Monday, February 13, 2017

Thăm chợ Sài Gòn ở Campuchia

Rời chiếc xe bus tuyến Sài Gòn - Phnom Penh, tôi đặt chân lên đường phố thủ đô vương quốc Campuchia. Hàng chục tài xế tuk tuk lao nhao bao quanh chào mời bằng tiếng Khmer. Còn đang ngơ ngác về chuyện cách biệt ngôn ngữ thì từ phía sau tôi vẳng lên một giọng Việt rặt Nam Bộ: "Chị đi đâu, em chở đi". Tôi ngoái lại. Trước mặt tôi là một thanh niên trạc 25 tuổi, nước da đen nhẻm, ánh mắt sáng rực nhưng đầy vẻ cầu khẩn. Chàng trai này nhanh nhảu: "Em không phải Campuchia. Em là trai dân Cần Thơ".

Những người Việt dưới chân “cầu Sài Gòn”
Hiền lái xe tuk tuk chạy trên đại lộ Monivong. Bất ngờ, tôi trông thấy một biển hiệu có ghi chữ Việt xen lẫn chữ Khmer trên một cửa hiệu ven đường: "Lò bánh mì Quang Hưng". Chúng tôi đi xuyên một chiếc cầu lớn. Hiền ngoái cổ lại thét vào gió: "Đây là cầu Sài Gòn". Sau này, tôi mới biết cây cầu đó có tên hành chính là Chba Om Pau. Tuy có tên hành chính "rất Campuchia" nhưng hầu hết, kể cả người dân Campuchia bản địa cũng gọi đó là cầu Sài Gòn. Tôi nuôi dưỡng điều thắc mắc này trong tâm trí cho đến khi Hiền quẹo chiếc tuk tuk ghé vào chợ Sài Gòn.
Anh Hiền sang tận Campuchia bán vé số để cải thiện thu nhập cho gia đình.

Hiền chỉ cho tôi một sạp bán cơm tấm ở rìa chợ. Đó là sạp bán cơm của vợ chồng ông Trí, một giáo viên dạy sử học ở Tây Ninh. Năm 1991, vợ ông bị bể hụi, nên cả hai bỏ quê trốn sang Phnom Penh. Sau 2 năm buôn gánh bán bưng nơi xứ người, hai vợ chồng ông đã đủ tiền gửi về quê trả nợ. Hết nợ, hai vợ chồng cũng bén hơi xứ lạ nên quyết định ở lại nơi đây lập nghiệp. Hiện giờ hai vợ chồng ông đã nhập tịch Campuchia, mua được nhà và một sạp cơm ở chợ Sài Gòn.
Ông Trí cho biết, sở dĩ cây cầu này có tên thường gọi "rất Việt" là do người Việt và người Campuchia đã từng là sui gia. Ông kể: "Nhiều người bảo người Campuchia gọi tên cầu là Sài Gòn để tưởng nhớ quân tình nguyện Việt Nam giải phóng đất nước Campuchia khỏi họa diệt chủng Pon Pot là không am tường lịch sử. Nó có tên gọi đó từ thời xa xưa. Hồi năm 1969, má tôi thường xuyên đi buôn đường dài Nam Vang (tức Phnom Penh) - Gò Dầu (Tây Ninh, Việt Nam) đã nghe người dân Campuchia gọi nó là cầu Sài Gòn rồi. Sách sử có viết, hồi năm 1620, chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên gả con gái thứ của mình là công nữ Ngọc Vạn cho vua Campuchia là Chey Chetta đệ nhị để xây dựng tình giao hảo giữa 2 nước. Cây cầu này được vua Chey Chetta đệ nhị xây để đón bà Ngọc Vạn. Quan quân người Việt đưa tiễn cô dâu Ngọc Vạn đến đây rồi trở về. Bà Ngọc Vạn được vua yêu quí đặt cho tước hiệu là Somdach Prea Peaccayo Dey Preavoreac. Năm 1623, chúa Nguyễn Phúc Nguyên cử một đoàn sứ mang tặng phẩm sang Udong tặng cho con rể và con gái. Khi sứ thần Việt trở về, vua Chey Chetta đệ nhị cũng tiễn đến tận cây cầu này. Do vậy, nó có tên gọi là Sài Gòn để tưởng nhớ những cuộc chia ly này. Năm 1972, khi Lon Non cầm quyền, cây cầu được xây dựng lại và chính thức có tên hành chính là Chba Om Pau. Do thói quen từ xa xưa, người dân vẫn cứ gọi là cầu Sài Gòn".
Tên gọi Phnom Penh cũng bắt nguồn từ việc bà Ngọc Vạn làm hoàng hậu Campuchia. Do cách phát âm, bà Vạn được gọi thành bà Penh. Chuyện truyền khẩu cho rằng, Phnom Penh là "núi bà Penh", tức "núi bà Vạn". Tại đất nước Campuchia ngày nay vẫn còn nhiều chùa xây tượng là Penh, tức bà Vạn để thờ cúng. Sau này người Việt sang Phnom Penh làm ăn đã quây quần cạnh chiếc cầu Sài Gòn cất nhà định cư. Dần dà, một ngôi chợ hình thành cạnh chiếc cầu cũng được gọi là "chợ Sài Gòn". Chợ Sài Gòn có tên hành chính là Sa Mieng Chey.
Ở Phnom Penh có 4 ngôi chợ lớn, gồm: Chợ Or xây (còn gọi là chợ Cũ), chợ Th'mey (chợ Trung tâm), chợ Stung Luk Bung (chợ Nga) và chợ Sài Gòn. Trong số 4 ngôi chợ ấy, duy nhất chợ Sài Gòn chấp nhận giao dịch bằng tiền Việt, số còn lại chỉ sử dụng tiền đô la và tiền real.
Đặt chân vào chợ Sài Gòn, tôi hoàn toàn không cảm nhận được mình đang ở nước ngoài bởi không khí mua bán không hề khác bất cứ ngôi chợ nào ở Việt Nam, kể cả việc bán thách giá. Người bán luôn chào gấp đôi giá bán thực. Người bán mời mua một chiếc khăn cro ma 5 USD, có nghĩa là họ sẽ bán giá 2,5 USD. Tiếng Việt là ngôn ngữ phổ biến ở đây. Thỉnh thoảng, khi trao đổi với người Khmer, mọi người mới sử dụng tiếng Việt. Hầu như tất cả hàng hóa ở ngôi chợ này đều có xuất xứ từ Việt Nam.
Chị Dưng có tên Campuchia là Bok, chủ một quầy hàng quần áo cho biết: "Hai vợ chồng tôi sang đây từ năm 1980. Con cái vẫn còn ở quận Gò Vấp. Đứa nào vừa đến tuổi đi học là tôi gửi về Việt nam cho bà ngoại chăm sóc và để đi học. Hàng tháng, hai vợ chồng tôi thay phiên về Việt Nam thăm nhà, thăm con đồng thời lấy hàng đem sang đây bán. Người Khmer chuộng quần áo may sẵn ở Việt Nam lắm".
Chị Dưng cho rằng, ngoại trừ những người mua bán căn cơ như chị, rất nhiều người Việt nghèo sang đây sống "lậu", không có giấy tờ hợp pháp. Họ rời quê tìm cơ may đổi đời bằng đủ thứ nghề cơ cực như bán vé số, chạy tuk tuk, bốc vác, thợ hồ. Kiếm được đồng nào, họ gửi về quê đồng nấy. Một số khác xuất cảnh bằng hộ chiếu phổ thông. Theo qui định, mỗi hộ chiếu phổ thông chỉ được phép cư trú 30 ngày. Hết hạn cư trú 30 ngày, họ đón xe bus về tới biên giới Việt Nam làm thủ tục xuất nhập cảnh rồi trở lại Phnom Penh tiếp tục hành trình mưu sinh.
Bán bún, bán chè là những công việc tạo thu nhập ổn định cho người Việt trên đất nước chùa Tháp.
"Siêng năng ắt sẽ giàu"
Câu chuyện của chị Dưng đang dang dở, một người đàn ông chìa tập vé số chen vào. Tôi ngạc nhiên vì xấp vé số trên tay anh đều có xuất xứ từ Việt Nam. Anh Hiền, người bán vé số, giải thích: "Vé số này được gửi từ Việt Nam qua mỗi ngày theo các tuyến xe bus, vì vậy giá bán cao hơn giá Việt Nam 2.000 VND/tờ. Bây giờ, Campuchia chỉ có vé số Việt Nam và số đề. Ở đây, chơi số đề không phạm pháp".
Anh Hiền quê Châu Đốc, An Giang vốn là bộ đội quân tình nguyện Việt Nam làm nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia. Sau khi hoàn thành nghĩa vụ, anh về quê chạy xe ôm sinh sống. Hàng năm, anh chỉ sang Campuchia bán vé số từ tháng 8 âm lịch đến hết tháng 12 rồi về quê ăn tết. Ăn tết xong, anh chạy xe ôm phục vụ khách hành hương miếu bà Chúa Xứ núi Sam. Hết mùa vía bà, anh làm đồng thuê. Đến tháng 8 lũ về, anh lại lên Phnom Penh bán vé số. Cái vòng quay mưu sinh đó đã trở thành chu kỳ hàng năm của cuộc đời anh suốt 10 năm nay. Trung bình, 4 tháng ở Campuchia anh cũng tích lũy được hơn 10 triệu đồng sau khi trừ hết các chi phí ăn uống.
Sau chợ Sài Gòn là một dãy nhà trọ lụp xụp mọc chen chúc ven sông Ton Le Sap. Xóm chợ Sài Gòn có khoảng 800 hộ dân Việt. Ngoài những người sống lâu năm, có nhà, có quốc tịch, có việc làm ổn định, phần nhiều người Việt mới sang đều vất vả. Bà Hai Xường - Chủ một nhà trọ 20 căn khẳng định, tất cả những người ở trọ đều là người Việt tạm cư. Nhà trọ ở đây cất tạm bợ bằng đủ thứ vật liệu hỗn tạp. Mỗi căn phòng khoảng 20 mét vuông. Giá thuê dao động từ 800.000 VND đến 1.200.000 đồng/1 phòng. Những người độc thân thường hùn nhau 4 người thuê chung một phòng.
Anh Hải, một thợ hồ đang sửa chữa ngôi nhà gần dãy nhà trọ của bà Hai Xường bỏ dở công việc đến góp chuyện với chúng tôi. Anh là thợ cả của một nhóm thợ người Việt ở xã Chum Pa. Xã Chum Pa cách chợ Sài Gòn khoảng 2km vẫn thuộc địa phận quận Mieng Chey. Ở đây quy tụ hơn 100 gia đình người Việt. Hầu hết là những người đã nhập tịch Campuchia, sống bằng nghề xây dựng. Người Campuchia gọi xóm này là "xóm thợ hồ Việt" hoặc "xóm quậy".
"Thợ xây dựng người Việt là hàng có giá ở Campuchia" - Anh Hải nói vui. Người Campuchia rất chuộng tay nghề thợ hồ Việt. Trong khi thợ hồ người Campuchia đừợc trả công cao nhất 10 USD/ ngày thì thợ Việt được trả 15 USD/ ngày. Vì vậy, thợ hồ Việt hiếm khi được rảnh tay, vừa xong công trình này đã có công trình khác để làm. Thợ hồ Campuchia phải làm việc 9 giờ/ ngày. Thợ hồ Việt chỉ làm đúng 8 giờ/ngày.
Với mức thu nhập đó, thợ hồ siêng năng sẽ có của ăn của để nhưng những thợ hồ Việt có "bệnh lười". Anh Hải ngán ngẩm: "Nhiều thằng lười biếng lắm. Một tuần chỉ làm 3 ngày, 4 ngày còn lại la cà nhậu nhẹt. Thợ hồ Campuchia không nghỉ làm ngày nào, kể cả chủ nhật". Đó là lý do xóm thợ hồ Việt ở Chum Pa vẫn còn nhiều gia đình nghèo mặc dù việc làm luôn mời gọi. Anh Hải nói tiếp: "Rảnh rỗi sinh nông nỗi. Không chịu đi làm, tụm 3 tụm 7 nhậu nhẹt, say xỉn rồi đánh lộn. Bởi vậy họ gọi là xóm quậy".
Nghèo mấy cũng phải có tết sung túc, tưởng nhớ ông bà
Chỉ một số ít người Việt ở đây cho con cái đi học trường phổ thông Campuchia, phần đông còn lại thường gửi con về quê nhà ở Việt Nam cho đi học. Gần xóm thợ hồ Việt tại ấp Ta Ngâu, phường Nê Rôth, quận Meanchey cũng có 1 ngôi trường tiểu học của người Việt có tên là trường Tân Tiến. Gọi là trường nhưng giáo viên đều không có chuyên môn sư phạm, chủ yếu là dạy tiếng Việt và Toán vỡ lòng. Trường chỉ có hơn 20 trẻ em thuộc nhiều cấp lớp học lẫn lộn. Trường do hội Việt kiều huy động bà con góp tiền xây dựng để "giữ tiếng Việt" cho trẻ em Việt kiều.
Hỏi về cái Tết Nguyên đán, bà Hai Xường hồn nhiên: "Làm cả năm chỉ để hưởng cái tết sung túc, tưởng nhớ ông bà. Nghèo cỡ nào cũng phải ăn tết cho ra hồn...".
Hồ Xuân Dung
Một lần tôi đã hết sức ngạc nhiên khi theo một người bạn vốn là “thổ địa” của vùng đất Sài Gòn vào thăm một ngôi chợ bán toàn đặc sản và món ăn Campuchia chính gốc do chính người Campuchia hay Việt kiều từng sinh sống ở Campuchia bán như: khô cá tra Biển Hồ, cá trèn sấy khô, mắm bò-hóc, chè thốt nốt, đọt sầu đâu, sơxin, hủ tiếu Nam Vang, bánh khọt đúc bằng khuôn đất sét ăn với nước dừa tươi pha nước mắm, có cả món bánh lọt nấu bằng nước dừa, lá dứa, đường phèn, cháo đậu ăn với cá linh kèm rau muống luộc… và còn rất nhiều món ăn lạ, “đặc sản” Campuchia mà lần đầu tôi mới được biết.
Tất nhiên đi chợ Campuchia để thưởng thức những món ăn “đặc sản” Campuchia chính gốc. Nhưng tôi chỉ dám ăn hủ tiếu Nam Vang, bánh lọt, bánh khọt, cháo đậu… là những món quen thuộc, dễ ăn mà tôi đã từng ăn và đã được “Việt hóa” ít nhiều. Hủ tiếu Nam Vang “chính cống” rất ngon, đầy đủ nguyên liệu và rau, lẫn với hương vị nêm nếm của người Campuchia. Còn bánh khọt đổ bằng khuôn đất sét ăn kèm với rau và chấm nước mắm pha nước dừa tươi thì tôi đã từng ăn dưới quê. Chỉ có món bún “num bochóc” thì tôi chưa từng ăn và không dám ăn khi nghĩ tới cách làm mắm bò-hóc của người Campuchia do lời mấy người bạn kể. Nhưng mắm bò-hóc ở đây được làm từ nhiều loại cá khác nhau và món bún num bochóc của người Campuchia cũng không khác gì món bún mắm của người Việt, cũng bún chan nước lèo nóng sốt, cay, các loại rau nhúng, đặc biệt là đọt sầu đâu đắng. Và cuối cùng, tôi bị người bạn thuyết phục nên thử ăn món bún “num bochóc” này. Quả là ngon tuyệt!
Duy nhất ở Sài Gòn mới có… chợ Campuchia.
Những hàng quán bán đặc sản trong khu chợ Campuchia này đều do người Campuchia lưu lạc sang Việt Nam sinh sống và Việt kiều từ Campuchia hồi hương đứng bán. Mới đầu một vài người, rồi thấy buôn bán được người trước rủ người sau, lâu dần thành ra… chợ Campuchia giữa Sài Gòn. Ngôi chợ đặc biệt này hình thành cách đây cũng ngót nghét 30 năm, nằm trong con hẻm 374 đường Lê Hồng Phong, Q.10, từ ngoài đường quẹo vào hẻm đi vài chục thước là tới “chợ Campuchia”. Nhưng ngày xưa muốn tới chợ không phải dễ dàng như bây giờ, phải qua một cây cầu khỉ, quần phải xắn lên tới gối vì nước ngập, lầy lội, người bán lẫn người tới chợ đều giống như nhau, y như đi bắt cá. Bà Tư Xê, là dân “cựu trào” ở chợ, có thâm niên trên 30 năm, gian hàng của bà lớn nhất ở đây, vừa bán món bún “num bochóc” vừa bán đủ các loại sản phẩm Campuchia từ khô tới tươi sống mà bà đã phải xuống tận Châu Đốc hay phải qua tận Campuchia để lấy hàng.
Bà Tư Xê tự hào món bún “num bochóc” là món ăn gia truyền của gia đình truyền lại, hiện do đứa con trai bà đứng bếp nấu. Tuy món bún “num bochóc” chỉ là món ăn dân dã của người Campuchia nhưng không phải ai cũng biết cách nấu và nấu cho ngon. Chính vì giữ được “bí truyền” nên hàng bún “num bochóc” của bà Tư Xê lúc nào cũng đông khách, không chỉ có khách quen người Việt hay Việt kiều Campuchia mà có cả khác Tây, nhiều “ông Tây” cũng tìm tới ngôi chợ “đặc sản” Campuchia này vì họ đã lỡ ăn một lần rồi… ghiền luôn món bún “num bochóc” của bà Tư Xê. Còn người bạn tôi một tuần có khi ghé lại đôi ngày, không chỉ một mình mà có khi đưa cả gia đình đi để cùng thưởng thức những món ăn “đặc sản” Campuchia. Mấy đứa con anh còn thích cả món nước trái thốt nốt chua chua, ngọt ngọt.
Sài Gòn là một thành phố “trẻ”, được hình thành cách đây khoảng hơn 300 năm, vốn là vùng đất quần tụ nhiều cộng đồng dân tộc bên cạnh người Kinh (dân tộc Việt). Trong mối giao lưu văn hóa, trong đó có văn hóa ẩm thực pha trộn và ẩm thực còn nét đặc trưng truyền thống ngoài người Hoa, Ấn, Nhật, Hàn, Malaysia, Thái Lan, Singapore… còn có cả Lào và Campuchia. Nhưng với việc hình thành một khu chợ Campuchia giữa đất Sài Gòn cách đây trên 30 năm và tồn tại cho tới bây giờ quả thật là một chuyện bất ngờ, thú vị. Tuy thời gian đã đủ dài, đến nửa đời người nhưng có mấy ai đã biết và từng đặt chân tới khu chợ này? Do đó, nó vẫn còn mang đầy tính khám phá, vừa bất ngờ, vừa hấp dẫn. Bởi lẽ không có khu chợ Campuhia thứ hai nào giữa đất Sài Gòn.Theo ĐS&TD
Nằm trên đại lộ Monivong sầm uất của Phnom Penh, cầu Sài Gòn (tên Khmer là Chba Om Pau, thuộc xã Chba Om Pau 1 và 2, huyện Chba Om Pau) là nơi cộng đồng người gốc Việt sinh sống, làm ăn. 
Làm ăn trên cầu Sài Gòn tại Campuchia
Gian hàng chuối của chị Đặng Thị Hằng ở khu chợ gần cầu Sài Gòn - Ảnh: YẾN TRINH
“Có người giàu có tiếng nhưng họ đi khỏi nơi này rồi. Còn nghèo như nhà tui thì chắc ở đây hoài
Ông Trần văn Trung
Tên gọi cầu Sài Gòn do người gốc Việt đặt sau khi quân tình nguyện VN tham gia giải phóng Phnom Penh năm 1979.
Một thế giới khác biệt
Dù nằm trên đại lộ Monivong nhưng cầu Sài Gòn lại cách trung tâm thủ đô Phnom Penh đến 10km.
Đó là một thế giới hoàn toàn khác biệt. Những ngôi nhà lụp xụp ở hai bên chân cầu với đường sá nhớp nháp gợi cho người ghé qua cảm giác tối tăm.
Một số thanh niên thất nghiệp, hoặc thì giờ nhàn rỗi sau khi đi làm thuê trên các chợ trung tâm trở về, cởi trần nằm sải lai trên những chiếc ghế nhựa trước nhà. Cái nắng thiêu đốt cộng với mùi cá trong không khí càng làm khung cảnh trở nên bức bối.
Quẹo vào con đường 369 đông đúc chia làm nhiều nhánh, người gốc Việt sống trong những ngôi nhà cạnh các ngã rẽ nhỏ hẹp ven sông.
Nhà của ông Lâm Văn Phong (56 tuổi), chi hội trưởng Hội người Campuchia gốc Việt huyện Chba Om Pau, cũng nằm ở đó.
Đang dở tay bện những búi cước chùi nồi để đem bỏ mối, ông Phong chậm rãi kể: “Người VN ở đây từ lâu đời rồi. Năm 1980, người Việt tới đây sống nhiều lắm, phần lớn là Việt kiều chạy tàn quân Pol Pot rồi quay lại, quần cư ở hai bên chân cầu để sống, giống như dân kinh tế mới hồi hương về lại Sài Gòn tại TP.HCM.
Khu này từng bị cháy mấy lần rồi bị sạt lở. Bà con khổ sở gầy dựng lại từ hai bàn tay trắng”. Sống ở đây từ nhỏ, ông Phong chứng kiến những buồn vui của người gốc Việt nơi này và đúc kết trong một từ nghe rất đời: phận buồn.
Ngoài nghề cá, người gốc Việt ở khu cầu Sài Gòn buôn bán nhỏ (gỏi cuốn, cơm, hành tỏi...). Ai khá thì bán đồ gốm, buôn đồ gỗ, cây kiểng... với nguồn hàng từ các tỉnh ở VN.
Theo lời ông Phong, cũng có một số người ăn nên làm ra như ông Sáu Hoa chuyên buôn đồ gỗ, ông Phát chuyên cây kiểng xuất xứ từ tỉnh Bình Dương...
“Thế nhưng ít có người gốc Việt nào khá giả mà muốn ở lại khu này. Khi có tiền họ tìm đường vào trung tâm Phnom Penh mua nhà, gầy dựng cơ ngơi. Vì vậy, phần lớn người gốc Việt ở khu vực này làm ăn chỉ đủ sống. Nhiều người vẫn còn ở nhà thuê, đi bán hàng rong...” - ông nói.
Những tiểu thương nghèo
Nghề nghiệp chính của người gốc Việt ở khu cầu Sài Gòn bây giờ là buôn bán. Đều tay gọt vỏ những trái chuối xanh thảy vào giỏ, chị Đặng Thị Hằng (29 tuổi, quê gốc An Giang) kể rằng mình bán chuối từ nhỏ, thừa hưởng nghề từ cha mẹ.
Tưởng rằng sống mấy đời ở Phnom Penh sẽ khấm khá nhưng chị Hằng cho biết chị đang ở căn nhà thuê 2 triệu đồng/tháng.
Cả nhà chị sống bằng nghề bán chuối, có khi bán ở chợ gần nơi ở, có khi mang vào trung tâm thành phố bán. Ngày nào chị cũng đi từ sáng sớm đến trưa trờ trưa trật mới về.
Trả lời câu hỏi về khả năng tài chính của mình, chị nói: “Không dành dụm được đâu vì đủ thứ tiền phải chi. Nhất là tiền học cho hai đứa lớn, tiền sữa cho đứa nhỏ, rồi tiền nhà, tiền ăn...”.
Ở khu này có nhiều người cùng hoàn cảnh như chị Hằng. Rẽ qua một ngõ hẹp sát bờ sông, ngôi nhà tuềnh toàng của anh Lê Thanh Dân (33 tuổi, quê Đồng Tháp) trông như muốn sập đến nơi.
Chỉ có chiếc xe ba gác kiểu Campuchia là tài sản giá trị, trên đó chứa rau cải, mắm muối... mà hằng ngày anh chạy đi bán lòng vòng khu chợ Orussey trong thành phố.
“Nhà bị cháy mấy lần nên giờ chẳng buồn xây nữa, làm được nhiêu tiền để lo cho mẹ thôi” - anh nói. Mẹ anh sau thời gian bị tai biến, hầu như chẳng còn phụ được anh trong việc buôn bán nữa.
Cuộc sống nghèo khổ in lên gương mặt của những người buôn bán nơi này với những nét chau mày khi bàn chuyện mớ rau, con cá, chuyện chợ sớm chợ chiều. Kể cả trong câu chuyện của những người già.
Ông Nguyễn Văn Hợi (70 tuổi, quê An Giang), sau nửa đời người ở khu này cũng cất được căn nhà nhỏ và một cái sạp bán bánh kẹo trước nhà, cho biết: “Tui có cả chục đứa con, đứa nào cũng buôn bán lặt vặt giống mình. Chúng tôi ở đây từ cái thời đường đi còn là đường mòn, nhà chủ yếu là nhà lá, tới giờ mọi thứ cũng chẳng thay đổi nhiều”.
Ông Trần Văn Trung (59 tuổi, quê Tây Ninh) sống ở đây gần 20 năm, sau chục năm đánh cá ở Biển Hồ thì nói: “Dù sao sống ở đây cũng ổn định hơn hồi ở Biển Hồ, mình có cái nhà để ở, có mấy bộ bàn ghế để bán cà phê, đồ ăn sáng”.
Để có được quán cà phê như bây giờ, vợ chồng ông Trung phải dành dụm, vay mượn. Hỏi ông ở đây có nhiều người giàu hay không, ông cười hề hề: “Có chớ. Người mình chịu khó làm ăn, có người giàu có tiếng nhưng họ đi khỏi nơi này rồi. Còn nghèo như nhà tui thì chắc ở đây hoài”.
Mộng hồi hương
Theo lời ông Phong, do nhiều người VN tại khu cầu Sài Gòn không nhập tịch Campuchia được, con cái không có giấy khai sinh... nên cuộc sống khó khăn đủ bề, nhất là trẻ em chỉ có thể học biết mặt chữ chứ không thể học lên cao.
Ông là một trong số ít người có quốc tịch Campuchia ở khu này nhưng cũng không thể lo cho con cái học hành tới nơi tới chốn. Trong khi đó, rất nhiều người phải sống phận “tầm gửi”, việc làm ăn sinh sống nhiều khi không tự định đoạt được.
Ông Đặng Văn Chiến (76 tuổi, quê Hậu Giang) mấy hôm nay để việc bán cà phê cho vợ lo liệu. Ông đang lo xin giấy xác nhận để về lại VN sống vì cuộc sống ở khu này ngày thêm khó khăn.
“Hồi trước ở VN tui cũng mần ruộng. Hồi mới qua xóm này còn thưa thớt, tui đi mua phế liệu. Rồi đỡ đỡ chút thì mua xe đẩy để bán cà phê. Nhà tui thuê cũng 4 triệu đồng/tháng, nặng tiền lắm” - ông nói.
Hỏi ông về lại quê nhà sẽ làm gì sống, ông nói: “Già vầy còn trông mong gì nữa. Giờ hai đứa con cũng lớn rồi, lại có nghề buôn bán, về lại nhà thì ra chợ bán cũng được”.
Nhưng theo lời ông, về lại quê hương còn có họ hàng, bà con chòm xóm. Lỡ có đói khổ cũng không ai bỏ rơi mình, nó khác với bên đây...
Với ông Chiến, ước mơ hồi hương là trong tầm tay. Nhưng còn với nhiều người, trong độ tuổi trẻ trung, lại khó hơn.
Chị Hằng nói: “Mấy đứa nhỏ giờ đang tuổi ăn học nhưng không có giấy khai sinh. Mình ở đây làm cũng không dư được đồng nào. Nhưng về VN, hai vợ chồng không có đất đai, nhà cửa gì, cũng giống như bên đây thôi”.
Chị nói thôi thì ráng làm thêm vài năm nữa, đợi con út của chị được 5-6 tuổi rồi cả nhà cùng về.
Chiều xuống, đứng từ trên cầu Sài Gòn nhìn xuống hai bên chân cầu, khu nhà của những người VN giống như bức tranh buồn.
Khi chọn một cây cầu mang cái tên hoài nhớ quê hương là Sài Gòn để định cư, dường như cộng đồng gốc Việt đã chấp nhận sự lạc lõng của mình giữa thủ đô của một dân tộc khác.
Người gốc Việt ở khu cầu Sài Gòn thường buôn bán ở khu chợ Chba Om Pau gần đó. Thế nhưng, phần lớn họ chỉ đứng bán phía ngoài chợ vì giá thuê sạp trong chợ cao, họ lại không nhiều vốn và không có giấy tờ nên không dám đổ tiền mua sạp.
Theo ông chi hội trưởng người gốc Việt huyện Chabaompau, khoảng năm năm trở lại đây, người gốc Việt ở khu này hồi hương VN khá nhiều vì điều kiện sống tệ hơn trước.
Tổng hội người Campuchia gốc Việt chỉ có thể trợ giúp dân mình vào các đợt sạt lở, lễ tết... chứ không có kinh phí để hỗ trợ nhiều hơn.

No comments:

Post a Comment