Wednesday, June 7, 2017

Bài viết hay(5030)

Sau khi ông Kiệt rời chức vụ Thủ Tướng thì VC đã lạc đường, không còn biết đi theo hướng nào nữa mà cứ mày mò theo kiểu lắm thầy nhiều ma. Bởi vậy, từ khi ông Kiệt chết rồi thì tui hết hứng thú để viết bài gửi về VN nữa vì 5 lý do: 1. VC đã biết luật chơi rồi, cần gì ai chỉ dạy nữa mà phải viết làm gì cho phí. 2. VC đã có quá nhiều ông thầy bà giáo mách nước cho kiếm tiền thì cần gì mấy ông bà VK như tui. 3. Không ai rõ tình hình VN hơn dân trong nước nên sống ở Mỹ như tui thì biết đếch gì mà viết lếu láo? 4. Lãnh tụ VC ngày càng tỏ ra thực dụng hơn khi họ tập trung kiếm tiền thì họ chẳng cần quan tâm gì đến chuyện nâng cao dân trí, cải thiện đời sống như tui mong đợi. 5. VC ngày càng tỏ ra là những tên bán nước làm tay sai cho Tàu Cộng thì tui không thể tiếp tay cho chúng nó nữa. Chưa kể nhiều lý do phụ khác nữa như dư luận viên và các tay chân của VC không thích tui góp ý gì nữa thì thôi. Nghĩ cho khoẻ. Có con rồi thì tui phải biết lo cho con, vui hưởng hạnh phúc bên con.

Hiểu thế nào cho đúng về Thực Tại Tư Tưởng?

Thực tại tư tưởng được nói đến ở đây có thể chỉ bao gồm một hệ tư tưởng nhất định hoặc một tác phẩm nào đó được tạo ra bởi hoạt động nhận thức đồng thời được bảo tồn bởi chính hoạt động đó. Thực tại này sẽ không bao gồm các sự vật vô tri giác. Theo ý nghĩa đó, thực tại tư tưởng luôn luôn được cấu thành bởi các yếu tố cơ bản sau đây:

1/ Mục đích:

Mục đích bao gồm các yêu cầu được đặt ra cho tác giả để tác giả phải thoả mãn được bằng phương pháp nào đó với phương tiện nào đó. Ví dụ: Israel bị khủng hoảng trầm trọng vào các thế kỷ cuối cùng Trước Công nguyên đã đặt ra yêu cầu tất yếu về sự cần thiết phải giải thích được nguyên nhân nào gây ra khủng hoảng trầm trọng như vậy. Chúa Jesus (Jesus Christ) xuất hiện vào đúng lúc đó đã thoả mãn được yêu cầu kia [1] . Bất cứ hệ tư tưởng nào hoặc tác phẩm nào cũng phải theo đuổi mục đích tương ứng. Mỗi hệ tư tưởng nhất định theo đuổi một mục đích nhất định. Ví dụ: Chúa giáo (Christianity) nhằm giáo hoá nhân loại để nhân loại biết sống theo Đạo đức làm cho Đạo đức được lấy làm mục đích cho Chúa giáo. Hoặc Chủ nghĩa Hegel muốn nhân loại tự nhận thức được chính mình trong ý niệm tuyệt đối hoặc tinh thần thế giới để sự tự ý thức được lấy làm mục đích cho Chủ nghĩa Hegel [2] ..v.... Mục đích được thực hiện thế nào theo khuynh hướng nào để trở thành hiện thực nào còn phụ thuộc vào phương pháp hoặc phương tiện.
Mối liên quan giữa mục đích với kết quả có thể được diễn đạt cụ thể thành một công thức toán học sau đây: Mục đích x Phương pháp = Kết quả. Công thức này được ký hiệu bằng A. Công thức A ngụ ý rằng kết quả thực tế được quyết định bởi cả mục đích lẫn phương pháp.
Từ đó suy ra các trường hợp cụ thể như sau:
Mục đích Tốt đẹp x Phương pháp Tốt đẹp = Kết quả Tốt đẹp. Như vậy tức là mục đích tốt đẹp được thực hiện bằng phương pháp tốt đẹp sẽ dẫn đến kết quả tốt đẹp. Công thức này được ký hiệu bằng A1.
Mục đích Tốt đẹp x Phương pháp Xấu xa = Kết quả Xấu xa. Như vậy tức là mục đích tốt đẹp được thực hiện bằng phương pháp xấu xa sẽ dẫn đến kết quả xấu xa. Công thức này được ký hiệu bằng A2.
Mục đích Xấu xa x Phương pháp Tốt đẹp = Kết quả Xấu xa. Như vậy tức là mục đích xấu xa được thực hiện bằng phương pháp tốt đẹp sẽ dẫn đến kết quả xấu xa. Công thức này được ký hiệu bằng A3.
Mục đích Xấu xa x Phương pháp Xấu xa = Kết quả Xấu xa. Như vậy tức là mục đích xấu xa được thực hiện bằng phương pháp xấu xa sẽ dẫn đến kết quả xấu xa. Công thức này được ký hiệu bằng A4.
Trong tất cả các trường hợp đó (A1, A2, A3, A4), chỉ có trường hợp đầu tiên (A1) mang lại kết quả tốt đẹp. Còn lại tất cả các trường hợp khác đều mang lại kết quả xấu xa: nếu nhằm mục đích xấu xa thì dùng phương pháp nào cũng đạt được mục đích đó. Đặc biệt, trường hợp thứ ba: mục đích xấu xa được thực hiện bằng phương pháp tốt đẹp, sẽ nguy hiểm nhất. Trường hợp này cho thấy những âm mưu xấu xa được thực hiện tinh vi bằng những hành động tốt đẹp chắc chắn sẽ gây ra hậu quả xấu xa, như mụ Phủ thuỷ đối xử với nàng Bạch Tuyết [3] . Sự thể đó cho thấy làm xấu dễ hơn làm tốt hoặc làm tốt khó hơn làm xấu.
Nói chung, hệ tư tưởng nào cũng theo đuổi mục đích tốt đẹp, hầu như không có hệ tư tưởng nào theo đuổi mục đích xấu xa. Ngay cả Chủ nghĩa Marx – Lenin (Marxism – Leninism) dù gây ra hậu quả xấu xa cũng chỉ nhằm mục đích tốt đẹp, cụ thể là giải thoát nhân loại khỏi tình trạng dã man [4] . Nhưng nếu hệ tư tưởng nào gây ra hậu quả xấu xa thì hệ tư tưởng đó cần phải bị phán xét nghiêm khắc về phương pháp. Vậy phương pháp phải đóng vai trò quan trọng hơn, đúng như Albert Einstein (1879 – 1955) đã nói đúng rằng: phương pháp quan trọng hơn phát minh.

2/ Phương pháp:


Phương pháp chính là cách thức để đạt được mục đích. Ví dụ: Chúa giáo kêu gọi lòng bác ái để khuyến khích tình liên đới giữa người với người làm cho lòng bác ái, bao gồm cả lời nói bác ái lẫn hành động bác ái, được lấy làm phương pháp cho Chúa giáo. Hoặc Chủ nghĩa Hegel lập luận bằng Biện chứng pháp Duy tâm làm cho biện chứng pháp này được dùng làm phương pháp cho Chủ nghĩa Hegel. Vân vân. Phương pháp phải tương thích với mục đích mới có thể đạt được kết quả tương thích với mục đích hoặc làm cho mục đích trở thành hiện thực, tức là tạo ra kết quả phù hợp với mục đích. Ví dụ: Chúa giáo kêu gọi lòng bác ái để khuyến khích người ta sống theo đạo đức đã tạo ra các xã hội dân chủ ở Tây phương, v. v.. Ngược lại, nếu phương pháp không tương thích với mục đích mà lại trái ngược với mục đích thì không thể đạt được kết quả tương thích với mục đích hoặc không thể làm cho mục đích trở thành hiện thực mà còn có thể tạo ra kết quả trái ngược với mục đích. Ví dụ: Chủ nghĩa Marx – Lenin chủ trương phương pháp (bạo lực cách mạng) trái ngược với mục đích (giải phóng nhân loại) đã tạo ra nền độc tài cộng sản vốn không thể giải phóng nhân loại mà chỉ có thể áp bức nhân loại với mức độ trầm trọng hơn, v. v..
Mối liên quan giữa phương pháp với kết quả có thể được diễn đạt cụ thể thành một công thức toán học sau đây: Phương pháp x Mục đích = Kết quả. Công thức này được ký hiệu bằng B. Công thức B cũng ngụ ý rằng kết quả thực tế được quyết định bởi cả phương pháp lẫn mục đích. Vậy công thức B chỉ khác công thức A về vị trí cho các yếu tố cấu thành nhưng vẫn giống công thức A về giá trị logic.
Từ đó suy ra các trường hợp cụ thể như sau:
Phương pháp Tốt đẹp x Mục đích Tốt đẹp = Kết quả Tốt đẹp. Công thức này cho thấy phương pháp tốt đẹp được dùng để thực hiện mục đích tốt đẹp sẽ đạt được kết quả tốt đẹp. Công thức này được ký hiệu bằng B1. Công thức B1 chỉ khác công thức A1 về vị trí cho các yếu tố cấu thành nhưng vẫn giống công thức A1 về giá trị logic.
Phương pháp Tốt đẹp x Mục đích Xấu xa = Kết quả Xấu xa. Công thức này cho thấy phương pháp tốt đẹp được dùng để thực hiện mục đích xấu xa sẽ đạt được kết quả xấu xa. Công thức này được ký hiệu bằng B2. Công thức B2 chỉ khác công thức A2 về vị trí cho các yếu tố cấu thành nhưng vẫn giống công thức A2 về giá trị logic.
Phương pháp Xấu xa x Mục đích Tốt đẹp = Kết quả Xấu xa. Công thức này cho thấy phương pháp xấu xa được dùng để thực hiện mục đích tốt đẹp sẽ đạt được kết quả xấu xa. Công thức này được ký hiệu bằng B3. Công thức B3 chỉ khác công thức A3 về vị trí cho các yếu tố cấu thành nhưng vẫn giống công thức A3 về giá trị logic.
Phương pháp Xấu xa x Mục đích Xấu xa = Kết quả Xấu xa. Công thức này cho thấy phương pháp xấu xa được dùng để thực hiện mục đích xấu xa sẽ đạt được kết quả xấu xa. Công thức này được ký hiệu bằng B4. Công thức B4 chỉ khác công thức A4 về vị trí cho các yếu tố cấu thành nhưng vẫn giống công thức A4 về giá trị logic.
Trong tất cả các trường hợp đó (B1, B2, B3, B4), chỉ có trường hợp đầu tiên (B1) mang lại kết quả tốt đẹp. Còn lại tất cả các trường hợp khác đều mang lại kết quả xấu xa. Đặc biệt, trường hợp thứ ba: phương pháp xấu xa được dùng để thực hiện mục đích tốt đẹp, sẽ nguy hiểm nhất. Trường hợp này cho thấy những hành động xấu xa được thực hiện trắng trợn nhân danh mục đích tốt đẹp hoặc mục đích tốt đẹp chỉ được dùng để biện minh cho những hành động xấu xa. Chủ nghĩa Marx – Lenin cũng như Nho giáo rơi vào trường hợp này [5] . Sự thể đó cũng cho thấy làm xấu dễ hơn làm tốt hoặc làm tốt khó hơn làm xấu.
Nói chung, hệ tư tưởng nào cũng theo đuổi mục đích tốt đẹp nhưng không phải hệ tư tưởng nào cũng thực hiện mục đích tốt đẹp bằng phương pháp tốt đẹp, hầu như không có hệ tư tưởng nào theo đuổi mục đích xấu xa nhưng có rất nhiều hệ tư tưởng khác nhau chủ trương phương pháp xấu xa cho mục đích tốt đẹp để gây ra hậu quả xấu xa. Muốn biết được hệ tư tưởng nào theo đuổi mục đích tốt đẹp bằng phương pháp tốt đẹp hoặc phương pháp xấu xa, cần phải biết hệ tư tưởng đó phát biểu thế nào, tức là phải biết được hệ tư tưởng đó về nội dung.

3/ Nội dung:

Nội dung là tất cả các yếu tố cấu thành một tác phẩm nhất định hoặc một hệ tư tưởng nhất định. Ví dụ: Chúa giáo được thể hiện qua Kinh thánh bao gồm tất cả các câu nói hoặc các lời dạy từ Chúa được ghi chép bởi các Thánh sử. Hoặc Chủ nghĩa Hegel bao gồm tất cả các ý tưởng triết học được xác lập bởi G. W. F. Hegel. Vân vân. Mỗi hệ tư tưởng nhất định phải mang một nội dung riêng xác định cho nó để phân biệt hệ tư tưởng này với hệ tư tưởng khác. Mỗi hệ tư tưởng nhất định phải lấy một khái niệm nào đó làm khái niệm trung tâm cho mình. Ví dụ: Chúa giáo lấy “Chúa” làm khái niệm trung tâm cho mình, theo đó Chúa tồn tại thường hằng, không bắt đầu mà cũng không kết thúc, Chúa tạo nên mọi thứ: cả hữu hình lẫn vô hình, cả nhân loại; nhân loại phải tin theo Chúa để mới có thể được sống mãi, sống đời đời; nhân loại tin theo Chúa phải yêu thương nhau như yêu thương chính mình (bác ái). Phật giáo lấy cái “Không” làm khái niệm trung tâm cho mình, theo đó mọi thứ đều thuộc về cái “Không”, tức là không tồn tại, đòi hỏi nhân loại phải thức tỉnh hoặc giác ngộ để mới có thể thoát khỏi đau khổ mà được trở về cái “Không” trong cõi Niết bàn [6] . Hoặc tôi có thể lấy một ví dụ khác cho dễ hiểu đối với nhiều độc giả tại Việt nam hiện nay: Chủ nghĩa Marx – Lenin lấy “lao động” làm khái niệm trung tâm cho mình: lao động tự ý thức về mình rồi dùng bạo lực để tự giải phóng mình. Một hệ tư tưởng quái đản như vậy đối lập hẳn với Chúa giáo vốn xác quyết chính xác rằng: kẻ nào sử dụng đao kiếm sẽ bị chết bởi đao kiếm, tức là dùng bạo lực sẽ bị chết bởi bạo lực. Về nội dung, không hệ tư tưởng nào giống hệ tư tưởng nào hoặc không tác phẩm nào giống tác phẩm nào. Ví dụ: Chúa giáo rất giống Phật giáo (Buddhism) về cả mục đích lẫn phương pháp nhưng Chúa giáo lại rất khác Phật giáo về nội dung để người ta không thể lẫn lộn Chúa giáo với Phật giáo. Vân vân.

4/ Hình thức:

Hình thức là mối liên hệ giữa các yếu tố cấu thành nội dung cho một tác phẩm nhất định hoặc một hệ tư tưởng nhất định. Ví dụ: mối liên hệ giữa các lời dạy khác nhau trong Kinh thánh hoặc mối liên hệ giữa các ý tưởng khác nhau trong Chủ nghĩa Hegel. Vân vân. Hình thức luôn luôn liên quan với logic để có thể hiểu được thế nào về một tác phẩm nhất định hoặc một hệ tư tưởng nào đó được phát biểu thế nào. Vậy cần phải hiểu được Logic học đồng thời phải biết vận dụng Logic học làm cho Toán học bắt đầu phát huy tác dụng từ đây để có thể phân biệt được đúng với sai, tốt với xấu, hay với dở, v. v.. Chẳng hạn: Kinh thánh tuân thủ chặt chẽ mọi quy tắc logic để trở thành bộ sách quan trọng nhất trên thế giới cho mọi thời đại, từ xưa đến nay cũng như từ nay về sau. Ngược lại, Chủ nghĩa Marx – Lenin vi phạm tất cả các quy tắc logic dẫn đến nhiều tai hoạ khủng khiếp cho nhân loại để bị đào thải nhanh chóng. Vân vân.

5/ Nguyên nhân:

Nguyên nhân là sự tác động qua lại giữa các yếu tố chủ quan (chủ thể nhận thức) với các yếu tố khách quan làm phát sinh một tác phẩm nhất định hoặc một hệ tư tưởng nhất định. Trong đó các yếu tố chủ quan đóng vai trò quyết định để có thể hiểu được tại sao một tác phẩm nào đó lại chỉ có thể thế này mà không thể thế kia. Khoa học hiện đại, không chỉ bao gồm các nguyên tắc tất định mà quan trọng hơn còn phải bao gồm cả các nguyên tắc bất định vốn được khai thông bởi cả Max Plank (1858 – 1947) lẫn Werner Heisenberg (1901 – 1976) [7] , sẽ đóng vai trò quan trọng đối với việc tìm hiểu nguyên nhân nào có thể tạo ra một tác phẩm nhất định hoặc một hệ tư tưởng nhất định. Theo quan điểm khoa học, vì tác giả tạo ra tác phẩm nên tác giả không thể đổ lỗi cho hoàn cảnh khách quan mà phải chịu trách nhiệm đối với hậu quả được tạo ra bởi tác phẩm. Ví dụ: Chủ nghĩa Marx có những quan niệm sai lạc về lịch sử bắt nguồn từ tâm hồn lãng mạn ở chính Karl Marx (1818 – 1883) dẫn đến sự đổ vỡ tang thương cho nhân loại vào thế kỷ XX khiến tác gia này phải chịu một phần trách nhiệm đối với hậu quả đó. Không thể đổ hết trách nhiệm cho những kẻ nào tham gia truyền bá Chủ nghĩa Marx mà phải quy một phần trách nhiệm cho chính K. Marx. Cần phải hiểu rằng chủ nghĩa lãng mạn không thể được áp dụng cho lĩnh vực chính trị mà chỉ có thể được áp dụng cho các lĩnh vực khác, như nghệ thuật hoặc tôn giáo, v. v.. Chủ nghĩa lãng mạn được áp dụng cho lĩnh vực chính trị sẽ gây ra tai hoạ, như Thi sỹ Tố Hữu (1920 – 2002) đã chứng thực rõ ràng hơn ai hết [8] .

6/ Kết quả:

Kết quả là hiệu quả thực tế được tạo ra bởi một tác phẩm nhất định hoặc một hệ tư tưởng nhất định sau khi được áp dụng vào đời sống xã hội. Hiện thực xã hội luôn luôn được tạo ra bởi nhiều hệ tư tưởng khác nhau nhưng hệ tư tưởng thống trị sẽ đóng vai trò quyết định đối với hiện thực đó. Nếu hệ tư tưởng thống trị mang tính chất độc đoán thì hiện thực xã hội sẽ tất yếu phải mang tính chất độc đoán biểu hiện cụ thể thành chế độ độc tài. Ngược lại, tự nó đã rõ ràng. Vì hiện thực xã hội luôn luôn được tạo ra bởi nhiều hệ tư tưởng khác nhau nên rất khó đánh giá chính xác về hiệu quả thực tế cho một tác phẩm nào đó hoặc một hệ tư tưởng nào đó. Tuy nhiên, như tôi đã nói ở trên, hiện thực xã hội luôn luôn được quyết định bởi hệ tư tưởng thống trị, tức là cái hệ tư tưởng nào được chấp nhận rộng rãi bởi đại đa số người trong xã hội. Ví dụ: Chủ nghĩa Marx – Lenin được chấp nhận rộng rãi bởi đa số dân chúng tại Việt nam làm cho họ tất yếu phải sống theo chế độ độc tài theo kiểu marxist – leninist. Muốn thoát khỏi chế độ đó, họ phải thay đổi nhận thức, tức là thay đổi hệ tư tưởng. Các trí thức phải làm thay đổi hệ tư tưởng rồi mới có thể làm thay đổi thể chế chính trị. Vậy theo quan điểm khoa học, người ta có thể đánh giá đúng đắn về hiệu quả thực tế cho một tác phẩm nhất định hoặc một hệ tư tưởng nhất định.
Hiệu quả thực tế được tạo ra bởi một tác phẩm nhất định hoặc một hệ tư tưởng nhất định sau khi được áp dụng vào đời sống xã hội luôn luôn phụ thuộc vào hệ tư tưởng đó về cả phương pháp lẫn mục đích.
Mối liên quan giữa kết quả với cả phương pháp lẫn mục đích có thể được diễn đạt cụ thể thành một công thức toán học sau đây: Kết quả = Phương pháp x Mục đích. Công thức này được ký hiệu bằng C. Công thức C cũng ngụ ý rằng kết quả thực tế được quyết định bởi cả phương pháp lẫn mục đích. Vậy công thức C chỉ khác cả công thức A lẫn công thức B về vị trí cho các yếu tố cấu thành nhưng vẫn giống cả công thức A lẫn công thức B về giá trị logic.
Từ đó suy ra các trường hợp cụ thể như sau:
Kết quả Tốt đẹp = Phương pháp Tốt đẹp x Mục đích Tốt đẹp. Công thức này ngụ ý rằng kết quả tốt đẹp chỉ có thể được tạo ra bởi cả phương pháp tốt đẹp lẫn mục đích tốt đẹp. Công thức này được ký hiệu bằng C1. Công thức C1 chỉ khác cả công thức A1 lẫn công thức B1 về vị trí cho các yếu tố cấu thành nhưng vẫn giống cả công thức A1 lẫn công thức B1 về giá trị logic.
Kết quả Xấu xa = Phương pháp Tốt đẹp x Mục đích Xấu xa. Công thức này ngụ ý rằng kết quả xấu xa cũng có thể được tạo ra bởi phương pháp tốt đẹp một khi phương pháp tốt đẹp được dùng để thực hiện mục đích xấu xa. Công thức này được ký hiệu bằng C2. Công thức C2 chỉ khác cả công thức A2 lẫn công thức B2 về vị trí cho các yếu tố cấu thành nhưng vẫn giống cả công thức A2 lẫn công thức B2 về giá trị logic.
Kết quả Xấu xa = Phương pháp Xấu xa x Mục đích Tốt đẹp. Công thức này ngụ ý rằng kết quả xấu xa chắc chắn sẽ được tạo ra bởi phương pháp xấu xa cho dù phương pháp xấu xa được dùng để thực hiện mục đích tốt đẹp. Công thức này được ký hiệu bằng C3. Công thức C3 chỉ khác cả công thức A3 lẫn công thức B3 về vị trí cho các yếu tố cấu thành nhưng vẫn giống cả công thức A3 lẫn công thức B3 về giá trị logic.
Kết quả Xấu xa = Phương pháp Xấu xa x Mục đích Xấu xa. Công thức này ngụ ý rằng kết quả xấu xa đương nhiên phải được tạo ra bởi cả phương pháp xấu xa lẫn mục đích xấu xa. Công thức này được ký hiệu bằng C4. Công thức C4 chỉ khác cả công thức A4 lẫn công thức B4 về vị trí cho các yếu tố cấu thành nhưng vẫn giống cả công thức A4 lẫn công thức B4 về giá trị logic.
Trong tất cả các trường hợp đó (C1, C2, C3, C4), chỉ có trường hợp đầu tiên (C1) xác định được chắc chắn kết quả tốt đẹp không thể được tạo ra bởi tác nhân xấu xa mà chỉ có thể được tạo ra bởi tác nhân tốt đẹp, bao gồm cả phương pháp tốt đẹp lẫn mục đích tốt đẹp. Còn lại tất cả các trường hợp khác đều xác định được chắc chắn kết quả xấu xa luôn luôn được tạo ra bởi ít nhất một tác nhân xấu xa. Sự thể đó càng chứng tỏ rõ ràng hơn rằng làm xấu dễ hơn làm tốt hoặc làm tốt khó hơn làm xấu.
Như vậy các công thức toán học trên đây dẫn đến ý niệm chân thực về Đạo đức. Trước khi làm bất cứ việc gì, hãy nhớ lại các công thức đó để tránh gây ra hậu quả xấu xa không chỉ làm hại người khác mà còn làm hại cả chính mình.
Mỗi hệ tư tưởng nhất định hoặc một tác phẩm nhất định luôn luôn phải làm kết quả cho những nguyên nhân đã được trình bày sơ lược ở mục 5 (Nguyên nhân). Nhưng mỗi hệ tư tưởng đó lại có thể làm nguyên nhân cho những kết quả được trình bày sơ lược ở đây (Mục 6: Kết quả). Người ta không thể đánh giá chính xác về kết quả cho một hệ tư tưởng nào đó mới ra đời nhưng nếu hiểu được hệ tư tưởng đó về logic nội tại thì người ta có thể tiên liệu được kết quả sẽ được tạo ra bởi chính cái hệ tư tưởng đó. Ví dụ: Giáo hội Công giáo tại Roma ngay từ cuối thế kỷ XIX đã tiên liệu được hậu quả tất yếu sẽ được tạo ra bởi Chủ nghĩa Marx. Tại sao vậy? Tại vì họ quen tư duy theo các quy tắc logic được ngụ ý sâu xa từ Mầu nhiệm Ba Ngôi vốn liên quan với logic học theo Aristotle nên họ đã nhận thấy rõ ràng cái mâu thuẫn đối kháng giữa mục đích với phương pháp trong Chủ nghĩa Marx.

7/ Cái tốt đẹp:

Trên đây ta đã nói nhiều về cái tốt đẹp vốn đối lập với cái xấu xa. Đến đây ta phải xác định thế nào là cái tốt đẹp hoặc thế nào là cái xấu xa? Cái tốt đẹp được xác định ở đây là cái mang lại lợi ích cho nhân loại bao gồm mọi cá nhân, không loại trừ bất cứ cá nhân nào. Theo ý nghĩa đó, bất cứ cái gì mang lại lợi ích cho nhân loại cũng được xác định là cái tốt đẹp dù đó là lời nói hay hành động. Cái tốt đẹp được xác định như vậy sẽ giúp người ta dễ dàng nhận thấy một hệ tư tưởng nào đó thuộc về loại tốt đẹp hay loại xấu xa. Tất nhiên, ranh giới giữa cái tốt đẹp với cái xấu xa sẽ không thể tránh khỏi gây ra tranh cãi triền miên về cả cái tốt đẹp lẫn cái xấu xa. Rằng một cái gì đó có thể tốt đẹp đối với người này nhưng lại có thể xấu xa đối với người khác. Ví dụ: Việc Chính phủ Mỹ kiểm soát chặt chẽ đối với người Nhật bản tại Mỹ vào thời kỳ xảy ra Chiến tranh Thế giới Lần thứ Hai, là hành động xấu xa đối với chính người Nhật bản nhưng lại là hành động tốt đẹp đối với người Mỹ, v. v.. Nếu cứ sa đà vào các cuộc tranh luận tư biện như thế thì sẽ chẳng đi đến đâu để xác định một hệ tư tưởng nào đó thuộc về loại tốt đẹp hay loại xấu xa. Vậy cần phải đặt ra giới hạn cụ thể cho từng sự kiện cụ thể mới có thể xác định được một hệ tư tưởng nào đó thuộc về loại tốt đẹp hay loại xấu xa. Đối với hành động kia, người ta phải nhìn nhận tổng thể để tránh sai lầm. Nhìn nhận tổng thể phải được lấy làm giới hạn cụ thể cho sự kiện này, tức là không được đặt để người Nhật bản vào khái niệm về quốc gia hoặc chủng tộc mà phải đặt để người Nhật bản vào khái niệm về nhân loại, để thấy rằng việc kiểm soát chặt chẽ đối với người Nhật bản vừa ngăn ngừa được người Nhật bản gây ra tội ác tại Mỹ vừa ngăn ngừa được người Mỹ thuộc về các chủng tộc khác tấn công người Nhật bản tại Mỹ. Như vậy tức là việc kiểm soát đó không hề xấu xa mà cực kỳ tốt đẹp. Hiện nay cũng đang xảy ra hiện tượng tương tự đối với người Tàu trên khắp thế giới. Bất cứ chính phủ nào khôn ngoan cũng sẽ phải hành động với người Tàu tại nước mình hiện nay như Chính phủ Mỹ đã hành động với người Nhật bản tại nước Mỹ trước kia. Không phải tất cả người Tàu đều xấu xa nhưng chính phủ độc tài tại nước Tàu có thể lôi cuốn đa số người Tàu, kể cả người Tàu ở hải ngoại, vào những cơn điên tập thể. Nguy cơ đó khiến chính phủ khôn ngoan ở các nước khác không thể không kiểm soát chặt chẽ đối với người Tàu tại nước mình. Chính sách đó không hề xấu xa mà cực kỳ tốt đẹp cho hoà bình thế giới, không chỉ có lợi cho các dân tộc khác mà còn có lợi cho chính người Tàu. Nói như vậy để thấy rằng cái tốt đẹp tự nó không chỉ khác biệt mà còn đối lập hẳn với cái xấu xa. Từ đó suy ra rằng một hệ tư tưởng xấu xa với ít nhất một yếu tố nào đó xấu xa: mục đích hoặc phương pháp, sẽ gây ra tổn thất hoặc mất mát cho cả nhân loại, nếu không gây ra tổn thất cho cả nhân loại thì cũng chỉ mang lại lợi ích nhất thời cho một số ít cá nhân nào đó đồng thời gây ra tổn thất lâu dài cho đa số cá nhân còn lại. Ngược lại, một hệ tư tưởng tốt đẹp phải bảo đảm mang lại lợi ích lâu dài cho cả nhân loại.

8/ Cái xấu xa:

Thế nào là cái xấu xa? Đó là cái gây ra tổn thất hoặc mất mát cho nhân loại. Vì cái tốt đẹp tự nó không chỉ khác biệt mà còn đối lập hẳn với cái xấu xa nên khi đã biết thế nào là cái tốt đẹp, người ta dễ dàng suy ra được cái xấu xa hoặc có thể hiểu được thế nào là cái xấu xa. Ngược lại, tự nó đã rõ ràng. Một hệ tư tưởng xấu xa với ít nhất một yếu tố nào đó: mục đích hoặc phương pháp, thuộc về loại xấu xa sẽ chỉ gây ra tổn thất cho cả nhân loại. Hệ tư tưởng xấu xa sẽ dẫn đến áp bức, bóc lột, xung đột, v. v., giữa người với người, không chỉ có chiến tranh giữa người với người mà còn phải có cả chiến tranh giữa người với thiên nhiên nữa. Ví dụ: Chủ nghĩa Marx – Lenin không chỉ gây ra xung đột giữa các giai cấp mà còn gây ra chiến tranh giữa các quốc gia, không chỉ huỷ diệt con người mà còn huỷ diệt cả thiên nhiên nữa, không chỉ gây ra sự ô nhiễm cho môi trường xã hội mà còn gây ra sự ô nhiễm cho cả môi trường thiên nhiên nữa, v. v.. Nền độc tài cộng sản ở bất cứ đâu vào bất cứ lúc nào cũng gây ra sự ô nhiễm cho môi trường xã hội thể hiện trần trụi qua nhiều tư tưởng bệnh hoạn làm kim chỉ nam cho cách hành xử đầy tính chất vô luân giữa người với người. Nền độc tài cộng sản ở bất cứ đâu vào bất cứ lúc nào cũng gây ra sự ô nhiễm cho môi trường thiên nhiên thể hiện trần trụi qua nhiều hành động phá hoại đối với môi trường sống dẫn đến nhiều bệnh tật hiểm nghèo. Hãy đến Việt nam mà xem Thảm hoạ Formosa. Đó chỉ là một thảm hoạ trong nhiều thảm hoạ. Đó chỉ là một thảm hoạ bên cạnh nhiều thảm hoạ. Ai cũng biết bệnh ung thư đang phát triển thế nào tại cả nước Tàu lẫn Việt nam. Nhưng thật kỳ lạ: chẳng mấy ai nhận thấy mối liên hệ tất yếu giữa Chủ nghĩa Marx – Lenin với các thảm hoạ đó!

9/ Bài học:

Bài học là những kiến thức kèm theo những kinh nghiệm được rút ra từ một hệ tư tưởng nào đó hoặc một tác phẩm nào đó sau khi được áp dụng vào đời sống xã hội. Bất cứ hệ tư tưởng nào hoặc tác phẩm nào dù gây ra kết quả nào cũng để lại những bài học cần thiết cho nhân loại. Mỗi hệ tư tưởng nhất định để lại ít nhất một bài học tương ứng. Não trạng tốt sẽ rút ra được bài học tốt. Ngược lại, não trạng xấu sẽ rút ra được bài học xấu. Bài học xấu sẽ bồi đắp cho các hệ tư tưởng xấu xa nhưng sẽ gây ra tổn thất cho những ai theo đuổi một hệ tư tưởng tốt đẹp mặc dù các hệ tư tưởng tốt đẹp chưa chắc đã bị làm xói mòn bởi các bài học xấu. Thậm chí trong nhiều trường hợp, các bài học xấu lại làm gia tăng sức sống cho các hệ tư tưởng tốt đẹp. Bài học tốt sẽ làm xói mòn cho các hệ tư tưởng xấu xa nhưng lại bồi đắp cho các hệ tư tưởng tốt đẹp. Bài học quý giá nhất được rút ra từ việc thể nghiệm thực tại tư tưởng (các hệ tư tưởng hoặc các lý thuyết khoa học, v. v.) chính là Định lý Bất toàn (Incompleteness Theorem) đã được chứng minh chính xác vào năm 1931 bởi Kurt Gödel (1906 – 1978) vốn phát biểu rằng: 1/ Nếu một lý thuyết nào dựa trên một hệ tiên đề phi mâu thuẫn thì trong lý thuyết đó luôn luôn tồn tại các mệnh đề không quyết định được: không thể chứng minh được mà cũng không thể bác bỏ được; hoặc 2/ Không tồn tại bất cứ một quy trình suy diễn nào cho phép chứng minh tính chất phi mâu thuẫn cho một hệ tiên đề. Về mặt lý thuyết, định lý đó đã chứng minh đúng đắn rằng không một hệ tư tưởng nào cũng như không một lý thuyết nào có thể đạt được sự hoàn hảo, tức là lý thuyết nào cũng bất toàn hoặc không đầy đủ, làm cho các hệ tư tưởng xấu xa sẽ bị đào thải hoặc bị phủ định bởi các hệ tư tưởng tốt đẹp đồng thời làm cho các hệ tư tưởng tốt đẹp được mở rộng liên tục. Về mặt thực tế, định lý đó gợi ý cho mỗi người có thể hiểu rằng: khi theo đuổi mục đích tốt đẹp, cần phải sử dụng các phương pháp tốt đẹp để mới có thể đạt được kết quả tốt đẹp. Để tránh sai lầm từ tư tưởng đến hành động, cần phải nắm vững các quy tắc logic đồng thời cần phải nhận biết các thủ thuật nguỵ biện. Đối với phong trào dân chủ, bài học quý giá nhất được rút ra từ việc đó là khi theo đuổi mục đích tốt đẹp: dân chủ hoá đất nước bằng phương pháp ôn hoà, bất bạo động, cần phải đối xử tốt với nhau rồi mới có thể chung tay đòi hỏi dân chủ tự do cho tất cả mọi người. Đối xử tốt với nhau không phải là xuê xoa che chắn cho nhau để nuôi dưỡng mầm mống gây ra xích mích xung đột mà phải sẵn sàng tranh luận với nhau để đi đến sự đồng thuận chính trị hoặc hoá giải mọi mâu thuẫn đối kháng, tức là phải trưởng thành về nhận thức. Đối với nhà nước độc tài, bài học quý giá nhất được rút ra từ việc thể nghiệm thực tại tư tưởng (các hệ tư tưởng, v. v.) là phải hiểu rằng các hệ tư tưởng tốt đẹp sẽ vượt qua các hệ tư tưởng xấu xa để chủ động quyết định số phận cho mình, tức là phải chủ động thay đổi thể chế chính trị từ chế độ độc tài sang chế độ dân chủ thông qua giải pháp đối thoại để tránh gây ra đổ vỡ tang thương, nếu không tự mở ra lối thoát cho mình bằng đối thoại thì sẽ không tránh khỏi bị diệt vong [9] .
Kết luận: các yếu tố cơ bản được trình bày sơ lược trên đây mới chỉ thể hiện một quan niệm thô sơ về thực tại tư tưởng. Quan niệm này cần phải được phát triển thêm. Tôi sẵn sàng tiếp nhận mọi ý kiến phản biện.
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Huy Toàn
Ghi chú:
Tôi viết tiểu luận này để hưởng ứng chủ trương “đối thoại” có thể sẽ được đưa ra bởi Đảng Cộng sản Việt nam. Tôi không biết Đảng Cộng sản Việt nam sẽ thành tâm đối thoại với những người bất đồng chính kiến hay chỉ giả vờ đối thoại với họ nhưng tôi cứ hưởng ứng nhiệt liệt rồi tính sau. Tôi luôn luôn chủ trương Đối thoại – Tương kính – Khoan dung.
Vì Đảng Cộng sản Việt nam đã cấu thành một bộ phận cho Dân tộc Việt nam nên tôi không theo đuổi chính sách loại trừ đối với Đảng Cộng sản Việt nam mà chỉ nỗ lực tối đa nhằm thúc đẩy Đảng Cộng sản Việt nam lột xác về cả tư tưởng lẫn tổ chức thông qua diễn tiến hoà bình thành một lực lượng tốt đẹp. Hãy xem tôi đã nói gì ở đây (https://www.danluan.org/tu-khoa/ha-huy-toan).
Nếu Đảng Cộng sản Việt nam sẽ thành tâm đối thoại với những người bất đồng chính kiến thì bằng tư cách cá nhân, tôi kêu gọi mọi người Việt nam ở mọi nơi tham gia xây dựng cơ sở khách quan cho việc đối thoại hoặc thậm chí cả tranh luận. Đối thoại hoặc tranh luận mà không có cơ sở khách quan sẽ không đi đến đâu!
****
[1] Xem thông tin về Chúa Jesus tại Bách khoa Toàn thư Mở bằng Việt ngữ (https://vi.wikipedia.org/wiki/Giê-su) hoặc Hebrew (https://he.wikipedia.org/wiki/wiki/ישו) hoặc Hy văn (https://el.wikipedia.org/wiki/Ιησούς_Χριστός) hoặc Latin (https://la.wikipedia.org/wiki/Iesus) hoặc Anh văn (https://en.wikipedia.org/wiki/Jesus) hoặc Pháp ngữ (https://fr.wikipedia.org/wiki/Jésus-Christ) hoặc Trung văn (https://zh.wikipedia.org/wiki/耶稣), v. v.. Truy cập ngày 04 Tháng Sáu 2017.
[2] Xem thông tin về Georg Wilhelm Friedrich Hegel tại Bách khoa Toàn thư Mở bằng Việt ngữ (https://vi.wikipedia.org/wiki/Georg_Wilhelm_Friedrich_Hegel) hoặc Đức ngữ (https://de.wikipedia.org/wiki/Georg_Wilhelm_Friedrich_Hegel) hoặc Anh văn (https://en.wikipedia.org/wiki/Georg_Wilhelm_Friedrich_Hegel) hoặc Pháp ngữ (https://fr.wikipedia.org/wiki/Georg_Wilhelm_Friedrich_Hegel), v. v..
[3] Xem thông tin về Truyện Cổ Grimm, trong đó có chuyện kể về Nàng Bạch Tuyết và Bảy Chú Lùn, tại Bách khoa Toàn thư Mở bằng Việt ngữ (https://vi.wikipedia.org/wiki/Truyện_cổ_Grimm) hoặc Đức ngữ (https://de.wikipedia.org/wiki/Grimms_Märchen) hoặc Anh văn (https://en.wikipedia.org/wiki/Grimms%27_Fairy_Tales) hoặc Pháp ngữ (https://fr.wikipedia.org/wiki/Contes_de_l%27enfance_et_du_foyer), v. v..
[4] Xem thông tin về Chủ nghĩa Marx – Lenin tại Bách khoa Toàn thư Mở bằng Việt ngữ (https://vi.wikipedia.org/wiki/Chủ_nghĩa_Marx-Lenin) hoặc Đức ngữ (https://de.wikipedia.org/wiki/Marxismus-Leninismus) hoặc Nga văn (https://ru.wikipedia.org/wiki/Марксизм-ленинизм) hoặc Anh văn (https://en.wikipedia.org/wiki/Marxism–Leninism) hoặc Pháp ngữ (https://fr.wikipedia.org/wiki/Marxisme-léninisme), v. v.. Nếu muốn hiểu rõ hơn thì nên xem tiểu luận triết học về Chủ nghĩa Marx – Lenin được viết bởi Hà Huy Toàn: Chủ nghĩa Marx. Dân Luận, ngày 15 Tháng Tám 2015 (https://www.danluan.org/tin-tuc/20150814/ha-huy-toan-chu-nghia-marx).
[5] Xem Hà Huy Toàn: Nho giáo - Một hệ tư tưởng nguy hiểm. Dân Luận, cả phần 1 được đăng tải vào ngày 10 Tháng Tám 2015 (https://www.danluan.org/tin-tuc/20150810/ha-huy-toan-nho-giao-mot-he-tu-tuong-nguy-hiem-1) lẫn phần 2 được đăng tải vào ngày 12 Tháng Tám 2015 (https://www.danluan.org/tin-tuc/20150810/ha-huy-toan-nho-giao-mot-he-tu-tuong-nguy-hiem-2).
[6] Xem thông tin về Phật giáo tại Bách khoa Toàn thư Mở bằng Việt ngữ (https://vi.wikipedia.org/wiki/Phật_giáo) hoặc Anh văn (https://en.wikipedia.org/wiki/Buddhism), v. v..
[7] Xem thông tin về Nguyên lý Bất định tại Bách khoa Toàn thư Mở bằng Việt ngữ (https://vi.wikipedia.org/wiki/Nguyên_lý_bất_định) hoặc Đức ngữ (https://de.wikipedia.org/wiki/Heisenbergsche_Unschärferelation) hoặc Anh văn (https://en.wikipedia.org/wiki/Uncertainty_principle) hoặc Pháp ngữ (https://fr.wikipedia.org/wiki/Principe_d%27incertitude), v. v..
[8] Xem thông tin về Tố Hữu tại Bách khoa Toàn thư Mở bằng Việt ngữ (https://vi.wikipedia.org/wiki/Tố_Hữu).
[9] Ông Võ Văn Thưởng đang làm lãnh đạo cao nhất cho Ban Tuyên giáo trong Đảng Cộng sản Việt nam (nếu chế độ cộng sản tại Việt nam có sự tách rời giữa Giáo hội với Nhà nước thì ông này đích thị đang làm Giáo chủ cho Đảng Cộng sản Việt nam!) đã gây ra sự bất ngờ sửng sốt cho nhiều người khi tiết lộ Đảng Cộng sản Việt nam xem xét “tổ chức đối thoại”. Xem BBC: Đảng Cộng sản Việt nam xem xét “tổ chức đối thoại”. Phiên bản Việt ngữ, ngày 19 Tháng Năm 2017 (http://www.bbc.com/vietnamese/vietnam-39969208).

Quốc tế đều muốn giúp VN nhưng họ không thể giúp VN đi theo mô hình mà họ không hiểu

Quốc tế đều muốn giúp VN nhưng họ không thể giúp VN đi theo mô hình mà họ không hiểu đó là mô hình "Nền Kinh tế Thị trường Định hướng XHCN"

Mới đây đây nhiều tờ báo lớn tại VN đồng loạt cho đăng bài của một ông Trương Minh Tuấn - Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông cho đăng đồng loạt bài với lời tựa: “Sức thuyết phục của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, hay “Kinh tế thị trường định hướng XHCN tạo ra phát triển ngoạn mục cho đất nước”. Đó là hành vi “đầu cơ tin tức”, hay “tẩy não tin tức”, hay “news brainwashing”. Đó là bởi vì ông này là một quan chức kiểm duyệt truyền thông, là Bộ trưởng Bộ Thông tin & Truyền thông kiêm Phó trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam...
Lãnh đạo Việt Nam đi đâu cũng rêu rao quốc tế giúp đỡ hội nhập vào nền kinh tế thị trường, và mong quốc tế nâng đỡ giúp đỡ và công nhận Việt Nam là thị trường và hội nhập, nhưng khốn nỗi ở Việt Nam thì còn sót lại một vài kẻ không theo kịp thị trường. Vì sợ đào thải nên họ bám vào lý thuyết của Chủ nghĩa Marx-Lenin, và bám vào lý thuyết mà họ phát minh ra mà bắt toàn dân phải đi theo và tiến lên dù rằng cái học thuyết đó họ cũng chả biết hình đáng nó ra sao, đó là học thuyết "kinh tế thị trường định hướng XHCN".
Vì mải mê đi theo mô hình kinh tế lấy yếu tố của sản xuất thuộc sở hữu của "tất cả mọi người" (everyone), là huy động vốn của toàn dân. Đó là họ đó là họ dựa vào nền kinh tế chỉ huy cao độ, là nơi mà chính quyền trung ương tập trung quyền hành, làm cho tất cả các quyết định kinh tế của Bộ Chính trị. Hầu hết trong điều hành kinh tế, chính phủ sở hữu độc quyền kinh doanh trong các ngành công nghiệp được coi là đốt xương sống cần thiết cho các mục tiêu của nền kinh tế. Họ phát minh ra sáng kiến các tập đoàn, tổng công ty, doanh nghiệp nhà nước do Chính phủ sở hữu và điều hành cũng như bổ nhiệm nhân sự lãnh đạo. Họ tập trung hết các hệ thống tài chính tín dụng vào tay nhà nước quản lý, bằng phương tiện của một ngân hàng nhân dân (Việt Nam gọi là ngân hàng Nhà nước) với vốn nhà nước quản lý và độc quyền nhiều lĩnh vực bao trùm nền kinh tế của đất nước này.
Kết cục là đẩy nền kinh tế này rơi vào tình trạng là phải đổi tiền nhiều lần trong quá khứ vì tạo ra nạn lạm phát phi mã. Ngày nay vẫn thế, là họ đẻ ra cái mô hình kinh tế quái thai “nền kinh tế thị trường định hướng XHCN”, lập ra các quả đấm thép làm đầu máy kéo nền kinh tế đi lên, kết cục nhiều quả đấm thép đang chất lên đó một gánh nợ khổng lồ cho đất nước này là không biết bao giờ phải trả hết được nợ, và hậu quả đẩy nền kinh tế rơi vào nợ nần là không thể kiếm ra vốn lớn để đầu tư cho kinh tế nữa mà họ chỉ biết đi vay vốn tài trợ ODA mất chủ quyền và quan chức Việt Nam đi đâu ra nước ngoài cũng xin vay tiền, đó là mới đây ông Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nhờ Nhật giúp đỡ cho Việt Nam vay 1003 tỷ JPY, tức là nếu cho vay chẵn 1 tỷ $ thì vay 109,5 tỷ JPY để trả nợ cho nó đẹp đúng con số 1 tỷ $.

Mà vay cái gì hay vay ở đâu thì kết cục vẫn do người dân Việt Nam phải trả
Hãy nhớ rằng, điểm nhấn quan trọng là nếu đi theo “nền kinh tế thị trường định hướng XHCN” thì không thể có nghiệp vụ là các hoạt động của các thị trường vốn (thị trường chứng khoán và lĩnh vực tài chính). Vì lĩnh vực này chỉ có nền kinh tế tư bản họ mới có nó và chuyên sâu về nó.
Đó là họ dễ dàng phát hành cổ phiếu gọi là đầu ra công chúng (IPO), hay đầu tư cổ phiếu đã có sẵn trên thị trường chứng khoán, hay trái phiếu, tiền tệ, và hàng hóa thông qua các quy luật cung cầu. Đó là nó có thể cho phép các công ty để huy động nguồn vốn lớn để mở rộng kinh doanh, hoặc phân phối lợi nhuận cho các chủ sở hữu (kể cả chủ sở hữu tư nhân), nhà đầu tư, hoặc các cổ đông góp vốn,...
Trong khi những người đi theo Chủ nghĩa xã hội họ cũng học tắt làm nghiệp vụ đầu tư này, và hầu như đều thất bại và rất kém nghiệp vụ là mâu thuẫn quá lớn. Chính vì thế nền kinh tế Việt Nam chỉ trông cậy vào "huy động vốn toàn dân", nhưng mà người dân thì hết tin tưởng thì họ cầu viện vốn vay bên ngoài mờ ảo và mờ ám, là đi đâu cũng nhờ thị trường và quốc tế trợ giúp vốn tài chính. Thậm chí mới đây Tổng thống Mỹ là Donald Trump cũng đề cập về “thị trường”, là Việt Nam cần rõ ràng về nó thì Mỹ hay các nước khác mới có thể trợ giúp Việt Nam hội nhập vào thị trường là tự phát triển thị trường vốn cho mình mà đi lên thay vì chỉ nghĩ đến chuyện đi vay và trợ giúp của quốc tế. Mà vay cái gì hay vay ở đâu thì kết cục vẫn do người dân Việt Nam phải trả thay qua thuế phí, hay lạm phát, như làm mất giá tiền tệ.
***
TRỞ LẠI HỒ SƠ TRẦN HOÀNG NGÂN
Trong bài báo: “Khi Thủ tướng đi tiếp thị”, đó là bởi vì tôi thừa biết Nhật họ đang nghĩ gì, lý do cái ngân hàng đầu tư Morgan Stanley (NYSE:MS), có lẽ trong sự nghiệp công tác thì tôi ở Tokyo nhiều hơn ở New York:
Tôi thì thấy thương hại cho ông này, vì là một dư luận viên cao cấp, là đại biểu quốc hội tung hứng để tiến thân nên từ một nhà giáo là giảng viên dạy học cho sinh viên học tài chính, là Giảng viên, Phó Giáo sư, Trưởng khoa Ngân hàng, Bí thư Chi bộ Khoa Ngân hàng, rồi giữ chức vụ Phó Hiệu trưởng, Phó Bí thư Đảng ủy Trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh (UEH), được tiến cử vào Thành viên Hội đồng Tư vấn Chính sách Tài chính Tiền tệ Quốc gia, cùng lúc kiêm nhiệm vai trò hiệu trưởng trường Đại học Tài chính Marketing, và cũng chỉ là dưới quyền của bà thứ trưởng Bộ Tài chính Vũ Thị Mai mà tôi chả xem ra gì cả. Vì họ từng gửi văn bản hồi sơ cho tôi thì tôi cũng chả cần phải hồi âm họ làm gì, vì những kẻ này chỉ là bù nhìn và hạng cò con thôi, nay ông này đương chức Giám đốc Học viện Cán bộ Thành phố Hồ Chí Minh, vì ngay cả chức danh Bộ trưởng Bộ Tài chính của Việt Nam có gửi thư đến tổ hợp ngân hàng đầu tư Morgan Stanley (NYSE: MS) thì cả chuyên viên họ cũng không bận tâm đọc nó và hồi âm, vì viết linh tinh sai ngữ pháp tiếng Anh.
Trước hết về hồ sơ kinh tế thì tính từ giữa năm 2015 cho tới thời điểm này, tức là tháng 6/2017 thì giới đầu tư Nhật và Mỹ đã gửi vốn đầu tư ra Châu Phi, và Nam Mỹ, cùng với các nước thị trường mới nổi với con số 270 tỷ $ tiền đầu tư trực tiếp. trong đó Phi Châu nhận đầu tư của Nhật 70 tỷ $. Ấn Độ, Bangladesh, Indonesia, Miễn Điện nhận đầu tư của Mỹ-Nhật 160 tỷ $, còn lại 40 tỷ $ thì hai đại cường này châm vốn một số nước Đông Nam Á như Thailand, Malaysia, trong đó có Việt Nam, nhưng Việt Nam nhận mức đầu tư tệ hại nhất và chủ yếu là nhận mức đầu tư về tài chính ngân hàng hoặc bất động sản, hay nhận mức đầu tư liên quan đến vốn vay ODA,…
Lý do Mỹ và Nhật không mặn mà đầu tư vào Việt Nam, đó là hầu hết các cơ sở đầu tư chiến lược như cảng biển, các khu công nghiệp, hay diện tích đất đai mặt biển,… nó đã do các doanh nghiệp kém phẩm chất của TQ trấn giữ và đầu tư hết vào đó rồi, từ các dự án than thép, cho đến nhiều thứ khác mà TQ đầu tư đã lấy hết tài nguyên yết hầu của nền kinh tế VN rồi, và đất nước này đang quá chật chội để mà giới đầu tư Mỹ, Nhật, Âu châu châm vốn vào. Đó là họ chạy qua nước khác, được ưu đãi các hải cảng, các khu công nghiệp gần đường vận chuyển hàng hóa toàn cầu để họ đầu tư và chuyển giao công nghệ.
Nhật Mỹ, họ còn chiếu cố VN chủ yếu là chính trị thôi, đó là Nhật đang mâu thuẫn nặng với TQ và tranh giành ảnh hưởng của TQ, Mỹ đang gánh vác trọng trách bảo vệ Nhật, Hàn Quốc, Đài Loan, kể cả răn đe Bắc Triều Tiên nên họ cần phải nhả ra vài món tiền đầu tư để lôi kéo Việt Nam vào quỹ đạo của Mỹ, Nhật, chứ về đầu tư kinh tế thì hai nước Mỹ, Nhật khi đầu tư vào Việt Nam là không có lời, là kém xa chi phí rẻ của Thailand, Ấn Độ, Indonesia, Miến Điện.
Đó là chuyện rất đau lòng cho Việt Nam, vì hiện nay Việt Nam đã đầu tư hết công suất tài nguyên, nhân lực, cơ sở hạ tầng của họ rồi.
(*) Việt Nam bây giờ chỉ còn lựa chọn, hoặc ngả về phía Mỹ, Âu châu, Nhật để được nâng đỡ ngoại thương và đầu tư hay được xóa nợ, hoặc VN ngả về TQ. Đơn giản thế thôi. Tất nhiên không phải vì thế mà ghét TQ, đó là Việt Nam cần cân bằng lại chiến lược ngoại thương với TQ, và cả chính trị. Thực tế người TQ không phải ai cũng xấu cả, những người tinh vi nhất họ tách rời Bắc Kinh, họ ở Thượng Hải, Thẩm Quyến, đó là họ không dính đến chính trị, Việt Nam có thể kể giao với họ, phần còn lại bị ràng buộc về chính trị của Bắc Kinh là số đông người dân TQ bị nhồi sọ tuyên truyền chống phá VN chứ thực tế những người tử tế TQ họ không có ý đồ nào bành trướng cả.
Tôi thì giật mình là chế độ Việt Nam toàn kết giao ngoại thương và chính trị với các tỉnh gian ý của con buôn và là tay chân nằm vùng của Bắc Kinh.
Về hồ sơ ông Trần Hoàng Ngân này có lẽ tôi sẽ gây khó chịu cho nhiều người nhà ở Việt Nam, vì có thể là học trò của ông này, cho nên hãy thông cảm và đừng chỉ trích tôi làm gì, vì ông này có biết gì đâu về Nhật, Mỹ mà nói nhảm. Trước đây thì bị giới đầu tư tư quốc tế mỉa mai và nhắc nhở nên bị cho về chức khác là hãy câm cái miệng lại, vì phát biểu linh tinh về thị trường tài chính. Khi báo chí truyền thông đăng tải thì ghi Phó giáo sư, Tiến sĩ, Giảng viên Tài chính, kiêm Đại biểu Quốc hội,.... nghe cái tên nó rất vô duyên.
Phương Thơ

Tập Cận Bình: Ảo tưởng về sự vĩ đại

Chính trị bản chất luôn là những gì rực rỡ và lộng lẫy, nhưng hiếm có sự kiện nghi thức thuần túy nào có thể so sánh được với việc triệu tập Quốc hội Trung Quốc, hay còn gọi là Đại hội đại biểu Nhân dân toàn quốc, kết thúc vào tuần (cuối tháng 3) này. Dù có bất kỳ chuyện gì xảy ra ở Trung Quốc hay trên thế giới thì Đại hội cũng luôn luôn đi theo một lộ trình nhàm chán – trình ra một bản “báo cáo công việc” tóm tắt các kế hoạch đã biết; những đề xuất có vấn đề sẽ được đem ra thảo luận để khiến Đại hội trông giống như một cơ quan thảo luận đang thực sự được triệu tập; những buổi họp của các đại biểu không do dân bầu và phần lớn không có quyền lực; và cuối cùng là một cuộc họp báo với độ chân thực giống như các màn đấu võ trong phim kiếm hiệp.
Thế nhưng màn trình diễn này chưa bao giờ không có ý nghĩa. Năm nay mục đích của nó là làm nổi bật sự trỗi dậy không thể ngăn cản của Tập Cận Bình như là một trong các nhà lãnh đạo vĩ đại nhất của Trung Quốc trong nhiều thập niên. Ông sắp hoàn thành nhiệm kỳ năm năm đầu tiên và gần như chắc chắn sẽ được bổ nhiệm lại nhiệm kỳ thứ hai tại Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ 19 vào mùa thu năm nay. Phiên họp Quốc hội tuần này là khởi đầu cho sự kiện ấy, và sự tẻ nhạt của nó lại đặc biệt quan trọng, bởi điều đó thể hiện Tập đã trở thành một nhà lãnh đạo quyền lực và mạnh mẽ đến mức nào, vừa kiểm soát chính trị trong nước một cách trơn tru, vừa đối mặt với những kẻ thách thức như Donald Trump ở nước ngoài.
Nhưng các màn trình diễn này cũng có nhiều cách diễn giải. Và sau phiên họp Quốc hội gần đây đã xuất hiện một cách hiểu mới: Tập có thể là một trong những nhà lãnh đạo Trung Quốc mạnh nhất trên giấy tờ – giữ hàng loạt danh hiệu và có khả năng dập tắt mọi bất đồng chính kiến gần như bất cứ lúc nào ông muốn – nhưng ít ấn tượng hơn nhiều trong việc đạt được cải cách.

hình ảnh của Tập như một nhà lãnh đạo mạnh mẽ và có năng lực đang trở nên ngày càng khó tin
Chẳng hạn, Tập thường được so sánh với Đặng Tiểu Bình, người điều hành Trung Quốc trong khoảng 20 năm, từ cuối những năm 1970 đến giữa những năm 1990. Đặng có tiếng là nhà lãnh đạo nổi bật trong cuối thế kỷ 20 không chỉ nhờ khả năng giữ vững quyền kiểm soát của Đảng Cộng sản – hãy nghĩ tới thảm sát Thiên An Môn – mà còn bởi việc thử nghiệm các chính sách kinh tế mới đầy táo bạo. Trong thời kỳ Đặng cầm quyền Trung Quốc đã phát động những cải cách kinh tế thực chất nhất, như giải phóng nông dân khỏi các hợp tác xã nhà nước kém hiệu quả, đóng cửa các nhà máy lạc hậu, và đưa đất nước lên đường gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới.
Khi lên nắm quyền, Tập cũng đưa ra một loạt các cải cách rộng lớn tương tự và cam kết sẽ “cải hoàn” đất nước. Nhưng các biện pháp của ông chỉ giới hạn trong cuốn cẩm nang của những người theo chủ nghĩa truyền thống chuyên chế dân tộc chủ nghĩa cổ điển. Ông theo đuổi một chính sách đối ngoại bành trướng, chiếm đóng và quân sự hóa các vùng rộng lớn trên Biển Đông, trong khi tiêu diệt tham nhũng và thúc đẩy các giá trị truyền thống ở trong nước.
Một phần quan trọng trong chính sách này là tăng cường quyền kiểm soát của Tập. Tại Hội nghị Trung ương Đảng Cộng sản mùa thu năm ngoái, Tập được nâng lên thành nhà lãnh đạo “nòng cốt,” đặt ông vào một vị trí cao hơn các nhà lãnh đạo khác trong thời gian gần đây – với ý tưởng là Trung Quốc cần một nhà lãnh đạo cứng rắn hơn để vượt qua những thời khắc khó khăn.
Trong phiên họp Quốc hội gần đây, điều này được phản ánh trong cách Tập và hình ảnh của ông thống trị các bản tin trong nước về sự kiện, dù đây thường là nơi để Thủ tướng Lý Khắc Cường tỏa sáng. Năm nay, Lý có vẻ chỉ là một sự bổ sung, và buổi họp báo của ông hôm thứ Tư (15 tháng 3) – thường là đỉnh điểm của kỳ họp Quốc hội – lại tẻ nhạt tới mức cuộc họp báo gần như không còn cần thiết.
Việc gạt sang một bên Thủ tướng Trung Quốc, theo danh nghĩa là người đứng thứ hai trong hệ thống thứ bậc, đi cùng với một diễn biến khác cũng dần trở nên rõ ràng hơn: Tập có lẽ chưa chỉ định người kế nhiệm. Do nền chính trị Trung Quốc không được thể chế hóa thực sự rõ ràng nên khó mà nói điều này là quan trọng vào thời điểm này trong năm, nhưng có thể nói hầu hết các nhà quan sát đều mong đợi một người kế nhiệm đã phải xuất hiện vào lúc này. Việc thiếu đi một người kế nhiệm có nghĩa là Đảng Cộng sản Trung Quốc (có khả năng) đang chia rẽ, hoặc là Tập (rất có thể) có ý định gần đến Đại hội Đảng Cộng sản sẽ cất nhắc một người trung thành để có thể đứng sau nhiếp chính khi ông nghỉ hưu trong năm năm tới.
Như vậy, sau năm năm cầm quyền, thành tựu chính của Tập có lẽ là củng cố quyền lực cá nhân trong khi vẫn đáp ứng mong muốn thay đổi xã hội của người dân thông qua các cuộc đàn áp và thúc đẩy chủ nghĩa truyền thống. Vấn đề là các nỗ lực đã được thực hiện trong khi phương hại đến các cải cách thực sự.
Ví dụ, chính phủ đã liên tục nói về nhu cầu cải thiện hệ thống pháp luật của Trung Quốc. Nhưng hoạt động lập pháp chính ở Quốc hội là thiết lập một “bộ dân luật” theo kiểu châu Âu. Về lý thuyết, điều này có thể bảo vệ các quyền tự do cá nhân và giúp hệ thống pháp luật hoạt động hiệu quả hơn. Nhưng vấn đề không phải là thiếu luật, mà chính là sự chính trị hóa hệ thống. Mọi quyết định nhạy cảm vẫn do các cơ quan Đảng đưa ra, chứ không phải là các thẩm phán độc lập. Vì vậy, bộ luật này rất có thể sẽ là một công cụ cho phép Đảng Cộng sản có thêm sự bảo vệ pháp lý cho các phán quyết của mình, chứ không phải là đưa mình vào pháp quyền.
Cấp bách không kém là nhu cầu có những cải cách kinh tế quan trọng. Các doanh nghiệp nhà nước hút các nguồn vốn giá trị từ hệ thống ngân hàng, cũng do nhà nước điều hành, từ đó gây thiệt hại cho các doanh nghiệp tư nhân năng động hơn. Quá trình đô thị hóa đã bắt đầu, nhưng là dựa trên việc chiếm đất với giá thấp hơn giá thị trường. Nông dân vẫn không sở hữu đất đai và cũng không có quyền chuyển nhượng đất thực tế. Người dân nông thôn vẫn khó lòng đạt được đầy đủ quyền lợi ở các khu vực thành thị. Và tất nhiên, kiểm duyệt đã trở nên quá đáng đến nỗi ngay cả những phê phán mang tính xây dựng cũng ngày càng bị đẩy ra ngoài lề, làm cho nhiều người có tư tưởng ôn hòa mất hy vọng rằng tiếng nói của họ có thể được lắng nghe.
Thất bại hoàn toàn trong việc cải cách nền kinh tế đồng nghĩa với việc lập luận của chính phủ về tăng trưởng thấp – rằng nền kinh tế Trung Quốc chỉ chậm lại tạm thời trong khi nó đang được tái cơ cấu – đang ngày càng trở nên vô lý. Thay vào đó, thực tế có thể sẽ là việc đất nước không có khả năng cải cách sẽ khiến nó lún sâu thêm vào cái bẫy thu nhập trung bình đáng sợ – trở thành một đất nước không thể bước tiếp để trở thành một xã hội thịnh vượng thực sự.
Liệu có vấn đề nào trong số này quan trọng với Tập hay không? Sự ủng hộ mà người dân dành cho ông có thể giảm đi nếu như nền kinh tế vẫn tiếp tục trì trệ, trong khi giá cả bất động sản vẫn tiếp tục nằm ngoài tầm với của những người dân thường. Nhưng các nhà lãnh đạo như Putin vẫn được lòng dân bất chấp tình hình kinh tế tồi tệ hơn nhiều nhờ vào các cuộc phiêu lưu ở nước ngoài và đổ lỗi cho người ngoài vì những tai ương của chính đất nước mình.
Nhưng rõ ràng là hình ảnh của Tập như một nhà lãnh đạo mạnh mẽ và có năng lực đang trở nên ngày càng khó tin. Khi đất nước bước vào mùa chính trị và việc tái bổ nhiệm Tập cũng gần kề, trông ông bắt đầu khác đi. Thay vì là một người có khả năng thay đổi mà Trung Quốc cần, rất có thể Tập lại chứng tỏ mình chẳng khác gì một người quyết tâm canh giữ nguyên trạng.Ian Johnson
Ian Johnson là nhà báo người Mỹ, làm việc chủ yếu ở Trung Quốc và Đức. Ông được trao giải Pulitzer ở hạng mục đưa tin quốc tế năm 2001 cho những bài viết về cuộc đàn áp các học viên Pháp Luân Công ở Trung Quốc, và giải Báo chí Shorenstein năm 2016. Cuốn sách mới nhất của ông là The Souls of China: The Return of Religion After Mao (Pantheon Books, 2017).
Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng, Hiệu đính: Nguyễn Huy Hoàng

No comments:

Post a Comment