Saturday, June 24, 2017

5 hạn chế lớn của TP HCM

Hạ tầng giao thông kém xa Hà Nội; ngập nước, sụt lún ngày càng nghiêm trọng... là quan điểm của các thứ trưởng trong buổi họp với lãnh đạo TP HCM. 
1. Hạ tầng giao thông kém xa Hà Nội
'Ha tang giao thong duong bo TP.HCM kem xa Ha Noi' hinh anh 1
Hạ tầng giao thông TP.HCM hiện còn nhiều khó khăn. Ảnh: Lê Quân. 
Thứ trưởng Bộ GTVT Nguyễn Ngọc Đông cho rằng hạ tầng giao thông TP.HCM đang gặp nhiều khó khăn, nhiều dự án chậm trễ và còn thua xa nếu so với Hà Nội.
Sáng 23/6, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc chủ trì cuộc làm việc với lãnh đạo TP.HCM với sự tham gia của các bộ, ngành trung ương tham gia. Về phía TP.HCM có Bí thư Thành ủy Nguyễn Thiện Nhân cùng các lãnh đạo UBND thành phố.
Tại buổi làm việc, Thứ trưởng Bộ GTVT Nguyễn Ngọc Đông đánh giá cao những cố gắng mà TP.HCM đã làm, đạt được trong 6 tháng đầu năm, đặc biệt là duy trì hạ tầng, cải tạo kỹ thuật, gỡ các nút giao thông thường xuyên xảy ra tình trạng kẹt xe. Tuy nhiên, Thứ trưởng Đông cho rằng dù là đầu tàu phát triển kinh tế của cả nước nhưng hạ tầng giao thông của TP.HCM còn nhiều hạn chế. Các dự án vành đai, metro còn chậm trễ, làm ảnh hưởng đến tổng quan hạ tầng giao thông toàn vùng.  Ông Đông kiến nghị TP cần bổ sung quy hoạch, thực hiện sớm các dự án quan trọng mà TP.HCM nên chủ động như tàu điện ngầm, các dự án lớn ở nội đô và các đường vành đai. Thứ trưởng Nguyễn Ngọc Đông hạ tầng giao thông TP.HCM vẫn còn nhiều khó khăn, đây là rào cản hết sức lớn, cản trở sự phát triển kinh tế của TP hiện nay và trong tương lai dài.“Nếu xe về hạ tầng đường bộ, TP.HCM hiện kém xa Hà Nội. Ở thủ đô, tất cả cửa ngõ đều thông thoáng, có đường cao tốc về các tỉnh, các tuyến đường vành đai khép kín. Còn ở TP.HCM chưa có đường vành đai nào. Vành đai 3 đóng vai trò vực dậy kinh tế cả vùng nhưng chưa có đoạn nào làm trọn vẹn”, ông Đông nói. Thứ trưởng Bộ Giao thông kiến nghị TP.HCM tập trung làm sớm đường vành đai 2, hoàn thiện các đoạn đường gặp khó khăn của vành đai 3. Đây là các dự án lớn, cấp bách, có vai trò quan trọng trong quy hoạch giao thông TP và cả vùng miền. 
Trước đó, ông Lê Thanh Liêm, Phó chủ tịch UBND TP.HCM kiến nghị Thủ tướng xem xét tạm ứng 3.303 tỷ đồng còn thiếu năm 2017 của dự án metro số 1 từ nguồn kế hoạch vốn ODA trung hạn giai đoạn 2016-2020. Có như vậy thì dự án này mới hoàn thành năm 2020 theo kế hoạch, còn nếu không thì dự án chắc chắn sẽ chậm tiến độ.“Các nhà thầu thi công nhiều lần đề nghị thanh toán kịp thời nếu không sẽ ngưng thi công, ảnh hưởng đến tiến độ công trình. Việc này cũng ảnh hưởng lớn đến uy tín của Nhà nước đối với các nhà đầu tư nước ngoài nói chung” - ông Lê Thanh Liêm kiến nghị. 
2. Ngập nước và sụt lún ngày càng nghiêm trọng

Trận mưa lịch sử tối 26-9 khiến hầu hết các tuyến đường tại TP Hồ Chí Minh ngập sâu, giao thông rối loạn. Ảnh: Lê Bình
Sau những trận mưa to trong hai ngày vừa qua, TP Hồ Chí Minh chìm trong biển nước. Tình trạng ngập lụt khiến cuộc sống của hàng triệu người dân bị ảnh hưởng nặng nề. Câu hỏi đặt ra là tại sao thành phố bỏ ra hàng chục nghìn tỷ đồng mỗi năm, thành lập đầy đủ ban ngành chống ngập mà ngập ngày càng nặng hơn?
Những ngày này, vấn đề quan tâm nhất của người dân TP Hồ Chí Minh là ngập nước. Những trận mưa to liên tiếp hai ngày qua khiến thành phố chìm trong biển nước, khiến cuộc sống của người dân bị đảo lộn.
Nhà chị Trần Thị Thanh Trang, ở đường Phan Anh, phường Tân Thới Hòa, quận Tân Phú bị nước ngập vào đến 40cm, làm hư hỏng nhiều đồ đạc. Thậm chí, cả nhà phải thức cả đêm để đắp bao cát, tát nước ra ngoài. Đến sáng 28-9, cả nhà chị phải huy động thêm người thân để tổng vệ sinh. Chị Trang cho biết:” Nhà tôi ở mặt đường nên khi mưa, nước tràn vào ướt hết đồ trong nhà. Gia đình cũng chỉ biết kê đồ lên, cái nào không kê được thì phải chịu. Mong sao chính quyền địa phương sớm có giải pháp để nước thoát được chứ cứ như thế này thì dân khổ quá”.
Theo Trung tâm điều hành chương trình chống ngập TP Hồ Chí Minh, trận mưa chiều tối 26-9 đo được ở nhiều trạm của thành phố lên đến hơn 170mm, kéo dài khoảng 1 giờ 30 phút, làm ngập 59 tuyến đường, có nơi ngập sâu gần 1m. Sau trận mưa này, cả các quận nội thành và ngoại thành đề bị ngập. Tại sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất, nước ngập cục bộ tại bãi đậu số 11, 12, 13, 14, 15 với chiều sâu 30cm nhiều giờ liền.
Cho đến hôm nay, các ban ngành và chính quyền TP Hồ Chí Minh vẫn đang thống kê, khảo sát thiệt hại. Biện pháp khắc phục là chưa cụ thể. Ông Nguyễn Thành Phong, Chủ tịch UBND TP Hồ Chí Minh cho biết: “Về phía chính quyền thành phố, chúng tôi đang tìm giải pháp trước mắt. Tuy nhiên, có những việc cần phải có thời gian, có lộ trình. Cùng với đó, chúng tôi cũng có những dự kiến, dự án khác để triển khai đồng bộ, kể cả về hạ tầng chứ không riêng gì chống ngập. Trong quản lý phải hết sức chú ý tính đồng bộ”.
Đại diện Trung tâm điều hành chương trình chống ngập TP Hồ Chí Minh cho rằng, sở dĩ thành phố bị ngập lụt như vậy là do đây là trận mưa cực lớn, vượt xa tần suất thiết kế hệ thống thoát nước hiện nay. Một nguyên nhân khác được Trung tâm chống ngập chỉ ra là do hiện tượng xả rác xuống hệ thống thoát nước còn phổ biến, rồi tình trạng người dân lấn chiếm hệ thống thoát nước, cửa xả, kênh rạch chưa được xử lý triệt để. Bên cạnh đó, một số dự án thoát nước bị chậm tiến độ hoặc chưa triển khai được.
Trung tâm chống ngập thành phố cũng cho biết, giai đoạn 2016 – 2020 thành phố cần khoảng gần 97 nghìn tỷ đồng cho các chương trình giảm ngập nước và ứng phó với biến đổi khí hậu. Trong đó, các dự án đã có nguồn và đang triển khai chiếm khoảng gần 23 nghìn tỷ đồng, còn lại khoảng 74 nghìn tỷ đồng được huy động từ vốn ngân sách thành phố, ngân sách trung ương và nguồn xã hội hóa.
Vấn đề chống ngập ở TP Hồ Chí Minh không phải là mới. Thậm chí, đây là vấn đề được thành phố đặt ra nằm trong bảy chương trình đột phá giai đoạn 2015-2020. Tuy nhiên, với những việc thành phố đã làm, hiệu quả mang lại là chưa cao. Trong đó có trách nhiệm của Trung tâm điều hành chương trình chống ngập.
PGS, TS Hồ Long Phi, Giám đốc Trung tâm Quản lý nước và biến đổi khí hậu, thuộc Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh cho rằng: “Thực ra, việc chúng ta chưa thống kê được hiện trạng hệ thống thoát nước là vì nhiều quá, được làm trong nhiều thời kỳ và chằng chịt. Thậm chí, nhiều hạng mục đã bị hư hỏng, đấu nối nhiều kiểu. Những hệ thống đó vừa cũ, vừa nhỏ nên không đáp ứng được tiêu chuẩn thiết kế của hệ thống cống gần đây. Hiện nay, chúng ta mới chỉ quanh quẩn ở hơn 100km2 thôi mà đã bỏ vào đó đến khoảng 1,5 tỷ USD rồi”.
Các biện pháp chống ngập mà thành phố Hồ Chí Minh đang đưa ra thảo luận là: Xây dựng hồ điều tiết, làm hệ thống cống thoát, van ngăn triều, nạo vét kênh rạch thông dòng chảy kênh rạch, cửa xả… và tìm nguồn kinh phí để thực hiện những kế hoạch này. Còn người dân thành phố thì vẫn từng ngày sống chung với ngập mà chẳng biết kêu ai.
Tình trạng sụt lún trên các tuyến đường ngày càng gia tăng trên địa bàn TPHCM đã ảnh hưởng rất lớn đến việc đi lại cũng như sinh hoạt hàng ngày của người dân. Theo các chuyên gia, nhà khoa học lẫn cơ quan chức năng, nguồn nước ngầm trên địa bàn TP đang bị khai thác quá mức là nguyên nhân đáng kể gây nên thực trạng đáng báo động này.
Không kiểm soát
Liên tiếp thời gian gần đây, hàng loạt sự cố sụt lún trên các tuyến đường, kênh rạch trên địa bàn TPHCM đã làm ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt hàng ngày của người dân. Cụ thể, chiều ngày 6-10, nhiều phương tiện lưu thông trên các tuyến đường Võ Văn Ngân, Kha Vạn Cân, Tô Ngọc Vân… đều bị ùn ứ khi qua ngã 5 chợ Thủ Đức do một đoạn mặt đường bị rào chắn vì sụt lún. Theo quan sát, bên trong đoạn rào chắn này xuất hiện hố sâu gần 1m, rộng khoảng 50cm và phía dưới khoét hàm ếch nham nhở. Xung quanh miệng hố, mặt đường cũng có dấu hiệu bị lún với chiều rộng khoảng 9m2 cùng nhiều vết nứt kéo dài.
TPHCM cần gia tăng diện tích đất, mặt nước lẫn cây xanh đô thị, đồng thời giảm diện tích bê tông hóa để lòng đất luôn được cung cấp đủ lượng nước bề mặt khi mưa xuống hay triều lên. Bên cạnh đó, cần trả lại nguyên trạng các con kênh, rạch đã bị lấn chiếm, quy hoạch xây dựng thêm kênh, rạch để thay thế bằng các tuyến cống hộp như hiện nay, vừa đảm bảo chống ngập vừa cung cấp lượng nước ngầm đáng kể cho lòng đất, từ đó sẽ giảm thiểu việc sụt lún mặt đất.
TS.KTS Ngô Viết Nam Sơn
Trước đó, ngày 2-10, một “hố tử thần” sâu khoảng 7m, khoét hàm ếch rộng 3m xuất hiện tại giao lộ Tô Ký - Nguyễn Ảnh Thủ (quận 12), cơ quan chức năng lập tức phong tỏa hiện trường, khiến người dân rất khó khăn khi di chuyển qua khu vực này. Ngày 14-9, mặt đường Hoàng Diệu 2 (quận Thủ Đức) bất ngờ sụt lún tạo thành một hố tử thần sâu gần 1m, rộng gần 1m, phía dưới khoét hàm ếch cùng nhiều vết nứt nham nhở. Nghiêm trọng hơn, ngày 4-8, trên tuyến đường Trường Sa (quận Phú Nhuận), xuất hiện một hố tử thần có độ sâu hơn 5m và độ dài hơn 8m, khiến hơn nửa phần vỉa hè bên bờ kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè bị lún sâu, tạo thành nhiều vết nứt lớn và bị khoét hàm ếch.
Trước thực trạng trên, TS. Phạm Sanh, nguyên giảng viên Đại học Bách Khoa TPHCM, cho rằng hệ thống các đường ống thoát nước đô thị, vệ sinh môi trường, chống ngập, nâng cấp đô thị… TP dù được đầu tư và thay mới đáng kể, nhưng vẫn còn một lượng lớn hệ thống đường ống ngầm đang bị xuống cấp và lạc hậu chưa được thay thế. Và khi áp lực nước chảy quá lớn sẽ gây ra hiện tượng nứt hay rò rỉ, thậm chí vỡ đường ống, làm lòng đất nhanh chóng bị xói mòn, tạo thành các hố hàm ếch ngay dưới lòng đất và gây ra sụt lún. Thế nhưng, xét về nguyên nhân sâu xa hơn, TS. Phạm Sanh cho hay việc sụt lún mặt đường liên tiếp thời gian gần đây tại TPHCM có thể do nước ngầm kéo đất cát chảy ra kênh, gây hỏng đường và lún sụt.
Còn theo TS.KTS Ngô Viết Nam Sơn, chuyên gia quy hoạch hạ tầng đô thị, với tốc độ bê tông hóa đô thị ngày càng gia tăng tại TPHCM khiến diện tích mặt nước lẫn cây xanh chỉ chiếm khoảng 15% tổng diện tích, trong khi theo quy chuẩn tại các đô thị lớn trên thế giới, tỷ lệ này phải đạt từ 30-40% diện tích mới đảm bảo đủ lượng nước ngầm. Hệ quả, không chỉ khiến lượng nước bề mặt không thể thẩm thấu vào đất để duy trì nguồn nước ngầm mà còn làm tăng tốc độ dòng chảy khi mưa xuống hay triều lên, dẫn đến tình trạng ngập nước ngày càng lan rộng.
Theo số liệu từ Sở Tài nguyên-Môi trường TPHCM vừa công bố, trên địa bàn TP có khoảng 20 khu vực bị sụt lún nhanh và 40 khu vực khác bị sụt lún với tốc độ chậm hơn. Tổng diện tích vùng sụt lún lên đến gần 7.200ha. Trong đó, các khu vực bị sụt lún nhanh gồm: quận 8, quận 12, Bình Tân và Bình Thạnh; huyện Bình Chánh, Hóc Môn và Nhà Bè. Các nhà khoa học cảnh báo tình trạng khai thác nước ngầm vượt mức là nguyên nhân góp phần gây ra hiện tượng sụt lún đất trên.
Sut lun: Do khai thac nuoc ngam qua muc? - Anh 1
Cần thu hẹp
Để hạn chế tình trạng khai thác nước ngầm bừa bãi, mới đây Ban Quản lý các Khu chế xuất và công nghiệp TPHCM (HEPZA) cùng với Tổng công ty Cấp nước Sài Gòn (Sawaco) cam kết việc cung cấp và sử dụng nước sạch nhằm hạn chế, tiến tới ngưng khai thác nước dưới đất tại HEPZA. Được biết, TPHCM có 17 khu công nghiệp - khu chế xuất đang hoạt động với diện tích gần 4.000ha. Hàng trăm ngàn người lao động vẫn chủ yếu sử dụng nguồn nước ngầm đã dẫn đến ảnh hưởng môi trường, tầng nước ngầm (sụt lún nội bộ trong khu vực). Chính quyền TPHCM cũng đã ra Quyết định 69/2007/QĐ-UBND của UBND TP về việc quy định hạn chế và tiến tới ngưng khai thác nước dưới đất trên địa bàn.
Theo PGS.TS Chế Đình Lý, nguyên Phó Viện trưởng Viện Môi trường và Tài nguyên TPHCM, giải pháp căn cơ hiện nay là cơ quan chức năng cần tăng cường giáo dục, tuyên truyền để nâng cao ý thức cho người dân trong việc bảo vệ nguồn nước ngầm, không được khoan, đào giếng một cách bừa bãi để khai thác nguồn nước ngọt, mới chấm dứt được tình trạng nguồn nước ngầm bị thiếu. Đối với các dự án thoát nước đô thị, vệ sinh môi trường TP… hiện nay, việc kiểm tra, bảo trì hệ thống đường ống ngầm vẫn chủ yếu được thực hiện bằng kinh nghiệm và các biện pháp rất thủ công ở trên mặt đất mà thiếu các ứng dụng tiên tiến của khoa học công nghệ. Do đó, để giải bài toán sụt lún mặt đất nơi có các dự án này đi qua, các đơn vị quản lý cần tăng cường trang bị, ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ như đưa các thiết bị robot có gắn camera vào trong lòng cống, hay vận hành các thiết bị siêu âm lòng đất để kiểm tra chất lượng đường ống thoát nước.
3.Xuất khẩu nhiều yếu kém

Phụ thuộc FDI
Theo Cục Xuất nhập khẩu, Bộ Công thương, dự kiến kim ngạch XK cả năm 2016 ước đạt 176 tỷ USD và nhập khẩu (NK) ước đạt 174 tỷ USD. Về cơ bản, cơ cấu XK vẫn đang duy trì theo tỷ lệ sản phẩm công nghiệp chiếm khoảng 80%, còn lại 5% là thuộc về các sản phẩm nông sản, 5% thuộc về nhóm nhiên liệu, khoáng sản.
Đáng chú ý, năm qua một số mặt hàng XK đã có những cú “lội ngược dòng” bứt phá ngoạn mục với nhiều điểm sáng. Đơn cử, XK rau quả lần đầu tiên vượt qua gạo nhờ hàng hóa phong phú về số lượng, chủng loại, chất lượng. Mặt khác, có sự tích cực nhập cuộc thị trường của các nhà sản xuất và nhà kinh doanh, đặc biệt là thị trường rau quả cao cấp.
Tương tự, năm 2016 cà phê cũng tăng trưởng khá ấn tượng với 25,7%. XK thủy sản cả năm 2016 cũng đã vượt khó đi lên từ năng lực đánh bắt, mở rộng diện tích nuôi trồng, cải hoán con giống. Năm qua, tôm vẫn đứng đầu bảng, chiếm tỷ trọng 45% tổng kim ngạch XK thủy sản vì đã vào được 75 thị trường. Cá tra duy trì vị trí số 2. Bên cạnh đó, cá ngừ đại dương cũng đã có sự bứt phá ngoạn mục nhờ vào việc hợp tác với Nhật Bản trong các khâu như: Đánh bắt, bảo quản từ ngoài khơi, chế biến đưa thẳng sang kho hàng Nhật Bản, nâng giá trị cá ngừ lên đáng kể.
Hiện có 8 thị trường lớn nhập 88,2% lượng cá ngừ của Việt Nam gồm: Hoa Kỳ, EU, ASEAN, Trung Quốc, Israel, Nhật Bản, Canada, Mexico. XK cao su thiên nhiên đạt 1,7 tỷ USD, tiếp tục giữ vững vị trí thứ 3 về sản lượng và XK trên thế giới. Không chỉ nằm trong top 3, thương hiệu VietNam Rubber, còn XK 1,5 tỷ USD các sản phẩm từ cao su như lốp xe, linh kiện cao su, băng tải cộng với 1,2 tỷ USD các sản phẩm từ gỗ cao su. XK điện thoại năm nay vượt lên dẫn đầu các mặt hàng XK, đạt 34,5 tỷ USD…
Theo đánh giá của Bộ Công thương, Hoa Kỳ và châu Âu vẫn là thị trường XK lớn của Việt Nam. Năm 2016, Hoa Kỳ là khách hàng mua tôm lớn nhất, chiếm 23,4% thị phần tôm Việt Nam XK. Hai thị trường này luôn là khách hàng tiềm năng đối với hàng nông, thủy sản Việt Nam.
Chế biến cao su xuất khẩu. Ảnh: CAO THĂNG
Mặc dù bức tranh XK của hàng hóa nội địa năm qua có những điểm sáng, song so với mục tiêu 10% đặt ra từ đầu năm, XK năm nay đã không được như kỳ vọng, chỉ đạt khoảng 8%. Trong đó, có những mặt hàng XK “thụt lùi” như dệt may, da giày, gạo... “Có thể nói, hạt gạo Việt vừa thất bát trên đất khách, đang thua tại sân nhà. Kém người Thái đi trước, có thể thua Campuchia đang bám sát”, một chuyên gia nêu thực trạng. Nhìn nhận chung toàn cảnh XK chưa đạt như kỳ vọng, Cố vấn cấp cao Viện Nghiên cứu thương mại, Bộ Công thương Phạm Tất Thắng cho rằng, ngoài tốc độ tăng trưởng XK không cao như những năm trước còn xuất hiện nhược điểm như các mối quan hệ nhập siêu vẫn chưa được cải thiện. Nguyên nhân là Việt Nam vẫn phụ thuộc nhiều vào một số thị trường và thậm chí phụ thuộc vào một số doanh nghiệp (DN) như Samsung. “Do vậy, khi có hiện tượng Samsung thu hồi điện thoại Samsung Galaxy Note 7 vừa qua đã ảnh hưởng lớn tới kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam”, ông Thắng dẫn chứng.
Thay đổi tư duy
Theo ông Phạm Tất Thắng, Việt Nam hiện có đến 95% DN vừa và nhỏ, thậm chí siêu nhỏ nên việc tập trung cho công nghệ còn hạn chế. Thậm chí, nhiều DN Việt Nam làm ăn phi công nghệ, 45% DN có công nghệ trung bình thấp, chỉ 8% là có trình độ công nghệ trung bình và chỉ khoảng 2% DN có trình độ cao. Từ đó, dẫn đến nhiều ngành hàng dù là thế mạnh của Việt Nam nhưng lại XK dưới dạng thô, dẫn đến giá trị gia tăng thu về không nhiều. Cùng quan điểm, PGS-TS Phan Tố Uyên cho rằng, quy mô nhỏ, tính chất phi chính thức lớn, công nghệ và quản lý còn yếu kém, sức cạnh tranh không cao là thực trạng phổ biến của các DN Việt Nam hiện nay. Trước thực trạng này, để giúp các DN Việt Nam vươn ra thị trường thế giới, Nhà nước cần tạo dựng môi trường kinh doanh, hỗ trợ các DN vay vốn và ứng dụng khoa học kỹ thuật, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh, mở rộng quy mô sản xuất, từng bước tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu, đẩy mạnh XK. Mặt khác, để XK tăng trưởng bền vững, cần tái cơ cấu lại các ngành hàng, tránh quá phụ thuộc vào một thị trường cũng như phụ thuộc vào việc đóng góp của khối doanh nghiệp FDI. Quan trọng hơn, các bộ, ngành cần tập trung xây dựng được thương hiệu cho ngành hàng và từng mặt hàng xuất khẩu để nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm.

Theo PGS-TS Phạm Tất Thắng, yếu tố quyết định trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh là ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ hiện đại để nâng cao chất lượng hàng hóa và dịch vụ, giảm giá thành và nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm và DN. Chính vì vậy, bằng nhiều cách, DN phải tiếp cận và làm chủ được kỹ thuật mới, công nghệ hiện đại để áp dụng vào quá trình sản xuất kinh doanh. Bên cạnh đó, càng hội nhập sâu, hàng rào thuế quan ngày càng được dỡ bỏ, thay vào đó là hàng rào phi thuế quan như biện pháp phòng vệ thương mại, vệ sinh an toàn thực phẩm… sẽ được dựng lên. Vì thế, DN cần hiểu rõ các rào cản này đối với từng loại hàng hóa, dịch vụ trên từng thị trường mà DN hướng tới; chuẩn bị điều kiện về thông tin, hiểu biết về pháp lý để đối mặt với những xung đột pháp lý trong quá trình sản xuất kinh doanh trên thị trường. Ngoài ra, cộng đồng DN cần phải điều chỉnh lại tầm nhìn, tư duy kinh doanh và cách ứng xử của mình cho phù hợp với hoàn cảnh mới. DN nên sớm bỏ tư duy manh mún, chộp giật để xây dựng một định hướng cho hoạt động kinh doanh trên thị trường khu vực và quốc tế, chấp nhận cạnh tranh quốc tế trên mọi phân khúc thị trường để vươn lên, tăng trưởng bền vững.
4.Giảm biên chế quá thấp
Với số lượng hàng nghìn cán bộ công chức viên chức đang làm việc trong bộ máy hành chính, thực hiện quy định của Chính phủ về tinh giản 10% biên chế, tính đến thời điểm này TPHCM mới giảm được 123 người.
Phó Thủ tướng thường trực Trương Hoà Bình làm việc với lãnh đạo TPHCM.Phó Thủ tướng thường trực Trương Hoà Bình làm việc với lãnh đạo TPHCM.
Thông tin do Phó Chủ tịch UBND TPHCM Trần Vĩnh Tuyến đưa ra tại buổi làm việc với Phó Thủ tướng thường trực Trương Hoà Bình về công tác cải cách thủ tục hành chính diễn ra chiều nay, 26/9.
Ông Tuyến cho biết thêm: TPHCM có 322 phường xã thị trấn đã lập Phòng tiếp nhận và trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính “một cửa”.
Chủ tịch UBND TPHCM Nguyễn Thành Phong cho biết để phục vụ người dân, doanh nghiệp tốt hơn, cải cách hành chính đóng vai trò then chốt và là một trong 7 chương trình đột phá của thành phố. Vừa qua, UBND thành phố đã xin ý kiến Thành uỷ xây dựng TPHCM trở thành thành phố thông minh, phấn đấu đến đầu quý I/2017 hoàn thành đề án.
Phó thủ tướng Trương Hoà Bình lưu ý lãnh đạo TPHCM việc chấp hành kỷ cương, kỷ luật của một số cán bộ công chức một số nơi chưa nghiêm, chưa hết lòng hết sức làm công bộc của dân, nhũng nhiễu, hách dịch, dẫn đến trì trệ. Việc thực hiện thủ tục hành chính một số lĩnh vực còn bất cập. TPHCM mới tinh giản 123 biên chế là chậm, chưa đạt.
5,Cơ sở vật chất cho giáo dục chưa đáp ứng
Theo Quyết định số 64/2013/QĐ-TTg ngày 11-11-2013 của Thủ tướng Chính phủ thì trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp (ĐH-CĐ-TCCN) được thành lập hoặc cho phép thành lập khi có đủ các điều kiện như có đất đai, cơ sở vật chất, thiết bị, ký túc xá sinh viên... đáp ứng yêu cầu hoạt động đào tạo theo quy định hiện hành của Bộ GD-ĐT. Địa điểm xây dựng trường ĐH phải bảo đảm về môi trường giáo dục, an toàn cho người dạy, người học. Tuy nhiên, tại TP Hồ Chí Minh, có nhiều trường đang chưa biết khi nào mới có thể chấm dứt tình cảnh phải thuê mướn cơ sở vật chất...
Trường đi thuê
Theo báo cáo của Sở GD-ĐT TP Hồ Chí Minh với Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng - Quốc hội khóa XIV về tình hình hoạt động, phát triển các trường ĐH-CĐ-TCCN tại TP Hồ Chí Minh, trên địa bàn thành phố vẫn còn nhiều trường chưa làm thủ tục chuyển sở hữu về nhà trường theo quy định. Một số trường có quyết định đặt cơ sở đào tạo chưa đúng quy định (Trường ĐH Công nghệ TP Hồ Chí Minh) và một số trường có cơ sở đào tạo chưa được cơ quan có thẩm quyền cho phép. Nhiều trường có sử dụng phần lớn cơ sở hạ tầng thuê mướn để hoạt động và chưa được cơ quan có thẩm quyền cho phép đặt địa điểm đào tạo. So với cam kết thành lập, nhiều trường chưa có đủ đất thuộc sở hữu mà vẫn thuê mướn cơ sở đào tạo tạm bợ.
Đơn cử, tại Trường ĐH quốc tế Hồng Bàng sau khi có nhà đầu tư mới vẫn phải đi thuê mướn cơ sở rải rác tại nhiều quận trong thành phố. Đáng nói, Trường ĐH Công nghệ thông tin Gia Định thành lập từ năm 2007 nhưng đến nay vẫn phải thuê mướn 100% cơ sở phục vụ hoạt động tại quận 7, quận 10, quận Tân Phú. Trong khi đó, nhiều trường ĐH công lập có thương hiệu cũng vẫn phải đi thuê mướn cơ sở để đào tạo như Trường ĐH Tài chính Marketing, Trường ĐH Công nghiệp thực phẩm, Trường ĐH Mở... Tương tự, các trường CĐ mang danh “quốc tế” vẫn đi thuê 100% cơ sở để hoạt động như Trường CĐ quốc tế PSB, Trường CĐ quốc tế Kent và Trường CĐ Nghề Việt Mỹ. Còn riêng các trường TCCN tại TP Hồ Chí Minh đến 90% là đi thuê mướn các cơ sở để đào tạo.
Cần cơ chế minh bạch thông tin
Trao đổi về vấn đề này, TS Phạm Thị Ly (Viện Nghiên cứu đào tạo quốc tế - thuộc ĐH Quốc gia TP Hồ Chí Minh) cho rằng, nhà đầu tư hay giảng viên, kể cả sinh viên thì cũng đều mong ước có cơ sở vật chất tốt phục vụ cho dạy và học. Nhưng chi phí cho đất đai ở những thành phố lớn quá đắt đỏ, nếu mua đất xây trường, chi phí vốn cũng sẽ đội lên và cuối cùng sinh viên sẽ phải gánh mức học phí cao...
Một chuyên gia nghiên cứu về lĩnh vực giáo dục khác nhận định, tại TP Hồ Chí Minh có thể vì quy chế tư thục còn chưa ổn định, nên không ít nhà đầu tư chỉ lo tồn tại chứ chưa thực chú trọng tính bền vững trong xây dựng đội ngũ giảng viên nòng cốt hay cơ sở vật chất...
Muốn giải quyết bài toán cơ sở vật chất cho các trường ĐH-CĐ-TCCN tại TP Hồ Chí Minh, TS Phạm Thị Ly phân tích, cơ quan quản lý cần tập trung vào những vấn đề cốt lõi như dữ liệu xây dựng chính sách, chất lượng của chính sách và những cơ chế thúc đẩy minh bạch thông tin, thay vì đuổi theo kiểm soát hoạt động của cấp trường. Thay vì đặt câu hỏi “cơ quan quản lý cần làm gì để kiểm soát các trường?”, cần quan tâm tới việc “cơ quan quản lý có thể làm gì để hỗ trợ các trường trong việc phục vụ lợi ích của người học?”.
Song song giải pháp trên, có ý kiến cho rằng cần công khai các số liệu về tình trạng cơ sở vật chất, lực lượng giảng viên, thẩm định về chất lượng đào tạo của từng trường, để người học tự chọn môi trường đào tạo; trường nào không đủ cơ sở vật chất thì đóng cửa; trường nào chịu đầu tư, có dự án khả thi và có đất thì Nhà nước nên có chính sách hỗ trợ...
Trong khi những bàn cãi về chương trình, nội dung đào tạo của giáo dục đại học vẫn chưa ngã ngũ, nhiều giảng đường, khu học tập, phòng thí nghiệm, thư viện, trang thiết bị - cái vỏ vật chất thuần túy - của các trường đại học, cao đẳng (ĐH, CĐ) công lập đang mỗi ngày mỗi rệu rã, xuống cấp trong sự nghèo nàn, lạc hậu đáng ngại.
Cơ sở vật chất các trường đại học, cao đẳng Phóng to
Khoảng không gian sân trường duy nhất của Trường ĐH Mở TP.HCM bị tận dụng thành bãi đỗ xe vì diện tích trường quá hẹp - Ảnh: Thuận Thắng
Khi một khảo sát tương đối chi tiết của Cục Cơ sở vật chất, thiết bị trường học và đồ chơi trẻ em (Bộ Giáo dục - đào tạo) về cơ sở vật chất các trường ĐH, CĐ công lập được công bố với 50% trường ở mức dưới chuẩn, nhiều người đã gọi đó là “thảm cảnh” của nền giáo dục ĐH. Song đó là một thực tế đã nhiều năm, khi các trường ĐH tồn tại, phát triển không theo một kế hoạch và quy chuẩn chung nào về cơ sở vật chất.
50% trường ở mức dưới chuẩn
TỈ lệ bình quân diện tích sử dụng học tập của sinh viên nói chung chỉ đạt 3,6m²/sinh viên, trong khi quy định chung ở VN là 6m²/sinh viên và ở các nước phát triển là 9-15m²/sinh viên. Hiện chỉ có 19,50% số sinh viên được ở trong ký túc xá của các trường ĐH, CĐ. Tình trạng phổ biến ở nhiều trường ĐH là ký túc xá xuống cấp, không gian học ngoài giờ lên lớp của sinh viên không có và thiếu trầm trọng các công trình phục vụ công cộng trong các trường ĐH, CĐ...
Theo ông Trần Duy Tạo - cục trưởng Cục Cơ sở vật chất, thiết bị trường học và đồ chơi trẻ em, so với tiêu chuẩn thiết kế trường ĐH (55-85m²/sinh viên), có đến trên 50% số trường ĐH, CĐ ở mức dưới chuẩn. Bình quân diện tích đất cho một sinh viên ĐH, CĐ hiện rất thấp (35,7m²/sinh viên).
Tại khu vực Hà Nội, bình quân diện tích đất/sinh viên của các trường chỉ có 13m²/sinh viên. Còn tại TP.HCM là 10m²/sinh viên. Cả hai thành phố này có khoảng 30-40% số trường có bình quân diện tích đất dưới 5m²/sinh viên. Một số trường trong tình trạng cực kỳ chật chội, chẳng hạn ĐH Xây dựng Hà Nội chỉ có 0,84m²/sinh viên, ĐH Luật Hà Nội là 0,67m²/sinh viên, ĐH Ngoại thương Hà Nội là 1,08m²/sinh viên và ĐH Kinh tế TP.HCM chỉ 0,54m²/sinh viên....
Theo khảo sát này (ở gần 200 trường ĐH, CĐ), khu học tập của sinh viên hầu hết trong tình trạng lạc hậu và xuống cấp nghiêm trọng. Nhiều trường ĐH công lập vẫn phải thuê cơ sở bên ngoài làm nơi học tập hoặc bắt sinh viên học tăng ca do thiếu giảng đường. Lãnh đạo Trường ĐH Khoa học Huế cho hay trường có hàng chục phòng học cấp 4 đang xuống cấp nặng nề nhưng chưa thể tu sửa. Đại diện ĐH Mỏ địa chất Hà Nội cũng cho biết không chỉ thiếu phòng học, trường này còn không có phòng chuyên dùng phục vụ công tác chấm thi, hội thảo quốc tế; các phòng học, giảng đường hầu như không có phương tiện kỹ thuật (máy tính, máy chiếu, video...).
Máy móc mua từ năm 1962
Thư viện nghèo nàn
Trong tổng số 172 thư viện truyền thống của gần 200 trường ĐH, CĐ, Bộ GD-ĐT cho biết chỉ 38,9% thư viện áp dụng các tiêu chuẩn thư viện hiện có của VN hoặc thế giới. 39,3% số trường được khảo sát có thư viện điện tử song hầu hết chưa đáp ứng nhu cầu truy cập, trung bình 175 sinh viên mới có một máy, số bản tài liệu/sinh viên cũng rất thấp.
Với khoảng 150 triệu đồng kinh phí bổ sung để đầu tư cho tài liệu mỗi năm, hệ thống thư viện của ĐH Khoa học Huế vẫn thiếu sách phục vụ sinh viên, nguồn tài liệu điện tử nghèo nàn. Một số chuyên ngành mới còn thiếu tài liệu. Ban giám hiệu Trường ĐH Mỏ địa chất Hà Nội thừa nhận thư viện với nguồn tài liệu nghèo nàn chính là một trong những nguyên nhân khiến tỉ lệ giảng viên, sinh viên nghiên cứu khoa học ở mức thấp.
Theo Bộ GD-ĐT, khảo sát trong số 5.572 phòng thí nghiệm của các trường ĐH, CĐ, chỉ có 22,5% phòng thí nghiệm có thiết bị tốt, 19% phòng thí nghiệm có công nghệ hiện đại, chủ yếu của các trường ĐH đầu ngành. Nhiều phòng thí nghiệm, xưởng thực hành của các trường ĐH, CĐ hiện nay mới đáp ứng được khoảng 40% nhu cầu của sinh viên.
Các trường ĐH, CĐ đều nhìn nhận tình trạng thiết bị thí nghiệm, thực hành của họ đang “rất thiếu và rất yếu”. Theo lãnh đạo ĐH Khoa học Huế, chất lượng thực hành, thí nghiệm của trường không đạt chuẩn do các loại thiết bị đều đã hư hỏng, lạc hậu và chậm được sửa chữa. ĐH Mỏ địa chất Hà Nội chỉ có 300 máy tính, trung bình 40 sinh viên/máy và chỉ khoảng 50% số máy tính này được nối mạng Internet. Cả trường chỉ có ba phòng học đa năng loại nhỏ.
So với nhiều trường khác, ĐH Khoa học tự nhiên (ĐHQG TP.HCM) được cấp nhiều kinh phí hơn để trang bị các thiết bị phục vụ đào tạo. Song không ít khoa trong trường vẫn đang phải dạy và học với những thiết bị thực hành lạc hậu. Không chỉ thiếu máy móc phân tích thiết yếu cho ngành sinh học phân tử, chuyên ngành sinh lý thực vật vốn có nhiều công đoạn thí nghiệm, thực hành cần máy đo quang hợp, đo hô hấp cũng đang sử dụng một máy có công năng tương tự được mua từ năm... 1962, mỗi lần hư phải tìm phụ tùng thay thế rất vất vả.
Giảng viên cũng phải tự tìm mua nhiều thiết bị khác nhau để chế các dụng cụ thí nghiệm... Vì vậy, các công đoạn thí nghiệm thực hiện khá thủ công. TS Nguyễn Du Sanh, trưởng khoa sinh học, cho biết: “Chúng tôi nhiều lần đề nghị trường trang bị máy đo quang hợp mới nhưng chưa được duyệt vì kinh phí quá cao. Một máy hiện đại giá khoảng 50.000 USD”. Nhiều giảng viên của trường lo ngại về sự chênh lệch rất lớn giữa trường và các doanh nghiệp, khi các công ty hiện nay sử dụng máy móc hiện đại hơn hẳn khiến nhiều sinh viên ra trường không thể làm việc được.
“Trong đào tạo hàng hải, chi phí đầu tư trang thiết bị dạy học rất lớn. Ở các nước, việc trang bị tàu thuyền cho sinh viên thực tập đều do nhà nước đầu tư nhưng ở VN các trường phải tự lo” - một lãnh đạo Trường ĐH Giao thông vận tải TP.HCM cho biết. Trường này hiện chỉ có một chiếc tàu nên không đáp ứng được nhu cầu thực tập của sinh viên. Nhiều năm nay, nhà trường phải hợp đồng thuê tàu nhỏ, chạy ven sông cho sinh viên thực tập với chi phí 3-4 triệu đồng/sinh viên/tuần. Ở khoa cơ khí của trường, thạc sĩ Lê Văn An khẳng định với cơ sở vật chất như hiện nay của các trường thì “không thể nào dạy tốt”, cũng không thể đáp ứng yêu cầu của xã hội vì sinh viên ra trường không thể làm việc được ngay.
“Trong chương trình đào tạo sinh viên ngành cơ khí có môn công nghệ CNC nhưng nhà trường lại không có dàn máy CNC công nghiệp cho sinh viên thực hành. Chúng tôi phải liên hệ với các công ty gửi sinh viên đến thực tập” - ông An nói. Tuy nhiên, việc đào tạo theo học chế tín chỉ khiến lịch học của sinh viên rất khác nhau, lại có tới hơn 200 sinh viên học môn này nên không chỉ việc xếp lịch học rất căng mà trường cũng gặp không ít khó khăn trong việc đưa sinh viên ra bên ngoài thực tập.
Học ở trường, thực hành ở công ty
Trong chương trình đào tạo của khoa cơ khí có các môn công nghệ CAD/CAM-CNC (tiện, phay). Đây là những môn học cần nhiều thời gian thực hành, sinh viên cần đứng máy nhiều mới làm quen và có thể nắm bắt được công nghệ gia công mới này. Tuy nhiên, vì chưa có xưởng thực hành CNC, trường đưa sinh viên ra các công ty bên ngoài thực hành rất bất tiện. Khi đến các công ty thực hành, sinh viên có rất ít thời gian để làm. Các lớp được chia nhóm (25 sinh viên/nhóm) nhưng vẫn không đủ máy (4-5 sinh viên/máy), vì thế trong khi một số sinh viên làm thì các bạn khác chỉ đứng nhìn.
Trong bối cảnh cơ sở vật chất, thiết bị đào tạo của các trường ĐH, CĐ công lập thiếu thốn hiện nay, một số trường đã chủ động tìm lối đi riêng để khắc phục tình trạng này.
Cơ sở vật chất các trường đại học, cao đẳng Phóng to
Sinh viên năm 2 khoa điện tử viễn thông ĐH Khoa học tự nhiên TP.HCM thực tập trong phòng thí nghiệm điện tử với nhiều máy hiện sóng (Oscilloscope) lúc dùng được lúc không - Ảnh: Thuận Thắng
Ngân sách giáo dục hạn chế được coi là một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng nghèo nàn, lạc hậu về cơ sở vật chất, thiết bị đào tạo của các trường ĐH, CĐ, dù ông Nguyễn Trường Giang, Vụ Ngân sách tài chính sự nghiệp - Bộ Tài chính, vẫn khẳng định ngân sách dành cho giáo dục ĐH đã được ưu tiên “hết mức có thể”. Thực tế không thể tìm sự đột phá ở việc tăng chi ngân sách cho giáo dục ĐH hiện nay.
Tăng cường đầu tư thiết bị dùng chung là hướng mà nhiều trường ĐH, CĐ đã và đang tính đến trong điều kiện kinh phí eo hẹp. Theo lãnh đạo ĐH Bách khoa Hà Nội, năm học 2009-2010, trường đã lắp đặt thiết bị đồng bộ cố định cho 18 giảng đường, hệ thống này được theo dõi và hỗ trợ kỹ thuật từ xa thông qua tín hiệu của giảng viên báo về phòng trung tâm. Đây cũng là trường đi đầu trong việc triển khai xây dựng phòng thí nghiệm mở theo mô hình phòng thí nghiệm đa ngành, phòng thí nghiệm liên ngành... Cán bộ trong và ngoài trường đều có thể đăng ký sử dụng thiết bị của các phòng thí nghiệm trên.
Theo ông Nguyễn Cảnh Lương - hiệu trưởng Trường ĐH Bách khoa Hà Nội, ngoài việc tăng cường hợp tác quốc tế, đẩy mạnh liên kết đào tạo để qua đó đầu tư cho cơ sở vật chất phục vụ giảng dạy, trường cũng đầu tư nghiên cứu để khai thác tối đa thiết bị hiện đại của các phòng thí nghiệm trọng điểm. Để duy trì hoạt động của hệ thống phòng thí nghiệm, lãnh đạo nhà trường cho biết đã phải áp dụng hàng loạt biện pháp tiết kiệm nghiêm ngặt để giảm chi, đồng thời xây dựng định mức vật tư hóa chất tiêu hao cho các bài thí nghiệm.
Tăng nguồn đầu tư ngoài ngân sách
TS Lâm Mai Long, phó hiệu trưởng Trường ĐH Sư phạm kỹ thuật TP.HCM, cho rằng tăng cường nguồn đầu tư ngoài ngân sách nhà nước là giải pháp đáng kể nhất để khắc phục tình trạng thiếu thốn hiện nay ở các trường. Theo ông, nguồn đầu tư này chủ yếu dựa vào các tổ chức phi chính phủ và các dự án vốn vay ODA, song quan trọng nhất vẫn là tận dụng những cơ hội tài trợ không hoàn lại của các tổ chức phi chính phủ và các doanh nghiệp. Việc này đòi hỏi sự chủ động của các trường.
Chỉ trong hai năm 2009-2010, ĐH Sư phạm kỹ thuật TP.HCM đã nhận được nguồn tài trợ gần 1,7 triệu USD, trong đó có những dự án lớn như dự án phòng thí nghiệm điện trị giá khoảng 20 tỉ đồng do Tập đoàn GE tài trợ. Đầu tháng 12-2009, nhà trường đã tiếp nhận và đưa vào sử dụng phòng thí nghiệm tự động hóa vốn đang là ước mơ của không ít trường ĐH. Phòng thí nghiệm này được trang bị máy móc, thiết bị thuộc loại hiện đại nhất khu vực châu Á - Thái Bình Dương trong lĩnh vực tự động hóa công nghiệp hiện đại. Đặc biệt, phòng thí nghiệm này còn được trang bị hệ thống mạng công nghiệp hiện đại ba lớp EtherNet, ControlNet và DeviceNet. Tất cả thiết bị này của Hãng Rockwell Automation (Mỹ) tài trợ với tổng giá trị 355.603 USD.
Làm thế nào để thu hút những nguồn tài trợ như thế? Theo ông Long, việc tài trợ trang thiết bị cho các trường, doanh nghiệp cũng có lợi vì nhà trường chính là nơi đào tạo, cung ứng nhân lực cho doanh nghiệp. Chưa kể các doanh nghiệp còn có nhu cầu quảng cáo thương hiệu và thiết bị của họ. “Các doanh nghiệp tìm đến trường ĐH không phải là tình cờ. Tuy nhiên, nhà trường cũng phải chủ động tìm kiếm, mời gọi họ. Chất lượng đào tạo của nhà trường đóng vai trò quan trọng trong vấn đề này. Vì vậy các trường cần công khai chất lượng đào tạo của mình, khi người ta tin cậy sẽ tìm đến trường” - ông Long nói.
Chia sẻ tài sản công
Không ít ý kiến cho rằng dù các trường ĐH, CĐ đều đang thiếu thiết bị, song bản thân việc đầu tư mua sắm trang thiết bị cũng chưa được thực hiện một cách khoa học. Vì vậy hiệu quả đầu tư chưa được như mong muốn. Theo ông Trần Tiến Phức (ĐH Nha Trang), trong nhiều khó khăn về kinh phí, việc xây dựng trung tâm thí nghiệm thực hành sử dụng chung là giải pháp tốt nhất của trường để khắc phục sự thiếu thốn thiết bị phục vụ đào tạo. Với hướng đi này, nhà trường đã có thể tăng tần suất hoạt động của thiết bị, sử dụng tối đa cơ sở vật chất đã được đầu tư, việc điều hành, bảo dưỡng, sửa chữa cũng dễ dàng hơn...
PGS.TS Trần Cảnh Vinh, hiệu trưởng Trường ĐH Giao thông vận tải TP.HCM, nhận xét: “Bản thân các trường đã yếu mà đầu tư lại bị xé lẻ, mạnh ai nấy làm nên ngày càng yếu hơn. Không chia sẻ tài nguyên thì làm sao mạnh lên được”. Theo ông Vinh, về bản chất, đầu tư cơ sở vật chất cho các trường công của Nhà nước chính là đầu tư công. Vì vậy, các trường nên chia sẻ thiết bị dạy học, phòng thí nghiệm với nhau và khi cần thiết, thành lập lại hội đồng hiệu trưởng các trường ĐH để cùng bàn tính việc chia sẻ “tài nguyên”.
Bên cạnh đó, ông Vinh cho rằng các thiết bị thí nghiệm hiện đại từ các dự án cũng chính là một nguồn “tài nguyên” quan trọng khác có thể chia sẻ cho các trường ĐH. Các bộ ngành hiện nay đều có rất nhiều dự án. “Ngành giao thông vận tải có rất nhiều dự án, các dự án này đều có những thiết bị thí nghiệm hiện trường (máy đo độ rung, khảo sát nền đất...) trị giá hàng tỉ đồng. Nguồn tài nguyên này chính là tài sản công. Khi kết thúc dự án nên đưa những thiết bị này về các trường ĐH đào tạo nhân lực cho ngành giao thông”, ông Vinh đề nghị.
Còn nhớ, sau khi dự án đường xuyên Á kết thúc, ĐH Giao thông vận tải đã phải “chạy vạy, xin xỏ” khắp nơi để cuối cùng mang được khá nhiều thiết bị thí nghiệm ngành cầu đường hiện đại về khoa công trình. Không phải trường nào cũng làm được như vậy nên cách tốt nhất, theo lãnh đạo nhiều trường ĐH, việc chia sẻ “tài nguyên” cần được xây dựng trên nền tảng một chính sách dùng chung cụ thể và minh bạch.
“Cần phân cấp mạnh hơn cho các trường”
Khó khăn, vướng mắc gây cản trở cho việc nâng cao chất lượng đào tạo của các trường công lập có nguyên nhân sâu xa từ cơ chế quản lý nặng về hành chính, chưa phát huy được sự chủ động trong quản lý và điều hành hoạt động của các cơ sở đào tạo. Vì vậy chúng tôi cho rằng để giải quyết bất cập, phải phân cấp mạnh hơn cho các trường trong việc mua sắm, đấu thầu, triển khai các dự án đầu tư về cơ sở vật chất và thiết bị đào tạo nhằm tăng tính chủ động và tự chịu trách nhiệm của các trường. Trong đó, ưu tiên đầu tư cho các trường ĐH kỹ thuật nói chung và các trường ĐH kỹ thuật trọng điểm nói riêng, tránh dàn trải. Bên cạnh đó là tăng cường năng lực nghiên cứu, đầu tư trước cho các phòng thí nghiệm trực tiếp đào tạo thực hành của sinh viên, vì hệ thống phòng thí nghiệm này đã quá lạc hậu.
“Nên giao cho trường duyệt dự toán”
Thông thường, quá trình lập dự án đầu tư thiết bị đào tạo được thực hiện vào quý 1 hằng năm. Nhưng việc duyệt dự toán đầu tư rất dài, khoảng đầu quý 4 mới xong. Vì thế việc hoàn thành thủ tục đấu thầu, kết thúc đấu thầu, lựa chọn nhà thầu thường kết thúc vào cuối tháng 12. Trong khoảng thời gian này, biến động của ngoại tệ, lạm phát khiến việc lựa chọn thiết bị không như ý muốn của người lập dự án, dẫn đến sai lệch xuất xứ thiết bị, chất lượng không đạt yêu cầu. Vì vậy phân quyền là giải pháp tối ưu. Tôi đề nghị nên giao quyền cho các trường ĐH chủ động phê duyệt dự toán, kế hoạch, kết quả đấu thầu và tự chịu trách nhiệm về điều này.
“Tiết kiệm khi triển khai xây dựng khu đô thị đại học”
Việc cải tạo và hiện đại hóa cơ sở vật chất hiện có chỉ là giải pháp mang tính đối phó trước mắt nhằm đáp ứng yêu cầu cấp bách của từng trường chứ không phải giải pháp cơ bản để giải quyết bất cập về điều kiện cơ sở vật chất, thiết bị đào tạo. Về lâu dài cần tính đến việc xây dựng một dây chuyền công nghệ đào tạo và nghiên cứu khoa học mới trên một diện tích đất phù hợp. Nói cách khác là xây dựng các khu đô thị ĐH theo mô hình liên hợp các trường ĐH, CĐ độc lập về cơ sở đào tạo nhưng có những cơ sở, trung tâm dùng chung khác (thư viện, phòng thí nghiệm, xưởng thực hành, trung tâm hội nghị hội thảo, trung tâm thể dục thể thao, khu ở, dịch vụ). Việc liên hợp các trường là tiền đề cho mô hình liên thông trong đào tạo và sử dụng chuyên gia, xây dựng hệ thống hạ tầng đồng bộ, khai thác hiệu quả tài nguyên đất đai, công trình... Có thể tiết kiệm được rất nhiều kinh phí khi sử dụng mô hình này.
Từ một góc nhìn khác, PGS.TS Nguyễn Xuân Thành, giám đốc Trung tâm nghiên cứu và sản xuất học liệu Trường ĐH Sư phạm Hà Nội - người nhiều năm nghiên cứu về học liệu, lại cho rằng ngay cả khi “không được bày sẵn cỗ”, giảng viên và sinh viên vẫn có thể chủ động đi tìm một hướng dạy và học sáng tạo.
Cơ sở vật chất các trường đại học, cao đẳng Phóng to
PGS.TS Nguyễn Xuân Thành - Ảnh nhân vật cung cấp
* Ông đánh giá tình trạng thiếu thiết bị dạy học và thực hành thí nghiệm ở các trường ĐH công lập hiện ở mức độ nào?
- Tôi cho rằng thiếu là thiếu các thiết bị thí nghiệm để nghiên cứu bậc cao, phục vụ nghiên cứu khoa học, còn thiết bị dạy học tối thiểu thì các trường vẫn được trang bị. Dĩ nhiên, không thể đủ thiết bị cho tất cả thí nghiệm, bài học thực hành trong chương trình nhưng ít ra phải có đủ thiết bị theo danh mục thiết bị dạy học tối thiểu các cấp học mà Bộ GD-ĐT đã ban hành. Việc quá tải giữa điều kiện thực hành thí nghiệm và quy mô sinh viên cũng phổ biến nhưng biết cách sắp xếp vẫn giải quyết được.
* Theo ông, phải khắc phục thiếu thốn bằng cách nào để tránh tình trạng “dạy chay”?
- Đối với những thiết bị nghiên cứu bậc cao, việc đầu tư phải là tiền tỉ. Vì vậy, sẽ không có nhiều trường đầu tư đủ yêu cầu đào tạo mà phải linh hoạt hợp tác với các viện nghiên cứu, các trường khác, có thể đi thuê thiết bị thí nghiệm hoặc liên kết, hợp tác hai chiều. Ở trường tôi, khi hướng dẫn nghiên cứu sinh hay triển khai đề tài khoa học vẫn phải sang các viện. Ngược lại, trường có một trung tâm nano khá hiện đại cũng là địa chỉ để các trường, viện khác đến.
Một hướng khác rất quan trọng là người thầy hướng dẫn cho sinh viên hoặc cùng mình hoặc độc lập tự thiết kế thiết bị thí nghiệm. Việc này đem lại hai lợi ích, không chỉ có thêm thiết bị cho các thế hệ sinh viên đi sau học tập, mà chính những sinh viên nghiên cứu làm thiết bị thí nghiệm đã được học, sáng tạo. Có những sinh viên nói với tôi: “Nếu ngay từ đầu thầy bảo em nghiên cứu khoa học thì em chịu, nhưng thầy chỉ bảo em làm thử cái này, cái kia và em đã làm được”. Khoa vật lý nơi tôi từng giảng dạy đã có nhiều thiết bị do sinh viên tự làm được nâng cấp và trở thành thiết bị dạy học trong phòng thí nghiệm. Nhiều mẫu thiết bị của chúng tôi nằm trong danh mục thiết bị tối thiểu của Bộ GD-ĐT áp dụng cho trường phổ thông, bắt nguồn từ sản phẩm sáng tạo của sinh viên.
* Với sự eo hẹp về kinh phí, theo ông, nên đầu tư thế nào để đảm bảo điều kiện đào tạo tốt nhất trong hoàn cảnh hiện nay?
- Tôi có dịp tham gia khảo sát ở một số trường ĐH, thấy có trường nhập những thiết bị khá đắt tiền nhưng sử dụng chưa thật hiệu quả. Điều này chứng tỏ việc đầu tư nghiên cứu khi mua sắm cũng như khai thác sử dụng thiết bị dạy học còn hạn chế. Nếu nhập một bộ thiết bị thí nghiệm (có thể tới hàng trăm triệu đồng) mà chỉ sử dụng vào một bài thí nghiệm thì mỗi năm học chỉ được sử dụng một hoặc vài ba lần, nếu có đông sinh viên học. Nhưng nếu được nghiên cứu kỹ, nhất là trước khi nhập, bộ thí nghiệm có thể thực hiện được mười thí nghiệm thì tính ra chi phí sẽ rẻ hơn rất nhiều.
Khi còn phụ trách phòng thí nghiệm ở khoa vật lý ĐH Sư phạm Hà Nội, trước khi đề xuất mua thiết bị, tôi phải xem có bao nhiêu thí nghiệm cần làm, trong đó có bao nhiêu thiết bị trùng nhau để lọc ra, lên danh mục thiết bị cụ thể cần mua đủ dùng cho tất cả thí nghiệm. Cách đó tiết kiệm hơn nhiều so với việc cứ tính bài thí nghiệm để mua theo bộ thiết bị. Hơn nữa, khi thí nghiệm, nếu có sẵn bộ thiết bị bày trước mắt, sinh viên sẽ thụ động hơn việc phải tự tìm thiết bị cần thiết trong cả đống thiết bị chung, lắp ráp và thực hiện bài thí nghiệm của mình.
Nên nói cho rõ việc người ta vẫn nói là “lạc hậu trong thực hành thí nghiệm”. Nhiều người hiểu ở đây chỉ cần thay thiết bị mới hơn, được thiết kế hiện đại, đắt tiền hơn tức là sẽ giải quyết được bất cập. Nhưng hiện đại hay không là ở nội dung bài thực hành thí nghiệm chứ không chỉ thiết bị để thực hiện. Khi những bài thực hành thí nghiệm không được cập nhật cái mới để đáp ứng yêu cầu đào tạo mới, người thầy phải biết thiết kế đề bài mới cho sinh viên thực hiện, có thể trên chính thiết bị sẵn có. Hoặc hướng dẫn sinh viên tìm hiểu từ các nguồn học liệu khác. Những cái được tạo ra từ sự sáng tạo của người học mới đáng giá.
Không phải cái gì nhập khẩu đã là tốt. Nếu không hiểu rõ ràng việc này sẽ có thể đi chệch hướng đầu tư. Trên thực tế có những thiết bị thực hành thí nghiệm quá hiện đại lại che khuất những kiến thức mà lẽ ra sinh viên cần phải nắm và vì thế tạo ra những “hộp đen” mà sinh viên không có cơ hội để có lời giải. Giống như khi sử dụng một thiết bị có tính tiện ích cao, ta sẽ không có được kiến thức, kỹ năng xử lý một số vấn đề như khi dùng thiết bị đơn giản hơn.
http://video.vnexpress.net/tin-tuc/xa-hoi/5-han-che-lon-cua-tp-hcm-3604181.html

No comments:

Post a Comment