Thursday, May 18, 2017

Bài viết hay(4940)

Tổng Thống của cường quốc số 1 thế giới mà nói năng, hành xử bất nhất, y như con nít. Bữa nay nói vầy, ngày mai nói khác. Thay đổi, tráo trở, chối cãi liên tục. Ngay cả người trong nội các cũng chới với trước lối phát ngôn bừa bãi theo kiểu con buôn thất tín muốn nói gì thì nói, chẳng cần biết đến chữ Tín. Vậy mà có nhiều người vẫn điên khùng ủng hộ Trump, coi Trump như thần tượng.  Xi vỗ tay mừng thắng lợi sau khi hoàn toàn kiểm soát biển Đông, Putin gật gù trước vai diễn của Trump sao mà xuất sắc không thể tưởng khi thấy nước Mỹ điên thật rồi. Loạn.

Trẻ tập đi và gái mười phương

…khi nói, khi lý luận thì từ Tổng Bí thư đến “Cơ quan lý luận và chính trị” của Trung ương Đảng, hết thảy đều ngây ngô y như là trẻ con. Thế nhưng khi làm, họ lại chai mặt y như một ả gái điếm đánh đĩ cả 10 phương…
Có hai hình ảnh mâu thuẫn nhau, gợi lên từ hành vi mới nhất của cái chế độ chính trị đang làm giông làm bão trên đất nước chúng ta.
Một mặt, nó hành xử không khác những đứa trẻ sơ sinh vừa mới biết lật, biết đứng chựng hay mới chập chững tập đi: đứa trẻ vô tư nhoẻn miệng cười theo lời tung hô của người lớn trước thành tựu đầu đời mang tính chặng mốc của mình.
Một mặt, nó chai lỳ, thách thức và bất cần đời. Ở đây nó trông không khác gì một thứ gái điếm hết thời, đã mất hết hy vọng và không còn gì để mất: bán thân được là bán, chẳng cần chừa lại một phương cuối cùng để có chỗ kiếm lấy tấm chồng làm chỗ dựa cuối đời.
Nhưng tại sao nó trông giống là trẻ sơ sinh lúc mới biết lật, biết đứng hay biết đi?

Biết lật, biết đứng, biết đi

Những ai nuôi con, nhất là đứa con đầu lòng, ắt phải nhớ đến cảm giác vui sướng, xốn xang, khi con mình biết lật, biết tự gượng lên để đứng một mình hay chập chững hai, ba bước đi đầu tiên. Cảm giác này kỳ diệu đến độ các nhà sư phạm chuyên về “Early Education” các nước Tây phương đưa ra phương châm “tự kiểm duyệt”: nếu thấy đứa trẻ lần đầu đứng được hay đi được thì giáo viên dạy trẻ phải giấu nhẹm, vờ như không hề thấy. Họ phải để ba mẹ của các em được độc quyền có cái cảm giác khám phá: phải để họ nghĩ rằng họ mới là người đầu tiên chứng kiến thành tựu đầu đời của con mình.
Xem ra cái cách chế độ toàn trị ca ngợi “thành tích 30 năm đổi mới” còn tệ hơn vậy. Nó chẳng nhoẻn miệng cười theo lời tung hô của ai mà chỉ có nó tự khen chính nó: đã 60, 70 tuổi rồi mà vẫn tự tung hô mình đã biết lật, biết đứng và biết đi. Đó là việc nhai nhải ca ngợi việc đạt những thành tựu sơ đẳng mà những láng giềng đã làm được từ lâu, mà đó là những láng giềng từng thua kém mình khá xa trong quá khứ.
Xét về ngày khai sinh năm 1945 thì chế độ đã có gần 72 năm tuổi.
Xét từ lúc lập lại hòa bình vào năm 1954 thì nó đã 63 tuổi đời.
Còn xét từ lúc quản trị toàn vẹn lãnh thổ từ Ải Nam Quan đến Mũi Cà Mau nó cũng đã có dư 42 năm. Cái tên “Ải Nam Quan” không còn nữa còn Mũi Cà Mau thì ngày càng cùn nhụt vì nạn xâm thực: “tuổi đời” của nó đã già trong khi thân thể đất nước ngày càng lụ khụ, hom hem thế mà nó vẫn còn hí hửng với “thành tựu” của trẻ con mới lớn.
Nó khen nó là “thức thời”, là biết “đổi mới”, biết “xé rào” để người nông dân có thể “cày trên thửa ruộng của mình”, biết dẹp những vọng gác cho thương nhân đi đây đi đó buôn bán v.v... Nghĩa là tự khen nó biết lập lại những điều cũ rích mà thế giới đã làm cả mấy thế kỷ trước, thậm chí một nửa nước Việt Nam đã từng làm từ hơn 40 năm trước.
Không chỉ là tự sướng, là “đóng cửa dạy nhau”. Nó còn phởn lên tới mức “mang chuông đi đánh xứ người”, điều đã thể hiện trong bản tin “Việt Nam đóng góp kinh nghiệm xây dựng CNXH qua 30 năm đổi mới” của Thông Tấn Xã Việt Nam ngày 14.5.2017.
Đó là cuộc hội thảo của giới khoa bảng tiếc nuối xã hội chủ nghĩa của Nga, gọi là “Russian Academics of Socialist Orientation” (RUSO), phóng viên TTXVN cho biết:
“Nhân 100 năm Cách mạng tháng Mười Nga (1917-2017), ngày 13/5, Hội đồng Tổ chức xã hội “Các nhà khoa học định hướng xã hội chủ nghĩa toàn Nga” (RUSO) đã họp phiên toàn thể thảo luận về cuộc cách mạng vô sản đầu tiên trên thế giới. [...] Phó Bí thư Đảng ủy Việt Nam tại Liên bang Nga Phạm Đức Vinh đã thay mặt Đại sứ quán Việt Nam tại Liên bang Nga tham dự và trình bày tham luận chia sẻ những kinh nghiệm trong xây dựng chủ nghĩa xã hội mà Việt Nam đạt được trong 30 năm qua.
[...] Qua 30 năm đổi mới, đúc rút kinh nghiệm từ thành tựu cũng như hạn chế, Việt Nam muốn đóng góp với RUSO 5 bài học then chốt, gồm bài học về “chủ động và sáng tạo;” bài học về “nhân dân” và “phát huy sức mạnh đoàn kết dân tộc;” bài học về đổi mới toàn diện, đồng bộ, tôn trọng quy luật khách quan và thực tiễn; bài học về “lợi ích dân tộc” và “phát huy sức mạnh tổng hợp;” cuối cùng là bài học về “xây dựng Đảng và hệ thống chính trị”.[1]
Nếu Phạm Đức Vinh chỉ là một nhà ngoại giao cắc ké còn cuộc hội thảo trên chỉ là cuộc tụ họp của những người tiếc nuối Liên Xô thì hãy để ý đến lời của một nhân vật quan trọng hơn, trong một sự kiện cũng quan trọng hơn.
Đó là bài diễn văn bế mạc Hội nghị Trung ương 5 khóa XII của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chiều ngày10.5.2017:
Sau hơn 30 năm đổi mới, nhận thức của chúng ta về vị trí, vai trò của kinh tế tư nhân đã có những bước tiến quan trọng. Từ chỗ kỳ thị, coi nhẹ đã thừa nhận kinh tế tư nhân “là một trong những động lực” và đến nay “là một động lực quan trọng” để phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Trên thực tế, kinh tế tư nhân đã ngày càng phát triển; tỉ trọng trong GDP chiếm 39 - 40%; đã hình thành được một số tập đoàn kinh tế tư nhân có quy mô lớn; đội ngũ doanh nhân ngày càng lớn mạnh”...[2]
Sau đó hai ngày, ngày 12.5.2017 thì Tạp chí Cộng sản - hậu thân của Tạp chí Học Tập, nơi xuất thân của Tổng Bí thư - đăng bài nghị luận về một đề tài cũ như... trái đất của Nguyễn Đức Mạnh, thuộc Học viện Hành chính quốc gia: “Sự nguy hại của tham nhũng”:
Tham nhũng là một tệ nạn của các loại hình quyền lực nhà nước trên thế giới từ xưa đến nay. Nói đến tham nhũng là nói đến sự nguy hại do nó gây ra trên tất cả các phương diện, từ chính trị, kinh tế, hành chính - pháp luật cho đến văn hóa, xã hội, đạo đức, tâm linh,...
Tham nhũng theo định nghĩa của Từ điển tiếng Việt, là “Lợi dụng quyền hành để nhũng nhiễu dân và lấy của”(1). Theo định nghĩa này, có lẽ đối tượng tham nhũng ở nước ta chưa được khái quát đầy đủ, vì ở Trung Quốc, Hàn Quốc, Ma-lai-xi-a hay Xin-ga-po,..., người ta đều khẳng định, công chức nhà nước nhận hối lộ cũng là tham nhũng. Nếu hiểu tham nhũng như các nước đó định nghĩa thì đối tượng tham nhũng ở nước ta không chỉ là những người có chức vụ “lợi dụng quyền hành để nhũng nhiễu dân và lấy của”, mà còn bao gồm cả những công chức, viên chức “nhận hối lộ” từ các thành phần dân cư khác nhau trong xã hội để giải quyết các yêu cầu công việc của họ có liên quan đến thủ tục hành chính - pháp luật của Nhà nước.[...]”[3]
Tạp chí Cộng sản là cơ quan lý luận và chính trị của Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, do đó lẽ ra phải có những bài viết nặng ký, mang tính dẫn đường. Thế mà đến bây giờ, sau bao nhiêu năm kêu gào chống lại “quốc nạn tham nhũng”, nó chỉ có thể ê a như trẻ con mới tập đọc qua một bài viết lủng củng, thừa thãi, lập đi lập lại, có vẻ như tác giả không biết mình đang viết cái gì.
Theo World Bank thì “tham nhũng” là sự “lạm dụng quyền lực công để phục vụ lợi ích cá nhân” (the abuse of public power for private benefit). Khi một “công chức, viên chức “nhận hối lộ” từ các thành phần dân cư khác nhau trong xã hội để giải quyết các yêu cầu công việc của họ có liên quan đến thủ tục hành chính - pháp luật của Nhà nước”, thì dĩ nhiên là họ đang thực hiện việc mà chính tác giả đã nêu: “Lợi dụng quyền hành để nhũng nhiễu dân và lấy của”.
Khi nói, khi lý luận thì từ Tổng Bí thư đến “Cơ quan lý luận và chính trị” của Trung ương Đảng, hết thảy đều ngây ngô y như là trẻ con. Thế nhưng khi làm, họ lại chai mặt y như một ả gái điếm đánh đĩ cả 10 phương, thể hiện qua vụ “Đại biểu Quốc hội Thanh Hóa”.

Tân Đại biểu tỉnh Thanh Hóa

Viên “tân đại biểu” này là Đinh La Thăng, nguyên là Bí thư Thành ủy kiêm Trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội TPHCM.
Theo chính lời của Tổng Bí thư thì Thăng “có khuyết điểm và vi phạm rất nghiêm trọng trong công tác lãnh đạo, quản lý và công tác cán bộ trong thời kỳ ông Thăng là Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Đảng uỷ, Chủ tịch Hội đồng thành viên Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam”. Do đó Thăng bị kỷ luật, bị mời ra khỏi Bộ Chính trị, cách chức Bí thư Thành ủy và chuyển về làm Phó ban Kinh tế Trung ương.
Song song với quyết định này, Thăng được thả dù xuống Thanh Hóa làm “đại biểu Quốc hội”.
Ở đây, chúng ta thấy ông đại biểu Thăng giống hệt một thứ “ve sầu thoát xác”. Thăng đắc cử đại biểu tỉnh Thanh Hóa trong Quốc hội khóa 13 (2011-2016), và nay đang là đại biểu của TPHCM trong Quốc hội khóa 14 (2016 - 2021) thì được “chuyển sinh hoạt” từ TPHCM về lại nơi cũ.
Bản tin của phóng viên Hoàng Thùy trên VnExpress ngày12.5.2017 cho biết:
“Ngày 11/5, trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Thanh Hóa Đỗ Trọng Hưng ký công văn gửi Đảng đoàn Quốc hội và Trưởng Ban công tác đại biểu (thuộc Ủy ban Thường vụ Quốc hội), để trả lời văn bản ngày 10/5 của Đảng đoàn Quốc hội. Theo đó, các thành viên Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh này có sự đồng thuận tuyệt đối việc ông Đinh La Thăng chuyển sinh hoạt về Đoàn.
“Trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa 13 (2011-2016), ông Đinh La Thăng ứng cử tại đơn vị bầu cử số 1 tỉnh Thanh Hóa và trúng cử với tỉ lệ phiếu bầu rất cao, đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của ĐBQH, được cử tri tỉnh Thanh Hóa ghi nhận và đánh giá cao”, công văn nêu.
Trước đó ngày 10/5, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Thanh Hóa nhận được văn bản của Đảng đoàn Quốc hội thông báo đề nghị Đoàn cho ý kiến về việc ông Đinh La Thăng có nguyện vọng chuyển sinh hoạt từ đoàn Đại biểu Quốc hội TP HCM về đoàn đại biểu Quốc hội Thanh Hóa”.[4]
Chuyện này làm người ta nghĩ đến lời sỉ vả của bà cô Thị Nở, mắng cô cháu gái “ba mươi tuổi mà chưa trót đời”, khi cô kể chuyện tình của mình với Chí Phèo: “Ðã nhịn được đến bằng này tuổi thì nhịn hẳn, ai lại đi lấy thằng Chí Phèo!”.
Thị Nỡ đã ba mươi tuổi mà “chưa trót đời”. Và nói theo giọng của Nam Cao thì cả chính quyền lẫn Quốc hội cũng đã trên 70 tuổi rồi cũng vẫn “chưa trót đời”.
Đã dàn cảnh tấn công đàn em Thăng rồi tấn công Thăng trên mặt báo, lề trái lẫn lề phải, rồi tổ chức cả Hội nghị Trung ương để hạ Thăng, thì cũng nên dàn cảnh cho trót.
Dù rằng Thăng đã từng đắc cử đại biểu Quốc hội tỉnh Thanh Hóa vào năm 2011, nhưng đó là Quốc hội khóa 13, đã mãn nhiệm năm 2016. Không thể vin vào lý do này để đưa Thăng trở lại đây.
Đại biểu Quốc hội do dân “bầu” lên. Dù biết rằng trò “Đảng cử dân bầu” chỉ là trò hề thì nếu diễn hề thì cũng nên diễn cho trọn tuồng, cũng phải bày trò gì gì đó cho “danh chính ngôn thuận” một chút.
Trong cuốn Bên Thắng Cuộc II: Quyền Bính, chương “Tam Nhân Phân Quyền”, nhà báo Huy Đức đã diễn tả lối hành xử cỉa Tổng Bí thư với Chủ tịch Quốc hội:
Với Lê Đức Anh và Võ Văn Kiệt, ông Đỗ Mười bao giờ cũng thể hiện sự tương kính. Khi có việc gì cần trao đổi, đích thân ông Mười đi thẳng vào “Thành” gặp ông Lê Đức Anh hoặc ra tận sân tennis gặp ông Võ Văn Kiệt. Nhưng với Chủ tịch Quốc hội Nông Đức Mạnh thì ông lại thường thể hiện cách “lãnh đạo” rất khác thường. Khi Quốc hội không phê chuẩn ông Đào Đình Bình, một ứng cử viên trẻ vào chức Bộ trưởng Bộ Giao thông, từ hàng ghế đầu, ông Đỗ Mười đã nhấp nha nhấp nhổm. Đến giờ giải lao, ông bước ngay lên bục Chủ tịch Đoàn, đuổi theo ông Nông Đức Mạnh ra tận hậu phòng của Hội trường Ba Đình. Ông Đỗ Mười dí tay sát cổ áo Chủ tịch Quốc hội và nói: “Anh lãnh đạo Quốc hội thi hành nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng như thế à?”[5]
Điều này cho thấy gì?
Dù xem nguyên Chủ tịch Quốc hội Mạnh không ra gì, nguyên Tổng Bí thư Mười vẫn xem trọng màn kịch “bầu bán” của Quốc hội: Quốc hội phải thông qua nghị quyết của Trung ương Đảng, phải phê chuẩn ông Đào Đình Bình làm Bộ trưởng Giao thông.
Nếu đã soạn nên vở tuồng “cử tri TPHCM bầu” Thăng vào Quốc hội, thì hãy làm trọn vở tuồng để cử tri tại đây quyết định số phận của Thăng.
Thăng bày tỏ “nguyện vọng chuyển sinh hoạt” để làm Đại biểu Quốc hội tỉnh Thanh Hóa nhưng còn “nguyện vọng” của cử tri tỉnh này.
Họ không thèm đếm xỉa đến, thậm chí còn nói huỵch toẹt là sự dàn xếp giữa Thăng với “Đảng đoàn Quốc hội”.
Nếu ngạn ngữ có câu “Làm đĩ chín phương để một phương lấy chồng” thì trong câu chuyện “Đại biểu Quốc hội Thanh Hóa Đinh La Thăng” nói trên, chế độ toàn trị đã đánh đĩ cả 10 phương, không buồn che đậy cái sự thật bầy hầy của cái gọi là “Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.Lê Trọng Hiệp

Bệnh vô cảm có từ đâu

Lẽ thường, người ta vô cảm khi người ta không hiểu biết, người ta chán nản và nhất là khi người ta đã mất lòng tin, người ta bất lực, người ta buông xuôi và lúc đó lòng ích kỷ lớn lên. Và bàng quan với sự vô cảm thì cũng là một loại… vô cảm.
Có ý kiến nhận xét bệnh vô cảm hiện nay đã giảm hơn trước chủ yếu biểu hiện trong những chuyện như giúp đỡ người gặp khó khăn, lên án tham nhũng, quan liêu, phê phán các cơ quan và quan chức nhà nước… Còn thì đa số dân ta vẫn vô cảm, hời hợt với những vấn đề lớn, về tương lai của đất nước và không hiểu những điều đó ảnh hưởng đến chính mình và tương lai của con cháu mình. Có ý kiến còn cho rằng bệnh vô cảm ngày nay còn nặng hơn vì vô cảm trước đây còn do không đủ thông tin, không hiểu, không ý thức đầy đủ, còn bây giờ là lảng tránh trách nhiệm, là ích kỷ và cơ hội.

Suy ngẫm, bệnh vô cảm là một đặc điểm tinh thần của chủ nghĩa xã hội. Điều này xem có vẻ là nghịch lý, nhưng đúng là sự thật. Khi cá nhân con người bị thể chế ngang nhiên xâm phạm quyền “tự do sống, mưu cầu hạnh phúc”, tức là làm việc và suy nghĩ theo cách mình muốn, đồng thời thể chế (Đảng Nhà nước) tự giành cho nó quyền đó, thì đương nhiên mối quan hệ nhân văn tự nhiên giữa con người với nhau và với xã hội sẽ biến dạng, mọi người đều trở thành vô cảm.
Trong chủ nghĩa xã hội thị trường giai đoạn đầu thì vô cảm càng phát triển. May mà có internet để con người không bị hoàn toàn biến thành những con chuột mù, hợp tác hoặc cắn nhau theo chỉ lệnh.
Nhớ lại cách đây khoảng gần chục năm, tôi đã viết bài: “Bệnh vô cảm lỗi tại ai?” cho đến nay vẫn còn mang nguyên tính thời sự.
Trong y khoa không có bệnh vô cảm mà chỉ có trạng thái thờ ơ với ngoại cảnh và bệnh lãnh cảm (thường chỉ về tình dục). Theo nghĩa chúng ta dùng hiện nay, thì nên gọi đúng tên là thói vô cảm, để chỉ một lối sống, thói quen dần dần trở thành như một căn “bệnh”.
Ở nước ta hiện nay, bệnh vô cảm gần như trở thành một căn bệnh xã hội có sức lây nhiễm rất cao. Đối tượng mắc bệnh này rất rộng rãi, đủ loại người từ quan chức lãnh đạo đến thường dân, thậm chí bao gồm cả những người có học, hiểu biết rộng, tôn trọng luật pháp tức là những người thuộc loại “tử tế”. Biểu hiện của bệnh vô cảm cũng thật đa dạng. Nhẹ nhất là người mắc bệnh, không biết nói lời “xin lỗi” khi làm sai và “cám ơn” khi được giúp đỡ. Họ tiếc một tràng vỗ tay khi xem xong một tiết mục thể thao, văn nghệ (có lẽ chẳng ở đâu như nước mình tiếng vỗ tay trong khán phòng thường rời rạc và tẻ nhạt đến thế!)
Bệnh vô cảm nặng hơn khi người bệnh quên đi trách nhiệm cứu người, giúp người bị nạn. Chúng ta ai cũng từng chứng kiến cảnh những đám đông trên đường phố khi có vụ tai nạn hoặc va chạm. Người lao vào cứu giúp thì ít, kẻ hiếu kỳ xúm vào xem rồi lặng lẽ bỏ đi thì nhiều! Có kẻ vô cảm đến mức độ dã man, vô lương tâm là lợi dụng cơ hội cướp đoạt tài sản của người bị nạn. Tệ hại hơn nữa, là có kẻ còn lạnh lùng dùng điện thoại di động quay cảnh một người bị xe cán cụt chân, nát thây rồi tung cảnh quay ấy lên mạng.
Người vô cảm thường là nhút nhát, ngại phiền phức, họ không dám tố giác, ngăn chặn kẻ gây ra tội ác. Thậm chí chính họ lại gây ra tội ác một cách vô thức như có trường hợp lái xe ô tô ấn còi inh ỏi khi biết trước đầu xe của mình là hai mẹ con đèo nhau bằng xe đạp, kết cục bi thảm là hai mẹ con bị giật mình hoảng hốt, cháu bé ngã, bị ô tô cán chết! Trong trường hợp này, lái xe đã bị xử phạt, nhưng nếu người lái xe ấy biết cảm thông, chia sẻ nỗi vất vả với mọi người xung quanh cũng đang chịu cảnh kẹt xe thì đâu đến nỗi!
Rồi chuyện đây đó, bác sỹ, y tá chểnh mảng nhiệm vụ, kém trách nhiệm khi cấp cứu làm người bệnh bị chết oan. Ngay cả việc trong lớp học, có các trường hợp thầy giáo cứ giảng bài đại khái cho hết giờ, còn để sức về “dạy thêm”, còn trò thì ngủ gật, nói chuyện riêng, nhắn tin… Ở đây, những thầy và trò ấy đều mắc bệnh vô cảm với nhau mà lẽ ra họ phải là những người cảm thông với nhau nhất.
Một dạng bệnh vô cảm còn biến chứng trong đe dọa những giá trị đạo đức cao cả thiêng liêng nhất của dân tộc “thương người như thể thương thân”, “lá lành đùm lá rách”. Dư luận đã không ít lần xôn xao, phẫn nộ trước hành động “đánh bài chuồn” của một nhà tài trợ vàng, kim cương gì đó, sau khi đã đăng đàn hứa hẹn “nổ” như pháo, quảng cáo thương hiệu cá nhân mình, công ty mình. Có những người đã vô cảm đến mức lợi dụng các hoạt động từ thiện, cứu trợ nhân đạo để kiếm chác cả tiếng tăm lẫn tiền bạc! Nhưng chính hành động vô cảm, vô trách nhiệm ấy rất đáng xấu hổ.
Suy ngẫm về các loại vô cảm, thì dễ thấy hơn nguyên nhân và giải pháp, ở từng quốc gia, dân tộc, trong từng thời kỳ lịch sử, thậm chí đối với từng người. Có thể nhận diện một số loại vô cảm như: (1) Có vô cảm là một sự đồi bại nhân cách, và có vô cảm là một căn bệnh cần thông cảm và giúp chữa trị. (2) Có vô cảm toàn bộ và toàn diện, kể cả những trường hợp vô cảm với chính bản thân mình, vô cảm với cả thành công và thất bại, với cả niềm vui và nỗi buồn, và có vô cảm từng phần, trong từng lĩnh vực, đối với từng vấn đề. (3) Có sự vô cảm đối với cộng đồng, kể cả đối với vận mệnh của dân tộc, của đất nước. Vô cảm đối với đau thương, bất hạnh của người khác, đi như bóng liền hình với sự đặc biệt nhậy cảm, nhậy cảm đến riết róng, về những chuyện của bản thân, về lợi, danh, quyền, chức của chính mình. (4) Có sự vô cảm rất tỉnh thức, rất phô phang, hãnh diện về sự vô cảm của mình, và có sự vô cảm cố ý hoặc vô tình tiềm ẩn, tự dấu đi, ngấm ngầm tác động. (5) Có sự vô cảm thụ động, dẫn đến phủi tay chẳng làm gì, và có sự vô cảm chủ động, hăm hở truyền bá và thể hiện sự vô cảm bằng những “việc làm vô cảm” gây hại cho cộng đồng, cho người khác.
Xã hội từ lâu đã chứng kiến sự nhậy cảm đẹp đẽ và sự vô cảm tồi tệ của con người, đã chứng kiến sự xấu xa đáng ghê tởm và sự cao thượng đáng tôn thờ của con người. Chế độ chính trị, kinh tế, xã hội, nền giáo dục quốc gia, truyền thống gia đình, môi trường vi mô của sự sinh sống có ảnh hưởng đến sự vô cảm, nói chung là lớn, nhiều ít đến đâu tùy từng trường hợp, nhưng không sản sinh ra vô cảm, mà chỉ làm cho vô cảm nặng hay nhẹ, đông người mắc phải hay không đông người mắc phải.
Dửng dưng, thờ ơ, vô cảm thường được ghép vào hội chứng “Makeno”! Nếu “mổ xẻ” căn bệnh “vô cảm”, thì đó chính là sản phẩm của sự sa sút của đạo lý xã hội. Mà sa sút đạo lý xã hội lại là biểu hiện của sự đánh mất niềm tin vào công lý, vào chân lý.
Cội nguồn của cái đó là sự nói dối đã trở thành một căn bệnh xã hội, thấm vào từng đường gân thớ thịt của cơ thể xã hội do một giáo điều xơ cứng và tai hại đã chuyển thành kinh nhật tụng và hàng ngày được rao giảng bằng mọi cách có thể đắp vào tai, vào mắt mọi người. Người càng ít có điều kiện nắm bắt thông tin nhiều chiều càng trở thành nạn nhân của mạng lưới tuyên truyền này, như con ruồi mắc vào lưới nhện, càng giãy giụa càng bị thít chặt, đến một lúc trở thành con mồi của một cơ chế chưa tìm thấy lối ra. Đúng hơn là không dám tìm lối ra khi mà “chân trời” vẫn mở ra trước mắt. Ở đây có sự vô cảm của phường “giá áo túi cơm”, có sự vô cảm của người sống trong vỏ ốc [từ dùng của đại văn hào Nga Chekhov], những “trí thức trùm chăn”, sự vô cảm của người thiếu trách nhiệm với xã hội. Nhưng nói chung, đáng sợ nhất là của những người mất niềm tin vào xã hội, chỉ biết “tự cứu lấy mình”, một mệnh đề rất thiển cận đã từng được tụng ca như là một cứu cánh!
Thay cho lời kết: Có nguyên nhân và giải pháp khắc phục vô cảm chung cho một đất nước trong một thời kỳ, cũng có nguyên nhân và giải pháp khắc phục cho từng loại vô cảm, từng người vô cảm. Có nguyên nhân và giải pháp cơ bản, lâu dài khắc phục vô cảm, cũng có nguyên nhân và giải pháp trực tiếp, trước mắt khắc phục vô cảm. Cần nói, viết và làm những điều chung, cũng cần nói, viết và làm những điều riêng.
Bệnh vô cảm, lỗi tại ai? Đã đến lúc phải nghiên cứu một cách nghiêm túc, tìm hiểu cội nguồn, nguyên nhân sâu sa của căn bệnh vô cảm đang có nguy cơ bùng phát và lan truyền rộng rãi ở nước ta. Nếu là căn bệnh xã hội thì nguyên nhân tổng hợp bao gồm các yếu tố mang tính xã hội, kinh tế, văn hóa và chính trị. Các vị lãnh tụ cách mạng, trong đó có Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói rằng: “Chúng ta không sợ kẻ thù nói xấu, chỉ sợ tự mình bôi xấu mình mà thôi!”.
Nói thẳng, nói thật, nói trên tinh thần khoa học và xây dựng về những căn bệnh xã hội đang có ở nước ta như bệnh vô cảm là điều rất cần làm để lành mạnh hóa một xã hội đã tự nêu ra cho mình những tiêu chí văn minh, tiến bộ nhất để mà phấn đấu.Tô Văn Trường

Từ quân sự hóa đến hạt nhân hóa Biển Đông

Vào tháng 4 năm 2016, Trung Quốc công bố ý định xây dựng 20 trạm điện hạt nhân nổi hoạt động tại Biển Đông. Các trạm điện này sẽ có lò phản ứng hạt nhân đặt trên bệ ở ngoài khơi. Khâu lắp ráp các lò phản ứng hạt nhân có căn cứ tại thành phố duyên hải Hồ Lô Đảo thuộc tỉnh Liêu Ninh và sẽ do công ty China Shipbuilding Inductry Corp quản lý. Ý định này nằm trong kế hoạch 5 năm là Trung Quốc sẽ hoàn tất 58 lò phản ứng hạt nhân trước năm 2020.
Động cơ mà Trung Quốc theo đuổi chính sách xây dựng và thiết lập lò phản ứng hạt nhân gồm có cả hai mặt kinh tế và quân sự. Thứ nhất là để cung cấp năng lượng sạch và rẻ giúp kinh tế phát triển và thứ hai là bảo đảm ưu thế chiến lược kiểm soát được Biển Đông. Trung Quốc đang phải đối đầu với nạn ô nhiễm môi trường trầm trọng vì công nghệ sản xuất chủ yếu dựa vào năng lượng dơ từ than đá. Các lò phản ứng hạt nhân sẽ cung cấp điện vừa sạch vừa ít tốn kém cho các cơ sở và căn cứ quân sự cũng như hệ thống khử muối để cung cấp nước ngọt cho các đảo nhân tạo ở Trường Sa. Thông thường thì các phương tiện quốc phòng chẳng hạn như đường băng và nhà kho cần điện xuất phát từ lò than hoặc dầu. Lợi thế của lò phản ứng hạt nhân nổi trên biển là lúc nào cũng có nước để giải nhiệt. Các trạm điện này có thể được sử dụng để xây dựng đời sống và cộng đồng dân cư trên các đảo xa xôi tại Trường Sa cũng như tại các giàn khoan và những địa điểm khai thác dầu khí ngoài khơi.

Trung Quốc không phải là quốc gia đầu tiên có ý định thiết lập trạm điện nổi. Từ năm 1996, Mỹ đã lắp đặt một lò phản ứng hạt nhân trên chiếc tàu chiến Sturgis để cung cấp điện cho Panama Canal Zone từ 1968 tới 1975. Hiện nay, Nga cũng đang tiến hành lắp đặt lò phản ứng hạt nhân nổi dựa trên chương trình phá băng bằng kỹ thuật hạt nhân. Lò phản ứng nổi đầu tiên đang được lắp đặt tại hãng đóng tàu St Petersburg. Nga đang có kế hoạch thiết lập 7 lò phản ứng hạt nhân nổi và dự trù sẽ hoàn tất lò đầu tiên trong năm nay để được đưa đến cảng Pevek thuộc vùng biển Siberia.
Hiện nay có hơn 400 lò phản ứng hạt nhân cung cấp điện khắp nơi trên toàn thế giới. Khi các trận động đất và sóng thần dẫn đến thảm họa Fukushima vào năm 2011 tại Nhật, Trung Quốc tạm ngưng dự án xây dựng lò hạt nhân tại các miền duyên hải. Nhưng công tác xây cất đã bắt đầu trở lại từ năm 2015. Hiện nay Trung Quốc có 37 lò phản ứng hạt nhân hoạt động trên toàn quốc và đang lắp đặt 20 cái khác mà trong số này có thể được đưa đến các đảo ở Hoàng Sa và Trường Sa. Chi phí cho 20 lò phản ứng nổi này có thể lên tới hàng chục tỷ Mỹ kim. Từ nhiều năm qua, Trung Quốc đã sử dụng tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân cho nên việc chế biến thành nhà máy điện không có gì là khó khăn.
Kế hoạch lắp đặt lò phản ứng hạt nhân nổi tại Biển Đông của Trung Quốc sẽ là một thách thức to lớn cho cộng đồng quốc tế và đặc biệt là các quốc gia trong khu vực ở hai mặt môi trường và an ninh. Việt Nam sẽ là nước bị ảnh hưởng và thiệt thòi nhiều nhất vì lý do địa lý.
Theo dự đoán thì lò phản ứng nổi đầu tiên sẽ được Trung Quốc đưa đến Trường Sa hoạt động trong năm 2019. Một chuyên gia Trung Quốc cho biết là lò phản ứng nổi trên biển an toàn hơn so với lò phản ứng trên đất liền. Khi có tai nạn, trạm điện có thể bơm nước biển vào để ngăn ngừa lò bị nóng chảy. Nhưng Biển Đông là nơi hứng chịu nhiều thiên tai như động đất, sóng thần và bão lớn. Nếu có tai nạn thì hậu quả sẽ vô cùng nghiêm trọng. Chất thải phóng xạ không chỉ ảnh hưởng tới các nước xung quanh mà sẽ đi lên bàn ăn từng nhà của mọi người trên khắp thế giới qua việc tiêu thụ hải sản và theo dòng hải lưu. Trong một thập niên qua, các công trình xây dựng đảo nhân tạo đã hủy diệt vĩnh viễn các rạn san hô và môi trường sinh thái theo bằng chứng được trưng dẫn và được Tòa Trọng tài chấp thuận qua phán quyết Đường chín đoạn ban hành vào ngày 12/7/2016. Không chỉ trong trường hợp có tai nạn, nhà máy điện hạt nhân nổi sẽ xả nước nóng có chứa chất phóng xạ xuống biển ảnh hưởng đến đời sống sinh vật biển và biến đổi hệ sinh thái. So với thảm họa xả thải do Formosa gây ra tạo nên hiện tượng cá chết hàng loạt dọc bờ biển miền Trung thì tai họa từ các lò phản ứng hạt nhân nổi tại Biển Đông có thể hơn gấp ngàn lần và biến cả bờ biển dài hơn 3,000 cây số của Việt Nam trở thành phế thải.
Nghiêm trọng hơn là về mặt an ninh và chiến lược. Như các nhà máy điện hạt nhân khác, các lò phản ứng nổi trên Biển Đông cũng sản sinh ra chất thải phóng xạ. Làm cách nào để lưu trữ an toàn mà không bị rỉ ra là một thách thức lớn. Chất thải cần được đưa về đất liền để xử lý. Trong khi đó, Biển Đông đang phải đối mặt với nhiều vấn đề an ninh hàng hải như cướp biển, tranh chấp chủ quyền và buôn lậu. Chỉ cần một nhóm khủng bố vài người là có thể đánh phá các lò phản ứng tạo ra một đại thảm họa môi trường trong toàn khu vực và thế giới. Trung Quốc có thể dựa vào điểm này để tăng cường lực lượng quân đội tràn ngập khắp Biển Đông.
Hoàng Sa là nơi có tranh chấp chủ quyền giữa Trung Quốc và Việt Nam và Trường Sa thì có Trung Quốc, Việt Nam, Phi Luật Tân, Mã Lai và Brunei. Trong thời gian qua, Trung Quốc đã từng bước lấn chiếm bằng cách xây dựng đảo nhân tạo và thiếp lập các căn cứ quân sự tại Biển Đông. Đưa các lò phản ứng hạt nhân nổi vào vùng đặc quyền kinh tế của các quốc gia trong khu vực là bất hợp pháp. UNCLOS bảo đảm quyền tự do hàng hải nhưng các trạm điện hạt nhân nổi không phải là tàu thuyền đi qua đi lại. Dựa vào phán quyết của Tòa Trọng tài trong vụ kiện Đường chín đoạn thì không có một thực thể nào tại Trường Sa (gồm có Ba Bình do Đài Loan chiếm đóng) được coi là “đảo” theo định nghĩa của UNCLOS có quy chế vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý. Nhiều lắm là các đảo thiên nhiên tại Trường Sa chỉ được hưởng 12 hải lý. Đảo nhân tạo không được hưởng 12 hải lý mà chỉ có 500 thước.
Một khi kế hoạch lắp đặt này tiến hành, Bắc Kinh sẽ có động cơ để đơn phương áp đặt vùng nhận dạng phòng không tại Biển Đông với cớ là bảo đảm an ninh cho khu vực vì bất cứ biến cố khủng bố hoặc tai nạn nào sẽ ảnh hưởng đến mọi quốc gia. Bằng cách trói chặt vận mạng các nước láng giềng với Trung Quốc, các tiểu quốc sẽ không có lý do phản đối mạnh mẽ và dần dần chấp nhận thuần phục.
Một vấn đề vô cùng quan trọng là các trạm điện hạt nhân nổi của Trung Quốc sẽ có yếu tố răn đe đáng kể vì Mỹ hoặc không có quốc gia nào khác muốn tạo ra một cuộc thảm họa môi trường cho toàn khu vực khi tấn công vào các căn cứ quân sự của Trung Quốc. Trong quá khứ, chủ quyền lãnh hải và quyền lợi kinh tế là hai lý do mà Trung Quốc dựa vào để áp dụng chiến thuật cắt lát salami từng bước lấn chiếm Biển Đông. Với kế hoạch lắp đặt lò phản ứng nổi, Trung Quốc sẽ cộng thêm yếu tố thứ ba là sử dụng thảm họa hạt nhân để răn đe. Ngoài ra, Trung Quốc hiểu được rằng hỏa tiễn trên đất liền có thể bị tiêu diệt qua các cuộc tấn công phủ đầu. Từ cuối thập niên 50, Trung Quốc đã tiến hành xây dựng căn cứ tàu ngầm tại vịnh Yalong và thu thập kỹ thuật trang bị tàu ngầm hạt nhân có thể hoạt động dưới mặt nước trong một khoảng thời gian dài. Hỏa tiễn trang bị dưới tàu ngầm thì khó bị phát hiện hơn. Trong tương lai, Trung Quốc chắc chắn muốn xây thêm căn cứ tàu ngầm tại Hoàng Sa hoặc Trường Sa để có thể đối đầu với Mỹ và khống chế toàn bộ khu vực. Dù cho không đuổi được Mỹ ra khỏi khu vực nhưng nếu làm cho Mỹ hiểu rằng cái giá phải trả cho một cuộc đụng độ là rất cao thì Trung Quốc đã thành công về mặt chiến lược.
Chính sách Biển Đông của Hoa Kỳ vẫn còn mang tính phản ứng và thụ động và Trung Quốc đã đạt được mục tiêu chiến lược dựa vào chiến thuật “ván đã đóng thuyền”. Từ các đảo nhân tạo tới đường băng, hệ thống radar tại Trường Sa rồi đến dàn hỏa tiễn HQ-9 tại Đảo Phú Lâm ở Hoàng Sa, khi mọi người biết thì chuyện đã xong rồi. Mỹ không có cách nào đảo ngược trừ phi tuyên chiến. Lò phản ứng hạt nhân sẽ là một bước ngoặc chiến lược nghiêm trọng có thể hoàn toàn thay đổi cán cân quân sự giữa Trung Quốc và Mỹ tại Châu Á - Thái Bình Dương. Điều đáng lo ngại là Tổng thống Trump hiện đang quá bận rộn ve vãn Tập Cận Bình nhờ giúp đỡ đối phó với Bắc Hàn. Biển Đông không là một vấn đề ưu tiên của Trump. Hoặc nếu có thì chỉ là một con cờ được dùng để trao đổi mua bán với Bắc Kinh. Bị thua lỗ thiệt thòi nhất sẽ là dân tộc Việt Nam. Còn Đảng CSVN sẽ tiếp tục ung dung bình chân như vại để đóng trọn vai tuồng môi hở răng lạnh và thể hiện ‘‘tình đồng chí’’ với người anh từ phương Bắc.Ls Nguyễn Văn Thân

Chi phí 'ngầm'

Gặp nhau tại Hội nghị Thủ tướng với doanh nghiệp 2017, bạn tôi - một doanh nhân - chìa cho xem bản sao một công văn của địa phương.
Công văn, đóng dấu sở của một tỉnh phía Bắc, gửi cho các quận huyện đề nghị lập danh sách doanh nghiệp kêu gọi tài trợ. Khoản kêu gọi này không phải phục vụ vấn đề từ thiện, dân sinh gì mà… để bù lại phần thất thoát của một dự án ngân sách lớn của địa phương.
Dự án công lãng phí này bị dừng lại sau khi ngân sách tiêu ra ngót nghét gần 90 tỷ đồng, nhiều lãnh đạo đã bị kỷ luật, địa phương loay hoay bù lại ngân sách bằng cách vận động các doanh nghiệp khác hỗ trợ. Mang công văn này đến gặp, lãnh đạo quận đề nghị anh hợp tác. Anh bảo, từ chối cũng khó ăn nói với địa phương, nhận lời thì việc chi ra hàng chục triệu đồng là một khoản quá lớn với một doanh nghiệp đang gặp nhiều khó khăn như doanh nghiệp anh.
Doanh nghiệp anh, cũng như nhiều doanh nghiệp khác, hiện không chỉ phải lo kinh doanh, lo cạnh tranh, lo đơn hàng hay thu xếp vốn. Họ đang phải đối phó với những dạng chi phí như trên, đang thường xuyên đổ xuống doanh nghiệp. Có doanh nhân kể với tôi rằng ngay đầu hè anh nhận được điện thoại của lãnh đạo phường đề nghị hỗ trợ địa phương một xe ôtô 45 chỗ trong vài ngày, để cán bộ phường đi biển nghỉ mát.
Thật khó lắc đầu trước đề nghị này, khi an toàn an ninh của cơ sở kinh doanh hay bãi đậu xe… đều đang phụ thuộc lớn vào cấp chính quyền cơ sở. Đành phải tặc lưỡi. Nó lại là một khoản không tên được đưa vào chi phí kinh doanh. Không chỉ cấp phường, dường như bất cứ cơ quan nào, nhà nước hay tổ chức đoàn thể, từ thiện, cơ quan báo chí… đều tìm đến doanh nghiệp để vận động, kêu gọi. Nếu gần dịp lễ tết, gọi điện cho các doanh nghiệp thường thấy tắt máy, chúng tôi phải rất hiểu và thông cảm.
Trong hội nghị, báo cáo của VCCI và phát biểu của Bộ trưởng Kế hoạch và Đầu tư cũng nói nhiều về gánh nặng chi phí đối với doanh nghiệp. Chi phí vốn của doanh nghiệp rất cao vì lãi suất ngân hàng bình quân Việt Nam là 7-9%, trong khi các nước khác như Trung Quốc chỉ là 4,3%; Malaysia 4,6%; Hàn Quốc 2-3%; Nhật Bản 0,95%. Chi phí nhân công đang cao và tăng nhanh, cũng là một gánh nặng khác và làm lợi nhuận của doanh nghiệp teo tóp đi.
Nếu là doanh nghiệp xuất khẩu, các chi phí vận tải, logistic tại Việt Nam cũng không hề dễ chịu. Một lô hàng rời bến đi các nước hay từ bến tàu về nhà máy đang cõng trên mình các chi phí vận tải, BOT, hạ tầng cảng biển, thủ tục hành chính, phí lưu kho bãi… Ngay cả các hãng tàu quốc tế cũng lạm thu các doanh nghiệp Việt Nam, theo thống kê đang có gần 70 khoản thu khác nhau trong đó rất nhiều phụ phí vô lý.
Chính vì vậy, nhiều doanh nghiệp ước tính, chi phí vận chuyển một container từ cảng Hải Phòng về Hà Nội đắt gấp ba lần chi phí vận chuyển từ Hàn Quốc, Trung Quốc về Việt Nam.
Các khoản chi phí không chỉ là gánh nặng lớn mà còn là nỗi ám ảnh với nhiều doanh nghiệp, như chi phí cho tham nhũng. Nhiều doanh nghiệp dùng các khoản chi phí này để có hợp đồng, tạo ra lợi thế cạnh tranh, rồi lâu dần thành con tin của “thực tế này”.
Tôi từng biết một câu chuyện cười ra nước mắt ở một tỉnh miền núi phía Bắc. Một doanh nghiệp chạy vạy vay nợ khắp nơi để có một khoản lớn hòng mong nhận được một hợp đồng giá trị. Đồng tiền đi trước là đồng tiền khôn, thật không may phi vụ đổ bể vì lãnh đạo không giữ lời hứa. Không cách nào đòi lại, trong tuyệt vọng, doanh nghiệp thuê cả thầy cúng, mở đàn cúng mấy ngày để… “đòi tiền”.
Một nghiên cứu về “chi phí ngầm” cho thấy từ năm 2009 đến 2011, doanh nghiệp muốn tạo ra một đồng lợi nhuận thì cần phải trả 0,7 - 1 đồng tiền chi phí không chính thức. Đáng lo ngại là các doanh nghiệp nhỏ thường có tỷ tệ chi phí không chính thức trên thu nhập cao hơn, họ thường bị thiệt hại nhiều từ tham nhũng. Hệ quả tiêu cực thì lớn, tham nhũng hạn chế đổi mới sáng tạo, làm tổn hại đến khả năng chiến lược và cản trở sự lớn mạnh của doanh nghiệp…
Nét rất tích cực là sau Hội nghị Thủ tướng Chính phủ gặp doanh nghiệp năm nay, người đứng đầu Chính phủ đã chọn chủ đề năm là giảm chi phí cho doanh nghiệp.
Đây có lẽ là thông điệp giản dị mà sẽ có hiệu ứng thiết thực nhất cho các doanh nghiệp. Nhưng đây cũng không phải là lần đầu tiên tinh thần này được nêu lên. Để lời khẳng định có thực chất, giải pháp cụ thể giảm được chi phí cần được ưu tiên đưa ngay vào dự thảo Chỉ thị đang được hoàn thiện, và ban hành sớm.
Một số tờ báo đã ví Hội nghị giữa Thủ tướng với doanh nghiệp năm nay là “Hội nghị Diên Hồng”. Mong rằng nó đúng là thế. Ở hội Diên Hồng, chỉ một tuyên bố, là làm ngay - bằng bất cứ giá nào.Đậu Anh Tuấn

No comments:

Post a Comment