Monday, February 13, 2017

Bài viết hay(4529)

Từ ngày có Trump, báo đài Mỹ ngày nào cũng có tin để "tám" trong khi dân Mỹ tha hồ chia phe bênh và chống. Dĩ nhiên cũng có đa số thầm lặng cóc thèm care đứa nào làm TT Mỹ miễn sao có job là Ok. Bấy lâu nay dân Mỹ vẫn có "truyền thống" là da trắng ngồi trên hết, da đen và Mễ thì đa số chỉ làm lao động chân tay, da vàng như Mít ta thì ở giữa lưng chừng nhưng được cái là lúc nào cũng ngoan hiền, dễ bảo, dễ sai khiến, làm việc cần cù, siêng năng mà cũng hà tiện để dành tiền mua xe, tậu nhà, tạo credit tốt. Thích nhất là những cái ghetto mang tên Little Saigon, Little Tokyo, Thai Town, Korea Town, Chinatown... Cứ thế mà "share phòng, share tình" cho vui chứ da vàng ít dám chống đối ai hết bởi vì "thân phận nhược tiểu" rất hiểu chuyện "an phận thủ thường"! Trump ghét Rệp, Mễ hay da đen chứ hơi sức đâu để ý đến da vàng cho dù Mỹ thừa biết chuyện gì da vàng cũng dám làm ...bậy! Thử hỏi: Bolsa có di dân lậu, trốn thuế không? Dân nail trốn thuế nhằm nhò gì so với Trump? IRS truy thuế dân nghèo chứ đời nào dám mó dái Trump? Coi Trump giàu bạc tỷ vậy chứ trốn thuế cũng cả tỷ !

Treo cổ trâu, chém lợn có nên xem là văn hóa?

Trong thời gian lễ hội Tết vài năm qua, miền Bắc rộ lên những hình ảnh bị cho là quá bạo lực trong khi thực hiện các nghi lễ truyền thống. Hình ảnh một chú lợn được mang ra giữa làng, người đại diện cầm thanh đao thật dài chặt ngang mình nó, máu lợn được dân làng cầm tiền nhúng vào để lấy may mắn làm cho nhiều tổ chức văn hóa thế giới lên án vì quá dã man trong một nghi thức được xem là văn hóa.
Những hành động dã man
Năm nay người dân cả nước lại được xem những khúc phim video quay cảnh treo cổ chú trâu lên cây đến chết rồi sau đó dân làng xẻ thịt chia nhau. Hình ảnh con vật hiền lành dãy giụa khi bị xử tử đã gây không ít giận dữ trong dư luận và hàng ngàn ý kiến xuất hiện trên mạng xã hội cho thấy sự không đồng tình ngày càng cao và hầu như mọi ý kiến đều lên án một cách gay gắt, đôi khi đi tới chỗ cực đoan, đạp đổ.
Chưa hết, con trâu vốn là bạn của người nông dân từ nhỏ cho tới khi chết già, bị đem ra giữa làng cột chặt vào cột, một người cầm rìu bổ thằng vào sọ của nó. Trong khi còn đang loay hoay với chiếc lưỡi rìu trong óc, con vật đáng thương tiếp tục bị một người làng cầm rựa chặt phăng sợi gân chân khiến nó sụm xuống và lết trên mặt đất trước khi tắt thở. Hình ảnh gây sốc này không thể biện minh bằng bất cứ ngôn ngữ nào trong thời đại mà loài người cấm kỵ hành hạ những vật nuôi, kể cả con vật ấy được dùng vào việc giết thịt.
Tiến sĩ Mai Thanh Sơn, nhà nghiên cứu văn hóa đang công tác tại Viện Khoa học xã hội miền Trung và Tây Nguyên, tại Đà Nẵng cho biết:
Thật ra những lễ hội nó có những tính chất cá biệt như là chém lợn hoặc là treo cổ trâu. Ngay cả tại Tây nguyên những lễ hội ăn trâu thì đó là những lễ hội mang tính tiều vùng hoặc từng địa phương của làng thật ra nó không có gì mang tính man rợ cả. Trên thế giới có rất nhiều lễ hội liên quan đến việc sát sinh như lễ hội tàn sát cá voi ở Nhật chẳng hạn. Hoặc là ở vùng Bắc Âu cũng có lễ hội liên quan đến giết cá voi. Thật ra nó liên quan đến tín ngưỡng cổ xưa người ta dùng những con vật ấy làm vật hiến trưng, thay thế cho con người. Về truyền thống thì vật hiến trưng chết thế cho con người. Đấy là một cách lý giải. Cách lý giải thứ hai nó có tính chủ quan của các nhà nghiên cứu đó là những con vật ấy có tính thông linh giữa con người với trời đất tổ tiên.
Truyền thông
Báo chí là nơi lan truyền tất cả những hình ảnh không đẹp về cung cách tham gia lễ hội của quan chức và người dân. Trong những lễ hội có tính cách tâm linh như giật phết, xin ấn, hay ban phát lộc đã cho thấy hình ảnh những con người chồng đạp lên nhau để giành giật những thứ chỉ có ý nghĩa biểu tượng. Tất cả cách hành xử này đi tới kết luận của người quan sát rằng nền văn hóa lễ hội của Việt Nam đặc biệt tại miền Bắc đã tiến tới tận cùng của sự tha hóa nhân cách và điển hình cho sự tàn ác tiềm ẩn trong dân chúng.
000_838HW-400.jpg
Nam thanh niên Việt Nam tham gia lễ hội cướp phết hàng năm ở Phú Thọ hôm 20/2/2016. AFP photo
Nhận xét vai trò báo chí truyền thông trong cách đưa tin, TS Mai Thanh Sơn cho biết:
Câu chuyện ấy nó sẽ không là cái gì cả, không thành vấn đề nếu như nó chỉ trong phạm vi thôn làng thôi, thế nhưng trong câu chuyện này nó liên quan tới sự thổi phồng của báo chí. Nó liên quan đến việc can thiệp từ phía chính quyền. Liên quan đến sự dòm ngó, hiếu kỳ của số đông và bình phẩm từ bên ngoài để nó trở thành một vấn đề xã hội. Tuy nhiên những tục tranh cướp này khác trong những hội có tính chất mô phỏng lại việc đấu tranh giữa con người với thiên nhiên hay giữa các thể lực xã hội với nhau thì nó có từ xưa chứ không phải bây giờ mới có. Đặc biệt là với thông tin nhanh nhạy của các phương tiện nghe nhìn, rồi Internet thì nó trở thành những câu chuyện xã hội mà đôi khi người ta phê phán nó với cách phê phán của người ngoài cuộc.
Cá nhân tôi thấy rằng chuyện ấy cũng không có gì quá đáng cả, chuyện ấy hết sức bình thường. Tố cáo nó vô văn hóa là như thế này. Cái chính là những phương tiện mới phát sinh gần đây như tranh cướp ấn, tranh cướp lộc hay tranh cướp những linh vật trong các lễ hội như Hội Đền Gióng chằng hạn. . .những cái đó thật đáng phê phán. TS Trần Trọng Dương có viết một bài cho rằng đây là cuộc khủng hoảng các giá trị nhân văn và tôi cho rằng đây là một quan điểm rất đúng.
Khi chúng ta nhìn vào những gì mà báo chí gọi là tiêu cực hiện nay thì nó không hẳn hoàn toàn là tiêu cực và ta cần có một cái nhìn khách quan hơn. Với tư cách là một nhà nghiên cứu tôi nghĩ chúng ta cần khách quan trong việc nhìn nhận cái nào là cái tiêu cực, nó bắt đầu từ sự khủng hoàng giá trị nhân văn như TS Trần Trọng Dương nói mà chúng cần được phê phán. Cái gì là hiệu ứng số đông, phản cảm vô văn hóa. . .còn những cái gì liên quan đến tín ngưỡng của buôn làng, của cộng đồng có liên quan tới truyền thống cổ xưa thì người ta cần xem lại cách quản lý của nó dựa trên pháp luật. Quản lý nó phải dựa trên pháp luật chứ không phải dựa những phê phán hay dựa vào hiệu ứng số đông.
Sẽ không tái diễn?
Về mặt nhà nước, vai trò của các cơ quan văn hóa đã tỏ ra trách nhiệm khi UBND tỉnh Yên Bái ra lệnh cấm tục lệ treo cổ trâu trong những lần tới. Lễ hội chém lợn cũng bị ngay tại địa phương phản ảnh và người dân đã không còn tổ chức giữa làng như mọi năm mà khoanh vùng lại ở một nơi kín đáo hơn.
024_240899-400.jpg
Người dân đi lễ chùa trong ngày năm mới. Ảnh chụp tại một ngôi chùa ở thành phố Hồ Chí Minh hôm 11/3/2016. AFP photo
Nói về việc cấm đoán TS Mai Thanh Sơn cho biết:
Trong tất cả các bộ luật ấy thì chúng ta cần những tiêu chí rõ ràng cái nào nó phù hợp với những tiêu chí văn minh nhân loại cái nào phù hợp với nguyên lý cơ bản của quyền con người, cái nào phù hợp với nguyên tắc bảo tồn thiên nhiên thì chúng ta được phép bảo vệ, tôn vinh còn cái gì vi phạm những cái đó thì nhà nước phải đưa ra cái bộ luật quản lý cho phép hay không cho phép. Đấy là cái điều rất quan trọng
Các bộ luật Việt Nam hiện nay liên quan đến lễ hội liên quan đến chấp hành văn hóa tâm linh và liên quan đến các quyền con người về cơ bản nó còn nhiều lổ hỗng và chính vì thế cho nên đôi khi chúng ta phê phán không dựa trên các cơ sở về quyền con người hay các cơ sở luật pháp mà chủ yếu dựa vào cảm tính và hiệu ứng số đông đấy là những gì đang diễn ra tại Việt Nam
Một tin khác có lẽ quan trọng và ý nghĩa nhất lại xảy ra trên Tây nguyên khi có tới 90 làng của tộc người Cơ Tu bỏ tục đâm trâu, mặc dù truyền thống này không thể thiếu trong văn hóa của họ hàng trăm năm qua.
Người Cơ Tu tuy đâm trâu vào dịp lễ nhưng cách mà họ tổ chức đâm trâu khiến cho người Kinh phải tham khảo và nhất là các chuyên gia nghiên cứu văn hóa lễ hội khó thể xem đây là hình thái bạo lực qua cách mà họ đối xử với con trâu trước khi bị đâm giữa làng.
Theo báo Tuổi Trẻ ghi lại thì “đêm trước lễ đâm trâu người Cơ Tu thường làm lễ Nơơi, tức là lễ khóc tế trâu. Các cụ già thức đến sáng để khóc tế con trâu của mình. Nội dung tế trâu là nói lên câu chuyện đời ẩn uất, đau xót, khổ ải, cả đời lam lũ vẫn nghèo khó...
Cũng theo Tuổi Trẻ thì “khóc tế trâu là thể hiện lòng yêu thương con người với con người, thương trâu cả đời cực nhọc nay phải hiến xác thịt cuối cùng cho con người. Thường 5-6 người ngồi khóc tế thương tiếc trâu bên ngọn lửa cháy giữa sân làng với tiếng trống ngắt nhịp 1-2-1 đến khi trời sáng”.
Người Kinh không có những nghi thức tế nhị và nhân văn như thế. Con trâu bị treo cổ, bị bổ vào đầu bị chặt nhượng chân trong tiếng cười nói ồn ào phấn khích của đám đông, không ai để ý tới sự đau đớn của nó huống chi lòng biết ơn sự trắc ẩn công lao của nó đối với vựa thóc nhà mình.
Nhận xét về điều này TS Mai Thanh Sơn chia sẻ:
Việc phê phán văn hóa hay phê phán hiện tượng phản cảm vô văn hóa thì tôi luôn nghĩ rằng nó mang dấu ấn chủ quan. Cái mà mình cho là phản cảm thì cộng đồng người ta lại nghĩ khác. Cần những tiêu chí rõ ràng và cách quản lý lễ hội mà dựa trên luật pháp thì chúng ta phải đặt ra tiêu chí thế nào là phản cảm, Thế nào là những tiêu chí thuộc về văn hóa mà được phép thực hành còn những cái gì không thuộc tiêu chí văn hóa, tiêu chí quốc tế thì chúng ta không được phép thực hành.
Câu chuyện thứ ba mà tôi muốn nói đến là chúng ta nhìn nhận vấn đề dưới góc độ người Việt hay dưới góc độ của phương Tây thì chúng ta đều phải dựa trên một tiêu chí rất cơ bản đó là tiêu chí quyền về văn hóa, tiêu chí về nhân quyền. Trong 5 cái quyền cơ bản của con người có cái quyền về văn hóa. Nhà nước trước đây cấm các quyền văn hóa liên quan đến tâm linh thì chúng ta phê phán họ là vi phạm nhân quyền. Thế bây giờ nhà nước cho phép thực hành tái tạo hoặc là tái thực hiện lại quyền văn hóa tâm linh. Từ khi người ta khôi phục lại hoặc sáng tạo hay khôi phục nhân bản thì chúng ta lại cho là thái quá, đẩy từ thái cực này sang thái cực kia và rồi chúng ta nghĩ đến chuyện cấm. Ta quên điều này cấm hay không cấm anh phải dựa trên vấn đề rất cơ bản đấy là cái quyền về văn hóa của cá nhân và của các cộng đồng.
Câu chuyện đang đặt ra ở đây theo quan điểm của tôi thì chúng ta phải xác định, trước hết chúng ta phải tôn trọng cái quyền văn hóa. Thứ hai nữa không phải nhà nước cấm hay không cấm mà nhà nước phải dựa vào cái hệ thống luật pháp liên quan đến di sản, liên quan đến văn hóa, liên quan đến việc thực hành văn hóa.
Nhìn ở một khía cạnh khác về văn hóa, không thể kết luận đám đông một cách tùy tiện mà nên xem xét nội dung cùng ý nghĩa thật sự phía sau những nghi thức dã man khó chấp nhận trong thế kỷ 21, khi con người văn minh và tiếp cận nhiều hình ảnh nhân đạo hơn đặc biệt là đối với súc vật, không riêng một loại nào.
Theo TS Mai Thanh Sơn, người ta cần xem xét lại từng góc cạnh của vấn đề và đừng nên dựa vào cảm tính, ông chia sẻ:
Điều quan trọng nhất ở đây là nó luôn luôn dựa vào cảm tính. Nó luôn luôn chủ quan của người viết hoặc người quan sát và khi nó đưa ra rồi thì phản ứng của số đông bắt đầu hình thành lên những nhóm khác nhau nhưng người ta quên mất một điều rằng là những nhóm ấy nó chưa phải là đại diện cho bất kỳ một cái gì có tính cách chính thống cả nó chỉ là các nhóm xã hội không chính thức. Điều nó hơi bất cập ở Việt Nam đôi khi từ phía nhà cầm quyền lại dựa vào hiệu ứng số đông. Người ta quên mất là nhà cầm quyền điều hành đất nước phải dựa trên hiến pháp, luật pháp và hiến pháp luật pháp ấy phải phù hợp thông lệ quốc tế, nó phải phù hợp tuyên ngôn về nhân quyền và công ước quốc tế về quyền con người.
Cả hai thái độ đều có mặt tích cực và tiêu cực. Lựa chọn đúng bao giờ cũng khó khăn nhất là cho một hướng hành xử hợp lý về văn hóa truyền thống trong lễ hội, điều mà xã hội cần vài trăm năm để định hình không lẽ chỉ một vài năm để tiêu diệt hay cải cách chúng, nhất là những phạm trù tâm linh đầy tranh cãi?
Mặc Lâm, biên tập viên RFA
2017-02-11

Hữu Thỉnh: Tổng bí thư Đảng Thơ

Thơ, vốn là những câu vần vè của người bình dân khi cao hứng giữa đồng ngân nga trêu chọc nhau hay ước muốn mưa thuận gió hòa, thôn xóm bình an, gia đình sung túc. Đó là vài trăm năm trước.
Thơ, bước vào đời sống văn học là trăn trở phận người, là hào khí chống giặc, là tình yêu lứa đôi, là triết lý sống hay trăn trở về số phận. Thơ lúc ấy trở thành thi ca. Là nữ hoàng của mọi thể loại văn học. Thơ có một lúc đầy hào quang, ánh sáng mỹ học và như mọi cuộc dấn thân khác, thơ cần tồn tại bằng chính sự sáng tạo. Thơ hôm nay không còn tiếp tục sáng tạo, nó ê a cái cũ, nó ca tụng cái không còn đáng ca tụng, nó như con tắc kè thay màu da khi cuộc sống tác động lên nó. Thơ suy nghĩ theo hướng danh và lợi, hai thứ vốn rất xa lạ với thơ, ngay cả với một câu thơ dở nhất.
Thơ lâu ngày bị quên lãng vì nó không được sáng tác bởi những ngòi bút không cần lĩnh lương. Thơ thật sự bế tắc hiển nhiên ra đó, in gì thì in nhưng nói tới in thơ là nhà xuất bản không cần hỏi lại câu thứ hai, vất.
Nói vậy cũng tội cho thơ. Thơ “chín” vẫn được người đọc thấm thía lắm. “Nước mình lạ quá phải không anh” không cần in, không cần loa phường, thậm chí không cần ông Hữu Thỉnh tuyên dương nó vẫn nằm sâu trong tim vài triệu người đọc.
Có lẽ vì vậy mà ông Hữu Thỉnh bực mình. Ông không muốn cái Hội Nhà văn vốn nuốt vài chục tỉ mỗi năm của ngân sách nhà nước lại chằng có cái gì đình đám. Vậy là ông cùng một số tay cơ hội theo đuổi, nâng cấp, chải chuốt và màu mè tổng lực cái “ngày thơ” rất ấm ớ này. Mục tiêu của nó tuy mờ mịt nhưng ý đồ thì ai cũng thấy: “Ngày Thơ Văn Miếu” sẽ đóng dấu ấn lên cái tên Hữu Thỉnh.
Chủ đề xuyên suốt của Ngày thơ Việt Nam lần thứ 15 là "60 năm Hội Nhà văn Việt Nam đồng hành sáng tạo cùng đất nước". Không biết trong 60 năm đó ông Hữu Thỉnh làm chủ tịch bao nhiêu lâu, nhưng ai cũng tin rằng độ lì bám ghế của ông không hề thua ông Nguyễn Phú Trọng. Thậm chí có người nhận ra rằng ông Hữu Thỉnh hơn Phú Trọng một bậc ít ra là chữ nghĩa và giải thưởng, (Hữu Thỉnh ẳm giải Hồ Chí Minh chứ chơi à?) hai thứ thiết yếu khi nhảy vào một chức vụ cao nhất, bất cứ ở đâu.
Cái hội Hữu Thỉnh vốn rất cần thiết cho công tác tuyên truyền trong quần chúng hạng hai, tức không phải nông hay công nhân, mà chủ yếu là giới có chữ ít nhiều không biết nhưng cứ có chữ là hợp lệ.
Nếu không ý đồ như thế ai lại mang tấm ảnh của chính mình vào cái ngày mình la làng cho cả nước tới xem: Ngày Thơ Văn Miếu?
Hữu Thỉnh không ngần ngại dấu đi cái ý hướng này. Ông cho lính in cái hình của mình thật to treo bên dưới cổng chào, bên cạnh ông là Nguyễn Khoa Điềm, một người từng là Trưởng ban tuyên giáo Trung ương, lủng lẳng trước bao cặp mắt người tới xem. 
Tuy nhiên thật đáng buồn cho ông Hữu Thỉnh, cả hai tấm chân dung khổng lồ ấy đều được “kính cẩn” viền đen chung quanh. Ảnh thờ trong một đám ma cũng không lớn và trang nghiêm hơn thế.
“Con đường thi nhân" dọc theo cổng vào Văn Miếu - Quốc Tử Giám là nơi tôn vinh hơn 200 nhà thơ Việt Nam cùng các tác phẩm tiêu biểu của họ, (một sự tiêu biểu rất đáng nghi ngờ) thế nhưng sau khi khai trương, người dân rúc rích cười vì những sai sót mà đáng lẽ trẻ con cũng không vấp phải.
-Ảnh chân dung cụ Phan Thanh Giản được ghi là cụ Nguyễn Khuyến
-Chân dung Chu Văn An bị ghi là Cao Bá Quát
-Hàn Mặc Tử bị đeo kính, khoác  thêm cái áo mang tên Yến Lan
-Câu thơ nổi tiếng “Trời còn để có hôm nay/ Tan sương đầu ngõ vén mây giữa trời”
trong Truyện Kiều của Nguyễn Du bị sửa lại thành
“Đời còn để có hôm nay/ Tan sương đầu ngõ vén mây giữa trời”.
Đó là chưa kể tới những câu thơ chỉ đáng nằm cạnh toa thuốc trị "ghẻ" nay chễm chuệ nằm chung với Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến! bèo lắm cũng là Hàn Mặc Tử! Kinh.
Ai phê bình thì người đó tự nghe, Hữu Thỉnh không có trách nhiệm phải nghe những lời “chim chóc” ấy. Ông còn bận rộn cho những lá phiếu lần tới. Lá phiếu khẳng định sự đúng đắn và thông minh xuyên suốt của hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, biết chọn người lo cho vận mệnh thơ của nước nhà.
Hai bên trái và phải của Hữu Thỉnh đã có sẵn hệ điều hành một đảng phái. Bên phải là Trần Đăng Khoa, vốn là thần đồng thơ đáng được Hữu Thỉnh phong chức Trưởng ban Tuyên giáo Thơ Trung ương. Bên trái đã có Nguyễn Quang Thiều, rất thích hợp cho chiếc ghế Chủ tịch nước Thơ. Ông Thiều giống với bất cứ Chủ tịch nước nào vì hội đủ các điều kiên khó khăn nhất của một Chủ tịch: Không nói, không bàn, không kiểm tra.
Người ta vẫn ngạc nhiên tự hỏi tại sao ông Hữu Thỉnh chưa định ngày đọc lời tuyên thệ nhậm chức Tổng bí thư Đảng Thơ, trong khi người yêu thơ cả nước bơ vơ bất định rất khẩn thiết cần một nhân tài lèo lái quốc gia Thơ xuất sắc như ông?
Tầm nhìn Việt Nam 2035 trong năm 2017
Rừng vàng bị tàn phá, biển bạc bị ô nhiễm, tài nguyên thiên nhiên bị khai thác gần cạn kiệt. Chỉ có tài nguyên con người là vô tận. Ảnh: LÊ HOÀNG VŨ
Trong bài phú “Cư trần lạc đạo”, Phật hoàng Trần Nhân Tông - một chiến lược gia và triết gia vĩ đại - đã đúc kết một triết lý giản đơn của thiền học là “Trong nhà có của tìm đâu nữa, đối cảnh vô tâm hỏi chi thiền”.
Trần Nhân Tông không nói thẳng như Albert Einstein “Có hai thứ vô hạn là vũ trụ và sự ngu dốt của con người…” mà ông nhẹ nhàng khuyên răn: trong nhà có báu vật mà không biết, thì đừng tìm đâu xa. Đứng trước cảnh đẹp mà vẫn vô tâm vô cảm thì trong nhà có báu vật cũng không biết. (Đó là vô minh).
Người ta hay nói nước ta “rừng vàng biển bạc”. Không sai. Nhưng tại sao đến bây giờ đất nước vẫn nghèo và lạc hậu, thua kém nhiều quốc gia láng giềng trong khu vực trước đây vốn không bằng mình?
Cách đây 30 năm, Việt Nam cũng đứng trước một bước ngoặt lịch sử với câu hỏi “Đổi mới hay là chết”. Đó là thời điểm “đổi mới vòng một”. Còn bây giờ là thời điểm “đổi mới vòng hai” khi Việt Nam lại đang đứng trước một bước ngoặt mới bất định, với cùng một câu hỏi như trước.
Hãy thử vận dụng triết lý của Trần Nhân Tông để xem trong nhà có báu vật gì mà ta chưa biết hoặc bỏ quên, để vận dụng “kiến tạo” quốc gia.
Báu vật bỏ quên
Thứ nhất, Việt Nam có một cái mỏ lộ thiên khổng lồ là “mỏ người” (gần 100 triệu dân). Rừng vàng bị tàn phá, biển bạc bị ô nhiễm, tài nguyên thiên nhiên bị khai thác gần cạn kiệt. Chỉ có tài nguyên con người là vô tận, thế nhưng mỏ người lại không được coi trọng.
Hệ thống giáo dục lạc hậu và trì trệ, cải cách chưa hiệu quả. Thất thoát tài chính và nhân lực đang là một thảm họa.
Israel là một đất nước nhỏ hơn Việt Nam nhiều, dân số cũng ít hơn, tài nguyên hầu như không có vì không được thiên nhiên ưu đãi, lại bị vây hãm bởi các nước láng giềng thù địch. Nhưng chỉ sau 30 năm kể từ khi thành lập nước vào năm 1948, Israel đã “khởi nghiệp” trở thành một cường quốc. Thu nhập bình quân đầu người của họ là 35.431 đô la Mỹ (năm 2015, theo IMF). Phải chăng họ biết khai thác kho báu mỏ người bằng cách khai phóng năng lượng sáng tạo của con người, là tài nguyên và tiềm năng lớn nhất của một dân tộc.
Muốn khai thác mỏ người để có năng suất lao động cao thì phải biết thu hút và trọng dụng nhân tài, đồng thời biết quản trị nguồn nhân lực.
Thứ hai, Việt Nam có sẵn một “báu vật” có thể vận dụng để khai thác mỏ người, nhằm tái tạo/kiến tạo quốc gia (trước khi quá muộn). Đó là “Báo cáo Việt Nam 2035: Hướng tới thịnh vượng, sáng tạo, công bằng và dân chủ”, do Ngân hàng Thế giới và Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, đã được Phó thủ tướng Vũ Đức Đam và Chủ tịch Ngân hàng Thế giới Jim Yong Kim chính thức công bố tại Hà Nội ngày 23-2-2016.
Tại sao lại gọi đó là “báu vật”? Bởi vì đây là một văn kiện quan trọng đề xuất kế hoạch đổi mới toàn diện đất nước, được Chính phủ Việt Nam cùng Ngân hàng Thế giới cam kết và đầu tư nhiều nguồn lực và chất xám trong gần hai năm (từ tháng 7-2014).
Đây cũng là báo cáo được nghiên cứu và soạn thảo công phu nhất từ trước tới nay cho giai đoạn mới. Nguyên Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Bùi Quang Vinh khi còn tại chức cho biết “Báo cáo đã được hoàn thành sau gần hai năm gồm bảy chương nghiên cứu sâu về ba trụ cột phát triển với sáu chuyển đổi lớn, đề xuất nhiều khuyến nghị quan trọng để đưa Việt Nam trở thành nước thu nhập trung bình cao vào năm 2035”.
Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan, một thành viên tham gia soạn thảo nói: “Thông điệp quan trọng nhất, xuyên suốt báo cáo đó là phải cải cách thể chế nếu không muốn bị lạc hậu. Đó là lý do báo cáo có một chương dành riêng nói về cải cách thể chế và các chương còn lại ít nhiều đều có đề cập đến vấn đề này”.
Bà Phạm Chi Lan lập luận “Nếu thiếu hoặc chậm tiến hành một cuộc cải cách thể chế mạnh mẽ vào lúc này thì sẽ không thể có được một chính phủ kiến tạo để dẫn dắt sự phát triển”.
Kiến tạo cái gì?
Để tái tạo/kiến tạo Việt Nam, “Chính phủ kiến tạo” có nhiều việc phải làm, nhưng trước mắt nên tập trung ưu tiên cao vào “ba vùng chiến lược”. Thứ nhất, phải cứu lấy đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là vựa lúa của cả nước (nay đang chết khô, chết mặn). Thứ hai, phải cứu lấy miền Trung là khúc ruột của cả nước (nay đang bị ô nhiễm và ngập lụt). Thứ ba, phải giải cứu Hà Nội là trái tim của cả nước (đang bị băm nát và ô nhiễm nặng).
Muốn cứu ĐBSCL, Chính phủ phải vận dụng báo cáo để tái cấu trúc nông nghiệp theo hướng “hiện đại hóa, đa dạng hóa, thương mại hóa và quốc tế hóa”. Muốn làm được điều đó, phải cải cách thể chế, xóa bỏ độc quyền và chính sách lỗi thời về hạn điền đang trói buộc và cản trở sức sản xuất và sáng tạo của hàng triệu người dân Nam bộ đang đối mặt với thảm họa.
Đó cũng là những vấn đề lớn đặt ra để cứu lấy miền Trung và giải cứu Hà Nội, đang đối mặt với thảm họa môi trường do thiên tai và nhân họa gây ra. Chúng ta không thể chống lại thiên tai như biến đổi khí hậu, mà chỉ có thể tìm cách thích ứng. Nhưng chúng ta có thể tránh và chống lại nhân họa nếu không vô minh và vô cảm. Muốn cứu miền Trung, khôi phục môi trường và nghề cá, phải “phi thép hóa” và “phi thủy điện hóa” (giống như “phi hạt nhân hóa”) là những nhân họa tiềm ẩn.
Kiến tạo thế nào?
Muốn kiến tạo Việt Nam theo định hướng “thịnh vượng, sáng tạo, công bằng và dân chủ”, Chính phủ phải triển khai và vận dụng sáng tạo “Tầm nhìn Việt Nam 2035” để thay đổi thể chế và năng lực quản trị, nhằm huy động các nguồn lực bên trong và bên ngoài, phục vụ cho các giải pháp đối nội và đối ngoại, như ba mũi giáp công:
Thứ nhất, về đối nội: cần cải cách thể chế toàn diện. Về kinh tế, phải tái cơ cấu, chuyển đổi hẳn sang cơ chế thị trường, xóa bỏ cơ chế sở hữu ruộng đất toàn dân và độc quyền của doanh nghiệp nhà nước. Về chính trị, phải mở rộng dân chủ hóa, cởi trói tư tưởng để tháo gỡ các ách tắc và bất cập do cơ chế cũ lỗi thời làm cản trở đổi mới và sáng tạo trong kinh tế thị trường.
Thứ hai, về đối ngoại: cần định hướng lại các mục tiêu chiến lược với bên ngoài trên cơ sở điều chỉnh những giá trị cốt lõi nhằm hỗ trợ đắc lực cho đổi mới thể chế bên trong.
Chính sách đối ngoại trong giai đoạn mới cần dựa trên ba giá trị cốt lõi là (1) Tái cân bằng tích cực (active rebalance), (2) Hội nhập tích cực (proactive integration) và (3) Độc lập tích cực (active independence).
“Tái cân bằng tích cực” không phải là “đu dây”, cũng như “thoát Trung” không có nghĩa là quay lưng lại với Trung Quốc. Phải điều hòa giữa đối nội và đối ngoại, giữa lợi ích quốc gia và hội nhập quốc tế, để tránh lệ thuộc quá nhiều vào một nước.
“Hội nhập tích cực” là chủ động hội nhập quốc tế, phục vụ cho chiến lược phát triển quốc gia lâu dài, chứ không bị động đối phó để bảo hộ các lợi ích trước mắt. Hội nhập tích cực là phải giúp các doanh nghiệp hội nhập quốc tế, tham gia chuỗi giá trị và cung ứng toàn cầu.
“Độc lập tích cực” là phải đặt lợi ích dân tộc lên trên hết.
Thứ ba, về đoàn kết dân tộc: cần thực tâm hòa giải giữa hai cộng đồng trong và ngoài nước để kết nối vòng tay lớn, nhằm huy động nguồn lực của cả dân tộc, để tái tạo/kiến tạo quốc gia. Đây là một mục tiêu sống còn, nhưng rất khó.
Bài học đối ngoại
Chính sách đối ngoại của Việt Nam giai đoạn trước dựa trên bốn trụ cột: (1) độc lập tự chủ (trong đó có chính sách ba không), (2) đa phương đa dạng hóa (trong đó có chủ trương thêm bạn bớt thù), (3) vừa hợp tác vừa đấu tranh (trong đó có đối tác hợp tác và đối tượng đấu tranh), (4) chủ động và tích cực hội nhập quốc tế (để trở thành đối tác tin cậy của cộng đồng quốc tế).
Cần tận dụng các trụ cột đó để giúp Việt Nam thoát hiểm và phát triển trong giai đoạn mới.
Ngoài việc tiếp tục tăng cường thúc đẩy quan hệ tam giác Mỹ - Trung - Việt, Việt Nam cũng cần tăng cường đối tác chiến lược với Nhật. Phải xây dựng một tứ giác chiến lược mới tại Đông Á do Nhật dẫn đầu (Japan - Australia - India - Vietnam Partnership) để mở rộng đối tác chiến lược ra ngoài khuôn khổ ASEAN.
Thay lời kết
Chính sách đối ngoại tuy là cánh tay nối dài của chính sách đối nội, nhưng có nhiệm vụ làm đòn bẩy, hỗ trợ cho quá trình “đổi mới vòng hai” để Việt Nam phát triển “thịnh vượng, sáng tạo, công bằng và dân chủ”. Đề cương đổi mới chính sách đối ngoại cần dựa trên đề cương đổi mới toàn diện của chiến lược phát triển quốc gia.
“Báo cáo Việt Nam 2035” chính là đề cương đổi mới, làm cơ sở xây dựng chính sách đối ngoại cho thời kỳ mới. Muốn đổi mới và phát triển bền vững, phải gắn kết được trên với dưới, trong với ngoài, để huy động tối đa nguồn lực của dân tộc, nhằm tái tạo/kiến tạo một nước Việt Nam mới.
Nguyễn Quang Dy

No comments:

Post a Comment