Saturday, June 3, 2017

Bài viết hay(5008)

Dạo sau này, tui thấy các nghệ sĩ như Trấn Thành, Mr Đàm coi bộ giàu rồi đâm ra phách lôí, phát biểu linh tinh, coi thường khán giả hơi nhiều mà còn ra vẻ ta đây là sao gạo cội nên nói với "đàn em" theo kiểu "đàn anh" rất ư láu cá. Bệnh của sao ở đâu cũng vậy, khi nổi lềnh bềnh thì coi Trời bằng vung mà quên mất cái thưở cơ hàn không có mì gói để ăn. Ông bà ta ngày xưa ưa chê "xướng ca vô loại" mà đúng ghê khi nhìn sao Việt ngày nay giàu to nên ai cũng chảnh lắm, cứ sắm hàng hiệu để khoe mình có tiền y như con nít vậy. Họ không học được cái khôn của Hoài Linh khi mang dép lẹp xẹp nhưng đố ai giàu hơn? Ngày xưa tui đã ghét Jane Fonda đứng bên khẩu cao xạ VC như thế nào thì bây giờ tui cũng không ưa cái chảnh của sao Việt cứ thi nhau khoe ta đây có tiền thì có quyền lên mặt làm phách.

Khi di sản văn hóa đô thị bị xâm hại

Chùa Giác Lâm ở Sài Gòn được xây dựng năm 1744.
Chùa Giác Lâm ở Sài Gòn được xây dựng năm 1744.
 























Di sản văn hóa đô thị là những chủ thể không thể thiếu trong hầu hết những đô thị trên thế giới. Những nét văn hóa tồn đọng lại từ lịch sử qua sự giao tiếp của các nền văn hóa thế giới hay từ tinh hoa của nghệ thuật trên các công trình kiến trúc của người dân bản địa là di sản văn hóa quý giá cho mỗi dân tộc mà không bất cứ mục tiêu kinh tế nào có thể đánh đổi.
Việt Nam không ngoại lệ và di sản văn hóa đô thị của Việt Nam mang dấu ấn các kiến trúc thời Pháp thuộc để lại khá đa dạng tại các thành phố lớn nhỏ trên toàn quốc. Hai nơi chiếm tỷ lệ lớn và quan trọng nhất của các kiến trúc trở thành di sản văn hóa là Hà Nội và Sài Gòn lại đang phải đối diện với việc phá bỏ để phát triển kinh tế, điều mà các nhà làm chính sách không lượng trước được hậu quả về khiếm khuyết kiến thức cũng như văn hóa bị triệt tiêu, tàn phá.

Di sản đô thị Sài Gòn

Trước hiện tượng triệt phá di sản để phát triển đô thị chúng tôi có cuộc trao đổi với TS Nguyễn Thị Hậu, đang giảng dạy Khoa Văn hóa học, Đô thị học và Khảo cổ học trường ĐH Khoa học Xã hội Nhân văn thành phố HCM về vấn đề này, trước tiên TS Hậu cho biết:
TS Nguyễn Thị Hậu: Di sản đô thị Sài Gòn theo tôi đấy chính là những di tích di vật còn lại được hình thành trong quá trình lịch sử và đặc biệt trong điều kiện tự nhiên xã hội rất đặc thù của vùng đất phía nam. Cho đến nay nếu nói về di sản đô thị Sài Gòn thì nó còn bao gồm các loại như các di tích vào thời Nguyễn có dấu tích của thành lũy, những đình chùa đền miếu, những ngôi nhà cổ. Một số di tích của các làng nghề từng nổi tiếng ở Sài Gòn như Xòm Lò gốm chẳng hạn. Kể cả những địa danh dân gian, địa danh của một số đơn vị hành chính mà nhà Nguyễn đã thiết lập, đặt tên. Về lễ hội thì có những lễ hội đình miếu, đó là giai đoạn thời Nguyễn.
Việc bảo tồn giá trị văn hóa di sản đô thị nó không phải chỉ bảo tồn bản thân công trình đó mà tôi nghĩ rằng giá trị văn hóa còn quan trọng hơn bởi nó có ý nghĩa gắn kết các thế hệ và cộng đồng cư dân có nguồn gốc khác nhau đã và đang sinh sống trong vùng đất này.
-TS Nguyễn Thị Hậu
Còn đô thị thời Pháp thuộc thì được quy hoạch và xây dựng bao gồm các công trình như công sở, biệt thự, dinh thự, công trình văn hóa, thương mại hay kiến trúc tôn giáo đặc biệt là hệ thống nhà máy và bến cảng nền công nghiệp phát triển sớm tại Sài Gòn. Ngoài ra còn có một di sản nữa cũng rất quan trọng đó là cảnh quan đô thị như đường phố, những thiết kế về giao thông như bùng binh hay hệ thống cây xanh, công viên. .
Hệ thống này được xây dựng và tồn tại trong môi trường cảnh quan của phía Nam nên đối với Sài Gòn nó có một di sản tự nhiên rất quan trọng đó là cảnh quan sông nước thường được hình dung với hình ảnh “trên bến dưới thuyền”, đây cũng là đặc trưng quan trọng tạo nên đặc trưng cho đô thị Sài Gòn.
Mặc Lâm: Thế thì những giá trị cơ bản nhất của di sản đô thị Sài Gòn mà bà vửa nêu lên nó là gì?
TS Nguyễn Thị Hậu: Ngày nay theo đánh giá một đô thị người ta không chỉ đánh giá với góc độ nó có vai trò kinh tế hay chính trị mà cái quan trọng của một đô thị người ta thường chú ý đến những cơ bản nhất của nó. Nếu nói về giá trị đầu tiên của một vùng đất hay đô thị thì phải nói đến lịch sử cho nên khi nhìn vào hệ thống di sản đô thị Sài Gòn, chủ yếu dưới những di sản vật thể thì chúng ta có thể thấy được quá trình phát triển lịch sử của thành phố này tuy rằng nó chỉ mới hơn 300 năm xây dựng và phát triển vùng đất mà ta gọi là đô thị. Trước đó tất nhiên nó cũng có di tích của những thời kỳ sớm hơn.
Tuy chỉ mới 300 năm qua những di sản vật thể còn lại cho chúng ta thấy Sài Gòn không những là nơi luôn luôn có vai trò trung tâm ở phía Nam mà còn có vai trò trung tâm ở khu vực Đông Nam Á nữa. Đó là những vai trò trung tâm kinh tế, trung tâm công nghiệp, trung tâm văn hóa và trong một thời gian dài nó là trung tâm chính trị. Đấy là giá trị thứ nhất là những giá trị lịch sử.
Giá trị thứ hai là giá trị văn hóa thì phải nói là đô thị Sài Gòn thể hiện một sự phong phú đa dạng của văn hóa Sài Gòn bởi vì thành phố này được xây dựng từ nhiều nguồn gốc dân cư. Từ những tộc người khác nhau nên tiếp thu được rất nhiều nền văn hóa khác nhau.
Trong mỗi giai đoạn lịch sử thành phố Sài Gòn đều có những kiểu kiến trúc đặc trưng của giai đoạn đó nhưng nó rất hòa hợp với cảnh quan chung của cả đô thị đặc biệt rất nhiều dấu ấn công trình xây dựng dưới thời Pháp mang tính chất truyền thống của văn hóa Việt Nam chẳng hạn. Một đặc điểm nữa là thành phố Sài Gòn có rất nhiều công trình do tư nhân xây dựng là dinh thự, công trình công cộng hay là chợ, nhà thương, nó còn cho biết thêm về một tầng lớp dân cư và đặc điểm cư dân của vùng đất này là hoạt động đóng góp cho xã hội đã có từ rất sớm.
Việc bảo tồn giá trị văn hóa di sản đô thị không phải chỉ bảo tồn bản thân công trình đó mà tôi nghĩ rằng giá trị văn hóa còn quan trọng hơn bởi nó có ý nghĩa gắn kết các thế hệ và cộng đồng cư dân có nguồn gốc khác nhau đã và đang sinh sống trong vùng đất này.
024_2562997-622.jpg
Tòa Tổng Giám Mục Sài Gòn, ảnh minh họa. AFP PHOTO
Một giá trị thứ ba mà gần đây người ta thường hay nhắc đến và cho rằng đây là giá trị trong thời đại đang phát triển rất nhanh ở thế kỷ 2 đó là giá trị biểu tượng của một vùng đất mà đối với đô thị nó cũng có những giá trị đó. Phần lớn những công trình kiến trúc tiêu biểu có niên đại 150 năm trở lại tại Sài Gòn thì nó đã trở thành biểu tượng của đô thị Sài Gòn, thí dụ như một số công sở tại trung tâm hay chợ Bến Thành.... Tính biểu tượng của di sản đô thị không phải chỉ là từ giá trị kiến trúc nghệ thuật mà cái quan trọng nhất là ký ức được lưu truyền qua các thế hệ cư dân Sài Gòn và cư dân miền Nam, cũng như rất nhiều du khách đã đến đây tham quan khoảng hơn 100 năm nay.
Tính biểu tượng này nó rất quan trọng nó giữ cho thành phố được số vốn lịch sử và văn hóa để cho những người nhập cư có thể hiểu biết hơn về nơi mình đến sinh sống và đồng thời đối với một đô thị thì nó là một cái vốn xã hội để tăng giá trị kinh tế trong việc khai thác di sản văn hóa cũng như các di sản văn hóa đô thị. Nói về di sản văn hóa đô thị thì người ta thường nói tới ba giá trị quan trọng như vừa trình bày.

Bảo tồn hời hợt

Mặc Lâm: Đới với việc bảo tồn những công trình kiến trúc, lịch sử trong vài năm vừa qua cho thấy là chính phủ rất hời hợt thậm chí trong một số trường hợp các di sản văn hóa đô thị đã bị đập bỏ để thay vào đó những công trình họ gọi là phát triển kinh tế đô thị. Cụ thể nhất người dân đang lo ngại là chính quyền thành phố sẽ đập bỏ bùng binh chợ Bến Thành TS có những ý kiến gì trước việc làm này thưa bà?
TS Nguyễn Thị Hậu: Có thể nói trong khoảng mươi năm trở lại đây dưới góc độ nghề nghiệp thì tôi có cảm giác càng ngày càng có nhiều tiêu cực đối với việc bảo tồn các di sản kiến trúc đúng như anh nhận xét. Về mặt khách quan thì chúng ta phải nhận thấy rằng thành phố có nhu cầu hiện đại hóa và tăng cường cơ sở hạ tầng để phục vụ cho một thành phố hiện nay đã hơn 10 triệu dân và ngoài ra còn có rất nhiều người vãng lai nữa.
Với một mục tiêu dân sinh như vậy nhưng để phục vụ cho mục tiêu đó rất nhiều di sản và cảnh quan đô thị đã bị thay đổi, thậm chí bị phá hủy, rất đáng buồn là khu trung tâm thành phố. Dưới góc độ là người làm công tác bảo tồn thì tôi rất đau xót. Thật sự nếu nói đến khu vực trung tâm, khu vực lõi của đô thị thì khu vực từ đường Đồng Khởi, Nguyễn Huệ, Lê Lợi và như anh vừa nhắc là Bùng binh chợ Bến Thành thì có thể nói ngay bản thân tôi ở Sài Gòn thì khoảng một hai năm nếu ai đi qua đấy và chú ý một chút thì thấy có sự thay đổi, còn nếu như người đã đi xa khi quay trở lại thì kể như là ngày nay đã thay đổi quá lớn, không còn sự khác biệt nào cho người ta nhận biết đây là Sài Gòn của những năm trước khi người ta sinh sống ở đây nữa.
Những công trình tên tuổi trên dưới cả trăm năm phải nói là rất quen thuộc với du khách thí dụ như Thương xa Tax, Bùng binh Nguyễn Huệ hay những dãy nhà xưa trên đường Đồng Khởi, khu Eden hay vườn hoa Chi Lăng. . .hiện nay đã không còn nữa và sắp tới đây là Bùng binh chợ Bến Thành.
Đây là một trong những cách xử lý mà theo tôi chính quyền đã không cẩn trọng trong việc xử lý các di sản đô thị có lẽ do sức ép nhiều mặt tôi sẽ nói sau cái lý do này, nhưng rõ ràng việc xử lý không khéo léo cân đối trong những công trình hiện đại đối với việc bảo tồn các di sản đô thị đã để lại một lổ hỗng rất lớn về lịch sử thành phố mà có lẽ không bao giờ bù đắp lại nỗi.
Mặc Lâm: Ngoài lý do phát triển kinh tế, theo TS còn những yếu tố nào tác động đến thực trạng này?
Có thể nói trong khoảng mươi năm trở lại đây dưới góc độ nghề nghiệp thì tôi có cảm giác càng ngày càng có nhiều tiêu cực đối với việc bảo tồn các di sản kiến trúc đúng như anh nhận xét.
-TS Nguyễn Thị Hậu
TS Nguyễn Thị Hậu: Theo tôi ngắn gọn là như thế này. Theo quan sát của tôi khoảng 5 năm gần đây điều đầu tiên phải thừa nhận đó là chính quyền và rất nhiều nhà chuyên môn chưa đánh giá đúng giá trị di sản văn hóa đô thị Sài Gòn. Chưa đánh giá đúng thứ nhất là việc nghiên cứu giá trị di sản đô thị chúng ta làm rất chậm và trong giới nghiên cứu cũng có quan niệm là đối với những thành phố nào có tuổi đời lâu năm, có một quá trình lịch sử trải qua nhiều triều đại chẳng hạn, thì mới có thể gọi là có di sản, còn thành phố Sài Gòn thì chỉ bắt đầu từ thời Nguyễn sau này là thời Pháp thuộc và Mỹ... có lẽ người ta cho rằng đấy là những công trình có tính hiện đại, nó không có giá trị gì chăng? cho nên việc nghiên cứu đối với các công trình ở đây thật chậm, không có đủ thời gian tạo ra được công trình để mà tuyên truyền cho mọi người nhận biết được điều này. Bản thân chính quyền hay là nhà quản lý họ cũng không biết hoặc biết nhưng rất ít về di sản đô thị nên họ không quan tâm, đấy là nguyên nhân thứ nhất.
Nguyên nhân thứ hai ngay từ quy hoạch đô thị thì chỉ đến những quy hoạch gần đây mới có đưa vấn đề về bảo tồn di sản vào trong quy hoạch đô thị nhưng thật ra nó chỉ ở tầm vĩ mô thôi chứ bắt dầu quy hoạch cụ thể ở từng khu vực hay từng quận huyện nào đấy thì hầu như việc bảo tồn di sản đều bị lướt qua do sức ép của người này người khác cho nên thực sự là chuyện đưa vấn đề bảo tồn vào quy hoạch đô thị là không thực hiện được.
Cái thứ ba nữa quá trình xây dựng thành phố quá chậm trong việc đặt ra ưu tiên bảo tồn di sản văn hóa trong quá trình xây dựng của mình. Nó bị những làn sóng về bất động sản và các yếu tố khác kéo đi. Hai nữa khi người có ý thức được thì những di sản tốt đẹp nhất của chúng ta ở trung tâm không còn nguyên vẹn và gần đây tôi nhận ra một nguyên nhân nữa mà sâu xa nó nằm ở quan điểm, ở một định hướng nào đấy đó là Sài Gòn với bây giờ là thành phố Hồ Chí Minh, nó luôn được nhấn mạnh về vai trò kinh tế, đầu tầu kinh tế hay là vai trò kinh tế quan trọng nhất trong cả nước. . . Thế thì nếu như luôn luôn chỉ nhìn dưới góc độ đấy là thành phố phải phát triển về kinh tế thì tất yếu các vấn đề về văn hóa trong đó có di sản đô thị phải hy sinh cho nhiệm vụ kinh tế.
Có lẽ ngay từ quan điểm nhìn nhận vai trò của Sài Gòn, thành phố Hồ Chí Minh thì tôi nghĩ rằng cũng nên nhìn nhận lại.
Mặc Lâm: Chúng tôi được biết TS từng có những nghiên cứu về văn hóa đô thị tại nhiều nước, liệu với cơ sở hạ tầng cũng như kỹ thuật hiện nay thì chính quyền có áp dụng được kinh nghiệm gì của các nước trong việc bảo tồn tôn tạo những di sản văn hóa để áp dụng vào thành phố Saigon trong lúc này?
TS Nguyễn Thị Hậu: Trong quá trình nghiên cứu của tôi về việc bảo tồn di sản đô thị thì cũng có đi tham quan học hỏi một vài nước đặc biệt là Pháp là nơi đã sản sinh ra đô thị Sài Gòn cũng như một số đô thị tại Việt Nam. Điều đầu tiên tôi thấy rằng quá trình xây dựng hiện đại hóa của họ thí dụ như làm Metro hay những con đường giao thông thậm chí xây dựng những khu đô thị mới thì điều đầu tiên tôi nhận thấy là họ cũng từ xuất phát điểm như chúng ta, thậm chí lạc hậu hơn, thế nhưng vì sao họ có thể bảo tồn di sản được thì trước tiên do họ có chính sách coi trọng văn hóa di sản và đặt vấn đề ưu tiên bảo tồn, ưu tiên bảo vệ di sản trong quá trình hiện đại hóa.
Gần như những khu trung tâm của thành phố họ không biến đổi hay biến động ở trên mặt đất. Họ vẫn làm đường và ga tàu điện ngầm nhưng bên trên mặt đất thì họ vẫn phục dựng nguyên vẹn cảnh quan không biến chúng thành một quảng trường mênh mông, cũng không chặt cây để xây dựng những công trình ngầm. Tôi nghĩ thành phố Hồ Chí Minh nếu quan tâm tới vần đề này thì sẽ có biện pháp để giữ nguyên hay có phương án phục dựng phục hồi các di sản trên mặt đất chứ không đến nỗi như theo tôi nhận xét, gần như giải tỏa trắng trên mặt đất để mà làm những công trình ngầm đó là cái thứ nhất mà tôi nghĩ thành phố có thể học tập được kinh nghiệm của nước ngoài
Thứ hai nữa trong khi quy hoạch các công trình cổ thì luôn luôn hạt nhân ở trung tâm đề mà xây dựng cảnh quan của một khu vực thì công trình cổ phải được ưu tiên bảo tồn và lấy nó làm hạt nhân để mà phát triển. Trong đề nghị thứ nhất là giúp cho nó có khu vực cảnh quan lịch sử, cái thứ hai những công trình này tồn tại thì nó sẽ nuôi dưỡng lịch sử càng ngày càng dày dặn hơn. Điều quan trọng thứ ba có thể nói việc tìm hiểu về giá trị và hiểu biết những kiến thức về di sản phải được đưa vào nội dung giảng dạy trong nhà trường, tuyên truyền cho nhân dân, tuyên truyền cho du khách và đặc biệt đưa đến gần công chúng bằng cách tất cả các di sản luôn luôn được mở cửa cho công chúng vào xem
Ngay cả những công sở người ta làm việc quanh năm nhưng người ta vẫn sắp xếp mở cửa cho công chúng xem để họ thấy rằng đấy thực sự là di sản mà người ta được thừa hưởng thật sự chứ không phải của mình vì vậy có giữ hay không cũng chẳng có lợi gì trong ấy cả!
Mặc Lâm: Xin cám ơn TS.
Mặc Lâm, phóng viên RFAMột bài múa được dàn dựng nghiệm túc của sinh viên Trường sân khấu Điện ảnh Hà Nội hôm 12/2/2017. Ảnh minh họa.

Khi khán giả quay lưng với danh hài

Hài kịch có lẽ là loại hình dễ thu hút khán giả Việt Nam nhất. Người bình dân có thu nhập thấp là lớp khán giả trung thành của hài kịch. Sau những giờ phút vất vả mưu sinh, hài kịch giúp cho họ đẩy ra ngoài cơ thể những phiền muộn trong cuộc sống. Đối với người trung lưu có chút ít tiền của, hài kịch là thể loại giải trí tuyệt vời vì tiếng cười trên sân khấu không những giúp họ lấy lại thăng bằng trong cảm xúc mà ở những vở kịch hay, nội dung của nó theo chân người xem về tới tận nhà để lại những phê phán thói hư tật xấu của xã hội giúp cho người ta có cái nhìn nhân bản hơn trong đời sống.
Hài kịch được viết và trình diễn như những vở diễn ngắn gây cười khi sân khấu chuyển cảnh. Tuy ngắn nhưng muốn hay và khiến khán giả bật lên những tràng cười hoàn toàn không phải là chuyện dễ dàng. Một vở hài kịch sống lâu với thời gian đòi hỏi tính hài hước trên từng câu thoại, người diễn phải có duyên và lột hết những điều mà kịch bản đưa ra bằng kinh nghiệm của từng người. Nội dung một vở hài kịch thường được cân nhắc xử lý qua tài năng của mỗi tác giả. Hài kịch không có nhiều đề tài và có lẽ vì thế tác giả thể loại này ngày càng hiếm hoi cho tới ngày gần như biến mất khỏi sân khấu.
Diễn lố
Báo chí lâu lâu lại kéo một cái tên “danh hài” ra để mổ xẻ những vở diễn dưới tầm của họ rồi đâu lại vào đấy, những kịch bản rẻ tiền vẫn đua nhau tung hoành trên sân khấu.
Thiếu kịch bản, danh hài thường tự biên tự diễn những tiểu phẩm hài cho mình và lâu dần theo quy luật đào thải, chất xám trong đầu không đủ cung cấp cho những show diễn dày đặc đã buộc họ phải có những thao tác dưới tầm, những khỏa lấp coi thường khán giả và dễ thấy nhất là diễn lố, ngôn ngữ chợ búa, bẩn thỉu, dung tục thậm chí chửi thề trên sân khấu khó thể chấp nhận trong cộng đồng người có ý thức về văn hóa.
Diễn lố đang là phong trào của rất nhiều danh hài mà điển hình là Trấn Thành như anh thừa nhận với phóng viên báo VNExpress:
“Đúng! Trấn Thành là người khẳng định tự chính mình là luôn luôn lố từ cảm xúc dư ra một tí tức là khẳng định cái điều đó. Thậm chí trong khi diễn xuất Thành cũng lố Thành chấp nhận điều đó thành nhìn nhận điều đó. Chúng ta đã chọn phong cách làm lố thì lâu lâu sẽ bị over hơn một tí. Nếu như còn làm sai thì mình còn có cái để làm tốt hơn cho chính bản thân mình chứ nếu quá hoàn hào thì đâu còn là người nghệ sĩ nữa!”
Diễn lố chỉ có lợi cho kịch sĩ vì họ không chịu làm việc nghiêm túc bước lên sân khấu với cái đầu trống rỗng. Cử chỉ tục tỉu, khó coi của diễn viên hài làm cho người ta bật lên tiếng cười vô thức nhưng ngay sau đó là sự khó chịu lẫn khinh bỉ không cần che dấu.
Tiếng cười của khán giả ngày một thưa dần thay vào đó là những nịnh nọt của các fan cuồng bất kể hay dở của nhân vật mà họ ái mộ. Càng cuồng, thì thần tượng của họ càng đi xuống do ngộ nhận vào bản lĩnh của mình là có thật. Cái vòng tròn lẩn quẩn ấy đang dìm hài Việt Nam vào lãng quên nếu không muốn nói một cách khác: chìm sâu hơn vào dung tục thô lậu của những tay hề chưa bao giờ biết giá trị thật của tiếng vỗ tay.
"Không thích thì tắt TV!"
Nghệ sĩ hài có cần vỗ tay không? Dĩ nhiên là có, Nhưng khi họ đã đạt tới đỉnh cao thì tiếng vỗ tay không còn quyến rũ họ như lúc ban đầu. Vỗ tay hay không đối với nhiều danh hài không còn quan trọng bằng những hợp đồng béo bở. Trấn Thành là một trong những danh hài dám xác nhận điều này khi công khai tuyên bố rằng “Nếu không thích xem Trấn Thành diễn bạn cứ tắt TV.”
Câu tuyên bố gây sốc này được nhà văn Trần Tiến Dũng chia sẻ:
Tôi cho rằng nó nhảm nhí, dùng từ đó mới tương đối chính xác chứ thực tế còn hơn như vậy. Thật sự những tay như Trấn Thành nói rằng nếu không thích các bạn cúp cái TV đi….thực ra băng nhóm chúng nó ăn chịu với nhau chúng chiếm lĩnh hết chương trình, nó vẽ ra kịch bản nhảm nhí, tệ hại nhưng chúng cứ diễn.
Nếu hỏi có quần chúng không thì thật ra quần chúng coi TV những chương trình game show thì đâu có trả tiền. Chỉ có tiền của các đơn vị quảng cáo hay ngân sách nhà nước, tiền thuế thôi nên bây giờ những cái màn ấy mà ra ngoài diễn thì chưa chắc người ta đi xem vì phải tốn tiền mua vé. Nó đã lũng đoạn hết cả một hệ thống, tụi nó ăn chịu với nhau nên nó tha hồ vẽ những chương trình nhảm nhí, nhảy lung tung trên đó mà chả ai nói tới trong cái thế giới quái quỷ của tụi nó.
tinmoi-400.jpg
Một vở diễn hài của Trấn Thành. Courtesy of tinmoi.vn
Nhà báo, họa sĩ, nhà thơ Đỗ Trung Quân cũng đồng tình với nhà văn Trần Tiến Dũng, ông nói:
Trước nhất tôi xin trả lời với tư cách một người đã rời showbiz Việt Nam cũng 5 năm hơn rồi. Là một công dân bình thường tôi có theo dõi những lời than phiền của khán giả về một vài nhân vật có thái độ ngạo mạn, nói năng khiếm nhã và có những kịch bản dù hài hước nhưng thiếu tính cách văn hóa dù là giải trí, và hình như nó cũng đã đi quá giới hạn.
Tôi nhận định như thế này: truyền thông báo mạng ở Việt Nam xem cái đó như một phương tiện để câu view, lấy rating nên không đặt nặng vấn đề ở một giới hạn nào đó. Cứ nhìn Facebook cá nhân là nơi có thể trao đổi, tranh luận thậm chí cãi nhau hay mạt sát hoặc bênh vực một cách cuồng nhiệt cho một cá nhân nào đó. . .nó trở thành một hiện tượng mà tôi cho là nhà nước đã chấp nhận thà như thế còn hơn để người dân chú ý vào những việc lớn khác mà nhà nước không muốn cho người dân biết.
Có phải trách nhiệm của chính quyền khi định hướng nội dung ngành mình quản lý có điều gì đó khuất tất, khó công khai trong việc trả lại sự hồn nhiên cho sân khấu hài? Nhà thơ Đỗ Trung Quân lý giải sự nghi ngờ này:
Những người quản lý truyền thông đều biết chuyện đó nhưng thấy vô hại đối với chủ trương của họ thì họ cũng để mặc. Nếu đụng đến một vấn đề như vừa rồi câu chuyện một ông Phó chủ tịch Quận đang đi dẹp vỉa hè mang đồng hồ Vertu ra, một nhà báo đăng lời yêu cầu ông ta trả lời công khai xuất xứ của chiếc đồng hồ liền bị thủ trưởng ra công văn kỷ luật. Tôi chưa nói phương pháp có đúng hay không của cái công văn đó vì người đưa ra là một nhà báo mạng liệu ông ta có đủ thẩm quyền hay không thì tôi chưa bình luận nhưng vụ việc đó họ đã giải xử lý còn những vấn đề kia, những vấn đề ta vừa bàn tới có lẽ người ta cứ để yên như vậy cũng chả sao, đó là hiện tượng thật sự đáng buồn.”
Gây cười thiếu tế nhị
Trước tình trạng khan hiếm kịch bản, những diễn viên hài chấp nhận hợp tác với nhau làm những tiểu phẩm tấu hài để chạy show. Phải công tâm mà nói trong mười vở tấu hài khó chọn ra được một vở có thể chấp nhập như một cách gây cười tế nhị, đúng đắn. Người xem vẫn cười nhưng nụ cười méo mó và tội nghiệp do bị thôi thúc bổn phận phải vỗ tay trước sức lao động của người khác mà lại quên rằng để trả tiền vào cửa họ phải lao động cật lực và đàng hoàng hơn những diễn viên kia trên sân khấu.
Nhà văn Trần Tiến Dũng chia sẻ nhận xét này:
Theo tôi thì chả có giới viết kịch bản nào riêng đâu mà do tụi nó tự vẽ với nhau. Trong cái giới vừa diễn vừa tự vẽ ra ngồi trong mấy cái quán cà phê, lấy ý tưởng bên ngoài rồi nên chẳng có kịch tác gia hay kịch bản gì cả. Những cái show ngẫu hứng hay tùy hứng tự bốc lên để diễn thôi chứ không có trường lớp gì. Theo tôi biết là như vậy chứ không phải như trước kia có những kịch bản, có những tình tiết tử tế đàng hoàng. Bây giờ nó không có những chuyện ấy nữa đâu, nó tha hóa tới cùng cực rồi.
Đối với Tuấn Khanh, người nhạc sĩ của những cảm xúc bị ruồng rẫy, cơ nhỡ và nghèo đói nhìn sinh hoạt hài kịch của Việt Nam không khác gì một trại lính. Đây là điều mà nhạc sĩ cho rằng nhà nước thấy những tiêu cực lớn lao của họ nhưng nhắm mắt cho qua:
Hài ở Việt Nam qua nhiều năm nó đã đi một cái hướng khác. Hồi xưa hài được dựng trên những tình huống, tức là tình huống hài và ngôn ngữ hài nhưng sau cái một thời gian rất dài hài Việt Nam bị bế tắc. Bất cứ yếu tố nào làm cho khán giả cười đều làm cho nhà nước nhột nhạt. Không những chỉ có hài mà tất cả những khuynh hướng dễ hiểu, đơn giản hay dung tục là những khuynh hướng được chấp nhận nhanh chóng nếu không ẩn giấu một ngôn ngữ nào đó không có ẩn ý gì thì sẽ được nhà nước cổ vũ.
Hàng năm có chương trình táo quân, đó là cái gì hiếm hoi còn lại của những kịch bản hài cố gắng tìm lại một thứ ngôn ngữ hài qua kịch bản mang tính sâu sắc, đồng thời cũng có ngôn ngữ mang tính phê phán của người dân. Chứ còn hài thì tại Việt Nam trong nhiều năm qua nó đã chết đối với khuynh hướng tìm kiếm kịch bản tốt nhất rồi.
Ở các nước theo thể chế dân chủ không hề có chuyện cấm đoán các show diễn nếu không có sự chống đối trực tiếp từ dân chúng. Việt Nam thì khác, có hẳn một Cục Phát thanh Truyền hình và Thông tin điện tử đặt trách vấn đề định hướng, xây dựng và phát triển văn hóa nghe nhìn.
Ông Nguyễn Thành Chung, Phó cục trưởng Cục Phát thanh - Truyền hình khi được hỏi về biện pháp nào để làm sạnh sẽ môi trường văn hóa, đặc biệt là những tay hề thất thố với khán giả, đã trả lời:
“Đối với những chương trình có nội dung không phù hợp, Cục có văn bản yêu cầu các đài phát thanh, truyền hình giải trình và trong trường hợp nội dung chương trình đó vi phạm pháp luật, Cục đều kiên quyết xử lý nghiêm minh theo quy định. Trong thời gian vừa qua, Cục đã tiến hành xử lý một số trường hợp, chẳng hạn như chương trình truyền hình thực tế, chương trình game show”. . .
Những tiếng vỗ tay dễ dãi
giadinh-400.jpg
Báo chí tiếp tục phân tích hành động của Trấn Thành và nhiều chuyện bí ẩn đã được phô bày, trong đó người dân biết thêm về các chương trình hài nhạt nhẽo nhưng được bảo kê bằng quảng cáo và ngân sách. Người quảng cáo không cần kịch bản hay họ chỉ cần số view cao hay thấp. Ngân sách cũng không cần kịch bản của danh hài cái mà ngân sách cần là vật liệu bôi trơn, vốn đang được áp dụng trong mọi lĩnh vực tại Việt Nam từ trước tới nay.
Năm 2014 show hài "Ơn giời, cậu đây rồi" được đánh giá là chương trình hài kịch ăn khách, hấp dẫn nhất. Với cách dàn dựng mới lạ, xử lý tình huống linh hoạt, ứng biến của diễn viên và khách mời không theo kịch bản định sẵn đã đem đến ngạc nhiên hào hứng cho khán giả.
Nhưng "Ơn giời, cậu đây rồi" không thoát nổ cách diễn “lố” của hai danh hài Trường Giang, Trấn Thành đối với khách mời. Hai danh hài này đã vô tư ôm hôn khách mời tham gia vai diễn trên sân khấu khiến một làn sóng phản đối ào ạt nổi lên. Tuy nhiên may mắn cho cả hai người, họ không bị kiện ra tòa về tội sàm sỡ trước công chúng.
Một vở hài hiếm hoi không phạm bất cứ điều cấm kỵ nào là tiểu phẩm “Máu nhuộm bãi Thương Hải” của nhóm hài Pro dự thi trong Chương trình Cười xuyên Việt của kênh TV Truyền hình Vĩnh Long. Vở hài kịch này kéo người xem ra khỏi thế giới dễ dãi của các danh hài khác và hán giả không thể quên những câu thoại gây cười tế nhị, nhẹ nhàng và đầy ấn tượng.
Kịch bản của “Máu nhuộm bãi Thượng Hải” cho người ta thấy vẫn còn nhân tài trong thể loại hài kịch. Nếu những nhân vật của nhóm Pro không giữ được bản sắc mà họ có trong ngày hôm nay thì có lẽ trách nhiệm lớn nhất là những tiếng vỗ tay dễ dãi của người thưởng ngoạn vô tình thúc đẩy những con người nghệ sĩ tài năng quay lưng lại với nghệ thuật, vốn là thứ từng mang họ lên đỉnh cao danh vọng.
Mặc Lâm phóng viên RFA
Tổng Bí thư ĐCSVN Nguyễn Phú Trọng chào hỏi các quan chức đã nghỉ hưu trước khi khai mạc kỳ họp Quốc hội tại Hà Nội ngày 22 tháng 5 năm 2017.
Tổng Bí thư ĐCSVN Nguyễn Phú Trọng chào hỏi các quan chức đã nghỉ hưu trước khi khai mạc kỳ họp Quốc hội tại Hà Nội ngày 22 tháng 5 năm 2017.
























Hội nghị trung ương đảng cộng sản Việt Nam lần 5 đã kết thúc khá lâu, nhưng dư âm của nó vẫn còn được nhiều blogger nhắc đến vì hội nghị này có liên quan đến nhiều vấn đề lớn, là chống tham nhũng, đẩy mạnh kinh tế tư nhân, và đặc biệt là chuyện kỷ luật một Ủy viên Bộ chính trị là ông Đinh La Thăng, vì đã có nhiều sai phạm khi làm chủ tịch hội đồng thành viên Tổng công ty dầu khí Việt Nam.
Đứng trước những vấn đề có liên quan rất nhiều với nhau như vậy, người ta đặt ra một câu hỏi lớn là liệu việc kỷ luật ông Đinh La Thăng là kết quả của một sự tranh giành phe phái trong đảng, hay chính là kết quả thật sự của cuộc đấu tranh chống tham nhũng của đảng?
Hai phe phái được người ta cho là của hai ông, Nguyễn Phú Trọng đương kim Tổng bí thư, và Nguyến Tấn Dũng, cựu thủ tướng.
Đấu tranh nội bộ hay chống tham nhũng?
Viết về sự đấu tranh quyền lực giữa các nhóm khác nhau, trang blog Ngày Đêm của Nguyễn Quốc Minh có dẫn lại bài viết của Tiến sĩ Phạm Quý Thọ, một chuyên gia phân tích chính sách của Bộ kế hoạch và đầu tư, bàn về việc làm cách nào để kiểm soát sự tha hóa quyền lực tại Việt Nam. Trong bài này tác giả có đề cập đến việc sử dụng mạng thông tin xã hội, lẫn mạng thông tin truyền thống như báo chí của nhà nước, phục vụ cho cuộc đấu tranh quyền lực giữa các phe nhóm:
Một công cụ 'kiểm soát tha hóa quyền lực' ở Việt Nam trong thời gian gần đây là sự 'vào cuộc' của mạng xã hội và báo chí. Mặc dù tính mở của mạng bị hạn chế và chưa có báo chí tư nhân, nhưng, dường như, các nhà cầm quyền đã 'tìm cách' lợi dụng 'ưu thế' cho mục đích củng cố lợi ích chế độ trong những thời điểm cần thiết.
Nếu đây là cuộc thanh trừng phe nhóm ông Dũng, thì cuộc thanh trừng này trùng hợp với việc thanh trừng các phần tử tham nhũng trong hàng ngũ lãnh đạo đảng.
- Ông Bùi Quang Vơm 
Thời điểm cần thiết mà Tiến sĩ Thọ  đề cập chính là những khoảng thời gian trước khi có những sự kiện chính trị như đại hội đảng toàn quốc, hội nghị trung ương đảng diễn ra. Người ta vẫn nhớ các thông tin về đời tư các quan chức được tung ra trên các trang mạng Quan Làm Báo, hay Chân Dung Quyền Lực trước đây, mà ở đó người ta không thể nào kiểm tra được sự tin cậy của các nguồn tin.
Ngay sau khi ông Thăng bị kỷ luật, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng lại tuyên bố là kỷ luật đó là chỉ về mặt đảng. Điều đó làm nhiều người đưa ra giả thuyết là cuộc thanh trừng còn tiếp tục. Nhà báo tự do Phạm Chí Dũng đưa ra năm bước đi của một qui trình kỷ luật, mà nếu ông Thăng không có thế lực và không có may mắn sẽ phải trải qua, đó là tố tụng hình sự, cách chức ủy viên trung ương, tước bỏ tư cách đại biểu quốc hội, khai trừ đảng, và đi tù.
Cuộc thanh trừng ấy, theo tác giả Khánh Mi, viết trên trang Việt Nam Thời báo, có thể đang được chuẩn bị để tấn công trực tiếp cựu thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, vì những cuộc thanh trừng thường bắt đầu bằng một chiến dịch trên báo chí. Đó là một bài báo xuất hiện trên báo Thanh Tra về những sai phạm đất đai tại đảo Phú Quốc thuộc tỉnh Kiên Giang nơi con trai Thủ tướng Dũng đang làm Bí thư tỉnh ủy, và vụ việc liên quan trực tiếp đến một người là ông Trần Minh Chí, em vợ Thủ tướng Dũng.
Bài báo trên báo Thanh Tra đăng ngày 16 tháng 5 và bị rút xuống ngay sau đó. Không ai rõ điều gì đã xảy ra.
Câu hỏi chống tham nhũng hay đấu tranh phe phái không chỉ đặt ra trên các trang blog tiếng Việt mà còn được thấy trên các trang báo mạng tiếng nước ngoài nữa. Theo Giáo sư Trần Hữu Dũng, chủ của trang mạng Viet-Studies, thì đa số các nhà quan sát từ nước ngoài nhìn vào chính sự Việt Nam, nghiêng về cuộc đấu tranh phe phái hơn là chống tham nhũng. Giáo sư Dũng nói cái nhìn đó khá là phiến diện, giống như nhìn một căn phòng qua lỗ khóa, vì các tác giả đó không biết sâu sắc về Việt Nam.
Một người Việt Nam sống ở nước ngoài là ông Bùi Quang Vơm lại có cái nhìn khác về sự kiện Đinh La Thăng.
Trong bài viết Liệu có một âm mưu trong vụ Đinh La Thăng hay không, ông phân tích rằng chuyện đấu tranh nội bộ, cũng giống như bất cứ đảng phái chính trị nào khác, là có thật, nhưng chuyện chống tham nhũng cũng là có thật. Ông viết là Nếu đây là cuộc thanh trừng phe nhóm ông Dũng, thì cuộc thanh trừng này trùng hợp với việc thanh trừng các phần tử tham nhũng trong hàng ngũ lãnh đạo đảng.
Ông viết tiếp là vẫn còn rất nhiều nhân vật thời ông Dũng vẫn còn nằm trong guồng máy quyền lực vậy cho nên, nếu có một âm mưu thì đó là âm mưu thay máu hoàn toàn cho đảng cộng sản. Điều này ông dựa trên ý nghĩa của một sự kiện sắp xảy ra là Hội nghị trung ương 6 vào cuối năm nay. Hội nghị này có mục đích là để sắp xếp lại tổ chức nhân sự của đảng.
Ông Bùi Quang Vơm kết luận với một hy vọng rất lớn.
Với những gì đang đến, chỉ cần dấn thêm một bước, có thể biến đảng cộng sản thành một đảng chính trị tiến bộ, thượng tôn dân chủ đích thực, khởi đầu bằng cách trả quyền lập pháp tối cao cho Quốc hội xây dựng và phê chuẩn một Hiến pháp mới, đảm bảo cơ chế luân phiên cầm quyền hoà bình và cạnh tranh đa nguyên. Dân tộc Viêt Nam vĩnh viễn thoát khỏi ách cai trị độc đảng.
Nhưng có lẽ tác giả cho rằng hy vọng của mình khó có thể thành sự thật vì ông viết tiếp rằng trong hoàn cảnh hiện nay, người có thể làm được việc thay máu đó, duy nhất chỉ có ông Trọng. Nhưng ông Trọng lại là người duy nhất không nhìn thấy điều đó. Bởi vì vậy, lịch sử không chọn ông mà quyết định đào thải ông. Con người lạc hậu như ông không thể đi tiếp và đồng hành với dân tộc.
Nhưng dù là đấu tranh chống tham nhũng, hay đấu tranh phe phái, nhiều tác giả và blogger nhận xét rằng diễn biến bên ngoài, trên khía cạnh pháp luật là rất không bình thường, mà tác giả Nguyễn Trọng Bình gọi là một sự trần trụi chỉ có ở chính trường Việt Nam.
Nguyễn Trọng Bình viết:
Phải nói vụ xử lý này là một điển hình cho “độ quái” của “Đảng ta” trong việc “xoa dịu” đám đông dân chúng liên quan đến vấn đề xử lý cán bộ cấp cao lâu nay. Làm thất thoát hàng ngàn tỉ, “sai phạm rất nghiêm trọng” nhưng vẫn được xem là “có tài” và có “đóng góp”; không đủ tư cách làm Bí thư một thành phố lớn thì điều sang làm Phó ban kinh tế Trung ương… Những kết luận cùng những phát ngôn mâu thuẫn nhau chan chát và nhất là chẳng khác gì một vở tuồng trên sân khấu thế nhưng một bộ phận đám đông dân chúng vẫn hoan hô và nhiệt thành ủng hộ. Nhất là khi nghe ông Tổng Bí thư mang “truyền thống” về “lòng nhân ái”, “đánh kẻ chạy đi không ai người chạy lại” của dân tộc ra mặc cả, phân bua nhiều người càng thêm phấn chấn hơn. Điển hình như phát biểu của một lão thành cách mạng: “Tổng bí thư đã bắt nhịp và quy tụ được ý chí của toàn Đảng, toàn dân”.
000_OQ151-400.jpg
Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc (giữa) chào mừng hai cựu Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nông Đức Mạnh và Lê Khả Phiêu trước khi khai mạc kỳ họp Quốc hội tại Hà Nội ngày 22 tháng 5 năm 2017. AFP photo
Cây bút Thảo Vy thì viết trên trang blog Bauxite Việt Nam rằng cách hành xử của đảng cầm quyền đang đặt ra một vấn đề rất lớn cho nền tư pháp của quốc gia. Thảo Vy đặt câu hỏi là tại sao một loạt các quan chức cao cấp của đảng bị xử tội vì sai phạm, nhưng chắc chắn sự bổ nhiệm họ phải được sự đồng ý của người có quyền cao nhất của đảng là ông Nguyễn Phú Trọng, nhưng ông Trọng không bị ảnh hưởng gì cả?
Câu hỏi tiếp theo là người ta cách các chức vụ cũ của các bộ trưởng sai phạm đi, vậy trong các tập hồ sơ tội phạm đang còn phải giải quyết, những người bị cách chức đó có chịu trách nhiệm gì không?
Thảo Vy hỏi tiếp là ông Nguyễn Minh Quang, nguyên Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và môi trường  bị cách chức vì ký giấy cho phép Formosa hoạt động, xả thải làm cá chết hàng loạt ở miền Trung hồi tháng 4 năm ngoái, thế nhưng tại sao ông Trọng lại tiếp tục cho phép Formosa hoạt động?
Tác giả kết luận:
Với hàng loạt câu hỏi đặt ra như trên, cay đắng ở chỗ câu trả lời sẽ là “ông Tổng Bí thư không sai”. Và “ông Tổng Bí thư không thể sai”, bởi hoạt động tư pháp Việt Nam vẫn còn mang đặc điểm của thời kỳ chiến tranh, bao cấp; chú trọng bảo vệ chế độ, chưa nghiêng hẳn về bảo vệ công lý.
Cải cách thể chế để phát triển
Mặc dù vụ kỷ luật ông Đinh La Thăng gây ồn ào nhất trong thời gian diễn ra và sau khi kết thúc Hội nghị trung ương 5, nhưng nghị quyết của hội nghị này lại liên quan phần lớn đến vấn đề kinh tế, trong đó có việc thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển.
Đảng Cộng sản thật khó kiểm soát tha hóa quyền lực, khi những sai phạm trở thành 'lỗi hệ thống'.
- Phạm Quý Thọ
Trong mục Diễn Đàn của tờ Thời báo kinh tế Sài Gòn, người ta thấy bài bình luận về phát triển kinh tế tư nhân. Bài bình luận kết thúc bằng câu: chấm dứt chủ nghĩa thân hữu mới mong tư nhân mạnh lên.
Nhưng làm thế nào để chấm dứt chủ nghĩa thân hữu thì không thấy bài báo có câu trả lời.
Phạm Quý Thọ, trên trang Ngày Đêm của Nguyễn Quốc Minh, viết rằng:
Đảng Cộng sản thật khó kiểm soát tha hóa quyền lực, khi những sai phạm trở thành 'lỗi hệ thống'.
Đằng sau các vụ đại án, dư luận cho rằng, luôn có các thế lực chính trị, các lãnh đạo cao cấp, được gọi là lợi ích nhóm, nuôi dưỡng sự tha hóa quyền lực. Đây chính là sự thách thức lớn nhất đối với kiểm soát quyền lực của chế độ. Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng từng thốt lên chống tham nhũng là 'ta đánh ta', và ông muốn 'đánh chuột, nhưng không làm vỡ bình'.
Với sự thay đổi cách nhìn nhận, chuyển sang coi trọng bộ phận kinh tế tư nhân, coi trọng nền kinh tế thị trường, ông Phạm Quí Thọ nói rằng
Những nhà phân tích chính trị cho rằng thời gian tới 'sự đấu tranh nội bộ đảng' sẽ căng thẳng, bởi vì các nguyên tắc, chuẩn mực và giá trị của kinh tế thị trường đang thách thức quyền lực tuyệt đối và các chuẩn mực đạo đức truyền thống.
Sau khi đọc bài của Tiến sĩ Phạm Quí Thọ, ông Nguyễn Quốc Minh, chủ của trang blog Ngày Đêm trả lời rằng chỉ có một Quốc hội đa đảng, chỉ có cấu trúc tam quyền phân lập mới giúp dân chúng nắm được quyền lực, kiểm soát và trừng trị bọn tham nhũng mà thôi.
Cũng trên khía cạnh kinh tế, blogger Huỳnh Ngọc Chênh viết rằng với cái quan niệm kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thì đất đai thuộc về đảng chứ không phải của dân, và công nhân thì bị triệt tiêu quyền đấu tranh với chủ nhân vì không được phép thành lập nghiệp đoàn tự do.
Ông Chênh kết luận rằng đó là lý do mà hơn 30, Việt Nam trở thành một quốc gia không chịu phát triển.
Nhưng ông Nguyễn Trọng Bình trong bài Điển hình Đinh La Thăng, lại kết luận rằng dẫu cho trách nhiệm lớn đối với sự trì trệ của đất nước là thuộc về chính quyền, nhưng nguyên nhân cốt tử là thuộc dân chúng Việt Nam, nguyên văn theo lời của ông là ngây thơ, ngờ nghệch, và đôi khi hồ đồ.Kính Hòa, phóng viên RFA

No comments:

Post a Comment