Wednesday, May 17, 2017

Báo chí Sài Gòn thời VNCH(4)

Ca sĩ bốc lửa Mai Lệ Huyền - một nạn nhân điển hình của báo chí Sài Gòn.
Ở Sài Gòn trước năm 1975 có câu nói cửa miệng: “Nhà báo nói láo ăn tiền”. Người Sài Gòn “đúc kết” thành cụm từ không mấy thiện cảm ấy về nghề báo sau khi họ bị báo chí “lừa” mấy cú ngoạn mục. Thực tế, báo giới Sài Gòn ngày xưa, bên cạnh những ký giả có tâm huyết với nghề, cũng có nhiều phóng viên, ký giả “cơ hội”, đám “bồi bút” lưu manh… làm hoen ố nghề báo.
    Miễn là bán được báo
    Khi một tờ báo bị mất dần độc giả, số lượng phát hành giảm là lúc ban trị sự lo lắng cho sự sống còn của tờ báo. Họ liền tổ chức cuộc họp nhằm hối thúc ban biên tập cải tiến lại tờ báo. Tìm đề tài mới mẻ, cuốn hút, nhằm lôi kéo bạn đọc. Rồi in thêm màu cho bắt mắt, khai thác ba cái chuyện vớ vẩn tình, tiền, tù, tội hay tăng cường một hai tiểu thuyết feuilleton loại “cấm trẻ em dưới 16 tuổi”... Nhưng để tăng số lượng độc giả ngay tức thì lại là công việc không dễ dàng chút nào.
    Để vực tờ báo có số phát hành lên nhanh, có lẽ cách tạo "xì-căng-đan" trong giới nghệ sĩ là thích hợp hơn cả. Tờ nhật báo lá cải Trắng Đen đã rất thành công với trò này. Tờ Trắng Đen từng khai thác trò mê tín dị đoan - vụ ông “Quỷ cốc tiên nhân” đoán điềm giải mộng những con số đề huyền bí - rất thành công. Đến đầu năm 1972, tờ báo này lại rơi vào khó khăn, số lượng phát hành giảm thảm hại. Để cứu tờ báo, những người có trách nhiệm quyết giở “độc chiêu” - tung xì-căng-đan trong giới nghệ sĩ nổi tiếng.
    Việc chọn nghệ sĩ nào để đưa lên mặt báo, tạo thành "xì-căng-đan" để thu hút độc giả, được ban biên tập bàn luận rất kĩ trước khi thực hiện. Họ nhất trí không tạo “xì-căng- đan” cho các nam nghệ sĩ. Bởi nam nghệ sĩ hồi đó có bồ bịch lăng nhăng, vợ lớn vợ nhỏ, hay ăn nhậu lỡ quá chén rồi đập lộn cũng không có gì lớn. Về nữ nghệ sĩ, bên sân khấu cải lương có Bạch Tuyết, Thanh Nga, Út Bạch Lan…, bên thoại kịch, điện ảnh có Thẩm Thúy Hằng, Kim Cương…, song tất cả những nghệ sĩ này thường đồng hành cùng tờ báo, từng đi cứu trợ đồng bào bị bão lụt miền Trung, bà con bị lũ lụt ở đồng bằng sông Cửu Long…, nên không thể sử dụng được.
    Sau đó, họ phát hiện, trong giới nữ ca sĩ hồi đó, Mai Lệ Huyền là một hiện tượng nổi cộm trong làng tân nhạc kích động, cuốn hút giới nhà binh và các cô cậu choai choai ở thủ đô hoa lệ Sài Gòn. Cô ca sĩ này là “con mồ côi”, không có người đỡ đầu, nếu cô có thưa kiện tờ báo chắc cũng không đến nỗi nào. Vậy là, Mai Lệ Huyền lọt vào tầm ngắm của ban biên tập.
    Mai Lệ Huyền bước chân vào nghề ca hát từ sân khấu học đường. Cuối thập niên 1960, phong trào nhạc Agogo, Twist tại Sài Gòn bước vào giai đoạn "cao điểm" sau khi nhóm Trịnh Lâm Ngân tung ra ca khúc “Gặp nhau trên phố”. Ca khúc này được Mai Lệ Huyền hát cặp với Hùng Cường, một ngôi sao sáng chói và ăn khách nhất trong làng ca nhạc ở Sài Gòn lúc bấy giờ. Bài hát này được tung ra thị trường với hình bìa thật sexy khiêu gợi của Mai Lệ Huyền, bán đắt như tôm tươi. Kịch bản cho loạt bài “nói láo ăn tiền” được dàn dựng như sau: Vợ một đại úy không quân gửi thư đến tòa soạn, kèm theo tấm ảnh “bốc lửa” của ca sĩ Mai Lệ Huyền, phía sau tấm ảnh có ghi mấy chữ “Thân tặng…”, nhờ báo lên tiếng khuyên cô ca sĩ hát nhạc kích động này đừng theo đuổi chồng chị nữa sau khi chị tình cờ phát hiện trong bóp của chồng có tấm ảnh Mai Lệ Huyền và nổi cơn ghen.
    Một ngày đầu năm 1972, trên trang nhất báo Trắng Đen chạy tít lớn “Một xì-căng-đan làm chấn động giới tân nhạc, điện ảnh - Mai Lệ Huyền giựt chồng”. Loạt bài “giựt gân” này được chia ra nhiều kỳ. Số báo đầu tiên được giật cái tít thật hoành tráng: Ca sĩ Mai Lệ Huyền giựt chồng, vợ một đại úy không quân đang lên tiếng kêu cứu. Rồi bài thứ hai, thứ ba, thứ tư... viết về những tháng ngày khi cô còn là học sinh ở Trường Trung học Bình Long. Khai thác đời tư về những cuộc tình của Mai Lệ Huyền trước khi lấy nhạc sĩ Trần Trịnh như thế nào, “cặp bồ” với ca sĩ Hùng Cường ra sao, ai lăngxê cô ca sĩ này trở thành danh ca…?
    Sau các số báo trên, Mai Lệ Huyền đến tòa soạn báo kêu oan. Phóng viên ảnh chuẩn bị sẵn sàng để có những bức ảnh mới nhất của Mai Lệ Huyền đăng lên báo. Số tiếp theo, báo đăng những lời kêu oan và các bức ảnh mới chụp được của cô ca sĩ “tội nghiệp” này. Kết thúc loạt bài, vợ của viên đại úy không quân đến tòa soạn đính chính về nguồn tin ca sĩ Mai Lệ Huyền giựt chồng. Thì ra, trong một lần Mai Lệ Huyền đến đơn vị anh chồng trình diễn ca nhạc, anh ta có xin một tấm hình. Do ái mộ cô ca sĩ “ướt át” này, anh chồng để tấm ảnh trong bóp cho đỡ buồn nên xảy ra sự việc đáng tiếc. Khi hiểu ra sự thật, người vợ viết thư đến tòa soạn, nhờ báo gửi lời xin lỗi đến cô ca sĩ Mai Lệ Huyền.
    Ngay bài đầu tiên, Trắng Đen đã làm “cháy” các sạp báo. Lực lượng bán báo dạo rao vang “Báo đây! Báo đây! Mai Lệ Huyền giựt chồng đây!…”. Những số báo liên tiếp sau đó, ban trị sự cho xuất bản tăng gấp 5-7 lần số báo và số nào cũng hết. Báo giới Sài Gòn như lên cơn sốt… Các tạp chí, tuần báo khác cũng hùa nhau nhau đăng lại những bài của báo Trắng Đen. Họ cho in hình Mai Lệ Huyền lên trang bìa của những tuần báo, tạp chí ấy. Có điều thật thú vị, chính ca sĩ Mai Lệ Huyền cũng không ngờ, sau vụ “giựt chồng” này, mọi người biết đến cô nhiều hơn, tiếng tăm cô vang xa hơn…

    Muôn mặt báo chí Sài Gòn trước năm 1975: “Nhà báo nói láo ăn tiền“ ảnh 1
    Một tờ báo Sài Gòn trước năm 1975. 
    Muôn mặt “ký giả”
    Ngày ấy, Bộ Dân vận thông tin chiêu hồi (DVTTCH) của chế độ cũ ra thông báo: Ai có “Thẻ hành nghề ký giả” do Liên Bộ nội vụ - DVTTCH cấp mới được công nhận là người viết báo và làm báo chuyên nghiệp. Để có “Thẻ hành nghề ký giả” này, những phóng viên, ký giả được chính các báo mà mình đang công tác gởi hồ sơ lên Tổng nha Cảnh sát. Từ đây, cơ quan này sẽ điều tra lý lịch, những người có bà con, thân nhân với phía “bên kia” - coi như hoàn toàn không có cơ hội được cấp loại thẻ đặc biệt này. Những người có “lý lịch tốt”, được Tổng Nha cảnh sát chuyển hồ sơ về Liên Bộ nội vụ - DVTTCH làm thủ tục cấp thẻ. Phóng viên, ký giả có thẻ loại này được đến những nơi quan trọng như: Chỗ hội họp của quan chức chính quyền, khu quân sự, hạ viện, thượng viện, các bộ, sở... để lấy tin tức.
    Khi đó, làng báo Sài Gòn phân chia ra hai giới ký giả: Một của các tờ nhật báo, tuần báo, tuần san do các cơ quan chính quyền chế độ cũ quản lý. Lớp phóng viên, ký giả này thường có người đỡ đầu, là người của các phe phái thân chính phủ. Những ký giả này được cấp thẻ đàng hoàng, gọi là “ký giả nhà nước”. Họ làm việc cho các tờ nhật báo của chính quyền Sài Gòn thời đó: Tờ Tiền Tuyến của Tổng cục chiến tranh chính trị, tờ Dân Chủ của Nguyễn Văn Thiệu, tờ Quật Cường của Trung ương tình báo. Mấy tờ báo này, ít người dân Sài Gòn biết đến, không thấy bày bán ở những sạp bán báo. Lớp ký giả này thường mặc quần áo bảnh bao, chơi complê ký giả bốn túi đàng hoàng, đi xe gắn máy láng coóng, trên môi phì phèo thuốc lá đắt tiền. Họ thường đến câu lạc bộ báo chí, quán càphê tán gẫu… Họ không có nhiều việc để làm, bởi tin tức của những tờ báo chính quyền thường mua từ các hãng thông tấn AP, UPI, Reuteur…
    Còn một dạng ký giả nữa là loại thẻ do tờ báo cộng tác cấp. Thẻ loại này, có để cho… vui, không có giá trị gì lớn. Phóng viên, ký giả dạng này thì nhiều vô số kể. Mấy tay “ký giả nhà nước”, coi đám ký giả này không ra gì, miệt thị đám ký giả “không cha” này ra mặt, họ gọi mấy anh ký giả mồ côi, không nơi nương tựa là “ký giả càphê”. “Ký giả càphê”, ý nói những phóng viên thất nghiệp, không tên tuổi, không có người đỡ đầu thường đến các công ty, xí nghiệp, trường học, cửa hàng… để xin quảng cáo hay xin viết bài. Sau đó đến các tờ nhật báo, tìm gặp những người phụ trách trang chuyên đề, xin được đăng giúp, để kiếm sống qua ngày, bài đăng không cần nhuận bút. Và sau khi báo đã đăng xong, người ký giả cầm tờ báo đến nơi xin viết bài để xin chút đỉnh tiền “uống càphê”, ít nhiều gì cũng được.
    Ngoài ra, còn loại “ký giả bồi bút” là người có chút ít tiếng tăm, đang có công ăn việc làm đàng hoàng. Đây là loại ký giả có ô dù, có gốc rễ hẳn hoi, có khi còn đứng chân trong ban biên tập của một tờ báo lớn. Họ sẵn sàng bẻ cong ngòi bút, bênh vực cho một bên, dù biết đó là sai nhưng họ sẵn sàng giúp nếu được trả tiền sòng phẳng, đôi khi cả lương tháng. Trong làng báo ngày xưa, những người cầm bút như thế không nhiều nhưng cũng đủ để cho dân chúng mất lòng tin. Hồi đó, nói đến đám “ký giả bồi bút” là người ta nghĩ ngay đến bọn lưu manh đâm thuê chém mướn bằng ngòi bút, đám ký giả này được trả công bằng chiếc phong bì dày cộm và những bữa tiệc sang trọng ở nhà hàng, nốc rượu tây như uống nước lã.
    Sau ngày miền Nam giải phóng, phần lớn ký giả “đối lập” chính quyền Sài Gòn cũ đều tiếp tục nghề báo dưới chế độ mới, điển hình nhất là nhà báo Chánh Trinh. Nghề nghiệp của họ đã thật sự thăng hoa trong môi trường báo chí cách mạng. Những nhà báo “bồi bút”, những nhà báo “nói láo ăn tiền” không còn đất để sống.
    Bộ Thông tin - Chiêu hồi của chính quyền Sài Gòn có một qui định bắt buộc báo chí thời đó phải tuân thủ: Không loan tin có hại cho chế độ Việt Nam Cộng hòa, có lợi cho Việt Cộng. Vì thế, tất cả những tin tức có hại cho “an ninh quốc gia” đều bị bóp nghẹt. Thế nhưng, những người làm báo chân chính thời bấy giờ bất chấp hiểm nguy, chống đối chính quyền, đứng về phía nhân dân, đã đưa ra ánh sáng những sự thật bị bưng bít.
    Dân thường ở Mỹ Lai bị lính Mỹ thảm sát.
    Phơi bày sự thật
    Tết Mậu Thân 1968, quân đội Mỹ bị tấn công trên hầu hết trên các chiến trường, kể cả những nơi được cho là an ninh nhất như tòa Đại sứ Mỹ ở Sài Gòn, căn cứ Long Bình (Biên Hòa)… Cay cú, lính Mỹ mở những cuộc hành quân quy mô, bắn giết vô tội vạ, trong đó vụ thảm sát Mỹ Lai là kinh hoàng nhất. Mỹ Lai là một ngôi làng nhỏ thuộc huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi.
    Vụ giết dân thường thảm khốc xảy ra ngày 16.3.1968, binh lính Mỹ xả súng giết những người già cả, đàn bà, trẻ con mà họ nhìn thấy, 504 dân thường đã thiệt mạng. Chính quyền Sài Gòn đã cố tình che đậy hành vi man rợ của quân đội Mỹ. Để rồi, chính tờ Điện Tín - một tờ báo đối lập - đã dám phanh phui ra sự thật. Vụ thảm sát kinh hoàng này đã làm nhân dân nước Mỹ và những người yêu chuộng hòa bình trên thế giới phẫn nộ.
    Sau ngày tang thương ở Mỹ Lai, hầu hết những người sống sót đều bỏ làng ra đi. Họ trôi dạt từ Quảng Ngãi vào Huế, vất vưởng qua các tỉnh thành để xuôi về Nam. Trong số những người ly hương này có một nhóm người đã đến Sài Gòn, sống chui rúc ở một khu tồi tàn thuộc vùng Tân Định. Không nghề nghiệp, không người thân, có người đi ăn xin. Có người trong số họ đã đến tòa soạn báo Điện Tín kêu cứu, nhờ báo đưa ra sự thật về vụ thảm sát ở Mỹ Lai. Phóng viên Trần Trọng Thức đã đến tìm gặp những người chạy loạn đang sống vất vưởng ở khu ổ chuột Tân Định để điều tra và đưa lên mặt báo Điện Tín vụ thảm sát này. Để lách chế độ kiểm duyệt, nếu Bộ Thông tin - Chiêu hồi phát hiện, báo bị tịch thu trước khi ra sạp thì vụ Mỹ Lai không đến được với độc giả, nên mẩu tin chỉ có khoảng 300 chữ. Dù vậy, bản tin đã làm sôi dư luận.
    Dưới sức ép của dư luận, Quốc hội Sài Gòn buộc phải tiến hành điều tra, gửi một phái đoàn do nghị sĩ Trần Văn Đôn dẫn đầu đi Quảng Ngãi. Với tư cách phóng viên Việt Tấn Xã, nhà báo Trần Trọng Thức tháp tùng phái đoàn và viết bài cho Điện Tín dưới một bút danh khác. Sau đó, một hãng tin Mỹ trích đăng lại, làm thổi bùng vụ tàn sát này tại nước Mỹ. Từ đây, vụ thảm sát man rợ đã được đưa ra trước Quốc hội Mỹ.
    Quân đội Mỹ đã cố che đậy vụ việc trong hơn một năm rưỡi, cho đến khi nhà báo Seymour Hersh làm bài phóng sự điều tra, lúc ấy cả thế giới mới biết sự thật. Mùa thu năm 1969, hàng triệu người Mỹ từ bờ Tây sang bờ Đông, trong đó có 250.000 người ở thủ đô Washington, đã tổ chức những cuộc tuần hành lớn để phản đối chiến tranh.
    Cút bắt với chính quyền
    Những tờ báo đối lập ngày xưa không coi “Tổng thống VNCH” ra gì, họ nhạo báng, bỡn cợt ra mặt. Có tờ gọi Nguyễn Văn Thiệu là “Sáu Thẹo”, “Tổng thống Thẹo”. Hồi đó, khi ra ứng cử lần hai, những tấm áp phích liên danh Dân chủ của Nguyễn Văn Thiệu dán ngoài đường bị sinh viên học sinh sửa lại là Dân chửi.
    Thậm chí, họa sĩ Ớt (tức nhà báo Huỳnh Bá Thành) nhân sự kiện Tổng thống Hoa Kỳ Nixon từ chức bởi vụ xì-căng-đan Watergate, có vẽ một bức tranh đăng trên báo Điện Tín làm chấn động Sài Gòn - Tổng thống Nixon nằm trong cỗ quan tài không đậy nắp thò tay ra ngoài kéo “chiến hữu” (Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu) vào nằm chung cho… có trước có sau.
    Những năm đầu thập niên 1970 là giai đoạn sôi động nhất của những tờ nhật báo đối lập chống chính quyền Sài Gòn. Chính quyền Sài Gòn càng ra sức đóng cửa những tờ báo đối lập, bắt bớ những người làm báo yêu chuộng hòa bình, hầu bưng bít thông tin để củng cố chế độ có nguy cơ rệu rã, thì những người làm báo càng chống đối công khai, quyết liệt. Cảnh sát bao vây tòa soạn, tịch thu báo cửa trước, họ tuồn báo ra cửa sau. Có tờ một tuần bị đình bản 3 lần. Chủ báo hầu tòa như cơm bữa. Chính quyền đóng cửa tờ này thì họ dồn qua tờ khác.
    Ông Lý Quý Chung - một dân biểu Hạ nghị viện Sài Gòn, đồng thời là một nhà báo đối lập, sau khi tờ nhật báo Tiếng nói Dân tộc do ông làm chủ nhiệm kiêm chủ bút bị chính quyền đóng cửa vào cuối năm 1969 - đã cùng những ký giả tên tuổi kéo qua tờ Điện Tín của nghị sĩ Thượng nghị viện Sài Gòn Hồng Sơn Đông. Tờ báo liên tục bị Bộ Thông tin - Chiêu hồi ra lệnh tịch thu.
    Có tuần, tờ Điện Tín phát hành lậu đến 3 ngày, có nghĩa là dù số báo được lệnh của Bộ Thông tin - Chiêu hồi cấm phát hành nhưng vẫn chuyền báo qua nóc nhà kề bên và tuồn báo ra phía sau tòa soạn để bán ra ngoài. Chuyện gì đến rồi cũng đến, tòa soạn báo Điện Tín bị bọn “du đãng” phá hoại nên phải tự đình bản.
    Tháng 2.1972, tờ Điện Tín xuất bản trở lại cùng với êkíp của tờ Tin Sáng. Trước đó, tờ Tin Sáng (một tờ báo đối lập) phải đóng cửa do chủ nhiệm Ngô Công Đức phải đi tị nạn ở Pháp. Dân biểu Hồ Ngọc Nhuận - Giám đốc chính trị tờ Tin Sáng - chuyển sang làm chủ bút tờ Điện Tín. Cùng chủ biên tờ Điện Tín ở giai đoạn này còn có Lý Chánh Trung, cựu dân biểu Dương Văn Ba. Họa sĩ Ớt phụ trách phần trình bày.
    Người điều khiển thật sự tờ Điện Tín là Dương Văn Ba. Ban đầu, ông Ba làm việc trực tiếp tại tòa soạn, nhưng sau khi bị thất cử ở nhiệm kỳ dân biểu kế tiếp và chống lại lệnh gọi đi lính, ông bị truy nã phải lẩn trốn trong Dinh Hoa Lan, tư dinh của tướng Dương Văn Minh. Từ đây, ông vẫn phụ trách tòa soạn cho tờ Điện Tín. Mỗi ngày, ông biên tập và chuẩn bị đủ bài vở cho số báo rồi chuyển ra tòa soạn cho Huỳnh Bá Thành thực hiện. Người làm liên lạc giữa anh Ba và tòa soạn Điện Tín hàng ngày là Triệu Bình.
    Sinh viên xuống đường chống chiến tranh.
    “Giỡn mặt” với nhà nước
    Một trong các hình thức đấu tranh đa dạng của người Sài Gòn chống chế độ Thiệu trước 1975 là xuống đường làm “báo nói”. Hai người có sáng kiến về hình thức đấu tranh này là dân biểu Hồ Ngọc Nhuận và linh mục Nguyễn Ngọc Lan. Thời điểm diễn ra các cuộc “báo nói” là sau khi Nguyễn Văn Thiệu tái cử tổng thống trong cuộc bầu cử độc diễn. Đầu tiên là chuyến đi làm “báo nói” ở Mỹ Tho và Cần Thơ. Đó là một chuyến đi đầy sôi động, một cuộc “cút bắt” với chính quyền thời ấy. Hôm ấy, đoàn gồm có dân biểu Lý Quý Chung, dân biểu Kiều Mộng Thu, nhà thơ - nhà báo Cung Văn, nhà báo Mỹ John Spragens, dân biểu Hồ Ngọc Nhuận…
    Sáng sớm, đoàn hẹn nhau ở một địa điểm bí mật để xuất phát, rồi trực chỉ miền Tây. Chiếc xe đến Mỹ Tho vào lúc 9h sáng. Mọi người nhảy xuống xe trong chớp mắt. Máy phát điện hoạt động cấp kỳ, loa phóng thanh hướng về phía chợ. Lý Quý Chung là người xung phong “phát thanh” trước, đồng bào tụ lại càng lúc càng đông. Ông Chung nói về những tin tức trong nước và thế giới bị chính quyền Thiệu bưng bít và sau đó là bình luận về tình hình hội đàm Paris, kêu gọi đồng bào cùng tham gia đấu tranh cho hòa bình, còn các thành viên khác trong đoàn làm công việc phát truyền đơn cho đồng bào.
    Cảnh sát Mỹ Tho quá bất ngờ không kịp phản ứng, hơn 10 phút sau mới rầm rộ kéo đến. Hôm đó Chủ nhật, Trưởng ty Cảnh sát Mỹ Tho là trung tá Đỗ Kiến Nâu về Sài Gòn thăm gia đình nên cảnh sát Mỹ Tho như rắn không đầu, chẳng biết phải đối phó ra sao với nhóm “báo nói” gồm cả dân biểu, linh mục. Có nên mạnh tay đàn áp không? Hay chỉ cần cô lập họ? Cuối cùng, cảnh sát chọn giải pháp thứ hai.
    Khi cảnh sát còn đang chờ chỉ thị từ cấp trên thì đoàn “báo nói” đã nhảy lên xe rút về hướng ngã ba Trung Lương. Trên đường đi lại tiếp tục rải truyền đơn. Nhưng đến ngã ba Trung Lương, ôtô không chạy thẳng về Sài Gòn mà rẽ trái, tiếp tục đi xuống Cần Thơ. Tại Cần Thơ, điều kiện không cho phép đoàn “báo nói” hoạt động. Sáng hôm sau, xe quay về Sài Gòn trong cảnh “đưa tiễn” rầm rộ của cảnh sát. Xe cảnh sát chạy trước, chạy sau hú còi inh ỏi. Họ đưa đoàn đến phà Cần Thơ, thở phào nhẹ nhõm khi thấy ôtô của các nhà báo đã lên phà. Cảnh sát Cần Thơ coi như xong phận sự vì bên kia bờ thuộc trách nhiệm của cảnh sát tỉnh Vĩnh Long.
    Quang cảnh trên phà thật nhộn nhịp với mấy trăm con người là hành khách của 4 chiếc xe đò và 2 xe du lịch, chưa kể chiếc của đoàn nhà báo. Nhìn số người đông đúc ấy, những người làm báo nói trong đầu lóe lên một ý nghĩ: Chỗ này là một nơi lý tưởng để làm việc. Thế là máy phát điện lại nổ trước sự ngơ ngác của hành khách trên phà. Lý Quý Chung cầm ngay micrô, nhảy lên đứng trên đầu xe và bắt đầu nói chuyện với bà con về tình hình đất nước, về hội đàm Paris… Các thành viên khác trong đoàn lại phát truyền đơn bươm bướm. Cảnh sát trên bờ Cần Thơ biết được chuyện gì xảy ra trên phà thì đã quá trễ để ra lệnh phà quay trở lại. Khi phà sắp đến bờ bên kia, các nhà báo dẹp tất cả đồ nghề.
    Rời khỏi phà, các nhà báo lại được cảnh sát Vĩnh Long “đón” rất long trọng. Lại cái cảnh xe cảnh sát chạy trước, chạy sau xe nhà báo, còi hụ inh ỏi. Đến phà Mỹ Thuận, các xe cảnh sát lại dừng ở bờ bên này, cũng coi như mình đã làm xong phận sự. Phà rời bến được một khoảng cách an toàn, đoàn “báo nói” lại tiếp tục hoạt động. Kiểu xuống đường làm “báo nói” - như chuyến đi Mỹ Tho và Cần Thơ ấy - sau đó được mang tận ra chợ Đông Ba, Huế để “trình diễn” và luôn được quần chúng hưởng ứng nhiệt tình.
    Đoàn biểu tình trong "Ngày ký giả ăn mày".
    Khi Sắc luật 007/72 của chính quyền Sài Gòn được áp dụng, nhiều tờ báo bị đóng cửa, chủ báo bị phạt, bị tịch thu tiền ký quỹ, một số người còn bị tù. Có khoảng 70% người làm báo bị thất nghiệp. Để phản đối sắc luật nói trên, những người làm báo ở Sài Gòn đã tổ chức một cuộc biểu tình đại quy mô, lấy tên là “Ngày ký giả đi ăn mày”.
      Ngày ký giả đi ăn mày
      Về mặt danh nghĩa, “Ngày ký giả đi mày” do 4 tổ chức báo chí (Hội Chủ báo, Nghiệp đoàn Ký giả Nam Việt, Nghiệp đoàn Ký giả Việt Nam và Hội Ái hữu ký giả) ở Sài Gòn tổ chức. Nhưng sự thật, đây là cuộc xuống đường của hầu hết mọi thành phần chống chiến tranh, yêu chuộng hòa bình. Đây là cuộc xuống đường lớn nhất và được quần chúng công khai ủng hộ đông nhất trong thời kỳ chống Mỹ và chính quyền Thiệu.
      Tham gia cuộc xuống đường, ngoài chủ tịch Nghiệp đoàn kỳ giả Nam Việt Nguyễn Kiên Giang, các nhà báo lão thành như Nam Đình, Trần Tấn Quốc, dân biểu Hồ Ngọc Nhuận, Lý Quý Chung, Nguyễn Hữu Chung, Kiều Mộng Thu…, còn có nhà văn - nhà báo Tô Nguyệt Đình, nhà báo Văn Mại, Quốc Phượng, nhà thơ - nhà báo Kiên Giang Hà Huy Hà, nhà văn Sơn Nam, ni sư Huỳnh Liên, luật sư Ngô Bá Thành… Ban tổ chức công khai thông báo với chính quyền Sài Gòn và đăng báo kêu gọi giới làm báo tham gia cuộc xuống đường vào ngày 10.10.1974.
      Sáng sớm ngày 10.10.1974, Ban tổ chức “Ngày ký giả đi ăn mày” cùng đông đảo nhân sĩ trí thức đã có mặt tại trụ sở Nghiệp đoàn Ký giả Nam Việt (số 15, đường Lê Lợi - đối diện với trụ sở Hạ nghị viện), chuẩn bị cho cuộc xuống đường. Do đã được thông báo trước, từ sáng sớm, chính quyền Sài Gòn đưa các lực lượng chuyên can thiệp và giải tán đám đông, giải tán biểu tình, kéo đến thị uy trước trụ sở Nghiệp đoàn Ký giả Nam Việt.
      Lực lượng chống biểu tình được trang bị tận răng: Khiên mây, gậy bịt da cầm tay, mặt nạ chống hơi cay, xe vòi rồng… Nhiều đội cảnh sát dã chiến vũ trang dữ dằn cũng kéo đến để răn đe, thị uy. Cảnh sát áo trắng dày đặc, câu tay vào nhau ba lớp, vây chặt trước trụ sở Nghiệp đoàn ký giả Nam Việt, biểu lộ quyết tâm ngăn chặn cuộc xuống đường. Tiếng tu huýt, tiếng còi hụ của xe cảnh sát đinh tai, nhức óc, những tiếng gọi nhau trong máy bộ đàm liên tục… gây một không khí cực kỳ căng thẳng trước giờ G.
      Bất chấp tất cả, mọi việc vẫn tiến hành theo kế hoạch. Những nhà báo, tay cầm gậy trúc, vai mang bị đệm (giống như ăn mày), đầu đội nón lá, áo quần xộc xệch, chỉ khác người ăn mày ở hai điểm: Tất cả đều có khẩu hiệu đấu tranh và đi đứng có hàng ngũ chặt chẽ, có sự chỉ đạo bằng máy phóng thanh cầm tay của ban tổ chức. Đúng 8h sáng, ông Nguyễn Kiên Giang thay mặt ban tổ chức đọc bản tuyên bố "Báo chí phải đi ăn mày vì Sắc luật 007 của Tổng thống Thiệu". Nhiều tiếng hò reo hưởng ứng vang dội của đoàn người xuống đường.
      Cả Sài Gòn theo dõi cuộc biểu tình
      Sau cuộc thương lượng của ban tổ chức “Ngày ký giả đi ăn mày” với viên chỉ huy cảnh sát bất thành, cảnh sát càng siết chặt vòng vây. Nhưng khi lệnh xuất phát đã ban ra, cả khối người tìm mọi cách phá bung hàng rào cảnh sát. Bên ngoài, một lực lượng quần chúng đông đảo khác đã có mặt, họ là những nhân sĩ trí thức, các tầng lớp lao động, sinh viên, học sinh… tràn vào để bắt liên lạc với đoàn người bên trong, xô đẩy quyết liệt với cảnh sát.
      Vòng vây cảnh sát tuy câu tay nhau làm ba vòng nhưng vẫn không chịu nổi sức ép mạnh mẽ từ trong bung ra và từ ngoài ép vào. Các dân biểu Hồ Ngọc Nhuận, Kiều Mộng Thu… xé hàng rào cảnh sát, vui vẻ bắt tay với đoàn người từ ngoài tràn vào. Vòng vây cảnh sát bị đứt tung từng mảng, nhưng họ lại bố trí hàng rào khác chặn lại. Trước quảng trường bao quanh trụ sở Nghiệp đoàn Ký giả Nam Việt, cảnh sát tổ chức một hàng rào mạnh chặn ngang đường Lê Lợi, nhất quyết không cho đoàn biểu tình tiến tới.
      Nhưng không hàng rào cảnh sát nào chặn nổi một lực lượng hùng hậu kéo nhau đi trong tiếng hò reo nhưng rất trật tự. Đi đầu đoàn biểu tình là ban tổ chức với biểu ngữ: "10.10.1974, ngày báo chí đi ăn mày". Bên cạnh còn có các khẩu hiệu khác: "Yêu cầu Tổng thống Thiệu từ chức", "Tự do ngôn luận, tự do báo chí", "Đả đảo Luật 007", "Luật 007 làm báo chí phải đi ăn mày"…
      Cả một biển người như thác lũ tràn về công trường Quách Thị Trang. Cả trăm máy chụp hình, quay phim của phóng viên, nhiếp ảnh trong và ngoài nước làm việc không ngừng. Đồng bào các giới đứng dài theo hai bên đại lộ Lê Lợi chờ đoàn ký giả ăn mày kéo đến để "bố thí" và nhập cuộc luôn. Đoàn người mỗi lúc càng dài thêm, đông thêm. Tốp đầu đã đến công trường Quách Thị Trang mà đuôi vẫn còn ở đường Nguyễn Huệ.
      Thật khó ước lượng được chính xác số người tham gia xuống đường. Cũng không thể thống kê hết được thành phần các đoàn thể, cá nhân cùng tham gia xuống đường với giới báo chí, tính đến cả vạn người. Chỉ có thể kể một số đoàn thể như: Ủy ban Bảo vệ văn hóa dân tộc, Phong trào Bảo vệ nhân phẩm và quyền lợi phụ nữ, các đoàn thể trong công nhân, lao động, trong sinh viên, học sinh, chị em tiểu thương các chợ, đồng bào theo đạo Phật, đạo Thiên Chúa…
      Trọn buổi sáng 10.10.1974, đoàn biểu tình thật sự làm chủ con đường Lê Lợi và cuộc xuống đường đúng theo lộ trình đã dự kiến, tập kết trước quảng trường Hạ nghị viện, họp míttinh hô khẩu hiệu, đốt tượng trưng Sắc luật 007 về báo chí trước sự hò reo của những người cầm bút và đồng bào tham gia.
      Thẳng tay đàn áp
      Một điều rất đáng công phẫn là cảnh sát đã ra tay đàn áp, đánh trọng thương nhiều nữ tu do ni sư Huỳnh Liên hướng dẫn để cùng tham gia với kí giả. Họ đã bị cảnh sát ngăn chặn ngay từ sáng sớm tại ngã sáu Sài Gòn và bị đánh đập dã man, phải đưa vào cấp cứu tại Bệnh viện Sài Gòn. Chiều hôm ấy, ban tổ chức cử đại diện vào bệnh viện để thăm viếng, cảm ơn và tặng quà.
      Càng phẫn nộ hơn nữa khi đoàn biểu tình đã giải tán, lúc này chỉ còn ban tổ chức trở lại trụ sở Nghiệp đoàn Ký giả Nam Việt thì một sự cố không ngờ đã xảy ra: Lực lượng cảnh sát đã chuẩn bị một cuộc đàn áp không nương tay đối với ban tổ chức. Giám đốc Cảnh sát Đô thành Trang Sĩ Tấn là người trực tiếp chỉ huy cuộc đàn áp này. Chiều hôm đó, cảnh sát tập trung một lực lượng hùng hậu, từ phía chợ Bến Thành ào tới trụ sở Hạ nghị viện và trụ sở Nghiệp đoàn Ký giả Nam Việt. Hàng rào của các dân biểu, kí giả mới lập ra bị xé toạc bởi một trận mưa dùi cui.
      Nhiều người bị đánh rất đau. Nặng nhất là dân biểu - bác sĩ Đinh Xuân Dũng. Sau khi bị đánh, ông Dũng bị cảnh sát túm lấy, ném lên xe và chở đi mất. Các nhà báo nhanh chóng trao đổi với nhau.
      Ông Hồ Ngọc Nhuận đề nghị, nếu bác sĩ Đinh Xuân Dũng không được trả về trước khi trời sáng thì các nhà báo sẽ mở đợt tấn công mới dữ dội hơn. Tất cả tán thành. Chiếc xe hơi LaDalat được chất đầy vỏ xe cũ và mấy can xăng. Nếu bị tấn công, ông Nhuận sẽ lái xe phóng vào sân Hạ nghị viện, rồi sẽ tính tiếp… Chuẩn bị xong đâu đấy thì có một chiếc xe jeep cảnh sát chạy tới trước trụ sở. Từ trên xe, bác sĩ Đinh Xuân Dũng bị ném xuống.
      Bác sĩ Dũng được bí mật đưa vào Bệnh viện Sùng Chính rồi từ đó được đưa trở lại Hạ nghị viện bằng xe cứu thương. Và giai đoạn tiếp theo của kế hoạch là, khiêng chiếc băng ca có bác sĩ Dũng nằm trên đó đến Tòa án Sài Gòn trên đường Công Lý (nay là Nam Kỳ Khởi Nghĩa) để đòi công lý. Khi đoàn biểu tình di chuyển ngang qua bùng binh Nguyễn Huệ, thẳng xuống đường Lê Lợi, cảnh sát dàn hai bên đường với đầy đủ binh khí chống biểu tình, nào súng phóng lựu đạn cay, lựu đạn ói, khiên, gậy…
      Khi đoàn biểu tình sắp sửa đến ngã tư Lê Lợi - Công Lý thì lực lượng cảnh sát mới can thiệp quyết liệt. Đoàn biểu tình bị tấn công từ mọi phía. Lựu đạn cay, lựu đạn ói, gậy gộc… ập vào đoàn biểu tình. Cảnh sát kéo những cuộn kẽm gai “concertina” ra, đầu tiên là rào quanh đoàn người biểu tình để ngăn chặn di chuyển. Rồi vòng rào “concertina” mỗi lúc một siết hẹp lại như kéo lưới bắt cá trong đìa. Cuộc xuống đường với ý định đưa chiếc băng ca trên đó có bác sĩ Dũng đến tòa án đã bị hàng rào kẽm gai “concertina” chặn lại. Cuối cùng, đoàn biểu tình không đến được mục tiêu, phải trở lại Hạ nghị viện.
      Vào thời gian đó, cả hai đài Tiếng nói Hoa Kỳ và đài BBC đều nhìn nhận, đây là "cuộc biểu tình lớn nhất kể từ 3 năm qua" của báo giới Sài Gòn. Uy tín của chính quyền Nguyễn Văn Thiệu càng bị suy giảm nặng nề. Tuy đoàn nhà báo xuống đường đi ăn mày chỉ là một hành động của báo giới, nhưng nó như điềm báo trước cho chính quyền Nguyễn Văn Thiệu về ngày sụp đổ đã gần kề. NGUYỄN HOÀNG
      Sự lũng đoạn của cộng Sản đối với một số báo chí miền Nam từ 1954-1975 
      Tại toà soạn Bách Khoa (từ trái): Lê Thanh Thái, Lê Ngộ Châu, Thu Thuỷ, Nguyễn Hiến Lê, Vũ Hạnh Nguồn: Nguyễn Hiến Lê Cuộc Đời & Tác Phẩm của Châu Hải Kỳ, tr.60.Sự lũng đoạn của cộng Sản đối với một số báo chí miền Nam từ 1954-1975
      Báo chí miền Nam trước 1954
      Báo chí là một trong những công tác địch vận mà người cộng sản dùng để chi phối, lũng đoạn, gây hoang mang, khích động khi cần. Trước 1954, tại Sàigòn có hai tờ báo nổi tiếng là Thần Chung do ông Nam Đình làm chủ nhiệm và tờ Tiếng Chuông của ông Đinh Văn Khai. Vậy mà cả hai tờ đều có sự chi phối của cộng sản gián tiếp hay trực tiếp qua những người như Trần Bạch Đằng, Huỳnh Tấn Phát, Nguyễn Văn Linh, Mai Văn Bộ…
      Tờ Thần Chung do ký giả lão thành Nguyễn Kỳ Nam làm chủ nhiệm. Nếu nói về tay nghề thì tôi nghĩ khó ai hơn ông được. Tài liệu ông nhiều vô kể, cả một thư viện sách, giao du quen biết rộng trong chính giới Việt Nam, Pháp, Nhật. Tôi biết ông qua cuốn Hồi ký 1925-1964. Trong tập Hồi ký, ông giống như một số trí thức tiến bộ miền Nam, ông theo đệ tứ hơn đệ tam với các ông Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm và ông thù ghét cay đắng nhóm đệ tam như Trần Văn Giàu, Dương Bạch Mai, Nguyễn Văn Tạo, Nguyễn Văn Trấn, Hạ Bá Cang (tức Hoàng Quốc Việt). Sau này, khi Nguyễn Văn Hinh phải rời khỏi VN sang Pháp, ông đã lưu vong theo Nguyễn Văn Hinh. Khi chế độ đệ nhất Cộng hòa sụp đổ ông trở về làm báo trở lại.
      Khi ông Diệm về nước nắm chính quyền, tờ Thần Chung bị đóng cửa trong suốt 9 năm. Sau 1963, chính phủ quân nhân cho phép tục bản. Giấy phép vừa ký xong, đọc hồ sơ lý lịch Nguyễn Kỳ Nam, một lần nữa, chính quyền quân nhân vừa ký xong giấy phép lại rút.
      Riêng tờ tiếng Chuông của ông Đinh Văn Khai, có ai nghĩ là do cộng sản đã gài được người vào tờ báo? Vậy mà Nguyễn Văn Hiếu, tức Khải Minh là Bí thư ban Trí vận thành ủy (1949-1957) đã “nằm vùng” tại tờ Tiếng Chuông từ trước 1954.
      Cái hiểm họa cộng sản như thế lúc nào cũng cần phải canh chừng. Bài viết này giúp độc giả nhìn cho rõ sự xâm nhập của cộng sản trong làng báo chí như thế nào?
      Sau 1954, một số ký giả, nhà văn lần lượt quay trở về thành phố
      Một số ký giả ở ngoài khu kháng chiến, một số ra “bưng” vì lý tưởng chống Pháp. Sau 1954, nửa nước độc lập, họ đã quay trở về đời sống bình thường để làm ăn sinh sống. Giấc mộng tuổi trẻ trò Trần Văn Ơn tạm gác lại một bên. (Thật ra, trò Trần Văn Ơn, học Petrus kỳ, mới học tới lớp nhất, nghe các anh lớn bảo đi biểu tình thì đi, chưa biết gì. Chẳng may bị Tây bắn chết. Bỗng chốc anh trở thành biểu tượng anh hùng của giới trẻ.)
      Trong số những người trở về Sàigòn có Bằng Giang, Kiên Giang (Hà Huy Hà), Văn Bia, Nguyễn Ang Ca, Hiếu Đệ, Tùng Sơn, Tân Dân Tử (Sơn Tùng).
      Sơn Nam (Phạm Minh Tài, 1926-2008) Nguồn: anhvaem.vnweblogs.com
      Việc quay trở về của các cựu kháng chiến trong thời kỳ chống thực dân Pháp được coi là truyện bình thường như trường hợp của nhiều nhà văn, nhà báo khác. Đó là trường hợp của Võ Phiến, Sơn Nam, Bình Nguyên Lộc và nhiều nhà văn khác.
      Nhưng có người quay trở về mà vẫn còn dính dáng với những hoạt động như thời kháng chiến chống Pháp dưới “môn bài” cộng sản. Đó là cái khó cho chính phủ nền đệ nhất cộng hòa biết ai còn, ai không còn theo cộng sản nữa? Như trường hợp Sơn Nam là còn hay không còn?
      Bên cạnh đó, một số không nhỏ những nhà văn, nhà báo có xu hướng theo cộng sản mà người cộng sản xếp chung vào thành phần những nhà văn, nhà báo “tiến bộ”, không có thẻ đảng như Thiên Giang, Nguyễn Bảo Hóa (Tô Nguyệt Đình),Tam Mộc, Lý Văn Sâm (1), Thuần Phong, Trần Tấn Quốc, Quốc Ấn, Thẩm Thệ Hà, Vũ Anh Khanh, Huỳnh Hoài Lạc, Trúc Chi, Đỗ Thiếu Lăng, Quách Thoại và Tam Ích. (Chúng tôi sẽ có bài viết riêng về nhà văn Tam Ích)
      Phải nói là những nhà văn, nhà báo miền Nam có cảm tình với cộng sản là khá đông. Nhưng dính dáng ít nhiều, mức độ thế nào tùy hoàn cảnh, tùy mức độ nhận thức, hẳn là mỗi người mỗi khác, khó có thể xếp loại được, vì thế họ vẫn có thể công khai tiếp tục làm báo ở Sài gòn mà không có bất cứ lý do gì có thể đưa họ ra tòa được như trường hợp Vũ Hạnh, Tam Ích sau này. Chẳng hạn Tam Ích dùng biện chứng pháp của Mác để phê bình văn học, nhưng có thể chắc chắn là ông không hề có tiếp xúc hay làm bất cứ công tác cụ thể nào cho cộng sản như những tâm sự riêng của ông cho một người bạn văn.
      Sau 1954: Ký giả và nhà văn miền Bắc di cư vào Nam
      Bên cạnh những nhà văn, nhà báo miền Nam từ trong bưng về, một lô các nhà văn, nhà báo trẻ miền Bắc, có tài đã di cư vào Nam và sau này làm nên tên tuổi của họ như Tam Lang, Vũ Bằng, Đinh Hùng, Vũ Hoàng Chương, Bàng Bá Lân, Lê Văn Trương, Thượng Sĩ, Trực Ngôn, Cát Hữu, Phan Văn Tạo, Trọng Tấn, Nguyễn Vạn An. Đồng thời một số các nhà văn còn trong giới sinh viên như Mai Thảo, Nguyễn Sỹ Tế, Doãn Quốc Sĩ, Trần Thanh Hiệp mà công việc sáng tác của họ sau này trở thành cái nôi cho văn học miền Nam.
      Những nhà văn, nhà báo này có một lập trường chính trị rõ rệt, không chấp nhận chế độ cộng sản.
      Khi ông Ngô Đình Diệm về nước, bộ thông tin còn trực thuộc Phủ Thủ tướng đã ra một lúc 7 Nghị Định liên quan đến báo chí, xuất bản và kiểm duyệt vào ngày 07/07/1954. Cho giấy phép xuất bản một loạt các tờ Cải Cách và Gió Mới, bán nguyệt san Lửa Việt (tiền thân của nhóm Sáng Tạo) của sinh viên di cư, Trách nhiệm, Tương Lai, Đại Chúng, Dân Chúng, Tuần báo Văn Nghệ.
      Sang đến năm 1955, một lô báo chí tiếp tục được cho giấy phép xuất bản như Quan Điểm, Văn Nghệ tập san, Tin Văn, Tiểu thuyết tuần báo, Văn Nghệ học sinh, Tầm nguyên văn học và Tiền Phong, sau đổi ra Văn Nghệ Tiền Phong. (Trích Văn Hóa Văn Nghệ miền Nam Việt Nam, 1954-1975, Trần Trọng Đăng Đàn, trang 74).
      Đồng thời đình bản các tờ Nhân Loại Tập San, Tự Do, Tiếng Dội. Cấm lưu hành cuốn Việt Nam Máu Lửa của Nghiêm Kế Tổ. Đồng thời cũng cấm lưu hành các cuốn sách Xuân Hòa Bình, Hò Vè Đình Chiến Hòa Bình…
      Đây là giai đoạn ổn định và phát triển nhất của giới báo chí, văn học miền Nam. Như một vươn lên, sung sức, như một nguồn hy vọng mới.
      Ngoài tờ Cách Mạng Quốc gia của chính quyền hay tờ Chỉ Đạo do các sĩ quan làm chủ nhiệm (Thoạt đầu do Trung tá Trần Văn Trung, chủ nhiệm, Trung úy Ngô Quân chủ bút rồi đến lượt Trung tá Nguyễn Văn Châu, với các chủ bút Kỳ Văn Nguyên, Nguyễn Mạnh Côn, Đào Đình Hoan, Nguyễn Đình Bảo thay nhau làm), có một số tờ báo sau cuộc di cư đã tạo được uy tín và tiếng tăm như các tờ Ngôn Luận của Hồ Anh,Người Việt Tự do của Mặc Thu, Lưu Đức Sinh, Tiếng Miền Nam của luật sư Nguyễn Phương Thiệp, Tự Do của Phạm Việt Tuyền, Chính Luận của bác sĩ Đặng Văn Sung, Sống của Chu Tử, Tin Văn của Tô Văn Bùi Bá Nhân.Tất cả những tờ vừa nêu trên đều có lập trường kiên định, rõ rệt là chống cộng sản, bảo vệ tự do của miền Nam VN.
      Bên cạnh đó, có một số tạp chí ra đời như Sáng Tạo của Mai Thảo, tháng 10, 1956, tạp chí Bách Khoa với Huỳnh Văn Lang, 15/02/1957. Tiếp theo là Hiện Đại của Nguyên Sa 1960. Tạp chí Quê Hương với giáo sư Nguyễn Cao Hách, Văn Hóa Á Châu với Nguyễn Đăng Thục, Luận Đàmvới Nghiêm Toản, Xã Hội Mới với Vương Quan, Thế kỷ 20 với Nguyễn Khắc Hoạch, Những vấn đề của chúng ta với Thái Lăng Nghiêm…
      Đó là những nhà trí thức, nhà văn mà theo cái nhìn của Gramsci thì họ là loại trí thức hữu cơ của chế độ đệ nhất cộng hòa. Nhóm trí thức hữu cơ này cùng với nhóm trí thức công giáo thường được coi là thiên tả, cấp tiến tạo thành bản sắc báo chí miền Nam VN.
      Inline image 1
      Tại toà soạn Bách Khoa (từ trái): Lê Thanh Thái, Lê Ngộ Châu, Thu Thuỷ, Nguyễn Hiến Lê, Vũ Hạnh Nguồn: Nguyễn Hiến Lê Cuộc Đời & Tác Phẩm của Châu Hải Kỳ, tr.60.
      Hầu hết các tập san trên đều có chủ đích văn học, có giá trị và nghiêm chỉnh, cộng sản chưa thâm nhập được vào, trừ trường hợp tờ Bách Khoa có Phạm Ngọc Thảo, Vũ Hạnh và Phan Du ngay từ đầu.
      Trong số đó, đặc biệt những tờ như Chính Luận hay tuần báo Tin Văn của Tô Văn bị cộng sản ghét cay ghét đắng.
      Nhưng dù nhìn ở góc độ nào, chính trị hay xã hội, hay văn học… những năm đầu thời đệ nhất cộng hòa vẫn là những thời kỳ vàng son sinh hoạt báo chí của miền Nam VN.
      Mặc dầu vậy, có một số tờ báo, dù có lập trường của người quốc gia, nhưng đã để một số cán bộ cộng sản lọt vào và được viết báo một cách công khai và hợp pháp.
      Đây là một trong những khúc xương không khạc ra được của báo chí miền Nam, tiếp tay cộng sản mà không biết.
      Những tờ báo có sự xâm nhập, trà trộn của cán bộ cộng sản 

      Địa chí Văn hóa Tp Hồ Chí Minh Nguồn: Songhuong.com.vn
      Xin nêu tên một số tờ báo của người quốc gia bị cộng sản cho người trà trộn vào mà có thể không biết như:
      ● Báo Dân Chủcủa ông Vũ Ngọc Các có cán bộ cộng sản Thành Hương.
      ● Báo Ngôn Luận của ông Hồ Anh vừa nêu trên có Châu Dương.
      ● Báo Sàigòn Mai của thiếu tá Ngô Quân có Ty Ca làm Tổng Thư ký tòa soạn (Tôi có liên lạc với ông Ngô Quân, đến thăm ông, nay đã hưu. Tôi muốn hỏi ông cho rõ về trường hợp Ty Ca, tổng thư ký tòa soạn, có đúng là bị cộng sản gài vào không? Nhưng ông ngại không muốn nói bất cứ điều gì liên quan đến giai đoạn làm báo của ông. Thật đáng tiếc).
      ● Báo Dân Chúng của Trần Nguyên Anh cũng để lọt Phi Vân làm Tổng thư ký tòa soạn.
      ● Báo Thời Luận của ông Nghiêm Xuân Thiện có ký giả Ký Ninh làm tổng thư ký tòa soạn.
      (Trích Địa chí Văn hóa thành phố Hồ Chí Minh, Lê Trung Khá, Võ Sĩ Khải, Nguyễn Đình Điều, Trần Văn Giầu. Nhà xuất bản: TP. Hồ Chí Minh, 1987, trang 594)
      Với môt chế độ kiểm duyệt chặt chẽ, một hệ thống tình báo an ninh cũng khá chặt chẽ, thời đệ nhất cộng hòa, vậy mà cũng đã để lọt lưới một số cán bộ len lỏi vào hàng ngũ báo chí.
      Nghĩ tới chuyện cũ để liệu định tình hình hiện nay, ta lấy gì để ngăn chặn cán bộ cộng sản xâm nhập vào báo chí hải ngoại?
      Thật là một điều đáng lo ngại.
      Bên cạnh đó, có một số báo được coi là “lá cải”, được quần chúng bình dân ưa đọc vì các tin giật gân, các truyện kiếm hiệp và trở thành những tờ báo bán chạy nhất ở miền Nam bấy giờ. Nó cũng giống như một số báo chợ hiện nay ở Hải ngoại, lấy việc bới móc chửi bới cá nhân, loan tin thất thiệt, phịa đủ thứ truyện làm cần câu cơm.
      Các tờ báo lá cải thời ấy là cơ hội, là dịp may, là chỗ ẩn núp, chốn ra vào dễ dàng trong việc cài đặt cán bộ cộng sản vào.
      Đó là những cái ổ của cộng sản nằm vùng. Không hiểu những người như bà Bút Trà, nhất là ông Đinh Văn Khai hiện tại ở Canada nghĩ gì về những giai đoạn làm báo của họ?
      Có hai loại công việc mà cộng sản thường trà trộn để vừa kiếm cơm, vừa né tránh mạng lưới an ninh, tình báo của VNCH là làm giáo sư tư thục và làm ký giả báo. Với các bút danh và không cần bằng cấp, người ta chẳng còn biết ai vào với ai. Phần lớn các tờ báo này chỉ cốt báo bán chạy, kiếm lời nên họ ít để ý đến chính trị, hay bất chấp các ký giả là thành phần nào. Đó là các tờ:
      ● Sàigòn Mới: số in 65.000, số bán 50.000 với các ký giả Tư Mã Việt, Trà Tiên, Nhĩ Mục, Thanh Hương, Văn Mạnh, Thanh Phong, bà Ái Lan, Trần Thanh Thế.
      ● Tiếng Chuông: in 60.000, số bán 45.000 có các ký giả Khải Minh, Phi Vân, Trần Minh Ký, Trần Ngọc Sơn, Việt Quang, Phong Đạm, Đoàn Hùng, Việt Quang, Quốc Phương, Châu Dương, Hương Nam, Trần Thanh Thế, Kiên Giang.
      ● Tin Điển, in 40.000 số, bán 25.000 số với ký giả Phi Bằng, Hương Nam, Lê Hiền…
      ● Tiếng Dội: in 35.000 số, số bán 20.000 với Triệu Công Minh, Ngọc Hồ, Ngọa Long, Triệu Võ với thư ký tòa soạn là Trần Tấn Quốc.
      ● Buổi Sáng: số in 25.000, bán 15.000 với các ký giả Đào Hưng, tức Bảy Mại, Sơn Tùng, Ngô Văn Quân. Đặc biệt có Trần Bạch Đằng với bút danh Tổng Tào Lao.
      ● Việt Thanh: in 15.000, bán 8000 với Nguyễn Bảo Hóa, Lương Ngọc, Đằng Nhâm, Quốc Oai.
      Và còn một số tờ báo nhỏ khác như: Thời Cuộc, Lẽ Sống, Ánh Sáng mà số in ra từ 15.000 trở xuống, trong đó tờ nào cũng cài đặt được một số cán bộ cộng sản.
      (Trích Lược sử báo chí thành phố, trang 697)
      Một số ký giả như Nguyễn Bảo Hóa (làm cho báo Việt Thanh), Tư Mã Việt (làm cho báo SàiGòn Mới) có đứng ra lập Phong trào bảo vệ hòa bình, công khai hoạt động cho cộng sản, trụ sở ở đường Gallieni , Trần Hưng Đạo bây giờ. Phạm Huy Thông, chủ nhiệm, Lê Dân, Nguyễn Bảo Hóa, thư ký. Họ liên lạc với Ủy Hội Quốc tế, ra các bản tin in ronéo ủnng hộ phong trào Hòa Bình. Chính quyền Quốc gia quyết định làm mạnh.Phải nhìn nhận rằng, dưới thời ông Ngô Đình Diệm, có một cảnh báo chính trị cao, một ý thức đấu tranh kiên định giữa quốc gia và cộng sản, một guồng máy hành chánh tuy sơ khởi, nhưng khá hữu hiệu và nhất là một cơ quan cảnh sát cũng như mạng lưới an ninh tình báo hữu hiệu. Chỉ có thế mới đương đầu với cộng sản được.
      ● Đợt thanh loạt đầu tiên, ngày 9/2/1955, chính phủ VNCH tống xuất 26 người trong bọn họ đưa ra Hải Phòng, trong đó có Nguyễn Thị Bình còn có tên Nguyễn Thị Châu Sa, người Quảng Nam, 1948 được kết nạp đảng, 1951 bị Pháp bắt giam, tháng 10, 1954 tham gia Phong trào bảo vệ Hòa Bình cùng với Nguyễn Hữu Thọ.
      ● Tiếp theo, bắt giam hàng loạt người như kỹ sư Lưu Văn Lang, Thích Huệ Quảng (ông này nguyên là chủ tịch hội Tăng già Việt Nam), Nguyễn Văn Vỹ, giám đốc Pháp Hoa ngân hàng, Dược sĩ Trần Kim Quang, chủ một nhà thuốc tây lớn ở Sàigòn, ký giả Nguyễn Thị Lựu và khoảng hơn 10 người khác.
      ● Đóng cửa báo Ánh Sáng, bắt các ông Hoàng Hồ, Phan Bá Cầm ra Côn Đảo.
      ● Đóng cửa Thời Luận, Dân Quý, nhất là Dân Chúng và bắt giam các ông Nghiêm Xuân Thiện, ông Phan Khắc Sửu, Mặc Kinh (Mấy vị trên đây không phải là người theo cộng sản, nhưng bị bắt giam vì lý do chính trị khác). Bác sĩ Lý Trung Dung thôi làm tờ Tự Do, Phạm Việt Tuyền lên thay thế.
      Trong dịp này, tờ Cách Mạng Quốc Gia có một câu khá quen thuộc và thời danh: “Ăn cơm Quốc Gia thờ ma cộng sản”. Tờ báo viết:
      “Không thể tha thứ những thằng ngủ mơ thiên đàng cộng sản, xác bám miền Nam, hồn gửi ra đất Bắc. Những hạng trí thức nửa mùa, có nhiều vốn chữ nghĩa mà lại tin cộng sản là thần thánh coi chúng còn hơn ông nội của mình”.
      Sau vụ “Phong trào Hòa Bình” ở trên, chính phủ ra dụ số 13, ấn định báo nào loan tin có lợi cho cộng sản sẽ bị phạt từ 25.000 đến 1.000.000 đồng. Sau đó các cơ quan an ninh đi lùng bắt các cựu kháng chiến mà một phần không nhỏ len lỏi trong làng báo ở Sài Gòn. Chính quyền đã thanh lọc các ký giả sau đây ra khỏi làng báo và giam tù.
      ● Ký giả Trần Ngọc Sơn, (báo Tiếng Chuông, Tiếng Dội) bị bắt và đầy đi Côn Đảo.
      ● Ký giả Anh Tín an trí ở Cây Dừa, Phú Quốc.
      ● Ký giả Văn Mại bị đầy đi Côn Đảo.
      ● Trần Quốc Thảo, Bí thư thành ủy. Nguyễn Tích Dẫn, Bạch Tùng Hương, An Thế (Diệp Liên Anh) bị đầy ra Côn Đảo.
      ● Dương Tử Giang, Lý Văn Sâm, bị giam tại trại Tân Hiệp Biên Hòa.
      Đến cuối năm 1957, một mẻ lưới nữa, công an bắt các ký giả của các báo sau đây giam ở Mỹ Tho. Sau đó do sáng kiến của ông Tỉnh Trưởng Nguyễn Trân đã tổ chức một cuộc đấu lý tại rạp Viễn Trường, Mỹ Tho. Không biết cuộc đấu lý diễn ra thế nào, nhưng sau này, ông Nguyễn Trân thôi làm tỉnh trưởng Mỹ Tho.
      ● Triệu Công Minh, báo Tiếng Dội
      ● Lương Ngọc, báo Trời Nam
      ● Nam Thanh, báo Lẽ Sống
      ● Đồng Văn Nam, Phương Ngọc, Phan Ba, báo Buổi Sáng
      ● Trần Thanh Thế, Văn Mạnh, báo Saigòn Mới
      ● Nguyễn Bảo Hóa , báo Ánh Sáng
      ● Bắt vợ Nguyễn Bảo Hóa, báo Tiếng Chuông là dược sĩ Mã Thị Chu
      ● Luật sư Nguyễn Văn Diệp
      ● Đạo diễn kiêm luật sư Lê Dân
      ● Mai Thế Đồng, giám đốc cải lương
      Sau những cuộc truy lùng “Việt Cộng nằm vùng” trong các tờ báo, chính quyền VNCH tiếp tục bắt hàng loạt các cán bộ cấp Thành Ủy, các cựu kháng chiến, các nhà báo còn sót lại gồm: Các giáo sư Nguyễn Văn Chì, Lê Văn Chí, Trần Văn Hanh, Nguyễn Trường Cửu, Cổ Tấn Văn Luông, Bùi Đức Tịnh, Bà Bình Minh (đều là giáo sư tư thục, không bằng cấp đầy đủ như tú tài dạy tú tài, không chính quy, dạy chui) và một số các ký giả như Hoài Trinh, báo Sàigòn Mới, Sơn Tùng báo Buổi sáng, Hoàng Sơn, Văn Lương, báo Lẽ sống, Hương Ngô, Đoàn Hùng, Việt Quang, Phong Đạm, Quốc Phương, Châu Dương, báo Tiếng Chuông.
      Một số cán bộ cộng sản như Hồ Ngọc Anh, Lê Trung Nghĩa, Trần Hồng Đài, Nguyễn Điền, Bí thư thành đoàn, các phụ nữ như Kim Mai, Bích Ngọc, Bích Đào, Lan Anh, Mỹ Diệm, Kim Huê.
      Một số nhà văn, nhà thơ như Trang Thế Hy, Lê Văn, Viễn Phương, soạn giả Nguyễn Đạt, nhạc sĩ cải lương Trần Văn Khánh, Trần Hữu Thế đều vào tù hoặc bị giam tại các trại giam như Tân Hiệp, Phú Lợi, trại Lê Văn Duyệt, khám Chí Hòa, Côn Đảo, Phú Quốc, hoặc ở Huế tại Mang Cá, Lao ty Thừa Thiên.
      Các cuộc lùng bắt cộng sản nằm vùng như một cao trào, một chiến dịch làm phá tan tổ chức cộng sản một cách không tương nhượng.
      Quét sạch “cộng sản nằm vùng” núp sau các tờ nhật báo. Năm 1960 được coi như dứt điểm.
      Quét sạch các cán bộ cấp huyện, cấp ủy, cấp thành đưa đến kết quả cụ thể như một thứ khủng bố trắng mà chính người cộng sản phải thú nhận như sau:
      “Trước tình hình báo chí bị khủng bố ác liệt, quá nhiều anh em bị bắt, số cán bộ và ký giả yêu nước hoặc chuyển đổi nghề, số khác bỏ nghề báo, hoặc rút lui vào bí mật giữ an toàn như Nguyễn Văn Tài, Tuần san thương mại, Thành Hương, Nhĩ Muc, báo Saigòn Mới, nhà văn Thẩm Thệ Hà, Tiểu Dân, Thanh Lộc báo Lẽ Sống”.
      Chiến dịch “Tố Cộng” của Diệm gây nhiều khó khăn, một số cơ sở cách mạng bị bể. Những năm 1958, 1959, 1960, nhiều cơ sở cách mạng nội thành bị đánh phá tan tác, một số lãnh đạo Thành Ủy bị bắt, số khác phải tạm lắng.
      (Trích Báo chí Sàigòn trong 30 năm kháng chiến 1945-1975, trong Địa chí Văn hóa thành phố HCM, trang, 605-608)
      Mười Hương Trần Quốc Hương (Trần Ngọc Ban) Nguồn: vnn.vn
      Chỉ sau hai năm thực hiện chiến dịch, “Tố Cộng”, chiến dịch đã loại trừ phần lớn cán bộ được gài lại từ thành thị đến nông thôn. Trong Hồi ký Bội phản hay chân chính, một cuốn sách hữu ích để hiểu được tình trạng khốn cùng của cán bộ cộng sản nằm vùng thời đệ nhất cộng hòa do chính họ viết lại. Đọc cũng để hiểu thêm về con người ông Cẩn như thế nào, một con người mà Mười Hương (Mười Hương bị bắt giữ từ năm 1958, ông Nhu, ông Cẩn có tiếp xúc, gặp nhiều lần).
      Sau đó không hiểu vì sao đã được các tướng lãnh thả vào tháng 5, 1965.
      Thả hổ về rừng. Sau “cách mạng” 1963, họ đã mở toang cánh cửa nhà tù Chí Hòa. Tha hết. Xổng chuồng hết.
      Sau này, ông Mười Hương trong loạt bài: Tướng tình báo chiến lược đăng trên báo Thanh niên của Hà Nội, số 300, ngày 26/11/2002 viết như sau:
      “Hồi xưa, những năm 40, có lúc từ Phúc Yên về Hà Nội nếu không tính thời gian sao cho kịp đến nhà cơ sở thì đêm xuống không biết ở đâu. Tôi đã từng có cảm giác cô đơn lạnh lùng khi phong trào đi xuống. Thế nhưng hồi ấy cũng không đen tối bằng sau này, những năm 1957-1959… Ông bảo: chúng ta lâu nay cứ chê bai thằng Cẩn, rằng nó đi guốc mộc, miệng nhai trầu bỏm bẻm… chê như vậy không đúng đâu. Thằng Cẩn giỏi lắm, có mưu trí lắm”.
      Xin trích một đoạn khác của Văn Phan:
      “Có lẽ đến bây giờ chúng ta chưa tổng kết hết có bao nhiêu cán bộ và đồng bào yêu nước đã anh dũng kiên cường đấu tranh và đã hy sinh lặng lẽ trong các nhà tù của “ Đoàn công tác đặc biệt miền Trung”, nhưng những ví dụ sau đây có thể để cho ta một khái niệm về mức độ khốc liệt của cuộc đấu tranh đó: Một mình Lê Phước Thưởng, nguyên cán bộ Thừa Thiên đã khai báo bắt 105 người của ta: sau hai năm, số đó chỉ còn lại 6 người sống!!
      (Trích Đoàn Mật vụ của Ngô Đình Cẩn, Văn Phan, trang 118, nxb Công An nhân dân)
      Đây là một trích đoạn trong Bội Phản hay chân chính của một cán bộ cộng sản:
      “Tới khi khoanh vùng, cơ sở bị đánh tan tành xí quách, bám trụ trong dân không nổi nữa, anh ta phải bật lên núi. Đối phương bao núi, cắt đường liên lạc tiếp tế. Lương thực cạn dần, liên lạc tắc nghẽn. Cuộc sống ngày một trở thành vô nghĩa nếu cứ bám trụ trên núi cao, trong rừng sâu, quanh quẩn với cây rừng và khỉ đột … Hết gạo, hết lương khô, hết muối, hết mọi thứ. Đói quá, không tính thì chết đói – không lẽ chết đói để giữ vững khí tiết người vô sản? Xuống núi, thế nào cũng bị bắt, anh cán bộ biết chắc như vậy.
      (Trích Bôi Phản hay chân chính, trang 102)
      Trong cuốn Về cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của Văn Tiến Dũng cũng ghi lại những số liệu báo cáo của Bộ chính trị như sau:
      “Chỉ tính trong 4 năm từ 1955-1958, cả miền Nam tổn thất 9 phần 10 số cán bộ đảng viên. Ở Nam Bộ khoảng 7 vạn cán bộ đảng viên ta bị địch giết. Chỉ còn 5 ngàn đảng viên so với 60 ngàn trước đây. Có nơi như Tiền Giang chỉ còn 921 gia đình, Biên Hòa, mỗi nơi còn một chi bộ đảng. Ở khu 5, gồm cả Trị Thiên và cực Nam Trung bộ: Khoảng 40% tỉnh ủy viên, 60% huyện ủy viên, 70% chi ủy viên đã bị bắt, bị giết. Có tỉnh chỉ còn 2,3 chi bộ. Riêng Trị-Thiên, chỉ còn 160 so với 23.400 đảng viên trước đó”
      (sdd, trang 16, trích lại trong Dòng họ Ngô Đình, Nguyễn Văn Minh, trang 129).
      Bằng chứng cụ thể và rõ rệt, Lê Duẩn trong Thư vào Nam, sau này có thư gửi cho Mười Cúc, tức Nguyễn Văn Linh có viết: “Đã có lúc ở Nam Bộ cũng như ở Liên khu 5, tình hình khó khăn đến mức tưởng như Cách Mạng không thể duy trì và phát triển được nữa”.
      Trong một tài liệu của bộ ngoại giao Kampuchia cũng nhận xét tương tự như Lê Duẩn “tưởng như cách mạng không còn”, khoảng thời gian 1957-1960. Cộng Sản hầu như không còn đất dụng võ, phải chạy dạt sang Kampuchia:
      “En 1957, Le Duan est venu également se réfugier à Phnom-Penh et transiter par le Kampuchea. Tous les membres du Comité Central du parti Vienamien au Sud Viet Nam ont été arrêtés sauf un qui est venu se réfugier à Phnompenh, dans le quartier de Toul Tapoung. C’étai Nguyễn Văn Linh dit Mười Cúc, originaire du Nord Viet Nam.
      Face à cette situation catastrophique pour eux et pour échapper à l’anéantissement total, les vietnamiens đécidèrent en 1960 de reprendre la lutte armée. Ils sont venus s’installer le long de la frontìere du Kampuchea, de Romeas Hek jusqu ‘à Snoul. Quands ils avaient des difficultés, ils se réfugiaient au Kampuchea. En 1961, ils ont commencé à s’infiltrer au Kampuchea. En 1962 et en 1963, ils ont poussé davantage leur pénétration, utilisant au besoin la corruption. Les Vietcongs pouvaient se déplacer librement et à volonté au Kampuchea, cela parce que d’une part ils corrompaient les agents de sécurité, de police et et les fonctionnaires de l’ancienne administration et d’autre part le peuple du Kampuchea prenait les Vietnamiens pour des révolutionnaires. En 1965, il y avait 150.000 Vietcongs installés au Kampuchea sur une profonde de 2 à 5 kilomètres de la frontìere depuis Romeas Hek jusqu ‘à Ratanakiri..
      En fait, ils n’avaient plus de territoire chez eux, au Sud Viet Nam, à cause de la politique des hameaux stratégiques de Ngo Đinh Diem, car Robert Thompson, en s’appuyant sur ses expériences acquises đans d’autres pays, a fait installer des hameaux stratégiqus sur tout le territoire du Sud Viet Nam de sorte que les Viet congs n’avaient plus ni terre ni population” sur tout le territoire du Sud Viet Nam.”
      (Trích trong Lớn lên với đất nước, Vy Thanh, trang 590)
      Tạm dịch:
      Vào năm 1957, Lê Duẩn cũng chạy trốn sang Campuchia với tư cách sang quá cảnh. Tất cả cán bộ trong trung ương đảng của Việt Minh ở miền Nam đều bị bắt trừ có có một người trốn được sang Nông Pênh trong khu vực Toul Tapoung. Đó là ông Nguyễn Văn Linh, tự Mười Cúc, gốc người miền Bắc.
      Họ đã phải đương đầu với một hoàn cảnh khốn cùng và để thoát khỏi tình trạng bị tiêu diệt toàn bộ, họ đã quyết định vào năm 1960 là phải tiếp tục lại cuộc chiến đấu bằng võ lực. Họ đã đóng quân dọc biên giới Kampuchia, từ Romes Hek đến Snoul. Khi họ gặp khó khăn, họ lẩn sang Kampuchia. Vào năm 1961, họ bắt đầu xâm nhập vào Kampuchia. Vào các năm 1962 đến 1963, họ dấn sâu thêm việc xâm nhập vào Kampuchia và đã dùng thủ đoạn hối lộ. Vì vậy, họ có thể di chuyển tự do theo ý họ trên đất Kampuchia, một phần vì họ đã hối lộ các nhân viên an ninh, các cảnh sát và các công chức hành chánh cũ, một phần dân chúng Kampuchia coi Việt Cộng như những người Cách mạng. Trong năm 1965, có khoảng 150.000 Việt cộng đóng trên đất Kampuchia, lấn sâu vào từ 2 đến 5 kilô mét, dọc theo biên giới từ Romeeas đến Ratanakiri..
      Thực sự, họ không còn mảnh đất nào để trú ẩn ở miền Nam do chính sách Ấp chiến lược của Ngô Đình Diệm, bởi vì ông Robert Thompson, dựa trên những kinh nghiệm thâu thập ở nước khác nên đã cho thiếp lập các ấp chiến lược trên khắp miền Nam, đến nỗi Việt Minh không còn mảnh đất nào, cũng không còn dân chúng nào hết.
      Tình cảnh khốn cùng của cộng sản miền Nam như vừa nêu trên đã thay đổi khác sau 1963.
      Tình trạng báo chí miền Nam sau 1963 Sau khi chính quyền Ngô Đình Diệm sụp đổ, ngay tuần lễ đầu đã xuất hiện vô số báo. Đây là thời kỳ nở rộ của báo chí như ong vỡ tổ. Có khoảng 40 tờ báo ngày. Không nhớ hết được. Đại loại có các tờ như: Hôm Nay, Tiến, Thân Dân, Miền Nam, Dân Chúng, Thắng, Thời Đại, Chuông Mai, Dân Quyền, Dân Ta, Dân Tộc, Buổi Sáng, Tia Sáng, Dân Nguyện, Liên Minh, Dân Chủ, Dân Chủ Mới, Đồng Thanh, Hôm Nay, Thần Dân, Miền Nam, Tân Văn v.v... Nhiều báo quá. Loạn báo. Không kiểm soát được. Vì thế, trong năm 1964, ông Nguyễn Ngọc Thơ đã phải đóng cửa 11 tờ vì loan tin thất thiệt, rối loạn an ninh. 
      Sau đó, báo chí “loạn” hơn nữa. Nội các chiến tranh của hai ông Thiệu-Kỳ quyết định đóng cửa toàn thể báo chí một tháng, từ ngày 01/07/1965 để chấn chỉnh báo chí. Đóng tất cả, đóng báo tốt lẫn báo xấu, lại đóng luôn một tháng thì vô lý quá. Báo chí cực lực phản đối nên quyết định trên sau đó được hủy bỏ và chỉ rút giấy phép một vài tờ báo. Đó là những quyết định sai lầm ngay từ đầu của nội các chiến tranh. Vì thế báo chí “coi thường” chính quyền. Đương nhiên cộng sản nắm lấy thời cơ, lợi dụng tuyên truyền cho cộng sản. Đó cũng là lúc bọn họ bắt 
      đầu nhô ra khỏi hang ổ một cách công khai hơn trước. Tìm đọc lại Buddha's Child , không thấy ông Nguyễn Cao Kỳ nhắc nhở gì tới vấn đề này. 
      Tình trạng loạn báo vẫn tiếp tục. Sang đến 1972, Sài gòn có đến 72 tờ 
      nhật báo. Và kể như chính phủ của TT Nguyễn Văn Thiệu không còn khả 
      năng kiểm soát được báo chí nữa, cũng như giữ vững an ninh cho thành 
      phố Sàigòn. Sau này, chính báo chí đánh sập uy tín của ông Nguyễn Văn 
      Thiệu qua vụ “ký giả đi ăn mày” và vụ án báo chí 31/10/1974. 
      Cạnh đó, cũng có cảnh lạm phát đảng phái với 22 đảng phái có giấy phép 
      hoạt động. Và 12 đảng đang chờ có giấy phép để hoạt động. Chẳng hạn, 
      Quốc dân Đảng có đến 4 hệ phái. Có hệ phái Nguyễn Văn Lực, Lê Ngọc 
      Chấn, rồi Quốc dân Đảng của Vũ Hồng Khanh và Quốc dân Đảng của Nguyễn 
      Hòa Hiệp. Đại Việt cũng chia ra 4 thứ Đại Việt. 
      Tình trạng báo chí nhố nhăng, rối loạn cũng như tình trạng đảng phái 
      bầy ra một cảnh hoạt náo chính trị. Mỗi đảng phái đều ráng ra một tờ 
      báo cho đảng mình. Nguyễn Văn Lực với tờ Hành Động, Vũ Hồng Khanh với 
      tờ Thân Dân. 
      Các báo có lập trường Quốc gia, chống Cộng 
      Một số báo Quốc gia có lập trường quốc gia, chống Cộng xuất hiện rất 
      sớm nay vẫn còn tồn tại sau 1963 và các báo đó trở thành mục tiêu đánh 
      phá, ám sát của cộng sản. Cộng sản không đánh phá được thì ám sát. Đó 
      là trường hợp báo Chính Luận của bác sĩ Đặng Văn Sung. Dưới mắt cộng 
      sản thì ông Đặng Văn Sung là một thứ CIA của Mỹ. Ký giả Từ Chung của 
      báo Chính Luận cũng là một thứ CIA ác ôn cần phải trừng trị. 
      Tôi có gặp một cựu ký giả từng làm cho Chính Luận, anh Hồng Dương, 
      nhưng xem ra anh cũng không biết rõ tổ chức nào đã ám sát ký giả Từ 
      Chung. Tất cả chỉ đưa ra những giả thuyết. Nhưng trong cuốn sách: Trui 
      Rèn Trong Lửa Đỏ do Thành đoàn thành phố HCM xuất bản có bài viết của 
      Hàng Chức Nguyên nhan đề, Những tiếng nổ trong lòng SàiGòn, Nguyên xác 
      nhận Thành Đoàn Tp. HCM là tác giả vụ ám sát ký giả Từ Chung cũng như 
      Chu Tử. Lực lượng vũ trang Thành đoàn đã ám sát Từ Chung vào năm 1965 
      và Chu Tử vào tháng tư, 1966. Ngoài ra Thành đoàn cũng tổ chức phá sập 
      tòa sọan báo Chính Luận chỉ vì lý do duy nhất, dịp tháng 9, 1969, Hồ 
      Chí Minh chết, báo Chính Luận viết bài phỉ báng Hồ Chí Minh. 
      Điều này cho thấy an ninh, tình báo của nền đệ nhị cộng hòa đã kém hữu 
      hiệu và tổ chức thành đoàn đã xuất hiện, hoạt động mạnh và công khai. 
      Ngoài hai nhà báo Từ Chung và Chu Tử, Thành đoàn còn tổ chức sau này 
      ám sát bác sĩ Lê Minh Trí vào ngày 06/01/1969, vào lúc 7 giờ 50 sáng. 
      Hai quả lựu đạn đã được thảy vào trong xe của bác sĩ Lê Minh Trí, Tổng 
      trưởng Giáo dục ở góc Nguyễn Du, Hai Bà Trưng. Giáo sư Nguyễn Văn Bông 
      và người tài xế bị Việt Cộng sát hại vào trưa thứ tư 10/11/1971. 

      Lê Khắc Sinh Nhật bị ám sát – Nhật là đại diện sinh viên Luật Khoa. 
      Sau ngày Nhật bị giết, đường phố Sàigòn có nhiều biểu ngữ để tang Lê 
      Khắc Sinh Nhật và lên án sinh viên Huỳnh Tấn Mẫm chủ mưu ám sát. Tôi 
      có hai tài liệu viết gián tiếp về vụ ám sát này. Hồ Ngọc Nhuận có ý 
      phản bác dư luận lúc bấy giờ đổ cho Huỳnh Tấn Mẫm. Hồ Ngọc Nhuận gián 
      tiếp đổ cho cộng sản khi ông viết: “Ai giết sinh viên Lê Khắc Sinh Nhật? Đến bây giờ ắt nhiều người biết. 
      Riêng tôi trước sau không hề biết, cũng không hỏi; chính quyền Sàigòn 
      lúc ấy cứ đổ riệt cho sinh viên Huỳnh Tấn Mẫm, đang trốn, là kẻ giết 
      người”. (Trích Hồi ký Đời, Hồ Ngọc Nhuận, trang 123) 

      Trong bài: “Các điểm hẹn”, Phúc Tiến viết: Trui rèn trong lửa đỏ (Trần Bạc Đằng) Nguồn: NXB Trẻ 
      “Cuối tháng 9 năm 1971, mượn cớ tên sinh viên phản động Lê Khắc Sinh 
      Nhật bị giết, giữa đêm, cảnh sát bao vây 207 Hồng Bàng, lùng bắt Ban 
      chấp hành Tổng Hội. Trong trụ sở, Huỳnh Tấn Mẫm và Phan Công Trình 
      nhảy qua của sổ trèo qua sóm người Hoa”. (Trích Trui Rèn Trong Lửa Đỏ, trang 93) 
      Ai giết cũng được, có thể không phải Huỳnh Tấn Mẫm. Chỉ có một điều 
      chắc chắn là cộng sản đã ra tay hạ sát, vì Lê Khắc Sinh Nhật bỏ đảng. 
      Tiếp theo là vô số vụ dùng xăng đốt xe Mỹ hay ném lựu đạn vào các cơ 
      sở của Mỹ, nhất là ngôi nhà 5 tầng, 604 Phan Thanh Giản, cư xá của Sĩ 
      quan Mỹ, Đại Hàn rồi Thái Lan. 
      Nếu chúng ta nhớ lại, vào năm 1961, an ninh của VNCH ở Sàigòn, hữu 
      hiệu hơn, nhạy bén hơn, truy lùng đặc công cộng sản đến nơi đến chốn. 
      Năm 1961, đặc công cộng sản có kế hoạch ám sát đại sứ Nolting do Trần 
      Văn Nhiệm thực hiện. Việc không thành, toàn bộ kế hoạch cũng như nhân 
      sự của đặc công cộng sản bị chính quyền phá vỡ và bọn họ bị bắt hết và 
      đưa ra tòa. Báo Ngôn Luận đưa tin vắn ngày 24/5/1962 như sau: 
      “Hôm qua, tòa án quân sự đặc biệt khu Thủ đô họp xử án ‘phản nghịch’ 
      tại Sàigòn. 8 giờ 30, hai chánh phạm là Lê Hồng Tư, thợ hồ, Lê Quang 
      Vịnh, giáo sư toán trung học Petrus Ký và 10 bị can khác ra trước vành 
      móng ngựa”. 
      Sáu tên: Lê Hồng Tư, Lê Quang Vịnh, Lê Văn Thành, Hà Văn Hiệu, Đỗ Văn 
      Xinh, Hồ Văn Ngoan bị truy tố về tội: mưu sát bằng lựu đạn ném vào xe 
      đại sứ Mỹ Nolting, ném vào xe cố vấn quân sự. (Trích Trui Rèn Trong Lửa Đỏ, trang 38) 
      Nhưng án tử hình Lê Hồng Tư không biết vì lý do gì đã không được thi 
      hành. Sau này, ông thợ hồ Lê Hồng Tư, trớ trêu của lịch sử, không còn 
      là thợ hồ nữa, ông Tư đóng vai dự thẩm của tòa án tối cao nhân dân 
      ngồi xét xử bọn gián điệp hơn hai chục tên trong suốt tuần lễ cuối năm 
      1984. Hai Phiên tòa, 1962, Lê Hồng Tư mới trên 20 tuổi và 1984, trên 
      40 tuổi, mọi chuyện đã thay đổi không còn như trước nữa. Kẻ bị cáo trở 
      thành quan tòa. Bài học lịch sử vẫn còn đó. 
      Ngoài Chính Luận còn các tờ như: 
      — Tự Do của Phạm Việt Tuyền 
      — Quyết Tiến của Hồ Văn Đồng 
      — Thời Luận của Nghiêm Xuân Thiện 
      — Xây Dựng của linh mục Nguyễn Quang Lãm 
      — Sống của Chu Văn Bình, tức Chu Tử 
      — Tiền Tuyến của Lê Đình Thanh 
      Số ít ỏi đó so với số báo chí được coi là “chống Mỹ” khá xôm tụ như 
      các tờ Dân Chủ, Dân Chúng, Tin Sáng, Chánh Đạo, Sống mới, Dân Tiến, 
      Thời Đại, Thời sự miền Nam. 

      Trong số ấy nổi bật là tờ Tin Sáng với cánh trí thức miền Nam như Ngô 
      Công Đức, Hồ Ngọc Nhuận, Lý Chánh Trung, Dương Văn Ba. Báo này cũng có 
      cộng sản cài vào một chức vụ rất khiêm tốn. Phan Ba, tức Phan Hồng 
      Đức, nguyên phó giám đốc đài phát thanh Nam Bộ trước 1954, ông chỉ là 
      thư ký cho nhật báo Tin Sáng trước và cả sau 1975. Tin sáng có 3 thời 
      kỳ: Tin Sáng bộ cũ, trước 1973, Tin Sáng lậu, 1973-1975 và Tin Sáng bộ 
      mới, từ 10/08/1975 đến 01/07/81. Đây là nơi xuất phát những bài viết 
      của Nguyễn Ngọc Lan, chửi Mỹ, chống Mỹ, chửi VNCH chống chiến tranh, 
      cộng chung là 50 bài, đồng thời là nơi khích động các cuộc biểu tinh 
      như các đám sinh viên của Huỳnh Tấn Mẫm. 
      Vì thế mà tòa soạn Tin Sáng, địa chỉ số 124 đường Lê Lai bị đốt vào 
      ngày 28 tháng 3 và có trải truyền đơn như sau: 
      “Đồng bào quyết đập chết những tên cộng sản nằm vùng Ngô Công Đức và 
      Hồ Ngọc Nhuận”. Hoặc: “Quần chúng rất phẫn nộ trước những hành động 
      đâm sau lưng chiến sĩ của các dân biểu tay sai Ngô Công Đức và Hồ Ngọc 
      Nhuận”. 
      Tin Sáng bộ mới, từ 1975-1981 mà theo Hồ Ngọc Nhuận, thật là tréo cẳng 
      ngỗng, báo càng bán chạy hơn báo nhà nước, ban biên tập càng lo, vì 
      nguy cơ trước sau sẽ bị chính quyền cộng sản đóng cửa. 
      Mặc dầu vào dịp kỷ niệm 50 năm ngày thành lập đảng, 02/02/80, Tổng bí 
      thư đảng, ông Nguyễn Văn Linh đã nói: “... mặt trận chống Mỹ Thiệu 
      không ngừng mở rộng... nổi bật là số anh chị em trong nhóm Tin Sáng”. 
      Mà họ đóng cửa thật. 
      Họ lèo lái cũng khéo lắm, luồn lọt được 5 năm. Khéo nên mới được Trần 
      Văn Giàu khen: “Các anh làm báo cộng sản hơn cộng sản”.Tôi xem lại 
      những lời tuyên bố của Lý Quý Chung, Lý Chánh Trung, Hồ Ngọc Nhuận, 
      Ngô Công Đức trong nhóm Tin Sáng đã được Alain Ruscio ghi lại trong 
      cuốn Vivre au Viet Nam, trong đó không ai có thể nói “ngọt“ hơn Lý 
      Chánh Trung được. Mặc dầu trong thâm tâm, những người miền Nam thường 
      nói thẳng, họ biết họ đang nói dối, họ đang đóng kịch, họ nói “dzậy mà 
      không phải dzậy”. Nhưng vấn đề là họ đã nói ra rồi, sao gỡ lại được? 
      Họ đã theo đuôi những Chế Lan Viên, Tô Hoài mất rồi. Đây là Ngô Công 
      Đức, giám đốc tờ Tin Sáng: Auparavant, nous étions des bucherons, 
      aujpourd’hui, des menuisiers. (Trước đây, nghĩa là thời VNCH, chúng 
      tôi chỉ là những người đốn củi, tức những tên phá phách, bây giờ thì 
      chúng tôi là những người thợ mộc.) Trước khi chết, Ngô Công Đức cũng 
      đã để lại chúc thư bộc bạch đôi lời, nhưng đã quá muộn. Còn đây là Lý 
      Chánh Trung: “Moi, depuis toujours, je rêvais d’une révolution tolérante. Modeste et tolérante. Le socialisme Vietnamien a répondu à mes souhaits. Nous 
      avons tout fait pour que l’enfantement de la socíété nouvelle se fasse 
      avec le moins de souffrances possible. “Còn tôi, từ trước đến giờ, tôi 
      chỉ mơ ước một cuộc cách mạng có khoan nhượng. Bình dị và khoan 
      nhượng. Chủ nghĩa xã hội của Việt Nam đã đáp lại đúng lòng mong đợi 
      của tôi. Chúng tôi đã làm tất cả để nẩy sinh ra một xã hội mới với 
      càng bớt những đau khổ càng ít càng tốt”. 
      Còn đây là Hồ Ngọc Nhuận, chủ bút tờ Tin Sáng: “Notre expérience est-elle un succes? Je réponds oui. Combien de temps cela durera-t-il? Je ne sais pas. Moi, j’ai la ferme conviction que nous sommes utiles. Pourquoi crois-tu, sinon, que, tous, nous nous dépensons ici jpur et nuịt”? (Kinh nghiệm làm báo tư nhân dưới chế độ XHCN) của chúng tôi phải chăng là một thành công? Tôi trả lời là có 
      thành công. Nhưng nó dẽ kéo dài được bao lâu. Tôi không biết. Nhưng 
      tôi tin chắc rằng chúng tôi là những người hữu ích. Nếu không, ông tin 
      rằng, chúng tôi đã bỏ hết thì giờ cho công việc làm báo này? 
      (Trích Vivre au Viet Nam, Alain Ruscio, trang 179-182) 
      Khoảng 6 tháng sau, tờ Tin Sáng “tự đình bản” vì đã “làm xong nhiệm 
      vụ”. Không ai đóng cửa họ cả. 

      Tranh biếm về tham nhũng của họa sĩ Ớt, VC nằm vùng (đăng trên báo 
      Điện Tín) Nguồn: thethaovanhoa.vn 
      -------------------------------------------------------------------------------- 


      Một số báo khác được coi là “tiến bộ” như Chuông Mai, Hòa Bình, Thách 
      đố, Quảng Đức, Tiếng Nói Dân Tộc, Công Luận, Bút Thần, Điện tín, Thần 
      Chung và Đại Dân tộc. 

      Trong số những tờ này, có tờ Điện Tín và Đại Dân Tộc là cặp bài trùng. 
      Đại Dân Tộc do dân biểu Võ Long Triều làm chủ nhiệm. 


      Ông Võ Long Triều nếu có đọc bài này, ông sẽ nghĩ gì, Tư Trời biển 
      nghĩ sao? Tờ báo của ông cũng có cộng sản cài vào. Ông Tô Nguyệt Đình, 
      tức Nguyễn Bảo Hóa là thư ký cho tờ báo Đại Dân Tộc, sau 1975, ông Tô 
      Nguyệt Đình làm cho tờ Sàigòn Giải Phóng. Chưa hết, họa sĩ Ớt, tức 
      Huỳnh Bá Thành từng là người vẽ biếm họa cho các tờ Tin Sáng, Điện Tín 
      và Đại Dân Tộc. Trước 30/04/1975, Huỳnh Bá Thành mới lộ nguyên hình là 
      cộng sản, khuyên tướng Dương Văn Minh đầu hàng. 

      Ông còn để cho “đàn em” như Hồ Ngọc Nhuận, giám đốc chính trị điều 
      hành, tự tung tự tác. Sau này Võ Long Triều vẫn phải đi tù như thường 
      và tù hơn người đến hai lần, vì thế thêm gần 10 năm tù nữa và khi sang 
      Paris nghĩ rằng: 


      “Tôi buồn vì người trực tiếp còng tay tôi là một công tác viên của tờ 
      Đại Dân Tộc”. 
      Tôi nghĩ Võ Long Triều ám chỉ người cộng tác viên ấy là Lý Quý Chung. 

      Họa sĩ Ớt, Huỳnh Bá Thành - VC nằm vùng 
      Nguồn: thethaovanhoa.vn 
      Cũng đã muộn. Quá trễ. Có cái trễ, cái muộn của Ngô Công Đức, Hồ Ngọc 
      Nhuận vì đã đi theo cộng sản. Nhưng cũng có cái trễ của Võ Long Triều, 
      hơn 10 năm trong bóng tối để suy nghĩ về việc làm báo Đại Dân Tộc của 
      mình, của người quốc gia chống Cộng chân chính. Ông cũng bị cộng sản 
      xâm nhập vào báo Đại Dân tộc 

      (Trích Đời, hồi ký Hồ Ngọc Nhuận, dạng bản thảo, trang 167) 

      Trong Hồi ký Võ Long Triều, hình như ông không có đề cập đến vấn đề 
      “cộng sản nằm vùng” trong tờ Đại Dân Tộc? Ông nên một lần nói cho rõ. 


      Về tờ Tin Văn 

      Thành ủy lúc bấy giờ dưới sự chỉ đạo của Trần Bạch Đằng và các cán bộ 
      khác như Vũ Tùng, Trương Bỉnh Tòng, Sáu Chiến. Hoàng Hà là bí thư đảng 
      ủy văn hóa. Chính Hoàng Hà là người trực tiếp chỉ đạo vào thánng 6, 
      1966 cho ra tờ Tân Văn. Tờ này do Nguyễn Ngọc Lương, tức Nguyễn Nguyên 
      (cũng viết cho Đất Nước) làm chủ nhiệm. Tờ báo ngoài sự hợp tác của cụ 
      Á Nam Trần Tuấn Khải như tấm bình phong, còn có rất nhiều những khuôn 
      mặt quen thuộc từng hoạt động cho cộng sản như Kiên Giang, Sơn Nam, 
      Thẩm Thệ Hà, Thanh Việt Thanh, bà Minh Quân, Hướng Dương, tức Rum Bảo 
      Việt, tức Sáu Chiến, Phan Du, Vũ Hạnh (Phan Du và Vũ Hạnh từng cộng 
      tác với tờ Bách Khoa), v.v... Còn có một số khuôn mặt khác ít được 
      biết tới như Lữ Phương, Nguyễn Văn Bồng, Hà Kiều, Mặc Khải, Thái Bạch, 
      cô Hợp Phố, Lương Sơn. 

      Tờ này gây được tiếng vang. Họ thường dùng chủ trương đòi bài trừ Văn 
      hóa đồi trụy để hoạt động chính tri, dương đông kích tây. Họ gọi những 
      người như Chu Tử là những tên xung kích chống phá cách mạng qua các 
      tác phẩm đồi trụy, phản động. Và dưới mắt Vũ Hạnh thì Chu Tử là: 


      “Chúng trắng trợn cho tên Chu Tử, tay sai của sở công an và Trung ương 
      tình báo ngụy, bắt đầu một chiến dịch đả kích tôi, tố cáo tôi là Việt 
      cộng nằm vùng, và liên tiếp trong nhiều số báo như vậy, y đã vu khống 
      tôi, cốt làm cho những người đã tham gia phong trào sợ hãi”. 
      (Trích Từ tòa án văn hóa đến hát cho đồng bào tôi nghe, Vũ Hạnh, trong 
      Trui Rèn Trong Lửa Đỏ, trang 180) 

      Có những bài như: Hiện tượng dâm ô đồi trụy trong văn học hiện nay, 
      Tin Văn số 9, 15/10/1966. Hay có bài của Lữ Phương: Đọc tác phẩm của 
      Chu Tử, Lữ Phương, số 10, 30/10/1966 (Trích Nhìn Lại Những Chặng Đường 
      Đã Qua, Nguyễn Văn Trung, trang 358). 

      Lên án, bài bác Chu Tử, vì Chu Tử là một nhà báo chống cộng quyết liệt 
      không khoan nhượng. Lữ Phương trở thành thứ tay sai, đánh theo lệnh. 
      Cũng vậy, theo Vũ Hạnh, Văn nghệ SVHS trực diện chống những buổi trình 
      diễn ngụy dân tộc của Phạm Duy khi hắn làm trò lố lăng cũng mặc áo bà 
      ba đen, hát dân ca với tên CIA giữa Sàigon. Thế là Nguyễn Trọng Văn 
      đưa ra một bản án: Phạm Duy đã chết như thế nào? (Phạm Duy trước 1975 
      không phải Phạm Duy bây giờ). Đồng loạt, họ vận động 118 văn nhân, ký 
      giả, nghệ sỹ ký tên ra Tuyên ngôn tố cáo Văn Nghệ đồi trụy. Việc ra 
      Tuyên ngôn hẳn là tốt, nhưng đã bị cộng sản cài đặt, xúi giục thì nó 
      nhằm mục đích khác rồi. 

      Chúng ta đã bị lừa. 118 người ký tên, nhiều người chắc cũng bị lừa. 
      Bài học Chu Tử là bài học chúng ta nên áp dụng cho bây giờ. Họ cũng 
      đang làm như thế đấy, đang khuấy loạn cộng đồng, đang tìm cách chia rẽ 
      người quốc gia, đang đánh những nhân vật có tên tuổi, có thế giá chính 
      trị trong cộng đồng. Người đánh có thể vô tình, cũng có thể ngây thơ 
      vô số tội. Thật giả khó mà biết. 

      Không phải tự nhiên mà họ làm thế đâu. 

      Hãy cảnh giác và đừng mắc lừa thêm một lần nữa. 

      Họ có mặt trên mọi mặt trận, chui lòn vào trong mọi tổ chức, lợi dụng 
      từng thời cơ thuận tiện, mua chuộc mọi người: Hội Phụ nữ, công nhân, 
      Văn nghệ sĩ, sinh viên, học sinh, trí thức. Như trong vụ công nhân 
      đình công ở hãng Pin Con Ó, năm 1971, ở số 162, bến Lê Quang Liêm. Hay 
      như vụ 475 trí thức miền Nam ký kiến nghị đòi Hòa Bình ngày 25 tháng 
      2, năm 1965. Bà luật sư Nguyễn Thị Bình đứng ra cãi cho các bị can 
      chính phạm tại tòa án quân sự, vùng 3 chiến thuật. Kết quả là nhà cầm 
      quyền lúc bấy giờ đã tống xuất ba người là các ông bác sĩ Phạm Văn 
      Huyến, thân phụ bà luật sư Ngô Bá Thành, giáo sư Tôn Thất Dương Kỵ và 
      ký giả Cao Minh Chiếm ngày 19/3/1965. 

      Giá thay vì tống xuất ra Bắc 3 người, mời cả hơn 475 vị ra Bắc để kêu 
      gọi Hòa Bình luôn thể. Không phải 400 vị mà 3000 vị cùng với gia đình 
      đi một lượt ra Bắc thì vẫn hay hơn. Miền Nam sẽ yên. 

      Bằng chứng là trong bài viết Có mặt trên mọi trận địa, Nguyễn Hữu Vang 
      đưa ra một nhận xét có vẻ mâu thuẫn, nhưng rất đúng sự thật như sau: 


      “Đảng chủ trương tiếp tục giữ vững thế tấn công trên cả 3 vùng chiến 
      lược. Tinh thần quyết chiến, quyết thắng, đánh bại ý chí xâm lược của 
      giặc Mỹ đang quán triệt trong toàn quân, toàn dân, kể cả vùng ven 
      ngoại thành. Đánh! Ấy vậy mà trung tâm chính trị công khai của đảng 
      trong thành phố “Thủ đô” của địch, lại giương cao ngọn cờ hòa bình”. 
      (Trích Trui Rèn Trong Lửa Đỏ, trang 218) 

      Họ còn tìm cách xâm nhập vào bất cứ ngành nghề nào, ngay cả sân khấu, 
      kịch trường.Tờ Sân Khấu do Văn Lương làm chủ nhiệm xem ra vô tôi vạ, 
      nhưng thật ra đã được Rum Bảo Việt, tức Sáu Chiến chỉ đạo. Có nghĩa là 
      từ nay tiếng nói của sân khấu cải lương, của giới nghệ sĩ là do Rum 
      Bảo Việt, hay do đảng cộng sản chỉ đạo giữa lòng Sài Gòn. 

      Cả một đám người quốc gia làm “bình phong”, “bia đỡ đạn” cho cộng sản 
      đánh phá miền Nam về Mặt trận Văn hoá. Một hội Liên Hiệp văn học, nghệ 
      thuật ra đời sau đó, 06/08/1966 do những người có uy tín, nhưng có 
      khuynh hướng cấp tiến, khuynh tả như Cụ Á Nam Trần Tuấn Khải làm chủ 
      tịch, luật sư Bùi Chánh Thời làm tổng thư ký và một lô các nghệ sĩ 
      chân chính làm ủy viên như Cô Bảy Phùng Há, Duy Lân, Tú Duyên, Năm 
      Châu, Ngọc Trai, Thái Bạch. 

      Với những người như cô Bảy Phùng Há, Nghệ sĩ Năm Châu nếu có lên tiếng 
      kêu gọi hay phản đối chính quyền điều gì. Ai có thể bắt và ai dám bắt? 

      Các hội trên phối hợp với vô số các hội khác như Hội bảo vệ phụ nữ do 
      bà Vân Trang cầm đầu đòi cái này cái kia như đòi “quyền dân tộc tự 
      quyết”, đòi quyền lợi cho phụ nữ thì hợp lý quá đi rồi! Chúng ta thử 
      nhìn xem phụ nữ bây giờ có quyền sống, quyền làm người tử tế so với 
      trước 1975 như thế nào? 

      Ngày 02/09/1975, để tưởng thưởng những đám người làm bình phong cho 
      đảng cộng sản thời trước 1975, họ được đảng cho ra thăm Hà Nội. Họ 
      thuộc đủ thành phần gồm có: Hòa Thượng Trí Thủ, Hòa thượng Thích Hiển 
      Pháp, Hòa thượng Thích Minh Nguyệt, Ni sư trưởng Hùynh Liên. Linh Mục 
      Chân Tín, linh mục Nguyễn Huy Lịch. Rồi Kim Cương, Vũ Hạnh, Lý Chánh 
      Trung, Ngô Bá Thành, Trần Ngọc Liễng, Hồ Ngọc Nhuận, Nguyễn Văn Hạnh. 

      Tất cả những quý vị này trước làm “bình phong, lá chắn” cho cộng sản, 
      sau này sẽ phần lớn “làm chậu kiểng” đánh bóng chế độ, ngồi chơi xơi 
      nước. 

      Sau này chính quyền cho bắt chủ nhiệm Nguyễn Ngọc Lương và các người 
      khác như Ký Ninh, Lý Bình Hiệp, Vũ Hạnh. Những biện pháp bắt giam đó 
      quá nhẹ, nhất là trong trường hợp Vũ Hạnh. Vũ Hạnh bị đưa ra xử án 
      ngày 10/06/67. Tội của y rành rành như chính y tự khai lý lịch hoạt 
      động của y như sau: “Ngày đầu xuân 1966, Đảng ủy văn hóa khu Sàigòn- 
      Gia Định làm việc “đơn tuyến” với tôi tại ngôi nhà gần bến đò Cây Me, 
      bên bờ sông Sàigòn. Địa điểm nằm trong tầm cối 81 ly của bót ngụy, 
      trong chợ Phú Hòa Đông”. Và nhân đó Vũ Hạnh nhận được lệnh: “Anh Hoàng 
      Hà truyền đạt: mở một mặt trận văn hóa tấn công địch trong vùng đô thị 
      bị tạm chiếm”. (Trích Từ Tòa án Văn Hóa đến Hát cho đồng bào tôi nghe, 
      Vũ Hạnh) 

      Và Vũ Hạnh được giao nhiệm vụ ấy. Hoàng Hà nói: 

      Vũ Hạnh à. Ông sẽ là Tổng thư ký mặt trận đó... 

      Bắt mà như thể không bắt, bắt rồi tha, rồi bắt. Nhiều trí thức, nhà 
      văn lên tiếng đòi tha Vũ Hạnh, trong đó có Hội Văn Bút do Thanh Lãng 
      làm chủ tịch. Khi Vũ Hạnh được tha, họ đã đưa xe đến tận khám Chí Hòa 
      đón về nhà và giúp đỡ tiền bạc để y sinh sống. 

      Đáng lẽ biết rõ là cộng sản thì mời ra Côn Đảo là đất của họ. Hay trả 
      về Bắc cho họ yên thân. 

      Kết luận 

      Lm Trần Hữu Thanh Nguồn: conggiaovietnam.net
      Người viết xin tạm ngừng phần bài viết này ở đây và dành một phần khá 
      quan trọng để viết về vai trò báo chí vào những năm chót của nên đệ 
      nhị cộng hòa kể từ 1974 đến 1975 với 3 điểm then chốt: Thứ nhất là 
      Phong trào nhân dân chống tham nhũng của Lm Trần Hữu Thanh, ngày 
      18/6/1974. Thứ hai Ngày ký giả đi ăn mày, ngày 10/10/1974. Thứ ba Ngày 
      báo chí và công lý thọ nạn, ngày 31/10/1974, trong đó có Báo Sóng Thần 
      phải ra tòa. 

      Để chuẩn bị cho bài viết này, tôi đã gặp Lm Trần Hữu Thanh, chủ tịch 
      Phong trào Nhân Dân chống tham nhũng, tại nhà thờ dòng Chúa Cứu Thế, 
      Hà Nội, ấp Thái Hà vào cuối năm 2005. Đồng thời cũng nói truyện và thu 
      băng với cựu dân biểu Dương Minh Kính, một trong những nhân vật quan 
      trọng hàng đầu của phong trào này... 

      Về vụ Báo Sóng Thần thì tôi cũng có một số tập tài liêu quý giá do Báo 
      Sóng Thần thu thập với gần 50 hình ảnh được ghi lại. Nhóm Sóng Thần 
      còn được gọi là Nhóm Hà Thúc Nhơn do quý anh Uyên Thao (Tổng thư ký 
      báo Sóng Thần), Lê Văn Thiệp soạn thảo cùng với giáo sư Đặng Thị Tám, 
      Nhà văn Trùng Dương (Chủ nnhiệm Sóng Thần) và ký giả Trần Phong Vũ. 

      Đấy là những giai đoạn đầy biến động mà nhiều người vẫn coi là niềm 
      hãnh diện chung của giới trí thức miền Nam như lời linh mục Nguyễn 
      Quang Lãm, chủ nhiệm báo Xây Dựng ghi lại: “... Và mai đây, vào sáng 
      ngày 31/10 này, hai chữ Sóng Thần lại sẽ thực sự được khắc vào bia đá 
      của lịch sử đấu tranh ”. 

      Tôi sẽ đặt nhan đề cho bài viết này là Một cuộc tự sát tập thể. Và tôi 
      hình dung, mường tượng ra cuộc “tự thiêu” của báo Sóng Thần vào lúc 18 
      giờ chiều, ngày 19/9/1974 như một báo hiệu cho một cuộc tự sát tập thể 
      sau này. Bởi vì chỉ 6 tháng sau, toàn miền Nam Việt Nam sẽ rơi vào tay 
      cộng sản. 

      Về phía người cộng sản thì tôi ghi nhận là trong cuộc biểu tình Ngày 
      báo chí thọ nạn, có hai cán bộ cộng sản đi hàng đầu là quý ông Tô 
      Nguyệt Đình và Ký Ninh, đi giữa có các dân biểu Nguyễn Minh Đăng và Lm 
      Trần Hữu Thanh. 

      Họ có mặt khắp nơi, khắp chốn. 

      Chính vì thế, họ có quyền tự hào là trong 30 năm qua, họ đã xây dựng 
      được một đội ngũ ký giả tạo thành Một Mặt trận báo chí với hằng trăm 
      người cầm bút, nhà báo, nhà văn can đảm đối đầu với “giặc ngoại xâm và 
      tay sai” và theo họ cũng là một điểm son của truyền thống đấu tranh 
      của thành phố Sài Gòn!!! 
      Nguyễn Văn Lục 

      © DCVOnline 

      No comments:

      Post a Comment