kho đạo cụ diễn với đủ các loại binh khí, gươm, súng...

Khó khăn vướng mắc nữa của các dự án phim lịch sử đó là diễn viên. Diễn viên phim lịch sử thì phải nắm được cái “chất lịch sử” để diễn, phải biết cưỡi ngựa, cầm gươm, võ thuật…song nếu đòi hỏi như vậy thì ở Việt Nam có mấy diễn viên hội tụ đủ các yếu tố đó?
Một đoàn làm phim đang chuẩn bị cho cảnh quay bên trong cung nhà Tần tại trường quay Hoành Điếm - nội thất bên trong cung được dựng hoành tráng như thật.
Từ những chi tiết kiến trúc nhỏ nhất đến lớn đều có tại trường quay
Ngai vàng cũng được dựng lại theo đúng kích thước thật..

Chưa hết để có thể có một bộ phim lịch sử cổ trang hay thì không phải chỉ cần có đạo diễn và diễn viên hay có trường quay đẹp, có nhiều tiền mà để có một sản phẩm lịch sử đúng chất thì còn cần có sự góp mặt của cả nhà sử học, nhà văn hóa và nhà biên kịch giỏi. Điều này ít có ở Việt Nam, các dự án phim lịch sử trong thời gian qua chưa thấy có bóng dáng của nhà văn hóa trong đó, còn các nhà lịch sử thì đa phần chỉ đóng vai trò nhà báo khi soi xét các bộ phim..
Một góc trong trường quay Hoành Điếm nơi được chọn để quay bộ phim Lý Công Uẩn..Vì phải thuê trường quay và đạo cụ của Trung Quốc nên bộ phim bị phản đối gay gắt vì giống phim Trung Quốc hơn phim Việt Nam

Với vô vàn những khó khăn tác động bên ngoài và những vướng mắc bên trong, thử hỏi làm sao Việt Nam có thể có những bộ phim lịch sử cổ trang? Và điều này giải thích lý do vì sao điện ảnh Việt Nam đến giờ này thị trường phim lịch sử, cổ trang vẫn còn bỏ ngỏ. (còn tiếp)
Nguyễn Hương
Phim lịch sử Việt: Hiếm và chưa hay!
 Hình ảnh quảng cáo phim "Ngọn nến hoàng cung"
Phim truyền hình lịch sử VN đầu tiên bị chê bai tan nát là "Hoàng Lê nhất thống chí". Phim điện ảnh lịch sử VN đầu tiên là "Đêm hội Long Trì" cũng bộc lộ nhiều điểm yếu.

Những năm gần đây trong khi phía bắc có phần im ắng thì phía nam, một số phim lịch sử của Hãng phim Truyền hình TPHCM (TFS) xuất hiện như "Ngọn nến hoàng cung", "Dưới cờ đại nghĩa", "Trùng quang tâm sử"... trong đó khá nhất là "Ngọn nến hoàng cung" (45 tập của đạo diễn Nguyễn Quốc Hưng; đã đoạt giải tại LHP truyền hình toàn quốc). Nhưng ngay cả "Ngọn nến hoàng cung" cũng mới được công chúng tạm chấp nhận, chứ chưa phải thật sự thích thú. Các phim trên làm về thời kỳ gần với thời hiện đại (triều Nguyễn, Vua Bảo Đại...) nên tư liệu lịch sử còn nhiều và trang phục lại không quá cầu kỳ. Dù vậy, trang phục và đạo cụ vẫn luôn là điểm yếu của phim lịch sử VN, cũng như khả năng dàn dựng các đại cảnh.
Về điện ảnh, dự án làm phim kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long- HN khá hoành tráng là "Thái tổ Lý Công Uẩn" với vài trăm tỉ đồng, cuối cùng cũng bị dừng vô thời hạn!
Việc thiếu vắng các phim lịch sử VN hay không khó để lý giải. Tư liệu về lịch sử các triều đại (Lý, Trần, Lê) là rất ít. Phim trường giờ vẫn chưa có, nên khả năng quay trong mọi hoàn cảnh, điều kiện thời tiết là bất khả thi. Công nghệ kỹ xảo phim Việt còn yếu kém. Lực lượng diễn viên thiếu và yếu. Đạo diễn, có nhiều người ham thích đề tài lịch sử, nhưng biết lao vào đề tài hóc hiểm này chẳng khác lao đầu vào đá, xác suất thành công rất thấp, nên không mặn mà.
Hai yếu tố khác không kém phần quan trọng là kinh phí phim lịch sử đòi hỏi rất cao và quan điểm nghệ thuật của đạo diễn làm phim với các cố vấn về lịch sử là không đồng thuận. Những cuộc tranh luận dai dẳng về kịch bản phim "Thái tổ Lý Công Uẩn" là minh chứng rõ nhất gần đây.
Vì thế, phim lịch sử VN vẫn là món nợ với các nhà làm phim VN. Đó là chưa kể ngay phim lịch sử VN về thời hiện đại, về hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ của dân tộc, về các nhân vật lãnh tụ cũng chưa thành công. Nhưng đó lại là một câu chuyện dài khác...
(HNM) - Nghệ nhân Việt Cường (sinh năm 1964) là người chế tác trang phục giáp trụ cho các nhân vật lịch sử, từng hợp tác với nhiều đoàn làm phim trong đó có phim truyện nhựa "Thiên mệnh anh hùng". Anh là đối tác được các đoàn làm phim về lịch sử, dã sử đặc biệt chú ý trong thời gian gần đây. Báo Hànộimới có cuộc trò chuyện với nghệ nhân Việt Cường về công việc thú vị này.

Trang phục trong phim “Thiên mệnh anh hùng”.


- Tại sao anh quyết định gắn bó với nghề chế tác giáp trụ mà không tiếp tục con đường diễn viên, thiết kế đạo cụ như trước?
- Lý do đầu tiên để tôi chế tác những bộ giáp trụ là vì lòng tự hào dân tộc. Xem những bộ phim lịch sử, dã sử Trung Quốc, thấy giáp trụ mà tướng lĩnh và binh sỹ mặc trông rất oai phong, giống như đúc bằng đồng và sắt thép, còn trang phục phim cổ trang của ta thì lộ rõ là may bằng vải và simili rồi tán vài cái đinh rive lên cho ra vẻ hầm hố… Ngoài ra, cha tôi vốn là một nghệ nhân ngành giày nên tôi đã tranh thủ được kiến thức của ông để ứng dụng vào sản phẩm của mình. Nghề dạy nghề, tôi đã chế tác ra nhiều sản phẩm cho nghệ thuật điện ảnh, sân khấu, mỹ thuật… Phim điện ảnh mới nhất mà tôi tham gia chế tác giáp trụ là “Thiên mệnh anh hùng”. Mới đây, tôi chế tác một số mũ dành cho lính Pháp trong một bộ phim về cụ Phan Bội Châu.

- Chúng ta vốn thiếu các nguồn sử liệu liên quan đến trang phục lịch sử, anh khắc phục hạn chế này thế nào khi chế tác giáp trụ?

- Tôi chỉ là một người chế tác chứ không phải họa sĩ hay người thiết kế trang phục nên tôi phải dựa trên bản thiết kế của họa sĩ, đồng thời chủ động tìm hiểu thêm trong sách sử, các nguồn mỹ thuật, phim ảnh khác và ứng dụng công nghệ vật liệu để hoàn thiện sản phẩm. Nghệ thuật điện ảnh cũng cho phép cách điệu đôi chút nên tôi cũng không bị quá gò bó. Tôi rất không đồng tình việc một số người cho rằng, vào thời Lý, Trần, ta không có giáp đồng, giáp sắt và chỉ có giáp mây, tre… Chúng ta tự hào với trống đồng và kỹ thuật đúc tinh xảo từ mấy nghìn năm trước. Lịch sử chống ngoại xâm cũng cho thấy tướng lĩnh của ta không thể chỉ biết mặc vỏ cây ra trận để đối đầu với những đội quân trang bị đầy đủ giáp trụ, binh khí.

- Việc hoàn thiện một bộ giáp trụ diễn ra như thế nào, thưa anh?
- Từ mẫu thiết kế, tôi ra mẫu ráp (trên bìa cứng) sau đó cắt trên chất liệu thực tế, tiếp theo là tạo hình theo cơ thể nhân vật, chế tác các hoa văn trên áo, tạo vết gồ để cho giống vết gồ đồng. Sau khi phun màu cho các chi tiết thì lắp các bộ phận lại với nhau. Chất liệu cho giáp trụ của tôi có đặc điểm dẻo, dễ cử động, an toàn cho cascadeur (người đóng thế) với những pha hành động mạo hiểm và mỗi bộ giáp chỉ nặng bằng 1/3 so với áo giáp do Trung Quốc sản xuất.

- Sắp tới, anh sẽ hợp tác với phim nào?
- Hiện tại, tôi đang chế tác mẫu giáp trụ cho một bộ phim truyền hình dã sử và sắp tới là một dự án phim khác về Điện Biên Phủ. Tôi hy vọng những đóng góp nhỏ bé của mình sẽ giúp ít nhiều cho phim lịch sử, dã sử Việt Nam.

- Chân thành cảm ơn anh!
Mỹ Linh thực hiện

No comments:

Post a Comment