Monday, May 15, 2017

Bài viết hay(4926)

Ngày xưa ông Thiệu rất ngại "đụng chạm" với mấy ông cha hay sư bởi vì cái chết của 2 ông Diệm - Nhu cứ ám ảnh hoài. Mỹ lẫn VC đều biết vậy nên cứ xúi cha với sư hù dọa ông Thiệu, dụ khị ông Kỳ. Thậm chí nhiều ông tỉnh trưởng cũng sợ sư với cha luôn. Từ Thích trí Quang, ni sư Huỳnh Liên, LM Trần Hữu Thanh cho đến giáo xứ Hố Nai. chùa Ấn Quang đều thích hù chính quyền, cảnh sát. Ngày nay, CSVN hiểu rõ tôn giáo hơn ai hết nên họ thẳng tay đàn áp từ trứng nước và chú Ted đừng hòng móc nối, xúi giục. 42 năm qua, VC đối đầu với tôn giáo không chỉ qua ban tôn giáo, công an mà còn có cả lực lượng sư và linh mục quốc doanh; chưa kể là an ninh "nằm vùng" len lỏi trong các chùa và nhà thờ. Giáo dân Thanh Nghệ Tĩnh nên học kinh nghiệm từ giáo dân Hố Nai trong việc biểu tình, đấu tranh với chính quyền, cảnh sát, an ninh.

Cái ác đã làm bá chủ?

Hình ảnh một người phụ nữ ở chợ Lương Văn Can, Hải Phòng ngồi thẩn thờ trước gian hàng thịt lợn (tức thịt heo theo cách nói người miền Nam) bị tạt dầu nhớt và chất bẩn khi mang thịt lợn nhà ra chợ ngồi bán vì giá thịt lợn quá rẻ, buộc phải tự mổ bán để vớt vát chút vốn liếng làm gợi nhớ hình ảnh Nguyễn Văn Thạnh bị an ninh giả dạng tạt đầy mắm thối và chất bẩn hay nhà của ông Huỳnh Ngọc Tuấn ở Tam Kỳ, Quảng Nam bị tạt đầy chất bẩn… tất cả đều là đòn bẩn, cho dù kẻ giả danh hay kẻ ra mặt thực hiện. Và tất cả cũng đều cho thấy, cái ác đã bá chủ thiên hạ, người ta hành xử với nhau bằng tính ácvà lòng thú hận giống như ăn một gói mì tôm hay ăn một ổ bánh mì mỗi sáng. Tại sao lại nên nông nổi như vậy?
Nói cho cùng, cái ác hay sự thiện lành đều tiếm ẩn trong mỗi con người, nó cũng giống như bào tử nấm có sẵn trong tự nhiên, với thời tiết, nhiệt độ thích ứng với loại bào tử nào thì loại nấm đó sẽ mọc tỉ lệ. Khi thời tiết xấu, khí độc nhiều, đương nhiên là nấm đỏ, nấm độc sẽ mọc nhiều, ngược lại, không khí trong lành, ẩm độ vừa đủ, nấm hương, mộc nhĩ, nấm mối hay nấm rơm sẽ mọc. Cái ác và sự thiện lành trong xã hội cũng vậy, khi mà môi trường giáo dục, văn hóa, ứng xử xã hội thiếu lành mạnh, thậm chí vô luân thì nhất định người ta phải mang cái ác ra để đối đãi với nhau và đương nhiên cái ác sẽ có cơ hội trỗi dậy, mọc ra như nấm sau mưa.
Xã hội Việt Nam hiện tại, dù cố gắng che giấu kiểu gì thì cũng không thể che giấu được bản chất độc ác của người Việt Nam, sự độc ác này lan tỏa từ nhà cầm quyền đến người dân, từ những người không quyền thế cho đến những kẻ ăn trên ngồi trốc. Một sự độc ác được nhen nhóm và lưu cửu thông qua huyết hệ Cộng sản. Không thể nói khác đi được, vì!
Vì trong mỗi gia đình, mỗi xóm làng, mỗi cụm dân cư hiện nay, dấu vết của đấu tố của những năm 1950 vẫn chưa hề phai, thậm chí, khi cần, tự nó phát tác đầy đủ màu sắc của nó. Bởi tính khí của phần đông người Việt vẫn chưa bao giờ thoát khỏi tâm lý đám đông và tâm lý lệ thuộc. Nghĩa là người ta trở nên nhỏ bé và sợ hãi khi đứng đơn độc nhưng người ta dễ tạo thành cơn vĩ cuồng theo chiều hướng đám đông. Và sở dĩ tâm lý đám đông này vẫn chưa bao giờ dứt khỏi phần đông người Việt bởi lịch sử phát triển dân tộc học Việt Nam quá đặc biệt, nó trải qua ba thời kỳ: Bắc thuộc, Phong kiến và Cộng sản xã hội chủ nghĩa. Miền Nam với chế độ tư bản, dân chủ chỉ là một vệt nhỏ kéo qua chưa đầy hai mươi năm rồi chết ngúm trong một ngày 30 tháng 4, trong một biến cố lịch sử nặng nề.
Thời kỳ Bắc thuộc, có thể nói ngắn gọn là người Việt thời bấy giờ chưa hoặc không có ý thức gì về dân chủ hay quốc gia, dân tộc gì cả, mãi cho đến thời phong kiến manh nha, khi mà Khúc Thừa Dụ, rồi đến Dương Đình Nghệ, đến Ngô Quyền tổ chức những cuộc chiến chống phương Bắc, dường như ý niệm dân tộc, quốc gia nhen nhóm hình thành nhưng chỉ giới hạn trong nhóm người xuất chúng này thôi.
Đến Khi Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân và xưng vương thì câu chuyện quốc gia, dân tộc lại manh nha lần nữa trong ý thức hệ phong kiến, quốc gia là của vua, dân tộc cũng là của vua. Và giai đoạn phong kiến này kéo dài mãi cho đến khi vị vua thứ 13 của triều Nguyễn, tức Bảo Đại thoái vị, một giai đoạn lịch sử mới hình thành với nửa phía Nam manh nha dân chủ, nửa phía Bắc hình thành độc tài. Đến năm 1954, nửa phía Nam vĩ tuyến 17 chính thức dẫm chân lên nền dân chủ, nửa phía Bắc chính thức đi vào độc tài trên danh nghĩa “cách mạng toàn dân, cứu quốc”.
Và đến năm 1975, toàn cõi Việt Nam chính thức bước vào thời đại mới với đầy đủ bóng đêm độc tài, toàn trị, tha hóa, dối trá và hèn nhát. Cái bóng đêm đó phủ cho đến tận hôm nay, dường như càng lúc, bóng đen càng nhuộm đen tâm hồn con người, không có lối thoát nào cho dân tộc, khi mà tâm hồn Việt Nam trơ nên đen đúa, tàn độc, không những ác độc với đồng loại mà người ta ác độc với cả bản thân của họ.
Những cuộc ruồng bố, bắt người, giết người, cướp của một cách “chính danh” theo chiến dịch đấu tố, rồi đến chiến dịch Mậu Thân 1968 với hàng triệu cái chết đau đớn, chiến dịch 1975 gọi là giải phóng miền Nam, thêm hàng triệu cái chết thảm do vượt biên, chết trong trại cải tạo, chết do uất ức vỉ mất mọi thứ, chết do bị đàn áp… Nói cho cùng, Việt Nam chưa bao giờ chấm dứt tội ác. Mà động cơ mạnh nhất để giết người, cướp của (kể cả cấp độ vĩ mô và vi mô) ở đây thường là vật dục. Để cướp nhà, cướp vợ của quân nhân Việt Nam Cộng Hòa, người ta sẵn sàng xuống tay, để đạt được mục đích chiến tranh, chiếm lấy miền Nam, người ta sẵn sàng xả súng không nương tay, để đạt được mục đích tận thu tài sản của người giàu, người ta sẵn sàng đấu tố một cách nhiệt tình nhất… Cuối cùng, mãi hàng trăm năm nay, hết đi từ hèn nhát, sợ sệt hay a dua đám đông, người ta chuyển sang hung tợn, hèn nhát và bầy đàn.
Và, cái ác không dừng ở chuyện đấu tố chính trị hay chuyện chiến tranh, cái ác đi vào học đường với đầy đủ máu me của nó trong trừng trang văn, từng tiết dạy công dân giáo dục hay triết học Mác – Lê nin với tư duy vật dục làm kim chỉ Nam. Để cho đến hôm nay, xã hội trở thành một tập hợp bầy đàn, những người có lương tri, còn lương tri cảm thấy lạc lỏng trong xã hội Việt Nam và những kẻ cơ hội lại tranh thủ tâm lý bầy đàn để thao túng, cát cứ.
Khi cái ác thực sự làm bá chủ, lòng nhân đạo, tình yêu thương hay đạo đức lại trở thành thứ xa xỉ, không thể dùng được trong xã hội. Con người bị cuốn cuồng trong cơn hỗn loạn và không tài nào rút chân ra khỏi nó được, bởi nó “chính danh”, bởi nó áp đặt và toàn trị, bởi nó thao túng mọi ngóc ngách từ xó xỉnh cuộc đời đến xó xỉnh tâm hồn, trí tuệ.
Khi cái ác thực sự bá chủ, cái ác trở thành sức mạnh và công cụ để nhà nước trấn áp nhân dân, trấn áp những ai bất đồng chính kiến với nhà nước, với đảng, thay vì lắng nghe, phân tích và nói lẽ phải để đổi mới, tiến bộ, người ta dùng ngay công cụ của mình là hiện thân cái ác, dùng ngay những kẻ đầu trâu mặt ngựa để đối phó nhân dân. Trường hợp Phan Sơn Hùng thách thức lương tâm, thách thức lẽ phải và thách thức đạo đức để ra tay uy hiếp, đánh đập một người phụ nữ, rồi sau đó lại tiếp tục thách thức pháp luật, thách thức lương tri giang hồ, lương tri xã hội bằng những lives stream, nó cho thấy cái ác đã thực sự bá chủ và có chỗ ngồi trong hệ thống công quyền Việt Nam hiện nay.
Cũng như trường hợp một kẻ cũng là phụ nữ, nỡ ra tay tàn độc (trường hợp này nên gọi là tàn độc!) với một phụ nữ khác chỉ vì chị này mang thịt lợn nhà ra chợ bán với giá rẻ hơn giá lợn chợ. Trong khi đó, người nuôi lợn tối kị việc giết mổ lợn mang ra chợ bán, người ta có thể giết mổ để cúng tế, ăn thịt ngày Tết nhưng mang đi bán là điều kiêng kị. Dám chấp nhận vượt qua điều kiêng kị để lấy lại chút vốn là một bước cam chịu của người nông dân bởi quá khó khăn, thị trường lợn đã xuống đến mức người nông dân hết chịu đựng được nữa. Lẽ ra phải thông cảm cho người nghèo, thậm chí giúp đỡ cho người nghèo, đằng này lại dùng thủ đoạn bỉ ổi, đổ dầu nhớt và chất dơ vào thịt của người ta. Hành vi này là hành vi của kẻ máu lạnh, của cái ác đã được kết tụ thành sỏi trong tư duy và hành động.
Hay nói cách khác, khi cái ác bá chủ thiên hạ, dường như sự lương thiện là một điều gì đó rất không tưởng và lạc lỏng, người ta sẵn sàng mang cái ác ra để đối đãi với đồng loại, với thiên nhiên và xem điều đó như ăn cơm hay uống nước. Ra nông nỗi này là do ai?

Hà Nội trong mắt ai

Hà Nội không vội được đâu” (khuyết danh)
Tôi mạn phép mượn cái tên phim của đạo diễn Trần Văn Thủy (và câu châm ngôn hóm hỉnh đó) để nói về Hà Nội, vì chưa tìm được câu gì hay hơn. Tôi biết ông Thủy không phản đối, không phải chỉ vì ông ấy là bạn của tôi, mà còn vì lúc đó ông Thủy cũng đang bí cờ thì tình cờ nghĩ ra cái tên đó cho bộ phim “như được thần linh mách bảo” (lời ông Thủy).
Hà Nội đầy nghịch lý
Tuy ông Thủy từng bị “lên bờ xuống ruộng” vì “Hà Nội trong mắt ai”, nhưng cuối cùng câu chuyện đã kết thúc có hậu khi bộ phim và tác giả của nó trở thành nổi tiếng, như một “hệ quả không định trước” (unintended consequence). Tôi rất thích cái nghịch lý trớ trêu ấy. Phải chăng Hà Nội chính là một thành phố đầy nghịch lý, vì vậy mà nó hấp dẫn và ám ảnh người ta như một ma lực vô hình. Mỗi khi nghĩ về Hà Nội, tôi cứ tự hỏi tại sao rất nhiều người (cả Ta lẫn Tây) lại bị hấp dẫn và ám ảnh đến thế bởi cái thành phố nhỏ bé đầy bụi bẩn này.

Thật khó nhớ hết những bản nhạc, bài hát, câu chuyện nói về Hà Nôi. Dù người ta có kêu ca phàn nàn về Hà Nội, nhưng nếu ai đã từng sống lâu ở đó thì mỗi khi đi xa lại nhớ, lại buồn, lại yêu Hà Nội hơn, như một mối tình khó quên (và khó lý giải). Phải chăng Hà Nội đầy nghịch lý. Và chính những nghịch lý đó đã tạo ra sự hấp dẫn vô hình “phi vật thể”.     
Tôi không định kể chuyện Hà Nội vì sợ “múa rìu qua mắt thợ”, mà chỉ muốn chia sẻ vài suy nghĩ thoáng qua về những gì liên quan đến bản sắc (identity) của cái thành phố đặc biệt này. Không phải vì nó là “trái tim của cả nước”, cũng không phải vì Hà Nội mới to gấp mấy lần Hà Nội cũ, mà vì nó tiềm ẩn nhiều nghịch lý hấp dẫn và ám ảnh nhiều người.   
Câu chuyện khu phố cổ
Trong khu phố cổ Hà Nội (còn được gọi là “36 phố phường”) có khu phố Tàu (China town). Nhưng khi chiến tranh với Trung Quốc xẩy ra (2/1979) người Hoa đã bị xua đuổi khỏi Hà Nội.  Trong mấy năm sau đó, khu phố Tàu bị bỏ hoang như vô chủ, tiêu điều như một khu phố ma, chẳng ai buồn đến. Thế rồi chẳng biết từ khi nào và tại sao, khu phố đó lại hồi sinh, sầm uất trở lại, đầy sức sống và hấp dẫn khách thập phương, cả Tây lẫn Ta.
Cả ngày lẫn đêm, khách thập phương đổ về khu phố cổ như có nam châm hút dòng chảy năng lượng con người. Hễ chỗ nào đông khách du lịch thì khách sạn và hàng quán lại mọc lên. Tuy khu phố cổ chẳng có cái gì “hoành tráng”, nhưng tại sao nó lại hấp dẫn khách du lịch hơn các nơi khác? Có người gọi đó là “cái hồn” (the soul) của phố và vỉa hè như là giao diện của “Đông-Tây hội ngộ”. Nói cách khác, đó là sự hấp dẫn vô hình, phi vật thể, gần như siêu thực mà có người giải thích bằng phong thủy hay “thần thái” (ambience).  
Sự phục sinh hay biến đổi của khu phố cổ hầu như tự phát do người dân, chứ không phải do quy hoạch đô thị, hay là tác phẩm của các nhà kiến trúc. Hình như nó diễn ra theo một quy luật hay do “bàn tay vô hình” nào đó, mà người ta chưa lý giải được. Câu chuyện nên bảo tồn khu phố cổ thế nào vẫn còn là một đề tài gây tranh cãi mãi, làm tốn nhiều giấy mực của các nhà nghiên cứu và quản trị đô thị. Nhưng chính họ cũng chẳng can thiệp được mấy vào cuộc sống sôi động của khu phố cổ này. Đó cũng là một thực tế và một nghịch lý về Hà Nội.
Bên cạnh khu phố Tàu (China town) là khu phố Tây (French town). Đó là hai đặc trưng truyền thống, là di sản văn hóa của Hà Nội. Từ xưa các cụ nhà ta đã nói “ăn cơm Tàu, ở nhà Tây, lấy vợ Nhật” như tiêu chí sành điệu thời thượng. Tuy người Hà Nội không thiếu cơm Tàu và nhà Tây, nhưng thiếu vợ Nhật. Phải chăng để bù lại, người Hà Nội thích cưỡi xe máy Honda (họ nói xe Honda máy móc bền và ít tốn xăng). Nhưng mấy anh Tây đến Hà Nội còn thực dụng hơn, vì họ “ăn cơm Việt” (cơm bụi), “lấy vợ Việt” (đỡ tốn), “ở nhà Việt” (nhà vợ).
Câu chuyện đô thị mới
Thực ra, nhà nước có thể đầu tư nhiều tỷ USD để xây dựng một thành phố mới hoành tráng làm thủ đô như Naypyidaw (Myanmar). Đó là một thành phố hiện đại nhưng “vô hồn” (soulless), chẳng ai buồn đến, trừ các quan chức và viên chức chính phủ phải làm việc (và gia đình họ). Yangon cũ kỹ (nhưng có hồn), khác với Naypyidaw hiện đại (nhưng vô hồn). Chẳng ai thích một thành phố vô hồn, giống như thành phố ma (ghost town). Nhớ lại cách đây đã lâu, Việt Nam cũng định xây dựng thủ đô mới tại Xuân Mai hay đâu đó (thật hú vía!).
Hà Nội ngày nay còn có một đặc trưng nữa là các khu đô thị mới (new towns) đang mọc lên quanh Hà Nội như các đô thị vệ tinh. Đây là một câu chuyện đáng nói, vì các khu đô thị mới cũng phản ánh một phần “hội chứng Naypyidaw” (thu nhỏ). Ngoài khu đô thị Trung Hòa-Nhân Chính là các khu đô thị Mỹ Đình hay Ciputra, với những tòa nhà ngày càng cao (cao mãi), như một tiêu chí “đổi mới” trong tư duy đô thị hóa (urbanization). Thực ra đối với người Hà Nội, nhà cao tầng (căn hộ) không thể thay thế được “nhà Tây” (biệt thự). 
Nếu đặc trưng của khu phố cổ là vỉa hè và các con phố nhỏ mềm mại, chủ yếu để giao lưu, thì đặc trưng của khu đô thị mới là các con đường to và các dãy nhà cao tầng/biệt thự được quy hoạch thẳng hàng và cứng nhắc như trại lính. Mật độ xây dựng dày đặc với hàng loạt nhà cao tầng dẫn đến mật độ dân cư quá đông làm ách tắc giao thông, nhưng công năng của vỉa hè lại không ăn nhập với nhu cầu đi bộ (trừ các công viên nội bộ trong khu dân cư). Đây là một nghịch lý bất cập mà các nhà quy hoạch đô thị chắc chưa tính đến, trong khi hầu hết các chủ đầu tư bất động sản chỉ quan tâm đến xây nhà để bán nhằm thu hồi vốn (và lãi).  
Tuy các nhà đầu tư bất động sản có thể ngụy biện do quy luật cung - cầu, nhưng các nhà quy hoạch và quản trị đô thị lại khó lý giải được những bất cập đang xuất hiện tại nhiều khu đô thị mới, như một cái bong bóng khổng lồ (có thể vỡ). Thực ra các nhà quy hoạch đô thị chỉ là “cánh tay kéo dài” (như công cụ) đang bị thao túng bởi các nhóm lợi ích chỉ quan tâm đến cái lợi trước mắt, mà không thấy rủi ro tiềm ẩn của đô thị hóa bằng mọi giá. 
Tại sao họ lại quy hoạch các khu đô thị mới như vậy? Chỉ có thể lý giải bằng mấy lý do: (1) di chứng chiến tranh vẫn còn tồn đọng trong tư duy của họ; (2) ảnh hưởng của kiến trúc theo mô hình Liên Xô/Trung Quốc/Hàn quốc vẫn tác động đến văn hóa kiến trúc; (3) mục đích “chụp giật và đánh quả” vẫn chủ đạo và chi phối quy hoạch đô thị. Yếu tố con người (nhân văn) và thiên nhiên (cây xanh) không thực sự quan trọng với họ. Có lẽ vì thế mà Hà Nội đã từng chủ trương chặt cây xanh cổ thụ, chỉ vì mục đích vụ lợi (hay “đánh quả”).
Hà Nội xưa và nay
Theo Tiến sĩ Nguyễn Văn Chính, Hà Nội vẫn chưa trở thành một đô thị hoàn chỉnh, vẫn chỉ ở “phía bên kia của làng xã”. Mỗi khi nói đến Hà Nội như một thực thể văn hóa có bản sắc riêng, người ta không được quên có một “Hà Nội nhà quê” và một “Hà Nội kẻ chợ”. Giáo sư sử học Trần Quốc Vượng thì kết luận, “Ba chữ ‘Nông thôn, Nông dân và Nông nghiệp’ là hằng số của lịch sử văn hóa Việt Nam” (“Đi tìm bản sắc văn hóa Hà Nội”, Nguyễn Văn Chính, Vietnam Net, 17/9/2014). Còn nhà phê bình Vương Trí Nhàn thì cho rằng Hà Nội bốn thập kỷ sau chiến tranh vẫn trông giống một thành phố thời hậu chiến, với những bức tường loang lổ rạn nứt, và những ngôi nhà cũ kỹ, ọp ẹp, chắp vá... “Cả Hà Nội mang dáng dấp một cái chợ phóng to” (“Khi Hà Nội trở thành chính mình”, Vương Trí Nhàn, 28/4/2015).
Hà Nội là một đô thị đặc biệt vì nó là một thành phố kiểu Á - Âu điển hình. Đây là nét độc đáo hiếm thấy trong các thành phố cổ ở châu Á. Hà Nội không chỉ có dấu ấn văn hóa của người Hoa, mà còn có di sản văn hóa của người Pháp. Có người nói “Hà Nội đẹp như Paris”. Đó là cách ví von để mô tả khu phố Tây, với những đường phố và biệt thự Pháp. Ngoài phố Tràng Tiền và Hàng Khay, còn có các phố Rue Jules Ferry (Hàng Trống), Rue Gia Long (Bà Triệu),  Rue Francis Garnier (Đinh Tiên Hoàng), Boulevard Rollandes (Hai Bà Trưng), Boulevard Careau (Lý Thường Kiệt) và Boulevard Gambetta (Trần Hưng Đạo)(1)…
Vào đầu thế kỷ 20, Hà Nội tuy nhỏ bé nhưng là “hòn ngọc Viễn Đông”. Nay hòn ngọc đó đã biến thành một công trường khổng lồ, ngổn ngang, như thời chiến. Ấn tượng nhất là những cột điện với những cuộn dây cáp nhằng nhịt như cái mạng nhện khổng lồ mà Bill Gates dù thông minh đến mấy cũng không thể nào hiểu nổi. Nhưng cái cột điện vẫn chưa nguy hiểm bằng cái loa phường vì nó gây ô nhiễm âm thanh như để khủng bố tai người dân Hà Nội suốt mấy thập kỷ qua. Cả hai tuyệt tác nghệ thuật đó vẫn mặc nhiên tồn tại một cách khó hiểu, bất chấp thời gian như một thứ bảo tàng vĩnh cửu. Đó là một nghịch lý mang bản sắc Hà Nội, như để nhắc nhở người dân thủ đô văn minh phải nhớ thời chiến tranh và bao cấp.  
Hà Nội đã thay đổi quá nhiều: nay có 7,5 triệu dân (2015), gồm cả Hà Đông và Sơn Tây, với nhiều khu đô thị mới. Nhưng hình như “nhà càng cao thì văn hóa càng thấp”, đặc biệt là văn hóa giao thông. Nạn kẹt xe ngày càng trầm trọng, với số lượng xe máy khổng lồ (hơn 6 triệu chiếc). Đường phố Hà Nội ngày càng giống đường nông thôn, vì đầy ổ gà và sống trâu. Nhiều đoạn đường xuống cấp nhanh, đi xe máy rất nguy hiểm vì những ổ gà hay nắp cống làm xe nhảy chồm lên như vượt chướng ngại vật. Ngày trước, thỉnh thoảng còn thấy người ta duy tu đường, nhưng nay chỉ thấy họ thay nhau đào đường hay vỉa hè để làm cống, đặt cáp, hay lát lại tạm bợ, chắp vá, tùy tiện cho xong chuyện, chẳng biết ai chịu trách nhiệm.  
Mỗi khi ra đường, người dân lo nơm nớp như “thập diện mai phục”. Người nước ngoài mới tới Hà Nội lần đầu không dám qua đường một mình vì sợ xe máy. Nếu buộc phải qua đường thì phải bám vào tay người khác, liều mạng nhắm mắt đưa chân như đánh bạc với thần chết. Theo Phó Thủ tướng Trương Hòa Bình, Chủ tịch Ủy ban ATGT Quốc gia, mỗi ngày cả nước có 24 người chết và 60 người bị thương vì tai nạn giao thông (VietnamNet, 11/5/2017). Theo Chủ tịch Ủy ban TWMTTQVN Nguyễn Thiện Nhân, “số người chết do tai nạn giao thông trong 3 năm bằng số người chết do dịch bệnh 100 năm” (VNExpress, 24/11/2016).
Không phải chỉ có tai nạn giao thông đang đe dọa sinh mạng người dân Hà Nội, mà ô nhiễm không khí, nguồn nước, thực phẩm, và rác thải là những rủi ro tiềm ẩn gây bệnh tật, như “thập diện mai phục”. Nhiều người phải bán nhà mặt đất để mua căn hộ cao tầng vì lo sợ ô nhiễm không khí. Chủ tịch Hà Nội Nguyễn Đức Chung thừa nhận ô nhiễm môi trường ở Hà Nội “đang ở mức báo động đỏ”. Theo ông Chung, nguồn ô nhiễm lớn nhất xuất phát từ 2,5 triệu xe máy cũ, đã hết hạn sử dụng từ trước năm 2000 (VNExpress, 17/2/2017).
Gần đây, Trung tâm Phát triển Sáng tạo Xanh (GreenID) cho biết trong năm 2016, Hà Nội đã trải qua 8 đợt ô nhiễm không khí nghiêm trọng. Chỉ số ô nhiễm bụi PM 2.5 ở Hà Nội cao gần gấp 2 lần tại TP HCM. Về lượng bụi PM 2.5 trung bình năm 2016 ở TP HCM là 28,23 µg/m3 (quy chuẩn là 25 µg/m3), trong khi tại Hà Nội chỉ số này lên tới 50,5 µg/m3, cao gấp đôi so với ngưỡng quy chuẩn của quốc gia và cao gấp 5 lần so với ngưỡng trung bình của WHO. Hà Nội chỉ đứng sau New Delhi (124µg/m3). (Zing, 17/2/2017).
Đằng sau câu chuyện Vỉa Hè
Chủ tịch Hà Nội Nguyễn Đức Chung đã nổi lên như một ngôi sao sau mấy sự kiện gần đây, làm ông Chung được lòng dân. Đó là cách giải quyết ôn hòa vụ tranh chấp gay cấn tại Đồng Tâm, và cách xử lý triệt để vụ giải tỏa vỉa hè tại Hà Nội. Tuy Hà Nội làm triệt để, dám vạch thẳng sự thật là nguyên nhân chính do công an phường hay quận bảo kê các nhóm lợi ích địa phương, nhưng các “lực lượng chức năng” lại không đập phá vỉa hè thô bạo như trong TP HCM. Người ta nói vui rằng ông Chung “tuy là công an nhưng hơi bị được”.
Di sản chiến tranh với đặc thù cực đoan và thô bạo vẫn tiềm ẩn trong tư duy và hành động của nhiều người trong chính quyền. Nó phản ánh vào tư duy quy hoạch đô thị (trông như trại lính) hay chiến dịch dẹp vỉa hè (như thời chiến). Hình ảnh ông Đoàn Ngọc Hải (Phó chủ tịch quận 1) trực tiếp dẹp vỉa hè tại TP HCM là một ví dụ điển hình về cực đoan và thô bạo đến vô cảm. Tuy Việt Nam đã biến thành thị trường, nhưng vỉa hè vẫn là chiến trường. 
Theo Robert Neuwirth, nền kinh tế phát triển nhanh nhất thế giới không phải là Trung Quốc, mà là “System D”, với GDP là 10 ngàn tỷ USD, chỉ kém Mỹ là 14 ngàn tỷ USD (“The Shadow Superpower”, Robert Neuwirth, Foreign Policy, October 28, 2011). “System D” là viết tắt từ tiếng Pháp “debrouiller” (hay debrouille), có nghĩa là khả năng xoay xở và thích ứng với mọi hoàn cảnh để tồn tại. Đó là nền kinh tế ngầm gồm cả buôn lậu và trốn thuế, mà người ta còn gọi lịch sự là “tiểu ngạch”, đang nuôi sống hàng triệu người thất nghiệp và buôn bán nhỏ. Người Việt Nam rất giỏi về “System D” nên đã tồn tại được trong chiến tranh cũng như thời bao cấp hay khủng hoảng kinh tế. Hà Nội là một thủ đô của “System D”.
Quyết định giải tỏa vỉa hè tuy đúng, nhưng nếu làm cực đoan và thô bạo thì sai, vì nó phản tác dụng và dẫn đến những hệ quả khó lường. Tại các nước đang phát triển (như Việt Nam), vỉa hè và chợ cóc tại các đô thị là một phần của “System D”, đang nuôi sống hàng triệu người dân mà nhà nước chưa đủ khả năng bảo trợ. Ngay tại các nước phát triển, hệ thống phúc lợi và an sinh xã hội cũng chưa thể thay thế được “System D”. Khi dẹp vỉa hè và chợ cóc có lẽ chính quyền chưa nghiên cứu kỹ xem liệu nó có hệ quả kinh tế gì đối với xã hội.
Robert Neuwirth cho rằng do khả năng ứng phó (spontaneous) và biến báo (improvisation) nên “System D” sẽ đóng vai trò chủ yếu (crucial) cho sự phát triển của các đô thị trong thế kỷ 21. Tổ chức OECD dự báo là đến năm 2020, “System D” sẽ thuê 2/3 nhân công trên thế giới. Hơn nữa,  “System D” còn phổ cập được công nghệ mới ra thế giới với giá rẻ hơn để người nghèo cũng tiếp cận được. Nó có thể phân phối sản phẩm công bằng hơn, với giá rẻ hơn các công ty lớn. Nói cách khác, “System D” sẽ trở thành “siêu cường kinh tế lớn thứ hai thế giới”, và là tương lai của nền kinh tế toàn cầu. Chính Trung Quốc đã trở thành trung tâm thương mại và công xưởng của thế giới một phần bởi vì họ biết cách vận dụng sân chơi của “System D”.
Đằng sau câu chuyện Kong  
Cách đây khoảng 2 tháng, UBND TP Hà Nội đã nhận được công văn của Bộ Văn hóa về việc dựng mô hình giới thiệu phim “Kong: Skull Island” tại Hồ Gươm. Theo Bộ Văn hóa, “nhằm tận dụng ảnh hưởng dự án phim có mức đầu tư cao, có bối cảnh chính quay tại Việt Nam và được công chúng toàn cầu chờ đợi, Bộ phối hợp với Công ty phát hành tổ chức một loạt các hoạt động nhằm thúc đẩy quảng bá du lịch Việt Nam nói chung và thủ đô Hà Nội nói riêng”. Nhưng trước phản ứng bất bình của dư luận, UBND TP Hà Nội đã trả lời Bộ Văn hóa là việc dựng mô hình khỉ Kong tại khu vực tượng đài “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” hoặc các khu vực khác xung quanh Hồ Gươm, là “không phù hợp” (VNExpress, 14/3/2017).
Người ta hiểu Hà Nội bác yêu cầu trên là có vai trò của ông Nguyễn Đức Chung, vì thông thường Sở Văn hóa phải nghe theo Bộ Văn hóa. Không chỉ muốn dựng mô hình khỉ Kong tại Hồ Gươm, Bộ Văn hóa còn chọn đạo diễn Jordan Vogt-Robert làm “đại sứ du lịch”. Đây là một quyết định còn ngớ ngẩn hơn là trước đây đã chọn cô Nhã Kỳ hay cậu Bobby Chin làm “đại sứ”, phản ánh tầm nhìn văn hóa và chính trị thiển cận của những người làm công tác văn hóa và du lịch (nếu không phải nhóm lợi ích còn có động cơ gì khác phía sau).
Theo các nguồn tin trong ngành điện ảnh, hãng phim Legendary (chủ đầu tư của Kong: Skull Island) đã được tập đoàn Wanda (Đại Liên Vạn Đạt) của trùm bất động sản Trung Quốc Wang Jianlin (Vương Kiện Lâm) mua vào năm 2015 với giá 3,5 tỷ USD (Vương Kiện Lâm là cựu sĩ quan quân đội Trung Quốc). Sự thâm nhập của Trung Quốc vào Hollywood làm người Mỹ lo lắng. Năm 2016, 18 dân biểu của cả hai đảng, trong đó có Chủ tịch Ủy ban Tình báo Hạ viện, đã yêu cầu giám sát chặt chẽ hơn các vụ đầu tư, trong đó có vụ Wanda mua Legendary. Quốc hội Mỹ đặt câu hỏi, “Liệu định nghĩa về an ninh quốc gia có nên mở rộng để đề cập những mối lo về tuyên truyền và kiểm soát truyền thông và các định chế quyền lực mềm?”
Chẳng lẽ ngành Văn hóa - Du lịch Việt Nam không còn cách gì khác, mà phải lấy hình ảnh con khỉ Kong đã lỗi thời và nhàm chán (thậm chí phản cảm về văn hóa) để quảng bá cho hình ảnh du lịch Viêt Nam đang bị sa sút vì quản trị yếu kém. Ngoài bối cảnh đẹp, đằng sau bộ phim Kong này là câu chuyện gì? Phải chăng Việt Nam bị phụ thuộc quá nhiều vào Trung Quốc về kinh tế, nay cần phụ thuộc nốt về văn hóa cho “đúng quy trình”?  Chẳng lẽ cụ Tản Đà vẫn còn đúng, “Dân hai nhăm triệu ai người lớn/Nước bốn ngàn năm vẫn trẻ con”.  
Thay lời kết
Hà Nội (hay Sài Gòn) muốn “trở về tương lai” (back to the future) như “Hòn ngọc Viễn đông” thì trước hết phải đổi mới thể chế, dù “muộn còn hơn không”.  Nếu chưa đổi mới được cả nước, thì hãy đổi mới thành phố của mình, nếu không muốn tụt hậu so với Lào và Campuchia. Chính quyền và người dân đều phải đổi mới, vì “dân nào thì chính phủ ấy”.
Đã đến lúc Hà Nội cần chứng minh dù “gần mặt trời” nhưng vẫn có thể “biến điều không thể thành có thể”.  Câu nói “Hà Nội không vội được đâu” có thể đúng với thời Chủ tịch Nguyễn Thế Thảo, nhưng chưa chắc đúng với thời Chủ tịch Nguyễn Đức Chung. Ông Chung ít nhất đã hai lần chứng minh ngược lại khi trực tiếp chỉ đạo giải tỏa vỉa hè Hà Nội và xử lý sự cố Đồng Tâm một cách ôn hòa nhưng hiệu quả, tuy hai sự kiện đó rất “nhạy cảm”.
Nếu Đồng Tâm là một bước ngoặt, thì Hội nghị TW5 là một cái mốc đo thực tâm chống tham nhũng cũng như chủ trương đổi mới thể chế (và nhất thể hóa) của Việt Nam. Nếu chống tham nhũng là cái ngọn thì đổi mới thể chế là cái gốc (trong mối quan hệ nhân quả). Trong khi người Thái đang biến Việt Nam thành thị trường của họ (mua lại doanh nghiệp), thì người Việt đang biến đất nước mình thành chiến trường (bằng tranh giành quyền lực).
12/5/2017Nguyễn Quang Dy

Macron: những thử thách trước mặt

Macron chính thức trở thành Tổng thống thứ 8 của đệ ngũ Cộng hoà Pháp Pháp. Ông Tổng thống trẻ nhất lịch sử Pháp, vừa dọn nhà vào điện Elysée sáng hôm nay, Chủ nhật 14/5, bắt đầu một nhiệm kỳ mới. Người ta đã nói tới Macron như một Kennedy, Macron muốn làm việc theo tinh thần, phương pháp Obama, thích hợp với thời đại Internet , ra khỏi sự trói buộc ý thức hệ tả, hữu đã đè nặng sinh hoạt chính trị Pháp, biến nước Pháp thành một quốc gia tụt hậu.
The Kid
Tổng thống Hollande trao chìa khóa cho một người có thể coi là con tinh thần, mà ông đã nhấc ra khỏi nhà ngân hàng Rothschild cách đây hơn 2 năm, đưa vào Elysée làm cố vấn, làm phụ tá Tổng thư ký Tổng thống phủ, Bộ trưởng Kinh Tế, với hy vọng người cộng sự viên trẻ, mặc dù không có kinh nghiệm chính trị, nhưng khả năng được nhiều người ca ngợi, sẽ giúp Hollande chuẩn bị tái ứng cử.

Hollande không bao giờ ngờ vài tháng sau phải nhường ghế cho ‘’The Kid’’ (biệt danh một tờ báo dành cho Macron). Hollande, biết mình không có hy vọng, đã quyết định không tái cử, chuyện chưa hề xẩy ra trong đệ ngũ Cộng hoà. Hollande nói Macron đã ‘’phản bội‘’ ông ta một cách có phương pháp, nhưng sáng Chủ nhật, chắc Hollande cũng hài lòng thấy mình trao tay hòm, chìa khoá cho một người gần với mình, cả về quan điểm chính trị lẫn liên hệ cá nhân, hơn là đối thủ phe hữu François Fillon, hay, bi đát hơn, Marine Le Pen, mà Hollande cho là một đại họa cho nước Pháp và Âu Châu.
Macron vẫn có ý muốn làm chính trị, nhưng những ngày chung đụng với chính giới từ hai năm qua đã khiến Macron muốn đốt giai đoạn, muốn nắm quyền, muốn dẹp các đảng phái để cải cách nước Pháp theo ý mình.
Bộ trưởng Kinh tế thời Holland, Macron soạn thảo một dự luật nhằm cải tổ luật lao động Pháp, cởi trói về mặt hành chánh rườm rà, các điều luật khắt khe (khởi đầu là để bênh vực thợ thuyền, dần dần trở thành những trở ngại cho việc tuyển mộ), để khuyến khích các xí nghiệp tích cực hơn trong việc tuyển mộ. Ở Pháp, mỗi ông Bộ trưởng Lao động, hoặc dưới áp lực của các nghiệp đoàn, hoặc muốn để lại tên mình cho hậu thế, đều đẻ ra một vài luật mới, khiến luật lao động Pháp trở thành phức tạp, không một xí nghiệp nào hiểu nổi, nếu không có chuyên viên. Bộ luật lao động của Pháp nặng ba ký lô, trong khi luật lao động Thụy Sĩ chỉ vài trang. Không ai nói thợ thuyền Pháp được bảo vệ hơn thợ thuyền Thụy Sĩ .
Dự luật ra trước Quốc hội, bị phe hữu chống, cho là không đủ mạnh, phe tả cho là quá mạnh, đã xâm phạm trắng trợn quyền công nhân. Cuối cùng Hollande và Thủ tướng Manuel Valls nhượng bộ, mặc dù cùng lập trường với Macron, và, để tránh đụng độ với nhóm dân biểu xã hội quá khích, đã trao việc bênh vực dự luật cho một Bộ trưởng Lao động, còn ít kinh nghiệm chính trị hơn Macron, bà Myriam El Khomri. Luật Khomri ra đời, vá víu, không còn gì của dự luật cũ.
Macron nói nhiều dân biểu, chính khách, trong những lần gặp riêng, cho hay hoàn toàn đồng ý với ông ta, nhưng trước công luận, đã tuyên bố nguợc lại, với lý do một người phe tả, hay phe hữu, không thể nói khác hơn đường lối của phe mình.
Macron, từ đó, đi tới kết luận phải dẹp bỏ các chính đảng quen làm việc theo kiểu cũ, nếu muốn cải cách nước Pháp. Macron nhắm cái ghế cao nhất, nhiều quyền hành nhất nước Pháp
Brigitte và Manette
Macron từ chức Bộ trưởng, lập phong trào En Marche (Lên đường) và tuyên bố ra ứng cử Tổng thống, trước sự nhạo báng của các chính khách kỳ cựu. Ai cũng nghĩ một sớm một chiều lập đảng, ra ứng cử Tổng thống là chuyện điên khùng, hay trò chơi của một con dê trẻ, háo thắng, muốn báo chí nói tới mình, để có 15 phút vinh quang trong đời, như một câu nói của Andy Warhol.
Đối thủ chính trị tìm mọi cơ hội gắn chặt Macron với hình ảnh một nhân viên ngân hàng, biết rằng người Pháp ghét thế lực tài phiệt. Những người quen biết Macron cho hay trong đời tư, hai vợ chồng Macron chỉ giao du với giới nghệ sĩ, các nhà văn.
Qua những bài phỏng vấn, Macron cho thấy ông ta có kiến thức văn hóa cao, thấm nhuần văn chương, triết học. Nhờ hai người đàn bà: bà vợ, Brigitte, cựu giáo sư văn chương và bà nội. Brigitte đọc nhiều, dẫn chồng vào thế giới khác với thế giới kinh tài.
Một người bạn nói Brigitte gọi điện thoại mỗi đêm để bàn về Chateaubriand. Nói về nước Pháp, Macron trích dẫn một hàng ngũ đông đảo những nhà văn, những triết gia. Người đàn bà thứ hai, ảnh hưởng hơn nữa với Macron là bà ngoại, Germaine Noguès, Macron gọi là Manette. Hai bà cháu gần nhau từ khi Macron còn nhỏ, suốt ngày quanh quẩn với Manette. Manette coi chuyện dạy dỗ, giáo dục đứa cháu cưng là chuyện quan trọng nhất đời mình. Macron nói từ 5 tuổi, khi ra khỏi lớp, chú nhỏ Emmmanuel chạy về nhà để Manette kèm thêm về văn phạm, lịch sử, địa dư. Và đọc sách. ‘’Tôi bỏ cả buổi đọc sách bên cạnh bà nội. Molière, Racine, Georges Duhamel, Mauric, Giono…’’. Manette cũng là một nhân vật khác thường. Mẹ mù chữ, bố làm nhà gare, biết đọc biết viết, Manette tự học, trở thành giáo viên, giáo sư, rồi Hiệu trưởng trường trung học. Ngưỡng mộ bà nội, Macron tin vào sự quan trọng của giáo dục. Ông ta nói đó là chìa khóa của tất cả , và hứa sẽ đặt giáo dục vào ưu tiên hàng đầu.
Macron khác với những chính khách cùng tuổi, chịu khó tìm hiểu, học hỏi để có một kiến thức khác hơn là kiến thức chuyên môn. Mitterrand, một ông Tổng thống có trình độ văn hoá cao, nói: ‘’sau tôi, sẽ chỉ có những kế toán viên‘’. Mitterrand lầm, Macron là người nối lại truyền thống của những nhà lãnh tụ có văn hóa, ngoài khả năng chuyên môn. Trước Mitterrand, De Gaulle là một nhà văn. Pompidou, xuất thân từ ngân hàng Rothschild như Macron, là một chuyên viên về thơ Pháp và nghệ thuật mới.
Vịt của Mitterrand, chó của Holland
Macron và Hollande đã bàn giao sáng Chủ nhật. Đây cũng là lần đầu tiên một lễ bàn giao diễn ra một ngày Chủ nhật. Người ta thường dùng hình ảnh cựu Tổng thống trao ẩn số bom nguyên tử cho tân Tổng thống trong nửa giờ bàn giao. Sự thực chỉ có chuyện trao một dãy số identifiant, để khi Tổng thống ra lệnh, giới chức quân sự biết đó là lệnh của Tổng thống, và diễn ra trong một dịp khác, giữa tân Tổng thống với bộ tham mưu quân sự. Jacques Attali, cố vấn thân cận của Mitterrand, kể: khi được trao số mật, Mitterrand đeo vào cổ, khi cởi áo, quên mất. Dinh Tổng thống phải cấp kỳ gởi người tới nhà giặt quần áo để lấy lại.
Trong một giờ bàn giao, giữa hai người, không có nhân chứng, thường thường ông Tổng thống cũ trao lại những hồ sơ quan trọng hay khẩn cấp. Cũng như những chuyện ít quan trọng hơn. Mitterrand căn dặn người kế vị, Jacques Chirac, hãy để ý chăm sóc mấy con vịt sống trong vườn phủ Tổng thống. Chirac hứa sẽ làm, nhưng sau đó con chó của Chirac đã làm thịt mấy con vịt.
Hollande chắc đã đề cập với Macron về chuyện ông muốn mang theo con chó. Con chó do một chính khách ngoại quốc tặng, trên nguyên tắc là tài sản quốc gia, nhưng Hollande thấy con chó quyến luyến, muốn làm một chuyện ngoại lệ, mang theo ngày rời chức.
Từ Hold-up tới Big bang
Macron đã thành công giai đoạn đầu: làm một cú “hold up‘’ ngoạn mục, cướp cái ghế Tổng thống trước sự ngỡ ngàng nhưng bất lực của các chính trị gia kỳ cựu, đã thay nhau làm mưa làm gió trên chính trường Pháp từ Đệ nhị Thế chiến. Sau ‘’hold up’’, tới ‘’big bang‘’. Macron không úp mở: ông ta muốn dẹp các đảng phái cũ, đã lỗi thời, để hành động theo phương pháp mới.
Big bang, Macron đã thực hiện được một phần: Sau khi thua nặng trong cuộc bầu cử, Đảng Xã hội đã tan rã. Chính cựu Thủ tướng Xã hội Manuel Valls đã tuyên bố Đảng Xã hội đã chết. Le Kid quay sang bên hữu, nếu không đánh quỵ được Đảng Cộng hòa (LR, Les Républicains), ít nhất phải làm cho đảng này yếu đi. Macron muốn một chính quyền không tả không hữu, hiện nay số chính khách Xã hội về đầu quân đã quá đông, trái lại, những người tới từ bên hữu còn quá ít.
Macron có mục tiêu số một trước mắt: nắm đa số trong kỳ bầu cử Quốc hội tháng tới. Không có đa số, ông Tổng thống sẽ bị bó tay. Muốn chiếm đa số trong kỳ bầu cử, phải có một bộ mặt quân bình, không tả không hữu, hay vừa tả vừa hữu. Những cử tri của phái cực hữu (Le Pen), hay cực tả (Mélenchon, gần 20%) chắc chắn sẽ bầu cho thần tượng của họ.
Macron chỉ trông chờ vào những người không đảng phái, những cử tri của Đảng Xã hội đã chết, và những cử tri LR, Đảng Cộng hoà, muốn cho ông Tổng thống mới một cơ hội để cải cách nước Pháp. Muốn lôi kéo cử tri LR, Macron muốn bổ nhiệm một Thủ tướng đến từ hàng ngũ LR, nhưng cho tới giờ này, chưa ai biết tên ông Thủ tướng sẽ được công bố trong những giờ hay ngày tới. Chưa ai biết kế hoạch đó có thành công hay không.
Macron muốn đưọc rảnh tay để hành động. Ông ta dùng chữ ‘’président empêché‘’ (Tổng thống bị ngăn cản) để nói về Hollande. Bị ngăn cản trong hành động, bởi đối lập, bởi nhóm tả phái trong hàng ngũ Xã hội, bởi các thế lực chính trị bốn phía.
Macron không muốn làm ‘’président empêché‘’, muốn là một ‘’président qui préside‘’ (Tổng thống hành động như... tổng thống). Muốn vậy, bằng bất cứ giá nào, phải nắm được đa số Quốc hội. Cả nước chờ kết quả cuộc bầu cử lập Pháp tháng Sáu.
Hàn gắn
Đặt mìn nổ tung chính trường Pháp, Ông Tổng thống mới còn có một trọng trách, mâu thuẫn, nhưng khẩn cấp không kém: hàn gắn những rạn nứt trong xã hội Pháp. Đó không phải là một chuyện đơn giản. Chỉ việc nghe lãnh tụ cực hữu Le Pen hay cực tả Mélenchon kêu gọi cử tri làm mọi cách để ngăn chặn Macron rảnh tay hành động, đủ hiểu trước mặt Macron không phải là một dòng sông êm đềm.
Macron được coi là một chính khách social libéral – chính khách xã hội tự do, nghiã là tự do về kinh tế, nhưng có tính cách nhân bản, xã hội. Tả phái đánh Macron về khía cạnh libéral, không quên gào trên khắp các nóc nhà chuyện ông ta xuất thân từ một ngân hàng. Phe hữu đánh Macron trên khía cạnh social, nhắc nhở cử tri Macron là sản phẩm của Holland, của Đảng Xã hội, của phe tả.
Người Pháp rất ‘’chính trị‘’. Đi làm với người Pháp hàng chục năm, bạn không biết ai theo tôn giáo nào, lợi tức bao nhiêu, vì đó là chuyện riêng, đụng tới là khiếm nhã, thiếu tế nhị; nhưng uống một ly café với ai, bạn biết ngay ông ta, hay bà ta, là tả hay hữu.
Hơn cả tả hay hữu, xã hội Pháp qua kỳ bầu cử vừa rồi chia thành nhiếu mảnh. Bài phóng sự của báo La Croix cho thấy sự rạn nứt đó. La Croix viết: Claire và Bénédicte là hai phụ nữ có nhiều điểm tương đồng, cả hai ở tuổi 40, có con cùng tuổi, cùng chung bố mẹ chồng. Claire, giáo viên, phe tả, ủng hộ Hamon, ứng cử viên Đảng Xã hội, Bénédicte, bác sĩ, hữu phái. Cả hai rất thân nhau, cho tới một bữa ăn gia đình, Bénédicte nói sẽ bầu cho Fillon, Đảng Cộng hoà. Claire nói: tôi sững sờ, thấy sự lựa chọn của Bénédicte thiệt phản động. Tôi tự nhủ là chúng tôi không chia sẻ với nhau một điều gì. Serge và Isabelle, ủng hộ Juppé, hữu phái ôn hoà, cũng bị cậu con trai, Étienne, kết án là phản động, với những chữ rất độc, rất hằn học. Kết quả là các gia đình này tránh đề cập tới chính trị trước ngày bầu cử. Và hy vọng sẽ hàn gắn sau khi đã bầu bán xong.
Trong bài diễn văn nhậm chức, Macron nói ông sẽ dành nỗ lực để thực hiện đoàn kết quốc gia, nhưng sẽ không nhượng bộ bất cứ điều gì, để cải cách nước Pháp, đưa nước Pháp tới địa vị một cường quốc, vì cả Âu Châu, cả thế giới trông chờ nước Pháp. Nhưng chuyện đó không đơn giản. Những Claire, Bénédicte, Étienne không phải hiếm trong xã hội Pháp.
Paris 14/05/2017Từ Thức

Thông điệp mới, hành động cũ?

So với Hiến pháp năm 2013, thông điệp bế mạc Hội nghị Trung ương 5 vừa qua đã có bước tiến đáng kể về mặt tư duy kinh tế. Nếu như ở Hiến pháp năm 2013, Điều 51 vẫn quy định “Kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo”, thì 4 năm sau, tại Hội nghị Trung ương 5 (tháng 5-2017), Đảng đã thay đổi tư duy về vai trò của khu vực kinh tế tư nhân, coi đây là động lực quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế. Doanh nghiệp tư nhân có giàu mạnh thì người dân mới giàu mạnh, no ấm.
Thông điệp đã rất rõ nhưng hành động thực tế như thế nào mới là quan trọng. Chính phủ hãy lắng nghe khối kinh tế tư nhân, từ những người kinh doanh nhỏ lẻ đến các doanh nghiệp lớn, để biết họ đang phải đối diện với những gì và họ thực sự cần gì?
Tôi đã hỏi không ít doanh nghiệp tư nhân và câu trả lời là sự công bằng. Họ cần sự công bằng, không chỉ trong tiếp cận nguồn lực mà cả công bằng trong mối quan hệ với chính quyền. Khi một nền hành chính công vẫn mang tư duy xin – cho, tư duy của người quản lý, thay vì phải là người phục vụ, thì thật khó để biến những thông điệp trên thành sự thật.
Đúng vào thời điểm này năm ngoái, một doanh nghiệp sản xuất xúc xích ở Bình Dương gần như đứng trên bờ vực phá sản vì bị Chi cục quản lý thị trường Hà Nội tạm giữ 2,2 tấn hàng suốt hơn một tháng trời.
Dù không đủ thẩm quyền kết luận xúc xích chứa chất cấm, nhưng Chi cục quản lý thị trường Hà Nội đã nhanh nhảu cung cấp thông tin cho hàng loạt cơ quan báo chí, dẫn đến có tới 500 bài báo đã đăng tải nội dung xúc xích chứa chất cấm. Hậu quả là doanh nghiệp bị thiệt hại nặng nề, hoạt động kinh doanh ngưng trệ hơn một tháng ròng rã. Dù sau đó được Bộ Y tế minh oan là không chứa chất cấm thì người tiêu dùng cũng đã quá đỗi hoang mang, còn doanh nghiệp thì sống dở chết dở.
Và mới cách đây vài hôm, Bộ Tài chính lại khiến không ít doanh nghiệp và người dân rơi vào tình thế hoang mang khi kiến nghị Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các địa phương tạm đình chỉ thi công 60 dự án xây dựng nhà ở đang triển khai mà chưa thực hiện đúng thẩm quyền đấu giá, đồng thời chuyển cho Thanh tra Chính phủ tham khảo danh sách các dự án để phục vụ cho hoạt động thanh tra năm 2017.
Tôi rất ủng hộ việc thanh tra, kiểm tra các dự án bất động sản. Không chỉ riêng ngành này mà tất cả các ngành đều cần có sự kiểm tra, giám sát để chống thất thoát, lãng phí. Nếu dự án nào chưa thực hiện đúng nghĩa vụ tài chính thì phải thu đủ, trả về ngân sách. Thứ hai, tôi càng ủng hộ việc minh bạch thông tin của các ngành chức năng. Tuy nhiên, nó phải đảm bảo không gây ảnh hưởng xấu đến những đối tượng không có sai phạm.
Thực tế là, danh sách của Bộ Tài chính đưa ra chỉ là một danh sách tham khảo, nó chưa phải là kết luận cuối cùng về sai phạm của doanh nghiệp. Đáng lẽ ra, phải chờ đến khi Chính phủ kết luận, doanh nghiệp nào làm sai doanh nghiệp đó phải chịu, chứ không thể vơ đũa cả nắm, đề nghị đình chỉ tất cả. Doanh nghiệp được cấp phép đầu tư bởi chính các cơ quan quản lý nhà nước, nay sao lại dễ dàng đề nghị dừng như một kiểu hồi tố khi còn chưa có kết luận cuối cùng là đúng hay sai?
Sự việc này đặt ra câu hỏi về trách nhiệm của các cơ quan quản lý với việc đảm bảo môi trường kinh doanh. Ai phải chịu trách nhiệm về các quyết định cấp phép đầu tư? Nếu có cấp phép sai, thì đáng lẽ ra phải xem xét trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước trước tiên. Trong trường hợp doanh nghiệp được cấp phép đầu tư đúng thì nay sao có thể bắt họ phải gánh chịu hậu quả? Hàng chục ngàn người dân đã mua nhà ở dự án này họ không có lỗi, tại sao bắt họ phải thiệt thòi? Hãy thử đặt vào vị trí một người mua nhà ở các dự án này để nghĩ xem?
Thị trường bất động sản, đúng là có nhiều thứ nhạy cảm, nhưng nó là một bộ phận không thể tách rời của nền kinh tế. Thế nên, phải dần dần khiến nó phát triển lành mạnh. Mà để như thế, tất cả các bên tham gia thị trường đều phải sòng phẳng với nhau.
Còn nếu bộ ngành vẫn hành động tuỳ tiện, thích thì ra văn bản, thích thì thì kiểm tra, thích thì công bố ầm ĩ, chưa cần biết đúng sai, thì cuối cùng thông điệp đổi mới tư duy kinh tế sẽ mãi chỉ là câu chuyện trong phòng hội nghị, hoặc nằm trên giấy mà thôi.Bạch Hoàn

No comments:

Post a Comment