Saturday, May 27, 2017

Bài viết hay(4976)

Từ sau 30/4/75 đến nay, tui thấy có nhiều trùng hợp khó tin. Ông Thiệu bỏ miền Nam cho VC chiếm mà không cho đánh, VC tới đâu, quân ta rút chạy tới đó cho tới khi ông Minh lên thì hổng thèm đánh nữa, chạy mệt quá rồi nên đầu hàng luôn cho xong. Sinh mạng của hàng triệu quân nhân, công chức và vận mệnh của cả miền Nam bị tháu cáy dễ như canh bạc. Từ khi Lê Khả Phiêu lên làm TBT đến nay, CSVN cũng không đánh mà cứ cho Tàu Cộng tha hồ chiếm lấy cái gì tụi nó muốn chiếm lấy. Khi ông Kiệt lên thì chuyện đối thoại được khởi xướng mà ông Khải, ông Triết, ông Sang làm không tới đâu nên ...thôi, dẹp. Nay Thưởng muốn khơi lại. Hoá ra miền Nam khoái đàm. Miền Bắc thích đánh. Vậy thì sao nhỉ? Bolsa sẽ đàm hay đánh? Coi bộ bà con trong nước muốn VC đối thoại hơn là độc thoại mãi nhưng hổng lẽ chỉ nói dóc cho vui rồi ...đường ta, ta cứ đi? Hình như lãnh tụ nước ta quen thói coi đất nước này như nhà của họ, dân tộc này như con cháu của họ nên họ muốn làm gì thì làm; thằng dân chỉ ngậm miệng mà chịu đựng coi như số phận an bài mà hổng ai dám hó hé phản kháng. Dân nào, lãnh tụ đó, than gì nữa? Khỏi đối thoại. Lãnh tụ cứ phán, dân ngoan ngoãn tùng phục như bầy cừu. VN ta là vậy.
Nghiên cứu Ông cụ (Nỗi niềm Tống Văn Sơ)sa
Vào khoảng năm 2007- 2008,tôi chuẩn bị sản xuất bộ phim Vượt qua bến Thượng hải, lúc đầu định quay ở Quảng Châu như NAQ ở HK. Nội dung phim nói về sự kiện Ông cụ thoát vụ án 1931, năm 1933 bị trục xuất, bí mật đến Hạ môn, rồi đi Thượng hải, được Tống Khánh Linh giúp gặp Vai-ang Cutuere rồi đi Nga qua ngả Vladivostoc.
Tôi được giới thiệu với một ông nghiên cứu ở Quảng Châu (ông Quảng) vốn là người Hoa ở VN về năm 1978, ông dẫn vào Phủ Tống, gặp một vài ông già khác biết chuyện tôi quan tâm. Chuyện liên quan đến phim phò thì ít ỏi, toàn những chuyện văn chương là nhiều. Sau mấy ngày tạm gọi vui là ra tuyên bố chung.
1. Ai là người thuê ông Luật sư Lodobi (Loseby) bào chữa cho Ông cụ. Tài liệu trong nước có nhiều người nói rất sai là ông Hồ Tùng Mậu làm việc đó. Sai, vì khi đó ông Mậu đang ở trong tù. Ông Q và mấy ông già nói, hồi Ông cụ mất, báo chí TQ có bài nói việc thuê ông Lodobi là do người của phủ Tống thuê, sau đó và có thời gian trước đó nữa, Ông cụ ở ngay trong phủ Tống, nên mới có tên Tống Văn Sơ.
Tôi rất muốn nhìn thấy tư liệu, nhưng bấy giờ chỉ còn người nhớ lại. Một người hai người thì bảo nhầm, nhiều người cùng nói thế, tức là có thời báo chí TQ người ta viết thế, lại có nhiều nhân chứng khi đó còn sống nói lại. Tuy vậy, trong quá trình thẩm định kịch bản ở TQ (chuyện này bác Hà Phạm Phú phát ngôn chính thức hơn) thì phía chức sắc TQ nói không thấy tài liệu nào nói đến quan hệ HCM và Tống Khánh Linh.
Tài liệu chính thức nói, Lodobi là do Quốc tế Cứu tế Đỏ thuê. Hội này tên đầy đủ là Quốc tế Cứu trợ các chiến sĩ cách mạng, hoạt động theo đường lối của Quốc tế cộng sản. Bất ngờ là Ông cụ tham gia đại hội lần thứ nhất thành lập tổ chức này, năm 1923.Trong tác phẩm Đường cách mệnh viết huấn luyện cán bộ Thanh niên cm đồng chí hội có 1 bài giảng về Quốc tế cứu tế đỏ, nhưng tổ chức này không có hội viên người Việt.
Nhưng vì sao lại có chuyện liên quan đến phủ Tống?
Năm 1927 -1928, sau khi chạy khỏi Quảng Châu vụ Quốc cộng bắn nhau cùng với Borodin, Ông cụ về Pháp và qua Áo, khi đó Tống Khánh Linh đang ở Vien để vận động thành lập một tổ chức mặt trận quốc tế chống đế quốc. Nói chung bà Tống là người say mê con người Tôn Trung Sơn, ra sức tiếp nối con đường của ông ấy, nhưng con đường ấy cứ trắc trở rồi cuối cùng dính vào cộng sản. Ông cụ rõ ràng là người mê tư tưởng Tôn, biến nó thành dòng văn tự quốc túy "độc lập- tự do -hạnh phúc". Ông cụ gặp bà Tống năm 1928 ở Viên, khi đó bà Tống 35 tuổi vừa góa chồng được 3 năm. Chính sách thân cộng của Tôn Trung Sơn vừa mới bị QDđ TQ xé bỏ. Bà Tống cả đời hoạt động mặt trận không mệt mỏi, muốn vận động đâu thì cũng sẽ gặp Ông cụ, người chính thức tham gia mấy hội đoàn bên cạnh QTCS. Như vậy, cái Quốc tế cứu tế đỏ, hay cả Quốc tế nông dân, cũng là dưới cờ của bà Tống. Năm 1934, nguy cơ chiến tranh thế giới kề cận, bà Tống triệu tập hội nghị quốc tế chống chiến tranh ở Thượng hải, nên Ông cụ được bà Tống cứu một lần nữa.
Bỏ qua mọi suy diễn về quan hệ cá nhân, việc bà Tống cứu giúp người sáng lập tổ chức Quốc tế cứu tế đỏ là hợp lý. Ngoài ra, với tình thân hữu, thì mới ra được những giúp đỡ từ giới thượng lưu Hồng Công. Phó thống đốc HK và một người là nhà tư sản họ Long đã cải trang Ông cụ thành đại gia để đi Hạ Môn. Từ trước, cứ nói do đạo đức và uy tín Ông cụ mà người ta ngưỡng mộ abc xyz. Nhưng những câu hỏi cứ nảy ra. Tài của Ông cụ là khiến bà Tống hết lòng giúp đỡ, thế không tôn thêm ông cụ, hơn những kiểu nói vì đạo đức mà cảm hóa nọ kia. Vào năm bà Tống sang thăm VN, có chuyện Ông cụ lấy mũ mình đang đội chuyển sang đầu bà Tống, bà ấy là Phó chủ tịch nước TQ, nhưng Ông cụ trong một giây ngẫu hứng, biến bà ấy thành em Tống.
2. Ông Quảng Châu tôi nói ở trên không coi ông Hoàng Tranh ra gì. Ông Q nói với tôi: những điều về Tăng Tuyết Minh mà HT kể ra, có 3 phần thật, 7 phần ảo. Tôi hỏi: chỗ nào ảo? Ông Q: nó ở ngay câu chuyện đó.
Ông Q đã gặp bà Tăng và không có cảm tình với bà già đó. Ông nói bà Tăng có phần hơi hoang tưởng, con cá mất hoặc bỏ đi là con cá to.
Ông Q bảo tôi: một thời tôi là người cuồng cụ Hồ, nhưng sau này tôi nghiệm ra, nghề nghiệp viết lách, nghiên cứu, chỉ có xem Ông cụ là của chính ông cụ, thì mới thấy hết nhiều điều, ví dụ Ông cụ đã thất tình, đã bị đá, bị phụ tình, chứ không phải như sau này, ai cũng nói yêu Ông cụ, rốt cuộc chả ai yêu.
Trong những phần trước, tôi đã cố ý gợi ý, gợi mở bạn đọc bằng những câu hỏi, bằng cách đặt nghi vấn. Nếu bảo Ông cụ sống hạnh phúc với bà Tăng, hôn nhân tuyệt vời, sao lúc rút đi, bà Tăng không đi ngay theo đoàn Borodin với ông cụ, câu chuyện thư không đến tay, bị đốt nói vạy thì biết vậy, có thai sao lại phải phá, mặc dù là người công giáo? Đầy mâu thuẫn.
Có một tình tiết trong sách tiểu sử mà bà Sophie Quinn lướt qua, đó là Lâm Đức Thụ báo cáo với mật thám Pháp là Tăng Tuyết Minh chê Ông cụ là già, đại ý kết hôn chưa suy nghĩ nên bỏ. Chỉ có thể dựng lại một mắt xích thiếu trong bức tranh sự kiện hôn nhân của Ông cụ. Đó là cuộc hôn nhân này tan vỡ và bà Tăng bỏ Ông cụ không thương tiếc vào năm 1927. Có thể cuộc hôn nhân này do sắp đặt, hay nói đúng hơn là do yêu cầu nhiệm vụ, là hôn nhân giả. Trong đời cách mạng, nhiều người đã làm thế. Bối cảnh hồi đó, cả cộng sản lẫn quốc dân đảng đều cần có tay trong trong phái đoàn Borodin, việc giao nhiệm vụ có thể có.
Nhưng có thể với Ông cụ, cũng có tình cảm thật, còn bà Tăng thì chưa chắc, nên năm 1930,ông cụ về lại Hồng Công, không liên hệ với bà Tăng nữa. Chuyện sau này những người cao cấp ở TQ biết chuyện đã ngăn cản bà Tăng tìm lại Ông cụ, chỉ khi ghép giả thiết trên đây vào, nó trở nên hợp lý. Có gì thật mà tìm? Bỏ rồi thì thôi đi.
Người ta cứ cho Ông cụ cái áo không phải người, nên không nghĩ đến Ông cụ cũng thất tình, cũng bị bỏ rơi. Có thể không chỉ một lần. Sau này, bà Minh Khai vào thời điểm Ông cụ khó khăn ở LX, thì lấy Lê HP đang ở cương vị cao chót vót, hotboy lái máy bay, trong khi ở An Nam ít người nhìn thấy cái ô tô.
Thời kỳ Tống Văn Sơ, là thời kỳ nhân vật đầy nỗi niềm.
Vì sao chuyện vợ con của ông cụ năm 2001 mới được bộc lộ ra? Đó cũng có thể là một bí ẩn

Nghiên cứu Ông cụ (hai chiến hữu Thụ và Kiên)

1. Tóm tắt s10: Ông cụ từ Nga về Trung Quốc mùa đông năm 1938, khi trở thành Thiếu tá Hồ Quang trong Bát Lộ quân Trung Quốc. Tình hình chung khi đó là QTCS sau đại hội lần thứ 7, có điều chỉnh chiến lược. Chính sách của QTCS kêu gọi thành lập mặt trận thống nhất chống phát xit. Những tư tưởng hướng đến giải phóng dân tộc của Ông cụ trở nên hợp thời hơn lúc nào hết. Khi đó ở trong quân của các đầu lĩnh Hồng quân, có một ông kễnh to tướng người Việt là Nguyễn Sơn. Nếu năm 1927, Quốc- Cộng bắn nhau, ông Cụ rút theo phái đoàn Chu Ân Lai,rồi tham gia Vạn lý trường chinh, có lẽ Ông cụ sẽ trở thành tướng nhiều sao hơn Nguyễn Sơn. Nhưng cái chính là Ông cụ rút theo Borodin, mối quan tâm của Ông cụ khác, chứ không phải thành tướng của Hồng quân Trung Quốc.(Nguyễn Sơn được liệt vào 100 vị khai quốc công thần của cách mạng TQ, được phong thiếu tướng cấp quân đoàn).

Khởi nghĩa Nam kỳ là một thất bại của Đảng, song cũng như mọi thất bại khác, ít được mổ xẻ rõ ràng, phân định trách nhiệm cá nhân. Từ khi Tổng bí thư Nguyễn Văn Cừ bị bắt (tháng 8/1940) thì tình hình lãnh đạo Nam Bộ lâm vào khủng hoảng. Người có cương vị lớn nhất là Nguyễn Thị Minh Khai dường như bị cô lập. Các chủ trương đường lối chiến lược của Đại hội 7 QTCS chậm triển khai, bị nhóm đảng viên cấp tiến Nam kỳ theo đường lối cũ từ hồi Hà Huy Tập, không tiếp thu, dường như người lãnh đạo thực tế của Xứ uỷ là Tạ Uyên hoạch định chuẩn bị khởi nghĩa. Theo các tài liệu để lại, Nguyễn Thị Minh Khai đã hối thúc các lãnh đạo đón một người có uy tín cao, viết tắt là L (chắc là Lin), về Việt Nam và rất nặng lời với các đồng chí không chịu chuyển hướng theo tình hình mới. Khi đó, tình hình Nam Bộ đang sôi sục muốn nổi dậy. Kết quả khởi nghĩa Nam Kỳ thì các tài liệu nói rõ rồi, chỉ có điều những dích dắc dẫn đến điều đó hậu thế vẫn còn chưa chắc biết hết. Điều đáng tiếc là bà Minh Khai, dường như không dính líu gì đến kế hoạch khời nghĩa, nhưng do bà quá nổi tiếng, nên quân Pháp có dịp là trừ khử luôn.
2. Như vậy là, sau khởi nghĩa Nam kỳ, lãnh đạo cấp cao của Đảng Cộng sản Đông Dương trong nước hầu như bị quét sạch. Cho nên Xứ ủy Bắc kỳ mới có dịp tự chuyển thành Thường vụ Trung ương. Thời thế tạo anh hùng. Những người như Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Quốc Việt chắc cũng như bà Minh Khai ở Nam Bộ, lại có hy vọng đón Ông cụ về. Người được phân công lo chuyện này là Hoàng Văn Thụ. Tại sao lại là ông Thụ? Bởi vì ông Thụ là người Tày xứ Lạng, đã xây dựng cơ sở vững chắc ở các tỉnh biên giới, từ Lạng Sơn đến Cao Bằng. Khi tìm hiểu con đường để Ông cụ về Pac Bó năm 1941, thấy hiện ra hình bóng lừng lững của ông Hoàng Văn Thụ ở đầu Việt Nam, còn phía kia ở Côn Minh là ông Phùng Chí Kiên.
3. Ông cụ đến Côn Minh vào năm 1939, bắt liên lạc với Ban Hải ngoại của Đảng cộng sản Đông Dương. Ban này do Lê Hồng Phong lập ra nhiều năm trước, nó là một đầu cầu nối với Long Châu cách Lạng Sơn 60 km. Khi đó, Ban công tác Hải ngoại, người có cương vị cao nhất là Phùng Chí Kiên. Ông Kiên đã từng học trường quân sự Hoàng Phố, trực tiếp tham gia khởi nghĩa Quảng Châu, chỉ huy đại đội trong Hồng quân Trung Quốc, tại đại hội 1 năm 1935, ông được bầu vào Thường vụ Ban chấp hành Trung ương và phụ trách Ban Hải ngoại. Ban Hải ngoại của ông Kiên có quan hệ mật thiết với nhóm cách mạng tập hợp quanh ông Hồ Học Lãm. Ông Lãm là sĩ quan thuộc Bộ tổng tham mưu của Quân đội Trung Quốc quốc dân đảng. Ông Hồ Học Lãm cùng Nguyễn Hải Thần thành lập một tổ chức là Việt Nam độc lập đồng minh hội, gọi tắt là Việt Minh để tập hợp người Việt yêu nước ở mấy tỉnh Nam Trung Quốc. Cái tên Việt Minh này sau năm 1941, Ông cụ làm thành nổi tiếng, sau này ở Việt Nam, không nhiều người biết nó là tên ban đầu cái hội của cụ Lãm. Cần thấy rõ là khi đó, ở Trung Quốc, đang thời kỳ hợp tác Quốc – Cộng lần thứ 2, cộng sản có mấy năm (cho đến hết chiến tranh) công khai hợp pháp cùng chính quyền Quốc dân đảng, sát cánh làm mặt trận chống Nhật. Việt Minh hội lập ra, sau đó Nguyễn Hải Thần mâu thuẩn với Hồ Học Lãm về đường lối, thành lập tổ chức riêng, thành ra Việt Minh hội của riêng cụ Lãm và mấy đồ đệ mà cụ biết rõ là cộng sản.
4. Khi chắp mối liên lạc trở lại với Đảng Cộng sản Đông Dương, cũng như Ông cụ làm hồi thành lập VNTNCMĐCH, nhóm đồng hương thân cận là hạt nhân trung kiên, từ đó mở rộng ra. Hồi năm 1925 là Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Sơn, lúc đó 1939 là Phùng Chí Kiên, Hoàng Văn Hoan. Kiên người Diễn Châu, còn Hồ Học Lãm, Hoàng Văn Hoan ở Quỳnh Đôi, Quỳnh Lưu. (Họ Hồ của ông Hồ Sĩ Tạo, người được cho là cha ruột ông Nguyễn Sinh Sắc, cũng có gốc tổ ở đó). Phùng Chí Kiên và Ông cụ khảo sát tìm đường về nước, lúc đầu tính về theo ngả Lạng Sơn, nhưng người ảnh hưởng đến quyết định cuối cùng về Pác Bó chính là Hoàng Văn Thụ.
5. Hoàng Văn Thụ là một người kiệt xuất dân tộc Tày. Trong các tiểu sử chính thức của ông Thụ không thấy nói ông Thụ từng làm sĩ quan cho cả hai phía quân đội Trung Quốc. Ông Thụ là một trường hợp đặc biệt, cũng như Trường Chinh, lúc đó không qua trường Đại học cộng sản Phương Đông ở Liên Xô. Với Ông cụ, chắc là điều còn thiếu ấy của Thụ lại là điểmmạnh, không phải qua các giai đoạn đấu tranh chuyển hướng chiến lược của QTCS, không ảnh hưởng kinh viện của những người Stalinit. Ông Thụ người Tày, suốt dải biên giới và trong các làng Tày, Nùng là cơ sở của ông Thụ. Thụ thuyết phục Ông cụ về Cao Bằng. Ông Thụ vào hụt trường Bách Nghệ, tự học nhưng có thể nói văn võ toàn tài,một trí thức tài năng, như ngày nay có thể nói vừa có lý luận, lại là người hành động thực tiễn năng động, vì dân vì nước.
6. Trước đó, khi còn phải tìm kiếm manh mối Ông cụ, ông Thụ đã cử 2 người đi Côn Minh là Võ Nguyên Giáp và Phạm Văn Đồng. Ông ĐỒng thì không biết vì sao, nhưng ông Giáp chắc là có lý do. Các tài liệu chính thức thì không thấy nhắc đến, chắc là chỉ những người trong cuộc là biết. Hậu thế chỉ có thể đoán. Ông Giáp có vợ là bà Minh Thái, em ruột bà Minh Khai. Lãnh đạo Đảng như Hà Huy Tập còn viết thư cho QTCS,gọi bà Minh Khai là “vợ Quốc”, thì ông Hoàng Văn Thụ chắc biết rõ. Theo truyền thống thì ông Giáp là cọc chèo với Ông cụ đang tìm, cử ông này tìm ông kia là tốt nhất. Truyền thống Nho giáo hồi ấy ở VN còn rất sâu đậm,một ngày nên ngãi, ở với nhau 1 ngày cũng là vợ chồng, đừng có lơ mơ.
Sau này, ông Giáp kể lại việc gặp ông cụ ở Thúy Hồ, Côn Minh, chắc cũng tước hết riêng tư đi rồi.
Có giai thoại là, ông Giáp giữ lễ, từ ngày gặp Ông cụ ở Thúy Hồ, một điều Bác- em, hai điều Bác- Em. Đó là quy tắc xưng hô truyền thống trong họ, gọi thay con, xưng vai mình. Ông Giáp gọi Bác xưng em, Ông cụ gọi “Chú” xưng tôi. Từ đó, người ta bắt chước ông Giáp, xưng hô Bác- cháu, vì Bác dần già đi, chỉ có các chú hàng ông Giáp xưng em thôi. Đó là một giai thoại, mà cũng có thể là thật như thế.
7. Đến đây, tôi không kể lể dài dòng những chuyện ai cũng biết. Nhóm 43 người của Hoàng Sâm, Lê Quảng Ba gặp Ông cụ, trở thành các hạt nhân của khu Cao Bắc Lạng sau này. Rồi về Pắc Bó ra sao… vân vân. Còn một chuyện này về ông Kiên và ông Thụ. Chuyện về người con trai thất lạc của ông Phùng Chí Kiên, báo mạng đã kể rồi. Té ra là một người tôi đã quen biết từ lâu… Các ông đi hoạt động cách mạng ngày xưa gian khổ nhưng cũng là những ngày hội (lãnh tụ nào nói quên rồi) từ đó các ông ấy có các mối tình, rồi con rơi con vãi. Đó là hạnh phúc nhỏ nhoi, cũng là hy sinh của họ cho sự nghiệp lớn….

Nghiên cứu Ông cụ (Thành công lớn, thất bại không nhỏ)

1. Khi xem xét các sự kiện năm 1941 liên quan đến Ông cụ, vừa dễ lại vừa khó. Tư liệu cực nhiều, tuyên truyền khoa giáo cực nhiều. Nhưng đó cũng là một cái khó, những cái gì mọi người cùng biết về Ông cụ như một lãnh tụ thông thái, sẽ là làn sương mờ ảo che mắt những người muốn dựng một chân dung văn học, nghĩa là tìm hiểu con người nhân vật trong một thời điểm quan trọng nhất. Năm 1941, Tết âm lịch thì Ông cụ cùng mấy đồ đệ đi bộ từ Tĩnh Tây về Pác Bó. Thành phần ông cụ chọn, cho thấy một người có kinh nghiệm thực tiễn: Phùng Chí Kiên là cánh tay phải của Ông cụ về các vấn đề lớn và biết bắn nhau, Lê Quảng Ba là người địa phương, cầm đầu nhóm thanh niên hăng hái bỏ Trương Bội Công theo Ông cụ, cũng máu bắn súng. Thực tế nhóm đó có 2 thủ lĩnh: QUảng Ba và Hoàng Sâm. Sâm là người Nghệ, tiểu đồng của ông cụ thời ở Xiêm, nhưng khi về nước, Ông cụ chọn Ba vì Ba là thổ dân. Trong đoàn còn có ông Đặng Văn Cáp, một người ít hơn Ông cụ mấy tuổi, biết làm thuốc, có chữ nghĩa một chút, nếu ai đau ốm cụ Cáp hái lá nhì nhằng chữa được. Ngoài ra có 2 người khác là Lộc và An là hậu cần, Osin gánh gồng. Thực tế lúc đó, nhóm đi về của Ông cụ đơn giản là về nước bí mật, tá túc ít ngày, rồi bàn soạn mọi việc sau, chứ không đao to búa lớn như hậu thế thêu dệt. Chuyện hôn nắm đất cũng là hình tượng văn học, chứ thực tế Ông cụ đâu có mất vệ sinh thế.
2. Hội nghị Trung ương 8 họp ở Khuổi Nậm là một thắng lợi rất lớn của Ông cụ. Lần đầu tiên, Ông cụ đưa tư tưởng của mình thành chiến lược của một tập thể lãnh đạo cách mạng. Tư duy Luận cương năm 1930 coi như tạm cất vào một xó. Nhóm theo Trần Phú chả phải phê bình cảnh cáo, ai cũng biết họ thất bại và hi sinh hết rồi. Nay là lúc tập trung giải phóng dân tộc, đoàn kết toàn dân để hướng đến mục tiêu đó. Theo dõi diễn biến tư tưởng Ông cụ từ năm 1919 đến 1941, thấy rõ sự nhất quán. (Sau này, cứ khi nào Ông cụ điều chỉnh để thỏa hiệp là thất bại)
Tại Hội nghị, còn có người chất vấn Ông cụ: Thế thì những nguyên tắc cộng sản, việc chuyên chính vô sản và đấu tranh giai cấp bỏ đi, là phản bội chủ nghĩa cộng sản à? Ngay từ hồi đó, việc chuyển biến tư duy đã thấy cực khó, nên mới thấy hết sự thắng lợi của Hội nghị trung ương 8. Tại hội nghị này, dĩ nhiên các đệ tử đều muốn Ông cụ đứng đầu Đảng, nhưng Ông cụ khéo từ chối, và chỉ làm Chủ tịch mặt trận thôi. Cho đến năm 1945, khi giải tán Đảng cộng sản Đông Dương công khai, tôi ngờ rằng, Ông cụ muốn làm đồ đệ Tôn Trung Sơn, chứ không muốn là đệ của Sit, Mao. Chết nỗi số phận dân tộc này còn nhiều bi phẫn. Ngày nay, khối người không hình dung được cái gọi là Hội nghị Trung ương, mà sách báo quảng bá rõ hoành tráng, nó diễn ra như thế nào. Chín ông ngồi quanh một cái chõng tre, trong một cái lều bé tí xíu ở gần rừng hoang suối vắng. Thế thôi. Sau này, cờ quạt um sùm, kèn trống inh ỏi, chưa ra được cái gì có tầm chiến lược bước ngoặt như Ông cụ bảo 8 ông còn lại ở túp lều tạm.
Tại Hội nghị, ông Phùng Chí Kiên được chỉ định là người phụ trách quân sự. Sau đó đi nắm đội du kích Bắc Sơn. Như lịch sử công khai, ông Kiên sau đó gặp thất bại lớn. Du kích Bắc Sơn tan rã, ông Kiên hy sinh. Nói công bằng thì Bắc Sơn cũng ấp nở ra một số chỉ huy quân đội sau này. Nhưng Bắc SƠn –Cứu quốc quân vẫn là một thất bại. Đó cũng là thất bại của Ông cụ. Xem xét sự kiện khách quan, thì thấy Ông cụ cùng các đệ muốn áp dụng kinh nghiệm TQ vào ta. Đó là quân đội công nông của họ hình thành từ một cuộc khởi nghĩa, rồi xây dựng dần lên, là tích Bát Nhất. Ông Kiên vào sinh ra tử ở khởi nghĩa Quảng Châu, chỉ huy đại đội của Hồng quân Tàu, rất thích hợp với vai trò người cầm chịch quân đội. Nhưng ông ấy thất bại. Nước ta không thể như nước Tàu. Đó là một cú chắc hẳn là cũng sốc với ông cụ chứ. Hồi ký các ông cốp đều nói, nghe tin ông Kiên hy sinh, ông cụ lặng đi hồi lâu.
3. Lại nói đến ông Kiên, tôi định lướt qua chuyện con rơi của ông ấy, vì báo mạng và báo chính thống đã nói, nhưng nhiều người hỏi quá, nên nói đôi chút. Ông Kiên hy sinh, thì sau này vai trò của ông ấy mới vào ông Giáp. Thế mà vào khoảng sau năm 2000, gia đình chật vật mới xin được cái công nhận liệt sĩ. Khi ông Giáp đã già lắm, gần đất xa trời, mới gọi con cháu đến bảo quyết tìm đứa con trai thất lạc của ông Kiên.Cũng viện đến ngoại cảm, rồi chỉ thẳng vào ông Trường Thanh ở Lạng Sơn. Đó là nhà văn Trường Thanh. Tôi quen biết ông Trường Thanh nhiều năm trước. Ông Thanh say sưa viết về mảng các cán bộ cách mạng tiền khởi nghĩa, về Hoàng Văn Thụ, Phùng chí Kiên. Có một lý do chính đáng, vợ ông Thanh là con ông Hoàng Văn Hán, chỉ huy du kích Bắc Sơn (đã hy sinh hồi đó), có họ với Hoàng Văn Thụ. Khi tôi tìm hiểu về thời kỳ 41-45, ông Thanh tâm sự: Thấy tớ bỏ công khảo cứu các cụ, nhiều người không thích, bảo cái đảng này hỏng rồi, ông lại là người đi tù thời cộng sản, đào làm gì. Tớ bảo: Ngày xưa ông Lê Lợi lập quốc, rồi con cháu rập khuôn lề lối Tàu, đưa Nho giáo vào làm chủ đạo, đời sau đẻ ra rặt một phường Uy Mục, Tương Dực,thì thôi không tôn kính cụ Lê Lợi nữa à? Những vị tiền bối hồi đó là anh hùng, họ thực sự hy sinh vì dân vì nước, tôi là con cháu họ, nên tôi phải viết… Khi nghe tin người ta tìm ra ông ấy là con Phùng Chí Kiên, cũng có nhiều điều tiếng, có người bảo ông Thanh nhận để cho oai. Tôi biết ông Thanh,và tôi tin câu chuyện là thật. Bao nhiêu năm, từ hồi còn sống, ông Trường Chinh là người quan tâm đến gia đình ông Thanh nhất, rồi ông Giáp cũng qua lại thân tình. Tức là họ biết, mà vì gì đó không nói thẳng ra… Nói có linh hồn ông Thanh chứng giám, ông Thanh nói với tôi, biết vì sao ông Giáp phải mượn đến ngoại cảm để chỉ ra ông. Ông Thanh cũng bảo, theo tư liệu của ông, cái ông bóng mượt đồn đại là con Ông cụ là sai toét, mà là con một ông có tên đàng hoàng trong hồi ký ông Giáp, hy sinh thời đen tối của du kích Cao Bắc Lạng. Ông Trường Thanh gây cảm hứng cho tôi đào bới thời kỳ 1941-1945, những tiền bối hồi đó đúng là các anh hùng hảo hán, họ đã vì lý tưởng độc lập dân tộc mà không quản hy sinh xương máu. Sau này thằng nào làm láo đứa ấy chịu, sao lại bảo họ chịu trách nhiệm mấy đời sau?
4. Sau này, ông Hoàng Văn Thụ chết, lại một đòn nữa đánh vào “công tác cán bộ” của ông Cụ. Rõ ràng, 2 người đồ đệ đầy hy vọng của Ông cụ đều không thành. Ông Thụ là tướng rừng xanh, về thành phố, thì thành con hổ rời rừng xanh. Nhiều người cứ thổi lên Ông cụ biết Nho nhe, biết tướng số, biết xem người. Có thể cũng biết, nhưng trường hợp ông Thụ và ông Kiên là một thất bại, nếu biết số phận con người như thánh thì chả thế. Đặc biệt là trường hợp ông Kiên hy sinh, chính sách mô phỏng chiến đấu của Tàu bị vỡ tan tành. Từ đây, Ông cụ phải tìm cách khác, mà từ đó bật ra ông Giáp. Đó là chính trị giành dân đi trước một bước, chứ không du kích chiến. Vấn đề này đến nay, còn khối bạn nói về vai trò ông Giáp, ông Tấn, rồi này nọ khác kia. Nếu xem xét nghiêm túc khách quan giai đoạn này, không có thắc mắc như vậy.
5. Hội nghị trung ương 8 có 9 ông dự. Bây giờ cái tranh ở bảo tàng Pác Bó vẽ có 8 ông. Đó là một bí ẩn, mà gần đây mới được bạch hóa. Phía bắc có Ông cụ và 5 ông: Thụ, Kiên, Khu, Vũ Anh, Việt. Phía Nam cử ra 3 ông: Bùi San, Trần Quốc Thảo (tên sau này là thế) và Nguyễn Thành Diên. Khi 3 ông trở về Nam, thì đi đến gần Hà Nội đã bị tóm. Sau đó Nguyễn Thành Diên khai tuốt tuột. Như vậy, nghị quyết trung ương chua triển khai, mật thám Pháp đã biết rõ hết. Việc Pháp tập trung quân đánh Bắc Sơn chắc chắn cũng có lý do chính yếu của nó, còn Pác Bó vì sao Pháp không làm gì đươc? Một là, các cụ nhanh chóng bỏ Pác Bó, phân tán đến vùng núi Lam Sơn của mấy huyện lân cận Hà Quảng. Hai là, rừng núi âm u, sức đâu mà càn. Nhưng cái chính là các ông ấy theo lý thuyết của Ông cụ mà thực hành, đó là lấy lòng dân. Cứ được dân thì được cả. Lòng dân thiên la địa võng, núp đâu chả được. Dân miền núi chân chất, được lòng cũng không khó, còn dân miền xuôi hơi khó hơn, đến mức phải đồng ý cử chú Thụ đầu lĩnh đi, thì biết Ông cụ tin cẩn ai. Đó cũng là một điều dở của Ông cụ, khi nghiên cứu việc bài binh bố trận thời kỳ trứng nước. Tôi tự hỏi, tại sao người ta phải xóa cái lịch sử 9 người, sao không để đủ như thế, bảo với hậu thế đàng hoàng là ông Diên đầu hàng. Từ đó, việc xem xét tình hình thời đó có dữ kiện quan trọng nhất là mọi thứ bị lộ, thì lại giấu biến đi. Sợ bảo đảng ta kém ư? Thật là một kiểu tư duy dở. Tôi tự trả lời: Bởi vì bảo tàng và tuyên truyền người ta làm trên cơ sở “Đảng ta”, “Bác của chúng ta”, chứ không dạy lịch sử, không làm lịch sử. Đảng ta thì không có sai, Bác của chúng ta thì vĩ đại. Bao giờ được là Đảng của Đảng, Bác của Bác thì có khi lịch sử mới thiêng được.Nguyễn Xuân Hưng
“TBT Nguyễn Phú Trọng có phải là minh quân”: Đỉnh cao nâng bi!


Minh quân trong một lần vi hành phương Bắc
“Nâng bi” là từ được các báo đối lập miền Nam đùng trong thập niên 60 thế kỷ trước (Nâng bi, nịnh bợ, bợ đỡ) để chỉ các báo và loại người nói tốt chế độ bất kể xấu tốt vì nhiều động cơ. Nghĩa đen “tục” nhưng mô tả được cái bộ dạng của loại người hèn hạ, tầm thường. Trong xã hội ngày nay, thì nó muôn hình vạn trạng và đạt đến đỉnh cao. Bài viết dưới đây là một dạng như thế.
Trang thờibáo.de, tạp chí cộng đồng của người Việt tại CHLB Đức, số ra ngày 25/5 đăng bài viết “TBT Nguyễn Phú Trọng có phải là minh quân” của tác giả Phạm Hòa – cựu chiến binh, sống ở Berlin.
Nội dung hồi đáp bài viết Một khái miệm mới về lãnh tụ: "Minh Quân" đăng trên trang danlambao của tác Vũ Bất Khuất. Đọc bài của Phạm Hòa tôi nhận thấy, bài viết là một đỉnh cao của sự nâng bi. Ngôn từ tởm lợm, sặc mùi sùng bái lãnh tụ, cái nhân. Gặp những bài viết dạng như thế này, tôi thường bỏ qua. Nhưng với bài viết này của Phạm Hòa thấy chướng, không nói không được. Xin có vài lời bàn luận, để người đọc khỏi nhầm lẫn.
Ông Hòa trình bày: “Một bằng chứng không thể chối cãi là mỗi khi có một vị lãnh đạo xuất sắc, có uy tín để toàn Đảng, toàn quân, toàn dân kính trọng, lúc đó đất nước ta đều có những kỳ tích vĩ đại. Lịch sử đã chứng minh khi Chủ Tịch Hồ Chí Minh vĩ đại đã khai sinh ra nước Việt Nam độc lập, lịch sử cũng chứng minh Tổng bí Thư Lê Duẩn đã thống nhất đất nước, giải phóng được miền Nam thoát khỏi kiếp làm tay sai cho bọn tư bản”.
Đọc những gì ông Hoài viết, tôi cho rằng ông là người rất mù mờ về kiến thức lịch sử. Thậm chí, ông không hiểu các thuật ngữ sử học. Cho nên ông mới viết, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khai sinh ra nước Việt Nam độc lập. Tổng bí thư Lê Duẩn đã thống nhất đất nước. Viết như thế dễ gây ra hiểu nhầm, rằng Việt Nam có được độc lập năm 1945 mọi công lao thuộc về Chủ tịch Hồ Chí Minh. Việt Nam thống nhất năm 1975 công lao là của Lê Duẩn. Có khác nào phủi công của hàng triệu con người đã ngã xuống vì Tổ Quốc để Cách mạng Tháng Tám thành công và trong hai cuộc chiến tranh?
Hai câu trên viết đầy đủ theo sách sử hiện nay phải là, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản tuyên ngôn khai sinh ra nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Tổng bí thư Lê Duẩn là nhà lãnh đạo kiệt xuất, góp công cho sự nghiệp giải phóng, thống nhất đất nước - theo sách giáo khoa Việt Nam.
Bằng chứng nào ông Hòa nói, giải phóng được miền Nam thoát khỏi kiếp làm tay sai cho bọn tư bản? Chẳng phải nhà nước ta hiện nay đang mời gọi tư bản nước ngoài vào đâu tư, hiểu theo câu viết của ông Hòa khác nào nói nhà nước ta ngày nay cũng làm tay sai cho tư bản?
Ông nhận xét về Tổng bí thư đương nhiệm: “Ngày hôm nay đất nước ta có một vị lãnh đạo cao cấp nhất như Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, một con người đức độ, tài năng và tâm huyết mang vóc dáng của một đấng minh quân...như thế là một điều may mắn lớn cho dân tộc và đất nước”.
“Minh quân” nghĩa là vị vua sáng suốt. Và chỉ có vị vua sáng suốt mới được gọi là minh quân. Vậy nên từ này chỉ phù hợp ở thời phong kiến. Ngày nay không ai gọi các nguyên thủ quốc gia, lãnh đạo là minh quân dù họ có tài giỏi như thế nào. Trong sách sử, cũng chưa bao giờ thấy Đảng dùng từ minh quân để nói về vị Tổng bí thư nào. Việc ông Hòa gọi Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng là minh quân khác nào nói ông Trọng là “vua”? Còn việc các cụ hưu trí nói Tổng bí thư là minh quân ai chấp làm gì.
Cuối bài ông kết luận “Cá nhân tôi với đánh giá của mình, tôi mạnh dạn khẳng định. Tổng Bí Thư là một vị minh quân lỗi lạc nhất trong Đảng ta từ khi thành lập Đảng đến nay. Ông xứng đáng được ca ngợi như chúng ta đã từng ca ngợi chủ tịch Hồ Chí Minh, ca ngợi tổng bí thư Lê Duẩn khi cả hai còn sống và đang làm việc. Không phải ngẫu nhiên mà Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng được các bậc cao niên gọi là Minh Quân".
Đến đây thì phải nói, ông Hòa hết sức vớ vẩn, căn bệnh sùng bái cái nhân của ông đã quá nặng, hết thuốc chữa. Ông ca ngợi, Tổng Bí Thư là một vị minh quân lỗi lạc nhất trong Đảng ta từ khi thành lập Đảng đến nay.
“Lỗi lạc nhất” nghĩa là hơn cả Hồ Chí Minh và hơn nhiều người khác nữa?
Hiểu theo ông viết thì có phải là trong tất cả các vị Tổng bí thư của Đảng, Nguyễn Phú Trọng xứng đáng được ca ngợi chỉ sau Hồ Chí Minh (chủ tịch Đảng) và Tổng bí thư Lê Duẩn?
Thương thay Trần Phú, Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập, Nguyễn Văn Cừ những tổng bí thư đầu tiên của Đảng, những người cộng sản trung kiên, các đồng chí ấy đã hi sinh cả tính mạng cho Đảng, cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Xương máu của họ đã vun đúc nên thành công của Đảng. Để ngày nay, có kẻ xếp họ sau cả những người làm cho đất nước tan hoang, nhân dân cơ cực.
Giả sử có VUA đi thì sao có thể gọi là “minh quân” khi đất nước có những chuyện trái ngang: Cách chức khi không còn chức. Cán bộ sai phạm, gây thất thoát cả ngàn tỷ chỉ bị kiểm điểm. Cán bộ làm sai xin lỗi dân, còn dân làm sai phải chịu trách nhiệm trước pháp luật. Dân xây chuồng gà bị cưỡng chế, cán bộ xây biệt thự trái phép thì bỏ qua….
Và kỳ tích của đất nước là gì khi: Chủ quyền bị ngoại bang xâm phạm, kinh tế yếu kém, dự án thua lỗ, nợ công chồng chất, thuế phí nhất thế giới, tham nhũng tràn lan, suy thoái đạo đức, môi trường ô nhiễm, dịch ung thư bùng phát, án oan khắp nơi…
Có lẽ ông Phạm Hòa này không biết, hoặc biết mà giả vờ không biết về tình hình đất nước dưới thời tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng nên mới thốt ra những lời tâng bốc nghe buồn nôn như vậy. Nếu ông là một dư luận viên hoặc là người có vấn đề về thần kinh thì tôi có thể hiểu động cơ viết bài trên của ông. Còn nếu ông là một người bình thường thì quả là đáng kinh thường.
Định An
P/s. Phạm Hoà này, nếu ông cuồng Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng như vậy, sao không về Việt Nam sống mà hưởng cái thành tựu xây dựng xã hội chủ nghĩa, chứ sống ở xứ tư bản dãy chết làm gì?

No comments:

Post a Comment