Wednesday, May 31, 2017

Làng nghề làm nồi đất

1.Làng nghề làm nồi đất duy nhất ở xứ Nghệ
Những chiếc nồi đất Trù Sơn được làm hoàn toàn bằng tay chỉ với bàn xoay, vài miếng giẻ nhỏ và những khoanh nứa mỏng để tạo dáng, làm nhẵn.Làng nghề làm nồi đất duy nhất ở xứ Nghệ
Để ghé thăm làng gốm cổ Trù Sơn cách thị trấn Đô Lương, tỉnh Nghệ An 20 km về phía đông nam, bạn đi từ đường 15 đến Mỹ Sơn, vượt đỉnh Cồn Nem.
Trù Sơn là làng gốm có một không hai bởi đây là nơi duy nhất còn làm ra các loại nồi bằng đất ở xứ Nghệ. Vì thế, ngoài tên Trù Sơn, nơi đây còn được gọi là làng "Nồi Đất".
Tất cả công cụ làm gốm chỉ bao gồm một bàn xoay, vài miếng giẻ nhỏ và những khoanh nứa mỏng để tạo dáng và làm nhẵn. 
Để có đất thích hợp, dân làng phải vượt cả quãng đường dài 7-10 km xuống xã Nghi Văn, Nghi Lộc hoặc lên tận Sơn Thành, Yên Thành để lấy. Vất vả, cơ cực là vậy nên người dân nơi đây gọi là nghề "bán xương, nuôi thịt”.
Đất sau khi lấy về được những người thợ nhồi kỹ cho lên bàn xoay để tạo ra hình dáng ban đầu của những chiếc nồi tròn trịa, đẹp mắt. Sau đó, qua bàn tay khéo léo, người thợ gọt lại cho thật trơn và đem đi phơi nắng, cuối cùng sẽ đưa vào lò nung.
Các sản phẩm của làng gốm Trù Sơn đều được làm thủ công, yêu cầu sự khéo léo, điêu luyện, trong đó phần lớn công đoạn tạo thành sản phẩm đều do phụ nữ trong làng đảm nhận.
Để có mẻ gốm đạt chất lượng khâu quan trọng nhất là nung gốm, muốn gốm "chín" đều người thợ phải biết cách xem lửa và dừng đúng lúc.
Một mẻ nung, khoảng 250 - 300 chiếc được xếp vào trong lò hình tam giác xây bằng đá ong, bên ngoài phủ một lớp rơm để giữ nhiệt. Gốm được đun bằng lá thông từ 4 đến 5 tiếng liên tục sẽ hoàn thành.
Để làm ra một chiếc nồi đất hoàn thiện đòi hỏi nhiều công đoạn tỉ mỉ, nhưng mỗi chiếc chỉ bán với giá 1.000 - 5.000 đồng. Tuy vậy, người làm gốm Trù Sơn bao đời nay vẫn duy trì nghề, tạo thêm thu nhập lúc nông nhàn.
Không cầu kỳ, tinh xảo như gốm sứ Bát Tràng hay Hội An thường được làm vật trang trí trong cung đình, gốm Trù Sơn lại phổ biến trong đời sống hàng ngày với các sản phẩm như nồi, siêu.
Đến nay, trải qua bao thế hệ dù có lúc thăng trầm người thợ Trù Sơn vẫn mãi say nghề say đất, để giữ gìn nét đẹp truyền thống của làng nghề gốm cổ lâu đời cho con cháu mai sau. Huyền Trần/Ảnh: Quốc Đàn 
2.Làng nghề làm nồi đất duy nhất ở huyện Hòn Đất – Kiên Giang

Làng nghề nắn nồi đất Hòn Đất
Làng nghề nắn nồi đất Hòn Đất
Nằm ở trung tâm huyện Hòn Đất, làng nghề truyền thống này đã góp phần bảo tồn những giá trị truyền thống mang dấu ấn văn hóa vùng, chuyên tạo ra những sản phẩm  bằng đất nung như: cà ràng, nồi, om, ơ…
Xuất hiện vào cuối những năm 20 của thế kỷ XX, vị sư tổ của làng nghề là người Khmer, về sau người Việt đã học và phát triển thành nghề truyền thống của người Việt. Nghề nắn nồi là một thuật ngữ chứa một khái niệm chung chỉ công việc tạo ra các sản phẩm làm từ đất nung.
Từ xưa, nghề nắn nồi đối với người dân ở đây chỉ là một nghề phụ, phát triển nhất vào mùa nông nhàn, được người dân làm sau khi sạ lúa xong. Trước năm 1980, vùng này chỉ làm ruộng một vụ nên sau khi sạ lúa có khoảng thời gian dài rảnh rỗi người dân lại làm nghề…
Nắn cà ràn
Nắn cà ràn
Hòn Đất là huyện thuộc tỉnh Kiên Giang, với thành phần dân cư chủ yếu gồm ba tộc người chính là Việt, Khmer và Hoa. Từ thị xã Rạch Giá, du khách đi khoảng 30km theo Quốc lộ 80 về hướng Tây Bắc sẽ đến trung tâm huyện Hòn Đất, Kiên Giang. Trãi rộng trên một không gian bao la, du khách sẽ bắt gặp những cánh đồng lúa xanh ngút ngàn, đan xen vào không gian ấy là cảnh mây trời và núi rừng, có cả cảnh biển bao la đang ẩn hiện trước mắt.
Cũng như bao nơi khác, nguyên liệu dùng để nắn nồi là đất sét, phải có đủ các tiêu chuẩn như dễ đánh bóng, chịu nhiệt cao, tính kết dính cao… mà loại đất này có sẵn trên địa bàn huyện. Để hoàn thành một sản phẩm bằng đất phải qua nhiều công đoạn, công đoạn đầu là nắn hay còn gọi là tạo hình vì tất cả các sản phẩm đều có khuôn (khung) bằng gỗ hoặc bằng đất nung, đến công đoạn vỗ, do đất ướt chứa nhiều nước nên sản phẩm mới đầu thường biến dạng, đòi hỏi người làm phải có kỹ thuật vỗ  bằng các thanh tre, sau đó là công đoạn làm bóng, tạo hoa văn để sản phẩm được nhẵn bóng hoàn chỉnh. Nếu được chứng kiến các công đoạn làm mới thấy để có được sản phẩm như ý đòi hỏi người thợ phải có kỹ thuật cao, bàn tay phải uyển chuyển, mềm mại, sáng tạo.
Không ảnh hưởng bởi công nghệ mà làng nghề vẫn phát triển
Không ảnh hưởng bởi công nghệ mà làng nghề vẫn phát triển
Sau một tuần lễ, các sản phẩm được phơi khô và có thể đưa vào nung, gọi theo tiếng nhà nghề là “đốt nồi”.  Công đoạn đốt nồi khá đơn giản nhưng phải là người có nhiều kinh nghiệm trong nghề, trước kia cũng có nhiều thợ đốt nồi chuyên nghiệp đi đốt thuê nhưng đến nay ai cũng có thể đốt được. Trước khi “nung” người thợ phải sắp mọi sản phẩm lên mặt đất, chèn rơm hoặc cỏ khô vào các sản phẩm, phía trên lớp rơm có một lớp củi tràm. Người ta thường tiến hành đốt vào lúc ban đêm để dễ theo dõi lửa cháy cho đều. Thông thường, các loại sản phẩm “nặng lửa” được đặt ở trung tâm, loại “nhẹ lửa” sắp ở chung quanh để sản phẩm không bị sống hoặc chín quá.
Có vậy mới biết, sức sống của một làng nghề truyền thống không những phải phù hợp với nhu cầu cuộc sống, mà còn là câu chuyện của thời gian, của quá khứ và những kỷ niệm đẹp, mang bóng dáng của miệt đồng quê, không dễ lãng quên.
Trước sự phát triển của kim loại, nhiều vật dụng đã thay thế các sản phẩm bằng đất nung nhưng  nghề nắn nồi ở Hòn Đất vẫn tồn tại và được nhiều người biết đến. Những hình ảnh cái nồi đất không phai mờ trong sinh hoạt của con người, càng ngày càng được tái hiện sinh động và chân thực dưới bàn tay tài hoa của những nghệ nhân nắn nồi. Giờ đây nhắc đến nồi đất là người ta nhớ đến một làng nghề nắn nồi ở Hòn Đất, một làng nghề thủ công truyền thống nổi tiếng ở Kiên Giang.
 Băng Tâm TH. Ảnh: Internet






No comments:

Post a Comment