Wednesday, February 15, 2017

Văn Hóa: Tình Yêu Nam Nữ Qua Ca Dao và Tục Ngữ

Tình yêu là bản chất thiêng liêng và tự nhiên của con người cho nên dù ở thời đại nào, tình yêu bao giờ cũng là đề tài bất tận cho những áng văn chương.

Việt Nam chúng ta từ ngàn xưa là một quốc gia nông nghiệp. Với hình thể chữ S mềm mại uốn cong ven bờ Thái Bình Dương, với cảnh vật thiên nhiên kỳ tú như cỏ cây hoa lá, như núi cả sông sâu, như lũy tre xanh, như đồng ruộng óng ả lúa vàng,... hòa với tâm tình và lịch sử của dân tộc, quê hương Việt Nam đã có một nền văn chương bình dân hay bác học hết sức phong phú đầy nét vẽ chân thành pha lẫn những điểm tế nhị và sâu sắc.

Trong cái tình cảm đa dạng đó của dân tộc, tình yêu nam nữ đã vươn lên như cánh hoa nở trong vườn đời, tạo nên biết bao câu ca giao tình tứ , bao vần thơ truyền khẩu lãng mạn.

I. Giai đoạn tỏ tình.

Tình yêu đã nảy nở trong những buổi rạng đông khi sương mai còn ướt đẫm cỏ cây, khi chim muông còn đang ngại ngùng trong giấc ngủ, hay trong những buổi chiều tà khi mặt trời đã gác non đoài, với những đoàn trai gái trong làng vác cày rửa hái để trở về mái nhà tranh sau một ngày làm việc. Những làn khói cơm chiều lan tỏa vươn trong giải mây tím hòa lẫn với tiếng hát của trẻ mục đồng đang dắt trâu trở về, đã phác họa cho chúng ta hình ảnh một miền quê êm ả thanh bình.

Trên trời dưới nước, thấp thoáng sau lũy tre xanh, quanh co bên bờ đê ấp yêu ruộng đồng, rì rào bên sóng lúa chín vàng, mênh mang trong tiếng sáo diều vi vu... tất cả những hình ảnh đẹp đó đã gợi nên những vần thơ trao hỏi ý tình giữa trai gái trong làng.

Hãy nghe chàng trai mở đầu, hỏi người thôn nữ bằng một câu hỏi ỡm ờ, gợi ý xa xôi:

Hôm qua tát nước đầu đình
Để quên chiếc áo trên cành hoa sen
Em được thì cho anh xin
Hay là em để làm tin trong nhà.

Người con trai thật sự chưa chắc đã để quên cái áo, nhưng chàng cố ý gài người thôn nữ vào thế phải trả lời khi tỏ ý ngờ rằng nàng đã giữ cái áo của mình để làm tin.

Cũng có khi chỉ là một câu hỏi bâng quơ nhưng diễn đạt bằng những câu thơ thật trữ tình của một đêm trăng sáng, chàng trai có nhiều hi vọng để được cô gái trả lời:
Hỡi cô tát nước đầu làng
Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi

Nhiều khi chàng mạnh dạn hơn:

Cô kia cắt cỏ một mình
Cho tôi cắt với chung tình làm đôi
Cô còn cắt nữa hay thôi
Cho tôi cắt với làm đôi vợ chồng

Nhưng thường thì các chàng trai làng hỏi dọ ý một cách nhẹ nhàng hơn, không dùng hai chữ “vợ chồng” nghe có vẻ suồng sã, mà dùng hai chữ “kết duyên”, có vẻ thơ mộng hơn:
Hỏi xa anh lại hỏi gần
Hỏi em phỏng độ đương xuân thế nào
Thấy em là gái má đào
Lòng anh chỉ muốn ra vào kết duyên

Phía bên con gái, các thôn nữ không phải lúc nào cũng chỉ biết e lệ làm thinh, mà đôi khi cũng rất bạo dạn để ngỏ lời trước:

Hỡi anh đi đường cái quan
Dừng chân đứng lại em than vài lời.

Các cô bạo dạn, nhưng bạo dạn trong hồn nhiên:

Vào vườn hái quả cau xanh
Bổ ra làm sáu mời anh xơi trầu

Cử chỉ mời trầu đó không có tính cách lơi lả, mà chỉ chứng tỏ rằng người thôn nữ muốn sống thành thật với chính mình. Hai chữ “cau xanh” chỉ mối tình son trẻ, hai chữ “xơi trầu” có ý nghĩa trân trọng. Và bốn chữ ghép lại thành hai chữ “trầu cau” chỉ sự mong ước cho một mối duyên Tấn Tần. Người con trai chắc chắn không thể nào không nhận miếng trầu mời bởi người con gái trong cái cung cách lịch sự ấy.

Nhưng các cô thôn nữ nhiều khi sợ mình yêu mà chưa chắc đã được yêu, hay sợ tình yêu của mình đến chậm chăng, nên đôi lúc các cô cũng quanh co rào trước đón sau:

Anh đà có vợ con chưa
Mà anh ăn nói ngọt ngào có duyên
Mẹ già anh ở nơi nao
Để em tìm vào hầu hạ thay anh.

Những câu tỏ tình như đã kể trên thường chỉ là những câu mà trong lúc vắng vẻ, hai người đã hỏi ý cùng nhau. Tất cả đều là những câu mộc mạc chân tình, nhưng không kém vẻ lãng mạn trữ tình.

Trong những dịp hội hè có hát đối giữa hai nhóm trai gái của hai làng kế cận, những câu tỏ tình được gợi ra thật nhẹ nhàng bóng bẩy, như có chất thơ.

Bên con trai hỏi:

Bây giờ mận mới hỏi đào
Vườn hồng đã có ai vào hay chưa

Bên con gái đáp:
Mận hỏi thì đào xin thưa
Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào

Hay lãng mạn hơn:
Thân em như tấm lụa đào
Phất phơ trước gió biết vào tay ai

Thật là những câu đối đáp hết sức thi vị, mượn ngoại cảnh để nói lên nỗi lòng. Bảo rằng văn chương bình dân, nhưng nhiều khi còn trữ tình và thơ mộng hơn văn chương bác học. Chẳng hạn như nói tới lứa tuổi đôi mươi của người thôn nữ, phong cảnh đồng nội hữu tình đã được lồng trong ước mộng vàng son của lứa đôi:

Ngọc còn ẩn bóng cây tùng
Thuyền quyên còn đợi anh hùng sánh vai.

Người con gái cũng như bông hoa còn đang giấu nhụy để chờ ngày khoe sắc với chàng bướm lang quân.

II. Giai đoạn tình yêu.

Sau giai đoạn tỏ tình là đến giai đoạn yêu đương và đây là thời gian thơ mộng nhất cũng như đầy thử thách nhất. Nào yêu thương, nào nhớ nhung, nào giận hờn, nào xa cách, nào đợi chờ...

Hãy nghe chàng và nàng thủ thỉ bên nhau những lời âu yếm:

Thương anh, em để ở đâu
Để trong cuốn sách để đầu trang thơ
Thương em, anh để ở đâu
Để trong tay áo lâu lâu lại dòm

Khi phải tạm xa nhau, chàng trai luyến tiếc những giây phút cận kề:

Còn đêm nay nữa mai đi
Lạng vàng không tiếc, tiếc khi ngồi kề.

Trời đã sáng, những gặp gỡ hàn huyên đêm qua giờ chỉ còn là kỷ niệm mong manh để làm hành trang cho cuộc đăng trình.

Còn nàng thôn nữ thì cũng nức nở trong ngấn lệ đầy vơi:

Có đêm thơ thẩn một mình
Ở đây thức cả năm canh rõ ràng
Có đêm tạc đá ghi vàng
Ngày nào em chả nhớ chàng, chàng ơi.

Đi đâu, làm gì, nàng đều cảm thấy nỗi nhớ đeo đẳng và vương dấu tích khắp nơi khiến xao lãng cả công việc thường ngày:

Chiều chiều mang giỏ hái dâu
Hái dâu chả hái, nhớ câu ân tình

Những nhớ nhung đó đã đong đầy thêm tình yêu, để khi gặp lại thì hai người vội vã ước hẹn cho những mộng ước mai sau:

Nàng thì:

Ước gì chung mẹ chung thầy
Để em giữ cái quạt này làm thân

Và tình tứ hơn nữa:

Chải đầu chung cái lược ngà
Soi gương chung cả cành hoa giắt đầu

Còn chàng thì cũng dùng cái quạt để xẻ chia hương nồng:

Quạt này anh để che đầu
Đêm đêm đi ngủ chung nhau quạt này

Hay vẽ ra những âu yếm trang trọng mà chàng sẽ dành cho nàng:

Ước gì ta lấy được nàng
Để ta mua gạch Bát Tràng về xây
Xây dọc rồi lại xây ngang
Xây hồ bán nguyệt cho nàng rửa chân

Thật là cao sang, cầu kỳ và thơ mộng. Rồi thì cuối cùng cả hai cùng cầu nguyện cho một ngày vui mau pháo đỏ nhuộm đường:

Nấu chè van vái Nguyệt hà
Khiến cho sum hiệp một nhà phụng loan.

III. Giai đoạn tình nghĩa phu thê.

Rồi năm tháng qua, bánh xe tình yêu đã đưa đôi nam nữ đến bến bờ của yêu đương hạnh phúc. Bây giờ tình yêu không còn thuần túy là thương mây khóc gió hay vẩn vơ nhung nhớ nữa mà tình yêu đã đi chung với bổn phận và trách nhiệm.

Có những cuộc hôn nhân đem lại hạnh phúc và thủy chung, nhưng cũng có những cuộc hôn nhân chỉ đem đến đắng cay và chán chường.

1) Những cuộc hôn nhân hạnh phúc.

Sau ngày cưới, có những cuộc sống chung vẫn luôn luôn tốt đẹp. Đó là nhờ sự cố gắng yêu thương và nhường nhịn của cả đôi bên, nhưng phần lớn là nhờ ở người vợ với những đức tính hiền hòa, nhu mì và biết lẽ thủy chung.

Hãy ngắm nhìn hình ảnh đẹp của một đôi vợ chồng nông dân trong công việc đồng áng tuy vất vả nhưng luôn luôn có nhau để tạo dựng cuộc sống:

Trên đồng cạn dưới đồng sâu 
Chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa.

Hình ảnh đó đã phản ảnh lời cùng nhau hứa hẹn khi đang chuẩn bị cho cuộc hôn nhân

Làm sao nên nghĩa phu thê
Đó chồng đây vợ ra về có đôi.

hoặc sự hòa thuận xẻ chia gánh nặng đường đời:

Thuận vợ thuận chồng
Tát bể đông cũng cạn.

Nhưng để đi đến hạnh phúc ấy, cả hai vợ chồng đều phải nương cậy và nhường nhịn lẫn nhau:

Tay bưng dĩa muối chấm gừng
Gừng cay muối mặn xin đừng bỏ nhau.

Nhất là người vợ, với ảnh hưởng của nền luân lý đạo Nho, đạo Khổng:

Chồng ta áo rách ta thương
Chồng người áo gấm xông hương mặc người.

Chiều chồng và lo lắng món ăn thức uống cho chồng cũng là đức tính của người phụ nữ Đông phương. Họ cảm thấy đó là niềm vui, là bổn phận tự nguyện và xa hơn nữa, là hạnh phúc:

Đốt than nướng cá cho vàng
Đem tiền mua rượu cho chàng uống chơi.

Xem như thế, từ lúc gợi ý quen nhau đến lúc yêu thương và cuối cùng là cuộc sống chung lứa đôi, người dân Việt Nam đã hoàn toàn nêu gương tốt về sự yêu thương và chung thủy:

Dẫu cho đá nát vàng phai
Trăm năm duyên nợ chẳng phai chút nào.

2) Những cuộc hôn nhân không hạnh phúc.

Có những cuộc hôn nhân không đem lại hạnh phúc, do việc ép gả của mẹ cha, nhiều khi chỉ vì “môn đăng hộ đối” mà quên đi sự lựa chọn cần thiết của chính con mình:

Mẹ em ham thúng xôi dền
Tham con lợn béo tham tiền Cảnh Hưng
Bây giờ kẻ thấp người cao
Như đôi đũa lệch so sao cho bằng.

Hay người chồng về sau bỗng sinh “mèo chuột” và bỏ bê vợ con trong nỗi cô đơn mong chờ:

Gió đưa bụi chuối sau hè
Anh mê vợ bé bỏ bè con thơ.

Cũng đôi khi do tại người chồng bỗng nhiên va phải những thói hư tật xấu như cờ bạc hay rượu chè khiến hạnh phúc gia đình chỉ còn là hình ảnh đã phôi pha:

Chồng em nó chẳng ra gì
Tổ tôm xốc đĩa nó thì chơi hoang.

Danh từ “nó” dùng để chỉ người chồng, chứng tỏ rằng người vợ không còn tìm thấy ở chồng mình những điểm để nàng thương yêu hay kính trọng. Tuy nhiên vì sợ hàng xóm chê cười nên nàng đành cam chịu số phận hẩm hiu:

Nói ra xấu thiếp hổ chàng
Nó giận nó phá tan hoang cửa nhà
Đắng cay ngậm quả bồ hòn
Con nhà gia thế chồng con kém người.

Về phần những người chồng hiền lành, nhiều khi cũng rất buồn vì người vợ đã thiếu mặn nồng trong tình yêu. Nguyên do cũng vì tục tảo hôn, được cha mẹ gả cho một người vợ không yêu mình vì nàng đã có trước một người yêu:

Lấy chồng chẳng biết mặt chồng
Đêm nằm tơ tưởng đến ông láng giềng.

Hay có những bà vợ, tưởng rằng đã lấy nhau rồi thì không còn gì mà phải giữ gìn sắc đẹp, chỉ cần lo nội trợ là đủ. Họ đâu nghĩ rằng nếu ăn mặc bê bối hoặc để nhan sắc tàn phai, sẽ làm người chồng chóng chán và hạnh phúc gia đình cũng vì thế mà nhạt phai:

Chửa chồng nón thúng quai thao
Chồng rồi nón rách quai nào thì quai
Chửa chồng yếm thắm đeo hoa
Chồng rồi hai vú bỏ ra tày giành

Và những lời thở than chung về những cuộc hôn nhân không đẹp mà hiện tại chỉ là một gánh nặng:

Gái có chồng như gông đeo cổ
Trai có vợ như nhợ buộc chân

Hay:

Chồng gì anh, vợ gì tôi
Chẳng qua lá cái nợ đời chi đây

IV. Phần kết luận.

Tình yêu và hôn nhân, cũng như mọi chuyện trên thế gian, đều có những bề mặt trái không tốt đẹp. Tuy nhiên những bề mặt trái đó chỉ là thiểu số và so với các quốc gia Tây phương, tình yêu và hôn nhân của người Việt Nam chúng ta có rất nhiều điểm đáng ngưỡng mộ.

Trước tiên, tình yêu của người Việt chúng ta nặng nhiều về mặt tình cảm và nhẹ nhiều hơn về mặt vật chất. Tình yêu của chúng ta lãng mạn hơn và trữ tình hơn. Nhục dục không phải là vấn đề trên trước. Cho nên đã có câu:

Thấy em đẹp nói đẹp cười
Đẹp người đẹp nết ra vào đoan trang
Vậy nên anh gửi thư sang
Dù sao anh quyết lấy nàng mà thôi.

Về mặt hôn nhân, những đức tính nhường nhịn, dĩ hòa vi quý và thủy chung vẫn còn ảnh hưởng sâu đậm trong lề lối suy nghĩ và cư xử của chúng ta. Phải chăng nền luân lý thâm sâu của Nho giáo từ ngàn xưa trong lịch sử 4000 năm văn hiến vẫn chưa nhạt mờ trong tâm huyết:

Em ơi chua ngọt đã từng
Non xanh nước bạc ta đừng quên nhau

hay:

Trăm năm lòng gắn dạ ghi
Dẫu ai đem bạc đổi chì cũng không.

Người viết ước mong rằng bài soạn này sẽ là một đóng góp nhỏ bé trong phần sưu khảo và tìm hiểu về tình yêu nam nữ trong lãnh vực văn chương truyền khẩu Việt Nam mà các nhà phân tích văn học thường gọi là văn chương bình dân, để phân biệt với nền văn chương bác học mà những thi nhân hữu danh đã để lại bằng những văn bản cho đời sau.

Trần Ngọc
Thung Lũng Hoa Vàng
Mùa hè 2001
( Đã đăng trong tạp chí Suối Văn 2002, quên số ..)

No comments:

Post a Comment