Saturday, June 3, 2017

Bài viết hay(5010)

Cha con tui ghé Brodard ăn nem nướng. Tình cờ nghe 2 vợ chồng già ngồi ăn bàn kế bên kể chuyện về VN cho 2 bà bạn làm nail trẻ hơn nghe. Khi bà vợ than phiền công an cửa khẩu TSN, bà nail 1 nói: Sao chị không đưa $5, $10 cho tụi nó cho rồi? Coi như cho tiền tip vậy thôi. Ông già cự nự: Good service, vui vẻ xin thì tui cho chứ gây khó dễ, kiếm chuyện vô lý thì 1 xu cũng hổng cho. Thấy căng thẳng, bà vợ chuyển đề tài: Tour guide cho ở khách sạn dơ mà gần đường phố ồn ào quá nên không ngủ được, đồ ăn cũng dở mà nhà hàng coi bộ thiếu vệ sinh nên hổng dám ăn, kỳ này về sụt ký. Bà nail 2 chêm ngay: Sao anh chị không bỏ tiền ra thuê khách sạn khác sang trọng hơn? Cứ đi nhà hàng xịn mắc một chút là tha hồ ăn ngon, vệ sinh, phục vụ tốt ngay. Ông già nổi nóng ngay: Trả tiền tour mà còn bỏ thêm tiền ăn riêng, ở riêng thì đi tour làm gì nữa? Bà nail 1 phang luôn 1 cú: Đi chơi mà còn hà tiện làm gì cho mất mặt VK hả anh?
‘Xịa’ xạo       
Chữ nghĩa xứ Nam kỳ, nói láo, nói xạo, hai tiếng đó là nói dóc, đía chuyện hổng thiệt! Tiếng láo trong Nam có phần khác miền ngoài một chút, nó hổng để nói kẻ thiếu lễ độ, hỗn xược, một khi gặp phải tên nào láo, vốn trực tánh người Nam hổng nể nang phang luôn mấy chữ ‘đồ mất dạy’ vô mặt cho chừa cái tật hỗn.
Riêng chữ ‘xạo’ thì hai tiếng xạo ke là ưa dùng, có người nghiên cứu chữ nghĩa đã chắc như đinh đóng cột, rằng ‘ke’ là từ chữ khe, kẽ, mà Từ Điển Việt-Bồ-La của Alexandre de Rhodes, nói đó là chữ tượng hình chỉ chỗ kín người đờn bà, có lẽ vậy chăng mà đám trẻ ưa dùng chữ xạo l… để chửi nhau. Riêng ‘xạo xịa’ thì chưa thấy có ai  giải thích ‘xịa’ đứng đàng sau nghĩa gì, ông Hai Nancy (một thời mần báo Sống) là bạn thâm niên của Tư tui cho biết, miền Nam lúc còn giặc giã, mấy chữ tắt C.I.A (Central Intelligent Agency) của Mẽo, đã được Việt hóa thành ‘Xịa’.
Khơi mào câu chuyện mần vậy, thì “Xịa xạo” như cái tựa bài tuần này đơn giản chỉ là Xịa nói dóc! Xưa nhứt thì có chuyện tong tong Kennedy thập niên 60 chê Xịa Mẽo là xạo, còn mới nhứt thì gần đây thôi năm 2003, ông president Bush (the Ugly), lấy cớ để bụp Saddam Hussein, mà Xịa tung tin Iraq có vũ khí hóa học, rồi xí lộn nói là có vũ khí hủy diệt hàng loạt (WMD), sau rốt lại trớ rằng xứ này đang chế bom A, hết thảy là Xịa tung tin vịt cồ… Thực ra cuộc chiến Iraq mọi người đều biết, chỉ là cuộc chiến vì dầu mỏ do hai nước Anh-Mỹ đạo diễn!
Đó là xứ người, còn xứ mình Xịa có xạo hôn, Tư tui xin trả lời: Ít hay nhiều chứ mần sao tránh khỏi. Hổng phải mấy vụ một thời dân xóm nhỏ Bolsa, xầm xì Nguyễn Hữu Chánh được Mẽo chọn mần lãnh tụ, hay Nguyễn Cao Kỳ được lên kế hoạch đưa dìa nước, đó là mấy đứa hám danh lợi ngứa miệng, tự ứng mần Xịa mà tung tin xạo ke. Còn đây là chuyện thiệt, ở xứ mình Xịa xạo từ thời Ông Diệm, đó là chuyện bậu muốn thôi nên bậu gieo tiếng dữ, nay Xịa dóc về vụ Gạc Ma 14/03/1988, như VOA đưa tin.
VOA 15/03/2017, đăng giải mật tài liệu CIA đề ngày 08/08/1988 với nội dung:“Trung Quốc và Việt Nam đối đầu nhau trong một trận hải chiến vào ngày 14 tháng 03 năm 1988 trên khu vực bãi Johnson (Gạc Ma). Một nhóm lính Trung Quốc đổ bộ lên bãi đá không người này để tiến hành khảo sát, dựng đồn quan sát, và cắm cờ Trung Quốc. Tàu tiếp tế của Việt Nam, theo dõi những động thái của đối phương, đã phản ứng bằng cách đổ quân lên bãi đá, và họ rõ ràng đã khơi mào cuộc xung đột.”
Diễn biến được kể: “Hai bên nổ súng qua lại, phía Việt Nam bắn vào lính Trung Quốc, làm bị thương một người. Sau đó, một chiếc tàu tiếp tế của Việt Nam - được trang bị súng máy - nã đạn vào một trong những tàu khu trục nhỏ của Trung Quốc ngoài khơi.” Tóm lại Xịa nói đám lính Gạc Ma lỗi hoàn toàn: Chệt cộng đổ bộ lên bãi đá (trước) tiến hành khảo sát, dựng đồn quan sát, cắm cờ. Lính Gạc Ma lên đảo (sau) bắn bị thương khựa một đứa, lại còn có chuyện: “Tàu tiếp tế của Việt Nam, được trang bị súng máy” (?!).
Tin Xịa nói mần vậy, có người thắc mắc hổng giống chuyện vẫn nghe, là lính Gạc Ma lên (trước) cắm cờ, Tầu cộng tới (sau) hai bên giằng co cây cờ mần cánh tay một tên khựa bị xước, đám chệt nổi giận rút về tàu, dùng súng phòng không giết sạch những người trên đảo. Để rõ chuyện trắng đen Xịa xạo, và xạo để mần gì, thì Tư tui thấy hay hơn hết là phải trở lại câu chuyện, bằng lời những người sống sót, để thấy họ nói gì về chuyện “Nổ súng hay không được nổ súng”.
Những người đi ra Gạc Ma, theo Hành Quân Chủ Quyền 88 ngày 11/03/2017 tất cả chết gần hết, chỉ sống sót được chín người: Lê Văn Đông, Nguyễn Văn Thống, Trần Thiện Phụng, Phạm Văn Nhân, Nguyễn Tiến Hùng, Trương Văn Hiền, Lê Minh Thoa, Mai Văn Hải và Dương văn Dũng. Tất cả họ được lệnh không nổ súng, và ra đi không được mang súng, khi bị giam ở Lôi Châu, Quảng Đông, trả lời câu hỏi của hội Hồng thập Tự quốc tế “Ai nổ súng trước?”, Dương Văn Dũng trả lời: “Hành động và nổ súng chỉ là phía TQ thôi, bên VN có súng đâu mà nổ!”.
Đi hành quân mà hổng cho nổ súng, lại còn để cho chắc ăn mà hổng cho mang súng, phía Tầu cộng chỉ một Du Xiang Hou bị xây xát khi giằng co cây cờ với Trần Văn Phương (đã chết). Câu chuyện dễ hiểu hơn khi được nghe giáo sư Ngô Vĩnh Long, đến từ đại học Maine (Hoa Kỳ), chuyên gia nghiên cứu lịch sử Đông Á, lúc đó là cuối thập niên 80 đang giảng dạy tại VN. Ông nói với VOA, về cái gọi là sự lo sợ của chính quyền An Nam cộng:
“Lúc đó lãnh đạo VN họ sợ, vấn đề Gạc Ma đối với họ có thể là vấn đề nhỏ! Họ sợ là TQ có thể làm căng ở biên giới phía Bắc. Lãnh đạo Việt Nam đến năm 1988 vẫn còn rất là sợ hãi…”Những người sống sót, sau đó lần lượt kể lại sự kiện thảm sát sáng hôm 14/03/1988, Nguyễn Văn Thống nói: “Con tàu 604 chở 74 lính công binh đến Gạc Ma, trước khi xuất phát, tất cả các chiến sĩ đều được quán triệt là không được nổ súng bằng bất cứ giá nào… và khi vừa đến đảo thì ba chiếc tàu chiến của TQ đã chờ sẵn vây lấy tàu 604”.
Đảng sợ nên lo! Nếu có súng thì chắc chắn lính chệt cộng ít nhiều có đứa phải hui nhị tỳ. Bắc Kinh mà nổi giận thì Ba Đình… chết chắc, tốt hơn hết bỏ mặc số phận đám lính Gạc Ma trong tay khựa, muốn mần gì thì mần. Và đây chuyện xảy ra trên đảo theo lời kể Dương Văn Dũng:“Chúng tôi chỉ làm bia đỡ đạn… Họ là phía hành động tất cả, khi họ tràn qua đánh thì chúng tôi biết rằng chỉ có chết thôi, anh em bị bắn xối xả… Ở đó chỉ có trời và nước trốn vào đâu được… Tôi nhìn rõ hết mà, tôi vẫn còn nhớ kỹ, dễ sợ lắm…”
Còn trên con tàu 604, Lê Minh Thoa nói: “Khi TQ nã pháo 100mm vào con tàu 604 là lúc chết nhiều nhất, vì trúng đạn, vì chết ngạt trong khoang tàu… Hỗn loạn, tan tác và kinh hãi, xác họ trôi lơ lửng, máu tràn lan trên biển, máu từ trên mạn tàu chảy xuống”. Trần Thiên Phụng cho biết: “Nhiều người không có vũ khí trong tay, nhảy xuống tàu bơi vào bám trụ trên đảo, để rồi tất cả đều phải hy sinh nhanh chóng sau đó”. Cuối cùng Lê Minh Thoa kể lại sự truy giết: “Khi tàu chìm ai nhảy xuống, TQ cho những chiếc xuồng chạy trên biển giết tất cả những ai nổi lên”.
Phia TQ reo hò chiến thắng ôm nhau cười, phía lính Gạc Ma chín người sống sót đều bị thương nặng, lẫn lộn chung với xác của đồng đội, chính họ cũng hổng ngờ mình còn sống, họ nằm trên biển trọn ngày (14/03/1988), đến chiều hôm đó tàu Trung cộng vớt và sau ba ngày đêm thì về đến đảo Lôi Châu (Quảng Đông), các vết thương đã bốc mùi thúi. Bị giam gần 4 năm mới được phóng thích về xứ!
Một chế độ ‘đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý’ thì hổng khó để kết luận ai gián tiếp đã gây ra vụ thảm sát này, Lê Đức Anh bộ trưởng quốc phòng, thành viên hội đồng chính phủ lúc đó, bị chỉ đích danh là tội đồ vụ Gạc Ma. Với Tư tui hổng ưa Lê Đức Anh, nhưng nghĩ rằng đây là chuyện cúng miệng thế gian, vì hắn cũng chỉ mần những gì đảng muốn, và cũng xin đưa ra đây lời của hai người, họ có thể họ là đồng đảng, nhưng chắc chắn hổng là đồng bọn với Lê Đức Anh:
Nguyễn Trọng Vĩnh (tướng vi-xi): “Tôi cho rằng lúc bấy giờ ông Lê Đức Anh được đưa lên làm Bộ trưởng Quốc phòng mà làm cái việc như thế là một việc phản quốc. Ra lệnh không được bắn lại, để cho Trung Quốc nó giết chiến sĩ của mình như là bia sống, thì tôi cho đó là một hành động phản động, phản quốc!”.
Lê Mã Lương (tướng vi-xi): “Tiếp tay cho TQ trong vụ Gạc Ma, chính là một đồng chí lãnh đạo cấp cao… Và sau này có một câu chuyện, nó đã được ghi vào tài liệu mà ta đã rõ rồi là trong một cuộc họp của Bộ Chính Trị, đồng chí Nguyễn Cơ Thạch đập bàn và nói là ai ra lệnh cho bộ đội không được nổ súng?” Tóm lại nổ hay không nổ, dư luận ồn ào nay đúng 25 năm!
Với 9 nhơn chứng sống, và hổng để họ đem chuyện kín ra nói từa lưa, mà ngày 03/09/2011 (23 năm sau), Trung tâm dữ liệu Hoàng Sa tổ chức tại khu du lịch Suối Lương, buổi gặp mặt “Vòng tròn bất tử - Tri ân chiến sĩ”, có 8 người trong đám tham dự. RFA 21/09/2011 đưa tin:“Không một ai đại diện đơn vị cũ hay chính quyền địa phương, không khí căng thẳng, e dè và im lặng với những bất thường từ phía người tham dự… Đặc biệt có 5 người trong nhóm sống sót, bổng trốn đi trong đêm bỏ lại cả tư trang.”
Bỏ trốn trong đêm, chuyện hổng lạ! Từng bị giết một lần rồi, nay sợ nên chạy thoát thân trong đêm, còn phía nhà nước cũng như đơn vị cũ, chưa ngu có mặt để mà bị đối chất. Theo RFA, ban tổ chức tránh né những câu hỏi về chi tiết sự kiện, cũng như số phận các nạn nhân, lấy cớ bảo đảm an ninh cấm phỏng vấn, cấm tiếp xúc trực tiếp các nhân chứng (?). Nay đảng vẫn đang tìm cách đối phó với sự thật, mà một tay hổng phải là trong chín người sống sót, được đưa ra giải độc. Trang Nguyễn Tấn Dũng (15/03/2015) đăng:
Lê Hữu Thảo tự xưng cựu binh Gạc Ma: “Trận Gạc Ma năm đó, tôi là người cầm súng chỉ huy bảo vệ cờ của Tổ quốc, bản thân tôi chưa được nghe chưa nhận một mệnh lệnh nào là không được nổ súng” (?!). Nay thêm một lần nữa trên VOA, Lê Hữu Thảo nói: “Tôi không muốn xúc phạm đến những người đồng đội của tôi đã hy sinh. Họ đã chiến đấu chứ không phải là họ ngồi yên, không phải là họ nằm một chỗ, hay họ giơ tay lên hay lạy. Họ đã chiến đấu mà bảo là họ đứng để làm bia hoặc là bị thảm sát thì thực sự là không phải.”
Chuyện mần vậy mà nay Xịa nói: “Việt Nam đổ quân lên bãi đá, và họ rõ ràng đã khơi mào cuộc xung đột.” Câu này nói lạ, xin hỏi Gạc Ma chủ quyền là ai, phải chăng với CIA chủ nhân Gạc Ma chính là Tầu cộng nên mới có câu nói đó (?!), câu nói hoàn toàn đổ lỗi cho những người bị giết đã có hành động trái phép, và phủ nhận chuyện họ có quyền đặt chân lên đảo, nơi ông cha họ đã làm chủ hợp pháp hàng mấy trăm năm trước?
Biển đảo của VN đã chuyển chủ, bắt đầu từ sự buôn bán lén lút giữa hai thầy trò Hán phỉ, nay đã thêm chi tiết cho thấy, đã có lúc thế lực chính trị bên ngoài can dự ngấm ngầm! Bản tin của Xịa cho ta thấy được cái thật nơi chính trị Mỹ, một Hoàng Sa làm ngơ cho Tầu cộng, rồi đến Gạc Ma (Trường Sa), lời Xịa y chang những gì Tầu cộng dựng chuyện trên báo đài.
Trận Hoàng Sa, không một ai quên ‘Mật Điện’ ngày 19/01/1974 (giải mật 30/06/2005) Bộ Ngoại Giao Mỹ đã ra tay ngăn cản TT Thiệu trong việc tái chiếm Hoàng Sa. Ra thông cáo báo chí là Chính phủ Mỹ không đứng về phe nào trong cuộc tranh chấp - Lực lượng quân sự Mỹ không can dự vào xung đột - Tòa Đại Sứ Mỹ cố vấn chính phủ VNCH chỉ nên có những hành động tự vệ tối thiểu, tránh mọi đối đầu cùng Tầu cộng (đồng minh Mẽo?!).
Biển Đông dậy sóng với đường lưỡi bò, rồi xây Vạn Lý Trường Thành trên biển, biến đảo đá thành pháo đài kiên cố, cho thấy một Tầu cộng đã được làm ngơ. Nay Mỹ đã phải trả giá đắt, từ sau cướp được Hoàng Sa (19/01/1974) Tầu cộng lộng hành lmần tới, cho đến (2011) lúc Mỹ đã thấy sự bất an, phải tuyên bố Mỹ có quyền lợi nơi biển Đông để xoay trục trở lại.
Chuyện Biển Đông bây giờ chỉ có súng đạn mới giải quyết được! BBC (28/11/2016) đưa tin Ngô Thắng Lợi tư lệnh hải quân Tầu cộng đến đảo Quang Hòa (Hoàng Sa) làm lễ tưởng niệm lính chết trận Hoàng Sa 19/01/1974, đã kêu gọi binh sĩ:“tập trung chuẩn bị cho chiến trận, rèn luyện trở thành lực lượng tinh nhuệ trên biển ‘đánh tốt, thủ giỏi,’ dâng thành tích chào mừng đại hội khóa XIX đảng CSTQ 2017”.
Còn Mỹ, Donald Trump hổng ưa Tầu cộng, lời nói lúc tranh cử là quyết liệt mần mạnh tay với khựa, tại biển đông cấm Tầu cộng tiếp cận mấy pháo đài vừa mần xong, bằng cách nào hổng thấy nói. Tới nay vẫn chưa một hành động cứng rắn nào được đưa ra, để gây tin tưởng cho cả những ai đang là đồng minh của Mỹ… Một sự thật đắng nghét, là với con thú điên được thả lỏng một thời gian dài, nay muốn trói tay cột chân Tầu cộng là chuyện hổng dễ!Tư Bến Nghé
Tháng Tư Đen
Tháng Tư đổi đời là hình ảnh trần truồng phơi bày những gì từ ngày dép râu đạp đất Sài gòn, không chỉ cho mỗi dân Việt nhìn mà còn là trong mắt quốc tế, hơn bốn mươi năm của đảng An Nam cộng, vỗ ngực xưng kẻ chiến thắng để rồi trần trụi lộ hẵn bộ mặt thật qua những gì gọi là đổi đời của chính nó. Và dân Việt, tháng Tư đổi đời cũng là hình ảnh lõa lồ của những cô gái trong nước, lột truồng trước mắt đàn ông xứ người săm soi chọn mua, và là những người dân Viêt bung ra tứ xứ bán trôn, bán sức để có cái ăn.
Đó là Bắc cộng kẻ chiến thắng, và người dân Việt, còn QL.VNCH bên thua cuộc, họ có một tháng Tư cuối mà cả người ngoại nói về tháng Tư này, họ đã gọi nó là ‘Tháng Tư Đen’ (Black April), chuyện phải nói tuần này là những sự thật ẩn đằng sau cái tháng Tư đen đó. Trong khuôn khổ một bài viết ngắn, thì những chuyện phải nói có thể nó chỉ là những mảnh vụn, tuy nhiên những mảnh vụn này sẽ giúp cho những ai muốn tìm sự thật, sẽ không còn bị những hào quang giả tạo tô vẽ của bên thắng cuộc làm chóa mắt.
Cả một cái bộ máy tuyên truyền độc quyền nói của đảng An Nam cộng, đã ồn ào về một kết thúc ‘cực kỳ hoành tráng’ nhưng sự thật đã không là vậy, nhất là bây giờ thời buổi thông tin toàn cầu, cùng những bạch hóa ngày càng nhiều về một cuộc chiến (VN War) đẫm máu xương dân Việt cho thấy những chuyện phải nói, cần phải nói nhiều hơn nữa, xin đừng cho đây là công việc bơi đống tro tàn, và cũng cũng đừng chối bỏ những cái thật của quá khứ, tuy không thay đổi được cục diện của những ngày tháng đó, nhưng là để trả lại sự thật cho lịch sử!
Cho tới bây giờ với thời gian dài hơn bốn mươi năm, có gì mà giấu mãi được, cây kim trong bọc lâu ngày đã lòi ra, mọi chuyện phơi bày không khác gì lột trần sự việc, lại thêm người Mỹ đã bạch hóa những ẩn khuất sau 30 năm như thông lệ, đó là cái làm cho người ta tin những gì của lịch sử phải luôn là sự thật. Chắc chắn sẽ đánh bạt những câu chuyện huyền thoại mù mờ, của Ba Đình như viết chuyện bác đi tìm đường kíu cuốc, hay sử đảng anh hùng quyện đầy khói bếp cùng mồ hóng… Lịch sử sẽ trả lại công đạo cho những gì chính danh, chính nghĩa!
30/04/1975 Sàigòn thất thủ, có người nói nó đồng nghĩa với chuyện nhà nước VNCH, mãi mãi bị chôn vùi sâu dưới ba thước đất, sẽ không ai còn nhớ đến một chính thể đã từng tồn tại 21 năm, một thể chế mà người dân miền Nam đổ bao xương máu cho sự sống còn của nó. Tháng Tư Đen ập đến như người ta đã thấy, là ngày những trại lao cải, được Bắc cộng mở ra khắp nơi, để giam giữ bách hại hàng trăm ngàn Quân nhân Cán chính VNCH, đồng thời đốt sạch, xóa sạch những gì thuộc về chế độ cũ, Bắc cộng rập khuôn theo chính sách đường lối Nga Tầu.
Để có được cái hào quang là kẻ chiến thắng, mà phía Hà Nội đã ra sức tuyên truyền nói xấu hạ nhục QL.VNCH, chuyện đó ngày nay thiết nghĩ chính nhà nước An Nam xã nghĩa cũng đã thấy họ thất bại. Hình ảnh người lính cũ miền Nam vẫn luôn hằn vết sâu đậm, trong trái tim người dân miền Nam. Câu chuyện tuần này ‘tháng Tư đen’ là để nói về họ, những người lính QL.VNCH, trong đó có những gì George J.Veith đã viết trong: Tháng Tư Đen (Black April). George J.Veith cho người đọc thấy cái thật chiến thắng của cộng quân!
Mở đầu tháng Tư cuối, đánh dấu ngày Nha Trang mất 31/03/1975, có nghĩa là từ những ngày cuối tháng 03/1975 những mất dần lãnh thổ của Quân Khu I và hầu hết của Quân Khu II, ngày tháng đó từng đoàn người từ phía bắc Huế, Đà nẵng, hay miền cao Kontum, Pleiku đã xuôi Nam. Nếu gọi đó là người dân miền Nam đã bỏ phiếu bằng chân, khi những đoàn quân Bắc cộng tràn xuống, thì người lính QL.VNCH, các đài truyền thông BBC, VOA, liên tục cay độc đưa tin bằng những từ lui binh triệt thoái, để nói đến chuyện tái phối trí tại Quân Đoàn II.
Từ sau tháng giêng 1973 ký kết Hiệp Định Paris, QL.VNCH lâm vào tình thế vô cùng khó khăn và thiếu thốn trong chiến đấu, đã có người gọi đây là chiến đấu chống cộng theo kiểu con nhà nghèo, nói vậy nhưng lại đúng vô cùng. Đã phải tiết kiệm từng viên đạn từng lít xăng, trong cam go và đơn độc nhưng họ vẫn chiến đấu cho sự sống còn của chính mình, và không phải vì thế mà kém phần kiên cường, ngược lại dũng cảm hơn bao giờ hết, 1973, 1974, và vào những giờ phút cuối 1975, những người lính Cộng Hòa đã cho thấy cái kiên cường của họ.
Một thực tế phải thấy rằng VNCH, chỉ có thể đương đầu với cả khối cộng sản, khi có sự hỗ trợ của Mỹ và Đồng Minh, nhưng một khi liên minh chống cộng này không còn, thì người dân miền Nam không thể đơn độc chống lại quân Bắc cộng với sự hỗ trợ của Nga và Tầu. Miền Nam đã sụp đổ khi khoản viện trợ khẩn cấp trị giá 722 triệu usd mà chính phủ Gerald Ford đề nghị đã bị thượng viện Hoa Kỳ từ chối vào ngày 17/04/1975, sau khi liên tục cắt giảm viện trợ từ 2,1 tỷ cho của 1973, còn 1,4 tỷ cho năm 1974, và cuối cùng là từ chối cho 1975.
Black April của George J.Veith đã đưa ra nhận xét về thất bại của miền Nam trong tháng Tư năm 1975: “Đó là không phải do sự lúng túng của chính quyền VNCH, và càng không phải do sự yếu kém trên chiến trường của chiến sĩ QL.VNCH. Như trên ta đã biết VNCH đã lần lượt trong ba năm từ 1973-1975, bị cắt giảm viện trợ xuống dần chỉ còn 1/3… nguyên nhân gốc rễ đưa đến thất bại của miền Nam Việt Nam chính từ chuyện Quốc hội Hoa Kỳ đã cắt giảm viện trợ”. Đây là đòn trói tay bức tử QL.VNCH đi đến chổ không thể tạo được đủ vị thế về quân sự.
Theo George J.Veith, với nguyên nhân nêu trên đã đưa đến thất bại của miền Nam Việt Nam, sự thiếu hụt nhiên liệu máy bay và phụ tùng, không cho phép không quân chuyển vận binh sĩ, đến để giữ vững phòng tuyến biên giới phía Tây dài gần 1500 km. Đã tạo điều kiện cho quân Bắc cộng tự do tập trung, dễ dàng điều động được một lực lượng lớn để mở các cuộc tấn công vào các thị xã thành phố chính yếu. Sự thiếu hụt không quân đã làm cho VNCH bị hạn chế rất nhiều, trong không tập quân CSBV ngay cả khi biết nơi chúng tập trung!
Trong khi đó Quốc hội Hoa Kỳ đã đồng thời dùng một nghị quyết đã được thông qua năm 1973 là “War Power Act” để buộc Tổng thống Gerald Ford không được ném bom miền Bắc!!! Nguyên nhân đưa đến cắt hẳn viện trợ để bức tử QL.VNCH, đã được sáng tõ và mọi người được biết đến, sau khi cuộc đàm thoại giữa Kissinger và Chu Ân Lai về cuộc chiến VN được bạch hóa, công bố những thỏa thuận giữa Tầu cộng và Mỹ bán đứng VNCH, mà ngay cả csBV cũng không được biết (http://www.gwu.edu/~nsarchiv/NSAEBB/NSAEBB193/HAK%206-20-72.pdf).
Nếu trong cuộc đàm thoại ngày 29/07/1971 trước Chu Ân Lai thủ tướng Tầu cộng, Ngoại trưởng Mỹ H.Kissinger nói: “Tôi xin cam đoan với ông rằng chúng tôi muốn chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam qua đàm phán, và chúng tôi sẵn lòng chuẩn bị định ngày giờ cho việc rút hết tất cả lực lượng quân sự của chúng tôi ra khỏi Việt Nam và Đông Dương như ông đã đề nghị trước đây”. Và dứt khoát lực lượng quân sự Mỹ sẽ không còn hiện hữu tại Đông Dương, Kissinger đã khẳng định với Chu Ân Lai (http://www2.gwu.edu/~nsarchiv/NSAEBB/NSAEBB145/09.pdf):
“Chúng tôi không phải là trẻ con, và lịch sử sẽ không đứng lại ngày khế ước hòa bình được ký. Nếu quân địa phương lại tái xuất, và không được giúp bởi những quân lực bên ngoài, chúng tôi chắc không sẽ trở lại từ 10.000 dặm xa xôi. Chúng tôi không đề nghị hiệp ước để ngừng lịch sử…” Thì cuộc đàm thoại ngày 20/06/1972 (được bạch hóa ngày 09/05/2001) tức sau hai tháng từ ngày những cuộc tấn công của Bắc Việt vào tháng Tư Mùa Hè Đỏ Lửa 1972, cho thấy trong đi đêm với Tầu cộng, Mỹ quay lưng với VNCH trước cả khi hiệp định Paris73 được ký.
Chúng tôi sẵn sàng rút ra mọi thành phần quân lực... Chúng tôi tin rằng quan hệ tương lai của chúng tôi đối với Bắc Kinh là còn quan trọng hơn rất nhiều cho tương lai của Á Châu, hơn xa những gì xảy ra ở Phnom Penh, Hà Nội hay ở Saigon… Nếu Bắc Việt tiến hành cuộc thương lượng đứng đắn với Nam Việt, và nếu sau một thời gian dài chiến tranh lại xảy ra sau khi chúng tôi đã tách rời khỏi vấn đề, nhận xét của riêng tôi là khó mà chúng tôi sẽ trở lại, rất ít khả năng”. Chắc chắn mọi chi tiết về cuộc mật đậm này, Bắc cộng đã không hề biết được!
Trong khi đó phía Tầu cộng thành công trong cuộc đi đêm, đã hướng Bắc cộng theo đúng mục tiêu Mao đã vạch ra từ đầu, là chiếm toàn cõi Đông Dương cho nước Tầu. Như mọi người đã biết những thỏa thuận sau cuộc đi đêm 20/06/1972 là Hiệp định Paris ký kết vào ngày 27/01/1973, mà trước đó ngày 16/01/1973, phía Mỹ trao cho Tổng Thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu bức thư của Nixon, mà Kissinger gọi là “bốc lửa”. Đây là bức thư ép chính quyền miền Nam phải ký vào bản Hiệp định hoàn toàn thất lợi cho mình, trong thư này đoạn quan trọng nhất là:
“Vì vậy chúng tôi đã quyết định dứt khoát sẽ ký tắt Hiệp định ngày 23 tháng 1 năm 1973 tại Paris. Nếu cần thiết, chúng tôi sẽ làm như thế một mình. Trong trường hợp đó, tôi phải giải thích công khai rằng Chính phủ của ông cản trở hoà bình. Kết quả là sự chấm dứt không tránh khỏi và lập tức của viện trợ kinh tế và quân sự của Hoa Kỳ - và một sự sắp xếp lại Chính quyền của ông cũng chẳng thay đổi được tình hình” (Wikipedia: Hiệp định Paris1973). Vậy cho thấy một Nixon, Kissinger đã gài VNCH vào thế buộc, và sau đó là cắt dần viện trợ!
Trở lại với George J.Veith - Chuyên gia tư vấn quốc phòng Mark Moyar, nhận xét cuốn Black April đã xuất sắc điền vào khoảng trống lịch sử của giai đoạn 1973-1975 khi Hoa Kỳ đã rút quân và Cuộc chiến Việt Nam, không còn là mối quan tâm hàng đầu của các phóng viên Hoa Kỳ. Một số trận đánh kiên cường của QL.VNCH được  George J.Veith nhắc tới đã xảy ra trong tháng Ba và tháng Tư năm 1975 như các trận Mỏ Tàu, Núi Bồng và Bến Cầu, Chơn Thành vùng biên giới phía tây, cũng như trận Cần Thơ và Long An ở Vùng IV.
Với Black April, tác giả đã nhắc cho người Mỹ về một mặt trận lớn của QL.VNCH vào tháng 04/1975, đó là trận chiến Xuân Lộc, ở đó một sư đoàn của quân đội VNCH đã đập tan 3 sư đoàn CSBV. Như một ký giả người Úc D.Warner viết về trận chiến Xuân Lộc 12 ngày đêm: “Với 3 sư đoàn 6, 7 và 341, Văn Tiến Dũng tin tưởng sẽ chiếm được Xuân Lộc một cách dễ dàng - Ông ta đã lầm…Trong những ngày cuối cùng của chiến tranh VN, sư đoàn 18 BB đã chiến đấu một cách dũng cảm, không những họ đã giữ vững được trận địa mà lại còn phản công mỗi ngày”
Chuyên gia tư vấn quốc phòng Mark Moyar kết thúc: “Black April là lời nhắc nhở Hoa Kỳ về cái giá phải trả, bằng nhân mạng khi rời bỏ một đồng minh, 100.000 lính Nam Việt Nam, những người từng sát cánh với Hoa Kỳ trong các trận đánh, cuối cùng đã bỏ mạng bởi bị hành quyết tức thì, hay chết vì bị cộng sản hành hạ trong các trại cải tạo khổng lồ. Hơn nửa triệu người Nam Việt Nam cũng bỏ mạng trên biển khi bỏ trốn chế độ cộng sản, riêng Hà Nội ước tính họ mất 6.000 quân lính chỉ trong vài ngày cuối tháng Tư năm 1975”.
Những điều thú vị thay cho lời kết câu chuyện tuần này: Cái gọi là MTGPMN những ngày sau tháng tư chúng ồn ào, là nhân dân miền Nam đã vùng lên làm cách mạng thành công lật đổ nhà nước VNCH, nhưng theo George J.Veith thì: “việc Bắc Việt Nam giết hại những người không cầm súng ở Huế năm 1968 và dọc Quốc lộ 1(đại lộ kinh hoàng) năm 1972 khiến người dân phát hoảng và họ đã tràn ra các ngả đường theo quân miền Nam rút đi”.
Và chúng ta cũng đã biết tại Mặt trận Long Khánh Xuân Lộc ngày 19/04, là thời điểm các đơn vị rút khỏi phòng tuyến Xuân Lộc, lúc 9.00 giờ đêm, các đơn vị Nhảy Dù / LĐ1ND vừa rút ra tới QL1, và một hoạt cảnh rất cảm động xảy ra, tất cả dân làng già trẻ lớn bé của các xóm Bảo Định, Bảo Tồn và Bảo Hoà, đã tập trung sẵn hai bên vệ đường để theo chân lính Dù di tản.
Tháng Tư Đen là hình ảnh của một QLVNCH đã bị trói tay bức tử. Lịch sử là những gì lập lại, 30/04/1975 gợi nhớ đến trận đánh đầu đời của Võ Nguyên Giáp tại Thái Nguyên 19/08/1945, lúc đó Nhật sau hai quả bom nguyên tử đã đầu hàng từ 03 ngày trước (15/08/1945) các nơi đều bỏ ngỏ… 40 lính Việt Minh đã nổ súng vào quân Nhật, và sử đảng ghi: Võ Nguyên Giáp ‘giải phóng’ Thái Nguyên.Tư Bến Nghé
LŨ ĂN CƠM QUỐC GIA THỜ MA CS: MẶT TRẬN GIẢI PHÓNG MIỀN NAM
Đã nói đến tháng Tư đổi đời kẻ thắng Bắc cộng được dzinh quang, lại nhắc đến Black April, người thua nhà nước VNCH cùng thằng dân đen te tua nát khố, thì cũng tháng Tư đó còn một bên nữa có mặt, dù hổng một ai thương tiếc đốt cho nén nhang, nó chết liền tức thì, chết tức tưởi, đó là mặt trận giải phóng miền Nam (MTGPMN)… Cùng phe nhưng để một mình một chiếu, mà đảng An Nam cộng dứt giây dụi đám Nam cộng, bóp mũi cho chết!
Từ 1960, người ta đã biết về cái MTGPMN rồi, hổng như nó nói là trung lập hổng cộng sản, là dân miền Nam ‘đồng khởi’ nổi dậy, chống chính quyền độc tài tay sai đế quốc Mỹ là Ngô Đình Diệm. Nó nói vậy chứ hổng phải vậy, được thành lập (20/12/1960), từ Nghị quyết Trung ương lần thứ 15 mở rộng (1959) của đảng Bắc cộng, và Luật sư Nguyễn Hữu Thọ được cho nắm chức Chủ tịch đầu tiên. Để rồi trở thành chính phủ mang tên Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam (CPCMLTCHMNVN) vào ngày 02/06/1969!
“Hiệp định Paris1973”, tức hiệp định chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam, được ký kết ngày 27/01/1973 bởi bốn bên ghi trong biên bản: Hoa Kỳ, Việt Nam Cộng Hòa (VNCH), Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa (VNDCCH, Bắc cộng) và Chính phủ CMLTCHMNVN (tức Nam cộng). Một nước Việt có ba chính phủ, nhưng thực tế nó chỉ có hai vì Bắc hay Nam cộng cũng chỉ là một, còn nói là ký kết bốn bên chứ thực ra là năm, vì Tầu cộng ẩn mặt, đi đêm thu xếp mọi chuyện cùng Mỹ từ ngày 29/07/1971, như Tư tui thưa trong chuyện tháng Tư đen.
2a01ecbd92994f0aa0525d65d8aeb16eBày hàng cái đám Nam cộng MTGPMN, nhắc lại chuyện cũ mèm ai cũng biết, là để cho thấy đảng An Nam cộng chính là vấn nạn của dân Việt! Với cái nhãn hiệu ‘trung lập’ tự dán lên trán của chính phủ CMLTCHMNVN, nhưng chủ tịch đầu tiên của MTGPMN là Nguyễn Hữu Thọ, đảng viên Cộng sản Đông Dương năm 1948, Huỳnh Tấn Phát, phó chủ tịch MTGPMN, thủ tướng của Chính phủ CMLTCHMNVN gia nhập đảng năm 1947, và ngay cả Nguyễn Thị Bình, bộ trưởng ngoại giao chính phủ, đảng viên Cộng sản Đông Dương từ năm 1948
Cần gì nói ai là con ai, vì sự thực trăm phần cái mặt trận, rồi biến thành chính phủ là do Ba Đình đẻ ra và nuôi lớn, sau tháng Tư nó chết ngủm mà Nguyễn Thị Bình, gần bốn chục năm sau vẫn còn bọc giấy bóng kiếng cho nó. Nguyễn Thị Bình trong một cuộc phỏng vấn ngày 23/01/2013 đã nói về nó như sau: “Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam có vị trí quan trọng, bởi là người trực tiếp chiến đấu, với đường lối độc lập hòa bình trung lập, nhấn mạnh đến đường lối hòa bình, mềm dẻo đối ngoại trong đàm phán.”
Đó là câu nói nghe bắt ngứa tai nhưng hổng lấy làm lạ, vì cả thế giới đều biết NTB là thứ miệng lưỡi cộng sản, chỉ biết nói lấy được hổng cần đúng sai: “Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, và hơn nữa, như chúng ta biết, hai đoàn này là một, mục tiêu là giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.”Nghe nói vậy ai muốn chửi thề thì xin cứ tự nhiên, một thì cộng sản thứ thiệt, cái còn lại thì nói mình trung lập, nhưng hai đoàn chỉ là một… Nguyễn Thị Bình nói dở hơn vợ thằng Đậu!
Chê dở là còn nhẹ, chứ thực ra cộng sản chúng xạo ke quen miệng, nên hổng có gì chúng nói mà đúng, ngay như chuyện bác của chúng nói là đi tìm đường kíu cuốc, nhưng trên báo Thanh Niên ở Quảng Châu 20/12/1926 bác viết: “Cái danh từ Tổ Quốc là do các chính trị gia đặt ra để đè đầu nhân dân, để buộc những nguời vô sản phải cầm vũ khí bảo vệ tài sản của địa chủ và quyền lợi của giai cấp tư sản. Thực ra, chẳng có Tổ quốc, cũng chẳng có biên giới”. Cái này là bác đía xạo xí gạt thằng dân, về cái thế giái đại đồng hoang tưởng!
Có mỗi chuyện đất nước tổ quốc đơn giản mà bác còn lẹo lưỡi, thì nói mần chi đến cái chuyện bác hy sinh cho quê hương dân tộc, rồi cả Lê Duẫn sau khi chiếm được miền Nam năm 1976, đã nhảy tửng lên kể công: “Chúng ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc, và chúng ta đã thành công trong việc cắm lá cờ quốc tế Mác Lê, trên toàn cõi Việt Nam”(!). Đó là hai tay cốt cán của cái đảng quang dzinh Ba Đình đã vậy, thì đám cắc ké ăn theo nối nghiệp sau này, chúng quý gì đất nước mà hổng bán cho giặc đặng lấy tiền.
Trở lại chuyện MTGPMN, tháng 04/1975 miền Nam bị phỏng, thì vỏn vẹn chỉ bảy tháng sau tại Hội nghị Hiệp Thương Chính trị Thống nhất Tổ quốc (11/1975), MTGPMN bị bóp mũi chết ngắt, đám Nam cộng buồn tình đời vắt chanh bỏ vỏ, bèn tụ nhau lại gầy ra cái ‘Câu lạc bộ Kháng chiến’ để kể nhau nghe những ngày còn nằm mùng chống muỗi, nhưng rồi cũng bị cái liềm của đảng Ba Đình dzớt ngọt… Các lão thành cắt mạng miền Nam bất mãn, sinh ra chuyện Nguyễn Hộ đại diện cho phe Nam cộng, lên tiếng hỏi là cùng mần nhưng tại sao hổng được cùng ăn?
Bỏ qua đi những Dũng Xà Mâu, Sang Sâu, Triết Hề… thứ Nam cộng thất học, cái miệng xạo ke để ăn no cướp bạo, phần lớn còn lại những chóp bu MTGPMN ban đầu bị cho ra rìa. Những trí thức một thời theo cộng sản này, đã có người gọi họ là nai tơ trước con sói cộng sản, cho đến khi thất sủng thì mới mở mắt ra, tuy nhiên ai cũng thấy rỏ là họ tự nguyện, và động cơ họ đến với cộng sản, chúng ta không thể chối bỏ yếu tố yêu nước, nhưng bên cạnh đó, không thể phủ nhận cái ham muốn quyền lực, mưu bá đồ vương, mà theo voi hít bã mía.
Là trí thức nhưng họ là đảng viên cộng sản gài lại, lợi dụng thể chế tự do của miền nam, để mưu đồ tiếp tay và gầy dựng cơ đồ cho Bắc cộng ngay trong lòng miền Nam, cái gọi là chính phủ CMLTCHMNVN, cái tên nghe như là không chút gì dính dấp đến cộng sản, với Dương Q Hoa, Huỳnh Tấn Phát, Trần Bửu Kiếm, Phùng Văn Cung, Nguyễn Hửu Thọ… Chuyện xí gạt nước ngoài phong trào phản chiến thì cũng có người nghe, nhưng trong nước chúng làm ăn hổng khá bởi nhiều nguyên do, trong đó có vì chính sách Chiêu hồi của VNCH.
Lại một sự thật rõ ràng, những hoạt động khủng bố của đám Nam cộng đã khiến người dân miền Nam xa lánh, hai chữ ‘Việt cộng’ lúc bấy giờ mang lấy ý miệt thị xấu xa, mà gây thiếu nguồn nhân lực tại chỗ. Và chính vì Nam cộng đã không tự ứng được, trong tình hình đó Bắc cộng đã ồ ạt đưa quân xâm nhập theo đường mòn Trường Sơn vào chủ động, chiến đấu dưới danh MTGPMN, tức cái lực lượng quân sự của chính phủ CMLTCHMNVN, lính đi B vào tới nam Vỹ tuyến 17 là chúng khoác áo MTGPMN, chiến đấu dưới lá cờ đỏ xanh sao vàng.
Những chóp bu MTGPMN (1960), là những người trí thức miền Nam một thời theo cộng sản, và hầu hết họ sau này là thành phần trụ cột của cái chính phủ CMLTCHMNVN (1969). Còn những Dũng Xà Mâu, Sang Sâu, Triết Hề… của cái nhà nước xã nghĩa thổ tả, thì vào những năm thập niên 70, chúng chỉ là các tay du kích xã, loại cò ke lục chốt thất học, thứ cắt mạng chó nhảy bàn độc, nên Tư tui thấy không xứng để nói tới trong những bài có tính ôn cố tri tân như bài này, viết về chúng thấy ra chỉ có những bài phiếm là thích hợp cho chúng hơn.
Như đã nói những nhân vật cộng sản miền Nam ngày đầu không chối cải là họ có lòng yêu nước, bị cám dỗ bởi lý thuyết cộng sản, cuối cùng gặp thực tế một An Nam cộng bẩn thỉu, mà hầu hết trong họ đã phải gánh lấy cái kết quả đắng. Trong họ cũng có kẻ mang danh là trí thức nhưng nhân thân không ra gì, ngoài cái tự hào là con người cộng sản, đám này vô tình hay học theo Bắc cộng mà luôn là những kẻ mù quáng tôn thờ lãnh tụ, một lòng sống chết vì bác và đảng, bọn họ nay đa số đã đổi đời thành tư bản đỏ… thứ tư bản nhưng đít chúng đỏ.
Dương Quỳnh Hoa – Trí thức miền Nam gia nhập đảng Cộng Sản Pháp từ những năm sang Pháp học Y Khoa (1948), khi về nước sinh hoạt Đảng với tư cách đảng viên do Đảng Cộng sản Pháp giới thiệu, và được kết nạp vào đảng CS Đông Dương 1959, và là người đứng vào hàng ngũ MTGPMN từ những ngày đầu 1960, là bác sĩ tốt nghiệp tại Pháp, là Bộ trưởng Y Tế của cái chính phủ CMLTCHMNVN, lợi dụng uy tín thân thế cá nhân lẫn gia đình của DQH thời bấy giờ, Bắc cộng lấy đó gây thanh thế cho đám Nam cộng MTGPMN, trên trường chính trị quốc tế.
Nhưng rất sớm ngay sau tháng Tư, thấy rõ bộ mặt thật của An Nam cộng, DQH đã nói cùng Nguyễn Hữu Thọ: “Anh và tôi chỉ đóng vai trò bù nhìn và chỉ là món đồ trang sức rẻ tiền cho chế độ. Chúng ta không thể phục vụ cho một chế độ thiếu dân chủ và không luật lệ, vì vậy tôi thông báo cho anh biết là tôi sẽ trả lại thẻ đảng và không nhận bất cứ nhiệm vụ nào trong chính phủ cả.” Khi bỏ đảng An Nam cộng năm 1979, DQH nói thẳng: “Ngày nay khi quyền lực nằm an toàn trong tay rồi, đảng đã xem nhân dân như là một kẽ thù tiềm ẩn”.
Và trong cuốn sách Vietnam: A History, bác sĩ Dương Quỳnh Hoa nói với phóng viên Stanley Karnow (1990): “Tôi đã từng là một người cộng sản suốt cuộc đời mình. Nhưng bây giờ tôi đã nhận ra những sự thật của chủ nghĩa này và đó là sự thất bại, quản lý yếu kém, tham nhũng, đặc quyền đặc lợi và đàn áp… Những lý tưởng của tôi đã hết, chủ nghĩa cộng sản là một thảm họa. Lãnh đạo đảng không ý thức được sự phá triển một cách hợp lý, họ bị thôi miên bởi những khẩu hiệu của chủ nghĩa Marx đã lỗi thời”!!!
Trí thức tư sản như bác sĩ Dương Quỳnh Hoa, bị ảo tưởng của chủ nghĩa cộng sản, đến khi đối diện với cái thể chế chuyên chính của nó mà vỡ mộng, cộng sản không tam quyền phân lập, người dân không tự do dân chủ, vì đó là những thứ đối nghịch với cộng sản độc tài. Còn chuyện có người đã dỡn mà gọi Nguyễn Thị Bình là thứ trí thức vô sản, theo Tư tui họ nói vậy chẳng qua vì thấy NTB một đời theo đảng, lại từng phó hội Paris thành viên chính phủ, mà hổng ngon bằng Dũng Xà Mâu, Sang Sâu, đám núp bụi ô rô cóc kèn nay chúng giàu sụ.
Đây là chuyện cười trong cái đảng An Nam cộng, NTB tự hào được là con người cộng sản, hết lòng với đảng, nhưng sau 70 năm theo đảng, đã thua xa cái đám hổng một chữ lận lưng, chúng hổng cộng sản, chỉ bè phái leo cao ngồi chỗ bổng lộc nhiều mặc tình hốt. Vụ giàu nghèo này đã có một thời dư luận, bàn ra tán vô về cuộc sống không mấy khá của NTB, khi phải kiếm thêm thu nhập bằng cách cho thuê căn nhà… Có nhà cho mướn dầu sao cũng khá hơn thằng dân, nhờ thị giải phóng mà nay đã phải đi khắp thế giới, trai lao nô gái mần đĩ.
Giống như Bắc cộng Võ Nguyên Giáp, thiên tài đi mượn tự hào về một Điện Biên của Vi Quốc Thanh (Tầu cộng), thì một Nam cộng Nguyễn Thị Bình cũng ồn ào: “Nếu không có chiến thắng Mậu Thân 1968, không có những ngày chiến đấu ác liệt bảo vệ thành cổ Quảng Trị, không có chiến thắng Điện Biên Phủ trên không, không có sự hỗ trợ chi viện của miền Bắc thì không có Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình tại Việt Nam. Và đương nhiên, nếu không có Hiệp định Paris năm 1973 thì sẽ không có Đại thắng mùa Xuân năm 1975.”
Nghe Nguyễn Thị Bình đía sảng về chiến công của y thị và đồng bọn, mà nhớ lại một thời đất miền Nam người dân lành ăn đạn pháo kích, cầu cống đường xá bị đấp mô giựt mìn, quán ăn chợ búa bị đặt chất nổ plastic của mấy tay cắt mạng MTGPMN, thấy ra thắng là đám Ba Đình thắng, còn thằng dân Việt là kẻ thua.
Bốn mươi hai năm sau ngày MTGPMN chết (1960-1975), thấy ra một Dương Quỳnh Hoa nhìn rõ mặt thật của cộng sản mà bỏ chạy cũng tiêu, bịt tai nhắm mắt mở miệng ca ngợi đảng như Nguyễn Thị Bình thì cũng ngáp gió. Chỉ có xạo ke, điếm thúi như Dũng Xà Mâu, Trọng Lú thì mới ăn nên làm ra và ngồi cao ngất ngưỡng… cộng sản là vậy đó!Tư Bến Nghé 

No comments:

Post a Comment