Tuesday, May 30, 2017

Bài viết hay(4989)

Chuyện anh F. qua Mỹ gặp Trump không hề tạo ra sự chú ý đáng kể nào như báo đài trong nước cố tình thổi phồng; nhất là tin anh F gặp VK và doanh nhân gốc Việt ở Mỹ thì chỉ có vài ba người "phe ta" chứ có phải là "đại diện" nào chính thức từ phe chống Cộng ở Mỹ đâu. Hình như báo lề phải làm theo chỉ đạo từ cấp trên nên đa số đều chạy tin "xe cán chó" nhiều hơn là tin cần biết cho dù 700 báo đài trong nước đều copy & paste lẫn nhau y như Blog của tui vậy thôi. Họ sống nhờ quảng cáo chứ Blog của tui thì không hề có ai bảo trợ và cũng chẳng chấp nhận quảng cáo nào hết mà tui chỉ làm vì ham vui. Già rồi, đọc báo là niềm vui lúc nhàn rỗi; chưa kể là học nữa, học mãi, học đến khi nào không còn học được nữa kia mà. Tự dưng tui thấy anh F thật cô độc trên đất Mỹ cho dù tuỳ tùng đi theo rất đông. Giá như anh F. dám đột phá đi ra phố Bolsa ăn phở cùng ông Phan Kỳ Nhơn, Trí Tạ, Phát Bùi để đối thoại thử coi sao? Biết đâu anh sẽ làm nên lịch sử.

Thiết chế bảo vệ Hiến pháp

Điều 119 Hiến pháp 2013 hiện hành quy định, giá trị pháp lý của Hiến pháp là cao nhất, mọi văn bản luật trái với Hiến pháp đều phải bị bãi bỏ. Và cũng tại điều luật này quy định từ Quốc hội, Chính phủ, Toà án, Viện kiểm sát đến toàn thể nhân dân đều có nghĩa vụ bảo vệ Hiến pháp. Một điều luật vô cùng tối nghĩa về học thuật liên quan đến vấn đề thẩm quyền bảo hiến.
Trong quy định hiện hành, quy trình và cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, xem xét tính hợp hiến của một văn bản luật lại thuộc một Cục gọi là Cục Kiểm tra văn bản của Bộ Tư pháp, và sau đó cục này trình lên Uỷ ban Thường vụ quốc hội xem xét để kiến nghị Quốc hội bãi bỏ nếu cho rằng bộ luật/luật đó vi phạm hiến pháp. Hơn thế, UBTVQH lại có thẩm quyền giải thích luật.

Ở những nước như Mỹ, Nhật hay Thái Lan đều có Toà án bảo hiến (hay nhiều nơi gọi là Toà Hiến pháp) để thực thi chức trách bảo vệ giá trị toàn vẹn và sự hiệu lực tối cao của nó. Bằng cách toà án này sẽ thụ lý và xem xét để ra một phán quyết tuyên bố chấp nhận hoặc bác bỏ một đạo luật/quy định căn cứ theo các quy định trong Hiến pháp. Và chức năng giải thích luật pháp thuộc về toà án (tư pháp) chứ không phải UBTVQH (lập pháp), vì chỉ có cơ quan xét xử mới hiểu sâu sắc và vận dụng nó đúng đắn đối với thực tiễn pháp lý. Chúng ta đang làm ngược lại. Và chúng ta cũng không hề có mặt Toà án hiến pháp trong nền Tư pháp. Tuy nhiên, dù có một toà án bảo hiến mà nếu nó vẫn nằm dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản thì bản thân nó cũng không thể phát huy vai trò và giá trị của mình vì đã bị kiểm soát bởi một thực thể khác.
Với phát ngôn về luật pháp ngày hôm qua tại nghị trường từ Bà Chủ tịch Quốc hội, tôi thực sự lo lắng về một nền luật pháp văn minh và khoa học của nước nhà. Cùng với đó là một số vị đại biểu có học vị Tiến sỹ luật nhưng nhận thức pháp luật còn thua cả một cử nhân, mà lại được cho rằng đó là vị tiến sỹ "cứng nhất" trong Uỷ ban Tư pháp của Quốc hội (đa phần là Tiến sỹ), đứng lên phát biểu và bảo vệ đề xuất vi hiến như thế. Thế thì thực sự là đáng lo ngại về trình độ lập pháp của quốc gia.
Và đến lúc cần có một Toà án Bảo hiến độc lập với mọi thiết chế chính trị và đảng phái để đảm bảo rằng việc lập pháp của đất nước sẽ trở nên văn minh và chuẩn mực hơn.LS Lê Văn Luân

Hình ảnh bà Ngân 

clip_image001 
Trong "bộ tứ", bà Chủ tịch Quốc hội là người nỗ lực thường xuyên trau chuốt hình ảnh của mình nhất. Tôi nghĩ, nếu giờ đây bà để QH có thêm thời gian lắng nghe ý kiến của những người biết phân biệt pháp trị với pháp quyền; hiểu, tìm kiếm công lý mới có khả năng chống tội phạm tận gốc chứ không phải bắt người; kiến tạo niềm tin vào một định chế (luật sư) quan trọng hơn biến họ thành những tên chỉ điểm. Làm được thế, thì chẳng cần phấn son, rồng phượng, cứ áo bà ba mà mặc hình ảnh của bà cũng sẽ rất sáng trong mắt của nhiều người.

Hôm qua bà Nguyễn Thị Kim Ngân có hỏi lại đại biểu, Luật sư Đỗ Ngọc Thịnh rằng, tại sao cả một Bộ luật Hình sự với 500 điều mà các anh cứ chỉ tập trung vào khoản 3 điều 19 là thế nào?
Thưa bà, dù đó chỉ là một điều luật, nhưng nó nói lên toàn bộ bộ mặt của một Bộ luật lớn và quan trọng hàng đầu của một quốc gia.
Chỉ cần một điều đó đã đủ để thấy những điều luật khác trong Bộ luật ấy sẽ trở thành vô nghĩa.
Giống như chỉ cần một điều 4 của Hiến pháp đã đủ để khống chế mọi điều luật khác trong Hiến pháp và những đạo luật tiếp theo.
Nếu thông qua điều khoản đi ngược lại văn minh của nhân loại và phá bỏ nền học thuật về pháp lý thì luật sư chỉ có cách hoặc là xuống đường tuần hành để cho thế giới thấy, hoặc sẽ rủ nhau tù tội nếu tiếp tục cam chịu hành nghề.

Thế nào là trật tự tự do toàn cầu (global liberal order)?

Brexit, Donald Trump cùng các phong trào đại chúng (populism) tại Âu Châu được xem như phản ứng của quần chúng Tây Phương chống lại quan điểm trật tự tự do toàn cầu. Nhưng cụm từ “trật tự tự do toàn cầu” dịch từ “global liberal order” có thể là một khái niệm mơ hồ vì chỉ mới phổ biến từ sau Chiến tranh Lạnh, nên người viết xin được giải thích đơn giản cho bạn đọc dễ theo dõi tin tức hàng ngày.
Tự do (liberal) và giải phóng (liberation) mang cùng ý nghĩa cởi trói con người để mỗi cá nhân được quyền tự do phát huy trí tuệ, sức sáng tạo và mưu tìm hạnh phúc mà không bị giam hãm trong những ràng buộc. Trong từng quốc gia là chống độc tài, phong kiến, bất công, toàn trị; ngoài xã hội nhắm phá vỡ các nề nếp và quan điểm hủ lậu cùng sự áp bức của tôn giáo; trên toàn cầu phát huy dân chủ và hợp tác quốc tế vì bài học từ Thế chiến II cho thấy đây là những biện pháp hữu hiệu nhất ngăn ngừa chủ nghĩa dân tộc cực đoan; về mậu dịch phá vỡ các rào cản thương mại để mọi quốc gia và nhân loại cùng nhau phát triển.

Trong bốn tiêu chuẩn nói trên thì chống độc tài bất công được chấp nhận rộng rãi nhất – đến mức ngay cả những chế độ nghiệt ngã cũng phải tuyên truyền rằng họ là giai cấp đại diện cho dân, vì dân.
Tiêu chuẩn kế tiếp nhằm phá vỡ các ràng buộc và tập quán bị xem là lỗi thời, nhưng lại va chạm đến nền tảng tôn giáo và đạo đức trong xã hội. Rất ít người ngày hôm nay còn bênh vực cho kỳ thị nam nữ hay màu da. Nhưng đòi hỏi nhà nước phải bảo vệ quyền phá thai, hôn nhân đồng tính... là đi ngược với truyền thống của nhiều dân tộc. Lối sống và quan điểm tự do phóng khoáng được chấp nhận rộng rãi trong thành phần thượng lưu trí thức (elite) vốn nắm vai trò áp đảo trong truyền thông và giáo dục, nên dần dà quần chúng phản ứng chống lại thông tin dòng chính (mainstream media) như một công cụ áp đặt kiểm duyệt tư tưởng (political correctness) lên xã hội nhằm bóp nghẹt mọi quan điểm đối nghịch biết phân biệt giữa cái tốt và xấu. Cho nên mức độ rạn nứt trong hai cánh tự do (liberals) và bảo thủ (conservatives) ở Tây Phương vô cùng sâu sắc và khó tìm ra đồng thuận.
Ra đến quốc tế dân Mỹ tin vào nền dân chủ nhưng tra vấn chính quyền Hoa Kỳ dùng quyền hạn gì áp đặt quan điểm dân chủ và tự do ra nước khác – nhất là khi chính sách lật đổ các nhà độc tài ở Iraq, Ai-Cập, Lybia và Syria mang lại tấn thảm kịch nhân loại và tình trạng bất ổn triền miên ở Trung Đông? Tại sao Mỹ phải vất vả làm sen đầm quốc tế để được tiếng (siêu cường quốc tế) mà không có miếng (mức sống của 1/3 dân chúng thụt lùi) trong khi các đồng minh Âu-Nhật-Úc-Hàn và những khu vực đang phát triển như Đông Nam Á đều trông chờ vào cánh dù che chở an ninh của Mỹ để hưởng lợi phần mình? Ở Âu Châu nhiều nước như Anh, Hy Lạp, Hung, Ba Lan tự hỏi tại sao phải đánh đổi chủ quyền quốc gia về tiền tệ, biên giới và người nhập cư để thi hành các quyết định của giới thư lại (bureaucracy) Brussel và chính sách kinh tế của Berlin? Các nước đang mở mang như Phi Luật Tân, Thái Lan, Ai Cập, Thổ Nhĩ Kỳ chống lại thái độ trưởng thượng (paternalistic) của Tây Phương dạy dỗ giáo điều dân chủ và bình đẳng mà không cần quan tâm đến tình trạng an ninh bấp bênh trong từng quốc gia. Cho nên nhiều người phản đối và gọi đây là mô hình quốc tế tự do toàn trị (global liberal hegemony).
Cuối cùng trên lãnh vực mậu dịch, thành phần công nhân Âu-Mỹ chống đối trào lưu toàn cầu hóa khi công ăn việc làm theo đó chạy sang Đông Á. Tự do mậu dịch chỉ mang lợi cho giới tư bản quốc tế, giai cấp quyền thế và dân cư thành thị mà thiệt thòi cho nông thôn và giai cấp thợ thuyền. Trong vòng 30 năm nay nước hưởng lợi nhiều nhất là Trung Quốc, khu vực phát triển nhanh nhất là Đông Á chớ không phải Tây Phương.
Hoa Kỳ và Âu Châu đã hợp tác xây dựng trật tự tự do toàn cầu 70 năm nay từ sau Thế chiến II nhờ vào đồng thuận trong nước, nền tảng này giúp mang lại an ninh và cải thiện mức sống cho mọi tầng lớp trong xã hội Tây Phương. Nhưng thống kê cho thấy ngày nay có khoảng 30% dân chúng bị thiệt thòi và 30% hưởng lợi từ toàn cầu hóa, khoảng cách này và tình trạng chênh lệch giàu nghèo ngày thêm sâu rộng. Số cử tri ngang ngửa khiến Quốc hội hay Nghị viện Tây Phương trở nên tê liệt trong các tranh cãi trách móc thay vì tìm ra những giải pháp chung.
Cho nên dù Brexit, Donald Trump hay Marine Le Pen có thành công hay thất bại thì vết rạn nứt ở Âu-Mỹ không còn có thể bị khuất lấp cho đến khi tìm ra một sự đồng thuận mới trong xã hội.Đoàn Hưng Quốc

Hạ thấp điểm kinh tế Trung Cộng

Đầu tuần này, Công ty thẩm lượng tín dụng Moody đã hạ thấp mức tín nhiệm của chính quyền Trung Quốc từ A3 xuống A1. Lần trước, khả năng trả nợ của Bắc Kinh bị nghi ngờ và mất điểm xảy ra đã gần ba chục năm nay. Bộ Tài chánh Trung Cộng lập tức phản đối, vì khi điểm tín dụng của một xí nghiệp hay một quốc gia xuống thấp, họ sẽ phải trả lãi suất cao hơn khi vay tiền. Các công ty lượng giá điểm tín dụng cao thấp tùy theo khả năng trả nợ của người đi vay tốt hay không.
Năm 2011 Chính phủ Mỹ cũng bị xuống điểm, từ AAA xuống AA+, khi kinh tế Mỹ bước vào năm thứ ba sau cuộc khủng hoảng. Thứ Hai vừa qua, Moody nêu lý do hạ thấp điểm của Trung Cộng là vì số tiền vay nợ trong cả nền kinh tế lên quá cao trong khi sức phát triển kinh tế lại giảm bớt. Không khác gì một xí nghiệp nợ nần chồng chất mà mức lời có triển vọng đi xuống.
Trung Cộng rất quan tâm đến “điểm tín dụng” (credit-rating), vì muốn các nhà đầu tư quốc tế tham gia mua trái phiếu họ sẽ phát hành, với số lượng lên tới $8,000 tỷ. Vì thế, Tháng Tư năm ngoái, Trung Cộng đã nới rộng thủ tục cho các công ty lượng giá tín dụng như Moody, được hoạt động trong lục địa kể từ Tháng Bảy năm nay.

Giới đầu tư quốc tế sẽ khó đem tiền cho vay nếu chỉ căn cứ vào điểm tín dụng do các công ty tài chánh địa phương thẩm lượng – vì họ thường cho điểm cao hơn. Ngay trong khi Moody hạ thấp điểm tín dụng của Trung Quốc, một công ty địa phương có uy tín vẫn giữ nguyên điểm tín dụng cũ, AAA. Công ty Chengxin Credit Management (Thành Tín Tín dụng Bình cấp) thành lập từ năm 1992 có 30% cổ phần thuộc Moody nhưng làm ăn độc lập.
Mối lo của các nhà phân tích Moody không phải chỉ vì số nợ trong nền kinh tế Trung Quốc lên quá cao; nhưng nguy hiểm hơn nữa là những món nợ khổng lồ được che giấu, không ghi trong sổ sách. Không những các doanh nghiệp nhà nước chất chứa các món nợ “vô hình” đó; chính quyền các địa phương càng mang nợ chồng chất.
Khi lên ngôi, Tập Cận Bình nhìn nhận mối nguy vỡ nợ nên đã ra lệnh ngăn chặn hoạt động “vay ngầm”. Đến Tháng Ba, 2015, nhiều địa phương tiến đến cảnh vỡ nợ, trung ương phải nương tay; đồng thời cho phép các địa phương phát hành trái phiếu. Đó là hình thức vay nợ phổ thông ở các nước tư bản, vay trực tiếp những món tiền lớn từ công chúng, không qua các ngân hàng. Chỉ trong hai năm, số nợ nần của nhà nước đã tăng vọt lên gần gấp đôi, từ 15% Tổng sản lượng Nội địa (GDP) lên 28%. Số nợ của các tỉnh, năm 2014 còn nhỏ, không đáng kể, đến giữa năm 2016 đã lên tới 1,000 tỷ đồng nguyên, $140 tỷ, nhưng khả năng trả nợ thì lại giảm.
Chính quyền các tỉnh, huyện, cho tới xã trước đây vẫn bán đất công hoặc đất trưng dụng của dân cho vào công quỹ để dùng trong việc trả nợ. Tới nay, số đất công cạn dần, chiếm đất tư khó hơn, và giá đất lại giảm, đến kỳ trả nợ sẽ lúng túng. Hơn nữa, chính sách của Bắc Kinh có thể thay đổi bất cứ lúc nào. Nếu chính quyền trung ương bắt các tỉnh giảm bớt tín dụng, họ sẽ không biết làm cách nào vay được nợ mới lấy tiền trả các món nợ cũ!
Tất cả khiến cho giới đầu tư thế giới lo ngại; và đó là lý do khiến Moody hạ thấp điểm tín dụng của cả nước. Dù sao, điểm A1 của Bắc Kinh cũng còn cao, ngang với điểm tín dụng của Nhật Bản hiện nay. Nhưng kinh tế Nhật đã trì trệ trong hai chục năm qua, trong thời gian kinh tế Trung Quốc vẫn được coi là lên nhanh nhất thế giới. Năm 2015, sản lượng tính theo đầu người của Nhật Bản là $34,524 một năm, còn người dân Trung Quốc chỉ có $8,069, theo Ngân hàng Thế giới. Khi điểm tín dụng của Bắc Kinh xuống, đó là dấu hiệu cho thấy kinh tế trong lục địa sắp trải qua nhiều khó khăn.
Từ nhiều năm qua, giới nghiên cứu đã thấy tình trạng kinh tế của Trung Quốc bây giờ rất giống như tình trạng Nhật Bản trong thập niên 1990.
Vào đầu thập niên 1990, hơn 40 năm sau khi bại trận, Nhật Bản đang phồn thịnh đến mức tưởng như sắp vượt qua kinh tế Mỹ, dù dân số thấp hơn. Kinh tế Nhật Bản đã phát triển theo một con đường mà sau này Trung Quốc cũng đi theo: Đặt nặng vào đầu tư, nhẹ về tiêu thụ. Trong một nền kinh tế tư bản như ở Mỹ, hai phần ba số [sản phẩm] phát triển hàng năm là do người dân tiêu thụ. Tại Nhật thời 1990 và tại nước Tàu bây giờ, kinh tế phát triển được một nửa là do đem tiền đổ vào đầu tư.
Một triệu chứng tại Trung Quốc bây giờ và tại Nhật Bản ngày xưa, là tình trạng giá nhà đất tăng vọt, trong khi lợi tức của người dân tăng chậm hơn. Thị trường địa ốc bị lũng đoạn bởi các người đầu cơ, có lúc giá nhà ở Tokyo tăng 70% một năm. Đến năm 1990, giá nhà đất ở Nhật bắt đầu xuống, kéo dài suốt 15 năm.
Lý do khiến quả bóng địa ốc Nhật tăng phồng là hệ thống tài chánh lỏng lẻo, việc vay nợ dễ dàng, giống như ở lục địa Trung Hoa ngày nay. Trước cuộc khủng hoảng năm 2007, tình trạng cho vay ở nước Mỹ cũng vậy. Khi các ngân hàng cho vay tiền để mua nhà phá sản, Chính phủ đã cứu. Nhưng tiền không cứu được lòng tin. Cho nên kinh tế Mỹ bắt đầu phục hồi từ năm 2009 nhưng phát triển rất chậm. Còn ở nước Nhật, cơn suy thoái thập niên 1990 vẫn còn di lụy tới bây giờ. Hệ thống ngân hàng ở Trung Quốc được thả lỏng và kém minh bạch hơn cả Nhật Bản và Mỹ, với những món nợ ngầm không chính thức. Từ đầu năm 2017, giá nhà cửa ở Bắc Kinh vẫn lên giá 16%. Lòng tin của dân Trung Hoa sẽ khó vực dậy nếu quả bong bóng vỡ.
Giữa Nhật Bản trước đây và Trung Quốc bây giờ còn giống nhau một điểm khác: Dân số bắt đầu có khuynh hướng sụt giảm. Trong 15 năm nữa, dân số nước Tàu sẽ lên cao nhất, sau đó bắt đầu giảm; tới thập niên 2030 thì sẽ giảm rất nhanh. Chính sách “một con” của Mao Trạch Đông là một nguyên nhân. Những cặp sinh con thứ hai bị phạt nặng, người dân thường bị cắt tem phiếu, còn nhà đạo diễn Trương Nghệ Mưu (phim Kinh Kha) bị phạt 7.5 triệu đồng nguyên (bằng $1.5 triệu lúc đó). Khi đổi mới theo kinh tế tư bản, nhiều gia đình phân ly vì một người đi tìm việc ở thành phố; năm 2015 số trẻ em mới sinh đã giảm 320,000 so với năm trước. Trung Quốc hiện có 221 triệu người trên 60 tuổi, tuổi về hưu, chiếm 16% dân số, thêm 2% so với năm năm trước đây. Lực lượng lao động đang giảm sút, tỉ lệ gia tăng 1.5% trong 10 năm đầu thế kỷ 21 sẽ tụt xuống thành số âm, bớt 0.1% mỗi năm trong thập niên 2010-2020.
Nhưng khi so sánh kinh tế Nhật hồi 1990 với Trung Quốc bây giờ, chúng ta thấy Nhật Bản hồi xưa có lợi thế hơn nhiều. Trước khi xuống dốc, hàng hóa Nhật đã tràn ngập thế giới với những chiếc xe Toyota, Honda hay hàng tiêu thụ mang nhãn hiệu Sony, Panasonic và Nikon. Hiện nay Trung Quốc chưa có một nhãn hiệu nào có uy tín như thế.
Khi lâm vào cảnh khủng hoảng thời 1990, đời sống của người dân [Nhật] đã khá giả không kém gì các nước Âu, Mỹ; trong khi người dân Trung Quốc trung bình hiện nay vẫn còn sống thiếu tiện nghi, lợi tức bình quân chưa bằng một phần tư dân Nhật; phải mất 20 năm nữa mới theo kịp Nam Hàn và 40 năm để bằng dân Nhật Bản.
Khi kinh tế Nhật giảm tốc, nước Nhật đã sống trong chế độ tự do dân chủ được 40 năm, người dân tin tưởng chính quyền, người cai trị và người bị trị tin lẫn nhau, cho nên đồng tâm chịu cảnh thiếu thốn bất ngờ xảy ra. Dân Trung Quốc hiện đang sôi nổi tranh đấu đòi quyền sống làm người, chống cường hào ác bá cướp đất cướp ruộng, mỗi năm hàng trăm ngàn cuộc biểu tình.
Xã hội Nhật ổn định hơn. Lương bổng người lao động Nhật không thua quá xa lương giới quản đốc, đến mức khiến người ta ghen tị. Còn Trung Quốc, dù người cầm quyền vẫn tự xưng là theo chủ nghĩa xã hội, hiện đang nhiều tỷ phú đô la nhất thế giới, trong khi 200 triệu công nhân từ quê lên tỉnh vẫn sống trong cảnh bấp bênh.
Công ty thẩm lượng tín dụng Moody đã đánh một tiếng chuông báo động cho kinh tế Trung Quốc, nhưng chính quyền Trung Cộng không muốn dân nghe được. Cho nên họ chỉ trích rằng công ty này “dùng phương pháp sai lầm” hoặc “không hiểu rõ luật lệ” của nước Tàu. Nhưng sự thật vẫn là sự thật. Hiện nay ông Tập Cận Bình đang cố giữ hình ảnh kinh tế khả quan, ít nhất tới cuối năm khi Đảng Cộng sản họp đại hội. Nhưng sau đó, nếu không liệu sớm cải tổ cơ cấu thì kinh tế sẽ còn xuống dốc nữa, đến khi lâm cơn khủng hoảng như Nhật Bản đã trải qua gần 20 năm trước đây. Lúc đó nước Nhật có nhiều điều kiện tốt để đứng vững, còn nước Tàu thì chúng ta không biết!Ngô Nhân Dụng

No comments:

Post a Comment