Wednesday, February 15, 2017

TÌNH YÊU NAM NỮ trong VĂN HÓA VIỆT qua TRUYỀN KỲ TRƯƠNG CHI

2. TRUYỀN KỲ TRƯƠNG CHI
Có chàng lái đò Trương Chi trỗi vượt về tài thổi sáo. Lại có nàng Mỵ Nương, vì say mê tiếng sáo mà nhuốm bịnh tương tư. Nhưng khi gặp mặt Trương Chi, nàng bỗng thấy lòng dửng dưng.
Trái lại, chỉ vừa thoáng thấy Mỵ Nương, Trương Chi đã đắm đuối, rồi tương tư mà chết. Tim chàng hóa thành ngọc và được tiện thành chén trà quý. Mỗi lần chén có trà, bóng Trương Chi chèo đò lại hiện lên, và tiếng sáo lại văng vẳng.
Một hôm, cầm chén ngọc, nghe lại tiếng sáo, Mỵ Nương bỗng nhớ lại chuyện xưa và để rơi một giọt nước mắt vào chén. Chén ngọc liền tan ra thành nước.
*     *     *     *
6. ĐẶC TÍNH TÌNH YÊU
Mỵ Nương đã dửng dưng, Trương Chi đã trở về lái đò. Cuộc tình giữa hai người chưa kịp khởi đầu, nhưng cũng chưa dứt.
Văn hóa Việt không dừng lại nơi đây. Văn hóa Việt còn nhìn xuyên suốt cái chết của Trương Chi, và nỗi lòng của Mỵ Nương, để nhận định Tình Yêu của Con Người.
6.1 Chết Vì Yêu.
Từ ngày mê đắm hình bóng Mỵ Nương và không được bóng hình đó đáp tình, Trương Chi tương tư mà chết. Không được yêu lại, Trương Chi đau khổ, Trương Chi gục ngã. Thân xác chàng đã không chịu đựng nổi sự thiếu vắng của tình yêu.
Ôi sức mạnh của tình yêu ! Dầu chỉ là ảo tưởng, dầu mới như bóng hình, tình yêu cũng đã ảnh hưởng sâu đậm tới con người. Không có tình yêu, con người đau khổ, cuộc sống con người không còn sinh thúKhông tình yêu, tình không được đáp tình, con người không thể sống, sống cũng như đã chết.
*     *
6.2 Sống Trong Tình.
a. Trái Tim thành Ngọc.
Trương Chi đã chết. Nhưng trái tim chàng không tan rã, mà lại hóa thành ngọc.
Cho trái tim, cho tình yêu của Trương Chi, thành ngọc, Tổ Tiên ta đã xác nhận sự quý chuộng đặc biệt dành cho Tình Yêu. Thân xác chàng lái đò si tình không còn nữa, nhưng tình yêu của chàng vẫn tồn tại. Trái tim ngọc còn đó, trong ngời, sáng đẹp, và bền lâu.
b. Sống trong Tim.
Trái tim ngọc lại được gọt dũa thành chén trà.
Tuy trở thành chén trà, nhưng không phải là chén trà đất đá vô tri. Mỗi khi có trà, hình bóng Trương Chi chèo đò lại hiện lên và tiếng sáo thu hồn của chàng lại văng vẳng.
Như thế, sau khi chết vì tương tư, Trương Chi vẫn sống trong trái tim của chàng. Óc diễn đạt của Tổ Tiên thực thần diệu. Không được đáp tình, Trương Chi gục chết. Nhưng trong trái tim, trong tình yêu của chàng, chàng vẫn sống, vẫn chèo đò, vẫn thổi sáo, vẫn sống nguyên vẹn đời sống trước kia.
*     *
6.3 Quyết định Hạnh phúc Con người.
Trương Chi tương tư mà chết, nhưng lại sống trong trái tim.
Không còn hình ảnh nào đầy đủ và tài tình hơn để diễn tả ý nghĩa và vai trò của Tình Yêu trong Cuộc Sống Con Người. Không được đáp tình, cuộc đời Trương Chi chấm dứt. Không Tình yêu, cuộc sống con người là khổ đau, không còn sinh thú, không còn coi là sống. Nhưng trong Tình yêu, con người vẫn luôn sống. Có tình yêu, cuộc sống con người mới thực là sống.
TÌNH YÊU QUYẾT ĐỊNH sự 'sống chết', nỗi khổ đau hay niềm HẠNH PHÚC, của cuộc sống CON NGƯỜI. 
*     *     *     *
7. ĐÍCH ĐIỂM TÌNH YÊU
7.1 Nước Mắt và Trái Tim.
a. Rung động vì nhau.
 Trong trái tim ngọc, trong chén trà, Trương Chi vẫn sống, vẫn khắc khoải, vẫn đợi chờ, vẫn tương tư. Tình yêu của chàng vẫn nguyên vẹn. Về phần Mỵ Nương, nàng đã dửng dưng, nàng đã quên.
Nhưng dầu tình thoáng qua, kỷ niệm vẫn còn đó với con người. Trong những buổi thưởng trà ngắm cảnh, tiếng sáo vẫn văng vẳng trong hồn Mỵ Nương. Và rồi trong một giây xúc động, Mỵ Nương đã không cầm được nước mắt.
Đây là giọt nước mắt ân tình đầu tiên nàng dành cho chàng lái đò tài hoa. Trước kia, nàng chỉ biết có người tình huyền ảo trong mộng, giờ đây nàng thực sự xúc động vì mối tình trọn kiếp của chàng.
Vì vậy, khi giọt nước mắt chân tình đó chạm vào trái tim ngọc, cũng là giây phút đầu tiên hai trái tim, hai tâm hồn bỗng chạm nhaurung động vì nhau.
b. Kết Hiệp Tâm Tình.
Ngay tại thời điểm linh diệu nầy, trái tim ngọc của Trương Chi cũng vụt tan ra thành nước, để kịp hòa lẫn với giọt nước mắt của người tình. Bao năm tháng đợi chờ, bao khổ sầu buồn tủi, cũng chỉ mong nhận được một giọt nước mắt đáp tình !
 Đây chính là bản ca tụng tuyệt vời cho Tình Yêu. Con Người chỉ toại nguyện khi được yêu thương. Con người sẵn sàng đợi chờ, khắc khoải, chịu gọt dủa miệt mài, chịu nóng lạnh đắng cay, cũng chỉ để được giây phút kết hiệp tâm tình. Và khi gặp được, dầu chỉ là một giọt nước mắt, quá khứ khổ đau, năm tháng đợi chờ, cũng vụt tan biến.
* Tình yêu đòi kết hiệp, đòi tan biến vào nhau. Đích điểm tối hậu của TÌNH YÊU LÀ KẾT HIỆP, kết hiệp hai Tâm Hồnhòa chung hai Cuộc Sống.
*     *
7.2 Chung Sống Cuộc Tình.
Tìm nhau tận tình, Gặp Nhau trọn vẹn, và Kết chung Cuộc Sống không chỉ là ở thời gian đầu của Cuộc Tình, mà kéo dài suốt đời. Mỗi ngày, từng ngày, hai người luôn Tìm nhau, quan tâm tới nhau, và Gặp nhauchia sẻ tâm trạng và cuộc sống của nhau. Hai người Tìm nhau từng ngàyGặp nhau từng ngàyChung sống từng ngày.*6
Tuy nhiên, theo đặc tính của Tình yêu, Chung sống từng ngày có nghĩa là Chết vì tình, Sống vì Tình, Sống chết vì TìnhSống chết vì tình lấy Tình yêu làm Nền tảng Cuộc sống của nhau, hai người luôn gìn giữ và tăng trưởng Cuộc Tình mọi lúc mọi nơi, với bất cứ giá nào, dầu gặp bất cứ hoàn cảnh nào. Sống chết cho nhau.*7
Theo đích điểm của Tình yêu, Chung sống từng ngày còn có nghĩa là hai người sống cuộc sống kết hiệp tâm tình từng ngày, ngày càng cảm thông nhau, tin tưởng nhau. Hiệp Nhất Tâm Tình.
* Có như thế, Tình yêu mới ngày một tăng triển, vững bền, và trở thành Nguồn Hạnh phúc căn cội của Cuộc sống Con người.
TÌNH YÊU LÀ CĂN CỘI HẠNH PHÚC CON NGƯỜI.
8.1 Truyền kỳ Trương Chi với các Truyền kỳ khác.
Văn hóa Việt là một toàn bộ, vì vậy bài học Tình Yêu càng thêm thiết thực khi nhìn chung với các Truyền kỳ khác, nhất là với những Truyền kỳ có đề cập tới đôi vợ chồng. Mỗi Truyền kỳ là một khía cạnh sống của Cuộc tình.
a. Truyền kỳ Chử Đồng.
Ở Truyền kỳ Chử Đồng, với Tiên Dung xuống thuyền và Chử Đồng lên bờ, họ đã Tìm nhau tận tình. Với Tiên Dung tắm, cởi bỏ quần áo, gặp Chử Đồng trần trụi, họ đã Gặp nhau trọn vẹn.
Hai người cũng đã bỏ cuộc sống cũ, cùng nhau Kết chung cuộc sống, cùng nhau giúp đở người chung quanh... và, để diễn tả cảnh sống hạnh phúc, hai người cùng nhau đem toàn thể dân chúng và phố xá ‘về trời’.
Họ sống một Cuộc tình hoàn hảo, một cuộc sống hoàn hảo, hạnh phúc trọn vẹn.*9
b. Truyền kỳ Trầu Cau.
Truyền kỳ Trầu Cau có người Chồng đi tìm Em, người Vợ đi tìm chồng, và vợ chồng chết bên nhau. Họ Sống chết cho nhau, sống chết vì tình.
Rồi chồng vợ hóa thành cây cau, dây trầu, quấn quít bên nhau, và, khi có con người ăn trầu cau, họ hòa lẫn vào nhau thành màu máu đỏ nồng nàn.
Dầu cuộc sống có nhiều trắc trở, họ vẫn Sống chết bên nhau, họ Có nhau mãi mãi.*10
c. Truyền kỳ Vọng Phu.
Ở Truyền kỳ Vọng Phu, khi người Chồng đã ra đi thi hành phận vụ chung, người Vợ bồng con chờ chồng từng ngày. Họ có nhau từng ngày, trong nhớ thương, trong tâm tưởng.
Nàng chờ chồng tới hóa thành Núi cao, để hợp cùng với chồng đang lo việc Nước. Chồng lo Nước, Vợ thành Non. Hai người chung nhau phát triển Non Nước, giang sơn.
Dầu vì phận vụ mà xa cách, họ vẫn Có nhau từng ngày, và cùng nhau Kết hiệp tâm tình, chung nhau Chu toàn phận vụ, cho tới ngàn năm.*11
d.Truyền kỳ Mỵ Châu.
Ở Truyền kỳ Mỵ Châu, Mỵ Châu đã yêu thương và tin tưởng Trọng Thủy đến nỗi giao phó cả nước non, đã đưa nỏ thần cho chàng xem. Nàng đã yêu chồng đến liều lĩnh, khi nhổ lông ngỗng làm dấu hiệu trên đường chạy trốn chàng. Nàng đã Sống chết cho chồng.
Và rồi, cả những giọt máu thành ngọc của nàng cũng tươi sáng lên khi được tắm trong nước giếng tẩm xác chồng.
Chỉ tiếc là, với Trọng Thủy, Mỵ Châu đã không Tìm hiểu tận tình, không Gặp nhau trọn vẹn, nên nàng đã không nhận ra Trọng Thủy, và bị giặc lừa gạt. Cuộc tình không trọn.*12
e. Truyền kỳ Tiên Rồng.
Toàn bộ Văn hóa Việt, và tất cả chín Truyền kỳ, đều kết tinh vào hai mối Tình : Tình Tiên Rồng Song Hiệp và Tình Anh Em Một Bọc, của Truyền kỳ Tiên Rồng.
Tiên Rồng song hiệp chính là biểu tượng, mà cũng là tiêu biểu, lý tưởng, của mọi Cuộc Tình.*13
g. Địa vị Tình Yêu trong Cuộc sống Con người.
Văn hóa Việt đã nhận ra cuộc sống con người, cá nhân cũng như cộng đoàn, đều đặt nền tảng trên Tình yêu và để tăng trưởng Tình yêu.
 Tình Yêu bao trùm cuộc sống. Tình Yêu mở rộng tầm nhìn và trái tim con người, bao trùm tất cả mọi con người, tất cả vạn vật, và hướng tới vô biên, tiến về trường cửu.
Cuộc sống con người là Cuộc sống Tình yêu. Cuộc Sống Tình Yêu làm cho Con Người sống Cuộc sống đích thực và trọn vẹn là Người. 
SỐNG TÌNH YÊU LÀ SỐNG TUYỆT ĐỈNH CUỘC SỐNG CON NGƯỜI.
*     *
8.2 Gương Xưa.
a. Gương các Cụ.
Thời trước, hơn 95% đại chúng Việt sống ở nông thôn và hoàn toàn sống theo truyền thống Việt. (Chỉ 5% theo nho học). Vì vậy, việc trai gái gặp gỡ sinh tình cũng là chuyện thường ngày. Nhiều cuộc tình đã đưa tới đời sống vợ chồng tốt đẹp.
Tuy nhiên, dầu ở những trường hợp hôn nhân không dựa trên tình cảm, tâm trạng và nề nếp ‘thành hôn là chung sống trọn đời’ lại giúp hai vợ chồng cố gắng sống ‘trọn tình trọn nghĩa’, cố gắng nhường nhịn, tìm hiểu và thông cảm nhau... Nhờ đó, đưa tới cuộc sống thuận hòa, nảy sinh tình cảm, cảm nhận tình yêu, đằm thắm và gắn bó không rời.
Đời sống gia đình, lo cho con cái, lo cho đại gia đình hai bên, càng làm cho ý chí thắng vượt trở ngại được củng cố thêm.
* Vì không thấu triệt Nếp sống Dân tộc, phái tân học đã hời hợt ồ ạt theo nếp sống trôi nổi phương Tây... và đem xáo trộn đổ vỡ cho nhiều cuộc đời, cho nhiều gia đình, và cho xã hội.
b. Tục Ở Rể.
Để chuẩn bị cho hôn nhân, ta còn có tục ở rể trước khi cưới. Chưa cưới, nhưng chàng đã tới nhà mỗi ngày ! Thói tục nầy trái ngược với quan niệm nam nữ cách biệt, ngày cưới vẫn chưa thấy mặt... của Nho học Trung Hoa.
Với nếp sống làng thôn, tục ở rể không cần thiết cho việc trai gái gặp gỡ nhau. Tuy nhiên, đây lại là phương thức tuyệt hảo để cô gái và gia đình tìm hiểu chàng rể tương lai. Sau một thời gian sinh hoạt cận kề, dầu chàng trai có xảo trá bao nhiêu, gia đình gái cũng nhận ra được phần lớn tính nết và phẩm hạnh của chàng. Nhờ đó, bậc trưởng thượng có thể thẩm định tầm hạnh phúc nhân duyên suốt đời của con cháu mình.
Đây cũng là dịp để chàng và nàng tìm hiểu nhautập chấp nhận nhau, yêu nhau... trước khi chung sống với nhau.
* Ở thời suy thoái, nhiều phong tục tốt đẹp của Tổ Tiên đã bị thực hành hoặc trình bày sai lạc.
c. Vấn Đề Tình Dục.
Trước đây Nho học, cũng như nhiều xã hội và trào lưu, cả đông lẫn tây, chủ trương tình dục là cấm kị. Người ta cấm đoán cả việc gọi đích danh những cơ quan của con người.
Đang khi đó, đại chúng Việt đã không e ngại khi dùng những từ ngữ chỉ cơ quan sinh dục để đặt tên cho con cái, và gọi chúng một cách tự nhiên, không mặc cảm.
Ngoài ra, những câu đố, những chuyện cười, và ca dao tục ngữ Việt, cũng đề cập tới những vấn đề quanh khía cạnh tình dục... một cách vui tươi, không hậu ý.
Tuy nhiên, không phải vì vậy mà chấp nhận những lố lăng và cách sống thú vật của những trào lưu phương Tây hiện nay. Chúng hạ thấp nếp sống và phẩm giá Con Người.
* Che dấu hoặc lộ liễu quá đáng đều là những khiếm khuyết.
*     *
8.3 Văn Hóa Việt và Tống Nho.
a. Phân biệt Nho sĩ và Đại chúng Việt.
Cần phân biệt hạng người theo Nho học, với đại đa số dân chúng Việt. Có thời người ta chỉ căn cứ vào sách vở và sáo ngữ của thiểu số 5% theo Nho học, mà gán ghép cho toàn thể dân Việt, và đã gây nhiều hiểu lầm.
Vào đầu thế kỷ hai mươi, trong trào lưu cổ võ văn hóa phương Tây, và trong chủ trương triệt hạ uy tín của tầng lớp đang lãnh đạo đại chúng chống thực dân Pháp, nhiều nhóm ‘Tây học’ đã điêu ngoa đả phá những tệ đoan của giới học thức Tống Nho, mà họ ác tâm gán cho toàn thể xã hội Việt.
Dĩ nhiên, thời suy thoái có nhiều tệ đoan cần được sửa chữa. Nhưng vì không phân biệt đâu là tệ đoan của thiểu số và đâu là văn hóa dân tộc, nên trào lưu đó đã tiếp tay với thực dân và các chủ nghĩa ngoại lai mà hủy hoại tinh thần của nhiều thế hệ dân ta.*14
b. Sáo Ngữ Tai Hại.
Thực lố bịch khi dùng những sáo ngữ : gái phải tam tòng, môn đăng hộ đối, cha mẹ đặt đâu con ngồi đó, nam nữ thọ thọ bất thân... mà gán ghép là xã hội Việt trước đây gò bó tình yêu. Những sáo ngữ đó có thể đúng với 5% dân số khuôn rập theo Tống nho. Nhưng lấy đó mà gán ghép cho toàn thể dân Việt thì thực là sai lầm và tai hại.
Môn đăng hộ đối : xứng giàu xứng sang. Cha mẹ nào mà không muốn con cái mình được xứng đôi vừa lứa ? Nhưng môn đăng hộ đối là gì đối với 95% dân số là nông dân vừa đủ cơm ngày ba bữa ?
Cha mẹ đặt đâu con ngồi đó. Với 95% dân số sống ở thôn xóm làng mạc, có cùng một hoàn cảnh và cùng một nếp sống thuần phác, thì còn được bao nhiêu chỗ khác nữa mà đặt ?
Nam nữ thọ thọ bất thân : trai gái đưa nhận không trao tay, giữ sự cách biệt giữa nam nữ. 95% trai gái Việt hằng ngày gặp gỡ nhau trong thôn xóm, đầu đường cuối ngõ, trên sông ngoài ruộng, cấy cày gặt hái, giã gạo đạp lúa, đi chùa đi lễ, hội hè đình đám... thì sao lại cứ nói là chưa hề gặp mặt, chưa biết gì nhau, chưa nhóm yêu thương ?
Cứ thử hỏi các cụ thì biết !*15
*     *     *     *
Ghi chú
*9 - Đọc bài 2104. Tiêu Chuẩn Để Sống Bình Đẳng., phần 4.
*10 - Đọc bài 2103. Tiêu Chuẩn Để Sống Tình Người, đoạn 4.2 và 5.6.
*11 - Đọc bài 2107. Đời Sống Gia Đình, đoạn 4.1, 6.1, 7.3.
*12 - Đọc bài 2109. Việc Giữ Dân Giữ Nước, đb đoạn 8.5.
*13 - Đọc bài 2102. Nền Tảng Cuộc Sống Con Người và Xã Hội, đoạn 4.2 và 4.3.
*14 - Đọc bài 1410. Ảnh hưởng Hạn hẹp của Nho học trên Dân Việt, phần 4.
*15 - Về Phụ Nữ trong Văn hóa Việt, đọc bài 1411. Dân Việt không Sống theo Nho Học, phần 3.

No comments:

Post a Comment