Saturday, May 27, 2017

Bài viết hay(4977)

Ai cũng có quyền mơ ước, tưởng tượng, hy vọng; kể cả quyền nằm mơ giữa ban ngày. Những thằng giàu có, quyền lực như Trump, Putin, Xi hay Cả Lú cũng vậy nên chúng nó cứ tha hồ mà nằm mơ. Tui khoái nhất là giấc mơ "One Belt, one road" của Xi nhưng chê Trump xạo khi miệng nói "Nước Mỹ first" nhưng thực ra là Trump first! Còn Lú nói gì thì kệ tía nó bởi tonton đã dặn tui: Đừng tin những gì CS nói mà hãy nhìn kỹ những gì CS làm. 42 năm qua, tui hận VC bao nhiêu thì tui căm ghét tonton bấy nhiêu nhưng thú thật là câu nói này quá đúng cho dù tonton làm nhiều điều trật lất. Bây giờ nhiều người đang mơ VC sẽ đối thoại với nhân dân thay vì độc thoại, có người mơ VC huỷ bỏ điều 4 HP để cho một đảng đối lập thành hình. Có người còn mơ một cái ghế trong chính phủ mở rộng mà sớm muộn gì VC cũng sẽ phải làm. Tui chỉ mơ có đủ sức khoẻ để sống lâu hơn với con trai mình, hạnh phúc khi sống bên con. Thế là đủ. Già rồi, phải biết nhường chổ cho mấy đứa trẻ cơ hội chứ đừng đắp mô, cản đường. Khi bước qua tuổi 60, lực bất tòng tâm, đừng hòng làm vĩ nhân.
Đối thoại là văn minh, độc thoại là đáng khinh
Ngày 18/5 vừa qua, Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương Võ Văn Thưởng đã tuyên bố rằng đảng cộng sản “không sợ đối thoại, không sợ tranh luận” đã gây chú ý trong người dân và nhất là tầng lớp trí thức.
Đảng cộng sản “không sợ đối thoại”?
Khi ông Thưởng phải khẳng định “không sợ” tức là để phủ định ý kiến trong dân chúng là đảng cộng sản rất sợ đối thoại. Thế thì tại sao lại có dư luận như vậy, dù rằng đảng cộng sản đang cầm quyền, muốn bắt ai thì bắt?
Ngược lại lịch sử, ngay từ năm 1958, đảng Lao Động, tên trước đây của đảng cộng sản, trong vụ án Nhân văn Giai phẩm, đã phải đàn áp các nhân sỹ trí thức dám nêu các ý kiến phản biện lại đường lối của đảng. Ngay từ thời điểm đó, giới lãnh đạo của đảng cộng sản đã biết rõ không thể biện minh được cho các chính sách của đảng, nhất là chính sách độc quyền chính trị, nếu tất cả được đem ra thảo luận công khai.
Việc ông Thưởng cho biết Ban bí thư đang thông qua vấn đề trao đổi, đối thoại cho thấy trên đất nước Việt Nam này, đến giờ phút này, người dân vẫn không thể trao đổi thẳng thắn với nhau và với đảng cầm quyền trên nền tảng một nền báo chí tự do. Cũng có nghĩa là Việt Nam hoàn toàn không có dân chủ, vì như Hồ Chí Minh đã nói: “Dân chủ là để làm sao cho dân được mở miệng ra”.
Thật vậy, ở Việt Nam hoàn toàn không hề có báo chí tư nhân trong khi thời thực dân Pháp vẫn có rất nhiều nhà xuất bản tư nhân được hoạt động. Cuộc Cách mạng tháng Tám hóa ra lại đưa dân tộc vào thế bị kìm kẹp ghê gớm hơn về mặt tự do ngôn luận, trong khi “tự do ngôn luận là linh hồn của mọi thứ tự do” (Voltaire).
Những người phản biện, góp ý ôn hòa cho giới lãnh đạo cộng sản đều bị sách nhiễu, bức hại, tiêu biểu như tù nhân lương tâm Trần Huỳnh Duy Thức đang chịu án tù 16 năm vì cái “tội” thành lập “Nhóm nghiên cứu Chấn” để góp ý chính sách cho nhà cầm quyền.
Ngay cả những đảng viên cộng sản muốn góp ý cho giới lãnh đạo cũng rất dễ bị chụp ngay cái mũ “tự diễn biến, tự chuyển hóa” như nghị quyết của Hội nghị Trung ương 4, khóa 12 đã cho thấy.
Do đó, tôi cho rằng các lãnh đạo đảng cộng sản Việt Nam rất sợ đối thoại một cách sòng phẳng và trung thực với người dân, với trí thức, thậm chí cả với chính các đảng viên cộng sản.
Những điểm đồng thuận để thảo luận
Việc thảo luận nhằm chỉ ra cho đúng gốc rễ vấn nạn của đất nước và đưa ra giải pháp cho quốc gia. Thật ra từ đảng cộng sản cho đến thành phần đối lập cũng đều nhận thấy mục tiêu của quốc gia phải là “dân chủ, công bằng, văn minh”, dù cách diễn đạt có khác nhau. Đó là điểm đồng thuận rất lớn. Khác biệt nằm ở cách thức đi đến mục tiêu đó.
Thứ nhất, “dân chủ” nghĩa là dân làm chủ, dân là chủ qua nhà nước cộng hòa chính danh. Thế thì dân đã được bầu lãnh đạo quốc gia chưa hay một đảng tự tiếm quyền dân và tự cho mình được độc quyền lãnh đạo qua một bản Hiến pháp do đảng đó tự thông qua? Đại biểu quốc hội do dân bầu ra hay do “cơ cấu”, “quy hoạch” của một đảng?
Thứ hai, tạo dựng một xã hội “công bằng” phải thông qua pháp luật chuẩn mực, áp dụng bình đẳng như nhau cho tất cả mọi người, bắt đầu từ bản Hiến pháp chuẩn mực được toàn dân phúc quyết. Bản Hiến pháp hiện tại chỉ ưu tiên cho một nhóm người trong xã hội là đảng cộng sản được độc quyền cai trị mà không cần do dân bầu, bắt lực lượng vũ trang là con em nhân dân phải trung thành với một đảng. Vậy có “công bằng” không?
Thứ ba, “văn minh” trong chính trị chính là tinh thần “đa nguyên hợp tác, đoàn kết quốc gia, thượng tôn pháp luật”. Đa nguyên chống đối hay chống phá không phải là văn minh. Chia rẽ quốc gia, dán nhãn người Việt với nhau là “thế lực thù địch” cũng không phải là văn minh. Độc quyền nhà nước đứng trên Hiến pháp và pháp luật càng không phải là văn minh.
Người Việt là đồng bào nên cần hợp tác với nhau, thảo luận với nhau để cùng nhau xây dựng đất nước chứ không phải chỉ trích, chống đối nhau, nhìn nhau như thù địch. Một nước Việt chia rẽ, có nội chiến, bất ổn, sẽ là mồi ngon cho ngoại xâm đang chực chờ ra tay.
Mục tiêu do đảng cộng sản đề ra là đúng đắn nhưng hành vi thì ngược ngạo. Việc bây giờ là các lãnh đạo cộng sản phải công nhận sự thật và nói đi đôi với làm. Quốc gia đang cần các lãnh đạo chính trực với nhân dân và với pháp luật chuẩn mực.
Điều kiện để đối thoại
Nói đến chính trị là nói đến thế lực. Để hai bên đàm phán với nhau thì thế và lực của hai bên phải tương xứng với nhau. Trong trường hợp nhà cầm quyền nuốt lời thì bên còn lại có đủ thế và lực để buộc nhà cầm quyền phải tôn trọng thỏa thuận.
Đến giờ phút này, nhà cầm quyền chỉ đối thoại về vấn đề nhân quyền với Mỹ, Liên minh châu Âu, Thụy Sĩ, Na Uy và Úc, hoàn toàn phớt lờ tiếng nói của người dân trong vấn đề nhân quyền.
Lý do cũng là vì chưa có tổ chức chính trị nào đủ đông, uy tín, ôn hòa có được sự ủng hộ của đông đảo nhân dân và sự hậu thuẫn của cộng đồng quốc tế để có thể đứng ra đàm phán với các lãnh đạo cộng sản.
Tướng công an Trương Giang Long trong một đoạn clip dài 30 phút cũng nói rõ: “Trong các nhân tố mà Mỹ phân tích về Việt Nam, thì Mỹ cũng thấy rất rõ, không có một đảng phái chính trị nào có thể lãnh đạo quản lý đất nước bằng đảng cộng sản Việt Nam”.
Các đời Tổng bí thư nào của đảng cộng sản cũng phải nhắc nhở lực lượng vũ trang là tuyệt đối không để hình thành các tổ chức chính trị đối lập.
Cần các đảng chính trị chân chính
Do vấn đề Việt Nam là vấn đề chính trị nên nó chỉ được giải quyết tận gốc bằng những đảng chính trị, bằng những con người chính trị, cũng như ở Nam Phi với đảng Đại hội quốc gia dân tộc Phi (ANC), Miến Điện với đảng Liên đoàn quốc gia vì dân chủ (NLD).
Cũng như Nam Phi hay Miến Điện, thời gian để xây dựng một chính đảng ở tầm quốc gia trong hoàn cảnh bị đàn áp khắc nghiệt có thể lên tới hàng chục năm.
Lực lượng nào sẽ có đủ ý chí kiên trì để làm chuyện này? Đảng nào sẽ đứng ra đàm phán với đảng cộng sản một cách sòng phẳng trong tư thế bình đẳng, với tình tự dân tộc?
Đảng cầm quyền cũng nên nhớ rằng dân tộc Việt Nam này “tuy mạnh yếu có lúc khác nhau, song hào kiệt đời nào cũng có” (Bình Ngô đại cáo - Nguyễn Trãi). Do đó, đối thoại thực tâm với dân là con đường tiến lên phía trước, còn cứ mãi độc thoại thì sẽ mãi “độc tài, bất công, lạc hậu” chứ không phải “dân chủ, công bằng, văn minh”.Nguyễn Tiến Trung
1. Trước khi vào stt cuối (chỉ trong loạt lên FB này), tôi xin cám ơn những bạn đã khen chê, trao đổi, tự thấy cần làm rõ một số vấn các bạn trao đổi, tôi ngẫu hứng biên mấy việc sau:
a. Về một số nhân vật xuất hiện xung quanh Ông cụ: Giai đoạn 1911-1923 Ông cụ ở Pháp, gần đây có anh Quốc Phong kể vụ bóc băng ông Vũ Kỳ, có nhắc đến bà Rose nào đó, thành thật là tôi không tìm được tài liệu gì. Quyển sách của Trần Dân Tiên kể mùa đông Ông cụ phải hơ nóng viên gạch để ủ ấm. Đó có thể là sự thật, mà cũng có thể là chi tiết văn học. Sau này, tôi không thấy ở đâu nói đến việc các viên gạch của Ông cụ lên tiếng. Lạ. Hoặc là họ không biết cái ông ủ ấm ngày nào bây giờ là ai, nên họ không xuất hiện chăng?
b. Ân nhân trong đời Ông cụ cực nhiều, ngoài những người nổi tiếng đã biết, như Lodoby, Tống Khánh Linh, Vaillant Cuturier, bà Vera Vasilieva… hàng bè bạn, còn các đệ tử thì cũng khá nhiều. Ở đây tạm kể mấy người mà tôi đã khảo cứu (họ xuất hiện trong giai đoạn tôi quan tâm)
i. Dương Đào. Đây là người nông dân Tĩnh Tây, đã dẫn Ông cụ định theo đường dây liên lạc đến CÔn Minh, nào ngờ bị bắt, 2 người trải qua 14 tháng bị bôn ba qua các trại giam. Sau đó Dương Đào bị bệnh lao và mất. Hình như khoảng năm sáu mươi, Ông cụ có mời gia đình Dương Đào đến Hà Nội chơi.
ii. Hầu Chí Minh. Vừa qua, có bạn comment cho tôi, hỏi có phải ông này là tình báo hy sinh cứu ông cụ thời bị giam, rồi Ông cụ lấy tên ông ấy làm kỷ niệm. Hồi còn đi học khoảng trước 1975, tôi cũng nghe các bậc đàn anh có chức sắc hẳn hoi nói như thế. Nhưng đến nay thông tin mở rộng rồi, nào ngờ câu chuyện ấy vẫn tồn tại. Thực ra Hầu Chí Minh là Thiếu tướng Phó chủ nhiệm chính trị Quân khu 4 (Tư lệnh là Trương Phát Khuê), khi Ông cụ đến phòng giam của Cục Chính trị Quân khu 4, Chủ nhiệm Chính trị là Trung tướng Lương Hoa Thịnh. Trong Nhật ký trong tù, có một bài tặng Lương Chủ nhiệm (tặng Lương Hoa Thịnh), một bài tặng Hầu Chủ nhiệm (tặng Hầu CHí Minh).
Trong thời gian Ông cụ làm khách của họ, Lương Hoa Thịnh được cử đi chiến trường Miama, Hầu Chí Minh lên làm Chủ nhiệm Chính trị. Theo diễn biến sự việc, thì Hầu Chí Minh chịu trách nhiệm tra xét vụ Hồ Chí Minh rồi báo ok hay không cho Trương Tư lệnh, sau đó Tiêu Văn chịu trách nhiệm xử lý, dụ Ông cụ tham gia cải tổ Việt Cách, làm Trung ủy của Việt Cách. Tuy nhiên, có lẽ Ông cụ không khoái Tiêu Văn, mà rất tình nghĩa với Hầu. Chính Hầu Chí Minh là người dạy Ông cụ Thái cực quyền. Sau này thấy Ông cụ múa quyền, là ôn bài Hầu Chí Minh truyền cho. Theo Hồi ký Trương Phát Khuê, Hầu Chí Minh bị Ông cụ mê hoặc, khi gặp Ông cụ, Trương cự nự về chuyện cộng sản (biết quá rõ là Nguyễn Ái Quốc), thì Ông cụ nói: Tôi đảm bảo với ngài, 50 năm nữa không có chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam. Trương thừa biết, nếu Tưởng không thất bại, thì lời Ông cụ sẽ đúng. Như vậy, tên Chí Minh là tình cờ trùng nhau mà thôi.
iii. Tống Minh Phương. Trong các hồi ký về cuộc đi Côn Minh gặp Chennault của Ông cụ, gia đình Tống Minh Phương là bản doanh của Ông cụ ở Côn Minh. Gia đình này còn quyên góp vũ khí gửi về cho Việt Minh. Những người tư sản dân tộc đóng góp tinh thần, tấm lòng và của cải cho công cuộc giải phóng dân tộc chắc chắn còn rất nhiều. Sau này, giành độc lập, không mấy ai đòi chức quyền hay lợi lộc gì. Tôi tìm tư liệu ảnh về ông Tống Minh Phương mà không thấy.
2. Thời kỳ Việt Minh là một thời kỳ thú vị của lịch sử Việt Nam, cũng là một thời kỳ thăng hoa thỏa chí của Ông cụ. Tài liệu còn lại cực nhiều, nhưng nhiều khi ta chỉ lướt qua. Hồi đó, về tổ chức cơ cấu của khu vực Việt Minh, trên có Tổng bộ, dưới có Tỉnh bộ, huyện bộ (không thấy nói xã bộ). Chính quyền thuộc Pháp tồn tại vẫn vững mạnh bề nổi, các tổ chức Việt Minh dần dần chiếm hết phần chìm, tức là phần lòng dân. Tới khi Ông cụ đi TQ gặp Mỹ sắp về, các anh ở trong nước bàn tính thành lập các chiến khu, nhưng thực ra chiến khu Cao Bắc Lạng của Việt Minh đã tồn tại lâu rồi. Song song với bộ máy Việt Minh, còn có liên tỉnh ủy, huyện ủy. Nhưng quyền hành thật sự là ở các Tổng bộ, tỉnh huyện bộ. Liên tỉnh ủy được ông Hoàng Văn Thụ thành lập từ các cán bộ địa phương, trình độ có hạn, sau khi nhóm của Ông cụ về nước, bổ sung nhiều anh tài vào các tỉnh ủy, huyện ủy. Cỡ ông Giáp, ông Đồng khi theo Ông cụ về Cao Bằng, chỉ là đảng viên thường, công tác ở Tổng bộ, thì mới bổ sung vào tỉnh ủy, do ông Lã Minh Giang làm bí thư. Ông Lã Minh Giang là một trong 43 người nhóm Lê Quảng Ba, Hoàng Sâm từ TQ kéo về với Ông cụ.
Nhìn nhân sự thế thì biết các ông tỉnh ủy làm gì so với các ông bên Tổng bộ, tỉnh bộ Việt Minh. Để hiểu rõ điều này, có một dẫn chứng. Hồi Ông cụ đi TQ bị bắt, các anh ở nhà định khởi nghĩa. Tổng bộ và tỉnh ủy đã ra nghị quyết rồi. Ông cụ về ách lại, không cho khởi nghĩa nữa. Trung ương đảng ở dưới xuôi không thấy ý kiến gì. CÓ thể hình dung bộ máy Việt Minh như là một loại chính quyền đa thành phần, Ông cụ là Tổng thống, hành pháp kiêm lập pháp
3. Sinh hoạt thời tiền khởi nghĩa ở Cao Bằng thật sự là cuộc sống của “nghĩa quân” quy tụ quanh một chủ tướng. Thật sự là giai đoạn tướng sĩ hòa nước sông chén rượu ngọt. Quan hệ với ông cụ và mọi người là cha con, huynh đệ. Sau này kháng chiến chống Pháp, có chính phủ thật sự cũng đa đảng phái, đại đoàn kết, nhưng khi đó đường đường Ông cụ là nguyên thủ quốc gia, sinh hoạt mọi mặt thuận lợi nhưng lại có khuôn phép nhất định. Thời trước năm 1945, ở Cao Bằng sinh hoạt khem khổ, Ông cụ chỉ là một loại thủ lĩnh du kích, mọi sinh hoạt theo nguyên tắc bí mật, ngoài vòng pháp luật nên đều sơ sài, ở nhà dân di chuyển luôn, ở rừng, ở hang, không cố định. Có những lần Cụ đi từ huyện nọ đến huyện kia, đường rừng mà đi một mình. Chính đời sống như vậy, mà Ông cụ lúc nào cũng nhấn mạnh công tác chính trị. Chính trị là được lòng dân.
Khi xây dựng các đội du kích, phần nhiều người trẻ, lúc nào cũng máu mê muốn đánh lại Pháp và lính dõng, còn Ông cụ thì ra sức ngăn cản, bắt phải giấu súng, tránh đụng độ. Khi đi TQ,rồi bị bắt, Ông cụ giao nhiệm vụ cho Tỉnh ủy cụ thể hóa bằng nghị quyết, mở rộng căn cứ bằng cách lập những đường dây chính trị, để cho cán bộ Việt Minh có thể đi lại thông suốt. Về phía Nam (Nam tiến) thì giao cho ông Giáp, về phía đông (đông tiến) giao cho Hoàng Văn Hoan, về phía Tây (tây tiến) thì giao cho ông Chu Văn Tấn. Sau khi ông cụ thoát tù về nước, kiểm điểm lại, chỉ có mũi Nam tiến của ông Giáp là hoàn thành nhiệm vụ mỹ mãn.
Còn 2 mũi kia thì thất bại, chả mở rộng được gì. Các ông kia nhận thức viêc mở rộng lãnh thổ là phải đánh chác, là thất bại. Kết quả là đến cuối năm 1944, dưới tay ông Giáp có một hệ thống nhiều đội du kích, có du kích bản và du kích tập trung ở các châu huyện, lại có con đường chính trị để Việt Minh tự do đi đến Bắc Cạn, đi đến tận Tuyên Quang. Khi đó đặt vấn đề xây dựng quân đội thống nhất, là phải rút ra các hạt nhân từ các đội du kích (trong đó có cả đội của ông Chu Văn Tấn) là hợp lý.
Có nhiều ý kiến sau này nghi ngờ quân đội nhân dân phải là tiền thân từ Cứu quốc quân của Chu Văn Tấn, có lẽ chỉ hậu thế nói vậy, chứ chính các ông trong cuộc tự hiểu là không ổn. Nếu nói Cứu Quốc quân đầu tiên phải là đội Bắc Sơn của ông Kiên. Sau khi ông Kiên thất bại, thì đội du kích của ông Chu Văn Tấn mới chuyển thành Cứu quốc quân 2. Và đội du kích ấy vẫn chỉ là một đội du kích trong hàng trăm đội, giữ vững địa bàn là may lắm. Quan điểm và thực tiễn hình thành quân đội, lấy các đội du kích của ông Giáp theo đường dây Nam tiến làm cơ sở là một việc phù hợp. Và thực tế đã chứng minh, nếu đội 1 thất bại, lại lấy đội 2 làm lại là không ổn. Cách của Trung Quốc, hình thành quân đội từ một đội du kích, rồi đảng nắm lấy chỉ đạo, trở thành quân đội của Đảng, là không phù hợp. Ngày nay, nhiều người không hiểu rõ câu “quân đội nhân dân” có ý nghĩa sâu sắc như thế nào. Nó hình thành từ đội quân du kích của Việt Minh, của nhân dân, không phải quân đội công nông ban đầu của Đảng.
4. Lời nói thêm: Tôi đã chọn đưa lên FB một số đoạn trong những khảo sát của tôi về một nhân vật khổng lồ của Việt Nam. Chắc các bạn đã biết, tôi muốn dựng chân dung Ông cụ, chứ không phải “Bác Hồ của chúng ta”. Ông cụ này đã từng bôn ba, đã làm những việc kinh thiên động địa, đã là một con người, có những láu cá của người Việt truyền thống, có uyên thâm và có sai lầm và không phải người khuyết tật. Tôi biết nhiều bạn đã sốc khi đọc những dòng viết của tôi. Nhưng tôi xin nói thẳng kinh nghiệm của mình: nghiên cứu Ông cụ, khiến tôi tất yếu nghiên cứu lại mình. Đó là một quá trình tự nhận thức, và nói thật, những gì người ta nói về sự sáng suốt của Ông cụ, thì mình chọn ra, có cái mình thấy Ông cụ sáng suốt hơn là người ta bình phẩm, nhưng có cái cũng bật ra sự dở dở, bi phẫn của một con người. Phân tích ra những cái dở của Ông cụ, quái lạ, lại thấy kính phục và thương mến Ông cụ hơn. Gột rửa một hình ảnh thánh, thì mới có thể học tập, soi vào tấm gương của người đó được. Tôi đã gặp không ít người cuồng Ông cụ. Có lần, một người biết tin tôi đi khảo sát Cao Bằng, tìm hiểu thời kỳ tiền khởi nghĩa, đã bảo tôi: Hiện nay đã có một nhà “Bác Hồ học” cày nát khu vực đó rồi, đó là lĩnh vực của ông ấy, đừng nhảy vào. Ôi. Chỉ biết kêu một tiếng ôi.
Ở Trung Quốc, một nhân vật lịch sử như Tào Tháo, người ta làm đến gần 80 phim. Hàng trăm năm bàn luận không dứt. Ngay Tôn Trung Sơn, cũng có hàng chục người viết, rất nhiều phim. Nước ta không thể có những tác phẩm hay về nhân vật lịch sử, về lịch sử vì trước hết không giải phóng nhân vật, không nghiêm túc xem xét hoàn cảnh lịch sử. Nhân vật của riêng tác giả, yêu quý như tiên thánh, hoặc ghét như ma quỷ, thì còn viết gì nữa. Tôi tin rằng, thời gian càng lùi xa, người ta sẽ bàn luận về Ông cụ này nữa.
5. Ngày vui nào cũng có chia tay, ngày buồn nào cũng có kết thúc. Loạt bài này xin tạm dừng ở đây.

Nghiên cứu Ông cụ (bài thêm)


Sau khi loạt bài “Nghiên cứu Ông cụ” của tôi đăng trên FB này, rất nhiều bạn comm, inbox và điện thoại trao đổi. Tôi đã chuẩn bị tâm lý đón nhận mọi mức độ khen chê. Nhưng không khỏi bất ngờ về một số vấn đề các bạn đặt ra. Đúng là còn rất nhiều chi tiết thú vị mà tôi chưa bàn luận đến. Giai đoạn Tân Trào và những ngày đầu chính quyền DCCH ở Hà Nội tôi cũng chưa nói đến. Hy vọng sẽ có dịp khác tôi sẽ post. Ở stt này, tôi xin “tái bút” chỉ 3 vấn đề sau:
1- Nhiều bạn “kêu ca” tôi đánh giá ông Hoàng Văn Thụ quá cao?.
2- Về những người ân nhân của Ông cụ, sao không thấy nói đến cụ lang chữa cho Ông cụ khỏi ốm ở Tân Trào?
3- Quan hệ với Pháp trong thời kỳ Tân Trào?
Sau đây là ý kiến của tôi:
1. Ông Hoàng Văn Thụ sau khởi nghĩa Nam kỳ, là 1 trong 3 người Thường trực Trung ương (2 ông kia là Đặng Xuân Khu, Hoàng Quốc Việt). Ông Thụ là người tích cực tìm Ông cụ về nước. Trong hồi ký Ông Giáp kể lại, có một chi tiết tưởng như thoáng qua,ít ai để ý. Đó là khi căn dặn ông Giáp đi Tàu tìm Ông cụ, ông Thụ dặn: Khi gặp ông Nguyễn Ái Quốc, hỏi ông ấy cái “Hội các dân tộc bị áp bức châu Á” bây giờ ra sao rồi. Như phần S5, tôi đã nói, đây là một hội do Ông cụ cùng Lão Trung Kha, lãnh đạo cánh tả của Quốc dân đảng TQ và Roy, lãnh đạo đảng cộng sản Ấn Độ thành lập năm 1927, hoạt động theo đường lối cách mạng dân tộc. Như vậy là vào năm 1940, Hoàng Văn Thụ cũng nghĩ đến con đường cách mạng dân tộc, chứ không chú ý hỏi ông Nguyễn Ái Quốc về các vấn đề của chủ nghĩa cộng sản. Sau khi gặp Ông cụ ở Tĩnh Tây, chắc chắn Thụ và Ông cụ đồng điệu về tư tưởng, tâm đầu ý hợp.

Khu di tích lưu niệm Hoàng Văn Thụ
Về Hội nghị Trung ương 8, như đã nói, đó là hội nghị lịch sử, là bước ngoặt chuyển chiến lược, từ bỏ phương pháp cách mạng của chủ nghĩa cộng sản, tập trung giải phóng dân tộc. Cụ Hồ chân ướt chân ráo mới từ TQ về, chọn hướng về theo lời khuyên của ông Thụ, đứng chân trên địa bàn Cao Bằng, là vùng cơ sở của ông Thụ xây dựng từ những năm ba mươi. Đó khác nào dọn chỗ sẵn mời Ông cụ. Ngoài ra, chính Hoàng Văn Thụ là người trực tiếp dẫn đoàn các lãnh đạo cao nhất của Đảng từ miền xuôi lên Pac Bó. Ông Thụ dẫn Hoàng QUốc Việt, Đặng Xuân Khu, Trần Đăng Ninh đi từ Bắc Giang lên Lạng Sơn, từ đó đón thêm Chu Văn Tấn,đi ngược lên Long Châu, rồi về Tĩnh Tây, từ đó đi về Pac Bó theo đường Ông cụ về hồi đầu năm. Đó là con đường qua các cơ sở của chính ông Thụ đã xây dựng trong nhiều năm. Có thể nói, Hội nghị trung ương 8 là hội nghị mà ông THụ là người tổ chức toàn diện, còn Ông cụ chuẩn bị “văn kiện”, thổi nội dung vào.
Trong các tài liệu công khai về tiểu sử Hoàng Văn Thụ, không thấy nói đến đoạn đời rất quan trọng của Ông Thụ hoạt động ở Long Châu. Thời kỳ này Thụ vào làm trung úy quân khí cho một sư đoàn TQ quốc dân đảng đóng ở Nam Ninh. Chính Thụ với vai sĩ quan TQ đã đảm bảo cho đường dây đi và đến Long Châu an toàn suốt thời kỳ loạn lạc. Theo tài liệu của ông Trường Thanh, khoảng từ 1936-1937, khi một sư đoàn của Tập đoàn quân 18 của Trung hoa Quốc dân hoạt động ở Quảng Tây, thời kỳ này QUốc cộng hợp tác, có 1 sư đoàn quân của Đảng cộng sản TQ, họ đã thu nhận Hoàng Văn Thụ làm sĩ quan thông tin, đặc trách tờ báo sư đoàn. Như vậy, Thụ là người làm sĩ quan cho cả 2 phía của TQ. Sau Hội nghị TƯ 8, ông được phân công công tác địch vận. Có thể suy đoán Ông cụ muốn ông Thụ nắm công tác an ninh và ngoại giao của Đảng. Nếu ông Thụ còn,có lẽ vai trò Thủ tướng không cần đến ông Đồng.
Ông Thụ không chỉ am hiểu miền núi, ông có thời gian hoạt động ở HẢi Phòng, Hà Nội. Chính tại đây, ông Thụ đã đính hôn với bà Vân, người Hải Phòng, sau này lấy tên Hoàng Ngân, trong kháng chiến chống Pháp là người đứng đầu Hội liên hiệp phụ nữ đầu tiên.
Có một câu chuyện, những người già còn kể, đã đọc thấy ở đâu đó, những năm sáu mươi. Đó là dường như có 1 kế hoạch cướp tù, để giải cứu ông Thụ. Nhưng ông Thụ đã báo tin ra, đừng làm thế, sẽ hy sinh vô ích mà khó đạt mục đích, ông nguyện đón nhận cái chết, cho nên mới làm bài thơ gửi ra (ai chưa biết bài “Việc nước xưa nay có bại thành…” thì google đi). Cũng có lời đồn, kế hoạch không thực hiện được là vì ông A, ông B không tích cực quyết đoán… Việc đó cần các nhà làm sử khảo cứu.
Ngày nay, cái tên Hoàng Văn Thụ được đặt tên đường, bên cạnh những vị tiền bố khác: Trần Phú, Hà Huy Tập, Ngô Gia Tự, Phan Đăng Lưu, Lê Hồng Phong… vân vân. Nhưng thực ra, ông Thụ là một trường hợp đặc biệt, một nhân vật lớn (có thể nói lớn hơn các ông khác)
2. Về những sự kiện ở Tân Trào, sẽ có dịp bàn kỹ. Gần 4 tháng Ông cụ ở đó, sự kiện như 4 năm. Có chuyện Ông cụ ốm. Đọc Hồi ký ông Giáp, sẽ biết rất rõ nhiều chi tiết. Ông cụ gần như trối trăng, đại khái đốt cháy dãy Trường sơn gì đó. Theo ông Giáp, có ông cụ lang đến chữa cho Ông cụ khỏi. Hồi ký của các ông Mỹ thì nói quả quyết rằng, họ thấy Ông cụ ốm, phải gọi ngay y sĩ của đội người Mỹ đến, chuẩn bệnh Cụ viêm đại tràng, kiết lị, suy nhược cơ thể, bèn tiêm kháng sinh và thuốc bổ cho Ông cụ, bệnh liền lui. Gần đây, trên báo chính thống, có một số bài nói về sự kiện Ông cụ bị ốm, có bà lang đến chữa cho Ông cụ, có tên tuổi địa chỉ đàng hoàng. Lại có bài báo kể có người mang cho Ông cụ mấy đồng cân sâm… Có thể suy đoán, thời kỳ Ông cụ ốm, chữa theo truyền thống có các ông bà lang chữa cho Ông cụ, và không chỉ 1 người chữa. Nhưng chuẩn bệnh của các anh Mỹ có vẻ đúng. Ông cụ ăn uống khem khổ một thời gian dài, ăn kiểu nhà nghèo, làm việc trí óc nặng nhọc, sinh hoạt ngủ nghỉ vô tổ chức,nên viêm đại tràng cấp rồi suy nhược là phải. Nghe ông cụ ngăn ông Tiến Sự thịt gà: cần gì thịt gà, cứ nước chè tương chan vào là canh rồi, ăn uống thế viêm đại tràng, kiết lị, táo bón là phải. Chuyện những người Mỹ cứu cụ có thể là thật, sau này Ông Giáp viết hồi ký thời chống Mỹ không dám nói ra mà thôi. Tôi làm kịch bản cho một bộ phim dựng lại chuyện này, để cả các bạn Mỹ tiêm và cả bà lang chữa cho Ông cụ.
3. Về quan hệ với Pháp. Vấn đề này hơi lằng nhằng. Cần phải biết rằng, thời kỳ đầu chiến tranh thì không sao, nhưng cho đến Pari thất thủ, nước Pháp có chính phủ lưu vong của Đờ Gôn (cứ mạo muội viết phiên âm cho nhanh) ở Anh. Chính phủ này thamgia khổi Đồng minh chống phát xít, có đại diện ở Côn Minh. Như vậy, trong bộ máy cai trị của Pháp ở Đông Dương cũng có một số “hai mang”, hoạt động ngầm cho chính phủ Đờ Gôn. Tuy nhiên, người Pháp dù Đờ Gôn hay không Đờ, thì họ nhất trí với nhau thái độ đối với Việt Minh, nói nôm na là chả coi đám ở rừng ra gì. Bởi vì họ kiên trì một chính sách bảo vệ vị thế nước Mẹ của Pháp ở Đông Dương. Theo sách của các ông Mỹ, thì không chỉ người Việt bắt mối, mà chính người Mỹ, người Anh muốn thuyết phục đám Pháp ở Côn Minh bắt tay với Việt Minh chống Nhật, chúng cũng không đồng ý. Theo lý mà nói, người Pháp ở Côn Minh, ở trên đất TQ, nhưng cũng hằm hè với chính người TQ (quốc dân đảng), vì người TQ chuẩn bị hậu chiến “Hoa quân nhập Việt”, người Pháp thấy thế là ngứa tai ngứa mắt. Việt là của Pháp, chứ của Hoa đâu mà nhập. Kết quả là không chỉ Việt Minh cộng sản không bắt tay được với Pháp Đờ Gôn, mà Việt lưu vong đủ loại quốc gia, quốc dân cũng ghét Pháp.
Trong bối cảnh đó, nhóm Con Nai ban đầu cho nhảy dù xuống Tân Trào, ngoài mấy ông Mỹ xịn, thì có một anh người Pháp Montfort và 2 phụ tá người Việt. Văn phòng OSS ở Côn Minh của người Mỹ chỉ biết cử người của họ. Khi xuất hiện ở Tân Trào, thì xảy ra việc trục trặc quan hệ giữa Việt Minh và Montfort. Mâu thuẫn không dàn xếp được, cuối cùng Montfort phải rời khỏi Tân Trào.
Sau này xem xét các sự kiện, thú thực, đoạn này không khỏi chê trách Ông cụ. Nhóm OSS xét cho cùng là các sĩ quan tình báo chuyên nghiệp, trong trường hợp này, họ là quân báo chiến thuật. Người Pháp trong OSS làm việc cho Mỹ, nhưng như nhiều sĩ quan trong ngành này, họ cũng làm việc cho Pháp, nhưng không giữ được Montfort nên mối giao thiệp với Pháp càng ngày càng khó. Lịch sử đã chứng minh điều đó.
Ngày 17/7/1945, Ông cụ thông qua Tomas, chỉ huy nhóm Con Nai, gửi cho phía Pháp ở Côn Minh một thông điệp 5 điểm:
1. Một quốc hội sẽ được lựa chọn bằng phổ thông đầu phiếu. Đó sẽ là cơ quan lập pháp của đất nước.
2. Một thống đốc người Pháp sẽ thực hiện trách nhiệm của tổng thống cho tới khi nền độc lập của chúng tôi được bảo đảm. Vị tổng thống này này sẽ lựa chọn nội các hoặc một nhóm cố vấn được quốc hội chấp thuận. Quyền lực rõ ràng của tất cả những cơ quan này có thể được định rõ trong tương lai.
3. Độc lập sẽ được trao cho đất nước trong thời gian tối thiểu là 5 năm và tối đa là 10 năm. Những nguồn tài nguyên thiên nhiên của đất nước sẽ được trả lại cho nhân dân sau khi bồi thường sòng phẳng cho những người hiện đang sở hữu chúng. Nưóc Pháp sẽ có lợí từ đặc quyền kinh tế.
4. Tất cả những quyền do Liên Hợp Quốc đã công bố sẽ được bảo đảm tại Đông Dương.
5. Cấm buôn bán thuốc phiện.
Đây thực chất là thông điệp cầu hòa của Việt Minh. Việt Minh đòi độc lập có thời gian chuyển tiếp 5-10 năm. Bây giờ đọc lại, thấy tiếc cho lịch sử. Đến 17/7 mà Ông cụ còn nghĩ đến cầu hòa. Nhưng người Pháp kiêu ngạo đã không đáp lại, hoặc là họ còn chần chừ theo thói quan liêu vốn có. Nào ngờ những sự kiện xảy ra quá nhanh. Theo hồi ký của các ông Mỹ, người Pháp đã chuẩn bị trả lời hoà giải, dù là lấp lửng, nhưng lại không chuyển nó qua các kênh của OSS rõ ràng là để Sainteny đích thân trao cho Hồ Chí Minh. Nhưng thời gian dành cho hoà giải thời chiến đang nhanh chóng kết thúc. Ngày 6 tháng 8, (…) đã bị đổ vỡ bởi trái bom nguyên tử tàn phá Hiroshima.
Rõ ràng, để lịch sử Việt Nam có Điện Biên, người Pháp cũng có trách nhiệm không nhỏ. Nhiều khi sự kiện lớn chỉ phụ thuộc một cá nhân, ví dụ, nếu Fenn không có cảm tính với Ông cụ, thúc đẩy quá trính gặp Chennault, thì không có đội Con Nai đến Tân Trào. Giả sử Ông cụ không phạm sai lầm (hoặc lịch sử sai) đuổi Montfort đi khỏi Tân Trào, có thể những liên lạc với phía Pháp không chậm trễ như đã xảy ra. Và như vậy, có thể lịch sử nước VNDCCH rất khác. Ngày nay, khi nghiên cứu các sự kiện Cách mạng tháng Tám, rất dễ bỏ qua một vài sự kiện nhỏ như sự kiện trên đâyNguyễn Xuân Hưng

Truyện ngắn cuối tuần - Thằng Thống Nhất

Thật không ngờ tôi lại gặp nó ở đây, trong căn phòng bảo vệ của nhà ga, lúc nãy tôi còn nhìn thấy nó đang làm trò giữa đám đông ngoài sân ga.
Người ta gọi nó là thằng hề, bởi nó làm trò trên suốt chuyến tàu thống nhất Bắc Nam để kiếm tiền nuôi bà. Người ta dẫn nó vào đây cùng với đôi vợ chồng hành khách. Cứ nhìn những thứ mà vợ chồng nhà kia đủ biết họ là những người giàu có và sang trọng. Hẳn nó lợi dụng sự sơ hở của đôi vợ chồng kia để móc túi?
Tôi nghĩ vậy nên quan sát kỹ nó.
Thằng Hề cao độ chín mươi phân, vai bè, cổ ngắn ngủn, cái đầu thì bé tẹo. Gương mặt của nó thật khó mà tả nổi, trán dô, hai con mắt bé tí nằm sâu dưới đôi lông mày rậm, hai cánh mũi thụt sâu dưới cái miệng hô như muốn chọc tức thiên hạ. Còn cái tai thì xoăn xui như chiếc mọc nhĩ phơi nắng…
Trông gương mặt và thân hình nó vừa kỳ dị vừa hài hước cứ y như nó được sinh ra trong sự giận dữ của Thượng đế.
Nó mặc chiếc quần soóc thắt một chiếc dây lưng to bản, còn chân thì xỏ vào đôi ủng cao tận gối màu đỏ chót. Nhìn đôi ủng, rõ ràng nó muốn bắt chước đôi giày của vua hề Sác lô. Nó đặt chiếc mũ xuống bàn khoanh tay nhìn người bảo vệ chờ câu hỏi.
-Này thằng kia, mày tên gì?
-Tôi tên là Nhất. Nó đáp giọng khàn khàn.
-Họ?
-Nguyễn Thống Nhất.
-Tên hay quá. Ai đã đặt cho mày tên đó? Người bảo vệ hỏi giọng chế giễu.
-À, là tên bà nội đặt cho. Bởi bà mong đất nước sớm thống nhất để cha tôi đi lính sớm được trở về…
-Mày bao nhiêu tuổi?
-Hai mươi lăm.
Người đàn bà hơi rùng mình, bà ta quay sang nói với chồng:
-Thảo nào, nom mặt nó già câng…
-Bố mày bây giờ ở đâu, làm nghề gì?
-Bố tôi hy sinh trong trận cuối cùng vào Sài Gòn, tháng tư năm bảy lăm…
-Mẹ mày tên gì, làm ở đâu?
-Mẹ tôi? Sau khi sinh tôi, có lẽ nhìn thấy gương mặt của tôi như thế này nên bà sợ hãi bỏ tôi cho bà nội rồi đi biệt tăm. Người ta bảo tôi bị di chứng chất độc da cam. Bố tôi cũng không biết mình bị nhiễm chất độc trong khi đánh nhau ở Trường Sơn. Ông không biết tôi sinh ra như thế này. Bà tôi thư cho ông vẫn kể rằng tôi đẹp như thiên thần…
-Thôi, đủ rồi- Người bảo vệ gắt- Ai thèm nghe chuyện nhà mày. Mày có biết vì sao bị dẫn vào đây?
-Vì tôi đã nhổ vào mặt vợ chồng nhà kia…
-Tại sao?
-Tôi làm trò mua vui cho họ, trong lúc họ chờ tàu. Vậy mà bà ta sỉ nhục tôi bằng cách đưa tôi những đồng tiền âm phủ mà bà ta đi lễ đền cầu mong giầu sang…
-Mày có biết vợ chồng quý ông bà này là ai không?
-Không! Nhưng với tôi, họ đáng bị khinh bỉ…
- Im đi thằng hề. Đây là vợ chồng lãnh đạo cao cấp của tỉnh… Mày hiểu chứ?
-Tôi không cần biết họ là ai. Họ là lãnh đạo thì càng không có quyền nhạo báng, coi thường người tàn tật như tôi.
Nói rồi nó rút ra từ trong ủng chiếc chân thứ ba. Trong khi chiếc chân bên trái của nó vừa ngắn ngủn vừa đầy lông lá khiến vợ chồng nhà kia rú lên kinh hãi, bỏ chạy ra ngoài.
Người bảo vệ rùng mình đứng lên:
-Mày bị tạm giam mười hai tiếng đồng hồ vì tội gây rối trật tự công cộng…
Nói rồi ông ta đứng dậy, đóng sập cửa phòng.
Thằng Thống Nhất nghe tiếng khóa cửa lách cách. Nó loạng quạng xỏ lại đôi ủng rồi bám lên cửa sổ, hét toáng lên:
-Thả tôi ra, để tôi về chăm sóc bà. Bà tôi đang ốm ở nhà…
Con tàu thống nhất rúc một hồi còi dài, từ từ rời ga, lao mình vào màn sương mù dày đặc.
Không ai nghe được tiếng la hét của thằng Thống Nhất.
Nửa đêm về sáng ngày 14/9/1993
Sửa lại ngày 4/3/2017
Thái Sinh/Văn Việt

No comments:

Post a Comment