Wednesday, May 17, 2017

Báo chí Sài Gòn thời VNCH(3)

Một tờ báo ở Sài Gòn trước năm 1975.
Tại miền Nam trước năm 1975, tất cả các tờ nhật báo đều tập trung tại Sài Gòn với khoảng 50 tờ. Báo chí Sài Gòn thời ấy khá đa dạng, từ những tờ là cơ quan ngôn luận của chính quyền, cho đến những tờ đối lập với chính quyền, rồi những tờ thiên về kinh doanh. Có những tờ báo “lá cải” chuyên khai thác những chuyện hoang đường, yêu tinh ma quỷ, tình tiền tù tội. Có tờ sống được là do có tiểu thuyết hay, hấp dẫn. Thông tin trên báo thật giả lẫn lộn, đan xen nhân văn và bất nhân, cao cả và tầm thường…
    Dù báo chí Sài Gòn trước năm 1975 rất đa dạng, thậm chí phức tạp, nhưng nhìn chung, dòng thông tin chủ lưu vẫn là tình cảm dân tộc, mong muốn hòa bình, thống nhất đất nước, phản đối việc có mặt của quân đội Mỹ ở Nam Việt Nam, lên án bộ máy chính quyền tay sai, tham nhũng, không hợp lòng dân…
    Báo chính quyền lép vế
    Những tờ báo là cơ quan ngôn luận của chính quyền Sài Gòn như Quật Cường, Tiền Tuyến, Dân Chủ… hầu như chỉ phát hành được trong bộ máy chính quyền, trong quân đội, chứ bán chẳng ai mua. Thỉnh thoảng, họ cũng thử cho phát không ở các sạp báo, nhưng người nhận chỉ cốt đem bán đồng nát chứ không phải để đọc, nên chính quyền phải ra lệnh dừng.
    Trong khi đó, báo chí đối lập (công khai hoặc kín đáo) lại chiếm được diễn đàn thông tin. Có tờ đối lập công khai, chống đối chính quyền Sài Gòn quyết liệt, nêu đích danh Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu là tham quyền cố vị, hiếu chiến, thất học, tham nhũng, bất tài như tờ nhật báo Tin Sáng của chủ nhiệm kiêm chủ bút - ông Ngô Công Đức. Trên trang báo này ông mở tiết mục “tin vịt” - nghe qua rồi bỏ, chuyên đề này quy tụ nhiều cây bút đối lập với chính quyền Sài Gòn thời đó như: Nguyễn Ngọc Lan, Hồ Ngọc Nhuận, Lý Chánh Trung, Hồ Ngọc Cứ, Cung Văn… Trong tiết mục này, các ông châm biếm, nhạo báng chế độ Nguyễn Văn Thiệu, coi chính quyền không ra gì. Tất cả những bài của các ông đều ký tên là “Tư trời biển”. Chính ông Ngô Công Đức đã khai sinh ra cái tên “Phủ đầu rồng” nhằm ám chỉ cơ quan quyền lực, Dinh Độc Lập của chế độ VNCH. Ông là Dân biểu Hạ nghị viện Sài Gòn, nhiệm kỳ 1967 - 1971. Khi ra tranh cử lần 2, ông bị chính quyền Nguyễn Văn Thiệu bắt giam ở Trà Vinh. Sau đó, ông tị nạn ở Thụy Điển, Pháp.
    Có tờ đối lập nhưng ôn hòa hơn, như tờ Điện Tín do cố nhà báo Chánh Trinh tức Lý Quý Chung làm chủ bút. Năm 1964, mới 24 tuổi, ông đã là chủ nhiệm kiêm chủ bút của tờ Sài Gòn Tân Văn. Năm 1965, Sài Gòn Tân Văn bị đóng cửa. Năm 1966, ông làm chủ bút cho tờ Buổi Sáng. Cũng trong năm này, ông trúng cử Dân biểu Hạ nghị viện. Tờ Buổi Sáng cũng bị đóng cửa sau đó ít lâu. Sau đó, ông làm chủ nhiệm cho tờ Tiếng nói Dân tộc. Năm 1969, tờ Tiếng nói Dân tộc bị đóng cửa. Năm 1970, ông làm chủ bút cho tờ Điện Tín. Chính trên tờ báo này, ông phân tích tình hình đất nước một cách sắc nét, ông là cây bút bình luận chính trị có uy tín bậc nhất vào thời đó. Ông mạnh dạn chỉ trích chế độ Nguyễn Văn Thiệu không hợp lòng dân, đàn áp học sinh, sinh viên, bắt bớ tù đày những người yêu nước… Chính vì lập trường không khoan nhượng với việc làm sai trái của chính quyền Sài Gòn lúc bấy giờ mà tờ Điện Tín bị “côn đồ, du đãng” phá hoại đến nỗi phải tự đình bản.
    Ngoài những tờ báo đối lập công khai, đối lập ôn hòa, chân chính, còn có nhiều tờ trung lập, gọi là thuộc "thành phần thứ ba", "đường lối thứ ba" - kêu gọi hòa bình, hòa hợp hòa giải chung chung, không ưa gì chế độ miền Nam nhưng cũng không ra mặt chống đối.

    Muôn mặt báo chí Sài Gòn trước năm 1975 ảnh 1
     Nhà báo Trần Tấn Quốc - người sáng lập ra Giải Thanh Tâm.
    Có một "Đuốc Nhà Nam"
    Tờ Đuốc Nhà Nam được báo giới Sài Gòn gọi là tờ đối lập chân chính. Chủ nhiệm kiêm chủ bút của tờ Đuốc Nhà Nam là ông Trần Tấn Quốc. Năm 17 tuổi, ông bị kết án 4 năm tù và bị đày ra Côn Đảo vì tham gia rải truyền đơn chống Pháp. Ra tù, ông lên Sài Gòn học nghề làm báo (ông quê Cao Lãnh). Bằng một nghị lực phi thường, ông quyết vượt lên số phận bằng cách vừa làm vừa học thêm tiếng Pháp. Ba năm sau, ông đã hoàn tất chương trình nghiệp vụ báo chí hệ hàm thụ của trường Universelle ở Paris. Chính trường học này đã giúp cho Trần Tấn Quốc có một quan niệm rõ rệt về nghề viết báo và trách nhiệm nặng nề của một nhà báo. Chẳng bao lâu, ông đã trở thành một nhà báo lừng danh giữa đất Sài Gòn. Ban đầu, Trần Tấn Quốc làm chủ bút và chủ nhiệm các tờ Thần Chung, Công Nhân, Tiếng Dội, Lẽ Sống, Buổi Sáng, Tiếng Dội Miền Nam, Dân Quyền... Năm 1961, tờ Tiếng Dội của ông bị chính quyền Ngô Đình Diệm rút giấy phép vì loan tin không có lợi cho chế độ VNCH. Tháng 5.1965, ông ra tờ Tiếng Dội Miền Nam. Sau vụ đảo chính Ngô Đình Diệm, Trần Tấn Quốc đổi tên Tiếng Dội Miền Nam thành Dân Quyền, đến tháng 7.1965 lại bị thủ tướng chính quyền Sài Gòn là Nguyễn Cao Kỳ thu hồi giấy phép. Năm 1969, Trần Tấn Quốc ra tờ nhật báo Đuốc Nhà Nam, đối lập chân chính với chính quyền Nguyễn Văn Thiệu.
    Ngày 4.8.1972, chính quyền Nguyễn Văn Thiệu ra sắc luật 007, buộc mỗi tờ nhật báo phải ký quỹ tại Tổng nha ngân khố 20 triệu đồng (bằng 500 lượng vàng). Ngày 3.9.1972, Trần Tấn Quốc ra số báo cuối cùng, trên số báo này, ông nói lời tạm biệt với bạn đọc, tuyên bố tự ý đình bản và công kích gay gắt sắc luật 007. Đầu năm 1973, ông trở lại cộng tác với tờ Điện Tín. Sự có mặt của Trần Tấn Quốc đã làm cho tờ Điện Tín tăng số phát hành đến không ngờ. Ngày 10.10.1974, người ta thấy Trần Tấn Quốc đi đầu trong đoàn “Ký giả ăn mày”, một sự kiện đi vào lịch sử báo chí Việt Nam và làm chấn động dư luận quốc tế.
    Năm 1958, Trần Tấn Quốc sáng lập Giải triển vọng Thanh Tâm nhằm phát hiện và tôn vinh tài năng trẻ trên sân khấu cải lương. Hội đồng tuyển chọn gồm những nghệ sĩ, soạn giả nổi tiếng như: Phùng Há, Bảy Nhiêu, Duy Lân, Kiên Giang, Hà Triều, Viễn Châu, Điêu Huyền và các ký giả, luật sư, chính khách, nhân sĩ và khán giả. Nghệ sĩ đầu tiên chiếm huy chương vàng giải Thanh Tâm năm 1958 là Thanh Nga, tiếp theo là Ngọc Giàu, Lan Chi, Bích Sơn, Hùng Minh, Bạch Tuyết, Diệp Lang, Thanh Sang, Lệ Thủy, Phượng Liên. Gần 60 năm trôi qua, Giải Thanh Tâm vẫn còn giá trị và những nghệ sĩ được tôn vinh ấy đến hôm nay vẫn còn được công chúng ái mộ.
    Báo “lá cải”
    Tờ nhật báo Trắng Đen (1968 - 1975) là tờ báo “lá cải” điển hình, chuyên khai thác những tin giật gân, những chuyện mê tín hoang đường. Trắng Đen cũng là tờ báo tham gia công tác xã hội hăng say nhất như: Tổ chức cứu trợ đồng bào bị bão lụt miền Trung, quyên góp ủng hộ cô nhi, vận động độc giả đóng góp quỹ học bổng - giúp đỡ trẻ em nghèo hiếu học… Ban biên tập còn tổ chức “Giải Kim Khánh” - nhằm tôn vinh giới nghệ sĩ.
    Vào năm 1972, báo Trắng Đen may mắn "vớ" được một sự kiện làm báo giới Sài Gòn lên cơn sốt, đó là chuyện Tổng thống Cộng hòa Nam Phi Tean Bedol Bokassa tìm đứa con gái lưu lạc giữa đất Sài Gòn. Jean Bedel Bokassa vốn đi lính cho Pháp từ năm 18 tuổi, bởi lúc đó đất nước Trung Phi là thuộc địa của Pháp. Năm 1953, Bokassa bị đưa tới Việt Nam với lon trung sĩ nhất, đóng quân tại khu vực Chánh Hưng Sài Gòn (quận 8 bây giờ). Trong thời gian này, Bokassa quen một cô gái Việt Nam tên Nguyễn Thị Huệ, chung sống như vợ chồng. Sau trận Điện Biên Phủ, Bokassa được giải ngũ, lên tàu trở về Trung Phi. Lúc đó, bà Nguyễn Thị Huệ đã có mang với ông, sắp tới ngày sinh nở. Năm 1968, Bokassa đắc cử Tổng thống, ông trở thành vị Tổng thống thứ hai của nước Cộng hòa Trung Phi độc lập. Đến năm 1972, Tổng thống Bokassa nhờ Bộ Ngoại giao Pháp tìm kiếm giúp ông đứa con rơi đang thất lạc tại Sài Gòn. Nhờ may mắn tiếp cận được nguồn tư liệu khai thác độc quyền, báo Trắng Đen đã tạo nên cơn sốt thông tin suốt thời gian dài. Từ con số xuất bản khoảng 20.000 tờ/ngày, báo Trắng Đen đã tăng lên 30.000 - 40.000 - 50.000 rồi 100.000, con số cao nhất là 200.000 tờ/ngày vào lúc sự kiện lên tới cao trào.
    Đầu thập niên 1970, Sài Gòn rộ một tin đồn: Nhờ một ông thầy tướng số tu luyện trên núi Thất Sơn coi Nguyễn Văn Thiệu có “chân mạng Đế Vương” mà lên làm tổng thống. Đó là “chiêm tinh gia - quỷ cốc tiên sinh” Huỳnh Liên. Ông “quỷ cốc tiên sinh” được mời về bóc quẻ ở nhật báo Trắng Đen, phụ trách trang “những con số huyền bí” - bàn về những con “số đề”. Tòa soạn dành riêng nửa trang để “Quỷ cốc tiên sinh” trả lời thư bạn đọc từ các nơi gửi về. Từ những anh phu xe xích lô, những người làm thợ hồ đến những chị mua gánh bán bưng, mấy bà nội trợ…, ở đâu người ta cũng bàn tán những con số đề. Lâu lâu thì cũng trúng, rồi ăn mừng bia bọt, xả giàn được ít hôm. Ai thắng, ai thua ở đâu không biết, song báo Trắng Đen thì cứ tăng số lượng phát hành. Hồi đó, ai cũng đều nhìn nhận rằng, Trắng Đen là một tờ báo “lá cải” - một tờ chuyên khai thác những chuyện hoang đường, yêu tinh ma quỷ, tình tiền tù tội - nhưng lúc nào cũng có số phát hành cao nhất và rất thành công về mặt tài chính trong làng báo Sài Gòn thời ấy.
    Lôi kéo độc giả bằng kiếm hiệp, dâm ô…
    ài Gòn thập niên 1960.
    Báo chí Sài Gòn trước năm 1975 nặng tính thị trường, các chủ báo làm đủ mọi cách để bán được báo. “Chiêu” thường được các chủ báo sử dụng là khai thác những chuyện tình mùi mẫn, éo le; những truyện kiếm hiệp của Tàu và của ta; những truyện dâm ô hết cỡ... Có khi nhờ những cảnh làm tình nóng bỏng trên trang báo mà một tờ báo sống khỏe.
      Từ tiểu thuyết phơi - ơ - tông…
       Trước năm 1975, có nhiều tờ báo ở Sài Gòn không có phóng viên. Chủ báo mua những tin tức quốc tế của các hãng thông tấn AP, UPI, Reuteur…; hoặc mua những bản tin trong nước của các nhóm thông tín viên: Văn Đô, Thanh Huy, Đức Hiền…. Các nhóm thông tín viên này chuyên đi săn tin bán cho mấy tờ báo ngày để đăng trang ngoài. Vì vậy, có những ngày, các bản tin trang ngoài của nhiều tờ báo giống nhau như đúc. Tờ báo tồn tại được là nhờ trang trong, nơi dành đăng tiểu thuyết nhiều kỳ.
      Tiểu thuyết đăng nhiều kỳ trên những tờ nhật báo được gọi bằng cái tên Tây là feuilleton (phơi-ơ-tông), là truyền thống của làng báo Pháp, có từ thập niên 1850, du nhập vào Sài Gòn. Một trong những người viết feuilleton nổi tiếng nhất của Pháp là Alexandre Dumas, tác giả những bộ tiểu thuyết feuilleton điển hình Les Trois Mousquetaires, Le Comte de Monte-Cristo. Làng báo Hoa Kỳ không có tiểu thuyết feuilleton. Tiểu thuyết feuilleton là loại truyện dài, đăng nhiều kỳ, viết tới đâu đăng báo tới đó.
      Làng báo Sài Gòn có tiểu thuyết feuilleton từ những năm 1930 với những tác giả Hồ Biểu Chánh, Phú Đức… Trước năm 1975, tiểu thuyết feuilleton giữ vai trò quan trọng trong việc hình thành một tờ báo ở Sài Gòn. Một tiểu thuyết feuilleton hay, ăn khách, giúp tờ báo được nhiều độc giả. Từ đó, tờ báo có thể sống vững, dù phần thời sự, nghị luận nơi trang ngoài của tờ báo không có gì hơn những báo khác. Chỉ nhờ có một tiểu thuyết feuilleton ăn khách, một tờ nhật báo ở Sài Gòn cũng có thể trở thành một tờ báo lớn, bán chạy. Đó là trường hợp của tờ nhật báo Thần Chung với tiểu thuyết "Cô Bạch Mai" do chính chủ nhiệm Nam Đình viết.
      Độc giả tiểu thuyết feuilleton ở Sài Gòn phần nhiều là phụ nữ. Trong xã hội miền Nam thời ấy, một người đi làm - thường là người đàn ông trong gia đình - kiếm được tiền đủ nuôi vợ con. Người vợ ở nhà lo việc chợ búa, bếp núc, trông con. Những phụ nữ này có nhiều thì giờ nhàn rỗi, họ đọc tiểu thuyết đăng hàng ngày trên các nhật báo. Báo nào có tiểu thuyết được họ đọc là báo đó bán chạy. Và họ thích đọc những truyện tình ái mùi mẫn, éo le, lâm ly bi đát.
      Trong những tiểu thuyết đó, nhân vật chính là những thiếu nữ xinh đẹp, hiền hậu, con nhà nghèo, nhưng vẫn giữ được trong sạch. Hoàn cảnh đưa đẩy họ rơi vào những cảnh ngộ ngang trái nhưng sau cùng vượt qua nghịch cảnh, đến được với tình yêu. Hoặc nhân vật chính là một thiếu nữ con nhà giàu sang, quyền quý, yêu một chàng trai nghèo nhưng hiền lành, chất phác. Họ thích những mối tình, trong đó hai người yêu nhau bị chia cách bởi giàu nghèo. Điều quan trọng nhất là sau cùng tình yêu phải thắng, đôi tình nhân sau trăm cay, nghìn đắng, sẽ thành vợ, thành chồng, sống hạnh phúc bên nhau mãi mãi.
      Trong làng báo Sài Gòn trước năm 1975 có nhiều người viết một ngày 4 - 5 tiểu thuyết feuilleton cho nhiều tờ báo khác nhau như: Viên Linh, Bà Tùng Long, Sơn Nam… Năm 1955, tác phẩm "Hương rừng Cà Mau" của Sơn Nam được đăng tải nhiều kỳ trên báo Nhân Loại. Làng báo Sài Gòn có hai cây viết feuilleton phụ nữ nổi tiếng là Bà Tùng Long và Bà Lan Phương.
      Bà Tùng Long là cây viết tiểu thuyết chủ lực của nhật báo “Sàigòn Mới”. Bà viết nhiều, có nhiều tác phẩm được in thành sách, truyện nào của bà cũng đề cao tình nghĩa, đạo lý Á Đông, nhân vật chính là phụ nữ, sau bao nhiêu gian truân sóng gió, cuối cùng đều có hạnh phúc.
      Bà Lan Phương cũng viết nhiều, cũng có nhiều tác phẩm xuất bản thành sách, nội dung những tiểu thuyết của Bà Lan Phương cũng giống như nội dung những tiểu thuyết của Bà Tùng Long. Nhật báo Sài Gòn còn có mấy cây viết feuilleton nữ nổi tiếng nữa: Túy Hồng, Lệ Hằng, Nhã Ca.
      Tùy theo truyện có ăn khách hay không mà hằng tháng chủ báo trả tiền cho người viết feuilleton cao hay thấp. Khi báo đã đăng xong, nếu tiểu thuyết feuilleton nào được ăn khách, độc giả ủng hộ, sẽ được nhà xuất bản mua để in thành sách. Có nhiều tiểu thuyết feuilleton được in sách, dựng phim như: "Loan mắt nhung" của Nguyễn Thụy Long; "Dấu chân sỏi đá" của Duyên Anh; "Mái tóc dĩ vãng" của Ngọc Linh; "Bên dòng sông Trẹm" của Dương Hà…
      Báo chí Sài Gòn trước năm 1975: Lôi kéo độc giả bằng những chuyện tình mùi mẫn, kiếm hiệp, dâm ô... ảnh 1
       Nhà văn Kim Dung, người có tiểu thuyết đăng tràn ngập báo chí Sài Gòn trước năm 1975.
      … Truyện võ hiệp kỳ tình
      Trong khi phụ nữ thích tiểu thuyết tình cảm ướt át, thì nam giới thích truyện võ hiệp kỳ tình, mê những chàng trai lãng tử đa tình, giang hồ hành hiệp theo các mô tip truyện Tàu. Để đáp ứng thị hiếu của lớp độc giả nam này, các tờ nhật báo ở Sài Gòn cho người qua tận Hong Kong trực tiếp gặp tác giả Kim Dung đặt hàng. Trên các chuyến bay Sài Gòn - Hong Kong ngày ấy, Kim Dung mỗi ngày đều gửi bài sang. Hiện tượng feuilleton Kim Dung như lên cơn sốt, có nhiều người mua báo chủ yếu để coi tiểu thuyết Kim Dung.
      Dịch giả đưa Kim Dung lên cơn sốt tại Việt Nam được ghi nhận là Từ Khánh Phụng với bản "Cô gái Đồ Long" đăng trên báo Đồng Nai năm 1961. Bản dịch "Cô gái Đồ Long" tạo nên cơn sốt truyện Kim Dung trong các tầng lớp độc giả từ bình dân đến trí thức. Một số nhà văn, nhà báo lúc bấy giờ lấy bút danh theo tên nhân vật trong truyện Kim Dung như Hư Trúc, Kiều Phong...
      Nhiều nhà văn nổi tiếng tham gia bình luận Kim Dung như Bùi Giáng, Bửu Ý. Dịch truyện Kim Dung tài hoa nhất là dịch giả Hàn Giang Nhạn với các bản dịch: "Tiếu ngạo giang hồ", "Lộc Đỉnh ký"... Từ năm 1961, tiểu thuyết võ hiệp của Kim Dung làm mưa làm gió trên các nhật báo ở Sài Gòn.
      Cùng với Kim Dung, làng báo Sài Gòn thời ấy nổi lên một cây viết feuilleton võ hiệp kỳ tình đặc sắc, đó là Vũ Bình Thư. Năm 1960, ông viết tiểu thuyết tình cảm xã hội cho nhật báo “Sàigòn Mới”. Các truyện của ông nói về tình yêu đồng quê miền Nam, không có gì đặc biệt. Ông thật sự thành công vang dội khi xoay qua viết truyện kiếm hiệp. Và tác phẩm võ hiệp kỳ tình đầu tay của ông - "Lệnh Xé Xác" - ra đời.
      "Lệnh Xé Xác" hấp dẫn người đọc ngay từ những số đầu. Nhân vật chính của truyện là Dương Chí Tôn, một chàng trai giang hồ hành hiệp, võ nghệ cao cường, hào hoa phong nhã. Truyện chỉ toàn những trận đấu chưởng giữa Dương Chí Tôn cùng bọn đại ma đầu gian ác. Ngoài những trận đấu chưởng kinh thiên động địa, truyện cũng vô cùng mùi mẫn bởi những cuộc tình nóng bỏng của chàng trai giang hồ lãng tử, đa tình Dương Chí Tôn với những em hiệp nữ, ma nữ nõn nà, mơn mởn.
      "Lệnh Xé Xác" đăng đầu tiên trên nhật báo Tia Sáng. Lập tức, nó được lan tỏa rất nhanh, từ những quán cà phê đến công sở, thậm chí tới những trường học. Hồi đó, hình như người ta mua báo Tia Sáng trước tiên là để coi "Lệnh Xé Xác", còn những vấn đề khác trên báo hầu như không cần thiết. Sau đó, Việt Định Phương - chủ nhật báo Trắng Đen - kéo Vũ Bình Thư về đầu quân cho Trắng Đen và "Lệnh Xé Xác" đã thật sự làm mưa làm gió nhiều năm liền. Từ Sài Gòn về tỉnh lẻ, tới những thị trấn xa xôi, báo Trắng Đen đắt như tôm tươi. Thậm chí trên những chuyến xe đò xuôi ngược, các em bán báo lẻ được tăng thêm thu nhập bởi những trận đấu chưởng trời long đất lở và cuộc tình thơ mộng của chàng trai giang hồ hành hiệp Dương Chí Tôn và kỳ nữ đa tình Hồng Y Nữ Xảo Nhi. Số phát hành của báo Trắng Đen tăng lên vùn vụt nhờ tiểu thuyết feuilleton này.
      Đến truyện dâm ô đồi trụy
      Một tờ nhật báo ở Sài Gòn thời ấy chỉ cần một truyện feuilleton hấp dẫn là có thể sống được. Để đánh vào thị hiếu của độc giả, các chủ báo luôn tìm những đề tài mới, lôi cuốn, hấp dẫn. Những chuyện gối chăn, tình dục, dâm ô... cũng được tập trung khai thác mạnh. Khai thác đề tài “bạo” này, về phía nhà văn nữ có Minh Đức Hoài Trinh, Lệ Hằng… Bên cánh nam thì có Lê Xuyên, Trần Đức Lai… Những nhà văn viết về thể loại này không nhiều, nhưng cũng đủ để “cháy” những dòng, những trang báo.
      Trong số những truyện feuilleton gợi tình trên nhật báo ngày thời ấy, truyện “Cậu Chó” của Trần Đức Lai là “rừng rực”, dữ dội hơn cả. Câu chuyện cực kỳ dâm ô, đầy tính chất hoang đường. Vậy mà thời ấy lại cho đăng trên tiểu thuyết feuilleton của những tờ báo lớn.Chợ Bến Thành trước năm 1975.
      Sài Gòn trước 1975 mỗi ngày có khoảng 50 tờ nhật báo được xuất bản. Ngoài 3 tờ của chính quyền (tờ Tiền tuyến của Tổng cục chiến tranh chính trị, tờ Dân chủ của Nguyễn Văn Thiệu, tờ Quật cường của Trung ương tình báo) và một số tờ thiên về kinh doanh, thành công về mặt tài chính (như Trắng Đen, Tia sáng, Thách đố, Chính luận) là mạnh giỏi, thợ thầy khấm khá; phần nhiều các tờ báo còn lại (trong đó có các tờ đối lập, chống chính quyền) thường gặp khó khăn, thợ thầy sống vất vưởng, lang thang…
        Tồn tại nhờ… mua bán giấy
        Có những những tờ báo sống chủ yếu nhờ “bán giấy”. Họ chạy chọt giấy phép để cho ra một tờ nhật báo, từ đó được nhà nước hỗ trợ giá giấy rẻ. Chẳng hạn, họ xin phép xuất bản mỗi số báo là 30.000 tờ, nhưng kỳ thật họ chỉ in một vài ngàn tờ cho có lệ. Số giấy còn lại họ đem bán “chợ đen” lấy lời trang trải chi phí cho tờ báo. Chủ yếu là bán giấy cho những tờ báo ăn nên làm ra như tờ Trắng Đen, tờ báo này thường phải mua thêm gấp 3 lần số giấy mà chính quyền bán giá hỗ trợ.
        Những tờ báo nghèo này không có tiền để ký hợp đồng với những phóng viên uy tín, những tin chủ lực trang ngoài thì họ mua lại của các hãng thông tấn như VTX, AP, UPI, Reuteur hoặc mua những bản tin “xe cán chó, chó cắn xe”, “tình tiền tù tội” của các nhóm thông tín viên Văn Đô, Thanh Huy, Đức Hiền. Các báo loại này cũng không có nhiều tiền cộng tác với các nhà văn tên tuổi để có những tiểu thuyết feuilleton hay, trang trong của họ thường là bài của những nhà văn thất nghiệp, không tiếng tăm nên không có độc giả xem. Họ tiết kiệm nhân lực đến mức tờ báo không có ký giả phụ trách chuyên đề, thiếu người phụ trách kĩ thuật...
        Tòa soạn và ban trị sự các báo “kinh doanh giấy” kiểu này đặt ra cho có, chứ thật ra bộ sậu chỉ lèo tèo vài người, tòa soạn nằm chung với phòng sắp chữ, nhà in; chỉ có thể mướn được những nhà in ế ẩm, nghèo nàn - phòng ốc, chữ chì, máy in, trang thiết bị… thiếu thốn và lạc hậu. Tiền lợi nhuận từ việc mua bán giấy không đủ để trang trải cho một tờ nhật báo. Để cứu vãn, họ bán manchette hoặc cho thuê, cũng có khi liên doanh, hùn hạp. Có khi họ đứng tên với chức hàm là chủ bút cho oai, cho ra vẻ của một người từng có một thời là chủ báo “chủ nhiệm kiêm chủ bút”, chứ thật ra mọi việc của một tờ báo đã giao đứt cho người khác.
        Gian nan thợ sắp chữ
        Trang nhật báo ngày xưa có khổ 45cm x 60cm, chia thành 8 cột, mỗi cột 4,5cm. Các báo có số trang khác nhau, nhưng thường là 4 trang hoặc 8 trang. Các báo đều ra vào buổi chiều, vì vậy mà tòa soạn phải vận hành vào lúc sáng sớm. Ông Trương Văn Cung (xã An Vĩnh Ngãi, TP.Tân An, Long An) - một người thợ sắp chữ cho nhiều tờ báo ở Sài Gòn thời ấy - kể: “Trang trong, chuyên đề điện ảnh, kịch trường, gỡ rối tơ lòng, tiểu thuyết feuilleton thì chúng tôi sắp trước vào buổi chiều, xong giao cho thợ vỗ bản, đổ chì. Sáng sớm hôm sau, chúng tôi phải có mặt ở nhà in lúc 4h để trả lại chữ đã sắp chiều hôm qua vào hộc, sửa soạn đâu vào đó để khoảng 5h sáng là “chạy” bài trang nhất”.
        Gọi là “chạy” bài trang ngoài vì trang nhất thường là loại thời sự nóng bỏng, những vấn đề thời cuộc mà độc giả đang quan tâm. Chẳng hạn, vấn đề nóng hổi mà độc giả đang quan tâm là chuyện “Sinh viên đại học văn khoa biểu tình chống chương trình tổng động viên”. Phóng viên sau những giờ căng thẳng xuống đường chống chính quyền cùng sinh viên đã liều mình thoát khỏi vòng vây cảnh sát bay về tòa soạn. Về đến nơi, phóng viên viết ngay bản tin để đưa cho thợ sắp chữ, viết khoảng vài chục chữ thì đưa cho thợ, viết tới đâu, thợ sắp chữ sắp tới đó. Mỗi người thợ sắp một đoạn ngắn, xong ráp lại thành một bài”.
        Phòng sắp chữ của một tờ nhật báo trong giờ làm việc lúc nào cũng chật chội. Rất nhiều hộc chữ được kê sát với nhau thành hàng, thành dãy, những người thợ đứng gần nhau, nóng nực và ngột ngạt. Người thợ sắp chữ không được ngồi trong suốt thời gian làm trang. Khi sắp xong một đoạn ngắn của một bài trên trang nhất hoặc trang 3 thì lăn mực lên chữ, lấy tờ giấy vuốt nước thật nhẹ, in thật khéo lên mặt chữ, xong đem lại bàn “thầy cò” (người sửa lỗi) để sửa chính tả. Xong, đi lấy một đoạn bài sắp tiếp, rồi đi lăn mực… Hết một bài thì ráp lại.
        Chính vì làm việc bằng cả đôi chân, việc khẩn trương, thường thì đi như chạy nên những người thợ sắp chữ cho những tờ nhật báo thời ấy được gọi là thợ “chạy bài”. Từ thư ký tòa soạn, phóng viên, thầy cò đến anh em thợ sắp chữ làm việc hết sức khẩn trương để khoảng 10h30 trưa kết thúc trang. Khoảng từ 11h tới 12h đem nộp bản kiểm duyệt. Tùy theo số báo phát hành của từng nhật báo mà báo ra sớm hay muộn, trễ lắm là 15h chiều. Sau 15h chiều, các nơi phát hành không nhận nữa.
        Ông Cung cho biết, hằng ngày, ông phải dậy từ lúc 3h sáng để đến tòa soạn. Khuya, trong khi người dân thành phố còn đang ngon giấc, cánh thợ sắp chữ cho các tờ nhật báo đạp xe đến tòa soạn. Suốt một ngày quần quật trong tòa soạn, đến chiều tối họ mới về tới nhà. Công việc vất vả, cực nhọc đến vậy nhưng đồng lương thì rẻ mạt, việc làm lại bấp bênh, không ổn định.
        Báo chí Sài Gòn trước năm 1975: Vất vưởng những tờ báo nghèo, báo đối lập ảnh 1
         Một trang báo Sài Gòn trước năm 1975.
        Nghèo nàn lạc hậu
        Ông Cung kể tiếp, khoảng 1971 - 1972, ông xin vào “chạy bài” cho nhật báo Báo Đen của thi sĩ Trần Dạ Từ. Dưới cái manchette “Báo Đen” thật ấn tượng là dòng chữ được in đậm “Tiếng nói của người dân ngu khu đen” - “Nồi niêu xoong chảo, chổi cùn rế rách”. “Tôi cũng đã từng vất vưởng, lang thang, làm thợ sắp chữ cho nhiều tờ nhật báo “nghèo” thời đó, nhưng chưa thấy tờ nào nghèo như Báo Đen. Tòa soạn là một cái nhà in loại nhỏ có 2 tầng, tầng dưới làm văn phòng - tòa soạn và trị sự, cũng là phòng làm việc của chủ nhiệm, chủ bút. Tầng trên là phòng sắp chữ, phòng sắp chữ bề ngang khoảng 4m, dài khoảng 12m. Ê-kíp sắp chữ chúng tôi có khoảng 17 người vừa sắp chữ trang trong vừa chạy bài trang ngoài”, ông Cung kể.
        Nhật báo Báo Đen có 4 trang, trang 2 - 3 dành cho các chuyên đề như văn hóa nghệ thuật gồm có: Điện ảnh, sân khấu, thoại kịch, cải lương, tân nhạc… Trang văn nghệ gồm những mục như: Truyện ngắn, thơ, tuổi học trò, thiếu niên, nhi đồng… Trang phụ nữ và gia đình bao gồm những nội dung như: Tình yêu, hôn nhân, gia đình và xã hội… Và các tiểu thuyết feuilleton hàng ngày. Trang 1 và 4 là trang ngoài, gồm những tin tức trong nước và quốc tế, những vấn đề thời cuộc nóng bỏng mà dân chúng đang quan tâm. Trang 4 là trang nối tiếp thông tin từ trang 1 và cũng là trang quảng cáo. Nhà in quá nghèo, chủ báo không mua thêm chữ chì nên chữ lúc nào cũng thiếu.
        Cánh thợ sắp chữ đến tòa soạn rất sớm, có người mới 3h sáng đã có mặt rồi - để mót mái những chữ còn sót lại trên bàn “dàn trang”, o bế cho hộc chữ của mình ngon lành để khoảng 5h là “chạy bài” trang nhất. Tờ báo nghèo đến nỗi, tòa soạn và trị sự đóng cửa im ỉm tối ngày. Bài vở trang trong được giao cho chú Tám Rúng - sắp chữ kiêm luôn thư ký tòa soạn. Chỉ trang ngoài là có chủ báo Trần Dạ Từ đến coi, chăm sóc. Bài vở trang ngoài của tờ Báo Đen không có gì đặc sắc, hầu hết đều là của các hãng thông tấn và của các nhóm thông tín viên.
        Trong nghề sắp chữ cho nhật báo nghèo, cảnh “hết chữ” là nỗi lo hàng đầu. Không lo làm sao được khi bài thì còn mà hộc chữ của thợ cạn đáy. Hồi đó, trong tất cả các tờ nhật báo ở Sài Gòn, có lẽ tờ Báo Đen là mắc lỗi chính tả nhiều nhất. Người sửa bản in có sửa lỗi chính tả. Khi in sơ bộ, chủ báo cũng đã xem qua. Nhưng, lỗi vẫn hoàn lỗi, không thể nào khắc phục được. Vì, chữ ở đâu mà thay, những hộc chữ đã trơ đáy hết rồi. Thí dụ như cụm từ: “Chuyện vui buồn quân ngũ”, nhưng vì hết chữ “ũ” nên thợ nhét bừa chữ “ủ” vào, thành “Chuyện vui buồn quân ngủ”…
        Do môi trường làm việc chật chội, ngợp ngụa nên thợ sắp chữ luôn mình trần trùng trục, mồ hôi mồ kê nhễ nhại. Vất vả sớm hôm mà đồng lương thì rẻ mạt. Vậy mà, anh em thợ khi ra khỏi tòa soạn thì quần áo bảnh bao, trên tay người nào cũng có tờ báo biếu, ra vẻ người trí thức - chân mang giày đi bồm bộp, túi áo cài bút máy, áo bỏ vô quần đàng hoàng, có người còn chơi comple bốn túi - ngày ấy người ta gọi là đồ ký giả.
        Ông Cung kể: “Một kỉ niệm trong thời gian tôi sắp chữ cho tờ Báo Đen, đôi khi nhớ lại tôi cười cười một mình. Hồi đó, anh chủ báo Trần Dạ Từ có chiếc xe hơi cổ Traction Avant do hãng Citroen của Pháp chế tạo khoảng năm 1939. Anh đến tòa soạn bằng chiếc xe cổ này. Lần nào nổ máy cũng vất vả, thường thì phải quay bằng tay quay. Có lần, cả đám thợ sắp chữ thay phiên quay, chiếc xe rung lên, nghiêng qua nghiêng lại mắc chứng gì máy vẫn không nổ. Một, hai, ba… chúng tôi hè nhau đẩy, chiếc xe rên lên “khực khực… khực khực…” mệt mỏi, vô vọng. Tới ngã tư đèn đỏ, dừng lại. Đèn xanh, đẩy tiếp. Qua hai ba cái ngã tư mà máy vẫn không nổ… Tới đường Cống Quỳnh thì… nổ. Báo hại, trên đường trở lại, hình ảnh anh thợ sắp chữ ăn mặc như ký giả, phóng viên của chúng tôi biến mất, thay vào đó là đám thợ… quần đùi, mình trần ốm nhom, mồ hôi nhễ nhại, đi ngông nghênh giữa phố phường đông đúc”.
        NGUYỄN HOÀNG
        Báo chí thời VNCH chỉ mùi mẫn, khiêu dâm?
        Báo chí thời VNCH không phải là nền báo chí tốt, nhưng tôi có thể nói rằng nền báo chí đó tốt hơn nền báo chí XHCN ngày nay. Là người từng sống qua hai chế độ, tôi có thể nói một cách khẳng định như thế. Nền báo chí đó không giống như những gì bài báo dưới đây (1) miêu tả. Trong thực tế, báo chí trong thời VNCH phong phú hơn, tự do hơn, và đi trước khá xa nền báo chí XHCN.
        Đọc thêm: 
        bao VNCH
        Một quầy báo của Sài Gòn, thời  trước năm 1975. Nguồn: Trên mạng
        Trước hết, báo chí thời VNCH tự do hơn hơn báo chí thời XHCN. Bây giờ nhìn lại, tôi thấy nền báo chí VNCH có vẻ như mô phỏng theo nền báo chí phương Tây như Mĩ chẳng hạn. Những cái tên lừng danh một thời mà tôi còn nhớ là Trắng Đen, Tin Sáng, Tia Sáng, Đuốc Nhà Nam, Điện Tín, Chính Luận, Tiền Tuyến, Sài Gòn Mới, Tự Do, Ngôn Luận, Công Luận, Sống Thần, Rạng Đông, v.v.
        Tôi có kỉ niệm với Trắng Đen vì hồi đó (còn trung học) tôi đánh bạo viết bài gửi cho báo và … họ đăng. Tôi nhớ đó là bài tôi viết ca ngợi phong cảnh quê hương nhân chuyến đi picnic ở Hà Tiên. Bây giờ đọc lại chắc tức cười lắm, chắc kiểu như “nhập bài, thân bài và kết luận” và chắc nhiều sáo ngữ lắm ☺. Người trẻ tuổi hay có tính khoe chữ mình mới học, và tôi cũng chẳng phải là một ngoại lệ.
        Đặc điểm tuyệt vời nhất của VNCH là tư nhân và các nhóm dân sự không thuộc chính quyền có quyền sáng lập và điều hành báo. Còn thời nay thì chúng ta biết rằng tư nhân không được phép ra báo, và vì thế, báo chí chỉ là tiếng nói của đảng và Nhà nước mà thôi. Cái hay của báo chí VNCH là nó phản ảnh được tiếng nói của người dân đủ quan điểm và thành phần. Chính quyền cũng có báo của họ, và họ cũng tuyên truyền (nhưng không nhồi sọ như ngoài Bắc). Ngay cả những người “thân cộng” (có cảm tình với phía cách mạng) cũng được ra báo. Lại có những nhóm “thứ ba” (tức chẳng theo phe nào) cũng có quyền ra báo. Nhớ bà chủ bút một tờ báo thời đó nói với một kí giả nổi tiếng như sau: “Tôi chỉ đăng bài mà chị bán cá có đọc cũng hiểu. Cậu viết khó hiểu, người bình dân không đọc đâu”.
        Nhưng quan trọng hơn hết là khá tự do về nội dung và thông tin. Thời đó, tôi nghĩ chắc cũng có kiểm duyệt, nhưng họ không làm theo kiểu “cầm tay chỉ việc” hay “xỏ mũi” như ngày nay. Nên nhớ là VNCH không có ban tuyên giáo chỉ đạo ai phải viết gì. Vì phần lớn báo chí là của tư nhân, nên họ cũng chẳng có nhiệm vụ tuyên truyền cho Nhà nước (thật ra, họ chỉ trích Nhà nước nhiều).
        Báo chí thời đó, dù là của chính quyền, chưa bao giờ thần thánh hoá lãnh tụ, chưa bao giờ nịnh lãnh tụ là “vĩ đại”. Ngược lại, thời đó giới báo chí có thể chỉ trích chính quyền thoải mái, thậm chí trêu chọc những người có chức quyền cao nhất như tổng thống Thiệu và các bộ trưởng. Có những cột báo phiếm luận như “Ao thả vịt”, “Thơ đen”, mà tác giả viết rất “ác”, thu hút biết bao độc giả. Họ còn gọi tổng thống là “tông tông”! Có những biếm hoạ về tổng thống Thiệu rất vui. Họ phanh phui đời sống tình ái của ông Thiệu và một cô ca sĩ (mà sau này mới biết là toàn … tào lao). Họ còn đặt “hỗn danh” cho ông Thiệu nữa chứ. Vậy mà ông Thiệu chẳng làm được gì họ.
        Báo chí miền Nam trước 1975 có thể nói là nền báo chí chống tham nhũng. Hầu như báo nào, từ của Nhà nước đến của đoàn thể xã hội và tư nhân, đều có những mục chống tham nhũng. Chống hết năm này sang năm khác. Họ nêu đích danh những ông tướng tá, những quan chức trong chính quyền với những chứng cứ cụ thể, chứ không úp úp mở mở như hiện nay. Thành ra, ngày xưa, những kẻ tham nhũng rất sợ báo chí, còn quan chức tham nhũng ngày nay có vẻ xem thường giới báo chí. Kí giả ngày xưa còn có quyền biểu tình, chứ kí giả ngày nay thì làm sao dám biểu tình.
        Báo chí thời VNCH phong phú hơn thời XHCN. Ngoài những mục thời sự – chính trị – xã hội, báo chí thời đó còn có nhiều mục hấp dẫn khác dành cho mọi giới trong xã hội. Từ truyện dài, văn nghệ, văn hoá, đến phiếm luận, tất tần tật đều có. Tôi nghĩ báo chí miền Nam thời trước 1975, cũng như văn nghệ, đáp ứng được nhu cầu của giới trí thức và bình dân. Có một điều chắc chắn là báo chí thời đó không ngại nói Tàu cộng đích danh, chứ không hèn theo kiểu “tàu lạ”. Khi trận hải chiến giữa VNCH và Tàu xảy ra, báo chí đưa tin rất đều và đầy đủ. Tôi nhớ có một bản tin nói rằng khi phía VNCH đề nghị chính phủ ngoài Bắc lên án Tàu cộng thì phía VNDCCH từ chối.
        Những gì bài báo dưới đây (1) đề cập là có phần đúng. Những bài báo giật gân, những truyện dài kiếm hiệp của Kim Dung, những truyện tình ướt át, v.v. tất cả đều đúng. Tuy nhiên, báo chí thời đó không có những “chuyện ấy” tràn lan như báo chí ngày nay. Còn “khiêu dâm” hay không thì còn tuỳ thuộc vào trình độ văn hoá cảm nhận của cá nhân. Truyện của Lê Xuyên có thời bị xem là “dâm thư”, nhưng bây giờ thì thấy rất bình thường.
        Nhưng như tôi nói đó là sự phong phú của báo chí, và nó đáp ứng nhu cầu của nhiều thành phần xã hội. Nền báo chí VNCH dứt khoát có tự do ngôn luận hơn và phản ảnh tiếng nói của quần chúng hơn nền báo chí XHCN. Điều đó thì không có gì phải bàn cãi. Thật ra, tất cả những gì xấu xa mà tác giả chỉ trích và mỉa mai trong bài (1) cũng đang được nền báo chí XHCN ngày nay bắt chước (dù bắt chước chưa tốt mấy), và điều này giống y chang như là ngửa mặt lên trời phun nước miếng.
        Nghĩ thật buồn cười: một nền báo chí bị xếp hạng tự do 174/180 (2), đứng chung với những nước “đầu trâu mặt ngựa” như Tàu, Bắc Hàn, Somalia, Syria, Turkmenistan. Eritrea, v.v. mà chê bai một nền báo chí tự do hơn mình!Tác giả: GS Nguyễn Văn Tuấn

        No comments:

        Post a Comment