Wednesday, May 31, 2017

Bài viết hay(4996)

Anh Fuck đã gặp Trump sau bao nhiêu cố gắng hết mình; kể cả bỏ ra 8 tỷ usd theo kiểu chơi bạo lấy tiếng... Nỗ lực này của anh F có đem lại thành quả gì đáng kể hay không? Chờ coi Trump ghé VN vào tháng 11 khi tham dự APEC sẽ có thái độ ra sao và liệu có được dân VN welcome như họ đã dành cho Obama quá nhiều thiện cảm. Russiangate sẽ là chuyện dài đau đầu của Trump khi FBI sờ gáy hết ông này tới ông nọ; kể cả phò mã lẫn công chúa nên chưa biết Trump còn làm hoàng đế đến khi nào. Vấn đề đặt ra là anh F qua gặp Trump chỉ có vậy thôi sao? Tui muốn biết là trước và sau khi bắt tay Trump, anh F. có được hứa hẹn gì hay ho hơn không? Chẳng hạn như Mỹ sẽ bán vũ khí nào cho VC để ngăn TC bớt hống hách? Liệu con anh F có ở lại Mỹ và nhập tịch Mỹ hay không nhỉ? Hổng biết anh F có định hạ cánh an toàn ở California hay không? Biết đâu anh sẽ là hàng xóm của tui sau này thì sao?

Ép luật sư tố giác thân chủ: Hiếm có/ khó tìm trên thế giới

clip_image002
  Luật sư trong một vụ án hình sự. Ảnh: VietPress.

Nếu chúng ta nhìn vào các hệ thống luật pháp trên thế giới hiện nay thì quan điểm ép Luật sư phải tố cáo hành vi phạm tội của thân chủ tỏ ra rất lạc lõng và phi lý, nhưng cũng có một số ngoại lệ rất hiếm hoi.
Những người ủng hộ quan điểm này muốn luật hoá nó trong Bộ luật Hình sự 2015, lồng nó vào tội không tố giác tội phạm.
Tội không tố giác tội phạm (misprision) đã từng nằm trong các bộ luật hình sự của hệ thống thông luật  (common law) Anh - Mỹ, và là một tội tiểu hình (misdemeanor).
Hệ thống luật dân sự (civil law) của châu Âu cũng có điều luật tương tự. Và đúng như đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Thủy (Bắc Kạn) đã phát biểu, điều luật này vốn thường được áp dụng với các tội phản quốc (treason) vào thời Trung cổ và dưới các chế độ quân chủ. Nhưng đến thời điểm hiện tại, nó đã bị xóa bỏ hoặc được thay thế bằng các điều luật khác, ví dụ như tội đồng phạm (conspiracy) hoặc che giấu tội phạm một cách cố ý (active concealment).
Điều đó có nghĩa là, tại các nước pháp quyền (rule of law), không một ai, kể cả Luật sư, có nghĩa vụ phải tình nguyện tố giác tội phạm và phải chịu trách nhiệm hình sự khi không làm điều đó.
Trong khi đó tại Việt Nam, phạm vi áp dụng của Điều 19, BLHS 2015 – Tội không tố giác tội phạm – lại rất rộng. Và nó bao gồm tất cả chúng ta.
Khoản 1 của Điều 19 quy định bất kỳ ai nếu biết rõ tội phạm đang được chuẩn bị thực hiện mà không tố giác, thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội không tố giác tội phạm.
Khoản 2 của Điều 19 quy định, ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội chỉ phải tố giác các tội đặc biệt nghiêm trọng và các tội xâm phạm an ninh quốc gia.
Tương tự như khoản 2, khoản 3 Điều 19 quy định (là điều khoản đang gây tranh cãi tại Quốc hội), Luật sư phải tố giác các tội đặc biệt nghiêm trọng và các tội xâm phạm an ninh quốc gia của thân chủ mà họ biết được khi thực hiện nghĩa vụ bào chữa.
Việc một người không tố cáo tội phạm hoàn toàn khác với hành vi giúp đỡ, che giấu người phạm tội. Vì người biết về hành vi phạm tội của một người khác không đồng nghĩa với việc họ cũng tham gia và giúp đỡ tội ác được thực hiện hay cố ý che giấu.
Do đó, Điều 19 áp đặt một cách không thỏa đáng lên người dân một nghĩa vụ pháp lý thừa thãi và lỗi thời vì BLHS vốn đã có quy định về đồng phạm (Điều 17) và che giấu tội phạm (Điều 18).
clip_image004
  Luật sư nhân quyền Amal Clooney (trái), đại diện cho người sáng lập WikiLeaks, Julian Assange trong vụ kiện dẫn độ của ông này tại Anh năm 2011. Ảnh: Yui Mok PA Archive/PA Images.
Đặc quyền của mối quan hệ giữa Luật sư và thân chủ
Những ý kiến của các đại biểu phản đối quan điểm của bà Nguyễn Thị Thuỷ tập trung phần lớn vào vấn đề đạo đức nghề nghiệp của Luật sư, cũng như các định chế về nghề luật dựa theo Hiến pháp.
Theo đó, ngay khi Điều 19 vẫn được ban hành thì Luật sư vẫn không nên là đối tượng bị áp dụng.
Các đại biểu Đỗ Ngọc Thịnh, Nguyễn Văn Chiến, Chủ tịch và Phó Chủ tịch Liên đoàn LS Việt Nam, cùng với đại biểu Trương Trọng Nghĩa của TP.HCM đã nhấn mạnh, khoản 3 của Điều 19 sẽ gây ra ảnh hưởng nghiêm trọng đến công việc của các Luật sư, và có thể khiến họ không thể bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người dân trong các vụ kiện.
Quan điểm này dựa trên hai nguyên tắc:
Một, nghĩa vụ im lặng của Luật sư xuất phát từ quyền im lặng của bị can, bị cáo. Vốn dĩ bị can, bị cáo không phải khai báo bất kỳ điều gì về bản thân, trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan điều tra. Bị can, bị cáo cần Luật sư, trong hầu hết các trường hợp là thuê luật sư, để bảo vệ quyền của mình, chứ không phải để Luật sư đem thông tin đi nói cho người khác biết.
Hai, mối quan hệ giữa Luật sư và thân chủ được bảo vệ bởi đặc quyền về bảo mật thông tin (confidentiality), bất kể là vụ án hình sự hay dân sự. Đây cũng là vấn đề nguyên tắc đạo đức của nghề Luật sư, được các Luật sư đoàn quy định.
Luật sư và thân chủ cần có đặc quyền về bảo mật thông tin, vì đó chính là điều kiện tối cần thiết để thiết lập sự tin tưởng tuyệt đối giữa họ.
Trước hết, một Luật sư muốn làm tròn trách nhiệm biện hộ thì cần có đầy đủ tất cả thông tin liên quan đến hồ sơ vụ án, đặc biệt là những thông tin từ chính người mà mình bào chữa.
Đặc biệt, trong các vụ án hình sự, nghi phạm sẽ không thể nào tin tưởng nhân viên điều tra để chia sẻ tất cả thông tin, vì họ sợ sẽ có thông tin gây bất lợi cho họ. Vì thế, Luật sư biện hộ chính là người mà nghi phạm phải tin tưởng nhất.
Vậy thì làm thế nào để khiến một người tin tưởng và chia sẻ tất cả với Luật sư, kể cả những thông tin mang tính bất lợi hay có thể gây ra tranh cãi?
Trong các hệ thống tư pháp trên thế giới, đặc biệt ở châu Âu và Mỹ, thông tin trao đổi giữa Luật sư và khách hàng được bảo vệ bởi “đặc quyền của mối quan hệ giữa Luật sư và thân chủ” (attorney-client relationship). Đặc quyền này bắt buộc Luật sư phải bảo vệ thông tin của người khách một cách tuyệt đối.
Nguyên tắc bảo vệ tuyệt đối bí mật (confidentiality) về thông tin của khách hàng còn là một quy tắc đạo đức của nghề Luật sư.
Để đảm bảo được nguyên tắc này, khi được thân chủ chia sẻ những thông tin trong phạm vi mối quan hệ Luật sư-thân chủ (attorney-client relationship), thì Luật sư không bị bắt buộc phải tố cáo thân chủ và không phải chịu trách nhiệm hình sự về việc biết mà không tố giác tội phạm.
Mà ngược lại, Luật sư có nghĩa vụ phải giữ bí mật tuyệt đối về những thông tin đó. Nếu Luật sư phá vỡ nguyên tắc này thì có thể phải đối mặt với việc bị Luật sư đoàn kỷ luật hoặc bị thân chủ khởi kiện dân sự.
Luật sư có thể tự giác tố cáo, chứ không bị ép buộc
Ở Mỹ, đặc quyền giữa Luật sư và thân chủ chỉ có thể bị phá vỡ trong một số trường hợp rất hãn hữu mà không bị coi là vi phạm đạo đức nghề nghiệp và không bị Luật sư đoàn khai trừ hay phải chịu trách nhiệm dân sự.
Trường hợp thứ nhất, theo Điều 1.6 (b)(1) của Bộ quy tắc nghề nghiệp Luật sư do Luật sư đoàn Hoa Kỳ (American Bar Association) soạn thảo, thì Luật sư có thể tự giác thông báo đến cơ quan chức năng những thông tin về hành vi phạm pháp của thân chủ, khi Luật sư biết khả năng rất cao là nó sẽ chắc chắn xảy ra. Chúng ta có thể tham khảo một ví dụ được Luật sư đoàn Hoa Kỳ đưa ra.
Nếu một Luật sư biết chắc thân chủ của mình – là một tập đoàn lớn – có hành vi xả thải trái phép vào một nguồn nước gây tác hại đến cho người dân và môi trường trên một diện rộng, thì có thể báo với chính quyền mà không bị quy là vi phạm đạo đức nghề nghiệp và phá vỡ nguyên tắc bảo đảm bí mật của thân chủ.
Tuy nhiên, nếu Luật sư đó không báo với chính quyền thì cũng không thể bị truy tố trách nhiệm hình sự về tội không tố giác hành vi phạm tội của thân chủ. Luật pháp chỉ truy cứu nếu luật sư là đồng phạm và thật sự tham dự vào hành vi phạm pháp.
Chẳng hạn như trong ví dụ vừa nêu, nếu Luật sư cùng bàn bạc và vạch ra kế hoạch xả thải trái phép cùng với người khách của mình, thì lúc đó, Luật sư là đồng phạm và phải chịu chế tài của pháp luật.
Trường hợp thứ hai thường được gọi là “ngoại lệ nhằm ngăn ngừa tội phạm” (crime-fraud prevention exception) trong Điều 1.6 (b)(2) của Luật sư đoàn Hoa Kỳ. Khi Luật sư, thông qua mối quan hệ Luật sư và thân chủ mà biết được người thân chủ của mình đã lên kế hoạch chuẩn bị phạm tội hình sự hoặc một tội lừa đảo, thì có thể phá vỡ nguyên tắc bảo đảm bí mật thân chủ và khai báo hành vi này với chính quyền.
Nguyên tắc “ngoại lệ nhằm ngăn ngừa tội phạm” thông thường được áp dụng trong những trường hợp của các tội đại hình (felony) đặc biệt nguy hiểm đến tính mạng và tài sản của người khác. Và nó cũng chỉ là một ngoại lệ (exception to the rule) cho nguyên tắc bảo mật chung của mối quan hệ Luật sư-thân chủ.
Những ví dụ cho những thông tin mà Luật sư có thể áp dụng ngoại lệ này để thông báo với chính quyền có thể là tin tức về một nạn nhân đang bị mất tích trong một vụ án, hay khi thân chủ đưa ra lời lẽ đe dọa đến tính mạng của người khác, nhân viên điều tra, hay thẩm phán, nhân chứng của vụ án, v.v.
Trường hợp thứ 3 cũng dựa trên nguyên tắc “ngoại lệ nhằm ngăn ngừa tội phạm”. Luật sư trong quá trình đại diện, có thể tình cờ biết được thân chủ mình đã từng thực hiện một tội hình sự hoặc lừa đảo nào khác, không nằm trong khuôn khổ của mối quan hệ Luật sư-thân chủ.
Ví dụ như đang nhận bào chữa một vụ án kinh tế nhưng Luật sư lại biết được thân chủ của mình đã mướn người mưu sát đối thủ thương trường của mình, và vụ án mưu sát đó đã không có manh mối trong vài năm.
Tương tự như trên, nếu việc báo với chính quyền sẽ giúp giảm thiểu thương vong hay thiệt hại cho nạn nhân hay thân nhân của họ, thì Luật sư có thể làm điều này mà không bị cáo buộc là đã phá vỡ nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp.
Trách nhiệm của Luật sư trong những trường hợp kể trên, theo kiến nghị của Luật sư đoàn Hoa Kỳ, là phải khuyến cáo thân chủ từ bỏ ý định phạm tội, kết thúc hợp đồng đại diện nếu thân chủ kiên quyết không từ bỏ, và tuyệt đối không được phép đưa ra lời khuyên hay giúp đỡ thân chủ thực hiện hành vi phạm pháp.
Trong cả ba trường hợp được nêu, việc tự giác thông báo đến chính quyền từ phía Luật sư đều không đồng nghĩa với việc Luật sư có nghĩa vụ phải tố giác như Điều 19 BLHS 2015.
clip_image002[1]
Cô Đoàn Thị Hương, nghi phạm ám sát anh trai của lãnh tụ Triều Tiên Kim Jong-un, và Luật sư người Malaysia của cô. Ảnh: Zing.
Ngoại lệ: Luật sư có thể bị ép buộc khai báo trong những tình huống rất ngặt nghèo
Tòa án cũng có thể sử dụng trát tòa (subpoena) để yêu cầu Luật sư đưa ra lời khai liên quan đến thông tin của thân chủ. Trong trường hợp đó, Luật sư có thể đưa ra thông báo với tòa (motion to the court) là thông tin mà mình cung khai có thể nằm trong phạm vi của đặc quyền Luật sư-thân chủ. Thẩm phán của phiên xử đó sẽ phải đưa ra một phán quyết (ruling) là luật có cho phép Luật sư đưa ra lời khai hay không.
Nếu là có cho phép, Luật sư phải tiếp tục thông báo đến người thân chủ của mình vì thân chủ có quyền kháng cáo lên tòa cấp cao hơn (seeking judicial review of an appeal court). Chỉ khi tất cả các thủ tục pháp lý đã được sử dụng và đều được tòa phán là Luật sư có thể phá vỡ nguyên tắc bảo mật trong trường hợp này, thì Luật sư có thể đưa ra lời khai. (Xin xem thêm tại Điều 1.6 (b)(6) về Quy tắc nghề nghiệp của Liên đoàn Luật sư Hoa Kỳ).
Nếu đã có lệnh (order) của tòa yêu cầu đưa ra lời khai, mà Luật sư vẫn kiên quyết không cung cấp thông tìn về thân chủ, thì Luật sư có thể phải đối mặt với việc bị tòa phạt vạ vì đã “miệt thị tòa án” (contempt of court).
Tuy nhiên, vì nguyên tắc của nghề luật là phải đảm bảo bí mật của khách hàng, trường hợp tòa án đưa ra phán quyết là Luật sư có thể phá vỡ nó để khai ra thông tin bất lợi với thân chủ cũng là việc rất hy hữu và phải có lý do hết sức nghiêm trọng, ví dụ như tính mạng của một hoặc nhiều người đang gặp nguy hiểm.
Thông thường, thẩm phán chỉ cho phép Luật sư đưa ra lời khai khi nội dung của nó nằm trong phạm vi của “ngoại lệ nhằm ngăn ngừa tội phạm”.
Ngoài ra, khi người thân chủ cũ và Luật sư có tranh chấp dân sự liên quan đến một vụ việc mà Luật sư đã đại diện trong quá khứ, thì Luật sư cũng có quyền được phá vỡ đặc quyền bảo mật (Điều 1.6(b)(4),(5) về Quy tắc nghề nghiệp của Liên đoàn Luật sư Hoa Kỳ).
Nguyên tắc bảo mật thông tin của khách hàng cũng không phải chỉ được áp dụng riêng ở Mỹ.
Dựa trên báo cáo cập nhật của ngài D.A.O. Edward, QC gửi đến Uỷ ban Luật gia của Liên minh châu Âu năm 2003, các nước châu Âu (và ngay cả các nước không nằm trong Liên minh Châu Âu – EU) đều có những điều luật bảo vệ bí mật của thân chủ tương tự như Mỹ.
Bảo vệ bí mật của thân chủ được các hệ thống tư pháp trên xem là một yếu tố quyết định sự sống còn của mối quan hệ giữa Luật sư và thân chủ của mình.
clip_image004[1]
Hơn một thập kỷ qua, Luật sư VN vẫn vướng khả năng bị tội không tố giác tội phạm khi bào chữa cho thân chủ (Ảnh: Báo PL TPHCM tháng 2/2004)
Qua những phiên tranh luận giữa các đại biểu Quốc hội trong những ngày vừa qua, chúng ta có thể thấy tính cấp bách của việc cần phải xác định những tiêu chuẩn và quy tắc cho mối quan hệ giữa Luật sư và thân chủ tại Việt Nam.
Đặc quyền bảo mật không chỉ là một khái niệm pháp lý của Tây phương, và cũng không phải là điều xa lạ ở châu Á.
Trung Quốc đã tiến hành cải cách tư pháp trước Việt Nam, và mở lại trường luật từ năm 1978. Mô hình của hệ thống tư pháp Trung Quốc khá giống với Việt Nam. Thế nhưng, Trung Quốc đã có không ít nghiên cứu rất nghiêm túc về đặc quyền bảo mật của những thông tin được trao đổi giữa Luật sư và thân chủ. Hiện nay, theo nghiên cứu của Giáo sư Luật Leah Christensen của Đại học Luật Thomas Jefferson đưa ra vào năm 2011, Trung Quốc đã bắt đầu có những dự thảo luật được đề xuất nhằm bảo vệ quy tắc bảo mật các thông tin đó.
Không có đặc quyền bảo mật giữa Luật sư và thân chủ thì họ không thể xây dựng được sự tin tưởng cần thiết để việc bào chữa có thể thực hiện một cách hữu hiệu nhất. Nếu người dân không được hưởng quyền được bào chữa một cách tốt nhất thì các bản án oan sai vẫn và sẽ tiếp tục xảy ra.
Đây chính là một sự bất cập khác mà khoản 3 của Điều 19, BLHS 2015 mang lại, và đó là lý do điều này phải được sửa đổi, hoặc tốt hơn hết, là xóa bỏ.
Tài liệu tham khảo:

Khâu đít chuột

Tôi nhớ suốt đời một buổi ngồi coi TV với một gia đình người Pháp. Một phóng sự về ẩm thực VN. Một ông đầu bếp cầm dao, rạch bụng con rắn quằn quại, lấy máu, uống và mời khách.
Ông ta cười cợt, hãnh diện như vừa thực hiện một kỳ công, trước con mắt hãi hùng của người làm phóng sự. Ông chủ nhà người Pháp nhăn mặt, bà chủ nhà che mắt không dám nhìn. Nếu nền nhà không bằng xi măng, tôi đã đào một cái hố chui xuống cho đỡ xấu hổ. Lại thêm một cơ hội muốn chối không phải là người Việt
Những cảnh bạo lực trong xã hội VN càng ngày càng nhiều trên Internet, trên Facebook. Những cảnh ẩu đả tàn nhẫn, trẻ em bị đối xử dã man, bị bắt nhịn ăn, phơi nắng, học sinh kéo bầy đánh đập một cách hung bạo một em nhỏ yếu ớt hơn, công an tàn nhẫn với dân thấp cổ bé miệng, người ta chửi nhau thậm tệ, thượng cẳng tay, hạ cẳng chân, sau một tai nạn lưu thông hay một chuyện bất đồng.
Ở các nước Tây phương, thỉnh thoảng người ta đưa những vidéo về cảnh súc vật bị đối xử dã man trong các nhà hoả lò. Những vidéo này chiếu trên TV gây phẫn nộ, hoả lò bị đóng cửa, ban giám đốc bị cách chức.

Ở VN, người ta đưa những hình ảnh tàn bạo, dã man, không phải chỉ giữa người với vật, mà giữa người với người. Và đưa lên Internet, ít khi để tố cáo, nhiều khi để khoe khoang một hành động vẻ vang, anh dũng. Cảnh một tên lỗ mãng, cầm gậy đập đầu con chó dẫy đành đạch, cắt tiết, uống máu trước máy quay phim. Cảnh một đàn xúm lại đạp vào đầu, vào mặt một cô bé, một chú bé gầy yếu. Cảnh ông chủ nắm tay đấm mặt một cô bé sưng vù, trước sự hỗ trợ, tán thưởng của gia đình, vì cô bé ăn trộm tiền, đưa lên facebook, với dòng chữ : ‘’hãy nhớ mặt con chó này‘’. Và thiên hạ chuyển đi, thú vị như chuyển một bài thơ, một tác phẩm nghệ thuật .
Ở những xứ có văn hóa, luật pháp cấm đưa hình, đưa tên những vị thành niên trên báo, dù tội nặng tới đâu. Để đương sự có cơ hội làm lại cuộc đời. Ở VN, người ta đưa hình những cô gái, nhiều khi vị thành niên, bị bắt về tội mại dâm lên báo, lên mạng, với những lời bình phẩm độc ác, thô bỉ, khiến gia đình nhục nhã và nạn nhân phải tự vẫn. Những cô gái bán mình để nuôi thân, nuôi gia đình ở cái tuổi, tại một xứ khác, chắc chắn còn cắp sách đi học, đi coi hát, đi du lịch, chạy nhẩy, cười đùa với bạn bè
Những người đã rời quê hương từ nhiều năm không tưởng tượng đất nước mình sa đọa đến như vậy. Người Việt có nhiều khuyết điểm, nhưng người ta vẫn nghĩ người Việt bản chất hiền lành, từ tâm, chất phác. Ngay cả cái tính tốt cuối cùng ấy cũng đã mất? Người ta nói đến một xã hội vô cảm. Ghê rợn hơn cả một xã hội vô cảm, đó là một xã hội bất nhân.
Bất cứ một người bình thường nào, ở một xứ bình thường nào, cũng không có can đảm nhìn những video man rợ trên Internet, facebooks VN, nhưng người Việt ta coi, dửng dưng, thích thú, đồng lõa. Đối xử với nhau như vậy, trách gì người Tàu đối xử tàn bạo với anh em mình?
Lần đầu tôi có cái cảm tưởng ngỡ ngàng khi tiếp xúc với một nhóm học sinh du học. Một nhóm nữ sinh viên khả ái, thông minh, có kiến thức, có kiến thức hơn là tôi nghĩ , với cái thành kiến của những người đứng từ xa nhìn về. Tôi hỏi: các cô nghĩ VN sẽ có thay đổi gì không. Một cô bé, rất dễ thương, rất lễ độ, trả lời: ‘’Thưa chú, cháu nghĩ đéo có gì thay đổi. Đâu lại vào đó‘’. Hai người sững sờ là tôi và một ông bạn đã xa nhà từ lâu. Những cô bạn của người phát biểu không bày tỏ một chút khó chịu. Đó là chuyện tự nhiên. Chữ ‘’đéo‘’ trở thành một chữ hàng ngày, rất bình thường, như chào ông, chào bà...
Sự bạo hành bắt đầu bằng ngôn ngữ. Tôi không chê trách cô bé. Tôi rùng mình. Nếu sống trong xã hội đó, giờ này tôi cũng ăn nói như vậy. Cũng nói với khách: Dạ, cám ơn, đéo muốn ăn cơm, còn no bụng quá. Tôi nhìn cô bé, rất dễ thương, ái ngại. Chúng ta chỉ là sản phẩm của xã hội, của môi trường sống.
Nhưng đó là chuyện nhỏ, so với cái văn hoá man rợ, người này trèo lên cổ người khác để sống. Hay chỉ để chứng minh mình hiện diện. Đạp mặt người khác chứng tỏ tôi hiện diện. Je cogne donc je suis (1).Tại sao có thể mất nhân tính đến như vậy? Bởi vì sống trong một xã hội độc tài, suốt đời bị chèn ép, bị áp bức, bị đối xử như con vật, người ta không có cách gì giải tỏa hơn là quay lại hành hạ những người yếu hơn mình. Lại càng kính nể hơn nữa những người sống trong xã hội chụp giựt đó nhưng vẫn giữ cái thiện, giữ lòng nhân ái.
Tất cả những nghiên cứu xã hội đứng đắn đều đi tới kết luận: những người có hành vi bạo hành thường thường đã là nạn nhân của bạo hành. Là nạn nhân, người ta có một trong hai thái độ. Hoặc đứng về phe kẻ yếu, tranh đấu chống bất công, nhưng rất hiếm. Hiếm, bởi vì phải có nghị lực và lòng bao dung phi thường. Hoặc để trả thù đời, trút lên đầu những người yếu hơn mình những cái mình đã phải chịu đựng.
Đó là cái vòng di truyền luẩn quẩn, bệnh hoạn (cercle vicieux) trong một gia đình. Trên tầm vóc quốc gia, một đại họa. Mỗi người theo hay chống chủ nghĩa CS vì những lý do khác nhau. Tôi từ chối chủ nghĩa CS trước hết vì lý do đó: nó làm tiêu tan cái đẹp của một xã hội tử tế. Nó đưa chúng ta lại gần với thú vật. Ở một xã hội văn minh, người ta kính trọng, lễ độ với mọi người, kể cả, nhất là, những người yếu hơn mình.
Trên Internet, người ta dạy cách trừ chuột hữu hiệu nhất, không cần thuốc độc, không cần bẫy. Mổ đít con chuột , cắt tinh hoàn của con vật, thay vào đó hai hạt đỗ tương, rồi khâu lại. Dần dần hạt đậu trương lên, con chuột đau đớn, phát khùng, cắn đồng loại như điên dại. Đám chuột sợ quá, bỏ chạy, nhà hết chuột. Trước đây có một truyện ngắn, rất hay, tựa là ‘’Khâu đít chuột‘’, quên tên tác giả, nói bóng nói gió về một xã hội như vậy.
Người Việt ta là những con chuột bị thiến, bị khâu, nổi khùng, cắn nhau chí choé. Viết mấy dòng này, tôi nghĩ cả tới những người quá khích, chống bạo lực thì ít, chống nhau, hại nhau, chụp mũ nhau thì nhiều.
Chúng ta đều là những con chuột điên cuồng. Bao giờ mới ý thức được mình bị khâu, những người chung quanh cũng chỉ là nạn nhân bị khâu như mình. Và nhận diện những người khâu đít chuột, thực sự là những kẻ làm khổ mình, biến đời mình, đất nước mình thành địa ngục ?
Paris, 05 /2017Từ Thức

Thượng đỉnh Việt-Mỹ, ngổn ngang quan ngại

clip_image002
Ảnh tư liệu - Người biểu tình phản đối tập đoàn Formosa gây ô nhiễm biển Việt Nam tại Taipei, Đài Loan ngày 10/08/2016.
WASHINGTON DC — Ngày 31/5 tại Washington DC, Tổng thống Donald Trump sẽ có cuộc gặp chính thức với Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc. Ông Phúc vội vàng đi Mỹ lần này là do những sức ép rất lớn từ nền kinh tế Việt Nam vốn đang lâm vào khủng hoảng. Chính quyền cộng sản hy vọng những hiệp định thương mại với Hoa Kỳ sẽ là cứu cánh chính cho chế độ. Chính vì thế, cộng đồng người Việt sinh sống tại Hoa Kỳ kỳ vọng trong cuộc gặp lần này, chính quyền tổng thống Trump sẽ có những yêu cầu cụ thể và cứng rắn hơn đối với Hà Nội về vấn đề nhân quyền, trước khi trao cho họ những quyền lợi thương mại.

Ông Nguyễn Xuân Phúc là nguyên thủ quốc gia Đông Nam Á đầu tiên tới thăm Hoa Kỳ, kể từ khi Tổng thống Donald Trump nhậm chức. Động thái ‘sốt sắng’ này, theo nhận định chung của giới chuyên gia, bắt nguồn từ những khó khăn kinh tế trong nước khi Việt Nam liên tục nhập siêu từ Trung Quốc trên 50 tỉ USD mỗi năm và ngân sách đang trống rỗng do các dự án đầu tư thiếu hiệu quả tràn lan, nguồn thu từ thuế đang bị thu hẹp do các hiệp định thương mại đã ký. Nhiệm vụ sống còn của ông Phúc trong chuyến thăm lần này là phải đạt được những thỏa thuận thương mại với Hoa Kỳ để duy trì con số xuất siêu trên 30 tỉ USD/năm vào thị trường này. Có được như vậy, mới mong không có những biến động xã hội lớn và duy trì được chế độ cộng sản, theo dự báo của giới phân tích.
Tuy vậy, trước chuyến thăm của ông Phúc là một loạt vụ bắt bớ, truy nã những nhà hoạt động nhân quyền, những người lên tiếng bảo vệ quyền lợi của ngư dân miền Trung, nạn nhân trong thảm họa ô nhiễm môi trường do Formosa gây ra. Hàng triệu cư dân dọc bờ biển miền Trung Việt Nam đang sống lay lắt do mất nguồn sống từ biển mà chưa nhận được đền bù từ chính quyền. Nhiều người tự hỏi không biết cuộc sống của họ sẽ ra sao khi biển miền Trung tiếp tục chịu ô nhiễm trong nhiều thập kỷ nữa. Có thể nói Việt Nam thực sự không chỉ rơi vào một cuộc khủng hoảng về nhân quyền, mà cả một cuộc khủng hoảng về nhân đạo nữa. Đây là nội dung mà cộng đồng người Việt tại Mỹ muốn chính quyền của Tổng thống Donald Trump đưa vào nội dung nghị sự trong cuộc gặp với ông Phúc tới đây.
Từ Arizona chị Thu Phạm chia sẻ: “Tôi thấy thật đáng thương cho những người dân miền Trung Việt Nam. Bây giờ biển thì ô nhiễm, hải sản không ai dám ăn, trong khi cuộc sống của họ dựa hoàn toàn vào nghề đi biển. Vậy họ sống bằng gì đây? Cái này thật ra hơi cụ thể so với một cuộc gặp cấp cao giữa 2 nguyên thủ thế này nhưng rõ ràng phải đề cập tới vì nó còn liên quan tới một loạt vụ bắt bớ các nhà hoạt động nhân quyền nữa. Không thể cho họ những quyền lợi thương mại, rồi họ lại ậm ờ, lờ đi những việc họ phải làm đối với vấn đề nhân quyền và cả nhân đạo đối với ngư dân miền Trung”.
Chị Loan Nguyễn, một Việt kiều từ bang California, kêu gọi: “Ô nhiễm biển miền Trung thì quá nặng nề rồi. Hàng triệu người không có nguồn sống nữa. Trong khi đấu tranh đòi quyền lợi chính đáng thì bị bỏ tù. Những vấn đề này rõ ràng cần được đặt lên bàn đàm phán và có những hành động cụ thể, cứng rắn với chính quyền cộng sản Việt Nam. Họ muốn có quyền lợi về thương mại với Hoa Kỳ thì phải đáp ứng những yêu cầu căn bản về nhân quyền tại Việt Nam”.
Chưa bao giờ, kể từ khi Hoa Kỳ bình thường hóa quan hệ với Việt Nam năm 1995 tới nay, một cuộc gặp cấp cao giữa nguyên thủ hai nước lại có nhiều vấn đề căng thẳng, cấp bách cần đàm phán như vậy. Ông Phúc được cử đi để ‘chạy vạy’ cho một chế độ cộng sản đang có nhiều vấn đề, còn ông Trump đang đứng trước chuyện nhân quyền-nhân đạo mà Hoa Kỳ không thể làm ngơ tại Việt Nam. Vì thế, nhiều người cho rằng đây là một cơ hội thuận lợi để chính quyền Tổng thống Trump đặt những điều kiện cứng rắn cho chính quyền cộng sản Việt Nam. Tuy vậy, theo ý kiến của không ít người Việt sinh sống lâu năm tại Hoa Kỳ, những thỏa thuận tích cực đạt được sau cuộc gặp này vẫn còn rất mơ hồ.
Từ California, anh Trần Ngọc Bảo bày tỏ lo lắng: “Rõ ràng nếu những vấn đề về ô nhiễm biển miền Trung và nhân quyền được đưa vào nội dung đàm phán lần này thì không chỉ tốt cho cộng động người Việt tại hải ngoại mà còn rất tốt cho cộng đồng người Việt trong nước. Nhưng tôi thấy thật sự thì những vấn đề tại Đông Nam Á nói chung và Biển Đông hay Việt Nam không nhận được nhiều sự quan tâm từ chính quyền Tổng thống Donald Trump. Vì thế cũng khó nói được là những vấn đề này có được đem ra thảo luận và giải quyết rốt ráo hay không”.
Ông Lưu Vũ Diệp từ Kansas nghi ngại: “Tôi thấy ông Trump là một doanh nhân nên ông ấy đầu tiên phải chú trọng tới những lợi ích trước đã, chứ không thực sự quan tâm đến những vụ việc cụ thể tại Việt Nam đâu. Nên cuộc khủng hoảng nhân quyền và nhân đạo tại Việt Nam hiện nay chưa chắc đã thực sự được quan tâm đầy đủ trong cuộc gặp giữa ông Trump và ông Phúc lần này”.
Để tiếng nói của cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ có thể đến với chính quyền Tổng thống Donald Trump, ngoài những chiến dịch vận động thông qua Ủy Ban Nhân quyền Toàn cầu tại Hạ viện Mỹ, cộng đồng người Việt tại Mỹ sẽ tiến hành một cuộc biểu tình bên ngoài Tòa Bạch Ốc ngay trong buổi gặp giữa ông Trump và ông Phúc vào ngày 31/5.
Từ Virginia, anh Lý Ngọc Bảo, một Việt kiều có nhiều hoạt động trong cộng đồng người Việt, nói với VOA Việt ngữ: “Thật ra bây giờ đi biểu tình, bày tỏ chính kiến về các vấn đề của Việt Nam chủ yếu là mấy bác thuộc thế hệ đầu sang đây. Trong khi chúng ta có 3 thế hệ đang ở đây. Chúng ta phải nói chuyện, giáo dục cho thế hệ trẻ biết những vấn đề tại Việt Nam để các em cùng tham gia. Hơn thế, chúng ta cũng phải đoàn kết với các cộng đồng sắc tộc khác để mỗi lần tham gia biểu tình thế này không chỉ các cơ quan báo chí tiếng Việt đến đưa tin mà cả báo chí của Mỹ, của các cộng đồng khác nữa. Từ đó, tiếng nói của cộng đồng người Việt sẽ mạnh mẽ, tạo ra một sức ép lớn đến những quyết định của chính quyền trong các vấn đề liên quan đến Việt Nam”.
Theo các chuyên gia, ngoài mục tiêu tối quan trọng là duy trì thặng dư thương mại 30 tỉ USD/năm với Hoa Kỳ, chuyến đi này của ông Phúc cũng nhằm thăm dò quan điểm của tân Tổng thống Donald Trump và chính quyền mới về các vấn đề liên quan tới Đông Nam Á và Biển Đông, bởi từ khi nhậm chức tới nay, ông Trump tỏ ra chưa mấy mặn mà với khu vực này.
Liệu Hoa Kỳ có thực sự cần đến Việt Nam trong chiến lược kìm hãm sự bành trướng của Trung Quốc, sau khi Phillipines, một đồng minh lâu năm của Mỹ ở khu vực, đang xích lại gần hơn với Trung Quốc? Đó cũng là điều mà chính quyền cộng sản Việt Nam muốn biết trong chuyến thăm này. Còn đối với cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ, việc Tổng thống Donald Trump tỏ thái độ dứt khoát và đặt những điều kiện cụ thể đối với thảm họa nhân quyền-nhân đạo đang diễn ra tại Việt Nam là kỳ vọng lớn nhất của tất cả mọi người.Nguyễn Lại

No comments:

Post a Comment