Friday, June 9, 2017

Bài viết hay(5034)

Trump đã hú hồn ngay sau khi "gã điên Comey" điều trần. Quốc Hội chưa đủ bằng chứng để impeach Trump. Comey cho thấy tính cách cá nhân nói cho hả giận vậy thôi với những suy đoán nhiều hơn là đưa ra bằng chứng thuyết phục nhằm buộc tội. Trump cho anh ra nói bấy nhiêu thôi để dân Mỹ đỡ ấm ức song Trump vẫn an toàn và vẫn là diễn viên chính cho sân khấu chính trị Mỹ. Rõ ràng là thế lực ngầm vẫn thích Trump cho đến lúc nào đó họ cần thay tuồng đổi kép khác nên Comey phải hiểu luật chơi, chớ có nói bậy mà ăn đòn.  Paul Ryan kêu gọi dân Mỹ thông cảm cho Trump là new trong khi nó cứ chê Obama là amateur nên suốt 8 năm, nó trói tay trói chân Obama bằng đủ chiêu trò rồi nó tha hồ chê bai. Bullshit.
http://shareblue.com/gop-attacked-obama-as-an-amateur-but-trump-gets-a-pass-because-hes-new-to-this/

Lãnh đạo tỉnh muốn có cảnh vệ: Thêm tín hiệu về bất ổn xã hội

clip_image002
Các thành viên Quốc hội được biết tại một hội thảo hôm 6/6 ở Hà Nội rằng nhiều lãnh đạo tỉnh trong cả nước đã yêu cầu được là đối tượng bảo vệ của cảnh vệ.

Đề xuất của nhiều lãnh đạo tỉnh cần có cảnh vệ đang gây ra nhiều phản ứng trái chiều trong dư luận với nhiều ý kiến cho rằng điều này chứng tỏ bất ổn xã hội đã tăng lên một mức mới.
Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng An ninh, Võ Trọng Việt, nêu lên đề xuất này từ nhiều tỉnh thành tại một buổi thảo luận của Quốc hội về dự án Luật Cảnh vệ hôm 6/6. Trên các trang mạng xã hội, nhiều người đã lên tiếng lo ngại về sự bất tín của lãnh đạo với người dân và đặt ra những câu hỏi về sự an toàn của xã hội Việt Nam hiện nay.
Trong cuộc họp Quốc hội ở Hà Nội, các đại biểu đã thảo luận về những đối tượng sẽ được đưa vào danh sách cần sự bảo vệ của cảnh vệ quốc gia. Theo dự thảo luật được truyền thông trong nước đưa tin, đối tượng cảnh vệ là người giữ chức vụ, chức danh cấp cao của Đảng, Nhà nước và Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Tuy nhiên, có những đại biểu đề nghị đưa vào danh sách này những vị trí ở mức thấp hơn như người đứng đầu các tòa án và các tỉnh.
“Sau khi có sự việc xảy ra ở một tỉnh nhiều tỉnh đề nghị Bí thư, Chủ tịch tỉnh là đối tượng cảnh vệ,” ông Võ Trọng Việt được báo chí trong nước dẫn phát biểu.
clip_image004
Vụ thảm sát ở Yên Bái năm ngoái đã làm dấy lên những lo sợ trong giới lãnh đạo ở nhiều tỉnh thành sau khi Bí thư tỉnh và chủ tịch UBND tỉnh này bị giết hại bởi chi cục trưởng chi cục kiểm lâm của tỉnh.
Theo TuoiTreNews, sự việc mà ông Việt đề cập đến tại Quốc hội là vụ án mạng xảy ra ở Yên Bái vào năm ngoái khi Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh bắn chết Bí thư và Chủ tịch Hội đồng Nhân dân tỉnh này trước khi tự sát.
Đề xuất vừa kể, theo luật sư Trần Thu Nam, cho thấy “một sự bất ổn trong xã hội”.​
“Tại sao những người đó phải có cảnh vệ? Nếu như trong một đất nước an bình và bình yên thì những chức vụ đó làm gì phải cần cảnh vệ. Nó thể hiện rằng một đất nước không hòa bình, không bình an thì mới phải như vậy”. Luật sư Nam nói “Đã có những cơ quan sẵn có rồi, mỗi tỉnh đều có công anh tỉnh. Chả lẽ những cơ quan hiện có tại sao không đáp ứng được yêu cầu về anh ninh mà lại phải lập thêm vấn đề cảnh vệ cho từng chủ tịch tịch hoặc bí thư tỉnh”.
Theo chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng An ninh, nhiều ý kiến của đại biểu quốc hội muốn tăng thêm đối tượng cảnh vệ là những người “chống tiêu cực, chống tham nhũng, đụng độ, đụng chạm đến rất nhiều lợi ích, nhất là lợi ích nhóm”.
Vào tháng 3 năm nay, theo ghi nhận của truyền thông trong nước, Chủ tịch tỉnh Quảng Ninh bị đe dọa sau khi quyết định phát động chiến dịch ngăn chặn nạn khai thác cát sông bất hợp pháp ở tỉnh này.
Một đại biểu của Hải Phòng được báo điện tử VnMedia trích lời tại buổi hội thảo của Quốc hội rằng “Nếu để xảy ra tình huống không đảm bảo an toàn, an ninh cho các đồng chí này thì ảnh hưởng nghiêm trọng địa phương, anh ninh trật tự chung của cả nước”.
Dư luận xã hội cho rằng đề xuất này cho thấy các lãnh đạo, ngay cả cấp tỉnh, cũng đang “sợ dân”. Một người dùng mạng xã hội có tên Loi Dai phản hồi về bài viết của báo Tiền Phong trên Facebook rằng “Nếu ai cũng chính trực đàng hoàng cần gì phải cảnh vệ”. Một Facebooker khác có tên Hong Le Nguyen bình luận “Không bảo vệ nào bằng sự bảo vệ của nhân dân, muốn vậy thì các vị phải đúng là Đại biểu của dân, do dân bầu ra, vì dân mà phục vụ…một cách đúng nghĩa”.
Minh chứng cho lập luận rằng các cấp lãnh đạo đang “run sợ,” nhà báo Phạm Chí Dũng đưa ra ví dụ về trường hợp một quan chức cấp tướng phải huy động một trung đội công binh để mở một gói quà mà ông nghi rằng có bom hoặc mìn trong khi đó chỉ là một chiếc bánh trung thu.
Nhiều người khác cùng tham gia bình luận đều có chung ý kiến rằng nếu các lãnh đạo trong sạch, làm việc vì dân, không vụ lợi, thì không cần đến sự bảo vệ nào.
Theo nhà báo Phạm Chí Dũng, “trước đây quan chức sợ dân, nhưng từ sau vụ (sát hại ở) Yên Bái thì quan chức sợ nhau”.
“Thực ra không biết nỗi sợ nào lớn hơn nỗi sợ nào nhưng quả là bây giờ quan chức rất bất an, bất ổn”. Nhà báo Dũng nói “trước vụ Yên Bái thì họ sợ ngầm nhau. Sợ ngấm ngầm mà chưa bộc lộ ra. Còn sau vụ Yên Bái nỗi sợ hãi trong nội bộ đã bộc lộ ra hẳn”.
clip_image006
Những cuộc biểu tình của người dân phản đối Formosa gây ô nhiễm môi trường biển miền Trung là một phần trong những biến động ở xã hội Việt Nam gần đây.
Giám đốc Công an Nghệ An và đại biểu quốc hội Nguyễn Hữu Cầu nói với Tiền Phong bên lề cuộc hội thảo hôm 6/6 rằng ông cũng không đồng tình với việc đề xuất bảo vệ lãnh đạo tỉnh ở cấp quốc gia vì “cảnh vệ càng nhiều thì xã hội càng bất ổn”.
Luật sư Trần Thu Nam đồng tình với quan điểm đó vì “càng nhiều cảnh vệ thì càng bất ổn và càng bất ổn thì càng tăng cường cảnh vệ - đó là một vấn đề tỷ lệ thuận với nhau giữa bất ổn và cảnh vệ”.
Phân tích sự yếu kém trong điều hành của Đảng dẫn tới xã hội bất ổn, thành viên Hội Nhà báo Độc lập, Phạm Chí Dũng, nhấn mạnh “sự bất ổn đó là từ trong nội bộ Đảng, lấy xã hội ra làm bình phong che chắn”.
Kinh tế, tài chính, môi trường và nhân quyền là những vấn đề lớn góp phần gây bất ổn xã hội tại Việt Nam trong những năm gần đây. Hiện nợ công của Việt Nam đã vượt ngưỡng cho phép 65% GDP. Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc thừa nhận điều này hồi đầu năm nay. Nợ xấu tại Việt Nam, qua số liệu thống kê, tăng cao đột biến 5 năm gần đây, hiện ở mức 600.000 tỷ đồng. Trong khi đó, nhiều cuộc biểu tình vì môi trường nổ ra từ tháng 4 năm ngoái vì cách giải quyết của chính quyền đối với thảm họa Formosa. Nhiều nhà hoạt động vì môi trường đã bị đàn áp và bắt giam.
Ngoài những bất ổn trong xã hội, theo nhà báo Phạm Chí Dũng, “đến cả Đảng bây giờ cũng bất ổn”. Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng cách đây 5 năm đã đề cập đến sự tồn vong của Đảng và “sự tồn vong đó sắp đến” với sự bất ổn tăng cao, theo phân tích của nhà quan sát này.
Nguồn: https://www.voatiengviet.com/a/lanh-dao-tinh-muon-co-canh-ve-them-tin-hieu-ve-bat-on-xa-hoi/3893323.htmlVOA Tiếng Việt

Sẽ còn vô khối Đồng Tâm


clip_image002
Một cảnh sát cúi đầu cảm tạ dân làng Đồng Tâm sau khi được phóng thích hôm 22 tháng Tư. (Hình: REUTERS/Kham)
Hội chứng “hốt cú chót” buổi chợ chiều chính thể vẫn biến diễn vũ điệu tham tàn và sôi sục - từ chủ trương “Tập trung tích tụ đất đai” của “Đảng và Nhà nước ta” đến chiến dịch lợi dụng chủ trương đó để “tiến lên, tất cả ắt về ta!”.

Luận điệu mới nhất do nhóm “hốt cú chót” tung ra là “chấp nhận mất mát để tích tụ ruộng đất”.

“Chấp nhận mất mát để tích tụ ruộng đất” (!)

3 tháng sau khi chủ trương “Tập trung tích tụ đất đai” được Chính phủ chỉ đạo xây dựng đề án và giao Bộ Tài nguyên và Môi trường thực hiện, vài ba diễn đàn công khai đã được tổ chức để “lấy ý kiến chuyên gia”. Một vài diễn đàn đã bị biến thành động tác bắn tiếng để nông dân cần phải biết họ sẽ mất cái gì và mất bao nhiêu cho sự nghiệp “lấy của người nghèo chia cho người giàu”.
Buổi tọa đàm “Tích tụ ruộng đất, được và mất” diễn ra vào cuối tháng 5/2017, không biết vô tình hay hữu ý, đã khuếch trương cho chiến dịch khởi tạo nỗi mất mát ấy. VnExpress - một trang báo điện tử của Nhà nước, có bề dày thành tích PR đầy nghi vấn trong các chiến dịch “đánh lên” gấp đôi gấp ba giá bất động sản ở Hà Nội và Sài Gòn, đã dẫn lại ý kiến một vài chuyên gia và doanh nhân với “gợi ý” nông dân phải chịu mất ruộng đất của mình cho “hợp tác xã”, rồi lạnh lùng đặt tựa đề ‘Chấp nhận mất mát để tích tụ ruộng đất’ - như một lời kêu gọi giới nông dân Việt Nam hãy bỏ cày cuốc, bán rẻ đất đai chôn rau cắt rốn cho các doanh nghiệp kinh doanh từ đất cùng giấc mơ “tỷ phú đô la Việt Nam”.
Với tựa đề trên, một lần nữa dư luận xã hội được chứng kiến thói vô cảm và vô lương tâm tận cùng của không ít tờ báo nhà nước đối với lớp nông dân chỉ còn thiếu bị đạp xuống tận bùn đen.
Cái cách rút tít trên lại xuất hiện chỉ sau hơn một tháng nổ ra vụ khủng hoảng Đồng Tâm ở ngay ngoại thành thủ đô ngự trị của Bộ Chính trị.
Hãy nhìn lại vùng đất Đồng Tâm. Thử hỏi nếu không có chuyện Đỗ Mười - Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng - ký một quyết định thu hồi hơn 47 ha đất nông nghiệp của nông dân Đồng Tâm từ năm 1980 để “phục vụ dự án an ninh quốc phòng và sân bay Miếu Môn”, làm sao có thể phát sinh hậu quả ghê gớm như ngày hôm nay? Thử hỏi, nếu không có chuyện chính quyền huyện Mỹ Đức, sau khi nhận lại số đất nông nghiệp trên từ Lữ đoàn 28 của Quân chủng Phòng không - Không quân do sân bay Miếu Môn không làm được, nhưng lại nhập nhèm suốt 10 năm từ 2007 đến nay mà không làm quyết định giao đất cho bà con nông dân, trong khi lại xảy ra hàng loạt vụ việc một số quan chức địa phương bảo kê cho người thân chiếm dụng đất và giờ đây còn định để cho Tập đoàn Viễn thông Quân đội (Viettel) “cướp” đất của dân, làm sao bà con nông dân lại phải rồng rắn kéo đoàn khiếu kiện đông người trong ròng rã nhiều năm trời? Và thử hỏi, nếu không có chuyện giới công an trị sử dụng “biện pháp nghiệp vụ” để bắt giữ trái phép một số đại diện của dân xã Đồng Tâm, làm sao người dân xã này lại phải nghĩ đến việc bắt giữ lại hàng trung đội cảnh sát cơ động và quan chức công an để “trao đổi tù binh”?

Vẫn quyết liệt “sở hữu đất đai toàn dân”!

Hậu Đồng Tâm. Trong lúc dư âm cơn động đất này vẫn còn vật vã và vẫn chưa một nhân viên công an nào bị xử lý vì đã vật gãy xương sườn bô lão Lê Đình Kình của thôn Hoành, các nhóm lợi ích bất động sản đã phất ngọn cờ “tạo điều kiện cho hộ nông dân, hợp tác xã tăng quy mô, tăng năng suất lao động” để mưu toan tước sạch kế sinh nhai cuối cùng của hàng triệu nông dân.
Chiến dịch “tận diệt nông dân” trên lại hiện hình trong bối cảnh đảng vẫn chưa có bất kỳ động tác nào xem xét lại Hiến pháp năm 2013, vẫn giữ nguyên chế độ “sở hữu đất đai toàn dân” mà chẳng thèm đếm xỉa gì đến quyền sở hữu đất đai tư nhân của hàng triệu nông dân sắp mất đất.
Việt Nam từ sau thời mở cửa kinh tế những năm 90 của thế kỷ 20 đã chứng kiến vô số cảnh lấy đất, cướp đất tàn bạo của nhiều doanh nghiệp và chính quyền địa phương.
Có hàng ngàn ví dụ trong một phần tư thế kỷ qua ở Việt Nam, kể từ thời điểm bắt đầu đường parabol hướng lên của thị trường bất động sản từ năm 1995 và kéo theo rất nhiều vụ thu hồi đất không thỏa đáng, trái pháp luật và sau này là bất chấp đạo lý đối với nông dân.
Cùng với cơ chế đền bù cho nông dân với giá chỉ bằng 1/10 đến 1/20, thậm chí chỉ bằng 1/100 hay 1/1000 giá thị trường, rất nhiều khuôn mặt đại gia đã phất lên qua những con sóng bất động sản từ năm 1995 đến năm 2011.
Rất tương đồng với xã hội Trung Quốc, có đến 70% triệu phú và tỷ phú đô la ở Việt Nam mang xuất thân đáng tự hào: “đi lên từ đất”.
Nhưng cũng từ năm 1995 đến nay, đã xuất hiện một giai tầng mới: hàng triệu nạn nhân liên quan đến chính sách thu hồi đất đai. Rất nhiều người trong số họ đã phải ròng rã khiếu kiện nhiều năm trời, tạo thành những đám đông biểu tình ghê gớm. Nhiều nạn nhân đã phải vào tù chế độ và trở thành tù nhân lương tâm.
Hậu Đồng Tâm. Vài ba lời lẽ của giới quan chức cao cấp về “sẽ điều chỉnh chính sách đất đai” rốt cuộc đã biến thành đầu môi chót lưỡi nhanh nhảu và xảo trá chưa từng có.

Sẽ còn vô khối vụ Đồng Tâm!

Hãy nhìn lại trong khoảng 5 năm qua. Dù chưa chính thức, “tập trung tích tụ đất đai” đã bắt đầu bị soi mói lợi dụng. Về thực chất, đó là cơ hội để các tập đoàn nhà nước chiếm đất, hàng triệu ha đất nông nghiệp của nông dân đang là miếng mồi cực kỳ màu mỡ dành cho những kẻ sinh ra làm giàu từ đất và cuối cùng cũng bị chôn vùi trong lòng đất.
Hậu quả ghê gớm có thể nhìn thấy trước là chủ trương “Tập trung tích tụ đất đai” nếu không được kiểm soát và chế tài trong quá trình triển khai, đặc biệt về việc doanh nghiệp phải triển khai đúng công năng đối với đất nông nghiệp, tất sẽ phát sinh tràn lan tình trạng nhiều doanh nghiệp lợi dụng chủ trương này để cưỡng bức nông dân phải vào cơ chế “tập đoàn hóa” của họ như thời “kinh tế mới” ngay sau năm 1975, hoặc tồi tệ hơn là doanh nghiệp “tay không bắt giặc” khi cấu kết với chính quyền địa phương để cưỡng bức thu hồi đất của nông dân, biến những người đang sở hữu mảnh đất chôn rau cắt rốn và là kế sinh nhai duy nhất thành dân oan đất đai, sau đó chuyển công năng đất nông nghiệp thành đất đô thị để bán kiếm lời khủng.
“Triển vọng mất trắng” của nông dân là hoàn toàn xác thực. Một trong những phương án “hợp tác giữa doanh nghiệp và nông dân” mà chính quyền nêu ra là doanh nghiệp sẽ tổ chức canh tác trên đất của nông dân, còn nông dân sẽ biến thành “công nhân nông dân” làm thuê cho doanh nghiệp đó. Lẽ dĩ nhiên, mức thu nhập của nông dân được “vẽ” theo phương án này là không tệ (4-5 triệu đồng/người/tháng). Nhưng trong thực tế, đã có quá đủ kinh nhiệm xương máu về việc nhiều doanh nghiệp đã “từ tâm” đến thế nào để từ lợi dụng nông dân đến cướp đất của họ. Một khi đã lấy được đất của nông dân, không có gì bảo đảm là doanh nghiệp sẽ thuê nông dân làm công cho họ, mà nếu có thuê thì cũng chẳng có gì chắc chắn là nông dân sẽ được hưởng một mức lương đủ sống.
Trong bối cảnh hỗn mang của chính trị và xã hội Việt Nam hiện thời, chẳng có gì bảo đảm là chủ trương “Tập trung tích tụ đất đai” nếu đưa vào thực hiện sẽ bảo đảm được tính “lý tưởng” của nó. Thậm chí ngược lại, nhiều đại gia và quan chức sẽ xem đây là phi vụ kinh doanh bất động sản cực lớn để “lấy mỡ nó rán nó”, bỏ mặc một giai tầng hàng triệu dân đen ai oán và nổi lên chống đối chính quyền.
Với ông Phan Chánh Dưỡng, giảng viên Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright, sở dĩ các chính sách tích tụ, tập trung đất đai không được người dân ủng hộ là bởi nó xâm phạm đến không gian sinh tồn của họ. “Chúng ta không thể lấy giá trị kinh tế để quét người nông dân ra khỏi miếng đất của mình. Vấn đề tích tụ, tập trung đất đai là một tờ giấy mà một mặt là kinh tế, một mặt là xã hội. Trong đó, cái lợi của không gian sinh tồn được tính theo chuẩn khác chứ không phải bằng tiền” - ông Dưỡng bức bối.
Còn với ông Nguyễn Sỹ Dũng, nguyên Phó chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội: “Trong bối cảnh nợ công như hiện nay, nếu vỡ, mà người nông dân không còn ruộng đất để bám víu thì bất ổn kinh tế sẽ nhanh chóng trở thành bất ổn chính trị, khủng khiếp”.
Cứ “tập trung tích tụ ruộng đất” và bắt nông dân phải chịu thảm cảnh mất mát đi, sẽ còn vô khối vụ Đồng Tâm nổ ra trên đất nước khốn khổ này!Phạm Chí Dũng

Kinh tế XHCN: Thành tựu là bề mặt, bản chất là khủng hoảng

Trong bài viết “Sức thuyết phục của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” được đăng tải trên báo Nhân Dân ngày 05/06 vừa qua, ông Trương Minh Tuấn (Bộ trưởng Bộ TT&TT) khẳng định, các thành tựu phát triển đất nước trong các năm qua đã chứng minh thể chế kinh tế của chúng ta là đúng đắn, là phù hợp với mục đích của cách mạng Việt Nam. Điều này thực sự đúng?
clip_image002
Nội dung bài viết trên báo Nhân Dân của ông Bộ trưởng Bộ TT&TT Trương Minh Tuấn đề cập đến sự tất yếu của Kinh tế thị trường định hướng XHCN.

Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ra đời từ chương trình cải cách kinh tế do Đảng Cộng sản Việt Nam tiến hành từ năm 1986. Những cải cách này cho phép sở hữu tư nhân trong các doanh nghiệp nhỏ bên cạnh doanh nghiệp nhà nước. Thêm vào đó, những cải cách này cũng cho thấy vai trò lớn giữa các lực lượng thị trường với hoạt động kinh tế giữa các doanh nghiệp và cơ quan Chính phủ.
Mục tiêu của hệ thống kinh tế này là để cải thiện lực lượng sản xuất của nền kinh tế, phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật vững chắc cho nền tảng của chủ nghĩa xã hội, và cho phép Việt Nam hội nhập sâu hơn với nền kinh tế thế giới.
Dù thế, Kinh tế thị trường định hướng XHCN, doanh nghiệp tư nhân đóng một vai trò nhỏ trong tổng thể nền kinh tế.
Tuy nhiên, khoảng cách giàu nghèo và sự bất ổn xã hội đang được kéo giãn. Yếu tố xã hội chủ nghĩa về mặt quyền sở hữu, yếu tố sản xuất, phân phối lợi ích kinh tế ngang bằng trong xã hội đang trong tình trạng thiếu sự điều hòa/cân bằng. Tăng trưởng kinh tế trong vài năm trở lại đây đã chậm lại, tham nhũng là kết quả của “chủ nghĩa tư bản thân hữu” đang tràn lan, đặc biệt trong lĩnh vực Nhà nước. Đời sống của người dân như đề cập là “bấp bênh”, xuất phát từ trạng thái lạm phát tăng vọng do thiếu chính sách tiền tệ thích hợp và quản lý kém gắn với căn bệnh “thu nhập bẫy trung bình”. Sở hữu tập thể trong nền kinh tế đã và đang trở thành những lực cản chủ chốt trong sở hữu tư nhân (cần nhấn mạnh rằng khu vực kinh tế tư nhân đã không được hưởng lợi từ chính sách tín dụng mở rộng - như các chính sách kích thích kinh tế trong năm 2009 - nhưng đã phải gánh chịu những tác động của chính sách thắt chặt tín dụng vào năm 2011. Và bản thân của nền kinh tế/tài khóa vẫn chưa có một giải pháp đủ lớn để ngăn chặn nguy cơ sụp đổ - vốn được nhắc đến gần đây. Điều đó cho thấy rằng, những hỗ trợ cho kinh tế tư nhân chỉ mang tính chất “miễn cưỡng chứ không phải hỗ trợ”, nó khác hoàn toàn so với Trung Quốc, khi mà khu vực tư nhân đã được công nhận là một đối tác quan trọng trong việc phát triển kinh tế quốc gia.
Riêng đối với hệ thống kinh tế nhà nước, vốn được đánh giá là “trụ cột” của nền kinh tế, nay so với khu vực tư nhân thì tăng trưởng và độ năng động kém hơn, trong khi được ưu đãi nhiều hơn. Rõ ràng, sự hình thành một chiến lược quản trị trong khối doanh nghiệp nhà nước (vốn quen ăn ưu đãi cơ chế) là một thách thức không hề nhỏ (trong đó cổ phần hóa doanh nghiệp chỉ là bước đầu tiên) để xóa bỏ sự vô trách nhiệm của nhiều doanh nghiệp nhà nước, xóa bỏ tình trạng hoạt động trong các ngành thay thế như đầu tư bất động sản, tài chính và các ngành dịch vụ khác (thay vì sản xuất các hàng hóa sản xuất để xuất khẩu).
Cần nhắc lại, mặc dù vào đầu năm 2004, Thủ tướng Phan Văn Khải đã kêu gọi cổ phần hóa trong các lĩnh vực như năng lượng, hàng không, viễn thông, ngân hàng, bảo hiểm và mở ra một vai trò thị trường chứng khoán. Tuy nhiên, đến tháng 4/2004, Bộ Tài chính đã đưa ra một đề xuất mang tính hạn chế, theo đó: “Nhà nước cần giữ cổ phần chi phối trong các lĩnh vực chính hoặc lĩnh vực ‘nhạy cảm’ liên quan đến an ninh như ngành điện, ngân hàng, bảo hiểm, viễn thông”. Tiếp đó, Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh khẳng định sự cải cách sẽ vẫn diễn ra nhưng theo cách rất “cải lương”: Cải cách DNNN quan trọng để đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Những nỗ lực của Nhà nước Việt Nam trong thúc đẩy hội nhập sau vào nền kinh tế, kể từ thời điểm năm 2007 (gia nhập WTO) dường như đang bị trì trệ trở lại. Lý do chính của nó là Việt Nam vẫn là một nước dựa vào nguồn tài nguyên và lực lượng lao động giá rẻ; sản xuất công nghệ thấp với hàm lượng nội địa không cao (điển hình như công nghiệp ô tô với sự thừa nhận thất bại trong nội địa hóa từ Bộ Công Thương Việt Nam). Chưa dừng tại đó, hầu hết các ngành công nghiệp chủ chốt của nền kinh tế phụ thuộc vào các nguồn lực bên ngoài, trong đó bao hàm công nghệ, R&D và thị trường xuất khẩu. Tất cả đã đưa đến việc, thâm hụt thương mại khổng lồ (đặc biệt là với Trung Quốc) và hội nhập nghèo vào chuỗi giá trị toàn cầu. Điều này giải thích tại sao, tính bền vững (chưa đề cập đến sự thịnh vượng) vẫn là một mục tiêu mà Việt Nam đang hụt hơi theo đuổi. Gần đây nhất, ngoài việc xóa sổ mục tiêu “công nghiệp hóa” vào năm 2020; xóa sổ ngành công nghiệp ôtô trong nước; thì Việt Nam đã có tỷ lệ nợ xấu lên đến 600.000 tỷ đồng, trong đó 90% tiền người dân, 10% tiền ngân hàng.
Các thách thức nêu trên chính là bản chất kéo dài mà nền kinh tế Việt Nam đang phải hứng chịu và nó sẽ “thải” hệ quả tất yếu trong tương lai. Tất nhiên, đó là những hệ quả không hề tốt đẹp (khả năng cạnh tranh quốc tế yếu, tăng trưởng chậm và bất ổn kinh tế vĩ mô) như cách mà ông Bộ trưởng Bộ TT&TT vẽ nên.
Trong câu chuyện về nền kinh tế, có thể nhìn qua Trung Quốc. Ở khía cạnh nào đó, cải cách của Trung Quốc mang tính triệt để hơn kể từ năm 1992, trong khi Việt Nam dừng lại từ năm 1990 khi đã vượt qua khủng hoảng kinh tế - xã hội. Một trong số cải cách mang tính cầm chừng của Việt nam là vấn đề cải cách ruộng đất, khi Trung Quốc chia đất mang tính công bằng vào giai đoạn 1981-1983 thì Việt Nam lại dựa trên cơ sở cải cách ruộng đất thời chiến trước đó. Do đó, nếu Trung Quốc thời gian giao quyền sử dụng đất cho nông dân lên đến 30 năm và không giới hạn sở hữu đất ở mỗi hộ, thì Việt Nam chỉ dừng ở 20 năm và hạn chế mức 3ha đất. Năm 1998, dù nhận yêu cầu từ sự sở hữu tư trong đất đai nhằm tạo một sự phân phối bình đẳng hơn, nhưng Quốc hội Việt Nam đã từ chối lời đề nghị của Ủy Ban T.Ư trong mở rộng hợp đồng thuê đất đến 50 năm và bãi bỏ mức trần. Đến năm 2000, một dự luật mới cho phép sở hữu cá nhân “các trang trại lớn”. Dù thế, “dồn điền đổi thửa” và “thị trường đất đai” vẫn chưa được hiện thực hóa đúng chất cho đến ngày hôm nay.
Những yếu tố nêu trên nên về mặt lý thuyết, Việt Nam vận hành thành công nền kinh tế thị trường định hướng XHCN nhưng trên thực tế, lãnh đạo cấp cao Việt Nam (trong đó có ông Nguyễn Xuân Phúc) liên tục tìm kiếm ​sự công nhận quy chế kinh tế thị trường cho Việt Nam từ các nước TBCN. Và điều này vẫn là một cuộc kiếm tìm không lối thoát.
Nghĩa rằng, những thành tựu mà ông Trương Minh Tuấn chỉ ra là bề mặt của hiện tượng, là kết quả từ chương trình cải cách nửa vời từ năm 1986 đến nay, và nó đang đến chu kỳ kết thúc. Nếu tiếp tục cải cách nửa vời như trước đó, tức giữ lại cái đuôi định hướng XHCN thì chu kỳ khủng hoảng kinh tế - chính trị - xã hội thập niên sẽ quay trở lại trong một tương lai không xa.Anh Văn

No comments:

Post a Comment