Monday, June 5, 2017

Bài viết hay(5016)

Thưởng chỉ mới thả quả bóng lên thôi mà chưa chi nhiều người đã hí hửng quá sớm. Hình như nhiều người cứ nghĩ VC hết người rồi nên sẽ đón chào những "anh hùng hào kiệt" từ trong nước đến hải ngoại tham gia chính phủ hay sẽ có đa đảng. Khổ nỗi là nhiều chú bác đã về hưu mà vẫn tham vọng quá nhiều. Có em nói và viết tiếng Việt không rành mà cũng được xúi về nước để chuẩn bị thay "mấy thằng ngu dốt"! Tôn Tử dạy "biết người, biết ta, 100 trận 100 thắng". Vậy mà ta cứ đánh giá CSVN quá thấp; trong khi họ đang nắm trong tay thực lực hùng hậu mà nếu có bầu cử dân chủ thật sự thì chắc chắn VC cũng thắng lớn khi bà con trong nước có biết thành tích gì từ mấy ông bà ở hải ngoại đâu? 42 năm qua, chúng ta cứ thích nằm mơ hoài thay vì nhìn rõ ưu khuyết điểm của cả ta và địch. VC còn sống ít nhất vài thập niên nữa nếu như chúng ta vẫn nằm mơ mà không đối diện với thực tế.

Xu hướng đa đảng sắp trở thành xu thế ở Việt Nam?

clip_image002
Ảnh minh họa.
Đi ngh hay Tng thng lưỡng tính?
Ngày 17/5/2017, Tạp chí Tia sáng (thuộc Bộ Khoa Học Công nghệ) - một tờ báo nhà nước được xếp vào số ít ỏi cơ quan báo chí mang quan điểm phản biện và có hơi hướng cấp tiến, đã chính thức đăng bài viết “Nht th hóa: Phân tích đ la chn mô hình” của tác giả Nguyễn Sĩ Dũng - cựu Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội.
Khi còn đương chức, ông Nguyễn Sĩ Dũng là người làm công tác nghiên cứu cho Quốc hội, thường đề cập đến các vấn đề về cơ chế, chính sách, nhưng vẫn theo “đường lối chủ trương” mà chưa “xé rào”.
Còn hiện thời, tuy khởi đầu bằng việc phân tích chủ trương nhất thể hóa của đảng cầm quyền, nhưng bài viết trên của quan chức về hưu Nguyễn Sĩ Dũng lại đề cập đến một vấn đề được xem là “rất nhạy cảm” đối với thể chế độc đảng ở Việt Nam: chọn mô hình đại nghị hay mô hình Tổng thống lưỡng tính?
Trước đây, trên mặt báo chí nhà nước thỉnh thoảng cũng có vài bài viết đề cập đến “đa nguyên” hay bóng gió về “đa đảng”, nhưng hàm lượng và tính rõ ràng là khá mờ nhạt.
Có thể cho rằng đây là lần đầu tiên xuất hiện một bài viết trên báo nhà nước mang tính hàm ý rõ ràng đến thế.
Do tính quan trọng và tính “tín hiệu” của bài viết này, dưới đây xin trích dẫn phần lớn nội dung bài “Nht th hóa: Phân tích đ la chn mô hình” để độc giả tham khảo:
Mô hình Th tướng chế còđược gi là mô hình đi ngh gm cng hòđi ngh và quân ch đi ngh Trong mô hình đi nghđng nào thng c và có đa s trong Quc hi, thì đng đó đng ra thành lp Chính ph. Nghĩa làđng thng c va nm c quyn lp pháp và c quyn hành phá trong tay. Chính vì vy, không có s phân lp hay kim soát ln nhau rõ ràng gia quyn hành pháp và quyn lp pháp trong mô hình đi ngh. Thc tế là trong mô hình này, quyn lp pháp và quyn hành pháp hòa ln (fusion) vào nhau. Đây là mô hình rt cđược cân nhc khi tiến hành nht th hóa vì các lý do sau đây:
Mt là, mô hình đi ngh đã mang li s thnh vượng và phát trin cho nhiu nước nht trên thế gii. Chúng ta có th k ra đây các nước như Anh, Úc, Canada, New Zealand, Đc, ThĐin, Đan Mch, Nht Bn, Singapore
Hai là, cách thc t chc h thng ca chúng ta đang có khá nhiđim tương đng vi mô hình này. Có th k ra đây mt s đim tương đng nhưĐng cóđa s trong Quc hi nêĐng la chn nhân s cho Chính ph và thc cht là thành lp Chính phĐng nm c quyn lp pháp và quyn hành pháp; Chính ph hình thành trên cơ s Quc hi và chu trách nhim trước Quc hi
Mô hình Tng thng chế còđược gi là mô hình Cng hòa Tng thng. Trong mô hình này, Chính ph không hình thành trên cơ s ca Quc hi và cũng không chu trách nhim trước Quc hi. Người dân bu trc tiếp ra Tng thng và trao quyn hành pháp cho Tng thng. Người dân cũng bu ra Quc hi và trao quyn lp pháp cho Quc hi. Nhiu người gđây là mô hình phân quyn cng vì không có s hòa ln gia quyn lp pháp và quyn hành pháp. Tuy nhiên, cũng cn chú ý là trong mô hình này, nguyên tc cơ bn vn không hoàn toàn là tam quyn phân lp, mà là cân bng và kim soát ln nhau gia các quyn. Ví d Quc hi thông qua lut thì Tng thng có quyn ph quyết lut và Tòán có quyn phán x v tính hp hiến ca lut. Mô hình Cng hòa Tng thng ch nêđược coi là mt mô hình được nêu ra đ tham kho. Lý do là vì ngoài nước M ra, mô hình này gn như đã không đưa li s thnh vượng và phát trin cho bt k mt nước nào khác.
S kết hp gia mô hình Đi ngh và mô hình Tng thng đã cho ra đi mt mô hình thiết kế h thng th ba được nhiu nước trên thế giáp dng. Đó là mô hình Tng thng lưỡng tính. Đđim ni bt ca mô hình này là Chính ph va có Tng thng và va có Th tướng. Quyn hành pháđược phân chia cho hai yếu nhân nói trên theo nhng t l khác nhau tùy vào mi nước. Tuy nhiên, quyn hoch đnh nhng chính sách ln và quyn v quc phòng, an ninh và ngoi giao thường thuc v Tng thng. Trong mô hình này, Tng thng thường có v thế đc lp vi Quc hi, nhưng Th tướng và ni các ca Th tướng li phi chu trách nhim trước Quc hi. Đây là mô hình mà Liên bang Nga và đa s các nước cng hòa xô-viết trướđâđã la chn trong quá trình chuyđi. Đi vi chúng ta, đây cũng là mô hình rt cn tham kho vì nhng lý do sau.
Mt làđây là mô hình duy nht mà lch s hiđi ca thế giđã ghi nhn là đưđược Hàn Quc và Đài Loan t thế gii th ba lên thế gii th nht. Không có mt mô hình th chế nào khác na làđượđiu này, ngoi tr trường hp mô hình đi ngh đi vi Singapore. Tuy nhiên, Singapore thc cht là mt thành ph vì quc gia này rt nh bé.
Hai là, thc cht chúng ta đã tng có mô hình Tng thng lưỡng tính theo Hiến pháp năm 1946. Trong Nhà nước Vit Nam Dân ch Cng hòa thđó chúng ta đã tng có Ch tch nước và Th tướng Chính ph đu nm quyn hành pháp.
Như vy, thc cht là có hai mô hình chúng ta có th la chđ nht th hóa giĐng và Nhà nước. Đó là mô hình Đi ngh và mô hình Tng thng lưỡng tính
Nếu nht th hóa là viĐng hóa thân vào Nhà nước, thì la chn mô hình đ nht th hóa là điđu tiên quan trng nht chúng ta phi làm. Bi vì rng, nếu chúng ta la chn mô hình Th tướng chế thì ngườđng đĐng s phi làm Th tướng như  Anh,  Nht Nếu chúng ta la chn mô hình Tng thng chế thì ngườđng đĐng phi làm Tng thng như  M Indonesia
Bế tc
Đáng chú ý, Nguyễn Sĩ Dũng đã đăng bài “Nht th hóa: Phân tích đ la chn mô hình” trên facebook của ông trùng với thời gian diễn ra Hội nghị Trung ương 5 của đảng cầm quyền.
Việc tạp chí Tia sáng “dũng cảm” đăng bài viết “Nht th hóa: Phân tích đ la chn mô hình”, như một công bố chính thức trên hệ thống truyền thông, có thể được xem là một tín hiệu về những thay đổi thể chế chính trị ở Việt Nam trong tương lai, mà gần nhất có thể trong 1-3 năm tới.
Bài viết trên xuất hiện trong bối cảnh vừa âm ỉ, vừa râm ran dư luận về khả năng có thể hình thành thể chế “đảng trong đảng” ở Việt Nam. Từ năm 2016, đã xuất hiện những cuộc trao đổi trong giới quan chức cao cấp hưu trí và giới trí thức “phản biện trung thành” về khả năng đổi tên Đảng Cộng sản trở về tên Đảng Lao động như trong quá khứ xa. Hoặc có thể “tách đảng” thành hai - vừa Đảng Cộng sản vừa Đảng Lao động trong tương lai gần.
Từ trước Tết nguyên đán 2017, lại râm ran dư luận trong giới “phản biện trung thành” về khả năng có thể đề nghị hình thành thể chế “đảng trong đảng”, nhưng với một cái tên mới hoàn toàn cho đảng cầm quyền.
Dường như chưa bao giờ, kể từ thời Liên Xô sụp đổ vào đầu thập kỷ 90 của thế kỷ trước, không khí và nhu cầu về đa nguyên và đa đảng lại cấp thiết như lúc này ở Việt Nam.
“Bế tắc” là từ ngữ không còn lấp ló nơi cửa miệng của giới quan chức, mà đã được một số quan chức can đảm và bạo miệng nhất nói ra hoặc thốt ra. Vào năm 2015, Bộ trưởng Kế hoạch đầu tư Bùi Quang Vinh đã trở thành một trong số những người dám nói thẳng ngay trong một cuộc tập huấn chính trị “có thứ đó đâu mà tìm”, khi ông được học viên hỏi về tương lai của chủ nghĩa xã hội.
Quan chức đã thế, nhưng giới trí thức có hơi hướng cấp tiến còn mạnh miệng hơn nhiều. Nói đủ thứ, từ chuyện nội bộ “đảng nát như tương” đến chuyện kinh tế suy sụp, xã hội nhiễu loạn, còn lý tưởng xã hội chủ nghĩa hay “nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” của ông Nguyễn Phú Trọng đã không còn ăn nhập gì với một hiện thực đầy dẫy bế tắc…
Nguồn gốc của căn bệnh quá trầm kha, rốt cuộc được cho rằng chủ yếu do cơ chế một đảng gây ra. Cho đến giờ này, chống tham nhũng đã trở nên vô phương ở Việt Nam. Độc đảng chính là nguồn cơn sinh ra quốc nạn tham nhũng.
Chỉ còn cách đa đảng thì may ra mới cứu vãn được dân tộc, người nghèo và đương nhiên cứu cả giới quan chức đương chức lẫn về hưu.
Xu thế
Nhưng không chỉ phản ứng đối với ý thức hệ giáo điều, tự thân “xung đột nội bộ” cũng góp phần đẻ ra nhu cầu hướng đến đa đảng.
Sau Đại hội 12 vào đầu năm 2016, những nhóm quyền lực cũ và mới song song tồn tại và sinh sôi nảy nở ngày càng nhiều. Nhưng cốt tử hơn, những nhóm này – trong mối kết nối chặt chẽ với các nhóm lợi ích cũ và mới – đang ngày càng nhận ra tương lai hoàn toàn bế tắc nếu cứ cắm đầu tuân theo những bản nghị quyết vô hồn về “chủ nghĩa xã hội” hoặc “nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”. Một trong những lý do đơn giản nhất là ngày càng lo sợ sự bùng nổ phản kháng và hành động trả thù của dân chúng, đặc biệt từ những người dân đã bị biến thành nạn nhân khốn cùng của chế độ. Một bài toán rất thực tế: giới quan chức tìm đâu ra lối thoát chính trị và lối thoát sinh mạng ở Việt Nam và cả trên “trường quốc tế”, trong khi tài sản và thân nhân của họ đã hiện diện ở khắp các nơi – Mỹ, Canada, Úc, Tây Âu…?
Bài viết “Nht th hóa: Phân tích đ la chn mô hình” của tác giả Nguyễn Sĩ Dũng là một chỉ dấu đầu tiên cho thấy nhu cầu đa đảng đã không chỉ chìm ẩn trong não trạng, không chỉ mấp mé nơi cửa miệng, không chỉ đã được phát ngôn với sự bức xúc nhất định, mà còn bắt đầu được khơi mào bằng truyền thông.
Để có thể đưa chúng ta đến một kết luận sơ bộ về bầu không khí chính trị - xã hội Việt Nam: xu hướng đa đảng đang và sẽ trở thành xu thế, có thể là xu thế lan rộng, chỉ trong ít năm nữa.
Tuy nhiên trong vài ba năm tới, xu thế đa đảng không phải xuất phát từ “thế lực thù địch” hay “xã hội dân sự” chính quyền thường quy kết, mà có thể bắt nguồn từ chính nội bộ đảng. Xu thế này đang và sẽ mang tính xác đáng đủ lớn để những quan chức như ông Trương Minh Tuấn không thể viện lý do “chống tự diễn biến, tự chuyển hóa” để ngăn chặn. Thậm chí đến một lúc nào đó, cả những người cực kỳ bảo thủ như Nguyễn Phú Trọng cũng có thể phải chép miệng “Đành vậy, không còn cách nào khác…”.Phm Chí Dũng

Chuyến đi 'không đột phá, nhưng có kết quả'

"Riêng về vấn đề nhân quyền rõ ràng Trump không quan tâm, tôi biết là Đảng Cộng sản Việt Nam, Chính phủ Việt Nam cũng có vị trí quan điểm riêng của họ, tôi đã viết nhiều bài nên ở đây không cần nhắc lại, chỉ muốn nói là chỉ đối với những người trong nước Việt Nam, cũng như những người trên thế giới mà có quan tâm đến vấn đề nhân quyền thì rất tiếc ông Trump không thể giúp cả hai nước để trao đổi một cách xây dựng, để cố gắng khắc phục những trở ngại còn có để cho người dân Việt Nam cũng như người dân Mỹ coi trọng nhân quyền một cách đúng hơn" - PGS. TS. Jonathan London.

Chỗ ung bướu trầm trọng nhất trong tình thế của một đất nước Việt Nam hiện nay là đại bộ phận dân chúng đang mắc kẹt trong gông xích của độc tài và bạo lực, mất phương hướng, mất khả năng độc lập suy nghĩ và sáng tạo, đòi hỏi phải sớm được tháo gỡ. Còn hàng ngũ quan chức thì từ lâu đã tha hóa trầm trọng về mọi mặt, nghiễm nhiên trở thành một lũ “ăn hại đái nát” không giấu giếm được ai.

Vậy mà cuộc gặp gỡ giữa ông Phúc với ông Trump lại chỉ mở cho Việt Nam một “đường thông kinh tế”, nghĩa là ông Tổng thống đại cường bất cần người Việt đang sống trong bầu khí xã hội nghẹt thở như thế nào, miễn được ve vuốt là ném liền một chiếc phao cứu sinh vào nền kinh tế của một nước chỉ biết đi vay và nợ đầm nợ đìa chưa tìm ra phương giải cứu.

Từ mấy hôm nay ông Phúc được khen nhiều, chắc sướng tai khôn xiết kể.

Thảo nào mà trước khi lên đường sang Mỹ, ông Phúc – hay là những liên minh lợi ích của ông – đã kịp cho đội quân CA cùng côn đồ mạnh mẽ ra tay với người bất đồng chính kiến. Quyết liệt bắt bớ những anh em tình nguyện giúp đỡ ngư dân Vũng Áng đòi quyền sống, thậm chí liều lĩnh thúc đẩy mối mâu thuẫn Lương - Giáo trong nội bộ dân chúng ở một vùng như Quỳnh Lưu, không cần biết đấy là “vạch đỏ” hết sức nguy hiểm, nhất thiết chớ có động vào.

Ông Thủ tướng và bộ hạ đã tự vạch áo cho thấy mình là ai.

Phong trào XHDS còn biết nói gì hơn nữa đây. Thôi hãy cứ kiên trì chờ đợi một cơ hội tốt hơn.

“Thời cơ, thời cơ, không nên lầm lỡ” – Nguyễn Trãi.

Bauxite Việt Nam
image

Ảnh: POOL/GETTY - Chuyến thăm Mỹ của Thủ tướng Phúc tuy không tạo đột phá, nhưng cũng đạt được một số kết quả, thành công, theo ý kiến học giả và nhà quan sát.
Chuyến thăm Mỹ và Washington của Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc là 'thành công, có kết quả', tuy nhiên không tạo ra được sự 'đột phá' trong bang giao hai nước, một số khách mời là chuyên gia và nhà quan sát chính trị, bang giao Mỹ - Việt nói Bàn tròn thứ Năm tuần này của BBC Việt ngữ.
Trước hết, từ Học viện Ngoại giao của Việt Nam, hôm 01/6/2017, Tiến sỹ Trần Việt Thái, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược Ngoại giao, nói:
"Về cơ bản, tôi cho rằng đây là một chuyến đi rất thành công của Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc sang Mỹ, tôi nghĩ rằng nó thành công ở mấy phương diện... Thứ nhất về mặt chính trị, chuyến đi này tiếp tục duy trì đà quan hệ và đà phát triển quan hệ trong thời kỳ của Tổng thống Donald Trump, đồng thời với đó, nó mở ra khuôn khổ hợp tác mới, tôi có thể nói nó đã định hình một tầm nhìn, một định hướng trong quan hệ Việt - Mỹ trong thời gian tới.
"Thứ ba, hai bên tiếp tục xây dựng lòng tin đối với nhau, tôi nghĩ đây là điểm rất quan trọng. Việc Thủ tướng Phúc sang Mỹ làm việc, ông Donald Trump đón tiếp Thủ tướng Phúc từ rất sớm và đã nhận lời sang Việt Nam, thăm Việt Nam và dự cấp cao APEC, thì tôi nghĩ rằng nó đã xây dựng, củng cố lòng tin giữa hai bên, đó là điểm thứ nhất, thành tựu thứ nhất.
Chuyến đi này đã củng cố sự hiểu biết lẫn nhau, đặc biệt là giúp người Mỹ và chính quyền mới ở Mỹ, cũng như người dân và xã hội Mỹ hiểu hơn về một đất nước Việt Nam đổi mới, năng động và phát triển - Tiến sỹ Trần Việt Thái
"Điểm thứ hai, tôi cho rằng những thông điệp truyền tải tới cộng đồng doanh nghiệp của Mỹ là khá rõ rệt, nhất là về một môi trường Việt Nam đầu tư, làm ăn kinh tế... Chúng ta thấy là đích thân Thủ tướng cũng đã giải thích về thâm hụt thương mại giữa Mỹ và Việt Nam rằng đây là thâm hụt có lợi cho Mỹ, chứ không phải là những thâm hụt mà không có lợi. Tôi nghĩ rằng những thông điệp đó đã được chuyển đi rất là tốt.
"Điểm thứ ba trong ý thứ hai này là sau khi Mỹ rút khỏi TPP, hai bên muốn tìm kiếm một khuôn khổ mới để thúc đẩy quan hệ hợp tác thương mại, đầu tư giữa hai nước, tôi nghĩ cái này vẫn còn nhiều bước tiến nữa, phải đàm phán và phải ngồi với nhau; nhưng ít nhất về mặt cam kết chính trị, hai bên đã đạt được đồng thuận về khuôn khổ này. Tôi nghĩ điểm này cũng là một điểm rất thành công".
Theo chuyên gia về chiến lược ngoại giao của Việt Nam, một thành công thứ ba của chuyến đi là điều mà ông gọi là 'thông điệp' với xã hội và người dân Mỹ, qua chuyến đi Mỹ của Thủ tướng Phúc, ông Trần Việt Thái nói tiếp:
"Tôi cho rằng chuyến đi này đã củng cố sự hiểu biết lẫn nhau, đặc biệt là giúp người Mỹ và chính quyền mới ở Mỹ, cũng như người dân và xã hội Mỹ hiểu hơn về một đất nước Việt Nam đổi mới, năng động và phát triển. Tôi cho rằng đây là điểm thành công rất quan trọng. Để từ đó, nó thúc đẩy những giao lưu, hợp tác về giao lưu con người, hợp tác văn hóa giáo dục và các lĩnh vực khác.
"Thứ tư, tôi cho rằng nó (chuyến đi) thành công ở chỗ là nó chuyển đi thông điệp ở khu vực và đối với quốc tế, đặc biệt đối với Liên Hợp Quốc, chuyến đi này của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cũng đồng thời với dịp dự sự kiện 40 năm ngày Việt Nam tham gia Liên Hợp Quốc và Thủ tướng đã có cam kết rất mạnh mẽ về việc Việt Nam là một thành viên có trách nhiệm và đóng góp ngày càng tích cực hơn cho các công việc của LHQ, ví dụ như trong các hoạt động gìn giữ hòa bình chẳng hạn..."
'Không đột phá, nhưng có kết quả'
image
Việt Nam muốn vận động hành lang ở Mỹ 'không dễ' vì TQ
Từ Washington D.C, Giáo sư Nguyễn Mạnh Hùng, nhà nghiên cứu cao cấp, khách mời tại Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS) của Mỹ, sau khi xem xét bối cảnh của chuyến thăm của Thủ tướng Việt Nam, đưa ra đánh giá về kết quả chuyến đi với Bàn tròn, ông nói:
"Một số sự kiện nhỏ cho thấy có kết quả chứ không phải không có kết quả; không có đột phá, nhưng cũng có kết quả là tăng cường bang giao giữa hai nước. Chúng ta thấy trong việc này, ông Phúc có được dịp để phát biểu giải thích quan điểm của Việt Nam.
"Nhất là trong bài diễn văn của ông ở Heritage Foundation (Quỹ Di sản), ông nói rõ là Việt Nam muốn hưởng quy chế thị trường, Việt Nam muốn có thêm thiết bị quốc phòng của Mỹ và điều quan trọng nhất ông nói một cách rõ rệt rằng Việt Nam muốn các nước như Mỹ và Trung Quốc, hai nước lớn hành xử một cách minh bạch và có trách nhiệm, để đừng (gây) hậu quả xấu, ảnh hưởng xấu đến những nước khác...
Ông khen ngợi cá nhân ông Phúc là làm việc rất tuyệt vời, ông gọi là 'fantastic job', ông khen ngợi việc ký hiệp ước là... tạo hàng tỷ (đô-la giá trị về) công ăn việc làm cho nước Mỹ và ông nói chúng tôi đánh giá cao việc làm này - Giáo sư Nguyễn Mạnh Hùng
"Đồng thời ông có nói câu 'Trâu bò đánh nhau, ruồi muỗi chết', nghĩa là ông nói rõ Việt Nam vừa sợ hai bên cấu kết với nhau, nhưng mà cũng vừa sợ hai bên đánh nhau. Về phương diện thương mại, ông tuyên bố tại Heritage Foundation là sẽ ký hiệp ước thương mại đạt đến 15 tỷ đô-la, nhưng trong thông cáo chung hai nước chỉ nói đến 8 tỷ thôi, tuy rằng kết quả này có tính cách khiêm nhường, nhưng đã được ông Trump khen ngợi.
"Ông khen ngợi cá nhân ông Phúc là làm việc rất tuyệt vời, ông gọi là 'fantastic job', ông khen ngợi việc ký hiệp ước là... tạo hàng tỷ (đô-la giá trị về) công ăn việc làm cho nước Mỹ và ông nói chúng tôi đánh giá cao việc làm này.
"Còn về điểm đáng để ý là về phương diện Biển Đông, tuy ông Trump trong cuộc gặp các nhà báo cùng với ông Phúc chỉ nói hai điều là vấn đề thương mại và vấn đề Bắc Hàn, mà không nói đến Biển Đông, nhưng trong thông cáo chung, hai ông đã nói đến Biển Đông, và quan điểm nói trong thông báo chung phù hợp với quan điểm Việt Nam là tôn trọng luật quốc tế, tự do hàng hải ,v.v... đều có lợi cho Việt Nam hết.
"Có một điểm rất đặc biệt về phương diện quốc phòng là chúng ta thấy trước khi đi, để đáp ứng quan tâm (quan ngại) của Việt Nam là Mỹ và Trung Quốc cấu kết với nhau, thì Mỹ có cuộc tuần tra, tác động tuần tra hàng hải ở ngay đảo mà Trung Quốc đang chiếm giữ, và cũng trao thiết bị một tàu tuần duyên cho Việt Nam, nhưng trong thông cáo chung đó, hai bên nói một điều là trao đổi về khả năng tàu sân bay của Mỹ thăm cảng Việt Nam và các biện pháp tăng cường hơn nữa hợp tác giữa lực lượng hải quân hai bên.
"Tôi nghĩ đây là một điều... nhỏ nhưng khá quan trọng trong cộng tác quốc phòng giữa hai nước; một điểm nữa mà tôi nghĩ ông Phúc muốn có mà Mỹ cũng đồng ý để ông (Phúc) có được điều đó là nói rằng hai bên cùng nhất trí các cơ chế đối thoại song phương hiện có, mà trong đó có cả quan hệ kênh đảng, là điều mà ông (Tổng Bí thư) Nguyễn Phú Trọng sang đây được và bây giờ ông Phúc tiếp tục nhấn mạnh điều đó".

'Đề cập tổ chức đa quốc gia'

image
Tổng thống Mỹ nhắc Việt Nam về thâm hụt thương mại
Từ Đại học Maine, Hoa Kỳ, Giáo sư Ngô Vĩnh Long, sử gia, đồng thời là nhà nghiên cứu về chính trị và bang giao quốc tế, bổ sung thêm một đánh giá về kết quả chuyến thăm, ông nói:
"Nhiều người để ý quá nhiều về thương mại và kinh tế, đặc biệt là vấn đề nhập siêu của Mỹ đối với Việt Nam.
"Tôi nghĩ đây thật ra không phải là vấn đề quan trọng lắm, bởi vì xuất siêu của Việt Nam sang Mỹ một năm là 32 tỷ Mỹ kim thôi, trong khi xuất siêu của Trung Quốc sang Mỹ, mỗi tháng lớn hơn số xuất siêu của Việt Nam sang Mỹ trong một năm.
"Thành ra, nếu so sánh, tôi nghĩ rằng những người ở trong Chính phủ Mỹ họ biết vấn đề này, cho nên vấn đề này không phải là vấn đề quan trọng, vấn đề này để cho ông Trump có hãnh diện đối với dân chúng Mỹ thôi.
Đây thật ra không phải là vấn đề quan trọng lắm, bởi vì xuất siêu của Việt Nam sang Mỹ một năm là 32 tỷ Mỹ kim thôi, trong khi xuất siêu của Trung Quốc sang Mỹ, mỗi tháng lớn hơn số xuất siêu của Việt Nam sang Mỹ trong một năm - GS. Ngô Vĩnh Long
"Nhưng tôi nghĩ có một vấn đề rất quan trọng mà Giáo sư Nguyễn Mạnh Hùng và Tiến sỹ Trần Việt Thái có đề cập sơ qua, nhưng không đi vào chi tiết, đó là trong chuyến đi này, phía bên Việt Nam và Thủ tướng Phúc có đề cập các tổ chức đa quốc gia.
"Trước hết là Liên Hợp Quốc, vấn đề LHQ trong tuyên bố chung nói một vài lần, vấn đề nữa là vấn đề Asean và vấn đề kia là vấn đề APEC.
"Vấn đề Asean, hai bên đồng ý là Asean rất quan trọng và Việt Nam và Mỹ muốn tăng cường đối tác chiến lược đối với Asean và Việt Nam và Mỹ cũng sẽ nỗ lực chung để xây dựng cộng đồng Asean dựa trên luật lệ ủng hộ vai trò trung tâm của Asean trong cấu trúc khu vực đang định hình.
"Mà tôi nghĩ đây là vấn đề rất quan trọng cho Mỹ trong tương lai, bởi vì hiện nay mặc dù ông Trump không thích các tổ chức đa phương, nhưng không có các tổ chức đa phương, nhất là đa phương có quan hệ đến khu vực châu Á - Thái Bình Dương, thì Mỹ sẽ khó có vai trò lâu dài trong khu vực đó, cái đó là một, đối với Asean, tôi nghĩ đó là vấn đề quan trọng nhất.
"Vấn đề thứ hai là vấn đề APEC, mặc dù an ninh là vấn đề quan trọng, nhưng APEC là một tổ chức mậu dịch, theo dõi hàng hóa của châu Á - Thái Bình Dương mà ông Trump có khen ngợi là Việt Nam sẽ là chủ nhà của cuộc Hội nghị (thựợng đỉnh) sắp đến vào tháng 11, tôi nghĩ đó cũng là một vấn đề quan trọng;
"Vấn đề thứ ba mà tôi vừa đề cập là vấn đề nhắc lại Liên Hợp Quốc, mà đây cũng là vấn đề rất quan trọng..."
'Thảm họa' với nhân quyền
image
TS Hà Hoàng Hợp cho rằng nhân quyền dường như bị giảm nhẹ trong cuộc gặp Trump - Phúc.
Từ Đại học Leiden của Hà Lan, PGS. TS. Jonathan London, nhà xã hội học và phân tích gia về chính trị, quan hệ quốc tế, bình luận về khía cạnh nhân quyền có vị trí ra sao trong cuộc gặp Phúc - Trump và chuyến đi của Thủ tướng Việt Nam tới Mỹ, nhưng trước tiên ông bình phẩm về Tổng thống Donald Trump:
"Tôi không đồng ý là Trump lo về vấn đề việc làm cho người Mỹ, chủ yếu ông lo về vấn đề làm giàu thêm cho những người giàu có hiện nay, ông Trump là một thảm họa cho những vấn đề nhân quyền trên thế giới, cũng như những vấn đề về khí hậu, v.v...
"Tôi đã viết trong bài đối với vấn đề quốc phòng và an ninh, cũng như vấn đề thương mại, thì Mỹ và Việt Nam có một quan hệ rất tốt, và chúng ta có thể chờ đợi sự phát triển của quan hệ này một cách rất mạnh mẽ. Điều đó rất tốt và hy vọng quan hệ về lâu dài sẽ nâng cao mức sống của người dân Việt Nam và cũng sẽ có lợi ích cho cả hai nước.
"Riêng về vấn đề nhân quyền rõ ràng Trump không quan tâm, tôi biết là Đảng Cộng sản Việt Nam, Chính phủ Việt Nam cũng có vị trí quan điểm riêng của họ, tôi đã viết nhiều bài nên ở đây không cần nói (nhắc lại), chỉ muốn nói là chỉ đối với những người trong nước Việt Nam, cũng như những người trên thế giới mà có quan tâm đến vấn đề nhân quyền thì rất tiếc ông Trump không thể giúp cả hai nước để trao đổi một cách xây dựng, để cố gắng khắc phục những trở ngại còn có để cho người dân Việt Nam cũng như người dân Mỹ coi trọng nhân quyền một cách đúng hơn.
Tôi không đồng ý là Trump lo về vấn đề việc làm cho người Mỹ, chủ yếu ông lo về vấn đề làm giàu thêm cho những người giàu có hiện nay, ông Trump là một thảm họa cho những vấn đề nhân quyền trên thế giới, cũng như những vấn đề về khí hậu v.v... - PGS. TS. Jonathan London
"Bởi vì hiện nay, như ta thấy không chỉ ở Việt Nam, các nước khác nhau thì động thái của Trump có thể nói là... ông chẳng quan tâm gì đến nhân quyền, ngay cả bên trong nước Mỹ, nên tôi cũng hơi buồn, tôi không phải là một mình, có nhiều người cũng lo (lắng) về vấn đề này, về cơ bản, chúng ta phải thấy rõ việc mà Trump đã đón Nguyễn Xuân Phúc là họ đã có những đàm phán rất xây dựng và có vẻ có kết quả tương đối tốt.
"Đó là một điều rất mừng, đối với những chuyện khác, chẳng hạn an ninh quốc phòng cũng rất là tốt cho cả hai nước, không vấn đề gì, nhưng đối với những người ở Việt Nam, ở Mỹ và trên thế giới, muốn thấy vấn đề nhân quyền được nâng cao, thì chắc chắn phải rất buồn về việc Donald Trump cầm quyền ở Mỹ và việc đó chúng ta thấy rất rõ ràng".
Ngay trước Bàn tròn thứ Năm hôm 01/6, trong một phỏng vấn dành cho BBC Việt ngữ, Tiến sỹ Hà Hoàng Hợp, nhà nghiên cứu cao cấp của Viện Nghiên cứu Đông Nam Á (Iseas) và thành viên nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế (IISS) cũng đưa ra bình luận với BBC về các kết quả, trong đó ông cảm thấy rằng nội dung nhân quyền đã bị làm 'nhỏ đi' trong chuyến đi Mỹ của ông Phúc và cuộc gặp Phúc - Trump.
Giáo sư Ngô Vĩnh Long, ở phần cuối Bàn tròn, chia sẻ thêm nhận định rằng chuyến công du của ông Phúc tới Mỹ là một bước 'tăng cường' trong bang giao Việt - Mỹ và cũng là để 'nhắc nhở' chính quyền của Tổng thống Trump về những nỗ lực mà hai bên đã đạt được cho tới nay nhờ điều mà học giả này gọi là 'công phu của bao nhiêu người' trong suốt bốn mươi năm qua.

Mỹ đã lật bài ngửa về Biển Đông tại Đối thoại An ninh Shangri-la

Hoa Kỳ không chống Trung Quốc, nhưng Hoa Kỳ có những lợi ích bị Trung Quốc xâm hại mà phải bảo vệ. Hoa Kỳ cũng là lực lượng đối trọng cân bằng với Trung Quốc.

Do đó, các quốc gia trong khu vực nên học tập Singapore trong việc dùng luật pháp quốc tế làm lăng kính soi rọi các quyết sách của mình.

Cái cần phải đấu tranh chống lại là các hành vi vi phạm luật pháp quốc tế, chứ không phải đối đầu chống lại nước lớn nhưng còn một số hành vi trẻ con” – Hồng Thủy.

Nói chí phải. Thế nhưng... cứ xem lại lịch sử hơn nửa thế kỷ đã qua mà xem. Lần lượt để mất tất cả Hoàng Sa và một phần Trường Sa vào miệng con sói gộc giả vờ anh em chí thiết mà mình vẫn bằng chân như vại, để rồi mỗi khi gặp sự cố sói nhe nanh đòi ngoạm tiếp, thì cho một “người phát ngôn” đứng ra nói những câu sáo mòn lặp đi lặp lại, và thế xem như đã đủ yên tâm, không có gì phải băn khoăn lo lắng nữa; giờ cứ mặc sức bình luận một cách “khách quan” về vai trò và hành động của Mỹ và các nước trong việc giữ yên quyền tự do hải hành của vùng biển quan trọng bậc nhất Thái Bình Dương này, tưởng chừng mình là kẻ vô can đứng ở ngoài – thế là trẻ con hay người lớn, bạn Hồng Thủy nhỉ?

Bauxite Việt Nam
(GDVN) - Cân bằng quan hệ với 2 siêu cường Trung - Mỹ là việc cần làm và cần phải làm tốt, để bảo vệ chính mình cũng như hòa bình, ổn định và phồn vinh chung.
Đài CNN, Hoa Kỳ ngày 3/6 đưa tin, các nhà tổ chức Đối thoại Shangri-la năm nay đã xác định 3 điểm nóng tiềm ẩn đe dọa sự ổn định trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương.
Đó chính là chương trình vũ khí hạt nhân của Triều Tiên, quân sự hóa Biển Đông và chủ nghĩa Hồi giáo cực đoan ở Đông Nam Á.
Cũng giống hầu hết các hãng thông tấn quốc tế khác, bản tin của CNN về Đối thoại Shangri-la đi kèm với nhận định:
"Kể từ khi Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump theo đuổi chính sách "nước Mỹ là trên hết" của ông, ngày càng có nhiều quan ngại từ các đồng minh và đối tác về vai trò của Hoa Kỳ tại châu Á trong tương lai.
Mỹ là cường quốc quân sự mạnh nhất khu vực châu Á -  Thái Bình Dương kể từ Chiến tranh Thế giới II".
Trong diễn văn khai mạc Đối thoại Shangri-la năm nay, Thủ tướng Australia Malcolm Turnbull đã bày tỏ sự thất vọng về việc ông Donald Trump rút Hoa Kỳ khỏi Hiệp định Đối tác thương mại xuyên Thái Bình Dương lẫn Hiệp định Paris về chống biến đổi khí hậu.
image
Thủ tướng Australia Malcolm Turnbull phát biểu tại Đối thoại Shangri-la năm nay, ảnh: AP.
Tuy nhiên ông Turnbull cũng kêu gọi các đồng minh, đối tác của Mỹ cần kiên nhẫn với chính quyền mới của Hoa Kỳ.
Chẳng riêng gì đồng minh và đối tác của Mỹ thấp thỏm, ngay cả các quan chức cấp cao lẫn học giả Hoa Kỳ cũng cảm thấy lo lắng và khó hiểu về "những phát ngôn mâu thuẫn" từ chính quyền Donald Trump.
Cựu Bộ trưởng Quốc phòng William Cohen thời Tổng thống Bill Clinton được CNN dẫn lời nhận xét:
"Điều mà các đồng minh của bạn mong muốn là tính dự báo, tính nhất quán và tính liên tục (trong chính sách của Hoa Kỳ với khu vực châu Á - Thái Bình Dương).
Đối với tôi, điều đáng lo ngại nhất là tôi không biết kế hoạch chiến lược của Mỹ là gì".
Ben Shreer, một nhà phân tích quốc phòng thuộc Viện Nghiên cứu Chiến lược quốc tế bình luận:
"Nếu Hoa Kỳ và Tổng thống tiếp tục xem các đồng minh và đối tác như là các giao dịch thuần túy, đó sẽ là mối quan tâm của hội nghị quốc phòng (Đối thoại Shangri-la) " [1].
Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ "lật bài ngửa" về Biển Đông
Cá nhân người viết cho rằng, đã có những dấu hiệu cho thấy chính quyền Tổng thống Mỹ Donald Trump "lật bài ngửa" trong chính sách an ninh đối với khu vực châu Á - Thái Bình Dương qua phát biểu của ông James Mattis tại Đối thoại An ninh Shangri-la.
Về Biển Đông, tướng James Mattis nhắc lại những tuyên bố lên án Trung Quốc quân sự hóa bất hợp pháp đảo nhân tạo, đe dọa an ninh và tự do hàng hải - hàng không trên Biển Đông, phá vỡ luật pháp quốc tế...
Ngoài những nội dung và thông điệp quen thuộc vẫn thấy lâu nay, nhắc lại cam kết duy trì trật tự, tự do hàng hải ở Biển Đông, ông chủ Lầu Năm Góc còn lưu ý:
Châu Á - Thái Bình Dương vẫn là một ưu tiên của Mỹ.
Nỗ lực chính của Washington là xây dựng liên minh, tuy nhiên "các nước phải đóng góp đầy đủ cho an ninh của chính họ" [2].
Nói cách khác, trên Biển Đông Mỹ chỉ bảo vệ lợi ích và vị thế của chính mình liên quan đến tự do và an ninh hàng hải - hàng không, trật tự khu vực dựa trên luật pháp quốc tế sau Chiến tranh Thế giới II, Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982.
image
Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ James Mattis phát biểu tại Đối thoại Shangri-la, ảnh: Reuters / SCMP.
Đó là lợi ích sát sườn của Mỹ, nhưng đồng thời cũng là lợi ích chung của cả khu vực.
Mỹ không quan tâm đến các tranh chấp chủ quyền lãnh thổ giữa các bên, mà chỉ quan tâm đến các yêu sách hàng hải quá mức do giải thích, áp dụng sai Công ước có thể hạn chế tự do - an ninh hàng hải và lợi ích hợp pháp của cộng đồng quốc tế, trong đó có Mỹ.
Vấn đề đặt ra ở đây là, nên hiểu như thế nào về thông điệp "các nước phải đóng góp đầy đủ cho an ninh của chính họ"?
Người viết cho rằng, "đóng góp đầy đủ" trong trường hợp này có thể hiểu theo 2 nghĩa.
Thứ nhất, thân ai người nấy lo, của ai người nấy giữ. Mỹ không làm những việc "bao đồng", nhất là các vấn đề liên quan đến tranh chấp chủ quyền lãnh thổ.
Thứ hai, nếu muốn Mỹ cung cấp chiếc ô an ninh, thì đồng minh hoặc đối tác của Hoa Kỳ phải có nghĩa vụ chi trả, đóng góp đầy đủ.
Ví dụ Nhật Bản và Hàn Quốc đều phải bỏ tiền nuôi lực lượng quân sự Mỹ đồn trú tại 2 quốc gia này để giúp họ đối phó với nguy cơ từ Triều Tiên.
Nhật Bản "đóng góp đầy đủ" thì chính quyền Mỹ công khai tuyên bố, Senkaku / Điếu Ngư nằm trong phạm vi Hiệp ước an ninh song phương.
Nói cách khác, nếu Trung Quốc tấn công đánh chiếm quần đảo này, Mỹ có trách nhiệm can thiệp.
Cũng là đồng minh hiệp ước, nhưng Philippines "đóng góp không đầy đủ", thậm chí còn phải trông chờ viện trợ từ Hoa Kỳ, nên năm 2012 Trung Quốc chiếm quyền kiểm soát Scarborough, Mỹ không can thiệp.
Nhìn nhận vấn đề theo hướng tiếp cận này, thì có thể lý giải một phần lý do tại sao Hạm đội 7 làm ngơ cho Trung Quốc chiếm nốt nửa phía Tây quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam, đang do Chính quyền Việt Nam Cộng hòa đóng giữ theo Hiệp định Geneva 1954, cho dù Mỹ là đồng minh.
Đó là chưa kể đến cục diện quan hệ quốc tế thời kỳ đó, Mỹ - Trung đang tìm cách bắt tay nhau cùng đối phó với Liên Xô sau chuyến thăm lịch sử của Richard Nixon đến Trung Quốc năm 1972.
Chỉ một sự làm ngơ đó thôi, đã là lễ vật hậu hĩnh Nhà Trắng dành cho Trung Nam Hải.
Như vậy, các nước ven Biển Đông hiện nay chỉ có thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của mình khỏi âm mưu bành trướng của Trung Quốc theo 2 cách.
Một là tự lực tự cường, nâng cao khả năng phòng thủ đồng thời tìm cách hợp tác song phương, đa phương để bảo vệ hòa bình, ổn định và duy trì hiện trạng ở Biển Đông, cho dù hiện trạng đã bị Trung Quốc thay đổi nhiều.
Trong phương án này, phối hợp chặt chẽ với sự hiện diện của Hoa Kỳ, Nhật Bản trong khu vực, thắt chặt hợp tác trong nội khối ASEAN cũng như giữa ASEAN với các quốc gia, tổ chức khác hết sức có ý nghĩa.
Đặc biệt là phải lưu ý đến việc xử lý các tranh chấp, bất đồng đựa vào luật pháp quốc tế, trên cơ sở bảo vệ hòa bình và hợp tác, thì hợp tác với Trung Quốc có vai trò quan trọng.
Bởi lẽ, Mỹ còn phải tìm cách hợp tác với Trung Quốc trong khi vẫn đấu tranh xử lý các mâu thuẫn, thì không lý do gì để các nước nhỏ trong khu vực tự tin tách đấu tranh khỏi hợp tác.
Hai là chấp nhận "đóng góp đầy đủ" để thuê Mỹ bảo vệ an ninh, như Nhật Bản và Hàn Quốc đã và đang làm.
Với những gì đang diễn ra, phương án thứ nhất dường như là ưu tiên và lựa chọn của gần như tất cả các nước ven Biển Đông, bởi không ai muốn mình rơi vào thế kẹt: trâu bò húc nhau, ruồi muỗi chết.
Bởi lẽ đã có quá nhiều bài học cho các nước nhỏ khi trở thành mục tiêu tranh giành ảnh hưởng của các siêu cường.
Hơn nữa, cục diện bán đảo Triều Tiên nói riêng, Đông Bắc Á nói chung chính là sản phẩm của Chiến tranh Lạnh, là hệ quả của cuộc đấu tranh giữa 2 luồng ý thức hệ.
Cục diện ngày nay đã khác xưa, nó không còn là đối đầu và lật đổ một mất một còn, mà thế giới ngày nay đã chuyển hướng hợp tác và cạnh tranh cùng thắng.
Tình thế ngày nay đã khác xưa, cho dù ai đó muốn thuê Mỹ bảo đảm an ninh, đã chắc gì Hoa Kỳ nhận lời?
Donald Trump sẽ phải đưa tất cả lên bàn cân kinh tế.
Một bên là túi tiền và thị trường Trung Quốc không thể bỏ qua, một bên là một hay một vài nước nhỏ muốn dựa vào Mỹ để cân bằng với Trung Quốc.
Câu trả lời như thế nào chỉ có người Mỹ mới biết.
Biển Đông thành tiêu điểm của Đối thoại Shangri-la
Trước đối thoại Shangri-la, nhiều nhà phân tích quốc tế dự đoán vấn đề Triều Tiên có thể sẽ lấn át chủ đề quân sự hóa Biển Đông tại kỳ đối thoại quan trọng nhất trong năm về an ninh châu Á - Thái Bình Dương này.
Tuy nhiên thực tế diễn ra ngược lại, Biển Đông vẫn là một chủ đề nóng thu hút sự quan tâm và bày tỏ thái độ của các cường quốc.
Điều này rất có lợi cho phương án đấu tranh bảo vệ hòa bình - ổn định và trật tự dựa trên luật pháp, để phát triển phồn vinh.
Chúng tôi đã tường thuật lại những phát biểu của Thủ tướng Australia, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ và người đứng đầu Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản về Biển Đông tại Shangri-la trong các bài trước.
South China Morning Post, Hồng Kông ngày 3/6 cho biết, 3 vị Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ - Nhật - Úc khi gặp nhau bên lề Đối thoại Shangri-la đã cùng lên án hành vi đơn phương thay đổi hiện trạng ở Biển Đông và Hoa Đông mà Trung Quốc theo đuổi. 3 vị cũng lên tiếng ủng hộ Phán quyết Trọng tài vụ kiện Biển Đông ngày 12/7/2016.
Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ James Mattis nói:
"Việc xây dựng đảo nhân tạo và quân sự hóa các cấu trúc trên vùng biển quốc tế sẽ làm suy yếu sự ổn định trong khu vực".
Bộ trưởng Quốc phòng Nhật Bản Tomomi Inada phát biểu, Tokyo lo ngại về những thay đổi an ninh ở Biển Đông và Hoa Đông mà Trung Quốc phải chịu trách nhiệm chính, cho dù bà không chỉ đích danh:
"Ở Hoa Đông và Biển Đông, chúng tôi liên tục chứng kiến những nỗ lực đơn phương thay đổi hiện trạng dựa trên các yêu sách không phù hợp với luật pháp quốc tế hiện hành.
Về Biển Đông, Phán quyết Trọng tài được đưa ra trong một vụ kiện trọng tài (theo Phụ lục VII, Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 về tranh chấp ứng dụng, giải thích Công ước) giữa Philippines và Trung Quốc tháng 7/2016 là phán quyết cuối cùng".
Tuyên bố chung của 3 vị Bộ trưởng kêu gọi "đối thoại, hợp tác và cam kết" với Trung Quốc, nhưng đồng thời cũng nhấn mạnh cam kết bảo vệ luật pháp quốc tế và tự do hàng hải - hàng không.
Họ kêu gọi tất cả các bên yêu sách "ngăn chặn các hoạt động bồi lấp, làm phi quân sự hóa các cấu trúc tranh chấp, tránh các hành động khiêu khích có thể leo thang căng thẳng".
Phản ứng của phái đoàn Trung Quốc năm nay cũng khá dè dặt chứ không hùng hổ như mọi năm.
Trưởng đoàn Trung Quốc, Trung tướng Hà Lôi tổ chức họp báo phân trần:
"Tôi muốn lưu ý rằng, tự do hàng hải không phải bằng giám sát chặt chẽ và các hoạt động quân sự, do các máy bay chiến đấu và tàu chiến Hoa Kỳ tiến hành ở vùng trời, vùng biển 'chủ quyền của Trung Quốc'" [3].
Washington tiếp tục lật bài ngửa về Triều Tiên và Đài Loan
Biển Đông không phải là câu chuyện của riêng các nước có yêu sách, mà là một vấn đề an ninh nóng bỏng của khu vực, toàn cầu.
Bởi lẽ đây là nơi diễn ra sự cạnh tranh ảnh hưởng gay gắt giữa Trung Quốc và Mỹ, tất nhiên bao gồm cả nguyên nhân căng thẳng từ yêu sách bành trướng và tham vọng độc chiếm vùng biển này làm ao tù của Bắc Kinh.
Chính vì vậy, cục diện Biển Đông có liên hệ chặt chẽ, biện chứng với cấu trúc và cục diện an ninh châu Á - Thái Bình Dương, tức nằm trong bàn cờ chiến lược lớn hơn giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ.
Nhổ một cọng tóc, mà "động" toàn thân.
Vì thế một nước cờ nào đó diễn ra ở Đông Bắc Á, có thể ảnh hưởng ngay lập tức đến cục diện Đông Nam Á, đặc biệt là Biển Đông.
Chính điều này khiến nhiều đồng minh, đối tác của Mỹ lo ngại khi thấy Tổng thống Donald Trump tìm cách thỏa hiệp với Trung Quốc về vấn đề Triều Tiên, chấp nhận tạm gác Biển Đông qua một bên.
Hiệu chỉnh thứ hai là các tuyên bố mạnh mẽ về Biển Đông, Triều Tiên tại Đối thoại Shangri-la.
Nếu như trong vấn đề Biển Đông, phát biểu của ông James Mattis chủ yếu nói cho các đồng minh và đối tác nghe, thì trong vấn đề Triều Tiên, ông nhắc lại với Trung Nam Hải:
Trung Quốc phải biến các cam kết ngôn từ thành hành động.
"Một khi Hoa Kỳ đã cạn kiệt tất cả các lựa chọn thay thế, người Mỹ sẽ làm đúng. Chúng tôi sẽ vẫn có mặt ở đó", ông James Mattis phát biểu [1].
Những lời này mang âm hưởng tuyên bố của Tổng thống Donald Trump theo tường thuật của CNN ngày 2/4: Trung Quốc không giúp thì để Mỹ tự làm theo cách của mình [4].
Còn vấn đề đảo Đài Loan, vì phái đoàn Trung Quốc đặt câu hỏi, ông James Mattis đã không ngần ngại trả lời thẳng:
"Bộ Quốc phòng Mỹ vẫn kiên định làm việc với Đài Loan và chính quyền dân chủ của họ, để cung cấp cho họ các thiết bị quốc phòng cần thiết, phù hợp với nghĩa vụ được quy định trong Đạo luật Quan hệ với Đài Loan.
Bởi vì chúng tôi đứng ra giải quyết một cách hòa bình với bất kỳ vấn đề nào theo cách thức mà người dân hai bờ eo biển Đài Loan có thể chấp nhận được.
Hoa Kỳ vẫn cam kết thực hiện chính sách 'một nước Trung Quốc'" [5].
Người viết cho rằng, bản chất quan hệ Mỹ - Đài hay Mỹ - Trung không có gì thay đổi, cho dù đã có những phát biểu và động thái khác nhau từ chủ nhân Tòa Bạch Ốc.
Đài Loan vẫn là con bài chiến lược dự trữ rất có giá trị của Hoa Kỳ ở châu Á - Thái Bình Dương.
Một cú điện đàm giữa Tổng thống Donald Trump với nhà lãnh đạo Đài Loan Thái Anh Văn hay việc quay sang nhắc lại tôn trọng cam kết 'một nước Trung Quốc' với ông Tập Cận Bình chỉ là những nước cờ chiến thuật, nhằm tối đa hóa lợi ích cho Mỹ thông qua đòn bẩy này mà thôi.
Thấy rõ những điều này rồi, người viết cho rằng các bên liên quan nên quay trở về hiệu chỉnh khả năng phòng thủ và phối hợp, hợp tác chặt chẽ với nhau để bảo vệ hòa bình, ổn định và luật pháp quốc tế khu vực.
Trung Quốc và Hoa Kỳ sẽ tiếp tục vừa hợp tác, vừa cạnh tranh trên phạm vi toàn cầu nói chung, đặc biệt tập trung vào châu Á - Thái Bình Dương nói riêng.
Cân bằng quan hệ với 2 siêu cường Trung - Mỹ là việc cần làm và cần phải làm tốt, để bảo vệ chính mình cũng như hòa bình, ổn định và phồn vinh chung cho khu vực.
Chớ thấy vốn giá rẻ của "Một vành đai, một con đường" được Trung Quốc chào mời mà vội mừng, chớ thấy Mỹ rút khỏi TPP hay Hiệp định Paris về biến đổi khí hậu mà vội lo.
Mặt khác, Mỹ còn phải tìm mọi cách tăng cường hợp tác với Trung Quốc, xử lý vấn đề đối tượng trên cái nền đối tác thì cũng đừng quốc gia nào trong khu vực nghĩ rằng hãy theo Mỹ để chống Trung Quốc.
Hoa Kỳ không chống Trung Quốc, nhưng Hoa Kỳ có những lợi ích bị Trung Quốc xâm hại mà phải bảo vệ. Hoa Kỳ cũng là lực lượng đối trọng cân bằng với Trung Quốc.
Do đó, các quốc gia trong khu vực nên học tập Singapore trong việc dùng luật pháp quốc tế làm lăng kính soi rọi các quyết sách của mình.
Cái cần phải đấu tranh chống lại là các hành vi vi phạm luật pháp quốc tế, chứ không phải đối đầu chống lại nước lớn nhưng còn một số hành vi trẻ con.
Mọi hành động đối đầu chỉ nên tính đến khi cây muốn lặng mà gió chẳng đừng, bởi giặc đến nhà đàn bà cũng đánh!
Donald Trump và Tập Cận Bình làm gì cũng có tính toán cẩn thận, các nước nhỏ cần nghiên cứu kỹ chính sách và xu hướng của hai nhà lãnh đạo này để tối đa hóa lợi ích, tối thiểu hóa rủi ro cho quốc gia mình trong bàn cờ chiến lược châu Á - Thái Bình Dương.Hồng Thủy
Tài liệu tham khảo:

No comments:

Post a Comment